Trích nội dung chương
64. Here we have a profound description of the work of the “brothers of the shadow”: The Black Lodge, functioning largely within the three lower worlds of our solar system, represents “cosmic evil”, even though the true sources of cosmic evil is upon the cosmic planes. 64. Ở đây chúng ta có một mô tả sâu sắc về công việc của “các huynh đệ bóng tối”: Hắc đoàn, hoạt động phần lớn trong ba cõi thấp của hệ mặt trời chúng ta, đại diện cho “ác vũ trụ”, dù những nguồn gốc thực sự của ác vũ trụ nằm trên các cõi vũ trụ.
64. Here we have a profound description of the work of the “brothers of the shadow”: The Black Lodge, functioning largely within the three lower worlds of our solar system, represents “cosmic evil”, even though the true sources of cosmic evil is upon the cosmic planes.
64. Ở đây chúng ta có một mô tả sâu sắc về công việc của “các huynh đệ bóng tối”: Hắc đoàn, hoạt động phần lớn trong ba cõi thấp của hệ mặt trời chúng ta, đại diện cho “ác vũ trụ”, dù những nguồn gốc thực sự của ác vũ trụ nằm trên các cõi vũ trụ.
65. It would seem that the karma of the fourth kingdom has called them in. A choice must be made between cosmic good and cosmic evil and that choice is presented when the fourth period of seven is reached.
65. Dường như nghiệp quả của giới thứ tư đã gọi họ vào. Một sự lựa chọn phải được thực hiện giữa thiện vũ trụ và ác vũ trụ, và sự lựa chọn ấy được trình ra khi thời kỳ thứ tư trong bảy được đạt đến.
66. The idea that the members of the Black Lodge “assume tremendous responsibilities” is a most interesting one. Usually those who assume responsibilities are performing some good act or service. The implication is that these representatives of evil have a purpose within the general scheme and that good will come out of evil. Yet, for all that, it does not seem that the deliberate embrace of cosmic evil by human beings in this series of solar system was ever a necessity.
66. Ý tưởng rằng các thành viên của Hắc đoàn “đảm nhận những trách nhiệm to lớn” là một điều rất thú vị. Thông thường, những ai đảm nhận trách nhiệm là đang thực hiện một hành vi tốt hay một sự phụng sự nào đó. Hàm ý ở đây là những đại diện của điều ác này có một mục đích trong toàn bộ hệ thống và điều thiện sẽ phát sinh từ điều ác. Tuy nhiên, dù vậy, dường như việc con người cố ý ôm lấy ác vũ trụ trong loạt hệ mặt trời này chưa bao giờ là một điều cần thiết.
67. DK may be differentiating the "brothers of the shadow" from representatives of “cosmic evil”. Perhaps these “representatives” are still more evil than the "brothers of the shadow". In any case, the "brothers of the shadow" fall under the influence of true "cosmic evil".
67. Chân sư DK có thể đang phân biệt "các huynh đệ bóng tối" với những đại diện của “ác vũ trụ”. Có lẽ những “đại diện” này còn ác hơn cả "các huynh đệ bóng tối". Dù sao đi nữa, "các huynh đệ bóng tối" vẫn nằm dưới ảnh hưởng của “ác vũ trụ” đích thực.
68. In any case, the effect of these “brothers of the shadow” is dire, calamitous and leads to their crystallization and destruction. They cannot escape the working of the Law which requires their ultimate undoing.
68. Trong mọi trường hợp, tác động của những “huynh đệ bóng tối” này là thảm khốc, tai họa và dẫn đến sự kết tinh hóa và hủy diệt của chính họ. Họ không thể thoát khỏi sự vận hành của Định luật vốn đòi hỏi sự tiêu vong tối hậu của họ.
69. DK is linking the “brothers of the shadow” to the tendency towards crystallization and destruction of that which must be destroyed. It would seem that they somehow contribute to the hastening of the destruction of that which must be destroyed.
69. Chân sư DK đang nối kết “các huynh đệ bóng tối” với khuynh hướng đi đến kết tinh hóa và hủy diệt của điều phải bị hủy diệt. Dường như bằng cách nào đó họ góp phần thúc đẩy nhanh sự hủy diệt của điều phải bị hủy diệt.
70. DK invites us to contemplate the purpose and place of evil in the general scheme. It would seem that ignorance produces much that must be destroyed and that the effects of conscious evil hastens this destruction.
70. Chân sư DK mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng mục đích và vị trí của điều ác trong toàn bộ hệ thống. Dường như vô minh tạo ra nhiều điều phải bị hủy diệt, và các tác động của điều ác hữu thức làm tăng tốc sự hủy diệt này.
71. The primary vitalization of the great thoughtform is the responsibility of man. The secondary vitalization is in the ‘care’ of the “brothers of the shadow”.
71. Sự tiếp sinh lực sơ cấp của hình tư tưởng lớn là trách nhiệm của con người. Sự tiếp sinh lực thứ yếu nằm trong sự “chăm sóc” của “các huynh đệ bóng tối”.
Third, by the energy still extant and the vibration still to be felt which is the persistence of force from [Page 950] an earlier solar system, and an emanation from that which is no longer considered in this solar system to be a principle.
Thứ ba, bởi năng lượng vẫn còn tồn tại và rung động vẫn còn có thể cảm nhận được, vốn là sự tồn lưu của mãnh lực từ [Page 950] một hệ mặt trời trước đây, và là một phát xạ từ điều mà trong hệ mặt trời này không còn được xem là một nguyên khí nữa.
72. There is one other factor which tends to keep this gigantic thoughtform alive.
72. Còn một yếu tố khác có khuynh hướng giữ cho hình tư tưởng khổng lồ này sống còn.
73. The influence of the first solar system, expressed through the dense material vehicle of the Solar Logos and Planetary Logoi, also sustains this thoughtform. This type of energy-force has nothing really to do with the spiritual objectives of our present solar system. It is from the past and of the past, and tends to work against that which the Solar Logos seeks to evolve in the present solar system.
73. Ảnh hưởng của hệ mặt trời thứ nhất, được biểu lộ qua vận cụ vật chất đậm đặc của Thái dương Thượng đế và các Hành Tinh Thượng Đế, cũng duy trì hình tư tưởng này. Loại năng lượng-mãnh lực này thực sự không liên quan gì đến các mục tiêu tinh thần của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta. Nó đến từ quá khứ và thuộc về quá khứ, và có khuynh hướng hoạt động chống lại điều mà Thái dương Thượng đế tìm cách tiến hoá trong hệ mặt trời hiện tại.
74. As the energy of dense physical matter (and etheric subplane the matter of the densest three etheric subplanes) weakens, the hold which the gigantic “Dweller” has over humanity will also weaken.
74. Khi năng lượng của vật chất hồng trần đậm đặc (và vật chất cõi phụ dĩ thái của ba cõi phụ dĩ thái đậm đặc nhất) suy yếu, sự kềm giữ mà “Kẻ Chận Ngõ” khổng lồ có trên nhân loại cũng sẽ suy yếu.
75. The implications for man is that he must subdue the influence of his dense physical body and, thus, succeed in overcoming the grossest aspects of materialism in his life.
75. Hàm ý đối với con người là y phải chế ngự ảnh hưởng của thể xác đậm đặc của mình và nhờ đó thành công trong việc vượt qua những phương diện thô nặng nhất của chủ nghĩa vật chất trong đời sống của y.
76. Let us tabulate the three factors which sustain the gigantic, nefarious thoughtform called the "Dweller on the Threshold":
76. Hãy lập bảng ba yếu tố duy trì hình tư tưởng khổng lồ, hiểm ác được gọi là "Kẻ Chận Ngõ":
a. Human ignorance
a. Sự vô minh của con người
b. The fostering care of the "brothers of the shadow"
b. Sự chăm sóc nuôi dưỡng của "các huynh đệ bóng tối"
c. The ancient vibration originating in the previous solar system
c. Rung động cổ xưa bắt nguồn từ hệ mặt trời trước
These three factors are the main ones to be considered by the Great Ones in Their work of enabling men to break loose from the influence of this self-imposed form, to destroy that which they have themselves constructed, and to shake themselves free from the illusion cast by the persistent vampire which they have nourished and strengthened for millennia of years.
Ba yếu tố này là những yếu tố chính mà Các Đấng Cao Cả phải xem xét trong công việc của Các Ngài nhằm giúp con người thoát khỏi ảnh hưởng của hình tướng do chính mình áp đặt này, hủy diệt điều mà chính họ đã xây dựng, và tự giải thoát khỏi ảo tưởng do con ma cà rồng dai dẳng này phủ xuống mà họ đã nuôi dưỡng và làm mạnh thêm suốt hàng ngàn năm.
77. DK uses dramatic words to speak of the actions which must be taken both by the Spiritual Hierarchy and by man.
77. Chân sư DK dùng những từ ngữ đầy kịch tính để nói về những hành động phải được thực hiện bởi cả Thánh đoàn tinh thần lẫn con người.
78. Man must “break loose”, “destroy”, shake free of the “persistent vampire” whose very existence means for them spiritual devitalization.
78. Con người phải “thoát ra”, “hủy diệt”, tự giải thoát khỏi “con ma cà rồng dai dẳng” mà chính sự tồn tại của nó có nghĩa là sự mất sinh lực tinh thần đối với họ.
79. Can we see how the first ray potencies of Pluto, Saturn and Uranus can be employed in this act of liberation?
79. Chúng ta có thể thấy những tiềm lực cung một của Sao Diêm Vương, Sao Thổ và Sao Thiên Vương có thể được sử dụng như thế nào trong hành động giải thoát này chăng?
80. Think of your own life. By what means have you attempted to break free of your own small self-created vampire, and to what degree have you succeeded? It is a formidable and unavoidable task.
80. Hãy nghĩ đến đời sống của chính các bạn. Bằng những phương tiện nào các bạn đã cố gắng giải thoát khỏi con ma cà rồng nhỏ do chính mình tạo ra, và các bạn đã thành công đến mức nào? Đó là một nhiệm vụ đáng sợ và không thể tránh khỏi.
81. Interesting descriptions are used. The vampire casts illusion. Thus, the vampire not only is illusion (and glamor) but affects thought and perception in such a way as to cast illusion, just as a shadow is cast.
81. Những mô tả thú vị được sử dụng ở đây. Con ma cà rồng phủ xuống ảo tưởng. Vì vậy, con ma cà rồng không chỉ là ảo tưởng (và ảo cảm) mà còn tác động lên tư tưởng và tri giác theo cách phủ xuống ảo tưởng, giống như một cái bóng được phủ xuống.
This work of destruction the Great Ones are bringing about in four main ways:
Công việc hủy diệt này đang được Các Đấng Cao Cả thực hiện theo bốn cách chính:
82. We have seen the cause of the great thoughtform and what sustains it, and also our obligation in breaking free from it as we tread the various sections of the Path.
82. Chúng ta đã thấy nguyên nhân của hình tư tưởng lớn, điều duy trì nó, và cả nghĩa vụ của chúng ta trong việc thoát khỏi nó khi bước trên các chặng khác nhau của Con Đường.
83. There follows a description of how the Great Ones seek to destroy the thoughtform remembering that the Great Ones are not allowed to attack the thoughtform directly as its destruction is the responsibility of those who created it.
83. Tiếp theo là mô tả về cách Các Đấng Cao Cả tìm cách hủy diệt hình tư tưởng này, đồng thời nhớ rằng Các Đấng Cao Cả không được phép tấn công hình tư tưởng ấy trực tiếp vì việc hủy diệt nó là trách nhiệm của những kẻ đã tạo ra nó.
(1) By the strength of Their united thoughts and meditations.
(1) Bằng sức mạnh của những tư tưởng và sự tham thiền hợp nhất của Các Ngài.
84. Attack is made through thought and meditation. This way is open to us as well.
84. Sự tấn công được thực hiện qua tư tưởng và tham thiền. Con đường này cũng mở ra cho chúng ta.
85. When fighting that which is subjective or, at least, subtle, the methods used must be subjective or subtle.
85. Khi chiến đấu với điều gì đó có tính chủ quan hoặc ít nhất là vi tế, thì những phương pháp được sử dụng cũng phải có tính chủ quan hoặc vi tế.
(2) By the work of the Hierarchy in training and teaching individuals, who thus break away from blind group activity, and become conscious centres of force and co-operators in the work of destruction. This work has to be carried on from mental levels. Hence the training of disciples to meditate and work in mental matter.
(2) Bằng công việc của Thánh đoàn trong việc huấn luyện và giảng dạy các cá nhân, nhờ đó họ tách ra khỏi hoạt động nhóm mù quáng, và trở thành những trung tâm mãnh lực hữu thức cùng những người hợp tác trong công việc hủy diệt. Công việc này phải được tiến hành từ các cấp độ trí tuệ. Vì thế mới có việc huấn luyện các đệ tử tham thiền và làm việc trong chất liệu trí tuệ.
86. Disciples are, essentially, “warriors”.
86. Về bản chất, các đệ tử là những “chiến binh”.
87. The task of training for discipleship becomes, we see, of very great importance. It may seem like more or less an academic discipline to some, but it is so much more than this.
87. Như chúng ta thấy, nhiệm vụ huấn luyện cho địa vị đệ tử trở nên cực kỳ quan trọng. Đối với một số người, nó có thể dường như ít nhiều chỉ là một kỷ luật học thuật, nhưng nó còn hơn thế rất nhiều.
88. We see how important is the attainment of mental polarization, far more difficult to achieve than the words themselves indicate to most who consider them.
88. Chúng ta thấy việc đạt được sự phân cực trí tuệ quan trọng biết bao, và điều này khó đạt được hơn rất nhiều so với điều mà chính những lời ấy gợi ra đối với đa số những ai suy xét về chúng.
89. Just as individualizing souls must break away from the group soul, so must conscious disciples break away from “blind group activity”, which we may call the “mass consciousness”.
89. Cũng như các linh hồn đang biệt ngã hóa phải tách khỏi Hồn nhóm, thì các đệ tử hữu thức cũng phải tách khỏi “hoạt động nhóm mù quáng”, điều mà chúng ta có thể gọi là “tâm thức quần chúng”.
90. We must remember that only the mentally focused (and, even better, mentally polarized) individual can fight this battle, carrying on he work of destruction from mental levels.
90. Chúng ta phải nhớ rằng chỉ cá nhân có tập trung trí tuệ (và, còn tốt hơn nữa, được phân cực trí tuệ) mới có thể chiến đấu trận chiến này, tiếp tục công việc hủy diệt từ các cấp độ trí tuệ.
91. This is an argument to put before those who do not want to engage in the labor of achieving mental polarization.
91. Đây là một luận điểm cần được trình bày trước những ai không muốn dấn thân vào công lao đạt đến sự phân cực trí tuệ.
(3) By the use of certain mantrams and words which bring in interplanetary force of the fourth order.
(3) Bằng cách sử dụng một số mantram và những lời nói nhất định đem vào mãnh lực liên hành tinh thuộc bậc
92. We may assume that interplanetary force of the fourth order is to be involved because we are working within the fourth planetary scheme, in its fourth scheme round, and within the fourth chain experiencing its fourth chain round, and, further, upon the fourth globe.
92. Chúng ta có thể giả định rằng mãnh lực liên hành tinh thuộc bậc thứ tư được liên hệ đến, bởi vì chúng ta đang hoạt động trong hệ hành tinh thứ tư, trong cuộc tuần hoàn của hệ thứ tư, và trong dãy thứ tư đang trải qua cuộc tuần hoàn của dãy thứ tư, và hơn nữa, trên bầu hành tinh thứ tư.
93. Such force seems to be existent between planetary schemes or, at the very least, between planetary chains.
93. Mãnh lực như thế dường như hiện hữu giữa các hệ hành tinh hoặc, ít nhất, giữa các dãy hành tinh.
94. Such mantrams and words of power are beyond the ken of average well-intended disciples, but the closer comes their affiliation with the Hierarchy, the more such mantrams will be made available to them.
94. Những mantram và Quyền năng từ như thế vượt ngoài tầm hiểu biết của các đệ tử trung bình đầy thiện chí, nhưng sự liên kết của họ với Thánh Đoàn càng đến gần bao nhiêu thì những mantram ấy càng được trao cho họ bấy nhiêu.
95. Are we to assume that “interplanetary force of the fourth order” is buddhic? We must remember that it is buddhic or intuitional force which dispels illusion.
95. Chúng ta có nên giả định rằng “mãnh lực liên hành tinh thuộc bậc thứ tư” là Bồ đề chăng? Chúng ta phải nhớ rằng chính mãnh lực Bồ đề hay trực giác làm tan biến ảo tưởng.
This force is then directed towards this distorted creation of the fourth Creative Hierarchy (the fourth or human kingdom) and tends to augment the work of destruction.
Mãnh lực này khi ấy được hướng về sáng tạo méo mó này của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư (giới thứ tư hay giới nhân loại) và có khuynh hướng tăng cường công việc hủy diệt.
96. Force may be invoked, but how will it be directed? Here we are told that that which is invoked through the use of appropriate mantrams and words is directed towards the gigantic “Dweller”.
96. Mãnh lực có thể được khẩn cầu, nhưng nó sẽ được hướng dẫn như thế nào? Ở đây chúng ta được cho biết rằng điều được khẩn cầu qua việc sử dụng các mantram và lời nói thích hợp được hướng về “Kẻ Chận Ngõ” khổng lồ.
97. Who performs this act of directing? Very high initiates, it seems.
97. Ai thực hiện hành vi hướng dẫn này? Dường như là các điểm đạo đồ rất cao cấp.
Much of this work is carried on by the Nirmanakayas.
Phần lớn công việc này được các Nirmanakaya đảm trách.
98. Nirmanakayas are initiates of the sixth degree, minimally. The work of directing this force must be very responsible if it requires such high agencies to be involved.
98. Các Nirmanakaya tối thiểu là các điểm đạo đồ cấp sáu. Công việc hướng dẫn mãnh lực này hẳn phải vô cùng hệ trọng nếu nó đòi hỏi những tác nhân cao như thế tham dự.
99. We can see that this third method of destruction is highly occult in nature as is the next.
99. Chúng ta có thể thấy rằng phương pháp hủy diệt thứ ba này có bản chất rất huyền bí, cũng như phương pháp kế tiếp.
(4) By stimulating the egoic bodies of men so that the solar Angels may carry on with greater precision and force their conflict with the lunar gods.
(4) Bằng cách kích thích các thể chân ngã của con người để các Thái dương Thiên Thần có thể tiếp tục với sự chính xác và mãnh lực lớn hơn trong cuộc xung đột của các ngài với các nguyệt thần.
100. This is a divine and necessary conflict. The battle is always on, but the Solar Angels fight it scientifically. As the Masters and other Members of the Spiritual Hierarchy stimulate the egoic bodies of men, the Solar Pitris who substand the egoic lotus are strengthened to better and more precisely perform their scientific warfare.
100. Đây là một cuộc xung đột thiêng liêng và cần thiết. Trận chiến luôn diễn ra, nhưng các Thái dương Thiên Thần chiến đấu một cách khoa học. Khi các Chân sư và những Thành viên khác của Thánh đoàn tinh thần kích thích các thể chân ngã của con người, các thái dương tổ phụ nâng đỡ hoa sen chân ngã được tăng cường để thực hiện cuộc chiến khoa học của mình tốt hơn và chính xác hơn.
This is the true war in heaven.
Đây là cuộc chiến chân thực trên thiên giới.
101. This “war” has been described in various ways, microcosmic and macrocosmic. Here we have the microcosmic explanation, but we can imagine that there is also a battle royal occurring between the cosmic Solar Angels and the cosmic lunar lords.
101. “Cuộc chiến” này đã được mô tả theo nhiều cách khác nhau, ở cấp tiểu thiên địa và đại thiên địa. Ở đây chúng ta có lời giải thích ở cấp tiểu thiên địa, nhưng chúng ta có thể hình dung rằng cũng có một trận chiến vĩ đại đang diễn ra giữa các Thái dương Thiên Thần vũ trụ và các nguyệt tinh quân vũ trụ.
As the solar Gods87 descend ever [Page 951] nearer to the physical plane, and in their descent assume a steadily increasing control of the lunar natures, the thoughts and desires of men are consequently purified and refined.
Khi các Thượng đế Thái dương87 giáng xuống ngày càng [Page 951] gần cõi hồng trần hơn, và trong sự giáng xuống của mình, đảm nhận một sự kiểm soát ngày càng gia tăng đối với các bản chất nguyệt tính, thì các tư tưởng và dục vọng của con người do đó được thanh lọc và tinh luyện.
102. In a way, the Solar Angels descend no lower than the higher mental plane, and yet their influence extends through the various lower vehicles as the man works upon the purification of those vehicles. The descent of influence is, itself, a means of purification.
102. Theo một cách nào đó, các Thái dương Thiên Thần không giáng xuống thấp hơn cõi thượng trí, tuy nhiên ảnh hưởng của các ngài vẫn lan qua các vận cụ thấp khác nhau khi con người nỗ lực thanh lọc các vận cụ ấy. Chính sự giáng xuống của ảnh hưởng này tự nó là một phương tiện thanh lọc.
The solar fires put out the lunar light, and the lower nature is eventually purified and transmuted.
Các lửa thái dương dập tắt ánh sáng nguyệt tính, và bản chất thấp cuối cùng được thanh lọc và chuyển hoá.
103. The Solar Angels are animated by solar fire and the lunar angels by fire by friction. The lesser light is “put out” by the greater. The lunar vehicles shine, eventually by reflected light, the solar light of the Solar Angels.
103. Các Thái dương Thiên Thần được linh hoạt bởi Lửa Thái dương còn các thiên thần nguyệt tính bởi Lửa ma sát. Ánh sáng nhỏ hơn bị “dập tắt” bởi ánh sáng lớn hơn. Các vận cụ nguyệt tính cuối cùng chiếu sáng bằng ánh sáng phản chiếu, tức ánh sáng thái dương của các Thái dương Thiên Thần.
In time the solar Angels blaze forth in all their glory through the medium of the lower nature on the physical plane, that lower nature providing fuel to the flames.
Theo thời gian, các Thái dương Thiên Thần bừng cháy trong toàn bộ vinh quang của các ngài qua trung gian của bản chất thấp trên cõi hồng trần, và bản chất thấp ấy cung cấp nhiên liệu cho ngọn lửa.
104. The lower nature provides the three or four “wicks” for the solar flame.
104. Bản chất thấp cung cấp ba hay bốn “tim đèn” cho ngọn lửa thái dương.
105. It is interesting to note that this blaze of glory will occur “on the physical plane”. This will take place, presumably, through the etheric body which, in a way, reflects the egoic body.
105. Điều đáng chú ý là sự bừng cháy vinh quang này sẽ xảy ra “trên cõi hồng trần”. Điều này có lẽ sẽ diễn ra qua thể dĩ thái, vốn theo một nghĩa nào đó phản chiếu thể chân ngã.
The hated "Dweller on the Threshold" thus gradually dies for lack of sustenance, and disintegrates for lack of vitality, and man is set free.
Kẻ Chận Ngõ bị căm ghét như thế dần dần chết đi vì thiếu sự nuôi dưỡng, và tan rã vì thiếu sinh lực, và con người được giải thoát.
106. The mode of attack upon the "Dweller on the Threshold" must be carefully analyzed. One cannot forever use the Martian method although it has some value in the initial stages of confrontation.
106. Phương thức tấn công vào "Kẻ Chận Ngõ" phải được phân tích cẩn thận. Người ta không thể mãi mãi sử dụng phương pháp của Sao Hỏa, dù nó có một số giá trị trong các giai đoạn đầu của sự đối đầu.
107. The power of substitution of a new and vitally absorbing interest contributes to the vitiation of the “Dweller”. Freedom from the “Dweller” occurs through its devitalization.
107. Quyền năng thay thế bằng một mối quan tâm mới và hấp dẫn sinh động góp phần làm suy yếu “Kẻ Chận Ngõ”. Sự giải thoát khỏi “Kẻ Chận Ngõ” xảy ra qua việc làm mất sinh lực của nó.
108. We note that the "Dweller on the Threshold" is “hated”. One is repelled by the unredeemed past which bars the way to fuller life and consciousness. But hate will not suffice to banish patterns of negative energy. One must see through this ancient relic and refuse to be swayed by its promptings.
108. Chúng ta lưu ý rằng "Kẻ Chận Ngõ" bị “căm ghét”. Người ta bị đẩy lùi bởi quá khứ chưa được cứu chuộc, cái chặn lối đến sự sống và tâm thức đầy đủ hơn. Nhưng lòng căm ghét sẽ không đủ để xua tan các mô hình năng lượng tiêu cực. Người ta phải nhìn thấu di tích cổ xưa này và từ chối để bị các thúc giục của nó chi phối.
Footnote 87:
Chú thích 87:
The Solar Gods are the "Fallen Angels."—S. D., II, 287.
Các Thượng đế Thái dương là những "Thiên Thần Sa Ngã."—G. L. B. N., II, 287.
109. They have fallen from the cosmic etheric planes into the dense physical body of the Solar Logos.
109. Các ngài đã sa xuống từ các cõi dĩ thái vũ trụ vào thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế.
110. There is no opprobrium attached to their “fall”. The fall was an act of selfless service.
110. Không có sự ô nhục nào gắn với “sự sa xuống” của các ngài. Sự sa xuống ấy là một hành vi phụng sự vô ngã.
a. They warm the shadows...the human bodies.
a. Các ngài sưởi ấm những chiếc bóng...các thể người.
111. Notice that they “warm” the shadows rather than “heat” the shadows. Solar fire conveys warmth rather than heat, per se.
111. Hãy lưu ý rằng các ngài “sưởi ấm” những chiếc bóng chứ không “làm nóng” những chiếc bóng. Lửa Thái dương truyền đạt sự ấm áp hơn là sức nóng, chính nó.
112. The “human bodies” include all the lunar vehicles.
112. “Các thể người” bao gồm tất cả các vận cụ nguyệt tính.
b. They in their turn are warmed by the Monad, or Atma.—S. D., II, 116, 117, 284.
b. Đến lượt mình, các ngài được sưởi ấm bởi Chân thần, hay Atma.—G. L. B. N., II, 116, 117, 284.
113. The Solar Pitris within the causal body are animated by the Monad. Atma in this context is not the spiritual will but is related to the Spirit. As the human principle closest to the Monad it is often identified with the major quality of the Monad—that of will.
113. Các thái dương tổ phụ bên trong thể nguyên nhân được linh hoạt bởi chân thần. Atma trong ngữ cảnh này không phải là ý chí tinh thần mà có liên hệ với tinh thần. Là nguyên khí nhân loại gần chân thần nhất, nó thường được đồng nhất với phẩm tính chính yếu của chân thần—đó là ý chí.
114. The word “warmed”, in this context, seems to mean energized or animated.
114. Từ “được sưởi ấm”, trong ngữ cảnh này, dường như có nghĩa là được tiếp năng lượng hay được linh hoạt.
c. They are the Serpents of Wisdom.—S. D., II, 240.
c. Các ngài là những Con Rắn Minh Triết.—G. L. B. N., II, 240.
115. It was they who whispered to the more receptive Eve of the possibilities of true knowledge—individualized life.
115. Chính các ngài đã thì thầm với Eve dễ tiếp nhận hơn về những khả năng của tri thức chân thực—sự sống biệt ngã hóa.
d. Their nature is Knowledge and Love.—S. D., II, 527.
d. Bản chất của các ngài là Tri thức và Bác ái.—G. L. B. N., II, 527.
116. Knowledge and love are the qualities of Venus, the planet which most represents their nature.
116. Tri thức và bác ái là những phẩm tính của Sao Kim, hành tinh biểu hiện bản chất của các ngài nhiều nhất.
e. They come in from the cosmic mental plane.—S. D., III, 540.
e. Các ngài đi vào từ cõi trí vũ trụ.—G. L. B. N., III, 540.
117. They are an emanated aspect of the far greater Solar Angels of the cosmic mental plane.
117. Các ngài là một phương diện phát xạ của những Thái dương Thiên Thần vĩ đại hơn rất nhiều trên cõi trí vũ trụ.
118. As they emanate, minimally, from the “Heart of God”, they emanate from the causal body of the Solar Logos on the cosmic mental plane.
118. Vì các ngài phát xạ, tối thiểu, từ “Trái Tim của Thượng đế”, nên các ngài phát xạ từ thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế trên cõi trí vũ trụ.
The Ego, or Solar Angel is imprisoned.--S. D., I, 621.
Chân ngã, hay Thái dương Thiên Thần, bị giam hãm.--G. L. B. N., I, 621.
119. This seems only true to an extent. It seems that part of their nature is imprisoned within the causal body but only part. A certain part of their nature is free upon the plane which is their own plane—perhaps the buddhic plane. And yet when we think of the true plane of the Solar Angels, we must not forget that they “come in from the cosmic mental plane”.
119. Điều này dường như chỉ đúng ở một mức độ nào đó. Có vẻ như một phần bản chất của các ngài bị giam trong thể nguyên nhân nhưng chỉ là một phần mà thôi. Một phần nào đó trong bản chất của các ngài được tự do trên cõi vốn là cõi riêng của các ngài—có lẽ là cõi Bồ đề. Tuy nhiên khi nghĩ đến cõi đích thực của các Thái dương Thiên Thần, chúng ta không được quên rằng các ngài “đi vào từ cõi trí vũ trụ”.
120. The extent of the imprisonment (or of the attentiveness required of them) increases as the personality becomes increasingly responsive to the Solar Angel.
120. Mức độ bị giam hãm (hay mức độ chú tâm mà các ngài phải dành ra) gia tăng khi phàm ngã ngày càng đáp ứng với Thái dương Thiên Thần.
121. It seems incorrect to equate the Ego with the Solar Angel in its fulness. The Ego on the higher mental plane is infused by an aspect of the consciousness of the Solar Angel, but the Solar Angel is more than the Ego.
121. Dường như không đúng khi đồng nhất Chân ngã với Thái dương Thiên Thần trong sự viên mãn của nó. Chân ngã trên cõi thượng trí được thấm nhuần bởi một phương diện của tâm thức Thái dương Thiên Thần, nhưng Thái dương Thiên Thần còn hơn cả Chân ngã.
122. When we think of what is stated immediately below, we should have this reservation in mind.
122. Khi nghĩ đến điều được phát biểu ngay bên dưới, chúng ta nên ghi nhớ sự dè dặt này.
a. It has to liberate itself from the thraldom of sensuous perception.
a. Nó phải tự giải thoát khỏi ách nô lệ của tri giác cảm quan.
123. That part of the Ego which is invested in personality consciousness has to liberate itself from the thralldom of sensuous perception, but this is not true of the Solar Angel on its own plane.
123. Phần Chân ngã được đầu tư vào tâm thức phàm ngã phải tự giải thoát khỏi ách nô lệ của tri giác cảm quan, nhưng điều này không đúng đối với Thái dương Thiên Thần trên cõi riêng của nó.
b. It has to see in the light of the one Reality.
b. Nó phải thấy trong ánh sáng của Thực Tại duy nhất.
124. The Solar Angel on its own plane does see in the light of the one Reality, but that part of the Ego which expresses as personality consciousness does not do so until the later initiations are realized.
124. Thái dương Thiên Thần trên cõi riêng của nó quả thật thấy trong ánh sáng của Thực Tại duy nhất, nhưng phần Chân ngã biểu lộ thành tâm thức phàm ngã thì không làm được như vậy cho đến khi các lần điểm đạo sau này được chứng nghiệm.
c. See S. D., II, 578.
c. Xem G. L. B. N., II, 578.
d. To redeem humanity.—S. D., II, 257.
d. Để cứu chuộc nhân loại.—G. L. B. N., II, 257.
125. The human being is the Ego. The Ego, per se, does not redeem humanity, but the Solar Angel and Solar Angels (invested within the Ego) do.
125. Con người là Chân ngã. Chính Chân ngã không cứu chuộc nhân loại, nhưng Thái dương Thiên Thần và các Thái dương Thiên Thần (được đầu tư trong Chân ngã) thì có.
e. To endow him with human affections and aspirations.—S. D., II, 257.
e. Để phú cho y những tình cảm và khát vọng nhân loại.—G. L. B. N., II, 257.
126. These are the gifts of Venus. The lunar nature, per se, is not endowed with these responses unless properly cultivated by the Solar Angel.
126. Đây là những tặng phẩm của Sao Kim. Bản chất nguyệt tính, chính nó, không được phú cho những đáp ứng này trừ phi được Thái dương Thiên Thần vun bồi đúng cách.
f. They give to men intelligence and consciousness.—S. D., I, 204
f. Các ngài ban cho con người trí thông minh và tâm thức.—G. L. B. N., I, 204
127. They give to man self-conscious intelligence. Within the lunar vehicles there is already a type of consciousness related to the third aspect of divinity.
127. Các ngài ban cho con người trí thông minh tự ý thức. Bên trong các vận cụ nguyệt tính đã có sẵn một loại tâm thức liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.
b. At present much of the manipulation of mental matter and its direction into forms of some kind or another emanates from lower levels, and is the result of powerful desire based on physical attraction.
b. Hiện nay phần lớn sự thao tác chất liệu trí tuệ và việc hướng nó vào các hình tướng thuộc loại này hay loại khác phát ra từ các cấp thấp hơn, và là kết quả của dục vọng mạnh mẽ dựa trên sự hấp dẫn hồng trần.
128. The magical process is dependent upon thoughtform building. How are these forms presently built? DK is telling us that they are not built from above but most often under the impulsion of lower desire based on physical attraction.
128. Tiến trình huyền thuật tùy thuộc vào việc xây dựng hình tư tưởng. Hiện nay các hình tướng này được xây dựng như thế nào? Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng chúng không được xây dựng từ trên xuống mà phần lớn dưới sự thúc đẩy của dục vọng thấp dựa trên sự hấp dẫn hồng trần.
129. In other words, must human beings build thoughts which will fulfill their lower desire nature.
129. Nói cách khác, con người phải xây dựng những tư tưởng sẽ thỏa mãn bản chất dục vọng thấp của mình.
The desire bodies, and not the mental bodies of the majority of men are the most powerful, and set up such a strong vibration (due to the force of two groups of lunar lords) that the third group of lunar entities who construct the mental body are swept into a willing response, and the whole threefold lower nature is immediately engaged in the dire process of feeding the dreaded "Dweller."
Các thể dục vọng, chứ không phải các thể trí của đa số con người, là mạnh mẽ nhất, và tạo nên một rung động mạnh đến mức (do mãnh lực của hai nhóm nguyệt tinh quân) nhóm thực thể nguyệt tính thứ ba xây dựng thể trí bị cuốn vào một sự đáp ứng sẵn lòng, và toàn bộ bản chất thấp tam phân lập tức bị cuốn vào tiến trình nghiệt ngã nuôi dưỡng "Kẻ Chận Ngõ" đáng sợ.
130. There is great clarity in what DK has just stated.
130. Có một sự sáng tỏ lớn lao trong điều Chân sư DK vừa phát biểu.
131. Humanity is not mentally polarized and does not create the majority of its thoughtforms under the influence of the lunar lords of the mental plane.
131. Nhân loại không được phân cực trí tuệ và không tạo ra phần lớn các hình tư tưởng của mình dưới ảnh hưởng của các nguyệt tinh quân của cõi trí.
132. We note that that the lunar lords of the mental plane are “swept into a willing response”. This means that they offer no resistance to the overwhelming power of the lunar lords of the astral plane (who are strengthened by the lunar lords of the systemic physical plane).
132. Chúng ta lưu ý rằng các nguyệt tinh quân của cõi trí “bị cuốn vào một sự đáp ứng sẵn lòng”. Điều này có nghĩa là họ không đưa ra sự kháng cự nào trước quyền năng áp đảo của các nguyệt tinh quân của cõi cảm dục (những vị này được tăng cường bởi các nguyệt tinh quân của cõi hồng trần hệ thống).
133. Under such an influence, the “Dweller” is constantly fed. We gather then, that low desire feeds the “Dweller” and is powerful enough to compel the other two groups of lunar lords to do the same.
133. Dưới ảnh hưởng như thế, “Kẻ Chận Ngõ” liên tục được nuôi dưỡng. Do đó chúng ta hiểu rằng dục vọng thấp nuôi dưỡng “Kẻ Chận Ngõ” và đủ mạnh để buộc hai nhóm nguyệt tinh quân kia cũng làm điều tương tự.
This direction of energy follows the line of least resistance.
Sự định hướng năng lượng này đi theo con đường ít trở ngại nhất.
134. We live in an astral-buddhic solar system, the astral body of which is the most potent vehicle. As well, humanity as a whole is astrally polarized, and this polarization reinforces the triumph of the astral body in the case of the individual human being.
134. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề, mà thể cảm dục của nó là vận cụ mạnh nhất. Hơn nữa, toàn thể nhân loại được phân cực cảm xúc, và sự phân cực này củng cố sự chiến thắng của thể cảm dục trong trường hợp của từng con người cá biệt.
135. The man who deliberately and effectively works as a mentally polarized consciousness is rare at this time in human history.
135. Con người cố ý và hữu hiệu hoạt động như một tâm thức được phân cực trí tuệ là điều hiếm thấy vào thời điểm này trong lịch sử nhân loại.
One of the primary works of the Ego, as we well know, is to impose a new rhythm upon his shadow and reflection, the lower man, and it is this imposition which in time deflects energy away from man's distorted creation, [the “Dweller”] and brings his vibration into tune with that of his solar Angel.
Một trong những công việc chính yếu của Chân ngã, như chúng ta đều biết rõ, là áp đặt một nhịp điệu mới lên chiếc bóng và sự phản chiếu của y, tức phàm nhân, và chính sự áp đặt này theo thời gian làm lệch hướng năng lượng ra khỏi sáng tạo méo mó của con người, [the “Dweller”] và đưa rung động của y vào sự hòa điệu với rung động của Thái dương Thiên Thần của y.
136. We can see that the Solar Angel opposes the usual lower tendencies of the astral body, but not its aspiration.
136. Chúng ta có thể thấy rằng Thái dương Thiên Thần chống lại các khuynh hướng thấp thông thường của thể cảm dục, nhưng không chống lại khát vọng của nó.
137. From the planetary perspective, Venus is at war with Mars.
137. Từ quan điểm hành tinh, Sao Kim đang chiến tranh với Sao Hỏa.
138. Note carefully that it is the Ego which imposes the new rhythm. The Ego is partly the extension of the Monad and partly the infusion of the Solar Angel.
138. Hãy lưu ý cẩn thận rằng chính Chân ngã áp đặt nhịp điệu mới. Chân ngã một phần là sự mở rộng của chân thần và một phần là sự thấm nhuần của Thái dương Thiên Thần.
139. The Ego’s success reconditions the man so that his vibration comes into attunement with his Solar Angel. The Solar Angel is even more than the Ego.
139. Sự thành công của Chân ngã tác động lại lên con người để rung động của y đi vào sự hòa điệu với Thái dương Thiên Thần của y. Thái dương Thiên Thần còn hơn cả Chân ngã.
140. In this important section of text, the Ego is discriminated from the Solar Angel.
140. Trong phần văn bản quan trọng này, Chân ngã được phân biệt với Thái dương Thiên Thần.
The devas who are the sumtotal of the energy of substance itself care not what form they build. They are [Page 952] irresponsibly responsive to energy currents, and theirs is not the problem of dealing with sources of energy.
Các thiên thần là tổng số của chính năng lượng của chất liệu không quan tâm mình xây dựng hình tướng nào. Họ [Page 952] đáp ứng một cách vô trách nhiệm trước các dòng năng lượng, và vấn đề đề cập đến các nguồn năng lượng không phải là vấn đề của họ.
141. When DK speaks of “the energy of substance” He is not speaking only of “building essence”, for He speaks of those who “build”—i.e., of the “irresponsibly responsive” builders.
141. Khi Chân sư DK nói về “năng lượng của chất liệu”, Ngài không chỉ nói về “tinh chất kiến tạo”, vì Ngài nói về những kẻ “xây dựng”—tức những đấng kiến tạo “đáp ứng một cách vô trách nhiệm”.
142. It goes without saying that “building essence “ cares not what forms it is built into, but also elemental lives of the lower orders—those manipulating devas who are not self-conscious also do not care about what forms they build. They simply follow ‘orders’.
142. Không cần phải nói, “tinh chất kiến tạo” không quan tâm nó được xây thành những hình tướng nào, nhưng các sự sống hành khí thuộc các cấp thấp hơn—những thiên thần thao tác không có ngã thức—cũng không quan tâm đến những hình tướng mà họ xây dựng. Họ chỉ đơn giản làm theo ‘mệnh lệnh’.
143. When man mindlessly follows orders, he relinquishes his nature as man (the one who, through self-knowledge, rebels) and, instead, falls into the pattern of deva behavior.
143. Khi con người vô tâm thức làm theo mệnh lệnh, y từ bỏ bản chất làm người của mình (kẻ nổi loạn nhờ tự tri) và thay vào đó rơi vào mô hình hành vi của thiên thần.
144. The lower devas, therefore, do not discriminate regarding the source of energy currents which impel them. They simply respond. They have no responsibility for the impulsion of the building process and, therefore, respond irresponsibly.
144. Do đó, các thiên thần thấp không phân biện đối với nguồn gốc của các dòng năng lượng thúc đẩy họ. Họ chỉ đơn giản đáp ứng. Họ không có trách nhiệm đối với sự thúc đẩy của tiến trình xây dựng và vì vậy đáp ứng một cách vô trách nhiệm.
145. The phrase “irresponsibly responsive” is arresting and tells us much about our responsibility to the deva kingdom.
145. Cụm từ “đáp ứng một cách vô trách nhiệm” thật đáng chú ý và cho chúng ta biết nhiều điều về trách nhiệm của chúng ta đối với giới thiên thần.
Therefore, the place of man in the cosmic plan becomes more vital and apparent when it is realised that one of his main responsibilities is the direction of energy currents from the mental plane, and the creation of that which is desired on higher levels.
Do đó, vị trí của con người trong Thiên Cơ vũ trụ trở nên hệ trọng và hiển nhiên hơn khi người ta chứng nghiệm rằng một trong những trách nhiệm chính của y là hướng dẫn các dòng năng lượng từ cõi trí, và sáng tạo điều được mong muốn trên các cấp cao hơn.
146. One of the main responsibilities of man is here outlined.
146. Một trong những trách nhiệm chính của con người được phác họa ở đây.
147. Countering the human tendency of astral impulsion, it is the role of the enlightened man to direct energy currents from the mental plane.
147. Để đối kháng với khuynh hướng bị thúc đẩy bởi cảm dục của con người, vai trò của con người giác ngộ là hướng dẫn các dòng năng lượng từ cõi trí.
148. Desire does exist upon the higher planes. God also desires. Such desire, cosmically, emanates from the cosmic astral plane.
148. Dục vọng quả thật hiện hữu trên các cõi cao hơn. Thượng đế cũng mong muốn. Về mặt vũ trụ, dục vọng như thế phát ra từ cõi cảm dục vũ trụ.
149. It is man’s task to respond mentally and with intelligent directiveness to the desires of the "One in Whom he lives and moves and has his being".
149. Nhiệm vụ của con người là đáp ứng một cách trí tuệ và với sự định hướng thông minh đối với những mong muốn của "Đấng mà trong Ngài y sống, vận động và hiện hữu".
150. Man frees himself from the deva kingdom by learning mental polarization and with it, the ability to direct energy currents from the mental plane.
150. Con người tự giải thoát khỏi giới thiên thần bằng cách học sự phân cực trí tuệ và cùng với nó là khả năng hướng dẫn các dòng năng lượng từ cõi trí.
Men, as a whole, are undergoing evolutionary development in order that they may become conscious creators in matter. This involves
Con người, xét như một toàn thể, đang trải qua sự phát triển tiến hoá để có thể trở thành những đấng sáng tạo hữu thức trong vật chất. Điều này bao hàm
151. The human being is meant to be self-consciously creative. We are intended to mirror the creative function of the Planetary Logos.
151. Con người được dự định là sáng tạo một cách tự ý thức. Chúng ta được định để phản chiếu chức năng sáng tạo của Chân Linh Hành Tinh.
152. So far, we are mostly unconsciously creative and the products of our creativity is not in line with that which is desired from ‘above’.
152. Cho đến nay, phần lớn chúng ta sáng tạo một cách vô thức và các sản phẩm của sự sáng tạo của chúng ta không phù hợp với điều được mong muốn từ ‘bên trên’.
(1) A realisation of the archetypal plan,
(1) Một sự chứng nghiệm về nguyên mẫu Thiên Cơ,
153. The first expression of the archetypal plan with which we as human beings may be in contact is that which is found upon the higher mental plane.
153. Biểu hiện đầu tiên của nguyên mẫu Thiên Cơ mà chúng ta với tư cách con người có thể tiếp xúc là điều được tìm thấy trên cõi thượng trí.
154. As we learn to touch one cosmic ether after another, our apprehension of the archetypal plan grows in clarity and detail.
154. Khi chúng ta học cách chạm đến dĩ thái vũ trụ này đến dĩ thái vũ trụ khác, sự nắm bắt của chúng ta về nguyên mẫu Thiên Cơ tăng trưởng về sự rõ ràng và chi tiết.
155. The ultimate archetypal plane on the cosmic physical plane (that cosmic physical subplane on which the archetypal plan can be known in greatest fulness) is the logoic plane. Of course, there is an “archetypal plan” as it is known on the cosmic mental plane. About such Archetypes we can know absolutely nothing.
155. Cõi nguyên mẫu tối hậu trên cõi hồng trần vũ trụ (cõi phụ hồng trần vũ trụ mà trên đó nguyên mẫu Thiên Cơ có thể được biết trong sự viên mãn lớn nhất) là cõi logoic. Dĩ nhiên, cũng có một “nguyên mẫu Thiên Cơ” như nó được biết trên cõi trí vũ trụ. Về những Nguyên mẫu như thế chúng ta tuyệt đối không thể biết gì cả.
(2) An understanding of the laws governing the building processes of nature,
(2) Một sự thấu hiểu các định luật chi phối các tiến trình kiến tạo của bản chất,
156. One who understands such laws and can execute them is a white magician.
156. Người thấu hiểu các định luật như thế và có thể thực thi chúng là một nhà huyền thuật chánh đạo.
(3) A conscious process of willing creation, so that man co-operates with the ideal, works under law, and produces that which is in line with the planetary plan, and which tends to further the best interests of the race,
(3) Một tiến trình sáng tạo bằng ý chí một cách hữu thức, để con người hợp tác với lý tưởng, hoạt động dưới định luật, và tạo ra điều phù hợp với Thiên Cơ hành tinh, và có khuynh hướng thúc đẩy những lợi ích tốt đẹp nhất của nhân loại,
157. Those who can perform in this manner are members of the Spiritual Hierarchy of our planet.
157. Những ai có thể thực hiện theo cách này là các thành viên của Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta.
158. It is important to note the term “willing creation”. In all acts of sanctioned creation the will must be combined with the creative faculties.
158. Điều quan trọng là phải lưu ý thuật ngữ “sáng tạo bằng ý chí”. Trong mọi hành vi sáng tạo được chuẩn thuận, ý chí phải được kết hợp với các năng lực sáng tạo.
159. We see that such a man is a spiritual idealist who conforms to spiritual law. He also serve the Divine Plan as it is expressed upon the cosmic ethers of our planet.
159. Chúng ta thấy rằng con người như thế là một nhà lý tưởng tinh thần, phù hợp với định luật tinh thần. Y cũng phụng sự Thiên Cơ thiêng liêng như nó được biểu lộ trên các dĩ thái vũ trụ của hành tinh chúng ta.
(4) A comprehension as to the nature of energy, and an ability to direct energy currents, to disintegrate (or withdraw energy from) all forms in the three worlds,
(4) Một sự lĩnh hội về bản chất của năng lượng, và một khả năng hướng dẫn các dòng năng lượng, làm tan rã (hay rút năng lượng khỏi) mọi hình tướng trong ba cõi giới,
160. This is certainly occult work. The occultist is one who has mastered energy. This requires the application of the first and fifth rays.
160. Đây chắc chắn là công việc huyền bí học. Nhà huyền bí học là người đã làm chủ năng lượng. Điều này đòi hỏi sự vận dụng cung một và cung năm.
161. The human being who has mastered energy must—
161. Con người đã làm chủ năng lượng phải—
a. Direct energy currents
a. Hướng dẫn các dòng năng lượng
b. Withdraw energy from forms in the three worlds
b. Rút năng lượng khỏi các hình tướng trong ba cõi giới
c. Disintegrate forms in the three worlds—through the process of withdrawal
c. Làm tan rã các hình tướng trong ba cõi giới—qua tiến trình rút lui
d. And, presumably, infuse with life energy forms in the three worlds.
d. Và, có lẽ, phú sự sống cho các hình tướng trong ba cõi giới bằng năng lượng sự sống.
162. There is an occult formula here. The one who works to disintegrate form works through the process of withdrawal.
162. Ở đây có một công thức huyền bí. Người hoạt động để làm tan rã hình tướng làm việc qua tiến trình rút lui.
163. This suggests a magnetic ability which serves the process of abstraction. Presumably one can envision embodied energy returning to the source of supply.
163. Điều này gợi ý một khả năng từ tính phục vụ tiến trình trừu xuất. Có lẽ người ta có thể hình dung năng lượng nhập thể quay trở về nguồn cung ứng.
(5) An appreciation of the nature of the devas, their constitution and place as builders, and of the words and sounds whereby they are directed and controlled.
(5) Một sự đánh giá đúng về bản chất của các thiên thần, cấu tạo của họ và vị trí của họ như những đấng kiến tạo, cùng những lời nói và âm thanh nhờ đó họ được hướng dẫn và kiểm soát.
164. In this simple sentence, lifetimes of work are contained. There are many, many varieties of devas, each with their own task. Each type of devic group is controlled by different words and sounds. The learning involved is most exacting. Error cannot be allowed.
164. Trong câu đơn giản này chứa đựng công việc của nhiều kiếp sống. Có rất, rất nhiều loại thiên thần, mỗi loại có nhiệm vụ riêng. Mỗi loại nhóm thiên thần được kiểm soát bởi những lời nói và âm thanh khác nhau. Việc học hỏi liên hệ đến điều này là cực kỳ khắt khe. Không thể cho phép sai lầm.
When the energy currents of the human family are directed from egoic levels only, when desire is transmuted, and the fifth principle awakened and finally illuminated by the sixth, then and only then will the strength of the impulse emanating from lower levels die out and the "Dweller on the Threshold" (who now haunts the human family) likewise die.
Khi các dòng năng lượng của gia đình nhân loại chỉ được hướng dẫn từ các cấp chân ngã, khi dục vọng được chuyển hoá, và nguyên khí thứ năm được thức tỉnh rồi cuối cùng được soi sáng bởi nguyên khí thứ sáu, thì khi ấy và chỉ khi ấy sức mạnh của xung lực phát ra từ các cấp thấp hơn mới tắt dần và "Kẻ Chận Ngõ" (kẻ hiện đang ám ảnh gia đình nhân loại) cũng sẽ chết.
165. The "Dweller on the Threshold" is, indeed, a phantasm as the word “haunts” suggests.
165. "Kẻ Chận Ngõ" quả thật là một bóng ma như từ “ám ảnh” gợi ý.
166. Let us tabulate those conditions necessary for the dying out of the “Dweller”.
166. Chúng ta hãy liệt kê những điều kiện cần thiết cho sự tàn lụi của “Kẻ Chận Ngõ”.
a. Energy currents must be directed from egoic levels only
a. Các dòng năng lượng chỉ phải được hướng dẫn từ các cấp chân ngã
b. Desire must be transmuted
b. Dục vọng phải được chuyển hoá
c. The fifth principle must be awakened
c. Nguyên khí thứ năm phải được thức tỉnh
d. The awakened fifth principle must be illuminated by the sixth (buddhi)
d. Nguyên khí thứ năm đã thức tỉnh phải được soi sáng bởi nguyên khí thứ sáu (Bồ đề)
167. With these requirements fulfilled, lower impulses will die out and the “Dweller” will die of attrition.
167. Khi những yêu cầu này được hoàn tất, các xung lực thấp sẽ tắt dần và “Kẻ Chận Ngõ” sẽ chết vì bị bào mòn.
In other words, when the dense physical body of the planetary Logos (composed of matter of the three worlds of human endeavour) is completely purified and vitalised by the force of the life flowing from etheric levels, and when all His centres (formed of human units) are fully awakened,
Nói cách khác, khi thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế (được cấu thành từ vật chất của ba cõi giới của nỗ lực nhân loại) được thanh lọc hoàn toàn và được tiếp sinh lực bởi mãnh lực của sự sống tuôn chảy từ các cấp dĩ thái, và khi tất cả các trung tâm của Ngài (được tạo thành từ các đơn vị nhân loại) được thức tỉnh đầy đủ,
168. The Planetary Logos has various centers on various of the cosmic ethers. The groups of causal bodies on the higher mental plane can also be considered as planetary logoic centers.
168. Hành Tinh Thượng Đế có nhiều trung tâm khác nhau trên nhiều dĩ thái vũ trụ khác nhau. Các nhóm thể nguyên nhân trên cõi thượng trí cũng có thể được xem như những trung tâm logoic hành tinh.
169. There are groupings of human units on planes higher than the higher mental plane as well.
169. Cũng có những nhóm đơn vị nhân loại trên các cõi cao hơn cõi thượng trí nữa.
170. We are speaking of the awakening of the egoic groups on the higher mental plane and, presumably, of the awakening of still higher centers formed of human units.
170. Chúng ta đang nói đến sự thức tỉnh của các nhóm chân ngã trên cõi thượng trí và, có lẽ, của những trung tâm còn cao hơn được tạo thành từ các đơn vị nhân loại.
171. Etheric substitution is necessary to complete the redemptive process which sees the elimination of the "Dweller". The centers of the human being which are found within the dense physical body of the Planetary Logos must be purified and vitalized by the energy flowing in from the planetary logoic centers upon the cosmic ethers and, to a lesser extent, from egoic groups upon the higher mental plane.
171. Sự thay thế dĩ thái là cần thiết để hoàn tất tiến trình cứu chuộc dẫn đến việc loại bỏ "Kẻ Chận Ngõ". Các trung tâm của con người được tìm thấy bên trong thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế phải được thanh lọc và tiếp sinh lực bởi năng lượng tuôn vào từ các trung tâm logoic hành tinh trên các dĩ thái vũ trụ và, ở mức độ thấp hơn, từ các nhóm chân ngã trên cõi thượng trí.
then will [Page 953] those centres be channels for pure force, and such an entity as the "Dweller" be an impossibility.
khi ấy [Page 953] những trung tâm đó sẽ là những kênh dẫn của mãnh lực thuần khiết, và một thực thể như "Kẻ Chận Ngõ" sẽ là điều bất khả.
172. We seem to be speaking of the etheric centers of the Planetary Logos and their purification. Some degree of advancement of the Planetary Logos is necessary before the "Dweller" (found within the dense physical body of the Planetary Logos) can be expiated.
172. Dường như chúng ta đang nói về các trung tâm dĩ thái của Hành Tinh Thượng Đế và sự thanh lọc của chúng. Một mức độ tiến bộ nào đó của Hành Tinh Thượng Đế là cần thiết trước khi "Kẻ Chận Ngõ" (được tìm thấy trong thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế) có thể được tẩy trừ.
173. The egoic groups upon the higher mental plane are also centers of force within the Planetary Logos and these centers, too, must be awakened.
173. Các nhóm chân ngã trên cõi thượng trí cũng là những trung tâm mãnh lực bên trong Hành Tinh Thượng Đế và những trung tâm này cũng phải được thức tỉnh.
All that I have here said anent this "Dweller on the Threshold" of the Path between the two great kingdoms, the fourth and the fifth, can be studied by the student with a personal application.
Tất cả những gì tôi đã nói ở đây liên quan đến "Kẻ Chận Ngõ" này của Con Đường giữa hai giới lớn, giới thứ tư và giới thứ năm, đều có thể được đạo sinh nghiên cứu với sự áp dụng cá nhân.
174. Indeed, it must be studied in this manner as without many instances of ‘personal conquest’, the greater "Dweller" cannot be vanquished. Every disciple/initiate is obliged to conquer his own personal version of the ‘Great Impediment” between the fourth and fifth kingdoms.
174. Quả thật, điều đó phải được nghiên cứu theo cách này, vì nếu không có nhiều trường hợp ‘chiến thắng cá nhân’, thì "Kẻ Chận Ngõ" lớn hơn không thể bị đánh bại. Mỗi đệ tử/điểm đạo đồ đều buộc phải chinh phục phiên bản cá nhân của chính mình về ‘Chướng Ngại Lớn’ giữa giới thứ tư và giới thứ năm.
Facing each earnest aspirant to the Mysteries is that vitalised form which he has himself constructed and nourished during the course of his previous incarnations, and which represents the sum total of his evil desires, motives and thoughts.
Đối diện với mỗi người chí nguyện chân thành bước vào các Huyền Nhiệm là hình tướng được tiếp sinh lực ấy mà chính y đã kiến tạo và nuôi dưỡng trong suốt tiến trình các kiếp sống trước đây của mình, và nó tiêu biểu cho toàn bộ những ham muốn, động cơ và tư tưởng xấu xa của y.
175. This is the great sumtotal of negativity we all must confront—individually, and later, when possible, collectively.
175. Đây là tổng thể lớn lao của tính tiêu cực mà tất cả chúng ta đều phải đối diện—một cách cá nhân, và về sau, khi có thể, một cách tập thể.
176. We pause to realize that each of us has “constructed” and “nourished” a great phantasm which blocks our way. As knowledge of our previous incarnations is clarified, we will see how we have done this. For the moment we have the effect though few of us perceive this effect in its fulness.
176. Chúng ta dừng lại để nhận ra rằng mỗi người chúng ta đã “kiến tạo” và “nuôi dưỡng” một ảo ảnh lớn lao chặn lối đi của mình. Khi tri thức về các kiếp sống trước đây của chúng ta được làm sáng tỏ, chúng ta sẽ thấy mình đã làm điều này như thế nào. Hiện giờ chúng ta có hậu quả ấy, dù ít người trong chúng ta nhận ra hậu quả này trong toàn bộ mức độ của nó.
177. This thoughtform becomes a deadly opponent every time we seek to penetrate further into the light. It ‘kills’ the possibility for the higher livingness and consciousness to enter and pervade the lower form.
177. Hình tư tưởng này trở thành một đối thủ chết người mỗi khi chúng ta tìm cách xuyên nhập sâu hơn vào ánh sáng. Nó “giết chết” khả năng để sự sống động và tâm thức cao hơn đi vào và thấm nhuần hình tướng thấp hơn.
For ages it has vampirised him, and for ages it has represented that which he has failed to achieve. It affects not only himself but also all those units whom he contacts and meets.
Trong nhiều thời đại nó đã hút sinh lực của y, và trong nhiều thời đại nó đã tượng trưng cho điều mà y đã không đạt được. Nó không chỉ ảnh hưởng đến chính y mà còn đến tất cả những đơn vị mà y tiếp xúc và gặp gỡ.
178. The description of the activities of the individual "Dweller" is not pleasant. We are told a story of vampirism (of energy theft). The energy we need for achievement is occultly ‘stolen’ by a grotesque form we ourselves have created.
178. Sự mô tả các hoạt động của "Kẻ Chận Ngõ" cá nhân không dễ chịu chút nào. Chúng ta được kể một câu chuyện về sự hút sinh lực (về sự đánh cắp năng lượng). Năng lượng mà chúng ta cần để thành tựu bị một cách huyền bí “đánh cắp” bởi một hình tướng quái dị do chính chúng ta tạo ra.
179. The individual "Dweller" is also a constant reminder of our failures. This, in itself, is depressing and devitalizing unless faced with the spiritual will.
179. "Kẻ Chận Ngõ" cá nhân cũng là một lời nhắc nhở thường trực về những thất bại của chúng ta. Điều này, tự nó, gây chán nản và làm mất sinh lực trừ khi được đối diện bằng ý chí tinh thần.
180. The individual "Dweller" mars not only the life of the individual human being but has a very negative effect upon all he contacts. Thus, when we fail to conquer our "Dweller", we harm others.
180. "Kẻ Chận Ngõ" cá nhân không chỉ làm tổn hại đời sống của cá nhân con người mà còn có ảnh hưởng rất tiêu cực lên tất cả những ai y tiếp xúc. Vì vậy, khi chúng ta không chinh phục được "Kẻ Chận Ngõ" của mình, chúng ta làm hại người khác.
181. We all must confront this great menace and, truth to tell, most of us have no idea how bad the situation really is. Master DK told some of those who had failed to fulfill the requirements of group life that, while they knew they had certain problems, they did not know how deep-seated and difficult these problems were.
181. Tất cả chúng ta đều phải đối diện với mối đe dọa lớn lao này và, nói thật ra, phần lớn chúng ta không hề biết tình hình thực sự tệ đến mức nào. Chân sư DK đã nói với một số người đã không hoàn thành các yêu cầu của đời sống nhóm rằng, dù họ biết mình có những vấn đề nhất định, họ không biết những vấn đề ấy ăn sâu và khó khăn đến mức nào.
In its destruction he has to pursue methods similar to those followed by the Great Ones,
Trong việc hủy diệt nó, y phải theo đuổi những phương pháp tương tự như những phương pháp được theo bởi Các Đấng Cao Cả,
182. And this will require approach to the Great Ones, so that Their methods can be learned…
182. Và điều này sẽ đòi hỏi phải tiếp cận Các Đấng Cao Cả, để các phương pháp của Các Ngài có thể được học hỏi…
183. The approaches used by the Great Ones in assisting humanity to conquer its "Dweller" are given above.
183. Những phương pháp được Các Đấng Cao Cả sử dụng để trợ giúp nhân loại chinh phục "Kẻ Chận Ngõ" của mình đã được nêu ở trên.
and through the increasing power of his solar Angel,
và thông qua quyền năng ngày càng tăng của Thái dương Thiên Thần của y,
184. The Solar Angel is a very powerful being and is not the Ego. This is important to note.
184. Thái dương Thiên Thần là một hữu thể rất quyền năng và không phải là chân ngã. Điều này cần được lưu ý.
through the force of his Ego,
thông qua mãnh lực của chân ngã của y,
185. The Solar Angel is differentiated from the Ego.
185. Thái dương Thiên Thần được phân biệt với chân ngã.
and through a study of law, the knowledge of the power of sound, and the control of speech, he will eventually bring about its disintegration.
và thông qua việc nghiên cứu định luật, tri thức về quyền năng của âm thanh, và sự kiểm soát lời nói, cuối cùng y sẽ mang lại sự tan rã của nó.
186. The methods of destroying the vampire are so important that we must tabulate them:
186. Các phương pháp hủy diệt kẻ hút sinh lực quan trọng đến mức chúng ta phải lập bảng như sau:
a. Disintegration by similar methods used by the Great Ones. Briefly—
a. Sự tan rã bằng những phương pháp tương tự như các phương pháp được Các Đấng Cao Cả sử dụng. Tóm lại—
i. Through meditation
i. Thông qua tham thiền
ii. Through teaching and training
ii. Thông qua giảng dạy và huấn luyện
iii. Through mantrams
iii. Thông qua các mantram
iv. Through stimulating the Ego
iv. Thông qua việc kích thích chân ngã
b. Disintegration through the increasing power of the Solar Angel
b. Sự tan rã thông qua quyền năng ngày càng tăng của Thái dương Thiên Thần
c. Disintegration through the force of the Ego
c. Sự tan rã thông qua mãnh lực của chân ngã
d. Disintegration through the power of sound
d. Sự tan rã thông qua quyền năng của âm thanh
e. Disintegration through the control of speech
e. Sự tan rã thông qua sự kiểm soát lời nói
187. It seems particularly important to note the distinction between the Solar Angel and the Ego, as sometimes that distinction is not emphasized and the two terms are used almost interchangeably.
187. Dường như điều đặc biệt quan trọng là phải lưu ý sự phân biệt giữa Thái dương Thiên Thần và chân ngã, vì đôi khi sự phân biệt ấy không được nhấn mạnh và hai thuật ngữ này được dùng gần như thay thế cho nhau.
188. The Solar Angel is far greater than the Ego. The Solar Angel participates in the consciousness of the Ego, sustaining its integrity.
188. Thái dương Thiên Thần vĩ đại hơn chân ngã rất nhiều. Thái dương Thiên Thần tham dự vào tâm thức của chân ngã, duy trì tính toàn vẹn của nó.
189. The manner in which the two are listed shows the Solar Angel to be preeminent over the Ego. Even if the Ego were considered to be the spiritual triad, the Solar Angel would still be a far more advanced entity.
189. Cách mà hai điều này được liệt kê cho thấy Thái dương Thiên Thần nổi trội hơn chân ngã. Ngay cả nếu chân ngã được xem là Tam Nguyên Tinh Thần, thì Thái dương Thiên Thần vẫn sẽ là một thực thể tiến hóa cao hơn rất nhiều.
The old Commentary says:
Cổ Luận nói rằng:
"The solar Angel must put out the light of the lunar angels and then for lack of warmth and light, that which has served to hinder no longer is."
"Thái dương Thiên Thần phải dập tắt ánh sáng của các thái âm thiên thần, rồi vì thiếu hơi ấm và ánh sáng, điều đã từng cản trở sẽ không còn nữa."
190. The warmth and light of the lunar angels are obstructive. They must be removed.
190. Hơi ấm và ánh sáng của các thái âm thiên thần có tính cản trở. Chúng phải được loại bỏ.
191. The Ego also has a part in this process, but it is the presence of the Solar Angel within the Ego on the higher mental plane which makes this possible.
191. Chân ngã cũng có phần trong tiến trình này, nhưng chính sự hiện diện của Thái dương Thiên Thần bên trong chân ngã trên cõi thượng trí làm cho điều này trở nên khả hữu.
c. As yet but few of the human family work deliberately and consciously in mental matter only. The energy exerted by men is mostly kama-manasic or desire coupled with lower mind, with a preponderance, as might be expected, of desire force.
c. Cho đến nay chỉ có ít người trong gia đình nhân loại làm việc một cách có chủ ý và có ý thức chỉ trong chất liệu trí tuệ mà thôi. Năng lượng do những người nam và nữ vận dụng phần lớn là trí-cảm hay dục vọng kết hợp với hạ trí, với sự trội hơn, như có thể dự đoán, của mãnh lực dục vọng.
192. As we can see this does not represent a very high level of development.
192. Như chúng ta có thể thấy, điều này không biểu thị một cấp độ phát triển thật cao.
193. It appears to be desirable to work consciously is mental matter only or at least to have the capability to do so.
193. Dường như điều đáng mong muốn là làm việc một cách có ý thức chỉ trong chất liệu trí tuệ, hoặc ít nhất là có khả năng làm như vậy.
194. The word “coupled” is of importance, for kama-manas represents the coupling o two functions—the mental and the emotional.
194. Từ “kết hợp” rất quan trọng, vì kama-manas biểu thị sự kết hợp của hai chức năng—trí tuệ và cảm xúc.
This is to be inferred from the second statement.
Điều này được suy ra từ phát biểu thứ hai.
195. So many of humanity’s problems come simply from the relatively low level of evolution thus far achieved within the human race.
195. Rất nhiều vấn đề của nhân loại đến đơn giản từ cấp độ tiến hoá tương đối thấp mà nhân loại cho đến nay đã đạt được.
196. If the majority of human beings is kama-manasic, that majority cannot yet work strictly in mental matter.
196. Nếu đa số con người là trí-cảm, thì đa số ấy chưa thể làm việc một cách nghiêm ngặt chỉ trong chất liệu trí tuệ.
The whole trend of evolution is to bring about ability to build in mental matter, and two things lie ahead of the race:
Toàn bộ xu hướng của tiến hoá là mang lại khả năng kiến tạo trong chất liệu trí tuệ, và có hai điều ở phía trước nhân loại:
197. This is one of the major goals of the Aryan civilization, which is meant to be a mentally focussed civilization.
197. Đây là một trong những mục tiêu chính của nền văn minh Arya, vốn được dự định là một nền văn minh tập trung trí tuệ.
First. The gradual dissipation of the indefinite masses of kama-manasic matter which surround practically every unit of the human family, producing a condition of murkiness and fog within, and around, each aura.
Thứ nhất. Sự làm tiêu tan dần dần của những khối chất liệu trí-cảm mơ hồ bao quanh hầu như mọi đơn vị trong gia đình nhân loại, tạo ra một tình trạng u ám và sương mù bên trong và chung quanh mỗi hào quang.
198. Here we have one of those graphic insights into the true condition of the human being. To the true seer, the aura of the average individual must present no pretty picture.
198. Ở đây chúng ta có một trong những cái nhìn sâu sắc đầy hình tượng về tình trạng thực sự của con người. Đối với nhà thông nhãn chân chính, hào quang của cá nhân trung bình hẳn không phải là một bức tranh đẹp.
199. DK is telling us that we, almost inevitably, live within a condition of murkiness and fog. Our attempt to be clear is no small matter and the difficulty of the process has a subtle, material basis.
199. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng gần như không tránh khỏi, chúng ta sống trong một tình trạng u ám và sương mù. Nỗ lực của chúng ta để được sáng tỏ không phải là chuyện nhỏ, và khó khăn của tiến trình này có một cơ sở vật chất tinh vi.
Gradually [Page 954] this will clear away, and men will be seen surrounded by clear-cut thought forms, characterised by a distinctive vibration and distinguished by a particular quality incident to a man's ray and therefore to his type of mind.
Dần dần [Page 954] điều này sẽ được quét sạch, và người ta sẽ thấy những người nam và nữ được bao quanh bởi các hình tư tưởng rõ nét, được đặc trưng bởi một rung động đặc thù và được phân biệt bởi một phẩm tính đặc biệt gắn liền với cung của một người và do đó với loại trí tuệ của y.
200. What is desirable is a clarification of the psycho-mental condition of the race.
200. Điều đáng mong muốn là sự làm sáng tỏ tình trạng tâm lý-trí tuệ của nhân loại.
201. A seer will be able to ‘read’ the thoughtforms of the ‘clarified’ individual and the forms will represent the major rays in expression. Perhaps this is one way that a seer can immediately determine which, in fact, are the major rays—by the form and vibration of the thoughtforms to be found within the aura.
201. Một nhà thông nhãn sẽ có thể “đọc” các hình tư tưởng của cá nhân đã được “làm sáng tỏ”, và các hình tướng ấy sẽ biểu hiện các cung chính đang hoạt động. Có lẽ đây là một cách để một nhà thông nhãn có thể ngay lập tức xác định những cung nào thật sự là các cung chính—qua hình dạng và rung động của các hình tư tưởng được tìm thấy trong hào quang.
202. We are not necessarily speaking of the ray of the mind, but it becomes apparent that the type of a man’s mind is “incident to a man’s ray”.
202. Chúng ta không nhất thiết đang nói về cung của thể trí, nhưng rõ ràng là loại trí tuệ của một người “gắn liền với cung của người ấy”.
Second. The aggregate of human thought forms which now are of a personal character, vibrating around each human being as the planets vibrate around the sun, will tend to approximate a group centre.
Thứ hai. Tổng thể các hình tư tưởng của con người hiện nay có tính cách cá nhân, rung động quanh mỗi con người như các hành tinh rung động quanh mặt trời, sẽ có khuynh hướng tiến gần đến một trung tâm nhóm.
203. Putting this in other terms, the average human being thinks far too much of himself as an isolated person. This will change as individual consciousness is reconditioned to become group consciousness.
203. Nói theo cách khác, con người trung bình nghĩ quá nhiều về chính mình như một cá nhân cô lập. Điều này sẽ thay đổi khi tâm thức cá nhân được tái định hình để trở thành tâm thức nhóm.
204. So, two developments can be expected: the dissipation of auric unclarity in the field of thought, and the reconditioning of human thought through the process of personality decentralization, producing thought induced by a growing group consciousness.
204. Vì vậy, có thể chờ đợi hai sự phát triển: sự làm tiêu tan tính không sáng tỏ trong hào quang ở lĩnh vực tư tưởng, và sự tái định hình tư tưởng con người thông qua tiến trình phi tập trung vào bản thân của phàm ngã, tạo ra tư tưởng được khơi động bởi một tâm thức nhóm đang tăng trưởng.
Thought energy, which now emanates from each human being as a comparatively weak stream of an indefinite conglomeration of mental matter, of no particular character, forming no particularly distinct forms and persisting in animating those forms for but a brief period, will be directed towards the creation of that desired by the group, and not solely towards that desired by the unit.
Năng lượng tư tưởng, hiện đang phát ra từ mỗi con người như một dòng tương đối yếu của một sự kết tụ mơ hồ của chất liệu trí tuệ, không có đặc tính riêng biệt nào, không tạo thành những hình tướng thật rõ rệt nào và chỉ tiếp sinh lực cho những hình tướng ấy trong một thời gian ngắn, sẽ được hướng tới việc sáng tạo điều được nhóm mong muốn, chứ không chỉ hướng tới điều đơn vị mong muốn.
205. The picture presented of the human thinking process is one of weakness and vagueness. For the moment, this conglomeration of amorphous thought is impulsed by personal desire. Later thought will clarify, take more definite form and be impulsed by group desire and later, presumably, by group will and intention.
205. Bức tranh được trình bày về tiến trình tư duy của con người là một bức tranh của sự yếu ớt và mơ hồ. Hiện giờ, sự kết tụ của tư tưởng vô định hình này được thúc đẩy bởi dục vọng cá nhân. Về sau tư tưởng sẽ sáng tỏ hơn, mang hình thức xác định hơn và được thúc đẩy bởi dục vọng nhóm, và sau nữa, có lẽ, bởi ý chí và chủ đích của nhóm.
206. Before one thinks, one will ask, “What does the group need or desire at this moment?” One will think in line with what is best for the group.
206. Trước khi suy nghĩ, người ta sẽ hỏi, “Lúc này nhóm cần hay mong muốn điều gì?” Người ta sẽ suy nghĩ phù hợp với điều tốt nhất cho nhóm.
This is the basis, very largely, for the antagonism that all constructive thinkers and group workers encounter. The stream of energy which they emanate, and which constructs vital thought forms, runs counter to that of the masses of men, awakens opposition, and produces temporary chaos.
Đây phần lớn là cơ sở cho sự đối kháng mà mọi nhà tư tưởng kiến tạo và những người hoạt động nhóm đều gặp phải. Dòng năng lượng mà họ phát ra, và dòng này kiến tạo các hình tư tưởng sống động, đi ngược lại dòng của quần chúng nhân loại, đánh thức sự chống đối và tạo ra hỗn loạn tạm thời.
207. Whenever an established trend is opposed or disrupted, antagonism will arise in those who feel disrupted. We guard well our various forms of comfort.
207. Bất cứ khi nào một xu hướng đã được thiết lập bị chống lại hay phá vỡ, sự đối kháng sẽ nảy sinh nơi những ai cảm thấy mình bị xáo trộn. Chúng ta bảo vệ rất kỹ các dạng tiện nghi khác nhau của mình.
208. We are dealing with a war between the well-formed and the formless, and it is occurring always and everywhere. At least it is good for disciples to know the kind of opposition they will inevitably meet as they think in line with group good.
208. Chúng ta đang đề cập đến một cuộc chiến giữa cái có hình thức rõ rệt và cái vô định hình, và nó luôn luôn xảy ra ở khắp mọi nơi. Ít nhất, điều tốt là các đệ tử biết loại chống đối mà họ chắc chắn sẽ gặp khi họ suy nghĩ phù hợp với thiện ích của nhóm.
The prominent workers and thinkers of the human family, under the direction of the Lodge, are engaged in three things:
Những người hoạt động và tư tưởng gia nổi bật của gia đình nhân loại, dưới sự chỉ đạo của Thánh đoàn, đang dấn thân vào ba việc:
209. Here are presented three great tasks of prominent workers and thinkers who work under the direction of the Lodge:
209. Ở đây trình bày ba nhiệm vụ lớn của những người hoạt động và tư tưởng gia nổi bật làm việc dưới sự chỉ đạo của Thánh đoàn:
a. The imposition of the newer and higher rhythm upon men.
a. Áp đặt nhịp điệu mới hơn và cao hơn lên con người.
210. This imposition is a most important task in the New Age. Disjointed rhythms or arrhythmia leads to disintegration. Right rhythm leads to coherence.
210. Sự áp đặt này là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong Kỷ Nguyên Mới. Những nhịp điệu rời rạc hay loạn nhịp dẫn đến tan rã. Nhịp điệu đúng dẫn đến sự cố kết.
211. One should pay attention to the rhythms occurring in the environment (including the rhythm of the words and acts of others). These rhythms can be very influential either for good or ill.
211. Người ta nên chú ý đến những nhịp điệu đang diễn ra trong môi trường chung quanh (kể cả nhịp điệu của lời nói và hành động của người khác). Những nhịp điệu này có thể rất có ảnh hưởng theo hướng tốt hoặc xấu.
b. The dissipation of the murky clouds of half-vitalised indefinite thought forms which surround our planet, thus permitting the entry of interplanetary force, and of force from the higher mental levels.
b. Sự làm tiêu tan những đám mây u ám của các hình tư tưởng mơ hồ được tiếp sinh lực một nửa đang bao quanh hành tinh chúng ta, nhờ đó cho phép mãnh lực liên hành tinh, và mãnh lực từ các cấp độ trí tuệ cao hơn, đi vào.
212. Here we have it clearly stated; these clouds really do “shut out the sun” of higher mind. Clouds of indefinite thoughtforms are obstructive to the entrance of higher energies. We as aspirants and disciples have much clearing to do if, on our own little microcosmic levels, we are to bring the higher aspects of our nature into expression.
212. Ở đây điều này được phát biểu rõ ràng; những đám mây ấy thực sự “che khuất mặt trời” của thượng trí. Những đám mây của các hình tư tưởng mơ hồ có tính cản trở đối với sự đi vào của các năng lượng cao hơn. Chúng ta, với tư cách là những người chí nguyện và đệ tử, còn rất nhiều việc thanh lọc phải làm nếu, trên những cấp độ tiểu thiên địa nhỏ bé của riêng mình, chúng ta muốn đưa các phương diện cao hơn của bản chất mình vào biểu hiện.
213. The dissipation here required is very much the dissipation of maya, glamor and illusion. It is a ‘tangible something’ to be dispelled, dissipated and dispersed.
213. Sự làm tiêu tan được đòi hỏi ở đây phần lớn chính là sự làm tiêu tan ảo lực, ảo cảm và ảo tưởng. Đó là một “cái gì đó hữu hình” phải được xua tan, làm tiêu tan và phân tán.
c. The awakening within men of the power to think clearly, to energise their thought forms accurately, and to hold in vital form those thought constructions whereby they may attain their objective, and [Page 955] bring about desired conditions upon the physical plane.
c. Sự đánh thức trong con người quyền năng suy nghĩ sáng tỏ, để tiếp năng lượng cho các hình tư tưởng của họ một cách chính xác, và giữ cho những cấu trúc tư tưởng ấy ở trong hình thức sống động nhờ đó họ có thể đạt tới mục tiêu của mình, và [Page 955] mang lại những điều kiện mong muốn trên cõi hồng trần.
214. The Great Ones are working with the power to energize and vitalize man’s ability to think.
214. Các Đấng Cao Cả đang làm việc với quyền năng tiếp năng lượng và tiếp sinh lực cho khả năng suy nghĩ của con người.
215. Let us tabulate:
215. Chúng ta hãy lập bảng:
a. The Great Ones awaken within men the power to think clearly
a. Các Đấng Cao Cả đánh thức trong con người quyền năng suy nghĩ sáng tỏ
b. The Great Ones awaken in men the power to energize their thoughtforms accurately
b. Các Đấng Cao Cả đánh thức trong con người quyền năng tiếp năng lượng cho các hình tư tưởng của họ một cách chính xác
c. The Great Ones awaken in men the ability to hold thoughtforms in vital form long enough for objectives to be attained.
c. Các Đấng Cao Cả đánh thức trong con người khả năng giữ các hình tư tưởng trong hình thức sống động đủ lâu để các mục tiêu được đạt tới.
216. In short, the Great Ones are teaching men to become white magicians.
216. Tóm lại, Các Đấng Cao Cả đang dạy con người trở thành những nhà huyền thuật chánh đạo.
217. Let us emphasize through tabulation that which the Great Ones are attempting to do
217. Chúng ta hãy nhấn mạnh bằng cách lập bảng điều mà Các Đấng Cao Cả đang cố gắng thực hiện
a. To impose a new and higher rhythm upon men
a. Áp đặt một nhịp điệu mới và cao hơn lên con người
b. To dissipate clouds of obstructive thoughtforms
b. Làm tiêu tan những đám mây hình tư tưởng có tính cản trở
c. To awaken in men certain abilities connected with the creation of thought
c. Đánh thức trong con người một số khả năng liên quan đến việc sáng tạo tư tưởng
These three objectives [listed above] necessitate a clear comprehension among such vital thinkers and workers, of the power of thought; of the direction of thought currents, of the science of thought building, of the manipulation under law and order of mental matter, and of the process of thought manifestation through the two factors of sound and vitalisation.
Ba mục tiêu này [listed above] đòi hỏi nơi những nhà tư tưởng và người hoạt động sống động như thế phải có sự thấu hiểu rõ ràng về quyền năng của tư tưởng; về sự định hướng của các dòng tư tưởng, về khoa học kiến tạo tư tưởng, về sự vận dụng chất liệu trí tuệ dưới định luật và trật tự, và về tiến trình biểu hiện tư tưởng thông qua hai yếu tố là âm thanh và sự tiếp sinh lực.
218. What is said is of such importance that we must tabulate for emphasis. If the three objectives of the Great Ones are to be achieved, certain things will be necessitated among vital thinkers and workers:
218. Điều được nói ra quan trọng đến mức chúng ta phải lập bảng để nhấn mạnh. Nếu ba mục tiêu của Các Đấng Cao Cả phải được hoàn thành, thì nơi những nhà tư tưởng và người hoạt động sống động sẽ cần có những điều sau:
a. Clear comprehension of the power of thought
a. Sự thấu hiểu rõ ràng về quyền năng của tư tưởng
b. Clear comprehension of the direction of thought currents
b. Sự thấu hiểu rõ ràng về sự định hướng của các dòng tư tưởng
c. Clear comprehension of the science of thought building
c. Sự thấu hiểu rõ ràng về khoa học kiến tạo tư tưởng
d. Clear comprehension of the methods of manipulating mental matter under law and order
d. Sự thấu hiểu rõ ràng về các phương pháp vận dụng chất liệu trí tuệ dưới định luật và trật tự
e. Clear comprehension of the process of thought manifestation utilizing sound and vitalization
e. Sự thấu hiểu rõ ràng về tiến trình biểu hiện tư tưởng sử dụng âm thanh và sự tiếp sinh lực
f. Additionally (see below) the ability to negate strictly personal impulses
f. Ngoài ra (xem dưới), khả năng phủ nhận những xung lực hoàn toàn cá nhân
g. The faculty of working in group form (see below)
g. Năng lực làm việc theo hình thức nhóm (xem dưới)
h. Clear directing of thoughtforms upon a specific mission (see below)
h. Sự định hướng rõ ràng các hình tư tưởng vào một sứ mệnh cụ thể (xem dưới)
219. Let us ponder on these important requirements and see to what extent we have the required clear comprehension
219. Chúng ta hãy suy ngẫm về những đòi hỏi quan trọng này và xem chúng ta có sự thấu hiểu rõ ràng cần thiết đến mức nào
It involves likewise the ability to negate or render futile all impulses arising from the lower self which are of a centralised and purely personal aspect, and the faculty of working in group form, each thought being sent upon the definite mission of adding its quota of energy and matter to some one stream which is specific and known.
Điều này cũng bao hàm khả năng phủ nhận hay làm cho vô hiệu mọi xung lực phát sinh từ phàm ngã vốn có tính tập trung và thuần túy cá nhân, và năng lực làm việc theo hình thức nhóm, mỗi tư tưởng được gửi đi với sứ mệnh xác định là thêm phần năng lượng và chất liệu của nó vào một dòng nào đó vốn đặc thù và được biết rõ.
220. It is obvious that the thoughtless creation of thoughtforms must end.
220. Rõ ràng là việc vô ý thức tạo ra các hình tư tưởng phải chấm dứt.
221. These negative impulses will arise in the case of most individuals, but there are methods of ensuring they do not interfere with the power to create constructive thought for the advancement of group purpose.
221. Những xung lực tiêu cực này sẽ phát sinh trong trường hợp của phần lớn cá nhân, nhưng có những phương pháp bảo đảm rằng chúng không can thiệp vào quyền năng sáng tạo tư tưởng kiến tạo nhằm thúc đẩy mục đích nhóm.
222. The astral body is often at war with the well-directed mental body. The advancing disciple understands how to win this war. Mental concentration and eventual polarization are deflective of these lower, personal impulses.
222. Thể cảm dục thường ở trong tình trạng chiến tranh với thể trí được định hướng tốt. Đệ tử đang tiến bộ hiểu cách chiến thắng cuộc chiến này. Sự tập trung trí tuệ và cuối cùng là sự phân cực có tác dụng làm lệch hướng những xung lực thấp kém, cá nhân này.
This last is of importance, for no worker for humanity becomes of real assistance until he (consciously and with full knowledge of his work) definitely directs his thought energy towards some particular channel of service to the race.
Điều cuối cùng này rất quan trọng, vì không người hoạt động nào cho nhân loại trở nên thật sự hữu ích cho đến khi y (một cách có ý thức và với sự hiểu biết đầy đủ về công việc của mình) rõ ràng hướng năng lượng tư tưởng của mình vào một kênh phụng sự đặc biệt nào đó cho nhân loại.
223. Here we have a Sagittarian dynamic—the purposeful direction of thought. Sagittarius is the sign of one-pointed discipleship.
223. Ở đây chúng ta có một động lực của Nhân Mã—sự định hướng có mục đích của tư tưởng. Nhân Mã là dấu hiệu hoàng đạo của địa vị đệ tử nhất tâm.
224. Thought is as an arrow, as a stream of energy to be directed towards a certain target. The purpose of thought is to change undesirable patterns into desirable ones.
224. Tư tưởng như một mũi tên, như một dòng năng lượng phải được hướng tới một mục tiêu nhất định. Mục đích của tư tưởng là chuyển đổi những mô hình không mong muốn thành những mô hình mong muốn.
In all thought building, therefore, of a high order, men have several things to do, which might be enumerated as follows:
Vì vậy, trong mọi việc kiến tạo tư tưởng ở cấp cao, con người có một số việc phải làm, có thể được liệt kê như sau:
225. We are being given important directives upon which we can take practical action.
225. Chúng ta đang được trao cho những chỉ dẫn quan trọng mà chúng ta có thể hành động một cách thực tiễn theo đó.
226. We note that we are not interested merely in thoughtform building, but in “thoughtform building of a high order”.
226. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta không chỉ quan tâm đến việc kiến tạo hình tư tưởng, mà là “việc kiến tạo hình tư tưởng ở cấp cao”.
[Point One] First, to purify their lower desires so that they are enabled to see clearly in the occult sense. No man has clear vision who is obsessed with his own needs, actions, and interests, and unconscious of that which is higher and of group activity.
[Point One] Thứ nhất, thanh lọc những dục vọng thấp kém của họ để họ có thể thấy rõ theo nghĩa huyền bí. Không ai có tầm nhìn rõ ràng nếu bị ám ảnh bởi những nhu cầu, hành động và quyền lợi riêng của mình, và vô ý thức đối với điều cao hơn và đối với hoạt động nhóm.
227. Lower desire blinds one to truth and reality. An assessment must be made by each disciple of the quality of his desires. If desire swirls around the little, personal self, vision of greater and deeper things is blocked.
227. Dục vọng thấp kém làm mù mắt con người trước chân lý và thực tại. Mỗi đệ tử phải tự đánh giá phẩm tính của các dục vọng của mình. Nếu dục vọng xoáy quanh cái tiểu ngã cá nhân nhỏ bé, thì tầm nhìn về những điều lớn lao và sâu xa hơn sẽ bị ngăn chặn.
[Point One—Part Two] This clear vision brings about an ability to read, even if unconsciously at first, the akashic records, and thus ascertain the point of departure for the new and incoming thought impulses, an ability to lose sight of self interest in group interest, and thus co-operate with the plan, and a faculty that enables him to become aware of the keynote of the race, and aware of the "cry of humanity."
[Point One—Part Two] Tầm nhìn rõ ràng này mang lại khả năng đọc được, dù lúc đầu có thể là vô ý thức, các biên niên ký akasha, và nhờ đó xác định điểm khởi hành cho những xung lực tư tưởng mới đang đi vào, khả năng quên đi quyền lợi bản thân trong quyền lợi nhóm, và nhờ đó hợp tác với Thiên Cơ, cùng một năng lực giúp y nhận biết chủ âm của nhân loại, và nhận biết “tiếng kêu của nhân loại.”
228. DK speaks of the beneficent results of the clarification of vision:
228. Chân sư DK nói về những kết quả tốt lành của sự làm sáng tỏ tầm nhìn:
229. Let us tabulate for emphasis:
229. Chúng ta hãy lập bảng để nhấn mạnh:
a. Clear vision brings the ability to read the akashic records
a. Tầm nhìn rõ ràng mang lại khả năng đọc các biên niên ký akasha
b. Clear vision brings an ability to lose sight of self interest in group interest
b. Tầm nhìn rõ ràng mang lại khả năng quên đi quyền lợi bản thân trong quyền lợi nhóm
c. Thus, clear vision brings the ability to cooperate wit the Plan
c. Vì vậy, tầm nhìn rõ ràng mang lại khả năng hợp tác với Thiên Cơ
d. Clear vision brings an ability to become aware of the keynote of the race
d. Tầm nhìn rõ ràng mang lại khả năng nhận biết chủ âm của nhân loại
e. Clear vision brings an ability to become aware of the “cry of humanity”.
e. Tầm nhìn rõ ràng mang lại khả năng nhận biết “tiếng kêu của nhân loại”.
230. We see great advantages, do we not, to purifying our desire nature from obsessive personalism.
230. Chúng ta thấy những lợi ích lớn lao, phải không, của việc thanh lọc bản chất dục vọng của mình khỏi tính cá nhân ám ảnh.