← Commentary_S8_925_1078_song ngữ

S8S4 Part III

Trích nội dung chương

93. Ultimately, the essence of things is buddhi. Conversely, buddhi is the faculty through which the essence of things can be discerned. 93. Rốt cuộc, tinh chất của sự vật là Bồ đề. Ngược lại, Bồ đề là năng lực nhờ đó tinh chất của sự vật có thể được phân biện tinh thần.


92. We also come to the conclusion that “direct clairvoyance” is not exactly the intuition.

92. Chúng ta cũng đi đến kết luận rằng “thông nhãn trực tiếp” không hoàn toàn chính là trực giác.

a. The initiate directs the eye towards the essence of things.

a. Điểm đạo đồ hướng con mắt về phía tinh chất của sự vật.

93. Ultimately, the essence of things is buddhi. Conversely, buddhi is the faculty through which the essence of things can be discerned.

93. Rốt cuộc, tinh chất của sự vật là Bồ đề. Ngược lại, Bồ đề là năng lực nhờ đó tinh chất của sự vật có thể được phân biện tinh thần.

b. The third eye must be acquired by the ascetic before he becomes an adept.—S. D., II, 651.

b. Con mắt thứ ba phải được người khổ hạnh đạt được trước khi y trở thành một chân sư.—S. D., II, 651.

94. Here is a tremendous occult hint. The third eye does not come into functionality until a degree of asceticism is applied. If the energies of the body are directed towards various material satisfactions, the energies do not rise to activate the latent pineal gland and third eye.

94. Đây là một gợi ý huyền bí vô cùng lớn lao. Con mắt thứ ba không đi vào hoạt động cho đến khi một mức độ khổ hạnh nào đó được áp dụng. Nếu các năng lượng của thể được hướng về nhiều sự thỏa mãn vật chất khác nhau, các năng lượng ấy sẽ không dâng lên để hoạt hóa tuyến tùng tiềm ẩn và con mắt thứ ba.

95. We note that the adept is not really the ascetic—as the Buddha discovered. Asceticism is a previous stage, but probably an inescapable stage. It all depends on how we understand the term “ascetic”. It seems to have little appeal in today’s world, but we must remember the Patron God of all ascetics—Shiva!

95. Chúng ta lưu ý rằng chân sư không thực sự là người khổ hạnh—như Đức Phật đã khám phá. Khổ hạnh là một giai đoạn trước đó, nhưng có lẽ là một giai đoạn không thể tránh. Tất cả tùy thuộc vào cách chúng ta hiểu thuật ngữ “người khổ hạnh”. Nó dường như ít hấp dẫn trong thế giới ngày nay, nhưng chúng ta phải nhớ đến Vị Thượng đế Bảo Trợ của mọi người khổ hạnh—Shiva!

11. Students of occultism ought to know that the third eye is indissolubly connected with karma.—S. D., II, 312, note; S. D., II, 316, 320.

11. Các đạo sinh của huyền bí học nên biết rằng con mắt thứ ba gắn liền không thể tách rời với nghiệp quả.—S. D., II, 312, note; S. D., II, 316, 320.

96. Perhaps we may think of the atrophying of the third eye as related to karma.

96. Có lẽ chúng ta có thể nghĩ đến sự teo đi của con mắt thứ ba như có liên hệ với nghiệp quả.

a. From its Atlantean past, the fifth root-race is working out fourth root-race causes.

a. Từ quá khứ Atlantis của mình, giống dân gốc thứ năm đang giải quyết các nguyên nhân của giống dân gốc thứ tư.

97. It was during the fourth root-race that the third eye atrophied. It may be because of the materially-inclined emotionalism of the majority of that race.

97. Chính trong giống dân gốc thứ tư mà con mắt thứ ba đã teo đi. Điều này có thể là do tính cảm xúc thiên về vật chất của đa số thuộc giống dân ấy.

c. Because it reveals that which is its past.—S. D., II, 297, 320, 813.

c. Bởi vì nó tiết lộ điều vốn là quá khứ của nó.—S. D., II, 297, 320, 813.

98. Here is another hint concerning the relationship of the third eye to the reading of the akashic records. We also remember the connection of the pineal gland with the number three—the number of the past.

98. Đây là một gợi ý khác liên quan đến mối liên hệ của con mắt thứ ba với việc đọc các hồ sơ akashic. Chúng ta cũng nhớ đến mối liên hệ của tuyến tùng với con số ba—con số của quá khứ.

99. But if the third eye reveals the past, it also reveals the future, as buddhi is the future and this eye is connected with the buddhic faculty.

99. Nhưng nếu con mắt thứ ba tiết lộ quá khứ, nó cũng tiết lộ tương lai, vì Bồ đề là tương lai và con mắt này được nối kết với năng lực Bồ đề.

12. The third eye is the mirror of the soul.—S. D., II, 312.

12. Con mắt thứ ba là tấm gương của linh hồn.—S. D., II, 312.

100. That which the soul sees, the soul-in-incarnation may also see by using the third eye.

100. Điều mà linh hồn thấy, linh hồn đang nhập thể cũng có thể thấy bằng cách sử dụng con mắt thứ ba.

101. We often say that “the eyes are the windows to the soul”, but perhaps it should be said that ‘the eye is the window to the soul’.

101. Chúng ta thường nói rằng “đôi mắt là cửa sổ nhìn vào linh hồn”, nhưng có lẽ nên nói rằng “con mắt là cửa sổ nhìn vào linh hồn”.

102. That which the supervisory Ego seeks to see implemented through personality life can be sensed or reflected through the third eye.

102. Điều mà chân ngã giám sát tìm cách thấy được thực hiện qua đời sống phàm ngã có thể được cảm nhận hay phản chiếu qua con mắt thứ ba.

13. To the inner spiritual eye the Gods are no more abstractions than our soul and body are to us.—S. D., I, 694.

13. Đối với con mắt tinh thần bên trong, các Thượng đế không còn là những điều trừu tượng hơn linh hồn và thân thể của chúng ta đối với chúng ta.—S. D., I, 694.

103. Well, to some, the soul is still rather an abstraction, but certainly the body is not—it is the ultimate concretion!

103. Đối với một số người, linh hồn vẫn còn khá trừu tượng, nhưng chắc chắn thể thì không—nó là sự kết tinh tối hậu!

104. Through the third eye, it would see that one could begin to see the influences of the planets, for, really, the planets are the “Gods”.

104. Qua con mắt thứ ba, người ta sẽ thấy rằng có thể bắt đầu thấy các ảnh hưởng của các hành tinh, vì thật ra, các hành tinh là các “Thượng đế”.

105. This correlates well with the thought that the transfigured initiate sees the passage of the heavenly energies as streams of light and radiance.

105. Điều này tương hợp rất tốt với ý tưởng rằng điểm đạo đồ đã Biến hình nhìn thấy sự vận hành của các năng lượng thiên giới như những dòng ánh sáng và quang huy.

From the above few points, hints can be gathered together as to the interlocking forces of all the twelve constellations, as they pour into and through all the kingdoms in nature, carrying with them also not only their own individual potencies but also those of the seven rays, focussed through the sacred and non-sacred planets—the discovered and undiscovered planetary Lives. It has been occultly said that a vision of these powers and their many weaving lines (seen as rivers and streams of light) is given to the initiate from the mountain top of Capricorn, once that summit has been reached. It is at the Transfiguration initiation that this vision appears before the eyes of the astounded disciple. (EA 167)

Từ vài điểm nêu trên, có thể gom góp những gợi ý về các mãnh lực đan kết của cả mười hai chòm sao, khi chúng tuôn vào và xuyên qua mọi giới trong thiên nhiên, đồng thời mang theo không chỉ các tiềm lực cá biệt riêng của chúng mà còn cả các tiềm lực của bảy cung, được hội tụ qua các hành tinh thiêng liêng và không thiêng liêng—các Sự Sống Hành tinh đã được khám phá và chưa được khám phá. Một cách huyền bí, người ta đã nói rằng một linh ảnh về các quyền năng này và vô số đường đan dệt của chúng (được thấy như những con sông và dòng suối ánh sáng) được ban cho điểm đạo đồ từ đỉnh núi Ma Kết, một khi đỉnh ấy đã được đạt tới. Chính vào cuộc điểm đạo Biến hình mà linh ảnh này hiện ra trước mắt người đệ tử kinh ngạc. (EA 167)

a. The inner eye can see through the veil of matter.—S. D., I, 694.

a. Con mắt bên trong có thể nhìn xuyên qua bức màn của vật chất.—S. D., I, 694.

106. Since it is an etheric eye, this is to be presumed.

106. Vì đó là một con mắt dĩ thái, nên điều này là điều có thể giả định được.

107. But matter is of many varieties within the eighteen lower subplanes, and the true and highly developed third eye can penetrate the veils of subtle matter as well.

107. Nhưng vật chất có nhiều loại trong mười tám cõi phụ thấp, và con mắt thứ ba chân chính, được phát triển cao, cũng có thể xuyên thấu các bức màn của vật chất vi tế.

c. The spiritual eye reveals the super-sensual states.—S. D., II, 561.

c. Con mắt tinh thần tiết lộ các trạng thái siêu giác quan.—S. D., II, 561.

108. It certainly reveals that which lies beyond the senses (as normally considered).

108. Chắc chắn nó tiết lộ điều nằm vượt ngoài các giác quan (theo cách hiểu thông thường).

109. Notice the word “sensual” rather than “sensuous”. The ‘sensual states’ are those which are connected specifically to the dense physical subplanes of the etheric-physical plane.

109. Hãy lưu ý từ “sensual” thay vì “sensuous”. Các “trạng thái sensual” là những trạng thái được nối kết đặc biệt với các cõi phụ hồng trần đậm đặc của cõi dĩ thái-hồng trần.

110. The higher fifteen of the lower eighteen subplanes could, from this perspective, be considered “super-sensual”.

110. Mười lăm cõi phụ cao hơn trong mười tám cõi phụ thấp, từ góc nhìn này, có thể được xem là “siêu giác quan”.

14. In the spiritual regenerated man the third eye is active.—S. D., II, 458.

14. Ở con người được tái sinh tinh thần, con mắt thứ ba hoạt động.—S. D., II, 458.

111. Such is a man who has been created again. He has regained some of the spiritual prerogatives of his primitive nature (but with the addition of mind and a developed sentiency).

111. Đó là một con người đã được tạo ra lần nữa. Y đã phục hồi một số đặc quyền tinh thần của bản chất nguyên sơ của mình (nhưng có thêm trí tuệ và năng lực cảm nhận đã phát triển).

112. If Pluto is the ‘Regenerator’ and if Mercury “restores sight to the blind”, we can see that both must be active in reawakening the third eye. This makes sense when we consider Pluto as ruler of Scorpio (darkness) and Mercury as especially related to the sign Taurus (the Divine Light). “Lead us from darkness to light”.

112. Nếu Sao Diêm Vương là “Đấng Tái Sinh” và nếu Sao Thủy “phục hồi thị lực cho người mù”, chúng ta có thể thấy rằng cả hai đều phải hoạt động trong việc đánh thức lại con mắt thứ ba. Điều này có ý nghĩa khi chúng ta xem Sao Diêm Vương là chủ tinh của Hổ Cáp (bóng tối) và Sao Thủy là hành tinh đặc biệt liên hệ với dấu hiệu Kim Ngưu (Ánh Sáng thiêng liêng). “Xin dẫn dắt chúng con từ bóng tối đến ánh sáng”.

113. Mercury, kundalini and the regeneration of man are to be related.

113. Sao Thủy, kundalini và sự tái sinh của con người cần được liên hệ với nhau.

When the alta major centre, the synthesis of what might be called nervous energy, is awake, it becomes possible for him to materialise and activate the desired form which, through attractive energy, he is in process of constructing.

Khi trung tâm alta major, sự tổng hợp của cái có thể được gọi là năng lượng thần kinh, được đánh thức, thì y có thể hiện hình và kích hoạt hình tướng mong muốn mà, thông qua năng lượng hấp dẫn, y đang trong tiến trình kiến tạo.

114. We can understand the magical properties of the alta major center. The third ray is the Ray of Magic, per se, whereas the seventh ray is the Ray of the Ritualist—both rays, of course, intimately, related.

114. Chúng ta có thể hiểu các đặc tính huyền thuật của trung tâm alta major. Cung ba chính là Cung của huyền thuật, còn cung bảy là Cung của nhà nghi lễ—dĩ nhiên cả hai cung đều liên hệ mật thiết với nhau.

115. The alta major center is correlated with the third aspect of divinity, the aspect which makes materialization possible.

115. Trung tâm alta major tương quan với phương diện thứ ba của thiên tính, phương diện làm cho sự hiện hình trở nên khả hữu.

116. We have been given another potent hint in the thought that the alta major center is the “synthesis of….nervous energy”. Here is a connection to the actual, material nerves rather than the etheric nadis. Mercury is involved. Probably the deepest ray connected with Mercury is the third. Mercury also, we realize from the Tarot, is the planet of the “Magician”. Mercury is also “kundalini latent” and the alta major center is to the head as a whole in a position analogous to the base of the spine center (with respect to the body as a whole).

116. Chúng ta đã được ban cho một gợi ý mạnh mẽ khác trong ý tưởng rằng trung tâm alta major là “sự tổng hợp của….năng lượng thần kinh”. Ở đây có một mối liên hệ với các dây thần kinh vật chất thực sự hơn là với các nadi dĩ thái. Sao Thủy có liên quan. Có lẽ cung sâu xa nhất liên hệ với Sao Thủy là cung ba. Từ Tarot, chúng ta cũng nhận ra rằng Sao Thủy là hành tinh của “Nhà Huyền Thuật”. Sao Thủy cũng là “kundalini tiềm ẩn”, và trung tâm alta major đối với toàn bộ đầu có một vị trí tương tự như trung tâm đáy cột sống đối với toàn bộ cơ thể.

It will be apparent, therefore, why it is that so few people ever construct thought forms which are of constructive lasting benefit to humanity, and also why it is that the Great Ones, (as They work through Their disciples) are forced to work with groups, being seldom able to find a man or woman whose three physical head centres are simultaneously active.

Do đó, sẽ hiển nhiên vì sao rất ít người từng kiến tạo được các hình tư tưởng có lợi ích xây dựng và lâu bền cho nhân loại, và cũng vì sao các Đấng Cao Cả, (khi Các Ngài hoạt động qua các đệ tử của Các Ngài) buộc phải làm việc với các nhóm, vì hiếm khi có thể tìm được một người nam hay nữ mà ba trung tâm đầu hồng trần của họ cùng lúc hoạt động.

117. We have been given a list of very exacting requirements for the true magician. Few fulfill them.

117. Chúng ta đã được trao cho một danh sách những đòi hỏi rất khắt khe đối với nhà huyền thuật chân chính. Rất ít người đáp ứng được chúng.

118. In the foregoing section we have been speaking of the interior requirements for thoughtform construction.

118. Trong phần trước, chúng ta đã bàn đến các đòi hỏi nội tại cho việc kiến tạo hình tư tưởng.

119. In the thought that the group can replace the individual, we see at work compensatory activity. No one group member may possess what is needed for true magical work, but, in a group, the deficiencies of one are compensated by the abilities of another. Thus, an effective wholeness can be created.

119. Trong ý tưởng rằng nhóm có thể thay thế cá nhân, chúng ta thấy hoạt động bù trừ đang vận hành. Không một thành viên nhóm nào có thể sở hữu đầy đủ những gì cần thiết cho công việc huyền thuật chân chính, nhưng trong một nhóm, những thiếu sót của người này được bù đắp bởi năng lực của người khác. Nhờ đó, một tính toàn vẹn hữu hiệu có thể được tạo ra.

120. The Hierarchy would work through third degree initiates if it could with reasonable frequency, but such initiates are hard to find and so the group must perforce be used. In any case, group work is the trend of the future. A still better instrument would be the third degree initiate group.

120. Thánh Đoàn hẳn sẽ làm việc qua các điểm đạo đồ cấp ba nếu có thể với tần suất hợp lý, nhưng những điểm đạo đồ như thế rất khó tìm, nên nhóm buộc phải được sử dụng. Dù sao đi nữa, công việc nhóm là xu hướng của tương lai. Một công cụ còn tốt hơn nữa sẽ là một nhóm điểm đạo đồ cấp ba.

They frequently have to work with large groups before the quota of energy supplied to Them for the accomplishment of Their ends measures up to that necessitated.

Các Ngài thường phải làm việc với những nhóm lớn trước khi hạn ngạch năng lượng được cung cấp cho Các Ngài để hoàn thành mục đích của Các Ngài đạt tới mức cần thiết.

121. Here we have a fascinating thought. A certain amount of energy must be generated before the Great Ones can work through an individual, a group or a large group. It is obvious why a large group is sometimes required—through the addition of many smaller sources of energy, sufficient energy can be achieved.

121. Ở đây chúng ta có một ý tưởng đầy hấp dẫn. Một lượng năng lượng nhất định phải được tạo ra trước khi các Đấng Cao Cả có thể làm việc qua một cá nhân, một nhóm hay một nhóm lớn. Hiển nhiên là vì sao đôi khi cần một nhóm lớn—nhờ cộng thêm nhiều nguồn năng lượng nhỏ hơn, có thể đạt được đủ năng lượng.

122. We have only to think of how the Avatar of Synthesis works—always through large groupings. In His case, no individual could withstand the pure application of energy—except (in our Spiritual Hierarchy) for the Christ and the Buddha and Shamballic Beings.

122. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến cách Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp hoạt động—luôn luôn qua những tập hợp lớn. Trong trường hợp của Ngài, không cá nhân nào có thể chịu đựng được sự áp dụng thuần túy của năng lượng—ngoại trừ (trong Thánh đoàn tinh thần của chúng ta) Đức Christ và Đức Phật cùng các Hữu thể Shamballa.

123. We are members now of relatively smaller occult groups. More pressure is put upon us if we are to generate an energy sufficient for use by the Great Ones. Each disciple in such a group must generate a higher quota of energy.

123. Hiện nay chúng ta là thành viên của những nhóm huyền bí tương đối nhỏ hơn. Áp lực đặt lên chúng ta lớn hơn nếu chúng ta phải tạo ra một năng lượng đủ để các Đấng Cao Cả sử dụng. Mỗi đệ tử trong một nhóm như vậy phải tạo ra một hạn ngạch năng lượng cao hơn.

S8S4 Part III

TCF 967 - 969

TCF 967 - 969

28 November – 13 December 2008

28 tháng Mười Một – 13 tháng Mười Hai 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và chính cách trình bày cô đọng trong sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

It will be obvious, likewise, that the disciple's power for service for humanity is dependent largely upon three things: [Page 967]

Tương tự, cũng sẽ hiển nhiên rằng quyền năng phụng sự nhân loại của người đệ tử phần lớn tùy thuộc vào ba điều: [Page 967]

a. The state of his bodies and their egoic alignment.

a. Tình trạng các thể của y và sự chỉnh hợp chân ngã của chúng.

1. Notice the occult factors on which the disciple’s power for service to humanity depends. This is probably little realized by those who are interested or engaged in service.

1. Hãy lưu ý các yếu tố huyền bí mà quyền năng phụng sự nhân loại của người đệ tử tùy thuộc vào. Điều này có lẽ ít được nhận ra bởi những người quan tâm đến hoặc đang dấn thân vào việc phụng sự.

2. We can never forget the importance of the condition of the instrument.

2. Chúng ta không bao giờ được quên tầm quan trọng của tình trạng của công cụ.

3. Instruments in good condition, however, are not sufficient. They must be correctly aligned with the Ego.

3. Tuy nhiên, những công cụ ở trong tình trạng tốt vẫn chưa đủ. Chúng phải được chỉnh hợp đúng đắn với Chân ngã.

b. The condition of activity present in the physical head centres.

b. Tình trạng hoạt động hiện diện trong các trung tâm đầu hồng trần.

4. Not only are the etheric centers to be sufficiently stimulated and in circulatory relationship, the physical head centers must be activated.

4. Không chỉ các trung tâm dĩ thái phải được kích thích đầy đủ và ở trong mối liên hệ tuần hoàn, mà các trung tâm đầu hồng trần cũng phải được hoạt hóa.

5. Service must work out onto the physical plane, so the physical apparatus, though not a principle, is of real importance.

5. Sự phụng sự phải được thể hiện ra trên cõi hồng trần, nên bộ máy hồng trần, tuy không phải là một nguyên khí, vẫn có tầm quan trọng thực sự.

c. The circulatory action of the triangular transmission of force.

c. Tác động tuần hoàn của sự truyền dẫn mãnh lực theo hình tam giác.

6. Presumably this applies to the transmission of force between the crown, ajna and alta major centers. In some manner there must be a triangular transmission of force (a more physical relationship—is it electro-chemical?) between the physical centers as well.

6. Có lẽ điều này áp dụng cho sự truyền dẫn mãnh lực giữa các trung tâm đỉnh đầu, ajna và alta major. Theo một cách nào đó, cũng phải có một sự truyền dẫn mãnh lực theo hình tam giác (một mối liên hệ vật chất hơn—có phải là điện-hóa học chăng?) giữa các trung tâm hồng trần.

These factors are again dependent upon others, among which might be enumerated:

Những yếu tố này lại tùy thuộc vào những yếu tố khác, trong số đó có thể kể ra:

7. We remember that we are speaking of the disciple’s power in service and the factors upon which such power depends.

7. Chúng ta nhớ rằng chúng ta đang nói về quyền năng của người đệ tử trong phụng sự và các yếu tố mà quyền năng ấy tùy thuộc vào.

1. The ability of the disciple to meditate.

1. Khả năng tham thiền của người đệ tử.

8. We are being told that without the power to meditate, there can be no true service, because without meditation the necessary physical plane activations, stimulations, alignment and interconnection cannot be established.

8. Ở đây chúng ta được cho biết rằng nếu không có năng lực tham thiền thì không thể có sự phụng sự chân chính, bởi vì nếu không có tham thiền thì những sự hoạt hóa, kích thích, chỉnh hợp và liên kết cần thiết trên cõi hồng trần không thể được thiết lập.

9. How often has servers related their effectiveness in service to their power to meditate? At least servers associated with the Ageless Wisdom must do so.

9. Đã bao lần những người phụng sự liên hệ hiệu quả phụng sự của họ với năng lực tham thiền của họ? Ít nhất những người phụng sự gắn liền với Minh Triết Ngàn Đời phải làm như vậy.

2. The capacity he displays for bringing through accurately from the subtler levels the plans and purposes of which his Ego is cognisant.

2. Năng lực mà y biểu lộ trong việc chuyển xuống một cách chính xác từ các cấp độ vi tế hơn những kế hoạch và mục đích mà Chân ngã của y nhận biết.

10. This capacity, presumably, is somewhat dependent upon alignment but, perhaps, a certain profound quality of attentiveness is also required. Alignment may exist, but the power to bring through with accuracy still wanting.

10. Năng lực này, có lẽ, phần nào tùy thuộc vào sự chỉnh hợp nhưng có thể cũng đòi hỏi một phẩm tính chú tâm sâu sắc nào đó. Sự chỉnh hợp có thể hiện hữu, nhưng năng lực chuyển xuống một cách chính xác vẫn còn thiếu.

11. We note that the Ego, on its own plane, is aware of aspects of the Plan of which the soul-in-incarnation is usually unaware. As the capacity for meditation grows and as alignment strengthens, some of that of which the Ego is aware will filter into the consciousness of the soul-in-incarnation within the personality. The disciple is literally an advanced condition of the soul-in-incarnation.

11. Chúng ta lưu ý rằng Chân ngã, trên cõi riêng của nó, nhận biết những phương diện của Thiên Cơ mà linh hồn đang nhập thể thường không nhận biết. Khi năng lực tham thiền tăng trưởng và sự chỉnh hợp được củng cố, một phần những gì Chân ngã nhận biết sẽ thấm lọc vào tâm thức của linh hồn đang nhập thể bên trong phàm ngã. Người đệ tử theo nghĩa đen là một trạng thái tiến bộ của linh hồn đang nhập thể.

12. The thought of independent (though interrelated) centers of consciousness to be found within the entirety of our nature (from the Monad to the physical plane) is to be pondered.

12. Ý tưởng về các trung tâm tâm thức độc lập (dù có liên hệ với nhau) hiện diện trong toàn thể bản chất của chúng ta (từ chân thần đến cõi hồng trần) là điều cần được suy ngẫm.

3. The purity of his motives.

3. Sự thanh khiết của các động cơ của y.

13. Such purity, therefore, has physical plane effects and affects the disciple’s power in service. Obviously, if motives are impure, that tells us something about the condition of the astral and mental bodies. Impure motives arise from impure psychological conditions and such conditions (such energy dynamics within the lower vehicles) block the downflow of higher energies.

13. Do đó, sự thanh khiết như thế có những tác động trên cõi hồng trần và ảnh hưởng đến quyền năng phụng sự của người đệ tử. Hiển nhiên, nếu các động cơ không thanh khiết, điều đó cho chúng ta biết điều gì đó về tình trạng của thể cảm dục và thể trí. Những động cơ không thanh khiết phát sinh từ những điều kiện tâm lý không thanh khiết, và những điều kiện như thế (những động lực năng lượng như thế trong các vận cụ thấp) ngăn chặn dòng chảy đi xuống của các năng lượng cao hơn.

4. His power to "hold a state of meditation," and while in that state begin to build the form for his idea, and thus materialise the plan of his Ego.

4. Quyền năng của y để “giữ một trạng thái tham thiền,” và trong khi ở trong trạng thái ấy bắt đầu kiến tạo hình tướng cho ý tưởng của mình, và nhờ đó hiện hình Thiên Cơ của Chân ngã mình.

14. We began with the “power to meditate” as a prerequisite for ensuring certain physical plane developments necessary for power in service. Now we see that a sustained state of meditation is required, and also one in which constructive thoughtform building can be achieved.

14. Chúng ta đã bắt đầu với “năng lực tham thiền” như một điều kiện tiên quyết để bảo đảm một số phát triển trên cõi hồng trần cần thiết cho quyền năng trong phụng sự. Giờ đây chúng ta thấy rằng cần có một trạng thái tham thiền duy trì, và cũng là một trạng thái trong đó việc kiến tạo hình tư tưởng có tính xây dựng có thể được thực hiện.

15. One cannot build magically and with spiritual constructiveness unless in a state of meditation—presumably sustained meditation.

15. Người ta không thể kiến tạo một cách huyền thuật và với tính xây dựng tinh thần nếu không ở trong trạng thái tham thiền—có lẽ là tham thiền duy trì.

5. The amount of energy he can pour later into his thought form and thus procure for it a period of existence, or its tiny "day of Brahma."

5. Lượng năng lượng mà về sau y có thể tuôn vào hình tư tưởng của mình và nhờ đó đem lại cho nó một thời kỳ tồn tại, hay “ngày Brahma” nhỏ bé của nó.

16. It is not enough to build accurate thoughtforms in line with the Divine Plan; one must also empower those thoughtforms.

16. Chỉ kiến tạo những hình tư tưởng chính xác phù hợp với Thiên Cơ là chưa đủ; người ta còn phải tiếp năng lượng cho những hình tư tưởng ấy.

17. The energizing of thoughtforms may be considered related to occult breathing and to the degree of concentration of which the meditator is capable.

17. Việc tiếp năng lượng cho các hình tư tưởng có thể được xem là liên hệ với sự hô hấp huyền bí và với mức độ tập trung mà người hành thiền có khả năng đạt được.

18. Each thoughtform has its tiny “day of Brahma”, its span of endurance as a separate entity. The use of this term invites us to apply what is here said to the manner in which the Planetary Logos creates, and even the manner in which the Solar Logos creates.

18. Mỗi hình tư tưởng đều có “ngày Brahma” nhỏ bé của nó, khoảng thời gian bền vững của nó như một thực thể riêng biệt. Việc dùng thuật ngữ này mời gọi chúng ta áp dụng điều được nói ở đây vào cách Hành Tinh Thượng Đế sáng tạo, và thậm chí cả cách Thái dương Thượng đế sáng tạo.

These subsidiary factors are again dependent upon:

Những yếu tố phụ thuộc này lại tùy thuộc vào:

19. We are being given tabulations of certain requirements necessary for those who would serve humanity with power and effectiveness. Each group of requirements seems dependent on certain other requirements:

19. Chúng ta đang được trao cho những bảng liệt kê về một số đòi hỏi cần thiết đối với những ai muốn phụng sự nhân loại với quyền năng và hiệu quả. Mỗi nhóm đòi hỏi dường như tùy thuộc vào một số đòi hỏi khác:

a. Power in service is dependent upon the condition of the personality instruments, their degree of alignment with the Ego and the degree of activation and interrelation between the physical plane head centers and their etheric counterparts.

a. Quyền năng trong phụng sự tùy thuộc vào tình trạng của các công cụ phàm ngã, mức độ chỉnh hợp của chúng với Chân ngã và mức độ hoạt hóa cũng như tương liên giữa các trung tâm đầu trên cõi hồng trần và các đối phần dĩ thái của chúng.

b. These physical conditions are dependent upon meditation, accurate reception of that which is touched in meditation, purity of motive, the power to build thoughtforms while in a state of meditation, and the capacity of the meditator to empower his thoughtforms.

b. Những điều kiện hồng trần này tùy thuộc vào tham thiền, sự tiếp nhận chính xác điều được chạm tới trong tham thiền, sự thanh khiết của động cơ, quyền năng kiến tạo hình tư tưởng trong khi ở trong trạng thái tham thiền, và năng lực của người hành thiền trong việc tiếp năng lượng cho các hình tư tưởng của mình.

c. This latter group of requirements is dependent upon certain conditions described below:

c. Nhóm đòi hỏi sau cùng này tùy thuộc vào một số điều kiện được mô tả dưới đây:

a. His place on the ladder of evolution.

a. Vị trí của y trên chiếc thang tiến hoá.

20. The true white magician is ever an advanced soul.

20. Nhà huyền thuật chánh đạo chân chính luôn luôn là một linh hồn tiến bộ.

21. It is futile for the individual to attempt thoughtform building under the influence of the Ego before the Ego has become a sensed and felt factor in his life.

21. Thật vô ích khi cá nhân cố gắng kiến tạo hình tư tưởng dưới ảnh hưởng của Chân ngã trước khi Chân ngã trở thành một yếu tố được cảm nhận và cảm thấy trong đời sống của y.

b. The condition of his bodies.

b. Tình trạng các thể của y.

22. The condition of all vehicles of the personality. This condition will affect the condition of the physical plane apparatus to be found in the head.

22. Tình trạng của mọi vận cụ của phàm ngã. Tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến tình trạng của bộ máy trên cõi hồng trần nằm trong đầu.

23. Weak and chaotic vehicles cannot participate in the process of white magical thoughtform building.

23. Những vận cụ yếu ớt và hỗn loạn không thể tham gia vào tiến trình kiến tạo hình tư tưởng huyền thuật chánh đạo.

c. His karmic condition.

c. Tình trạng nghiệp quả của y.

24. There are many preoccupations forced by unresolved karma. These preoccupations deprive the disciple of the time to fulfill other of the requirements.

24. Có nhiều mối bận tâm bị áp đặt bởi nghiệp quả chưa được giải quyết. Những mối bận tâm này tước mất của người đệ tử thời gian để hoàn thành các đòi hỏi khác.

25. The karmic condition of the vehicles may also prevent them from adequately playing their role in ensuring the presence of the necessary requirements. We remember that the personality vehicles must be in good condition if a real capacity for white magic is to arise and karmic conditions (weakening the vehicles or rendering them disorganized) may militate against this.

25. Tình trạng nghiệp quả của các vận cụ cũng có thể ngăn cản chúng đóng vai trò của mình một cách đầy đủ trong việc bảo đảm sự hiện diện của các đòi hỏi cần thiết. Chúng ta nhớ rằng các vận cụ phàm ngã phải ở trong tình trạng tốt nếu một năng lực thực sự về Chánh Thuật muốn phát sinh, và các điều kiện nghiệp quả (làm suy yếu các vận cụ hoặc khiến chúng mất tổ chức) có thể chống lại điều này.

d. The tenuosity of the etheric web.

d. Độ mỏng của màng dĩ thái.

26. If the etheric web is thick and, therefore, relatively impenetrable, the finer energies from higher dimensions will not be able to get through to stimulate the physical apparatus in the head, the activation of which is so necessary in producing the white magician.

26. Nếu màng dĩ thái dày và do đó tương đối không thể xuyên thấu, các năng lượng tinh tế hơn từ những chiều kích cao hơn sẽ không thể đi xuyên qua để kích thích bộ máy hồng trần trong đầu, mà sự hoạt hóa của nó rất cần thiết để tạo nên nhà huyền thuật chánh đạo.

27. We remember that as evolution proceeds, the gradual burning of the etheric web also proceeds. In the undeveloped human being, this web is very much intact and prevents the conscious intercommunication between the different aspects of man’s personality nature and their communication with the Ego and still higher aspects of man’s nature.

27. Chúng ta nhớ rằng khi tiến hoá tiếp diễn, sự đốt cháy dần dần của màng dĩ thái cũng tiếp diễn. Ở con người chưa phát triển, màng này còn nguyên vẹn rất nhiều và ngăn cản sự liên thông có ý thức giữa các phương diện khác nhau của bản chất phàm ngã của con người và sự liên lạc của chúng với Chân ngã cùng những phương diện còn cao hơn của bản chất con người.

e. The calibre of his physical body, and its relative refinement.

e. Phẩm chất của thể xác của y, và mức độ tinh luyện tương đối của nó.

28. This requirement has already been mentioned. The calibre of the physical vehicle is directly related to the condition of the all-important triangle of head centers.

28. Đòi hỏi này đã được nhắc đến rồi. Phẩm chất của vận cụ hồng trần liên hệ trực tiếp với tình trạng của tam giác cực kỳ quan trọng gồm các trung tâm đầu.

29. Here we are speaking of the degree of transmutation which remains to be accomplished. Personality vehicles which are not in process of transmutation will be obstructive to the white magical creation of soul-aligned thoughtforms.

29. Ở đây chúng ta đang nói về mức độ chuyển hoá còn phải được hoàn thành. Những vận cụ phàm ngã không ở trong tiến trình chuyển hoá sẽ gây cản trở cho sự sáng tạo huyền thuật chánh đạo các hình tư tưởng được chỉnh hợp với linh hồn.

It is necessary here to warn the student against the error of making any hard or fast rule anent the sequential order of the development of the physical head centres, and the vitalisation of the force centres.

Ở đây cần phải cảnh báo đạo sinh chống lại sai lầm là đặt ra bất kỳ quy luật cứng nhắc nào liên quan đến trình tự tuần tự của sự phát triển các trung tâm đầu hồng trần, và sự tiếp sinh lực cho các trung tâm lực.

30. Such development seems to depend on many and variable factors—for instance, the ray of the Monad.

30. Sự phát triển như thế dường như tùy thuộc vào nhiều yếu tố biến thiên—chẳng hạn như cung của chân thần.

31. In any case, many etheric and physical developments are occurring with relative simultaneity but this is not readily apparent to most disciples.

31. Dù sao đi nữa, nhiều phát triển dĩ thái và hồng trần đang xảy ra với tính đồng thời tương đối nhưng điều này không dễ thấy đối với đa số đệ tử.

This process is incident upon many things, such as the ray upon which the monad may be found, and the nature of the development in the past incarnations.

Tiến trình này tùy thuộc vào nhiều điều, chẳng hạn như cung mà chân thần được tìm thấy trên đó, và bản chất của sự phát triển trong các kiếp quá khứ.

32. It is quite arresting to consider that the ray of the highest center within the constitution of man is responsible for the sequence of etheric and physical plane developments. The Monad has a definite etheric-physical influence.

32. Thật đáng chú ý khi xét rằng cung của trung tâm cao nhất trong cấu tạo của con người chịu trách nhiệm về trình tự của các phát triển dĩ thái và trên cõi hồng trần. Chân thần có một ảnh hưởng dĩ thái-hồng trần xác định.

33. Different incarnations offer different kinds of opportunities for development. Probably the astrological configurations to be found in those incarnations are of importance in this process. We all build upon our past. Tendencies established in the past have influential momentum in the present.

33. Những kiếp sống khác nhau đem lại những loại cơ hội phát triển khác nhau. Có lẽ các cấu hình chiêm tinh hiện diện trong những kiếp ấy có tầm quan trọng trong tiến trình này. Tất cả chúng ta đều xây dựng trên quá khứ của mình. Những khuynh hướng được thiết lập trong quá khứ có một động lượng ảnh hưởng trong hiện tại.

34. If we do not know who as man was it is difficult to determine who he is in his present incarnation.

34. Nếu chúng ta không biết con người đã là ai thì khó mà xác định được y là ai trong kiếp hiện tại của mình.

Nature, in all departments of her corporate life, parallels her efforts, and overlaps her various processes, and it takes a seer of [Page 968] vast wisdom and experience to state exactly the stage at which any particular unit of the human family may be.

Thiên nhiên, trong mọi bộ phận của đời sống tập thể của mình, song hành các nỗ lực của mình, và chồng lấp các tiến trình khác nhau của mình, và cần đến một nhà thông nhãn có [Page 968]minh triết và kinh nghiệm lớn lao mới có thể nói chính xác giai đoạn mà bất kỳ đơn vị nào của gia đình nhân loại có thể đang ở.

35. Presumably a Master such as DK is such a seer, for He seems very capable of assessing the stage of development which His students have achieved.

35. Có lẽ một Chân sư như Chân sư DK là một nhà thông nhãn như thế, vì Ngài dường như rất có khả năng đánh giá giai đoạn phát triển mà các đạo sinh của Ngài đã đạt được.

36. The overlapping processes of nature are to be pondered. To reduce the growth process to a strictly linear sequence of states is an error. At best it reveals an incomplete picture of the truth. Such formulations satisfy only the limited human mind which, despite the truth, seems to possess the ‘will-to-be-satisfied’!

36. Các tiến trình chồng lấp của thiên nhiên là điều cần được suy ngẫm. Giảm tiến trình tăng trưởng xuống thành một chuỗi trạng thái tuyến tính nghiêm ngặt là một sai lầm. Tốt nhất thì nó cũng chỉ cho thấy một bức tranh chưa trọn vẹn của chân lý. Những công thức như thế chỉ làm thỏa mãn trí tuệ hữu hạn của con người, vốn dường như, bất chấp chân lý, lại sở hữu “ý chí muốn được thỏa mãn”!

He that is wise always refrains from assertion until he knows.

Người khôn ngoan luôn luôn tránh khẳng định cho đến khi y biết.

37. This is frequently the Master’s advice to His students. Many are the apparently knowledgeable assertions prematurely offered.

37. Đây thường là lời khuyên của Chân sư dành cho các đạo sinh của Ngài. Có biết bao khẳng định tưởng như đầy hiểu biết đã được đưa ra quá sớm.

Let us now consider:

Bây giờ chúng ta hãy xét:

38. We now enter a subject of great importance to all white magical procedure.

38. Giờ đây chúng ta đi vào một chủ đề hết sức quan trọng đối với mọi thủ tục huyền thuật chánh đạo.

b. The construction, vitalisation, and actuating of the thought form.

b. Sự kiến tạo, tiếp sinh lực, và làm cho hình tư tưởng hoạt động.

39. Three factors have been given, and presumably they occur more or less in sequential order, though we must acknowledge the presence of overlapping processes just discussed.

39. Ba yếu tố đã được nêu ra, và có lẽ chúng xảy ra ít nhiều theo trình tự, dù chúng ta phải thừa nhận sự hiện diện của các tiến trình chồng lấp vừa được bàn đến.

40. In the white magical process, sufficiently vitalized, well-constructed thoughtforms are to become actual, i.e., are to become tangibly manifested.

40. Trong tiến trình huyền thuật chánh đạo, những hình tư tưởng được tiếp sinh lực đầy đủ và được kiến tạo tốt phải trở thành thực tại, nghĩa là phải trở nên được biểu hiện một cách hữu hình.

The Ego, having brought about a condition of receptivity, or of recognition in the physical brain of the man,

Chân ngã, sau khi đã tạo ra một tình trạng tiếp nhận, hay nhận biết trong bộ não hồng trần của con người,

41. This has been accomplished through the cooperation of the Solar Angel with the higher aspect of man (an attenuated extension of the presence of the Monad) focused on the higher mental plane.

41. Điều này đã được hoàn thành nhờ sự hợp tác của Thái dương Thiên Thần với phương diện cao hơn của con người (một sự mở rộng được làm mảnh đi của sự hiện diện của chân thần) được tập trung trên Cõi thượng trí.

42. We see that work occurs from two directions. Bringing the instrument into the proper condition is not the task of the soul-in-incarnation alone.

42. Chúng ta thấy rằng công việc diễn ra từ hai hướng. Việc đưa công cụ vào tình trạng thích hợp không phải chỉ là nhiệm vụ của linh hồn đang nhập thể.

and having drawn from him the necessary response,

và sau khi đã rút ra từ y sự đáp ứng cần thiết,

43. The Ego has invoked the lower man; response, or evocation, followed.

43. Chân ngã đã khẩn cầu phàm nhân; sự đáp ứng, hay gợi lên, tiếp theo sau đó.

the process of building is thereupon begun.

thì tiến trình kiến tạo liền được bắt đầu.

44. We see that building (presumably relatively constructive thoughtform building) begins after response to the Ego’s invocation has arisen in the lower man.

44. Chúng ta thấy rằng việc kiến tạo (có lẽ là việc kiến tạo hình tư tưởng tương đối có tính xây dựng) bắt đầu sau khi sự đáp ứng đối với sự khẩn cầu của Chân ngã đã phát sinh trong phàm nhân.

This process of physical plane response is based—as is all else in nature—upon the relation of the polar opposites.

Tiến trình đáp ứng trên cõi hồng trần này được đặt nền trên—cũng như mọi điều khác trong thiên nhiên—mối liên hệ của các cực đối nghịch.

45. DK is telling us that all natural process arises from bi-polar interplay.

45. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng mọi tiến trình tự nhiên phát sinh từ sự tương tác lưỡng cực.

The physical centres are receptive to the positive influence of the force centres.

Các trung tâm hồng trần tiếp nhận ảnh hưởng dương của các trung tâm lực.

46. Negativity (electrically considered) is another name of receptivity.

46. Tính âm (xét về điện) là một tên gọi khác của tính tiếp nhận.

47. In studying occultism, we must always realize that etheric energy is positive to the strictly physical plane apparatus.

47. Khi nghiên cứu huyền bí học, chúng ta luôn phải nhận ra rằng năng lượng dĩ thái là dương đối với bộ máy thuần hồng trần.

The physical brain is responsive to the positive influence of the lower nature in the earlier evolutionary stages,

Bộ não hồng trần đáp ứng ảnh hưởng dương của bản chất thấp trong các giai đoạn tiến hoá ban đầu,

48. During the Lemurian and Atlantean stages of human development, the lower nature is positive and the physical brain negative, receptive or responsive. The lower nature runs the man.

48. Trong các giai đoạn Lemuria và Atlantis của sự phát triển nhân loại, bản chất thấp là dương còn bộ não hồng trần là âm, tiếp nhận hay đáp ứng. Bản chất thấp điều khiển con người.

49. During the Aryan Race comes man’s great opportunity to reverse this polarity.

49. Trong nhân loại Arya xuất hiện cơ hội lớn lao để con người đảo ngược cực tính này.

or to the reactions of the substance of the sheaths, the impress of the lunar Lords.

hay đối với các phản ứng của chất liệu của các thể, dấu ấn của các nguyệt tinh quân.

50. The lunar lords have had control over the behavior of the human being for millions of years. Because the lunar lords represent (from the perspective of the Planetary Logos) unprincipled substance, man’s behavior under their influence is unprincipled—in the moral sense.

50. Các nguyệt tinh quân đã kiểm soát hành vi của con người trong hàng triệu năm. Bởi vì các nguyệt tinh quân đại diện cho chất liệu không có nguyên khí (xét từ quan điểm của Hành Tinh Thượng Đế), nên hành vi của con người dưới ảnh hưởng của chúng là không có nguyên khí—theo nghĩa đạo đức.

51. We see that polarity changes over the course of evolution. At first the lunar lords are positive and influential; later, the etheric body, which is often numbered among the principles, turns positive to the physical brain and to the physical body as a whole and, thus, turns positive to the lunar lords and their influence.

51. Chúng ta thấy rằng cực tính thay đổi trong suốt tiến trình tiến hoá. Lúc đầu các nguyệt tinh quân là dương và có ảnh hưởng; về sau, thể dĩ thái, vốn thường được kể trong số các nguyên khí, trở nên dương đối với bộ não hồng trần và đối với toàn bộ thể xác, và do đó trở nên dương đối với các nguyệt tinh quân cùng ảnh hưởng của chúng.

It [the physical brain] responds in the later stages to the positive influence of the Ego or the impress of the solar Lord.

Nó [bộ não hồng trần] đáp ứng trong các giai đoạn sau đối với ảnh hưởng dương của Chân ngã hay dấu ấn của nhật tinh quân.

52. We have a threefold sequence:

52. Chúng ta có một trình tự tam phân:

a. At first the physical brain is negative to the influence of the personality vehicles and thus to the lunar lords.

a. Lúc đầu bộ não hồng trần là âm đối với ảnh hưởng của các vận cụ phàm ngã và do đó đối với các nguyệt tinh quân.

b. Then the physical brain becomes negative or receptive to the etheric body.

b. Sau đó bộ não hồng trần trở nên âm hay tiếp nhận đối với thể dĩ thái.

c. At last the physical brain becomes negative to the positive Ego.

c. Cuối cùng bộ não hồng trần trở nên âm đối với Chân ngã dương.

53. Here the Ego is called the “solar Lord” but this is not the same thing as to consider the Ego as identical with the Solar Angel in its true and independent nature. We must remember that the Solar Angel is a “returning Nirvani from a previous mahamanvantara”. The Ego of man-the-Monad is less that this—far less.

53. Ở đây Chân ngã được gọi là “nhật tinh quân” nhưng điều này không giống với việc xem Chân ngã là đồng nhất với Thái dương Thiên Thần trong bản chất chân thực và độc lập của nó. Chúng ta phải nhớ rằng Thái dương Thiên Thần là một “nirvani quay trở về từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước”. Chân ngã của con người-chân thần còn kém hơn điều đó—kém hơn rất nhiều.

54. We might question ourselves: “To which of these three sources is our physical brain currently negative or receptive?”

54. Chúng ta có thể tự hỏi: “Hiện nay bộ não hồng trần của chúng ta đang âm hay tiếp nhận đối với nguồn nào trong ba nguồn này?”

As is apparent, this building process is divided into three parts, which overlap, and assume an appearance of simultaneity.

Như đã rõ, tiến trình kiến tạo này được chia thành ba phần, chồng lấp lên nhau, và mang dáng vẻ đồng thời.

55. DK is giving us a hint concerning how relatively sequential processes, by overlapping, assume the appearance of simultaneity without actually being so.

55. Chân sư DK đang cho chúng ta một gợi ý về cách các tiến trình tương đối tuần tự, do chồng lấp lên nhau, mang dáng vẻ của tính đồng thời mà thực ra không phải vậy.

56. For practical purposes, we must realize that both sequentiality and simultaneity are facts in nature.

56. Vì những mục đích thực tiễn, chúng ta phải nhận ra rằng cả tính tuần tự lẫn tính đồng thời đều là những sự kiện trong bản chất.

When (as is the case with the majority of the human family) the process is an unconscious one,

Khi (như trường hợp của đa số gia đình nhân loại) tiến trình là một tiến trình vô thức,

57. The building process is an unconscious one.

57. Tiến trình kiến tạo là một tiến trình vô thức.

produced by reflex action and based largely on the accomplishment of desire,

được tạo ra bởi phản xạ và phần lớn dựa trên sự hoàn thành của dục vọng,

58. It seems that desire, when accomplished, contributes to the building process.

58. Dường như dục vọng, khi được hoàn thành, góp phần vào tiến trình kiến tạo.

59. The mental elemental lives respond with reflexive activity to the impulse of desire.

59. Các sự sống hành khí trí tuệ đáp ứng bằng hoạt động phản xạ đối với xung lực của dục vọng.

60. We certainly know that many human beings build their thoughtforms (really kama-manasic forms which are a mixture of thought and desire) under the impulse of desire. Perhaps we should say that these persons to not so much build the thoughtforms but that within their energy system, thoughtforms are built by reflex as the lower manasic vehicle responds to the promptings of desire.

60. Chúng ta chắc chắn biết rằng nhiều con người xây dựng các Hình tư tưởng của mình (thực ra là các hình trí-cảm, là hỗn hợp của tư tưởng và dục vọng) dưới xung lực của dục vọng. Có lẽ chúng ta nên nói rằng những người này không hẳn là xây dựng các Hình tư tưởng cho bằng trong hệ thống năng lượng của họ, các Hình tư tưởng được xây dựng do phản xạ khi vận cụ manas thấp đáp ứng với những thôi thúc của dục vọng.

all is carried on with great rapidity,

mọi sự đều được tiến hành với tốc độ rất lớn,

61. Because there is no reflection! The salutary influence of the planet Saturn (a planet of mentality) is not applied.

61. Bởi vì không có sự phản tỉnh! Ảnh hưởng lành mạnh của hành tinh Sao Thổ (một hành tinh của trí tuệ) không được áp dụng.

62. All proceeds under the rapidity of Mars which is one of the rulers of the astral body.

62. Mọi sự diễn ra dưới tốc độ của Sao Hỏa, là một trong những chủ tinh của thể cảm dục.

and leads to rapid results—these results being effective of accomplishment according to the ability of the man to vitalise and hold in coherent form his idea.

và dẫn đến những kết quả nhanh chóng—những kết quả này hữu hiệu trong việc hoàn thành tùy theo khả năng của con người tiếp sinh lực và giữ ý tưởng của mình trong hình tướng cố kết.

63. We are speaking of the building process of the average man swayed far more by desire than mentality.

63. Chúng ta đang nói về tiến trình kiến tạo của con người trung bình, kẻ bị dục vọng chi phối nhiều hơn trí tuệ rất nhiều.

64. Intensity and persistence of desire contributes to the coherence of the thoughtform.

64. Cường độ và sự bền bỉ của dục vọng góp phần vào sự cố kết của Hình tư tưởng.

Most of the thought forms created by average man are only relatively effective, and this within great limitations, and having but a restricted radius.

Phần lớn các Hình tư tưởng do con người trung bình tạo ra chỉ tương đối hữu hiệu, và điều này trong những giới hạn lớn lao, đồng thời chỉ có một bán kính hạn chế.

65. Average human beings are far from being white magicians.

65. Những con người trung bình còn rất xa mới là các nhà huyền thuật chánh đạo.

66. We learn of the limited nature of the thoughtforms of average people and of the restricted radius within which they are only relatively effective. Given the nature and quality of these thoughtforms, we are fortunate that this is the case.

66. Chúng ta biết được bản chất hạn chế của các Hình tư tưởng của người trung bình và bán kính hạn chế trong đó chúng chỉ tương đối hữu hiệu. Xét theo bản chất và phẩm tính của các Hình tư tưởng này, thật may mắn là sự việc lại như thế.

When man is learning consciously to create, which he does through the organisation of thought, concentration and meditation,

Khi con người đang học cách sáng tạo một cách hữu thức, điều mà y làm thông qua sự tổ chức tư tưởng, tập trung và tham thiền,

67. Three factors are given involving largely the use of the fifth and seventh rays.

67. Ba yếu tố được nêu ra, phần lớn liên quan đến việc sử dụng cung năm và cung bảy.

he proceeds more slowly,

y tiến hành chậm hơn,

68. The restraining, reflective influence of Saturn is employed in his thoughtform building process.

68. Ảnh hưởng kiềm chế và phản tỉnh của Sao Thổ được sử dụng trong tiến trình xây dựng Hình tư tưởng của y.

for he has two primary things to do before the creative process can be carried through: [Page 969]

vì y có hai điều chủ yếu phải làm trước khi tiến trình sáng tạo có thể được thực hiện: [Page 969]

69. We are now speaking of conscious building and conscious creativity.

69. Hiện nay, chúng ta đang nói về sự kiến tạo hữu thức và sự sáng tạo hữu thức.

a. To contact or communicate with the Ego, or solar Angel.

a. Tiếp xúc hay giao tiếp với chân ngã, hay Thái dương Thiên Thần.

70. This is absolutely necessary. Whether we think of the Ego and “solar Angel” as equivalent or merely as cooperative, contact must be made with a supervising Entity on the higher mental plane and communication established.

70. Điều này tuyệt đối cần thiết. Dù chúng ta xem chân ngã và “Thái dương Thiên Thần” là tương đương hay chỉ đơn thuần là cộng tác, thì vẫn phải tạo được sự tiếp xúc với một Thực Thể giám sát trên Cõi thượng trí và thiết lập được sự giao tiếp.

b. To study the process of creation and to make it conform step by step with natural evolutionary law.

b. Nghiên cứu tiến trình sáng tạo và làm cho nó phù hợp từng bước với định luật tiến hoá tự nhiên.

71. For this reason A Treatise on White Magic was written. We can see from reading it how complex is the process of creation and how much the Tibetan refrained from including in this book, voluminous though it may be.

71. Vì lý do này mà Luận về Chánh Thuật đã được viết ra. Qua việc đọc tác phẩm ấy, chúng ta có thể thấy tiến trình sáng tạo phức tạp đến mức nào và Chân sư Tây Tạng đã kiềm chế biết bao khi không đưa vào cuốn sách này, dù nó có thể đồ sộ đến đâu.

72. The great danger to humanity is the unleashing of a creative potency which is out of conformity with evolutionary law. Man would then create only that which must later be destroyed if the Plan is to be manifested.

72. Mối nguy lớn đối với nhân loại là sự giải phóng một tiềm năng sáng tạo không phù hợp với định luật tiến hoá. Khi ấy con người sẽ chỉ sáng tạo ra điều mà về sau phải bị hủy diệt nếu Thiên Cơ được biểu lộ.

The above is necessarily but another way of defining meditation and its objective.

Điều nói trên tất yếu chỉ là một cách khác để định nghĩa tham thiền và mục tiêu của nó.

73. DK has defined creative meditation. The objective of the kind of meditation we are here discussing is creative. There are other forms of meditation which may have different objectives.

73. Chân sư DK đã định nghĩa tham thiền sáng tạo. Mục tiêu của loại tham thiền mà ở đây chúng ta đang bàn đến là sáng tạo. Có những hình thức tham thiền khác có thể có những mục tiêu khác.

Later on, when a man is an expert in meditation,

Về sau, khi một người trở thành chuyên gia trong tham thiền,

74. To become so is certainly possible and is held out for us as an incentive.

74. Việc trở thành như vậy chắc chắn là có thể, và được đặt ra trước chúng ta như một sự khích lệ.

the work of thought creation proceeds with ever increasing rapidity, until he surpasses (on a higher turn of the spiral) the activity of the earlier unconscious period.

công việc sáng tạo tư tưởng tiến hành với tốc độ ngày càng tăng, cho đến khi y vượt qua (trên một vòng xoắn cao hơn) hoạt động của thời kỳ vô thức trước kia.

75. We have been told of the rapidity of the creative process when under the impulse of desire. The interim process sees a slowing of the process under the reflective influence of Saturn. Later, again, when the meditator becomes highly accomplished, the creative process achieves even greater speed than it had when under the influence of desire.

75. Chúng ta đã được cho biết về tốc độ của tiến trình sáng tạo khi ở dưới xung lực của dục vọng. Tiến trình trung gian chứng kiến sự chậm lại của tiến trình dưới ảnh hưởng phản tỉnh của Sao Thổ. Về sau nữa, khi người hành thiền trở nên rất thành tựu, tiến trình sáng tạo đạt tới tốc độ còn lớn hơn cả khi nó ở dưới ảnh hưởng của dục vọng.

76. DK is telling us that the well-trained mind is more rapid than desire.

76. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng trí tuệ được huấn luyện tốt thì nhanh hơn dục vọng.

77. Most of us, however, are not yet experts in meditation.

77. Tuy nhiên, phần lớn chúng ta vẫn chưa phải là những chuyên gia trong tham thiền.

Starting, therefore, with the recognition of the egoic intent in the physical brain, the man proceeds to build the form for his idea.

Do đó, bắt đầu bằng việc nhận ra ý định chân ngã trong bộ não hồng trần, con người tiến hành xây dựng hình tướng cho ý tưởng của mình.

78. Notice that ideas come from a higher spiritual realm than the realm in which human thought originates.

78. Hãy lưu ý rằng các ý tưởng đến từ một cõi tinh thần cao hơn cõi mà trong đó tư tưởng của con người phát sinh.

79. For practical purposes we may say that ideas come from the Ego or Solar Angel though true ideas have sources even higher.

79. Vì những mục đích thực tiễn, chúng ta có thể nói rằng các ý tưởng đến từ chân ngã hay Thái dương Thiên Thần, dù các ý tưởng chân thực còn có những nguồn gốc cao hơn nữa.

80. One must not start building unless within the physical brain there is the recognition of egoic intent. Presumably such intent can be recognized by its impressive and selfless quality.

80. Người ta không được bắt đầu xây dựng trừ phi trong bộ não hồng trần có sự nhận ra ý định chân ngã. Có lẽ ý định ấy có thể được nhận ra nhờ phẩm tính gây ấn tượng và vô ngã của nó.

He begins first to organise the material required upon the mental plane.

Trước hết y bắt đầu tổ chức chất liệu cần thiết trên cõi trí.

81. The man organizes his material to produce coherent thought.

81. Con người tổ chức chất liệu của mình để tạo ra tư tưởng cố kết.

82. Even before organizing the material, he must gather the material. This, of course, requires a certain capacity for discriminative selectivity.

82. Ngay cả trước khi tổ chức chất liệu, y phải thu thập chất liệu. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi một năng lực chọn lọc có tính phân biện nhất định.

It is on that plane that the impulse takes to itself its primary form.

Chính trên cõi đó mà xung lực khoác lấy hình tướng sơ khởi của nó.

83. This is the primary form of the descending thoughtform but certainly not the final one.

83. Đây là hình tướng sơ khởi của Hình tư tưởng đang giáng xuống, nhưng chắc chắn chưa phải là hình tướng cuối cùng.

84. The impulse is the idea. The supervising or building consciousness is something still more essential and real. It is our very selves.

84. Xung lực là ý tưởng. Tâm thức giám sát hay kiến tạo là một điều còn cốt yếu và thực hơn nữa. Đó chính là bản thân chúng ta.

On the desire or astral plane, the process of vitalisation is largely pursued,

Trên cõi dục vọng hay cõi cảm dục, tiến trình tiếp sinh lực phần lớn được theo đuổi,

85. Vitalization is a term often associated with the etheric body, but we see that in the magical process of thoughtform building, the vitalization occurs largely on the astral plane. The thoughtform becomes vibrant and pulsates with color.

85. Tiếp sinh lực là một thuật ngữ thường gắn với thể dĩ thái, nhưng chúng ta thấy rằng trong tiến trình huyền thuật xây dựng Hình tư tưởng, sự tiếp sinh lực phần lớn xảy ra trên cõi cảm dục. Hình tư tưởng trở nên rung động và đập nhịp với màu sắc.

86. We well know that the factor of desire keeps thoughtforms alive.

86. Chúng ta biết rõ rằng yếu tố dục vọng giữ cho các Hình tư tưởng sống động.

for the length of the life of any thought form (even such an one as our solar system) is dependent upon the persistence of desire, and the strength of the desire.

vì độ dài sự sống của bất kỳ Hình tư tưởng nào (ngay cả một Hình tư tưởng như hệ mặt trời của chúng ta) đều tùy thuộc vào sự bền bỉ của dục vọng và sức mạnh của dục vọng.

87. The personality of a human being is a thoughtform and we realize that the “desire to live” (sometimes confused with the “will-to-live”) is very influential in keeping that thoughtform alive, i.e., in physical incarnation.

87. Phàm ngã của một con người là một Hình tư tưởng, và chúng ta nhận ra rằng “dục vọng được sống” (đôi khi bị lẫn với “Ý Chí-hướng sống”) có ảnh hưởng rất lớn trong việc giữ cho Hình tư tưởng ấy sống động, tức là trong sự lâm phàm hồng trần.

88. The desire to remain in incarnation perpetuates that incarnation. This is surely not the only factor influencing the length of an incarnation but it is a significant one in many cases. Of course, no human being desiring “to live forever” in a particular personality can do so, but the duration of that personality’s physical body can be lengthened through intense desire. This may also apply to the perpetuation of the astral and mental bodies in the post-mortem state.

88. Dục vọng tiếp tục lâm phàm làm kéo dài sự lâm phàm ấy. Chắc chắn đây không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến độ dài của một lần lâm phàm, nhưng trong nhiều trường hợp nó là một yếu tố đáng kể. Dĩ nhiên, không một con người nào mong muốn “sống mãi” trong một phàm ngã nhất định mà có thể làm được điều đó, nhưng thời lượng của thể xác của phàm ngã ấy có thể được kéo dài nhờ dục vọng mãnh liệt. Điều này cũng có thể áp dụng cho việc kéo dài sự tồn tại của thể cảm dục và thể trí trong trạng thái sau khi chết.

On the etheric levels of the physical plane the process of physical concretion takes place;

Trên các mức dĩ thái của cõi hồng trần, tiến trình kết tụ hồng trần diễn ra;

89. Thus far we have discussed the processes of formation and vitalization. These processes are followed concretion taking place on the etheric plane.

89. Cho đến đây chúng ta đã bàn về các tiến trình hình thành và tiếp sinh lực. Tiếp theo các tiến trình này là sự kết tụ diễn ra trên cõi dĩ thái.

as the physical vehicle assumes the necessary proportions, the thought form becomes divorced from the one who is giving it form.

khi vận cụ hồng trần đảm nhận những tỉ lệ cần thiết, Hình tư tưởng trở nên tách rời khỏi kẻ đang ban hình tướng cho nó.

90. This is a great interest. The creator must always, at the point of objectification, release his creation. At least such a release is desirable. The consequences of not doing so are destructive.

90. Điều này rất đáng quan tâm. Người sáng tạo luôn luôn phải, tại điểm khách quan hóa, giải phóng sáng tạo phẩm của mình. Ít nhất thì sự giải phóng như vậy là điều đáng mong muốn. Hậu quả của việc không làm như thế là có tính hủy diệt.

91. We are being told that the “divorce” comes “as the physical vehicle assumes the necessary proportions”. The systemic physical plane includes both the etheric aspect and the dense physical aspect. DK is probably speaking of the assumption of necessary proportions as a process occurring upon the etheric plane.

91. Chúng ta được cho biết rằng sự “tách rời” xảy ra “khi vận cụ hồng trần đảm nhận những tỉ lệ cần thiết”. Cõi hồng trần của hệ thống bao gồm cả phương diện dĩ thái lẫn phương diện hồng trần đậm đặc. Có lẽ Chân sư DK đang nói về việc đảm nhận những tỉ lệ cần thiết như một tiến trình xảy ra trên cõi dĩ thái.

92. In any case, as the objective form takes shape, the form becomes divorced from the one who created it.

92. Dù sao đi nữa, khi hình tướng khách quan thành hình, hình tướng ấy trở nên tách rời khỏi kẻ đã tạo ra nó.

Any idea of enough strength will inevitably materialise in dense physical matter,

Bất kỳ ý tưởng nào đủ mạnh ắt sẽ hiện hình trong vật chất hồng trần đậm đặc,

93. This should be an arresting thought. The question is—what exactly is enough strength?

93. Đây hẳn phải là một tư tưởng gây chấn động. Câu hỏi là—chính xác thì sức mạnh đủ là gì?

but the main work of its creator ceases when he has worked with it on mental, astral and etheric levels.

nhưng công việc chính của người sáng tạo ra nó chấm dứt khi y đã làm việc với nó trên các mức trí tuệ, cảm dục và dĩ thái.

94. Our question is: “does the ‘divorce’ of which DK speaks at least begin on the etheric plane”? It surely must be consummated on the dense physical plane.

94. Câu hỏi của chúng ta là: “sự ‘tách rời’ mà Chân sư DK nói đến có ít nhất bắt đầu trên cõi dĩ thái không?” Chắc chắn nó phải được hoàn tất trên cõi hồng trần đậm đặc.

The dense physical response is automatic and inevitable.

Sự đáp ứng hồng trần đậm đặc là tự động và tất yếu.

95. Apparently the occult creator has no extensive dense physical plane work to do. This should strike us as important when we think of our own creative process and will inform us concerning whether we have been creating using occult methods or only normal methods (which are very active upon the dense physical subplanes, per se).

95. Rõ ràng người sáng tạo huyền bí không có nhiều công việc phải làm trên cõi hồng trần đậm đặc. Điều này hẳn phải gây ấn tượng với chúng ta khi nghĩ về tiến trình sáng tạo của chính mình và sẽ cho chúng ta biết liệu chúng ta đã sáng tạo bằng các phương pháp huyền bí hay chỉ bằng các phương pháp thông thường (vốn rất hoạt động trên chính các cõi phụ hồng trần đậm đặc).

96. We must not overlook, however, the Tibetan’s use of the words “main work”, indicating that there may still be some work to be accomplished on the dense physical subplanes, even though relatively minor work.

96. Tuy nhiên, chúng ta không được bỏ qua việc Chân sư Tây Tạng dùng các từ “công việc chính”, cho thấy rằng vẫn có thể còn một ít công việc phải hoàn thành trên các cõi phụ hồng trần đậm đặc, dù đó là công việc tương đối nhỏ.

Some ideas of a large and important nature, which have arisen in the consciousness of the Guides of the race, reach full manifestation only through the medium of many agents, and the dynamic impulses of many minds.

Một số ý tưởng có bản chất lớn lao và quan trọng, đã phát sinh trong tâm thức của các Đấng Hướng Dẫn nhân loại, chỉ đạt đến sự biểu hiện trọn vẹn thông qua trung gian của nhiều tác nhân và các xung lực năng động của nhiều trí tuệ.

97. DK is telling us that some ideas are too large to be contained or embodied by any one human being. Perhaps these are the ideas “whose time has come”—ideas which move entire nations, cultures, civilizations and even human civilization considered as a whole.

97. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng một số ý tưởng quá lớn để có thể được chứa đựng hay hiện thân bởi bất kỳ một con người nào. Có lẽ đó là những ý tưởng “đã đến thời của chúng”—những ý tưởng làm chuyển động cả các quốc gia, các nền văn hóa, các nền văn minh, và thậm chí cả nền văn minh nhân loại xét như một toàn thể.

98. As we think of the ideas which now propel us, do we think we are involved in the execution of any such large and important ideas? If so, do we recognize the group of those who are similarly impulsed?

98. Khi nghĩ về những ý tưởng hiện đang thúc đẩy chúng ta, liệu chúng ta có nghĩ rằng mình đang tham gia vào việc thực hiện bất kỳ ý tưởng lớn lao và quan trọng nào như thế không? Nếu có, liệu chúng ta có nhận ra nhóm những người cũng đang được thúc đẩy tương tự không?

A few work consciously, when this is the case, at the production of the necessitated [Page 970] form;

Một số ít làm việc một cách hữu thức, khi trường hợp là như vậy, để tạo ra hình tướng cần thiết [Page 970];

99. We could say that the Divine Purpose is the repository of the greatest ideas (from a planetary perspective), and that some of the Masters can work consciously at the registration of this Purpose (“Registrants of the Purpose”). They can build thoughtforms which embody this Purpose. Human beings recognize such thoughtforms as the Divine Plan.

99. Chúng ta có thể nói rằng Thiên Ý là nơi chứa đựng những ý tưởng vĩ đại nhất (xét từ góc độ hành tinh), và một số Chân sư có thể làm việc một cách hữu thức trong việc ghi nhận Thiên Ý này (“Những Đấng Ghi Nhận Thiên Ý”). Các Ngài có thể xây dựng những Hình tư tưởng hiện thân cho Thiên Ý này. Con người nhận ra những Hình tư tưởng như thế là Thiên Cơ.

many more are swept into activity and lend their aid through the very negativity of their natures; they are "forced" to be interested in spite of themselves, and are "swept into the movement," not through any mental apprehension or "vital desire," but because it is the thing to do.

nhiều người hơn nữa bị cuốn vào hoạt động và góp phần trợ giúp qua chính tính tiêu cực trong bản chất của họ; họ bị “buộc” phải quan tâm bất chấp chính mình, và bị “cuốn vào phong trào”, không phải do bất kỳ sự lĩnh hội trí tuệ hay “dục vọng tiếp sinh lực” nào, mà bởi vì đó là điều phải làm.

100. DK is speaking of conscious and unconscious creators, indicating that there are many more who are unconscious than conscious.

100. Chân sư DK đang nói về những người sáng tạo hữu thức và vô thức, cho thấy rằng số người vô thức nhiều hơn số người hữu thức rất nhiều.

101. We see that ideas can compel, can force. We are being told that many people follow the direction of an idea not because they think about it, or even because they desire to follow, but due to some etheric force. There is a certain inevitability in this.

101. Chúng ta thấy rằng các ý tưởng có thể cưỡng bách, có thể ép buộc. Chúng ta được cho biết rằng nhiều người đi theo hướng của một ý tưởng không phải vì họ suy nghĩ về nó, hay thậm chí vì họ mong muốn đi theo, mà do một mãnh lực dĩ thái nào đó. Có một tính tất yếu nhất định trong điều này.

102. We should ponder how often we have been swept into action by great ideas or thoughts without any conscious apprehension on our part and with no real desire to do what we have found ourselves doing!

102. Chúng ta nên suy ngẫm xem đã bao nhiêu lần mình bị cuốn vào hành động bởi những ý tưởng hay tư tưởng lớn lao mà không có bất kỳ sự lĩnh hội hữu thức nào từ phía mình và cũng không có dục vọng thực sự nào muốn làm điều mà rốt cuộc mình đã thấy mình đang làm!

103. The “thing to do” is an energy pattern with which one can hardly resist engagement. DK speaks of the people who are “swept up and down the land”. Only very strong and conscious thinkers can choose whether or not to accept this ‘sweep’. Probably there are some sweeping actions which we cannot possibly resist. If the Planetary Logos strongly wills a certain action, can the cells in His body (human beings) resist?

103. “Điều phải làm” là một mô hình năng lượng mà người ta hầu như không thể cưỡng lại việc dấn thân vào. Chân sư DK nói về những người bị “cuốn lên cuốn xuống khắp xứ sở”. Chỉ những nhà tư tưởng rất mạnh và hữu thức mới có thể chọn có chấp nhận hay không chấp nhận sự “cuốn đi” này. Có lẽ có những hành động cuốn đi mà chúng ta hoàn toàn không thể cưỡng lại. Nếu Hành Tinh Thượng Đế mạnh mẽ muốn một hành động nào đó, liệu các tế bào trong thân thể của Ngài (con người) có thể chống lại không?

In this may be seen an instance of the ability of the Great Ones to utilise conditions of apparent inertia and negativity (due to little development), and thus produce good results.

Trong điều này có thể thấy một ví dụ về khả năng của các Đấng Cao Cả sử dụng những điều kiện có vẻ trì trệ và tiêu cực (do ít phát triển), và nhờ đó tạo ra những kết quả tốt đẹp.

104. There is a great benevolence which sweeps the unknowing and even the unwilling into positive patterns of action.

104. Có một lòng nhân từ lớn lao cuốn những kẻ không biết, và thậm chí cả những kẻ không muốn, vào những mô hình hành động tích cực.

105. The entire process is an electrical one. The negative units are attracted to the positive energy source and, per force, must move (really, be moved) in accordance with the impulses emanating from that source.

105. Toàn bộ tiến trình là một tiến trình điện. Các đơn vị âm bị hút về nguồn năng lượng dương và, do sức ép ấy, phải chuyển động (thực ra là bị chuyển động) phù hợp với các xung lực phát ra từ nguồn đó.

106. Thus, even when we cannot direct ourselves into constructive channels, we are directed.

106. Do đó, ngay cả khi chúng ta không thể tự hướng mình vào những kênh xây dựng, chúng ta vẫn được hướng dẫn.

We will here only deal with the man who is learning consciously to build, and will not consider the process as pursued by the adept, or the chaotic attempts of the little evolved.

Ở đây chúng ta sẽ chỉ bàn đến con người đang học cách xây dựng một cách hữu thức, và sẽ không xét đến tiến trình như được chân sư theo đuổi, hay những cố gắng hỗn loạn của kẻ ít tiến hoá.

107. Thus, we are dealing with the building efforts of the conscious aspirant.

107. Như vậy, chúng ta đang bàn đến những nỗ lực kiến tạo của người chí nguyện hữu thức.

S8S4 Part IV

TCF 969 - 974

TCF 969 - 974

28 November – 13 December 2008

28 tháng Mười Một – 13 tháng Mười Hai 2008

Having grasped the idea, and having with care discriminated the motive underlying the idea, thus ascertaining its utilitarian purposes, and its value to the group in the service of humanity, the man has certain things to do which, for the sake of clarity, we might sum up in certain statements:

Sau khi đã nắm bắt ý tưởng, và đã cẩn thận phân biện động cơ nằm bên dưới ý tưởng, nhờ đó xác định được những mục đích hữu dụng của nó, và giá trị của nó đối với nhóm trong việc phụng sự nhân loại, con người có một số điều phải làm mà, để cho rõ ràng, chúng ta có thể tóm lược trong một số phát biểu:

1. We continue to describe the process of building thoughtforms. We are dealing with the white magical process.

1. Chúng ta tiếp tục mô tả tiến trình xây dựng Hình tư tưởng. Chúng ta đang bàn đến tiến trình huyền thuật chánh đạo.

a. The idea is grasped

a. Ý tưởng được nắm bắt

b. The motive is discriminated—

b. Động cơ được phân biện—

c. The purpose of the idea is discerned

c. Mục đích của ý tưởng được nhận ra bằng phân biện tinh thần

d. The service value of the idea is registered

d. Giá trị phụng sự của ý tưởng được ghi nhận

He has, first of all, to hold the idea sufficiently long for it to be faithfully registered in the physical brain.

Trước hết, y phải giữ ý tưởng đủ lâu để nó được ghi nhận trung thực trong bộ não hồng trần.

2. This necessity is often overlooked. Registration is not instantaneous. Perhaps we can see the reason for stilling the mind and holding the mind steady in the light.

2. Nhu cầu này thường bị bỏ qua. Sự ghi nhận không xảy ra tức thời. Có lẽ chúng ta có thể thấy lý do của việc làm lắng yên trí tuệ và giữ trí tuệ vững vàng trong ánh sáng.

3. Great stillness, the integration technique for those upon the third ray, is required for faithful registration. We can understand the mental activity is a deterrent to faithful registration of an egoically impulsed idea.

3. Sự tĩnh lặng lớn lao, Kỹ Thuật Tích Hợp dành cho những người ở cung ba, là điều cần thiết cho sự ghi nhận trung thực. Chúng ta có thể hiểu rằng hoạt động trí tuệ là một trở ngại đối với sự ghi nhận trung thực một ý tưởng được chân ngã thúc đẩy.egoically impulsed idea.

Frequently the Ego will "get through" to the brain some concept, some portion of the plan, and yet will have to repeat the process continuously over quite a long period before the physical response is such that the solar Angel can rest assured that it is intelligently registered and recorded.

Thường thì chân ngã sẽ “xuyên qua” đến bộ não một khái niệm nào đó, một phần nào đó của kế hoạch, và tuy vậy vẫn phải lặp lại tiến trình ấy liên tục trong một thời gian khá dài trước khi sự đáp ứng hồng trần đạt đến mức để Thái dương Thiên Thần có thể yên tâm rằng nó đã được ghi nhận và lưu giữ một cách thông minh.

4. This is so important. Can we see the need for steady and repeated meditation?

4. Điều này rất quan trọng. Liệu chúng ta có thể thấy nhu cầu của sự tham thiền đều đặn và lặp đi lặp lại không?

5. When group work is involved, some enhancement of the process may be expected. The partial registration of several group participants may equate to the registration of the whole idea.

5. Khi công việc nhóm có liên quan, có thể trông đợi một sự tăng cường nào đó của tiến trình. Sự ghi nhận từng phần của một số thành viên trong nhóm có thể tương đương với sự ghi nhận toàn bộ ý tưởng.

6. Note the Solar Angel’s attentiveness. The Solar Angel wishes to be assured that the descending idea is intelligently and faithfully registered.

6. Hãy lưu ý sự chú tâm của Thái dương Thiên Thần. Thái dương Thiên Thần muốn được bảo đảm rằng ý tưởng đang giáng xuống được ghi nhận một cách thông minh và trung thựcd.

7. We see then that the Solar Angel is definitely involved, at least in a supervisory role, in the process of thoughtform building. Further the Solar Angel may be involved in communicating the idea to the brain of man.

7. Như vậy chúng ta thấy rằng Thái dương Thiên Thần chắc chắn có liên quan, ít nhất trong vai trò giám sát, đến tiến trình xây dựng Hình tư tưởng. Hơn nữa, Thái dương Thiên Thần có thể còn tham gia vào việc truyền đạt ý tưởng đến bộ não của con người.

8. The element of time is under discussion, and it is of importance.

8. Yếu tố thời gian đang được bàn đến, và nó rất quan trọng.

9. Saturn, the planet which rules the physical brain is also the Lord of Time. The implications should be clear.

9. Sao Thổ, hành tinh cai quản bộ não hồng trần, cũng là Chúa Tể của Thời Gian. Những hàm ý của điều này hẳn là rõ ràng.

It is perhaps unnecessary to say that the entire process is greatly facilitated if the "shadow," or the man, pursues regular meditation,

Có lẽ không cần phải nói rằng toàn bộ tiến trình được tạo điều kiện dễ dàng hơn rất nhiều nếu “cái bóng”, hay con người, theo đuổi việc tham thiền đều đặn,

10. As stated. We often do not realize how very important this is.

10. Như đã nói. Chúng ta thường không nhận ra điều này quan trọng biết bao.

11. The “shadow”, in this context, is really the soul-in-incarnation working through the personality. Recall the lines from A Treatise on White Magic regarding the relation of the Solar Angel with the reflection or shadow.

11. “Cái bóng”, trong ngữ cảnh này, thực ra là linh hồn đang nhập thể hoạt động qua phàm ngã. Hãy nhớ lại những dòng trong Luận về Chánh Thuật liên quan đến mối quan hệ của Thái dương Thiên Thần với sự phản chiếu hay cái bóng.

RULE ONE

QUY LUẬT MỘT

The Solar Angel collects himself, scatters not his force, but, in meditation deep, communicates with his reflection.

Thái Dương Thiên Thần thu mình lại, không phân tán thần lực của Ngài mà, trong thiền định sâu sắc, giao tiếp với phản ảnh của Ngài.

RULE TWO

QUY LUẬT HAI