← Commentary_S8_925_1078_song ngữ

S8S4 Part V

Trích nội dung chương

When the shadow hath responded, in meditation deep the work proceedeth. The lower light is thrown upward; the greater light illuminates the three, and the work of the four proceedeth. (TWM xii) Khi cái bóng đã đáp ứng, trong thiền định sâu thẳm, công việc tiến triển. Ánh sáng thấp được ném lên trên; ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba, và công việc của bốn tiến triển. (TWM xii)


When the shadow hath responded, in meditation deep the work proceedeth. The lower light is thrown upward; the greater light illuminates the three, and the work of the four proceedeth. (TWM xii)

Khi cái bóng đã đáp ứng, trong thiền định sâu thẳm, công việc tiến triển. Ánh sáng thấp được ném lên trên; ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba, và công việc của bốn tiến triển. (TWM xii)

cultivates the habit of a daily and hourly recollectedness of the higher Self,

vun bồi thói quen hồi tưởng hằng ngày và hằng giờ về Bản Ngã Cao Siêu,

12. Even hourly! In fact, a constant and continuous recollectedness is the eventual goal. We speak of “continuity of consciousness”. It has its greatest application to continuity of soul-consciousness.

12. Ngay cả hằng giờ! Thực ra, một sự hồi tưởng liên tục và không gián đoạn là mục tiêu cuối cùng. Chúng ta nói đến “tính liên tục của tâm thức”. Nó có ứng dụng lớn nhất đối với tính liên tục của tâm thức linh hồn.

and before retiring at night endeavours to "hold the thought" of bringing through at the time of awakening as much as possible of any egoic impress.

và trước khi đi ngủ vào ban đêm, cố gắng “giữ tư tưởng” đưa xuyên qua vào lúc thức dậy càng nhiều càng tốt bất kỳ ấn tượng chân ngã nào.

13. We are told of the act of setting a definite intention before retiring. To do so is a stabilization of a focussed receptivity to higher impression. The Ego is at work at night. There is much value in “sleeping on” any important matter (for this opens the door to egoic impression) and, in general, of remaining receptive to the flow of egoic influence.

13. Chúng ta được nói cho biết về hành động đặt ra một ý định rõ ràng trước khi đi ngủ. Làm như vậy là một sự ổn định của tính tiếp nhận tập trung đối với ấn tượng cao hơn. Chân ngã hoạt động vào ban đêm. Có rất nhiều giá trị trong việc “ngủ cùng” với bất kỳ vấn đề quan trọng nào (vì điều này mở cánh cửa cho ấn tượng chân ngã), và nói chung là trong việc duy trì tính tiếp nhận đối với dòng chảy của ảnh hưởng chân ngã.

14. I suppose it must be faced that for many of us, our alignment is weak and our physical brain resistant to impress from the higher dimensions. If this is the case, we must reverse the condition.

14. Tôi cho rằng phải đối diện với thực tế rằng đối với nhiều người trong chúng ta, sự chỉnh hợp của chúng ta còn yếu và bộ não hồng trần còn kháng cự ấn tượng từ các chiều kích cao hơn. Nếu đúng như vậy, chúng ta phải đảo ngược điều kiện này.

When the reaction between the two factors, the Ego and the receptive physical brain, is established,

Khi phản ứng giữa hai yếu tố, chân ngã và bộ não hồng trần tiếp nhận, được thiết lập,

15. This is the interplay which Master DK has been discussing for many pages. There is a definite link to be made between the higher mental plane and the physical brain.

15. Đây là sự tương tác mà Chân sư DK đã bàn đến trong nhiều trang. Có một liên kết rõ rệt phải được tạo ra giữa Cõi thượng trí và bộ não hồng trần.

the interplay is reciprocal,

sự tương tác là hỗ tương,

16. We are dealing with a dynamic ruled by both Mercury and Gemini.

16. Chúng ta đang bàn đến một động lực được cai quản bởi cả Sao Thủy lẫn Song Tử.

and the two are keyed or tuned to each other, the second stage is entered upon.

và cả hai được điều chỉnh hay hòa điệu với nhau, thì giai đoạn thứ hai được bước vào.

17. We are dealing not only with contact, impress and interplay, but with attunement. This is a conscious harmonization and must be felt.

17. Chúng ta không chỉ đang bàn đến sự tiếp xúc, ấn tượng và tương tác, mà còn đến sự hòa điệu. Đây là một sự hài hòa hóa hữu thức và phải được cảm nhận.

The idea is conceived. [Page 971]

Ý tưởng được thụ thai. [Page 971]

18. We note that before such conception can occur there must be an attunement between the Ego and the physical brain.

18. Chúng ta lưu ý rằng trước khi sự thụ thai như thế có thể xảy ra, phải có sự hòa điệu giữa chân ngã và bộ não hồng trần.

19. The idea is represents the masculine pole. The brain in this instance is the feminine receiver.

19. Ý tưởng tượng trưng cho cực dương. Trong trường hợp này, bộ não là kẻ tiếp nhận mang tính âm.

20. Note that the idea is not yet born but only “conceived”. This is a Uranian process. Uranus is the idea. Mercury is the transmission of the idea. Saturn is the receptive physical brain.

20. Hãy lưu ý rằng ý tưởng vẫn chưa được sinh ra mà chỉ mới được “thụ thai”. Đây là một tiến trình của Sao Thiên Vương. Sao Thiên Vương là ý tưởng. Sao Thủy là sự truyền đạt ý tưởng. Sao Thổ là bộ não hồng trần tiếp nhận.

A period of gestation is then pursued, itself divided into various stages.

Sau đó một thời kỳ thai nghén được theo đuổi, bản thân nó được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau.

21. The period of gestation occurs within the personality vehicles.

21. Thời kỳ thai nghén xảy ra trong các vận cụ của phàm ngã.

The man broods over the idea; he ponders upon it, thereby setting up activity in mental matter, and attracting to his germ thought the material necessary for its clothing.

Con người ấp ủ ý tưởng; y suy ngẫm về nó, nhờ đó khơi dậy hoạt động trong vật chất trí tuệ, và hút về tư tưởng mầm của mình chất liệu cần thiết để khoác áo cho nó.

22. This process is simply the higher analogue of the birth process.

22. Tiến trình này đơn giản là sự tương đồng cao hơn của tiến trình sinh nở.

23. The implanted idea is called the “germ thought”. It is that concentrated energy implanted upon the mental plane, from which the full blown thoughtform will germinate.

23. Ý tưởng được cấy vào được gọi là “tư tưởng mầm”. Đó là năng lượng tập trung được cấy vào trên cõi trí, từ đó Hình tư tưởng nở rộ đầy đủ sẽ nảy mầm.

24. To brood is to focus, warm and hold contained. To ponder has the same effect. We see that brooding is also a magnetic process. The warming of the germ of the idea in mental matter is magnetic in relation to the thought material necessary for clothing the implanted idea with the proper mental material.

24. Ấp ủ là tập trung, sưởi ấm và giữ chứa bên trong. Suy ngẫm cũng có cùng tác dụng. Chúng ta thấy rằng sự ấp ủ cũng là một tiến trình từ tính. Sự sưởi ấm mầm của ý tưởng trong vật chất trí tuệ có tính từ tính đối với chất liệu tư tưởng cần thiết để khoác cho ý tưởng được cấy vào chất liệu trí tuệ thích hợp.

25. It is important to stay with the implanted idea, otherwise we emerge with thoughts which are “half baked”—we see the analogy to the brooding process. Pondering and brooding are not rapid processes. So patience is required.

25. Điều quan trọng là phải gắn bó với ý tưởng được cấy vào, nếu không chúng ta sẽ xuất hiện với những tư tưởng “nửa sống nửa chín”—chúng ta thấy sự tương tự với tiến trình ấp ủ. Suy ngẫm và ấp ủ không phải là những tiến trình nhanh. Vì vậy cần có sự kiên nhẫn.

He pictures to himself the contour of the thought form, clothing it with colour, and painting in its details.

Y hình dung cho chính mình đường nét của Hình tư tưởng, khoác cho nó màu sắc, và vẽ vào các chi tiết của nó.

26. VSK suggests: “This may include a hint about why colour is one of the most obscure and potent of the keys, due to the fact that we live ‘in colour’, and the visualization (mayavirupa-making) process involves fleshing out an idea in colour. It is the final step in magic making; the precipitation of the form.”

26. VSK gợi ý: “Điều này có thể bao hàm một gợi ý về lý do tại sao màu sắc là một trong những chìa khóa mơ hồ nhất mà cũng mạnh mẽ nhất, do sự kiện rằng chúng ta sống ‘trong màu sắc’, và tiến trình hình dung (tạo mayavirupa) liên quan đến việc làm cho một ý tưởng có thân xác bằng màu sắc. Đó là bước cuối cùng trong việc tạo tác huyền thuật; sự ngưng tụ của hình tướng.”

27. Little devas help with the painting as DK has suggested in other contexts.

27. Các thiên thần nhỏ giúp việc vẽ tô như Chân sư DK đã gợi ý trong những ngữ cảnh khác.

Under group 2 work the fairies of plant life, the elves who build and paint the flowers, the radiant little beings who inhabit the woods and the fields, the elementals who work with the fruits, vegetables, and with all that leads to the covering of the earth's surface with verdure. (TCF 913)

Trong công việc nhóm 2, các tiên nữ của sự sống thực vật, các tinh linh xây dựng và tô vẽ các bông hoa, những hữu thể nhỏ bé rạng ngời cư ngụ trong rừng và ngoài đồng, các hành khí làm việc với trái cây, rau cỏ, và với tất cả những gì dẫn đến việc phủ xanh bề mặt trái đất. (TCF 913)

28. We can see introduced into the thoughtform construction a visual/spatial dimension.

28. Chúng ta có thể thấy một chiều kích thị giác/không gian được đưa vào việc kiến tạo Hình tư tưởngn.

29. The visualizing mind must be held very steady during this process, otherwise purposeful construction cannot proceed.

29. Trí tuệ hình dung phải được giữ thật vững trong suốt tiến trình này, nếu không sự kiến tạo có mục đích sẽ không thể tiếp tục.

30. We can see, therefore, that the imagination has entered. This is process different from brooding or pondering upon the implanted idea.

30. Do đó, chúng ta có thể thấy rằng Sự tưởng tượng đã đi vào. Đây là một tiến trình khác với việc ấp ủ hay suy ngẫm về ý tưởng được cấy vào.

Hence will be seen the great value of a true imagination, and its ordered scientific use.

Vì thế sẽ thấy được giá trị lớn lao của một Sự tưởng tượng chân chính, và việc sử dụng nó một cách có trật tự và khoa học.

31. We are moving into a fifth ray/seventh ray age, in which the fourth ray of imagination will be prominently expressive. Can we not see that the scientific and ordered use of the imagination will certainly grow? Due to emerging ray combinations, we are entering highly creative age.

31. Chúng ta đang tiến vào một thời đại cung năm/cung bảy, trong đó cung bốn của sự tưởng tượng sẽ biểu lộ một cách nổi bật. Chẳng phải chúng ta có thể thấy rằng việc sử dụng sự tưởng tượng một cách khoa học và có trật tự chắc chắn sẽ phát triển hay sao? Do các kết hợp cung đang xuất hiện, chúng ta đang bước vào một thời đại có tính sáng tạo cao.

Imagination is kama-manasic in origin, being neither pure desire nor pure mind,

Sự tưởng tượng có nguồn gốc trí-cảm, không phải là dục vọng thuần túy cũng không phải là trí tuệ thuần túy,

32. Since imagination originates on the second subplane of the astral plane, can we identify this plane with kama-manas or (shall we say) especially with the kama aspect of kama-manas?

32. Vì sự tưởng tượng phát sinh trên cõi phụ thứ hai của cõi cảm dục, liệu chúng ta có thể đồng nhất cõi này với kama-manas hay không, hoặc (chúng ta hãy nói rằng) đặc biệt với phương diện kama của kama-manas?

33. We can think of the creative imagination as image plus purpose mentally applied to the image. The goal-creating aspect of the mind is at work and directs and regulates that which imagination produces.

33. Chúng ta có thể nghĩ về sự tưởng tượng sáng tạo như là hình ảnh cộng với mục đích được áp dụng bằng trí tuệ lên hình ảnh ấy. Phương diện tạo mục tiêu của trí tuệ đang hoạt động và định hướng cũng như điều chỉnh điều mà sự tưởng tượng tạo ra.

34. There is probably also an expression of the imagination which displays much less mental content. This expression can be associated with memory, as when we spontaneously imagine that which has happened, or when we allow fantasy to flow freely without any mental regulation. In psychology, this latter expression is called “active imagination”.

34. Có lẽ cũng có một biểu hiện của sự tưởng tượng cho thấy nội dung trí tuệ ít hơn nhiều. Biểu hiện này có thể được liên kết với ký ức, như khi chúng ta tự phát tưởng tượng điều đã xảy ra, hoặc khi chúng ta để cho huyễn tưởng tuôn chảy tự do mà không có bất kỳ sự điều chỉnh trí tuệ nào. Trong tâm lý học, biểu hiện sau này được gọi là “sự tưởng tượng chủ động”.

35. We remember that the mind is the organ of the will within the personality and possesses a regulatory faculty.

35. Chúng ta nhớ rằng trí tuệ là cơ quan của ý chí bên trong phàm ngã và sở hữu một năng lực điều chỉnh.

and is a purely human product,

và là một sản phẩm thuần túy của con người,

36. We could say that kama-manas is “a purely human product” but, then, both Venus and Sirius can be associated with kama-manas in a larger sense.

36. Chúng ta có thể nói rằng kama-manas là “một sản phẩm thuần túy của con người”, nhưng khi đó, cả Sao Kim lẫn Sirius đều có thể được liên kết với kama-manas theo một ý nghĩa rộng lớn hơn.

37. If we think of imagination as a purely human product then, presumably, we are referring to imagination as the human being understand that faculty. One would suspect that the power to purposefully create images is the possession of all the great Creators as well as of human beings. God’s Creation is a reflection of this power.

37. Nếu chúng ta nghĩ về sự tưởng tượng như một sản phẩm thuần túy của con người, thì hẳn là chúng ta đang nói đến sự tưởng tượng như con người thấu hiểu năng lực ấy. Người ta hẳn sẽ nghi ngờ rằng quyền năng tạo ra các hình ảnh một cách có chủ đích là sở hữu của mọi Đấng Sáng Tạo vĩ đại cũng như của con người. Sự Sáng Tạo của Thượng đế là một phản ánh của quyền năng này.

being superseded by the intuition in perfected men, and in the higher Intelligences of Nature.

được trực giác thay thế nơi những người đã hoàn thiện, và nơi các Trí Tuệ cao hơn của Thiên Nhiên.

38. The intuition connects the consciousness directly with the archetype to be materialized. Yet the picture-forming power must in some way be present or the formation would not occur in the lower worlds.

38. Trực giác nối kết tâm thức trực tiếp với nguyên mẫu sẽ được hiện hình. Tuy nhiên, quyền năng tạo hình ảnh hẳn phải hiện diện theo một cách nào đó, nếu không thì sự hình thành sẽ không xảy ra trong các cõi thấp.

39. The ideas which the intuition touches are, we usually say, “formless” (at least when compared to the form in the lower worlds), yet from a higher perspective, they have cosmic etheric form, analogous to the much more tangible forms to be found on the systemic etheric subplanes.

39. Những ý tưởng mà trực giác chạm tới, như chúng ta thường nói, là “vô tướng” (ít nhất là khi so với hình tướng trong các cõi thấp), tuy nhiên từ một viễn tượng cao hơn, chúng có hình tướng dĩ thái vũ trụ, tương tự với những hình tướng hữu hình hơn nhiều được tìm thấy trên các cõi phụ dĩ thái của hệ thốngs.

40. It must be the case that the intuition can be wielded in such a manner as to produce the precipitation of the lower images which correspond to the archetypal forms of ideas which intuition accesses. God can dream.

40. Hẳn phải là trường hợp trực giác có thể được vận dụng theo cách tạo ra sự ngưng tụ của các hình ảnh thấp tương ứng với các hình tướng nguyên mẫu của những ý tưởng mà trực giác tiếp cận. Thượng đế có thể mơ.

41. Normal psychism is close to imagination. Higher psychism engages the intuition. Intuition is a higher psychic power whether for man of a god.

41. Thông linh bình thường gần với sự tưởng tượng. Thông linh cao hơn vận dụng trực giác. Trực giác là một quyền năng thông linh cao hơn, dù đối với con người hay một vị thần.

When his will, or the initial impulse is sufficiently strong, and when the imagination, or power of visualisation, is adequately vivid, the second part of the gestation period is entered upon, and the vitalisation by desire is begun.

Khi ý chí của y, hay xung lực ban đầu, đủ mạnh, và khi sự tưởng tượng, hay quyền năng hình dung, đủ sống động, thì phần thứ hai của thời kỳ thai nghén được bắt đầu, và sự tiếp sinh lực bằng dục vọng được khởi sự.

42. We have been speaking only of the first part of the gestation process. In includes:

42. Chúng ta mới chỉ nói về phần đầu của tiến trình thai nghén. Nó bao gồm:

a. The implantation of the idea

a. Sự cấy ý tưởng

b. The brooding and pondering on the germ idea and gathering of mental substance around that germ

b. Sự ấp ủ và suy ngẫm về ý tưởng mầm, cùng việc tập hợp chất liệu trí tuệ quanh mầm ấy

c. The kama-manasic use of the imagination to visualize the form which the implanted idea is to take

c. Việc sử dụng sự tưởng tượng theo lối trí-cảm để hình dung hình tướng mà ý tưởng đã được cấy sẽ mang lấy

43. Students of Psychosynthesis will begin to recognize something very close to Roberto Assagioli’s Act of Will. He was, as we know, a deep student of the Tibetan.

43. Các môn sinh của Tâm Tổng Hợp sẽ bắt đầu nhận ra điều gì đó rất gần với Hành Động của Ý Chí của Roberto Assagioli. Như chúng ta biết, ông là một môn sinh sâu sắc của Chân sư Tây Tạng.

The interplay of mental impulse and desire produce what might be called a pulsation in the organising form of the idea, and it becomes alive.

Sự tương tác giữa xung lực trí tuệ và dục vọng tạo ra điều có thể được gọi là một nhịp đập trong hình tướng tổ chức của ý tưởng, và nó trở nên sống động.

44. This is an important stage. We have moved—

44. Đây là một giai đoạn quan trọng. Chúng ta đã chuyển—

a. From idea

a. Từ ý tưởng

b. To the implantation of the idea

b. Đến sự cấy ý tưởng

c. To brooding over and pondering on the implanted idea—this is a mental activity

c. Đến việc ấp ủ và suy ngẫm về ý tưởng đã được cấy—đây là một hoạt động trí tuệ

d. To the visualization of the form to be taken by the idea—this is a kama-manasic activity

d. Đến sự hình dung hình tướng mà ý tưởng sẽ mang lấy—đây là một hoạt động trí-cảm

e. To vitalization of the implanted visualized idea. It becomes alive.

e. Đến sự tiếp sinh lực của ý tưởng đã được cấy và hình dung. Nó trở nên sống động.

45. As we will see below, although kama-manas is involved and although desire impulse is applied to vivify the germ idea, this idea is still to be found on the lower mental plane and has not yet descended to the astral plane.

45. Như chúng ta sẽ thấy dưới đây, mặc dù kama-manas có liên quan và mặc dù xung lực dục vọng được áp dụng để làm sống động ý tưởng mầm, ý tưởng này vẫn còn được tìm thấy trên cõi hạ trí và chưa hề giáng xuống cõi cảm dục.

46. Note how the interplay between mind and desire lead to vivification. The implanted, visualized idea becomes vibrant.

46. Hãy lưu ý cách sự tương tác giữa trí tuệ và dục vọng dẫn đến sự làm sống động. Ý tưởng đã được cấy và hình dung trở nên rung động.

47. From the astrological angle, mind is Mercury, kama-manas is Venus and desire is Mars—thus bringing into focus three closely related planet commonly associated with each other.

47. Xét từ góc độ chiêm tinh, trí tuệ là Sao Thủy, kama-manas là Sao Kim và dục vọng là Sao Hỏa—do đó làm nổi bật ba hành tinh có liên hệ mật thiết, thường được gắn với nhau.

It is yet but nebulous and its tenuosity is great, but it shows signs of organisation and the outline of its form.

Nó vẫn còn mơ hồ và độ mảnh nhẹ của nó rất lớn, nhưng nó cho thấy những dấu hiệu của sự tổ chức và đường nét của hình tướng nó.

48. The process of the creation of planets and stars—from the nebular stage to a stage of greater formation—is analogous.

48. Tiến trình tạo ra các hành tinh và các ngôi sao—từ giai đoạn tinh vân đến một giai đoạn thành hình lớn hơn—là tương tự.

49. We see that with regard to form, there is no full formal articulation at the outset of the creative process.

49. Chúng ta thấy rằng xét về hình tướng, không có sự khớp nối hình thức đầy đủ nào ngay lúc khởi đầu của tiến trình sáng tạo.

Students must remember that this entire process is being carried on now during this stage which we are considering from within the brain.

Các môn sinh phải nhớ rằng toàn bộ tiến trình này hiện đang được tiến hành trong giai đoạn mà chúng ta đang xem xét từ bên trong bộ não.

50. The physical brain is definitely involved in this creative process. We remember that the process began as the Ego impressed the physical brain with its idea followed by the establishing of attuned rapport between the Ego and the physical brain.

50. Bộ não hồng trần chắc chắn có liên quan trong tiến trình sáng tạo này. Chúng ta nhớ rằng tiến trình bắt đầu khi Chân ngã gây ấn tượng lên bộ não hồng trần bằng ý tưởng của mình, tiếp theo là việc thiết lập sự giao cảm chỉnh hợp giữa Chân ngã và bộ não hồng trần.

There is thus a definite correspondence to the work of the nine Sephiroth:

Do đó có một sự tương ứng rõ rệt với công việc của chín Sephiroth:

51. The final or 10th Sephira is Malkuth and represents the physical brain, per se, and the Earth.

51. Sephira cuối cùng hay thứ 10th là Malkuth và tượng trưng cho chính bộ não hồng trần, và Trái Đất.

The initial three correspond to the egoic impulse with which we have earlier dealt.

Ba Sephiroth đầu tiên tương ứng với xung lực chân ngã mà chúng ta đã bàn đến trước đây.

52. DK is linking the configuration of the Tree of Life to the creative process.

52. Chân sư DK đang nối kết cấu hình của Cây Sự Sống với tiến trình sáng tạo.

53. He seems to be saying that Kether, Chochma and Binah relate to the egoic impulse, which apparently is threefold.

53. Ngài dường như đang nói rằng Kether, Chochma và Binah liên hệ với xung lực chân ngã, vốn rõ ràng là tam phân.

54. The Ego is thus represented by the transcendent Kabalistic Triad.

54. Do đó Chân ngã được biểu thị bởi Tam nguyên Kabbalah siêu việt.

The secondary group of Sephiroth find their analogy in the work pursued in the stage we are now dealing with, or the impulse of mind-desire, emanating consciously from man's brain.

Nhóm Sephiroth thứ hai tìm thấy sự tương tự của chúng trong công việc được theo đuổi ở giai đoạn mà hiện nay chúng ta đang bàn đến, hay xung lực của trí tuệ-dục vọng, phát ra một cách hữu thức từ bộ não của con người.

55. The secondary group of Sephiroth is involved with the process of the formulation of the germ idea by clothing it in mental and astral matter. This process is represented by the constructive interplay of:

55. Nhóm Sephiroth thứ hai có liên quan đến tiến trình định hình ý tưởng mầm bằng cách khoác cho nó vật chất trí tuệ và vật chất cảm dục. Tiến trình này được biểu thị bởi sự tương tác kiến tạo của:

a. Mind

a. Trí tuệ

b. Kama-manas

b. Kama-manas

c. Desire

c. Dục vọng

56. We are dealing with the manner in which these three are registered and expressed within the physical brain, but we have not come to that aspect of the Tree of Life which, per se, represents the physical brain.

56. Chúng ta đang bàn đến cách thức ba yếu tố này được ghi nhận và biểu lộ trong bộ não hồng trần, nhưng chúng ta vẫn chưa đi đến phương diện của Cây Sự Sống vốn tự nó tượng trưng cho bộ não hồng trần.

57. The three Sephiroth involved in this clothing process are Chesed (Mercy—Jupiter), Geburah (Severity—Mars) and Tiphereth (Harmony—Sun).

57. Ba Sephiroth liên quan trong tiến trình khoác áo này là Chesed (Mercy—Sao Mộc), Geburah (Severity—Sao Hỏa) và Tiphereth (Harmony—Mặt Trời).

The work of the final three is accomplished when the thought form, being clothed in mental and astral matter, passes into objectivity on the physical plane. [Page 972]

Công việc của ba Sephiroth cuối cùng được hoàn tất khi hình tư tưởng, đã được khoác vật chất trí tuệ và cảm dục, đi vào tính khách quan trên cõi hồng trần. [Page 972]

58. Here we have Netzach (Victory—Venus), Hod (Splendor—Mercury) and Yesod (Formation—Moon).

58. Ở đây chúng ta có Netzach (Victory—Sao Kim), Hod (Splendor—Sao Thủy) và Yesod (Formation—Mặt Trăng).

59. The analogies to the Tree of Life are found in The Secret Doctrine and Master DK, Who is obviously schooled in that tradition, continues them here.

59. Những sự tương tự với Cây Sự Sống được tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm và Chân sư DK, Đấng hiển nhiên được đào luyện trong truyền thống ấy, tiếp tục chúng ở đây.

60. The Tree of Life is really a magical system and, therefore, has an important place in this type of discussion on thoughtform precipitation.

60. Cây Sự Sống thực sự là một hệ thống huyền thuật và vì vậy có một vị trí quan trọng trong loại thảo luận này về sự ngưng tụ của hình tư tưởng.

A later stage in the gestation period is pursued when the thought form, being clothed in mental matter, and having become vitalised by desire, takes to itself a layer of substance of astral matter, and is consequently enabled to function on the astral plane as well as the mental. Here its growth is rapid.

Một giai đoạn sau của thời kỳ thai nghén được tiếp tục khi hình tư tưởng, đã được khoác vật chất trí tuệ, và đã được tiếp sinh lực bởi dục vọng, khoác thêm cho chính nó một lớp chất liệu của vật chất cảm dục, và do đó được làm cho có khả năng hoạt động trên cõi cảm dục cũng như cõi trí. Ở đây sự tăng trưởng của nó diễn ra nhanh chóng.

61. Even though we have discussed the influence of imagination and of desire upon the developing thoughtform (both of which have roots on the astral plane), we see that the stage of gestation in which the thoughtform actually descends to the astral plane is only now reached.

61. Mặc dù chúng ta đã bàn đến ảnh hưởng của sự tưởng tượng và của dục vọng lên hình tư tưởng đang phát triển (cả hai đều có gốc rễ trên cõi cảm dục), chúng ta thấy rằng giai đoạn thai nghén trong đó hình tư tưởng thực sự giáng xuống cõi cảm dục chỉ đến lúc này mới đạt tới.

62. What do we have for a sequence?

62. Chúng ta có một trình tự như thế nào?

a. The egoic impulse

a. Xung lực chân ngã

b. The implantation of the egoic impulse in physical brain as a germ idea. Obviously, the lower mind must also be involved.

b. Sự cấy xung lực chân ngã vào bộ não hồng trần như một ý tưởng mầm. Hiển nhiên, hạ trí cũng phải có liên quan.

c. The registration of mental, kama-manasic and desire energies in the physical brain, the processes of which always remain active in the procedure we are discussing

c. Sự ghi nhận các năng lượng trí tuệ, trí-cảm và dục vọng trong bộ não hồng trần, những tiến trình của chúng luôn luôn vẫn hoạt động trong thủ tục mà chúng ta đang bàn đến

d. The brooding and gathering—a mental activity

d. Sự ấp ủ và tập hợp—một hoạt động trí tuệ

e. The visualization—a kama-manasic activity

e. Sự hình dung—một hoạt động trí-cảm

f. The vitalization involving desire

f. Sự tiếp sinh lực có liên quan đến dục vọng

g. YET, the thoughtform has not yet really descended onto the astral plane

g. TUY NHIÊN, hình tư tưởng vẫn chưa thực sự giáng xuống cõi cảm dục

h. Now we have that descent, and with it a very rapid growth of the thoughtform. The second major stage of the gestation process has been reached.

h. Giờ đây chúng ta có sự giáng xuống đó, và cùng với nó là sự tăng trưởng rất nhanh của hình tư tưởng. Giai đoạn lớn thứ hai của tiến trình thai nghén đã đạt tới.

63. If we look carefully at the process we will see several stages of the gestation process some of them major and some minor. Movement from plane to plane are major stages.

63. Nếu chúng ta nhìn kỹ vào tiến trình, chúng ta sẽ thấy nhiều giai đoạn của tiến trình thai nghén, một số là lớn và một số là nhỏ. Những chuyển động từ cõi này sang cõi khác là những giai đoạn lớn.

64. Birth, when it finally occurs, is upon the dense physical plane.

64. Sự sinh ra, khi cuối cùng xảy ra, là trên cõi hồng trần đậm đặc.

It should be carefully borne in mind that the process of building in mental matter proceeds simultaneously, and that the development is now twofold.

Cần ghi nhớ cẩn thận rằng tiến trình kiến tạo trong vật chất trí tuệ diễn ra đồng thời, và sự phát triển hiện nay là nhị phân.

65. We see that the process is not strictly sequential but overlapping. When the second major stage of the gestation process begins the first stage continues in its development.

65. Chúng ta thấy rằng tiến trình không hoàn toàn tuần tự mà chồng lấn lên nhau. Khi giai đoạn lớn thứ hai của tiến trình thai nghén bắt đầu, giai đoạn thứ nhất vẫn tiếp tục trong sự phát triển của nó.

66. This overlapping process is so much typical of nature. We should get used to its presence.

66. Tiến trình chồng lấn này rất điển hình cho bản chất. Chúng ta nên quen với sự hiện diện của nó.

Here the conscious builder must be careful to hold the balance, and not to let imagination unduly assume too large proportions.

Ở đây đấng kiến tạo hữu thức phải cẩn thận giữ thế quân bình, và không để sự tưởng tượng phình lớn quá mức một cách không thích đáng.

67. We are on the astral plane and the sign of equilibrium, Libra, must emerge in strength, helping the builder to “hold the balance”. The dynamic is described by Saturn in Libra.

67. Chúng ta đang ở trên cõi cảm dục và dấu hiệu của sự quân bình, Thiên Bình, phải xuất hiện mạnh mẽ, giúp đấng kiến tạo “giữ thế quân bình”. Động lực này được mô tả bởi Sao Thổ trong Thiên Bình.

68. The astral plane is, in its own right, the plane whereon the dual forces may be found. Again Libra is required for equilibrizing.

68. Cõi cảm dục, theo đúng bản chất riêng của nó, là cõi nơi các mãnh lực nhị nguyên có thể được tìm thấy. Một lần nữa Thiên Bình được đòi hỏi để tạo quân bình.

69. Saturn regulates the scope of the imagination. Only those who are intelligent and mentally focussed can work in this way, but, then, the true white magician is ever so.

69. Sao Thổ điều chỉnh phạm vi của sự tưởng tượng. Chỉ những ai thông minh và tập trung trí tuệ mới có thể làm việc theo cách này, nhưng nhà huyền thuật chánh đạo chân chính thì luôn luôn như vậy.

70. The task, then, is to ensure that the imagination does not “run away with” the creator. An appropriate symbol would be the ‘run-away horse’

70. Vậy thì nhiệm vụ là bảo đảm rằng sự tưởng tượng không “cuốn phăng” đấng sáng tạo đi. Một biểu tượng thích hợp sẽ là “con ngựa bất kham”

The manasic element and the kamic element must be justly proportioned, or else will be seen that too common manifestation, an idea wrongly conceived and nurtured, and therefore impossible of playing its just part in the evolutionary plan, being but a grotesque distortion.

Yếu tố manas và yếu tố kamic phải được cân xứng một cách công bằng, nếu không sẽ thấy xuất hiện biểu hiện quá đỗi thông thường ấy, một ý tưởng được quan niệm sai lầm và được nuôi dưỡng, và do đó không thể đảm đương phần việc chính đáng của nó trong Thiên Cơ tiến hoá, mà chỉ là một sự bóp méo kỳ quái.

71. DK is warning us against the distortion which arises when the manasic and kamic elements are not kept justly proportioned.

71. Chân sư DK đang cảnh báo chúng ta chống lại sự bóp méo phát sinh khi các yếu tố manas và kamic không được giữ ở thế cân xứng công bằng.

72. The word “just” is important as, again, it suggest Libra.

72. Từ “công bằng” là quan trọng vì, một lần nữa, nó gợi ý Thiên Bình.

73. The word “grotesque” is strong, but indicates what may eventuate if the balance is not held. Unless the balance is held, monstrosities can be created.

73. Từ “kỳ quái” rất mạnh, nhưng cho thấy điều gì có thể xảy ra nếu thế quân bình không được giữ. Trừ phi thế quân bình được giữ, những quái dạng có thể được tạo ra.

74. If there is too much mind and not enough of the kamic element, the implanted idea, good as it may be, may lack appeal.

74. Nếu có quá nhiều trí tuệ và không đủ yếu tố kamic, thì ý tưởng đã được cấy, dù tốt đến đâu, cũng có thể thiếu sức hấp dẫn.

75. If there is too much imagination and the manasic element weak, the implanted idea may have an appeal it does not deserve or may appeal only to those who are unbalanced in their nature. In any case, the form will not fit justly into the Plan which is a beautiful and well-proportioned Plan.

75. Nếu có quá nhiều sự tưởng tượng và yếu tố manas yếu, thì ý tưởng đã được cấy có thể có một sức hấp dẫn mà nó không đáng có, hoặc chỉ hấp dẫn những người mất quân bình trong bản chất của họ. Trong mọi trường hợp, hình tướng sẽ không khớp một cách công bằng vào Thiên Cơ, vốn là một Thiên Cơ đẹp đẽ và cân xứng.

76. We have all witnessed emerging thoughtforms which are simply missing something or distorted. We are repelled by such forms or simply not interested (i.e., attracted to them) and either do not want them to come to birth or are indifferent.

76. Tất cả chúng ta đều đã chứng kiến những hình tư tưởng đang xuất hiện mà đơn giản là thiếu một điều gì đó hoặc bị bóp méo. Chúng ta bị đẩy lùi bởi những hình tướng như thế hoặc đơn giản là không quan tâm (tức là không bị chúng thu hút), và hoặc không muốn chúng ra đời hoặc dửng dưng với chúng.

The idea now is reaching a critical stage, and should be ready for the assumption of physical matter and to take to itself an etheric form.

Ý tưởng nay đang đạt đến một giai đoạn khủng hoảng, và phải sẵn sàng để mang lấy vật chất hồng trần và khoác cho mình một hình thể dĩ thái.

77. This is really the third major phase of the gestation process. As we have seen, each phase of the gestation process has had subdivisions, especially the mental phase.

77. Đây thực sự là giai đoạn lớn thứ ba của tiến trình thai nghén. Như chúng ta đã thấy, mỗi giai đoạn của tiến trình thai nghén đều có những phân đoạn nhỏ, đặc biệt là giai đoạn trí tuệ.

78. Notice the word “critical”, with the implication that something could go drastically wrong at this point. We are entering a stage of crisis in the process of precipitating a thoughtform.

78. Hãy chú ý từ “khủng hoảng”, với hàm ý rằng ở điểm này một điều gì đó có thể đi sai nghiêm trọng. Chúng ta đang bước vào một giai đoạn khủng hoảng trong tiến trình ngưng tụ một hình tư tưởng.

When on etheric levels, it receives that final impulse which will lead to what may be called its "actuating,"

Khi ở trên các cấp dĩ thái, nó nhận được xung lực cuối cùng ấy sẽ dẫn đến điều có thể được gọi là “sự tác động hoá” của nó,

79. We noted that the implanted idea has received an impulse on each level. Here we are dealing with the “actuating” or “actualization” of the implanted idea.

79. Chúng ta đã lưu ý rằng ý tưởng được cấy đã nhận một xung lực trên mỗi cấp. Ở đây chúng ta đang bàn đến “sự tác động hoá” hay “sự hiện thực hoá” của ý tưởng đã được cấy.

80. Will the idea actually be born onto the dense physical plane? This is the issue.

80. Liệu ý tưởng có thực sự được sinh ra trên cõi hồng trần đậm đặc hay không? Đó là vấn đề.

or its reception of that motivating impulse which will lead to its dissociation from its originator,

hay sự tiếp nhận xung lực thúc đẩy ấy, xung lực sẽ dẫn đến sự tách rời của nó khỏi người khởi tạo nó,

81. DK has defined “actuation” as the reception of that motivating impulse which will lead to its [the thoughtform’s] dissociation from its originator”.

81. Chân sư DK đã định nghĩa “sự tác động hoá” là sự tiếp nhận xung lực thúc đẩy ấy, xung lực sẽ dẫn đến “sự tách rời của nó [của hình tư tưởng] khỏi người khởi tạo nó”.

82. This is one of the key impulses in the creative process. The thoughtform, in order to be birthed, must become dissociated from its originator, just as the child become dissociated from the mother at birth. We can develop the analogy and understand the unhealthy or fatal implications if dissociation is not achieved.

82. Đây là một trong những xung lực then chốt trong tiến trình sáng tạo. Hình tư tưởng, để được sinh ra, phải trở nên tách rời khỏi người khởi tạo nó, cũng như đứa trẻ trở nên tách rời khỏi người mẹ khi sinh ra. Chúng ta có thể phát triển phép tương tự này và hiểu những hàm ý không lành mạnh hoặc chí tử nếu sự tách rời không đạt được.

and the sending out [i.e., onto the dense physical plane] to assume

và được phóng ra ngoài [i.e., onto the dense physical plane] để mang lấy

1. A dense form.

1. Một hình thể đậm đặc.

2. A separate existence.

2. Một sự tồn tại riêng biệt.

83. The planet Saturn is at work. Saturn, the planet of density. Saturn the planet of separation.

83. Hành tinh Sao Thổ đang hoạt động. Sao Thổ, hành tinh của sự đậm đặc. Sao Thổ, hành tinh của sự phân ly.

84. The sending forth is impulsed from the etheric plane.

84. Sự phóng ra được thúc đẩy từ cõi dĩ thái.

85. Those who are familiar with A Treatise on White Magic realize how thoroughly Master DK developed these ideas in that later book.

85. Những ai quen thuộc với Luận về Chánh Thuật nhận ra Chân sư DK đã triển khai những ý tưởng này một cách thấu đáo như thế nào trong cuốn sách ấy.

It should be remembered that the thought form has now passed from the mental plane, taken to itself an astral sheath, and likewise is gathering to itself a body of etheric matter.

Cần nhớ rằng hình tư tưởng nay đã đi ra khỏi cõi trí, đã khoác cho mình một vỏ bọc cảm dục, và tương tự cũng đang tập hợp cho mình một thể bằng vật chất dĩ thái.

86. DK continues to summarize the process so that we may be clear.

86. Chân sư DK tiếp tục tóm lược tiến trình để chúng ta có thể rõ ràng.

87. And all these processes continue to overlap.

87. Và tất cả các tiến trình này tiếp tục chồng lấn lên nhau.

When it has reached this stage its vitalisation is proceeding apace, and the hour of its separated existence is drawing near.

Khi nó đã đạt đến giai đoạn này, sự tiếp sinh lực của nó đang tiến hành nhanh chóng, và giờ phút tồn tại tách biệt của nó đang đến gần.

88. VSK suggests: “This echoes back to the opening statement in this section about the forming of the mayavirupa?” [Top of page 960]

88. VSK gợi ý: “Điều này vọng lại phát biểu mở đầu trong phần này về sự hình thành của mayavirupa chăng?” [Top of page 960]

89. One type of vitalization, we remember, depends upon the astral plane and the activation of the factor of desire. There seems to be an etheric component to vitalization and this would, of course, make sense.

89. Một loại tiếp sinh lực, như chúng ta nhớ, tùy thuộc vào cõi cảm dục và sự hoạt hóa của yếu tố dục vọng. Dường như có một thành phần dĩ thái trong sự tiếp sinh lực và điều này, dĩ nhiên, là hợp lý.

This vitalisation is consciously carried out by the man who—according to the original intent or initial impulse—directs to the thought form energy of some kind.

Sự tiếp sinh lực này được con người thực hiện một cách hữu thức—theo ý định nguyên thủy hay xung lực ban đầu—bằng cách hướng một loại năng lượng nào đó đến hình tư tưởng.

90. We see that the vitalization of which DK is speaking is not an unconscious process but, rather, is a deliberate process carried out by the man focussed in his brain consciousness.

90. Chúng ta thấy rằng sự tiếp sinh lực mà Chân sư DK đang nói đến không phải là một tiến trình vô thức mà đúng hơn là một tiến trình có chủ ý do con người tập trung trong tâm thức bộ não của mình thực hiện.

91. Do we know how to vitalize a thoughtform? The conscious use of the desire body and the breath are certainly involved as will be the imagination.

91. Chúng ta có biết cách tiếp sinh lực cho một hình tư tưởng không? Việc sử dụng hữu thức thể dục vọng và hơi thở chắc chắn có liên quan, cũng như sự tưởng tượng.

This energy is directed from one or other of the three higher centres, according to the quality of the embodied idea, [Page 973] and will be seen pouring towards the rapidly objectivising idea from the particular centre involved.

Năng lượng này được hướng ra từ một trong ba trung tâm cao, tùy theo phẩm tính của ý tưởng được nhập thể, [Page 973] và sẽ được thấy đang tuôn về phía ý tưởng đang nhanh chóng khách quan hóa từ trung tâm đặc thù có liên quan.

92. Here we have a most valuable occult hint. It requires that we understand the quality of the thoughtform we are creating and then consciously use one of the three higher chakras (perhaps with the accompanied use of the ajna center) to vitalize that thoughtform or “objectivising idea”.

92. Ở đây chúng ta có một gợi ý huyền bí vô cùng quý giá. Nó đòi hỏi chúng ta phải hiểu phẩm tính của hình tư tưởng mà chúng ta đang tạo ra, rồi sau đó sử dụng một cách hữu thức một trong ba luân xa cao hơn (có lẽ cùng với việc sử dụng trung tâm ajna đi kèm) để tiếp sinh lực cho hình tư tưởng ấy hay “ý tưởng đang khách quan hóa”.

93. We will, therefore, be dealing with thoughts imbued with intelligence, those imbued with love-wisdom and those imbued with will.

93. Do đó, chúng ta sẽ bàn đến những tư tưởng thấm nhuần trí tuệ, những tư tưởng thấm nhuần bác ái – minh triết, và những tư tưởng thấm nhuần ý chí.

94. A most significant method of vitalization has been given.

94. Một phương pháp tiếp sinh lực hết sức quan trọng đã được đưa ra.

95. Obviously, it is the true clairvoyant who sees this vitalization in process.

95. Hiển nhiên, chính nhà thông nhãn chân chính là người thấy sự tiếp sinh lực này trong tiến trình của nó.

We must not forget that we are considering the thought form of the conscious builder.

Chúng ta không được quên rằng chúng ta đang xem xét hình tư tưởng của đấng kiến tạo hữu thức.

96. This means that we are not considering the thoughtforms-building process of the average man.

96. Điều này có nghĩa là chúng ta không đang xem xét tiến trình kiến tạo hình tư tưởng của con người trung bình.

The thought forms of the majority of human beings are energised from no such high source, but find their active impulse emanating from either the solar plexus, or the still lower organs of generation.

Các hình tư tưởng của đa số con người không được tiếp năng lượng từ một nguồn cao như thế, mà tìm thấy xung lực hoạt động của chúng phát ra từ hoặc tùng thái dương, hoặc các cơ quan sinh sản còn thấp hơn nữa.

97. DK is speaking of the normal processes of fantasy—of the wishes, longings and sexual fantasies of the average human being.

97. Chân sư DK đang nói về các tiến trình huyễn tưởng bình thường—về những ước muốn, khát khao và huyễn tưởng tình dục của con người trung bình.

98. It is important to realize that thoughtforms can be energised from any chakric source. We can see why the influence of the lower chakras must be held in check during consciously creative thoughtform-building.

98. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng các hình tư tưởng có thể được tiếp năng lượng từ bất kỳ nguồn luân xa nào. Chúng ta có thể thấy vì sao ảnh hưởng của các luân xa thấp phải được kiềm chế trong việc kiến tạo hình tư tưởng một cách hữu thức và sáng tạo.

It is this constant stream of emotional or sexual energy which is responsible for the chaotic conditions of the present; the balance is not preserved,

Chính dòng năng lượng cảm xúc hay tình dục liên tục này chịu trách nhiệm cho những điều kiện hỗn loạn của hiện tại; thế quân bình không được duy trì,

99. Saturn in Libra does not control.

99. Sao Thổ trong Thiên Bình không kiểm soát.

100. Such is the stage of development of the average human being that the stream is “constant”.

100. Giai đoạn phát triển của con người trung bình là như thế nên dòng chảy này là “liên tục”.

101. The influence of the lower chakras, in this instance, tends towards chaos. The Moon is, in a sense, the “Mother of Chaos” and the lower chakras are, all of them, lunar.

101. Ảnh hưởng của các luân xa thấp, trong trường hợp này, có xu hướng dẫn đến hỗn loạn. Mặt Trăng, theo một nghĩa nào đó, là “Mẹ của Hỗn Loạn”, và các luân xa thấp, tất cả đều là nguyệt tính.

102. Obviously, correct education would assist in the elevation of these energies. In the correctly educated person, the higher centers draw upon the lower, and the influence of the lower centers is regulated. The rational, Apollonian or solar factor subdues the chaotic lunar factor.

102. Hiển nhiên, sự giáo dục đúng đắn sẽ hỗ trợ trong việc nâng cao các năng lượng này. Ở người được giáo dục đúng đắn, các trung tâm cao rút dùng từ các trung tâm thấp, và ảnh hưởng của các trung tâm thấp được điều chỉnh. Yếu tố duy lý, Apollon hay thái dương chế ngự yếu tố nguyệt tính hỗn loạn.

the interaction between the two,

sự tương tác giữa hai yếu tố ấy,

103. We are speaking of the interaction between the sacral and solar plexus centers.

103. Chúng ta đang nói về sự tương tác giữa trung tâm xương cùng và trung tâm tùng thái dương.

and the myriads of thought forms consequently produced of a low order and vibration are producing a condition which is going to require all the efforts of mental workers eventually to negate, offset, and transmute.

và vô số hình tư tưởng do đó được tạo ra thuộc loại và rung động thấp đang tạo ra một tình trạng mà rốt cuộc sẽ đòi hỏi mọi nỗ lực của những người hoạt động trí tuệ để phủ định, hóa giải và chuyển hoá.

104. DK is speaking of a task which lies ahead for all of us. In fact, we may be in the midst of it right now. The sacral and solar plexus centers of mankind are enflamed.

104. Chân sư DK đang nói về một nhiệm vụ nằm phía trước tất cả chúng ta. Thực ra, có thể ngay lúc này chúng ta đang ở giữa nhiệm vụ ấy. Các trung tâm xương cùng và tùng thái dương của nhân loại đang bốc cháy.

105. DK has spoken of a great miasma which vampirizes humanity. To this vampiristic thoughtform average human beings are contributing constantly. In truth the conscious workers of the world have much to dispel.

105. Chân sư DK đã nói về một đại chướng khí đang hút sinh lực của nhân loại. Vào hình tư tưởng có tính hút sinh lực này, những con người trung bình đang liên tục góp phần. Thật vậy, những người hoạt động hữu thức của thế giới có rất nhiều điều phải làm tiêu tan.

A gigantic thought form hovers over the entire human family, built by men everywhere during the ages, energised by the insane desires and evil inclinations of all that is worst in man's nature, and kept alive by the promptings of his lower desires. (TCF 948)

Một hình tư tưởng khổng lồ lơ lửng trên toàn thể gia đình nhân loại, được những người nam và nữ ở khắp nơi xây dựng qua các thời đại, được tiếp sinh lực bởi những dục vọng điên loạn và những khuynh hướng xấu xa của tất cả những gì tệ hại nhất trong bản chất con người, và được duy trì bởi những sự thúc đẩy của các ham muốn thấp kém của y. (TCF 948)

These forms, which scarce merit the prefix "thought," being largely kamic with an admixture of the lowest grade of mental matter, are responsible for the heavy, slow vibrating or pulsating fog or cloak which envelops the human family, and which produces much of the present evil, crime and mental lethargy.

Những hình thể này, hầu như không đáng mang tiền tố “hình tư tưởng”, vì phần lớn là cảm dục với sự pha trộn của loại vật chất trí tuệ thấp nhất, chịu trách nhiệm cho màn sương hay tấm áo choàng nặng nề, rung động hay dao động chậm chạp bao bọc gia đình nhân loại, và tạo ra phần lớn điều ác, tội phạm và sự trì trệ trí tuệ hiện nay.

106. This is a very repulsive picture. We would probably be horrified if we could see it with clarity.

106. Đây là một bức tranh rất ghê tởm. Có lẽ chúng ta sẽ kinh hoàng nếu có thể thấy nó một cách rõ ràng.

107. We do understand the very material nature of such thoughtforms as they can be composed of admixtures of different types of matter. According to the quality of the subtle matter composing them, so will be their general level of usefulness or deterrence to the Plan.

107. Chúng ta quả thật hiểu bản chất rất vật chất của những hình tư tưởng như thế, vì chúng có thể được cấu thành từ những hỗn hợp của các loại vật chất khác nhau. Tùy theo phẩm tính của chất liệu vi tế cấu tạo nên chúng, mức độ hữu ích tổng quát của chúng hay mức độ cản trở đối với Thiên Cơ cũng sẽ như vậy.

108. Note that these demi-thoughts not only incline to evil but to ignorance by promoting mental lethargy. To the Buddha, ignorance was the great sin.

108. Lưu ý rằng những bán-tư-tưởng này không chỉ nghiêng về điều ác mà còn nghiêng về vô minh, bằng cách thúc đẩy sự trì trệ trí tuệ. Đối với Đức Phật, vô minh là tội lỗi lớn lao.

People are mainly polarised in the astral body, as we know, and the lower centres are the most active; when an atmosphere or environment of thought-forms of a low key

Như chúng ta biết, con người chủ yếu phân cực trong thể cảm dục, và các trung tâm thấp là hoạt động mạnh nhất; khi một bầu khí quyển hay môi trường gồm những hình tư tưởng có chủ âm thấp

109. Notice here the musical reference—“key”.

109. Hãy lưu ý ở đây sự quy chiếu âm nhạc—“chủ âm”.

and vitalised by all the baser forms of astral energy is coupled to this,

và được tiếp sinh lực bởi mọi hình thức thấp hèn hơn của năng lượng cảm dục kết hợp với điều này,

110. Presumably this vitalization may occur from levels of the astral plane with which the human being is to have nothing to do--the sixth and seventh subplanes.

110. Có lẽ sự tiếp sinh lực này có thể xảy ra từ những cấp độ của cõi cảm dục mà con người không nên có bất cứ liên hệ nào—cõi phụ thứ sáu và thứ bảy.

it will become apparent how stupendous is the task of lifting humanity to a clearer, purer and better atmosphere,

thì sẽ trở nên hiển nhiên nhiệm vụ nâng nhân loại lên một bầu khí quyển trong sáng hơn, thanh khiết hơn và tốt đẹp hơn là vĩ đại đến mức nào,

111. We are thinking of the quality of the “air” to be found upon the astral plane. When the term “air” is used, the redeeming quality of buddhic energy (the buddhic plane is the plane of “air”) is suggested.

111. Chúng ta đang nghĩ đến phẩm tính của “không khí” có thể được tìm thấy trên cõi cảm dục. Khi thuật ngữ “không khí” được dùng, phẩm tính cứu chuộc của năng lượng Bồ đề (cõi Bồ đề là cõi của “không khí”) được gợi ý.

112. We live in several kinds of ‘atmospheres’ simultaneously—physical, etheric, astral and lower mental.

112. Chúng ta sống đồng thời trong nhiều loại “bầu khí quyển”—hồng trần, dĩ thái, cảm dục và hạ trí.

113. DK is painting no rosy picture. We live and ‘breathe’ within heavy pollution. Pollution is not only of the physical plane. The etheric, astral and mental miasms are the cause of our physical plane pollution.

113. Chân sư DK không vẽ nên một bức tranh màu hồng nào. Chúng ta sống và “hít thở” trong sự ô nhiễm nặng nề. Ô nhiễm không chỉ thuộc cõi hồng trần. Những khí độc dĩ thái, cảm dục và trí tuệ là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm trên cõi hồng trần của chúng ta.

114. Hercules, the world disciple, must lift. And Hercules in Aquarius must cleanse the mired stables of King Augeus.

114. Hercules, vị đệ tử thế gian, phải nâng lên. Và Hercules trong Bảo Bình phải tẩy sạch những chuồng ngựa lầy lội của Vua Augeus.

and how easy it is for the lower aspects and appetites to flourish and to grow.

và các phương diện thấp kém cùng những thèm muốn dễ dàng phát triển và tăng trưởng biết bao.

115. Humanity lives in a fetid atmosphere promotive of disease on all levels of the personality. We are spared the full realization of this because we cannot yet see with entire clarity on the etheric, astral and lower mental planes.

115. Nhân loại sống trong một bầu khí hôi thối, thúc đẩy bệnh tật trên mọi cấp độ của phàm ngã. Chúng ta được miễn khỏi sự chứng nghiệm trọn vẹn điều này vì chúng ta chưa thể thấy hoàn toàn rõ ràng trên các cõi dĩ thái, cảm dục và hạ trí.

As the vitalisation is pursued and the energy is poured from one or other of the centres into the thought-form,

Khi sự tiếp sinh lực được tiếp tục và năng lượng được tuôn đổ từ một hay một trung tâm khác vào hình tư tưởng,

116. Yes, this is a tremendous occult hint…

116. Đúng vậy, đây là một gợi ý huyền bí học vô cùng lớn lao…

the conscious builder begins to extend this influence in order to send it forth from him to perform its mission,

đấng kiến tạo có ý thức bắt đầu mở rộng ảnh hưởng này để phóng nó ra từ chính mình hầu thực hiện sứ mệnh của nó,

117. The created thoughtform is like the “jiva” sent forth from the Monad on a “mission” into the lower worlds.

117. Hình tư tưởng được tạo ra giống như “jiva” được phóng ra từ chân thần trong một “sứ mệnh” đi vào các cõi thấp.

whatever that may be, to make it occultly "radiant" so that its vibrations will emanate, and make themselves felt, and finally to make it magnetic, so that something [Page 974] in the thought form will call forth response from other thought forms or from the minds it may contact.

dù sứ mệnh ấy là gì đi nữa, để làm cho nó một cách huyền bí trở nên “rạng chiếu” hầu các rung động của nó sẽ phát xạ ra, tự làm cho mình được cảm nhận, và sau cùng làm cho nó có từ tính, để một điều gì đó [Page 974] trong hình tư tưởng sẽ gọi ra sự đáp ứng từ những hình tư tưởng khác hay từ những trí tuệ mà nó có thể tiếp xúc.

118. Let us tabulate the tasks of the conscious builder:

118. Chúng ta hãy lập bảng các nhiệm vụ của đấng kiến tạo có ý thức:

a. The conscious builder extends the influence of the energy coming forth from one of the three higher centers and into the thoughtform’

a. Đấng kiến tạo có ý thức mở rộng ảnh hưởng của năng lượng phát ra từ một trong ba trung tâm cao và đi vào hình tư tưởng.

b. The conscious builder makes the thoughtform occultly “radiant” so that it may impact the environment

b. Đấng kiến tạo có ý thức làm cho hình tư tưởng trở nên “rạng chiếu” một cách huyền bí để nó có thể tác động lên môi trường.

c. The conscious builder renders the thoughtform magnetic and hence attractive.

c. Đấng kiến tạo có ý thức làm cho hình tư tưởng có từ tính và do đó có sức hấp dẫn.

d. So we have empowerment, radiance and magnetism.

d. Như vậy chúng ta có sự trao quyền, sự rạng chiếu và từ tính.

119. Note that thoughtforms are magnetic between themselves. A magnetic thoughtform magnetizes and attracts other thoughtforms.

119. Lưu ý rằng các hình tư tưởng có từ tính đối với nhau. Một hình tư tưởng có từ tính sẽ từ hóa và thu hút những hình tư tưởng khác.

When these three objectives have been reached, the life of the form itself is now so strong that it can pursue its own little life cycle and fulfil its work,

Khi ba mục tiêu này đã đạt được, sự sống của chính hình thể lúc này mạnh đến nỗi nó có thể theo đuổi chu kỳ sống nhỏ bé của riêng nó và hoàn thành công việc của nó,

120. Just as can a human child who has been born…

120. Cũng như một đứa trẻ con người đã được sinh ra có thể làm như vậy…

121. Though the human child does seem to need much more tending than a thoughtform recently released from its originator.

121. Mặc dù đứa trẻ con người dường như cần được chăm nom nhiều hơn một hình tư tưởng vừa mới được giải phóng khỏi đấng khởi tạo của nó.

122. Perhaps, the released thoughtform also needs a degree of tending or supervision after is separation from its creator, its release.

122. Có lẽ hình tư tưởng được giải phóng cũng cần một mức độ chăm nom hay giám sát nào đó sau khi tách khỏi đấng sáng tạo của nó, sau khi được phóng thích.

being only linked to its creator by a tiny thread of radiant substance, which is a correspondence to the sutratma.

chỉ còn được nối với đấng sáng tạo của nó bằng một sợi chỉ nhỏ bé của chất liệu rạng chiếu, vốn là một tương ứng với sutratma.

123. Let us observe closely. Is this thread ever snapped? Ideas live on well after their originator has departed incarnation. Are such ideas still linked to the originator?

123. Chúng ta hãy quan sát kỹ. Sợi dây này có bao giờ bị cắt đứt không? Các ý tưởng vẫn sống rất lâu sau khi đấng khởi tạo của chúng đã rời khỏi lâm phàm. Những ý tưởng như thế có vẫn còn được nối với đấng khởi tạo không?

All forms have such a sutratma.

Mọi hình thể đều có một sutratma như vậy.

124. Sustaining life must flow.

124. Sự sống duy trì phải tuôn chảy.

It links a man's bodies to the inner Identity,

Nó nối các thể của con người với Bản Sắc bên trong,

125. In this instance, that “inner identity”, as far as man is concerned, is his Monad.

125. Trong trường hợp này, “bản sắc bên trong” ấy, xét theo con người, là chân thần của y.

or to that magnetic current which, emanating from the true Identity, the solar Logos, connects the Creator of the solar system with His great thought form by a stream of energy from the central Spiritual Sun to a point in the centre of the physical Sun.

hay với dòng điện từ tính ấy, phát ra từ Bản Sắc chân thực, Thái dương Thượng đế, nối Đấng Sáng Tạo của hệ mặt trời với hình tư tưởng vĩ đại của Ngài bằng một dòng năng lượng từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương đến một điểm ở trung tâm của mặt trời vật lý.

126. More occult hints of real magnitude. The sutratma comes from the monadic nature of any Entity.

126. Những gợi ý huyền bí học khác có tầm vóc thực sự lớn lao. Sutratma phát xuất từ bản chất chân thần của bất kỳ Thực Thể nào.

127. We, as human beings, are thoughtforms of the Solar Logos.

127. Chúng ta, với tư cách những con người, là những hình tư tưởng của Thái dương Thượng đế.

128. The Central Spiritual Sun is the monadic nature of the Solar Logos.

128. Mặt trời Tinh thần Trung Ương là bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế.

129. We note that the Monad of the Solar Logos is connected to His physical nature (the Sun and its system of planets) via a sutratma. We also note that the point of connection is the center of the physical Sun. This tells us much about how the human Monad is connected to the human physical body.

129. Chúng ta lưu ý rằng chân thần của Thái dương Thượng đế được nối với bản chất hồng trần của Ngài (Mặt Trời và hệ hành tinh của nó) qua một sutratma. Chúng ta cũng lưu ý rằng điểm nối kết là trung tâm của mặt trời vật lý. Điều này cho chúng ta biết nhiều về cách chân thần con người được nối với thể xác con người.

As long as the attention of the creator of any thought form, great or small, is turned towards it, that magnetic link persists, the thought form is vitalised, and its work carried on.

Chừng nào sự chú ý của đấng sáng tạo của bất kỳ hình tư tưởng nào, lớn hay nhỏ, còn hướng về nó, thì liên kết từ tính ấy vẫn tồn tại, hình tư tưởng được tiếp sinh lực, và công việc của nó được tiếp tục.

130. Practical experience has shown us that this is true. When we take our eye off the progressive development of our thoughtforms, those thoughtforms fall apart. A supervisor must supervise.

130. Kinh nghiệm thực tiễn đã cho chúng ta thấy điều này là đúng. Khi chúng ta rời mắt khỏi sự phát triển tiến bộ của các hình tư tưởng của mình, những hình tư tưởng ấy tan rã. Một người giám sát phải giám sát.

131. We gather then, that even in the release of the thoughtform, the magnetic link is preserved.

131. Vậy thì chúng ta hiểu rằng ngay cả khi hình tư tưởng được phóng thích, liên kết từ tính vẫn được bảo tồn.

When the work has been accomplished, and the thought-form has served its purpose, every creator, consciously or unconsciously, turns his attention elsewhere, and his thought form disintegrates.

Khi công việc đã hoàn tất, và hình tư tưởng đã phụng sự mục đích của nó, mọi đấng sáng tạo, dù có ý thức hay vô thức, đều chuyển sự chú ý của mình sang nơi khác, và hình tư tưởng của mình tan rã.

132. This is the point…the dissolving the magnetic link occurs with the removal of attention. This is why every creator must keep his eye on that which he has created.

132. Đây là điểm then chốt… sự tan biến của liên kết từ tính xảy ra cùng với việc rút sự chú ý đi. Đây là lý do vì sao mọi đấng sáng tạo phải giữ mắt của mình trên điều mà mình đã tạo ra.

133. We see that attention is the great life-giving power.

133. Chúng ta thấy rằng sự chú ý là quyền năng ban sự sống vĩ đại.

134. Of course the human creator can, at a certain point, release the thoughtform from his attention, because it is otherwise vitalized—i.e., by the attention of those whom the thoughtform serves. What keeps great works of art alive long after the creator has departed this plane? Is it not the life energy of those who support the thoughtform and wish for it to remain ‘alive’? It would seem so.

134. Dĩ nhiên, đấng sáng tạo con người có thể, ở một điểm nào đó, giải phóng hình tư tưởng khỏi sự chú ý của mình, vì nó được tiếp sinh lực theo cách khác—nghĩa là bởi sự chú ý của những người mà hình tư tưởng ấy phụng sự. Điều gì giữ cho những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại sống động rất lâu sau khi đấng sáng tạo đã rời cõi này? Chẳng phải đó là năng lượng sự sống của những người nâng đỡ hình tư tưởng và mong nó vẫn “sống” hay sao? Có vẻ là như vậy.

Hence the occult significance of all the processes occultly involved in sight, can be seen.

Do đó, có thể thấy được ý nghĩa huyền bí học của mọi tiến trình liên quan một cách huyền bí đến thị giác.

135. The eye is a life-giving organ.

135. Con mắt là một cơ quan ban sự sống.

As long as the eye of the Creator is upon that which is created, just so long does it persist;

Chừng nào mắt của Đấng Sáng Tạo còn đặt trên điều được tạo ra, chừng đó nó còn tồn tại;

136. Yes, unless and until the sustaining of the form is taken over by others.

136. Đúng vậy, trừ phi và cho đến khi việc duy trì hình thể được người khác tiếp nhận.

137. We begin to think that the physical death by natural causes of man upon the physical plane comes when the Ego averts its eye from its physical expression. The same is to be inferred by so-called death upon the astral plane and upon the lower mental plane.

137. Chúng ta bắt đầu nghĩ rằng cái chết hồng trần do nguyên nhân tự nhiên của con người trên cõi hồng trần xảy ra khi chân ngã quay mắt khỏi biểu hiện hồng trần của nó. Điều tương tự cũng được suy ra đối với cái gọi là cái chết trên cõi cảm dục và trên cõi hạ trí.

let the Creator withdraw "the light of his countenance"

hãy để Đấng Sáng Tạo rút lại “ánh sáng của dung nhan mình”

138. It is, then, a life-giving light.

138. Vậy thì đó là một ánh sáng ban sự sống.

and the death of the thought form ensues, for vitality or energy follows the line of the eye.

và cái chết của hình tư tưởng sẽ tiếp theo, vì sinh lực hay năng lượng đi theo đường của con mắt.

139. In general we find this to be the case. DK is offering is sound advice for all creators, especially during the period that they are the major supporting influence for the created form.

139. Nói chung, chúng ta thấy đây là trường hợp như vậy. Chân sư DK đang đưa ra lời khuyên xác đáng cho mọi đấng sáng tạo, đặc biệt trong giai đoạn họ là ảnh hưởng nâng đỡ chủ yếu cho hình thể được tạo ra.

140. There would seem to occur, however, a transfer of responsibility for sustenance. For instance, Beethoven’s Fifth Symphony is vitally alive in the consciousness of humanity, yet it is not Beethoven who is presently keeping it alive!

140. Tuy nhiên, dường như có xảy ra một sự chuyển dịch trách nhiệm duy trì. Chẳng hạn, Bản Giao Hưởng số Năm của Beethoven vẫn sống động mạnh mẽ trong tâm thức nhân loại, nhưng hiện nay không phải Beethoven đang giữ cho nó sống!

141. We often say that “energy follows thought”. We should also say that ‘life-giving energy follows the focus of the eye’.

141. Chúng ta thường nói rằng “năng lượng đi theo tư tưởng”. Chúng ta cũng nên nói rằng “năng lượng ban sự sống đi theo tiêu điểm của con mắt”.

When, therefore, a man, in meditation, considers his work and builds his thought form for service, he is occultly looking, and consequently energising; he begins to use the third eye in its secondary aspect.

Vì vậy, khi một người, trong tham thiền, suy xét công việc của mình và xây dựng hình tư tưởng của mình để phụng sự, y đang nhìn một cách huyền bí, và do đó tiếp sinh lực; y bắt đầu sử dụng con mắt thứ ba trong phương diện thứ yếu của nó.

142. A primary function of the eye is imaginative formation—the third eye searches the world of the Ego and faithfully registers the pattern of egoic intent.

142. Một chức năng chính yếu của con mắt là sự hình thành bằng tưởng tượng—con mắt thứ ba dò tìm thế giới của chân ngã và trung thành ghi nhận mô hình của ý định chân ngã.

143. The secondary function of the third eye is to occultly energize thoughtforms in process of creation.

143. Chức năng thứ yếu của con mắt thứ ba là tiếp sinh lực một cách huyền bí cho các hình tư tưởng trong tiến trình được tạo ra.

144. Can we see, by implication, why it is so important for people to be seen for who they are? Can we see that seeing another person in his or her soul identity keeps that person ‘alive’? Discerning vision vitalizes the soul expression of the one who is seen—spiritually.

144. Qua hàm ý, chúng ta có thể thấy vì sao điều quan trọng đến thế là con người phải được nhìn thấy đúng như họ là ai không? Chúng ta có thể thấy rằng việc nhìn thấy một người khác trong bản sắc linh hồn của người ấy giữ cho người ấy “sống” không? Linh thị phân biện tiếp sinh lực cho biểu hiện linh hồn của người được nhìn thấy—về mặt tinh thần.

S8S4 Part V

TCF 974 - 977

TCF 974 - 977

28 November – 13 December 2008

28 tháng Mười Một – 13 tháng Mười Hai 2008

The third or spiritual eye has several functions.

Con mắt thứ ba hay con mắt tinh thần có một số chức năng.

1. We will want to note these carefully.

1. Chúng ta sẽ muốn lưu ý kỹ những điều này.

2. We have a wonderful compilation on “Eye”. It has some 280 pages. Go to the AWC Group and reference it. In it, of course, are a great many reference to the third eye.

2. Chúng ta có một bản tổng hợp tuyệt vời về “Con Mắt”. Nó dài khoảng 280 trang. Hãy đến Nhóm AWC và tham chiếu nó. Trong đó, dĩ nhiên, có rất nhiều tham chiếu đến con mắt thứ ba.

Amongst others,

Trong số những chức năng khác,

3. Other functions will be discussed.

3. Những chức năng khác sẽ được bàn đến.

it is the organ of illumination, the unveiled eye of the soul, through which light and illumination comes into the mind, and thus the entire lower life becomes irradiated.

nó là cơ quan của sự soi sáng, con mắt không che phủ của linh hồn, qua đó ánh sáng và sự soi sáng đi vào trí tuệ, và như thế toàn bộ đời sống thấp kém được chiếu rạng.

4. If the third eye is the organ of illumination and the third initiation is called by many the “Enlightenment” or the “Illumination”, we can infer the role of the third initiation in this initiation.

4. Nếu con mắt thứ ba là cơ quan của sự soi sáng và lần điểm đạo thứ ba được nhiều người gọi là “Giác Ngộ” hay “Soi Sáng”, chúng ta có thể suy ra vai trò của lần điểm đạo thứ ba trong cuộc điểm đạo này.

5. The soul-in-incarnation sees, usually, through veiled eyes. Sight through the functioning third initiation is unveiled. Even on the Path of Discipleship, however, that third eye is relatively veiled.

5. Linh hồn đang nhập thể thường nhìn qua những đôi mắt có màn che. Thị giác qua lần điểm đạo thứ ba đang hoạt động là không che phủ. Tuy nhiên, ngay cả trên Con Đường Đệ Tử, con mắt thứ ba ấy vẫn còn tương đối bị che phủ.

6. If we consider the third eye to be an etheric evocation arising from the interplay between the crown center, the ajna center and the alta major center, then the mind into which illumination comes is the mind as it expresses in the brain consciousness of the personality.

6. Nếu chúng ta xem con mắt thứ ba là một sự gợi lên dĩ thái phát sinh từ sự tương tác giữa trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major, thì trí tuệ mà vào đó sự soi sáng đi đến là trí tuệ khi nó biểu hiện trong tâm thức não bộ của phàm ngã.

It is also the organ through which pours the directing energy [Page 975] which streams out from the conscious creating adept to the instruments of service, his thought-forms.

Nó cũng là cơ quan qua đó năng lượng chỉ đạo tuôn đổ [Page 975] phát ra từ chân sư sáng tạo có ý thức đến các công cụ phụng sự, tức các hình tư tưởng của Ngài.

7. We see and understand that the adept serves largely through thoughtform building.

7. Chúng ta thấy và hiểu rằng chân sư phụng sự phần lớn thông qua việc xây dựng hình tư tưởng.

8. As the “organ of illumination” the third eye serves largely a second ray function. As the organ through which directing energy pours, it exhibits a first ray function.

8. Là “cơ quan của sự soi sáng”, con mắt thứ ba phần lớn phụng sự một chức năng cung hai. Là cơ quan qua đó năng lượng chỉ đạo tuôn đổ, nó biểu lộ một chức năng cung một.

9. We understand the association of the number five with creativity (and the creative sign Leo). The Adept of the fifth initiation is, above all, a creative being.

9. Chúng ta hiểu sự liên hệ của con số năm với tính sáng tạo (và dấu hiệu sáng tạo Sư Tử). Chân sư của lần điểm đạo thứ năm, trên hết, là một hữu thể sáng tạo.

10. We also understand that the adept (an initiate of the fifth degree) is possessed of a third eye even though His personality apparatus is, in most cases, no longer a vehicle produced by ordinary generative means but by the power of Kriyashakti. This means that within the mayavirupa, the spiritual organ called the “third eye” does, indeed, exist.

10. Chúng ta cũng hiểu rằng chân sư (một điểm đạo đồ của cấp thứ năm) sở hữu con mắt thứ ba mặc dù bộ máy phàm ngã của Ngài, trong đa số trường hợp, không còn là một vận cụ được tạo ra bằng những phương tiện sinh sản thông thường mà bằng quyền năng của Kriyashakti. Điều này có nghĩa là trong mayavirupa, cơ quan tinh thần được gọi là “con mắt thứ ba” quả thật hiện hữu.

The little evolved do not, of course, employ the third eye for the stimulating of their thought forms.

Những người ít tiến hoá dĩ nhiên không sử dụng con mắt thứ ba để kích thích các hình tư tưởng của họ.

11. The power of the third eye is not available to the little evolved.

11. Quyền năng của con mắt thứ ba không sẵn có cho những người ít tiến hoá.

12. We remember that the insight of the soul is revealed through the third eye and thus, thoughtforms stimulated by the third eye will be built in accordance with those perceived soul patterns.

12. Chúng ta nhớ rằng linh thị của linh hồn được biểu lộ qua con mắt thứ ba và như thế, những hình tư tưởng được kích thích bởi con mắt thứ ba sẽ được xây dựng phù hợp với những mô hình linh hồn được tri nhận ấy.

13. It is obvious that disciples such as we are, are increasingly to use the third eye for the stimulating of thoughtforms. This means, of course, that we have to evoke the potency of this “eye” in our lives.

13. Rõ ràng là những đệ tử như chúng ta ngày càng phải sử dụng con mắt thứ ba để kích thích các hình tư tưởng. Điều này dĩ nhiên có nghĩa là chúng ta phải gợi lên tiềm lực của “con mắt” này trong đời sống của mình.

14. The work of Taurus suggests how we are to do this. The ‘Bull of Instinct’ must become the “Bull of Illumination”.

14. Công việc của Kim Ngưu gợi ý cách chúng ta phải làm điều này. “Con Bò của Bản Năng” phải trở thành “Con Bò của Sự Soi Sáng”.

15. There will be no use of a functional third eye until we change our desires and our values, and thus redirect occult energies to the head where the third eye resides.

15. Sẽ không có việc sử dụng một con mắt thứ ba đang hoạt động nào cho đến khi chúng ta thay đổi các ham muốn và các giá trị của mình, và nhờ đó tái định hướng các năng lượng huyền bí học lên đầu, nơi con mắt thứ ba cư ngụ.

The energy used by them in the majority of cases originates in the solar plexus, and works in two directions, either via the organs of generation, or through the physical eyes.

Năng lượng được họ sử dụng trong đa số trường hợp phát sinh từ tùng thái dương, và hoạt động theo hai hướng, hoặc qua các cơ quan sinh sản, hoặc qua đôi mắt hồng trần.

16. Do we realize the profound occultism which is being taught here?

16. Chúng ta có nhận ra tính huyền bí học sâu xa đang được giảng dạy ở đây không?

17. DK is telling us that the majority of human beings energize thoughtforms with energy arising in the solar plexus.

17. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng đa số con người tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng bằng năng lượng phát sinh trong tùng thái dương.

18. Apparently many thoughtforms deal with the sexual life of humanity and are expressed, eventually, in relation to or through the organs of generation.

18. Rõ ràng nhiều hình tư tưởng đề cập đến đời sống tính dục của nhân loại và cuối cùng được biểu lộ trong liên hệ với hay qua các cơ quan sinh sản.

19. Some occult functions of the physical eyes are suggested. Many thoughtforms relate directly to what is “seen” and to that which, being seen, is desired.

19. Một số chức năng huyền bí học của đôi mắt hồng trần được gợi ý. Nhiều hình tư tưởng liên hệ trực tiếp đến điều được “nhìn thấy” và đến điều mà, vì được nhìn thấy, nên được ham muốn.

20. We note that the physical eyes (two organs, which together, symbolize dualistic perception) are the eyes in use and not the unitive third eye.

20. Chúng ta lưu ý rằng đôi mắt hồng trần (hai cơ quan, cùng nhau tượng trưng cho tri giác nhị nguyên) là những con mắt đang được sử dụng chứ không phải con mắt thứ ba hợp nhất.

In many people these three points—the lower organs, the solar plexus, and the physical eyes—form a triangle of force,

Ở nhiều người ba điểm này—các cơ quan thấp, tùng thái dương, và đôi mắt hồng trần—tạo thành một tam giác lực,

21. This triangle involves the planets Mars, Venus and Mercury in their lower expressions in man.

21. Tam giác này liên quan đến các hành tinh Sao Hỏa, Sao Kim và Sao Thủy trong những biểu hiện thấp của chúng nơi con người.

22. Man desires what he “sees” and seeks to possess it. Possession of those objects to which sexual energy attaches itself, (i.e., “sex-objects”) is part of this process.

22. Con người ham muốn điều y “thấy” và tìm cách chiếm hữu nó. Việc chiếm hữu những đối tượng mà năng lượng tính dục gắn vào, (tức là “đối tượng tính dục”) là một phần của tiến trình này.

23. The whole process is very dualistic: man as an egoistic self (i.e., man identified as a lower ego) desires the ‘other’ and goes forth (Mars) to possess that other. Such as man has no notion, alter revealed by the unitive “Eye”, that he is the other.

23. Toàn bộ tiến trình này rất nhị nguyên: con người như một bản ngã ích kỷ (tức con người được đồng hoá với một phàm ngã) ham muốn “kẻ khác” và tiến ra (Sao Hỏa) để chiếm hữu kẻ khác ấy. Con người như thế không có khái niệm nào, về sau được bộc lộ bởi “Con Mắt” hợp nhất, rằng y chính là kẻ khác ấy.

around which the stream of energy flows before going out to the objectivised thought form.

quanh đó dòng năng lượng chảy trước khi đi ra đến hình tư tưởng đã được khách quan hoá.

24. Thus, we learn that most thoughtforms are servants of egoistically-based desire.

24. Như vậy, chúng ta học được rằng phần lớn các hình tư tưởng là những kẻ phụng sự của ham muốn đặt nền trên tính ích kỷ.

25. From another perspective, “why do most human beings create thoughtforms”? Largely, in order to fulfill their lower desires within the dualistically perceived lower three worlds.

25. Từ một góc nhìn khác, “vì sao đa số con người tạo ra các hình tư tưởng”? Phần lớn là để hoàn thành những ham muốn thấp kém của họ trong ba cõi thấp được tri nhận một cách nhị nguyên.

26. We learn that forces circulates between the sacral center, the solar plexus center and the two eyes before attaching itself to the “objectivized thoughtform”—the thoughtform in process of construction.

26. Chúng ta học được rằng các mãnh lực lưu chuyển giữa trung tâm xương cùng, trung tâm tùng thái dương và đôi mắt trước khi gắn vào “hình tư tưởng đã được khách quan hoá”—hình tư tưởng đang trong tiến trình được xây dựng.

In the aspirant, and the man who is intellectual,

Ở người chí nguyện, và người có trí tuệ,

27. DK seems to distinguish between these two. The aspirant is not necessarily the man who is intellectual. Ray difference may distinguish them—the intellectual found more on the hard line rays (especially three and five) and the aspirant upon rays six, four and two. Nor is one type necessarily higher than the other, though usually the aspirant is seen to be more spiritually receptive and advanced than the man who is merely intellectual.

27. Chân sư DK dường như phân biệt hai hạng người này. Người chí nguyện không nhất thiết là người có trí tuệ. Sự khác biệt về cung có thể phân biệt họ—người trí tuệ thường thấy nhiều hơn trên các cung tuyến cứng (đặc biệt là ba và năm) còn người chí nguyện trên các cung sáu, bốn và hai. Cũng không phải một loại nhất thiết cao hơn loại kia, dù thông thường người chí nguyện được xem là dễ tiếp nhận tinh thần hơn và tiến bộ hơn người chỉ đơn thuần có trí tuệ.

the triangle may be from the solar plexus, to the throat centre and thence to the eyes.

tam giác có thể là từ tùng thái dương đến trung tâm cổ họng rồi từ đó đến đôi mắt.

28. As long as the two physical eyes are involved, dualism has not yet merged with the unitive vision of the third eye.

28. Chừng nào đôi mắt hồng trần còn tham dự, nhị nguyên tính vẫn chưa hòa nhập vào linh thị hợp nhất của con mắt thứ ba.

29. We thus far have two triangles and a third will be discussed.:

29. Cho đến nay chúng ta có hai tam giác và một tam giác thứ ba sẽ được bàn đến.:

a. The generative organs, the solar plexus and the two physical eyes

a. Các cơ quan sinh sản, tùng thái dương và đôi mắt hồng trần

b. The solar plexus center, the throat center and the two physical eyes.

b. Trung tâm tùng thái dương, trung tâm cổ họng và đôi mắt hồng trần.

30. Note that there is a progression here, as energy seems to go from the lower centers towards the higher

30. Lưu ý rằng ở đây có một sự tiến triển, vì năng lượng dường như đi từ các trung tâm thấp lên các trung tâm cao hơn.

31. We note that the in these two triangles, two of the centers are the same, but the throat center has replaced the sacral center. Thus, in the aspirant and intellectual man, a higher creativity is demonstrating instead of ordinary sacral procreativity.

31. Chúng ta lưu ý rằng trong hai tam giác này, hai trung tâm là giống nhau, nhưng trung tâm cổ họng đã thay thế trung tâm xương cùng. Như vậy, nơi người chí nguyện và người trí tuệ, một tính sáng tạo cao hơn đang biểu lộ thay cho khả năng sinh sản xương cùng thông thường.

Later, as the aspirant grows in knowledge and purity of motive,

Về sau, khi người chí nguyện tăng trưởng trong tri thức và sự thanh khiết của động cơ,

32. Thus, becoming, shall we say, a disciple…

32. Như vậy, trở thành, chúng ta hãy nói rằng, một đệ tử…

the triangle of energy will have the heart for its lowest point instead of the solar plexus, and the third eye will begin to do its work, though as yet very imperfectly.

tam giác năng lượng sẽ lấy tim làm điểm thấp nhất thay cho tùng thái dương, và con mắt thứ ba sẽ bắt đầu làm công việc của nó, dù cho đến lúc ấy vẫn còn rất bất toàn.

33. DK is describing the incipient working of the third eye in the life of the disciple.

33. Chân sư DK đang mô tả sự hoạt động chớm nở của con mắt thứ ba trong đời sống của đệ tử.

34. The triangle here involves the throat center again, apparently.

34. Tam giác ở đây dường như lại liên quan đến trung tâm cổ họng.

35. These triangles can be compared with the triangles of chakras active in the case of human beings at different stages of evolution. (TCF 170)

35. Những tam giác này có thể được so sánh với các tam giác luân xa hoạt động trong trường hợp con người ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau. (TCF 170)

36. Even at the third initiation it may be that the working of the third eye cannot be considered perfect. We may infer this because the Master, Himself, uses the third eye as a “conscious creating adept”.

36. Ngay cả ở lần điểm đạo thứ ba, có thể sự hoạt động của con mắt thứ ba vẫn chưa thể được xem là hoàn hảo. Chúng ta có thể suy ra điều này vì chính Chân sư sử dụng con mắt thứ ba như một “chân sư sáng tạo có ý thức”.

37. We will want to associate the opening of the third initiation with heart energy, which tends towards unification, just as the third eye tends towards singleness of vision.

37. Chúng ta sẽ muốn liên kết sự khai mở của lần điểm đạo thứ ba với năng lượng tim, vốn có khuynh hướng hướng đến sự hợp nhất, cũng như con mắt thứ ba có khuynh hướng hướng đến tính đơn nhất của linh thị.

Just as long as the "Eye" is directed to the created form, the current of force will be transmitted to it, and the more one-pointed the man may be the more this energy will be centralised and effective.

Chừng nào “Con Mắt” còn hướng vào hình thể được tạo ra, dòng mãnh lực sẽ được truyền đến nó, và con người càng nhất tâm bao nhiêu thì năng lượng này càng được tập trung và hữu hiệu bấy nhiêu.

38. We are speaking of how to maintain the vitality of any created form. An eye must be upon it, or its coherence and vitality will fade and dissipate.

38. Chúng ta đang nói về cách duy trì sinh lực của bất kỳ hình thể được tạo ra nào. Một con mắt phải đặt trên nó, nếu không sự cố kết và sinh lực của nó sẽ phai nhạt và tiêu tan.

39. This makes one wonder who or what is observing the thoughtform called “man”. The answer is, in a way, obvious—“the eye of the soul”.

39. Điều này khiến người ta tự hỏi ai hay điều gì đang quan sát hình tư tưởng gọi là “con người”. Câu trả lời, theo một cách nào đó, là hiển nhiên—“con mắt của linh hồn”.

40. At the same time, from a practical perspective, we are being informed of the technique for keeping our own creations coherent and vital.

40. Đồng thời, từ một góc độ thực tiễn, chúng ta đang được cho biết kỹ thuật để giữ cho các sáng tạo của chính mình được cố kết và đầy sinh lực.

Much of the ineffectiveness of people is due to the fact that their interests are not centralised but very diffuse, and no one thing engrosses their attention.

Phần lớn sự thiếu hiệu quả của con người là do các mối quan tâm của họ không được tập trung mà rất phân tán, và không có một điều gì chiếm trọn sự chú ý của họ.

41. Without one-pointed vision, a would-be creator remains ineffective. Diffuse attention (refusal or incapacity to pay attention) guarantees ineffectiveness—i.e., lack of success of bringing intentions through into manifestation.

41. Không có linh thị nhất tâm, một người muốn trở thành đấng sáng tạo vẫn sẽ không hiệu quả. Sự chú ý phân tán (sự từ chối hay bất lực trong việc chú ý) bảo đảm sự thiếu hiệu quả—tức là thiếu thành công trong việc đưa các ý định đi xuyên suốt vào biểu hiện.

42. We are discussing the relation between correct thoughtform building and effectiveness upon the physical plane.

42. Chúng ta đang bàn về mối liên hệ giữa việc xây dựng hình tư tưởng đúng đắn và tính hiệu quả trên cõi hồng trần.