Trích nội dung chương
They scatter their energy and are attempting to satisfy every wandering desire, and to dabble in everything which comes their way. Họ làm phân tán năng lượng của mình và đang cố thỏa mãn mọi ham muốn lang thang, và nhúng tay hời hợt vào mọi thứ đến với họ.
They scatter their energy and are attempting to satisfy every wandering desire, and to dabble in everything which comes their way.
Họ làm phân tán năng lượng của mình và đang cố thỏa mãn mọi ham muốn lang thang, và nhúng tay hời hợt vào mọi thứ đến với họ.
43. The point is clear: dabblers cannot help but be ineffective!
43. Điểm này rất rõ: những kẻ nhúng tay hời hợt không thể nào không thiếu hiệu quả!
44. This thought should incline us to strengthen our point of tension.
44. Tư tưởng này nên khiến chúng ta nghiêng về việc tăng cường điểm tập trung nhất tâm của mình.
45. It is as if we are told of how the early expression of Gemini must be transformed into the one-pointedness of Sagittarius if effectiveness is to be achieved.
45. Dường như chúng ta đang được cho biết cách biểu hiện ban đầu của Song Tử phải được chuyển đổi thành tính nhất tâm của Nhân Mã nếu muốn đạt được hiệu quả.
46. Obviously discrimination is needed—the ability to choose where attention will be ‘paid’. This requires the work of Saturn and Libra.
46. Hiển nhiên là cần có sự phân biện—khả năng chọn nơi mà sự chú ý sẽ được “trao vào”. Điều này đòi hỏi công việc của Sao Thổ và Thiên Bình.
Therefore, no thought they think ever assumes a proper form, or is ever duly energised.
Do đó, không một tư tưởng nào họ nghĩ bao giờ mang lấy một hình thể thích đáng, hay bao giờ được tiếp sinh lực đúng mức.
47. We are discussing the haphazard creation of weak, inchoate thoughtforms. We are speaking of those who have not yet learned to be true creators.
47. Chúng ta đang bàn về sự tạo tác ngẫu nhiên những hình tư tưởng yếu ớt, chưa thành hình. Chúng ta đang nói về những người chưa học được cách trở thành những đấng sáng tạo chân chính.
They are consequently surrounded by a dense cloud of half-formed disintegrating thought forms and clouds of partially energised matter in process of dissolution.
Do đó, họ bị bao quanh bởi một đám mây dày đặc gồm những hình tư tưởng đang tan rã, mới chỉ thành hình một nửa, và những đám mây vật chất được tiếp sinh lực một phần đang trong tiến trình tan biến.
48. The image presented is one of a noxious atmosphere in which clear sight and even the ability to ‘breathe’ is compromised.
48. Hình ảnh được trình bày là một bầu khí quyển độc hại, trong đó linh thị rõ ràng và ngay cả khả năng “hít thở” cũng bị tổn hại.
49. Obviously, this is not how we wish for our mental body to appear!
49. Hiển nhiên, đây không phải là cách chúng ta mong muốn thể trí của mình xuất hiện!
50. Have we ever felt such a surrounding cloud—within ourselves? In a gathering of people?
50. Chúng ta đã bao giờ cảm thấy một đám mây bao quanh như thế—ở bên trong chính mình chưa? Trong một cuộc tụ họp đông người chăng?
This produces occultly a condition similar to the decay of a physical form, and is equally unpleasant and unwholesome. It accounts for much of the diseased condition of the human family at this time.
Điều này, về mặt huyền bí, tạo ra một tình trạng tương tự như sự phân rã của một hình tướng hồng trần, và cũng khó chịu và không lành mạnh như vậy. Nó giải thích phần lớn tình trạng bệnh hoạn của gia đình nhân loại vào lúc này.
51. What an amazing thought! Our inability to create (accompanied by the unconscious tendency constantly to create) produces a poisonous, decaying atmosphere which affects the health of our physical vehicle and probably the health of our emotional and mental vehicles as well.
51. Thật là một ý nghĩ đáng kinh ngạc! Sự bất lực của chúng ta trong việc sáng tạo (đi kèm với khuynh hướng vô thức là liên tục sáng tạo) tạo ra một bầu khí quyển độc hại, đang phân rã, ảnh hưởng đến sức khỏe của hiện thể hồng trần của chúng ta và có lẽ cả sức khỏe của các hiện thể cảm xúc và trí tuệ nữa.
52. Because we are not really conscious on the mental and astral planes (at least not conscious of many conditions existing there) the unwholesome condition of which Master DK speaks is not a ‘reality’ to us and we do not think of its presence as especially dire. The occult perspective, however, reveals how serious the situation really is.
52. Bởi vì chúng ta không thật sự hữu thức trên các cõi trí và cảm dục (ít nhất là không hữu thức về nhiều điều kiện đang hiện hữu ở đó), nên tình trạng không lành mạnh mà Chân sư DK nói đến không phải là một “thực tại” đối với chúng ta, và chúng ta không xem sự hiện diện của nó là đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, quan điểm huyền bí cho thấy tình hình thật sự nghiêm trọng đến mức nào.
53. Obviously, our entire planet is presently surrounded by such an unwholesome atmosphere.
53. Hiển nhiên, toàn bộ hành tinh của chúng ta hiện nay đang bị bao quanh bởi một bầu khí quyển không lành mạnh như thế.
Failure in thought creation is due also to the fact that [Page 976] the laws of thought are not taught,
Sự thất bại trong việc sáng tạo tư tưởng cũng là do sự kiện rằng [Page 976] các quy luật của tư tưởng không được giảng dạy,
54. Scattered throughout Master DK’s books we can find statements and hints regarding these laws. Work with the Fifteen Rules of White Magic reveals some of the laws of thought as does the list of Fifteen Injunctions found in A Treatise on White Magic. The Yoga Sutras bear heavily on the question of the correct creation of thought. The study of illusion in Glamour: A World Problem touches directly on the matter.
54. Rải rác trong các sách của Chân sư DK, chúng ta có thể tìm thấy những phát biểu và gợi ý liên quan đến các quy luật này. Việc làm việc với Mười Lăm Quy Luật của Chánh Thuật cho thấy một số quy luật của tư tưởng, cũng như danh sách Mười Lăm Huấn Thị được tìm thấy trong Luận về Chánh Thuật. Kinh Yoga Sutras liên hệ rất nhiều đến vấn đề sáng tạo tư tưởng đúng đắn. Việc nghiên cứu ảo tưởng trong Glamour: A World Problem cũng trực tiếp chạm đến vấn đề này.
55. What do you think to be some of the laws of thought? Certainly the very first occult Point of Revelations from the “Five Points of Revelation”—“Energy follows thought and the eye directs that energy” is one of the very first laws of thought.
55. các bạn nghĩ một số quy luật của tư tưởng là gì? Chắc chắn, chính Điểm Mặc Khải huyền bí đầu tiên trong “Năm Điểm Mặc Khải”—“Năng lượng đi theo tư tưởng và con mắt điều hướng năng lượng ấy”—là một trong những quy luật đầu tiên của tư tưởng.
and men do not know how, through meditation, to create those children of their activity to carry on their work.
và con người không biết cách, qua tham thiền, tạo ra những đứa con của hoạt động mình để tiếp tục công việc của mình.
56. In other words, men do not understand and cannot practice occult meditation.
56. Nói cách khác, con người không hiểu và không thể thực hành tham thiền huyền bí.
57. The “children of one’s mind” are meant to serve one’s intentions. Our thoughtforms are intended to be our servants.
57. “Những đứa con của trí óc một người” được dự định để phục vụ các ý định của người ấy. Các hình tư tưởng của chúng ta được dự định là những kẻ phụng sự của chúng ta.
58. One remembers the regulatory power of the star Regulus, so closely associated with the creative activity of Leo. That activity must be submitted for first ray/seventh ray restraints.
58. Người ta nhớ đến quyền năng điều tiết của ngôi sao Regulus, vốn gắn bó chặt chẽ với hoạt động sáng tạo của Sư Tử. Hoạt động ấy phải được đặt dưới những sự kiềm chế của cung một/cung bảy.
59. The hint: one never acts alone. One is intended to scientifically create an army of thoughtforms to carry forth one’s work.
59. Gợi ý là: không ai hành động một mình. Người ta được dự định là phải sáng tạo một cách khoa học cả một đạo quân hình tư tưởng để mang công việc của mình tiến lên.
Results on the physical plane are much more quickly achieved through scientific thought creation than through the directly physical plane means.
Các kết quả trên cõi hồng trần đạt được nhanh hơn nhiều qua sự sáng tạo tư tưởng có tính khoa học so với bằng những phương tiện trực tiếp của cõi hồng trần.
60. Perhaps we find this to be a surprising statement. If we accept it, we will hasten to purify and control our thoughtform-making apparatus.
60. Có lẽ chúng ta thấy đây là một phát biểu đáng ngạc nhiên. Nếu chấp nhận điều đó, chúng ta sẽ mau chóng thanh lọc và kiểm soát bộ máy tạo hình tư tưởng của mình.
10. For thee, the aspirant on the way of life, the way of conscious building is not yet the goal. The work of cleaning out the atmosphere of thought, of barring fast the doors of thought to hate and pain, to fear, and jealousy and low desire, must first precede the conscious work of building. See to thy aura, oh traveler on the way.
10. Đối với ngươi, người chí nguyện trên đường đời, con đường kiến tạo có ý thức chưa phải là mục tiêu. Công việc quét sạch bầu khí quyển của tư tưởng, đóng chặt các cánh cửa của tư tưởng trước hận thù và đau khổ, trước sợ hãi, ghen tị và dục vọng thấp hèn, trước hết phải đi trước công việc kiến tạo có ý thức. Hãy chăm lo hào quang của ngươi, hỡi lữ khách trên đường.
11. Watch close the gates of thought. Sentinel desire. Cast out all fear, all hate, all greed. Look out and up. (TWM 473-474)
11. Hãy canh giữ chặt các cổng của tư tưởng. Hãy canh chừng dục vọng. Hãy tống khứ mọi sợ hãi, mọi hận thù, mọi tham lam. Hãy nhìn ra ngoài và nhìn lên trên. (TWM 473-474)
61. We are still a long way from the scientific creation of effective thoughtforms in line with the Divine Plan.
61. Chúng ta vẫn còn cách rất xa việc sáng tạo một cách khoa học những hình tư tưởng hữu hiệu phù hợp với Thiên Cơ.
62. Perhaps another two or three hundred years of close training and supervision may see us in a position to be trusted.
62. Có lẽ phải cần thêm hai hoặc ba trăm năm huấn luyện và giám sát chặt chẽ nữa thì chúng ta mới ở vào vị thế có thể được tín nhiệm.
This is becoming more realised, but until the race has reached a point of greater purity and unselfishness, the more detailed explanation of the process must necessarily be withheld.
Điều này đang ngày càng được chứng nghiệm nhiều hơn, nhưng cho đến khi nhân loại đạt đến một điểm thanh khiết và vô ngã lớn hơn, thì sự giải thích chi tiết hơn về tiến trình này nhất thiết phải bị giữ lại.
63. One studies A Treatise on White Magic only to realize that the most practical instructions on the magical process have been withheld. It is obvious from DK’s statements here why this is the case.
63. Người ta nghiên cứu Luận về Chánh Thuật chỉ để nhận ra rằng những chỉ dẫn thực tiễn nhất về tiến trình huyền thuật đã bị giữ lại. Từ những phát biểu của DK ở đây, hiển nhiên là vì sao lại như vậy.
64. “A little knowledge is a dangerous thing” and this applies to premature knowledge as well. It is surprising but true that the Masters labor to withhold from man premature knowledge of the Plan. If too much is discovered too quickly, the plans leading towards the manifestation of the Plan could be ruined.
64. “Một ít tri thức là điều nguy hiểm” và điều này cũng áp dụng cho tri thức quá sớm. Thật đáng ngạc nhiên nhưng đúng là các Chân sư nỗ lực giữ không cho con người có được tri thức quá sớm về Thiên Cơ. Nếu quá nhiều điều được khám phá quá nhanh, thì những kế hoạch dẫn đến sự biểu hiện của Thiên Cơ có thể bị phá hỏng.
Another reason for creative ineffectiveness is owing to the currents which emanate from the majority of people being of such a low order that the thought forms never reach the point of independent action, except through cumulative group work.
Một lý do khác của sự bất hiệu quả trong sáng tạo là do các dòng năng lượng phát ra từ đa số con người thuộc một trật tự quá thấp đến nỗi các hình tư tưởng không bao giờ đạt đến điểm hành động độc lập, ngoại trừ qua công việc nhóm tích lũy.
65. We are being given reasons for “creative ineffectiveness” and this is an interesting one.
65. Chúng ta đang được trao cho những lý do của “sự bất hiệu quả trong sáng tạo” và đây là một lý do thú vị.
66. Apparently energy currents animating thoughtforms must be of a relatively high order if thoughtforms capable of real independence are to be generated.
66. Rõ ràng, các dòng năng lượng làm sinh động các hình tư tưởng phải thuộc một trật tự tương đối cao nếu muốn tạo ra những hình tư tưởng có khả năng độc lập thật sự.
67. It is arresting to realize, however, that a group in which the majority of members are relatively low grade creators can, nevertheless, together create thoughtforms which are capable of independent action. This points to a certain danger. We come to understand something of the menace of mob or mass psychology and the relative effectiveness of public opinion even of a low order (as was seen in Nazi Germany and more recently in countries under the grip of religious fanaticism).
67. Tuy nhiên, thật đáng chú ý khi nhận ra rằng một nhóm mà trong đó đa số thành viên là những người sáng tạo ở cấp tương đối thấp vẫn có thể, dẫu vậy, cùng nhau tạo ra những hình tư tưởng có khả năng hành động độc lập. Điều này chỉ ra một mối nguy nhất định. Chúng ta bắt đầu hiểu phần nào mối đe dọa của tâm lý đám đông hay tâm lý quần chúng và hiệu quả tương đối của dư luận công cộng ngay cả ở cấp thấp (như đã thấy ở nước Đức Quốc Xã và gần đây hơn ở các quốc gia nằm dưới sự kềm tỏa của cuồng tín tôn giáo).
Until matter of the three higher subplanes of the astral and physical planes finds its place in the thought form, it has to be energised principally by mob energy.
Cho đến khi vật chất của ba cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục và cõi hồng trần tìm được chỗ của nó trong hình tư tưởng, thì nó phải được tiếp sinh lực chủ yếu bởi năng lượng đám đông.
68. Yes, here is Master DK giving us a strong hint in His use of the word “mob”—a powerful and suggestive word. We understand now, from the occult perspective, the reason by demagogues can be so effective and so dangerous. They can shape the thought of the mob and use its energy to render their own thoughts effective on a mass scale.
68. Đúng vậy, ở đây Chân sư DK đang cho chúng ta một gợi ý mạnh mẽ qua việc Ngài dùng từ “đám đông”—một từ đầy sức mạnh và gợi mở. Giờ đây, từ quan điểm huyền bí, chúng ta hiểu lý do vì sao những kẻ mị dân có thể hữu hiệu đến thế và cũng nguy hiểm đến thế. Họ có thể định hình tư tưởng của đám đông và dùng năng lượng của nó để làm cho những tư tưởng riêng của họ trở nên hữu hiệu trên quy mô quần chúng.
69. We are learning that an individual can create independent thoughtforms if that individual can work on the higher etheric and astral subplanes.
69. Chúng ta đang học rằng một cá nhân có thể tạo ra những hình tư tưởng độc lập nếu cá nhân ấy có thể hoạt động trên các cõi phụ cao hơn của dĩ thái và cảm dục.
70. We must note, when considering the potencies to be found on these levels (etheric and astral), that the senses of smell, taste and sight are necessarily involved etherically, and the siddhis called emotional idealism, imagination and clairvoyance are involved astrally.
70. Khi xem xét các tiềm lực có thể tìm thấy trên những cấp độ này (dĩ thái và cảm dục), chúng ta phải lưu ý rằng các giác quan ngửi, nếm và thấy tất yếu có liên quan về mặt dĩ thái, còn các siddhi được gọi là chủ nghĩa duy tâm cảm xúc, sự tưởng tượng và thông nhãn thì có liên quan về mặt cảm dục.
71. What is really interesting, from the etheric perspective, is that that the capacity of the individual creator to use the fourth ether is insufficient to vitalize thoughtforms to the point of independence.
71. Điều thật sự thú vị, từ quan điểm dĩ thái, là năng lực của cá nhân sáng tạo trong việc sử dụng dĩ thái thứ tư là không đủ để tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng đến mức độc lập.
When the higher substance begins to find its way into the form, then it can be seen acting independently, for the individual Ego of the man concerned can begin to work through the matter—a thing before impossible.
Khi chất liệu cao hơn bắt đầu tìm được đường đi vào hình tướng, thì khi ấy nó có thể được thấy đang hành động độc lập, vì chân ngã cá nhân của người liên hệ có thể bắt đầu hoạt động xuyên qua chất liệu ấy—một điều trước đó là không thể.
72. We are being told that the individual Ego can only work through thoughtforms which have matter of the three higher subplanes.
72. Chúng ta đang được cho biết rằng chân ngã cá nhân chỉ có thể hoạt động xuyên qua những hình tư tưởng có vật chất của ba cõi phụ cao hơn.
73. We are being told that unless the Ego can work through the thoughtforms of the individual creator, those thoughtforms cannot achieve independent action.
73. Chúng ta đang được cho biết rằng trừ phi chân ngã có thể hoạt động xuyên qua các hình tư tưởng của cá nhân sáng tạo, thì những hình tư tưởng ấy không thể đạt được hành động độc lập.
74. This stands to reason, as the individual Ego is found on the third and second subplanes, and, some say, the first subplane of the mental plane as well.
74. Điều này là hợp lý, vì chân ngã cá nhân được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba và thứ hai, và theo một số người, cả cõi phụ thứ nhất của cõi trí nữa.
75. The higher three subplanes of the etheric and astral planes correspond to the higher three subplanes of the mental plane (the subplanes from which soul energy emanates), and thus the resonance and the ability of the Ego to be influential on these subplanes.
75. Ba cõi phụ cao hơn của cõi dĩ thái và cõi cảm dục tương ứng với ba cõi phụ cao hơn của cõi trí (những cõi phụ mà từ đó năng lượng linh hồn phát ra), và do đó có sự cộng hưởng cùng khả năng để chân ngã có ảnh hưởng trên các cõi phụ này.
The Ego cannot work freely in the personality until third subplane matter is found in his bodies; the correspondence consequently holds good.
Chân ngã không thể hoạt động tự do trong phàm ngã cho đến khi vật chất cõi phụ thứ ba được tìm thấy trong các thể của y; vì thế sự tương ứng này là đúng.
76. Yes, we understand this, do we not?
76. Đúng vậy, chúng ta hiểu điều này, phải không?
77. Still more effective work can be accomplished when second and first sub-plane matter is found in the vehicles and in the thoughtforms being created.
77. Công việc còn hữu hiệu hơn nữa có thể được hoàn thành khi vật chất cõi phụ thứ hai và thứ nhất được tìm thấy trong các hiện thể và trong các hình tư tưởng đang được tạo ra.
Once the thought form has been vitalised and its etheric form is completed or "sealed" as it is called, it can attain the dense physical form if desired.
Một khi hình tư tưởng đã được tiếp sinh lực và hình thể dĩ thái của nó đã hoàn tất hay được “niêm phong” như cách gọi, thì nó có thể đạt đến hình thể hồng trần đậm đặc nếu muốn.
78. So many occult hints! Here we have the sealing of the etheric form of the thoughtform. How is this to be done? One imagines that there are certain symbolic gestures (undertaken in the ethers) and Words of Power which can accomplish the task.
78. Biết bao gợi ý huyền bí! Ở đây chúng ta có sự niêm phong hình thể dĩ thái của hình tư tưởng. Điều này phải được thực hiện như thế nào? Người ta hình dung rằng có những cử chỉ biểu tượng nhất định (được thực hiện trong các cõi dĩ thái) và những Quyền năng từ có thể hoàn thành công việc ấy.
79. All this knowledge was once in our possession, but through misuse it has been withdrawn.
79. Tất cả tri thức này đã từng nằm trong sở hữu của chúng ta, nhưng do bị lạm dụng nên đã bị rút lại.
This does not mean that the individual thought forms of every man take dense substance upon the etheric, but they will eventuate in activity upon the physical plane.
Điều này không có nghĩa là các hình tư tưởng cá nhân của mọi người đều khoác lấy chất liệu đậm đặc trên cõi dĩ thái, nhưng cuối cùng chúng sẽ đưa đến hoạt động trên cõi hồng trần.
80. DK offers an important qualification for our understanding.
80. DK đưa ra một sự giới định quan trọng cho sự hiểu biết của chúng ta.
81. Some thoughtforms, we are to understand, do take dense substance upon the etheric subplanes.
81. Chúng ta phải hiểu rằng một số hình tư tưởng quả thật khoác lấy chất liệu đậm đặc trên các cõi phụ dĩ thái.
82. The agglomeration of similar thoughtforms is part of the eventual dense physical plane activity which such thoughtforms achieve.
82. Sự kết tụ của những hình tư tưởng tương tự là một phần của hoạt động cuối cùng trên cõi hồng trần đậm đặc mà những hình tư tưởng ấy đạt được.
A man, for instance, is thinking a kindly thought; he has built it up and vitalised it; it is objective to the clairvoyant and exists in etheric matter close to the man.
Chẳng hạn, một người đang nghĩ một tư tưởng tử tế; y đã xây dựng nó và tiếp sinh lực cho nó; nó khách quan đối với nhà thông nhãn và tồn tại trong vật chất dĩ thái gần bên người ấy.
83. Such a thoughtform has not yet been released, hence its actual closeness to man.
83. Một hình tư tưởng như thế vẫn chưa được phóng thích, vì vậy nó thực sự ở gần con người.
84. Notice that it takes time to build such thoughtforms.
84. Hãy lưu ý rằng cần có thời gian để xây dựng những hình tư tưởng như thế.
It will, therefore, find physical expression in an act of kindness or a physical caress. When the act is over, the caress consummated, the interest of the man in that particular thought form fades out and it dies.
Do đó, nó sẽ tìm được sự biểu hiện hồng trần trong một hành động tử tế hay một sự vuốt ve bằng thân thể. Khi hành động chấm dứt, sự vuốt ve hoàn tất, thì sự quan tâm của người ấy đối với hình tư tưởng đặc biệt đó phai nhạt đi và nó chết.
85. We find described the motivating power of thoughtforms and their outworking in particular physical plane expressions.
85. Chúng ta thấy được mô tả quyền năng thúc đẩy của các hình tư tưởng và sự biểu lộ của chúng trong những biểu hiện đặc thù trên cõi hồng trần.
86. The expression of a thoughtform seems to remove the motivating power from that thoughtform. The modern phrase, “Been there. Done that” illuminates the process.
86. Sự biểu hiện của một hình tư tưởng dường như lấy đi quyền năng thúc đẩy khỏi hình tư tưởng ấy. Cụm từ hiện đại “Đã ở đó. Đã làm điều đó.” soi sáng tiến trình này.
87. As interest fades and the gaze of the eyes is removed from the thoughtform, the thoughtform dies of attrition.
87. Khi sự quan tâm phai nhạt và ánh mắt được rút khỏi hình tư tưởng, thì hình tư tưởng chết đi vì hao mòn.
88. Some thoughtforms are very strong, however, and continue to reappear and, thus, continue to be expressed in the manner described above. Eventually, however, desire for such expression will die, and an expressed thoughtform will not be re-constellated and reinvigorated by desire.
88. Tuy nhiên, một số hình tư tưởng rất mạnh và tiếp tục tái xuất hiện, và do đó tiếp tục được biểu hiện theo cách mô tả ở trên. Tuy vậy, cuối cùng dục vọng đối với sự biểu hiện như thế sẽ chết đi, và một hình tư tưởng đã được biểu hiện sẽ không còn được dục vọng tái kết tụ và tiếp thêm sinh lực nữa.
Similarly with a crime—the [Page 977] thought form has been built up and inevitably it will find its physical expression in some deed of one kind or another.
Tương tự với một tội ác—[Page 977] hình tư tưởng đã được xây dựng và tất yếu nó sẽ tìm được sự biểu hiện hồng trần của mình trong một hành vi nào đó thuộc loại này hay loại khác.
89. We have here the plotting and planning of those who nurture and harbor evil within themselves. In EP II, DK discussed this form of brooding anti-social behavior as particularly related to abnormal individuals upon the second, fourth or sixth rays.
89. Ở đây chúng ta thấy sự mưu tính và hoạch định của những kẻ nuôi dưỡng và chứa chấp điều ác trong chính mình. Trong EP II, DK đã bàn đến hình thức hành vi phản xã hội ủ ấp này như có liên hệ đặc biệt với những cá nhân bất thường thuộc cung hai, cung bốn hay cung sáu.
All activity of every kind is the result:
Mọi hoạt động thuộc mọi loại đều là kết quả:
90. DK will present the main cause of activity.
90. DK sẽ trình bày nguyên nhân chính của hoạt động.
a. Of thought forms built consciously or unconsciously.
a. Của những hình tư tưởng được xây dựng một cách hữu thức hay vô thức.
91. This is very interesting because is makes us question the activity of man before he was capable of much thought.
91. Điều này rất thú vị vì nó khiến chúng ta đặt câu hỏi về hoạt động của con người trước khi y có khả năng tư tưởng nhiều.
92. What of the activity of man before He was individualized? Surely there was activity. Who then was doing the thinking? The same question could be asked re the activity animals.
92. Còn hoạt động của con người trước khi y được biệt ngã hóa thì sao? Chắc chắn vẫn có hoạt động. Vậy khi ấy ai là kẻ đang tư duy? Câu hỏi tương tự cũng có thể được đặt ra đối với hoạt động của động vật.
93. Of course, there are many grades of thinkers and un-self-conscious lives are responsive to them rather than only to their own individualized center.
93. Dĩ nhiên, có nhiều cấp độ của những kẻ tư duy, và những sự sống chưa có ngã thức đáp ứng với họ chứ không chỉ với trung tâm biệt ngã hóa riêng của mình.
94. Below it will be shown that thoughtforms alone are not the cause of all activities. Lesser impulses also play their role.
94. Ở dưới sẽ cho thấy rằng chỉ riêng các hình tư tưởng không phải là nguyên nhân của mọi hoạt động. Những xung lực thấp hơn cũng đóng vai trò của chúng.
b. Of self-initiated thought forms or of the effect of the thought forms of others.
b. Của những hình tư tưởng do chính mình khởi xướng hoặc của hiệu quả từ những hình tư tưởng của người khác.
95. Here we realize that a particular form of life may respond as much to the thoughtforms of others as to its own thoughtforms.
95. Ở đây chúng ta nhận ra rằng một hình thức sự sống nhất định có thể đáp ứng với các hình tư tưởng của người khác cũng nhiều như với các hình tư tưởng riêng của nó.
96. Given the non-individualized man, response to the thoughtforms of others (of other and higher beings) is certainly possible.
96. Đối với con người chưa biệt ngã hóa, sự đáp ứng với các hình tư tưởng của người khác (của những hữu thể khác và cao hơn) chắc chắn là có thể.
97. Response to his own lower impulses also actuates activity.
97. Sự đáp ứng với các xung lực thấp hơn của chính y cũng thúc đẩy hoạt động.
c. Of responsiveness to one's own inner impulses, or of responsiveness to the impulses of others, and therefore to group thought forms.
c. Của sự đáp ứng với những xung lực bên trong của chính mình, hoặc của sự đáp ứng với những xung lực của người khác, và do đó với các hình tư tưởng nhóm.
98. Here the cause of activity no longer resides in the world of thought but in the world of impulse. Within this world we find impulses from the actor and impulses from others.
98. Ở đây nguyên nhân của hoạt động không còn nằm trong thế giới của tư tưởng mà nằm trong thế giới của xung lực. Trong thế giới này, chúng ta thấy có những xung lực từ người hành động và những xung lực từ người khác.
99. It is clear that un-individualized man is certainly possessed of astral and etheric-physical (i.e., instinctual) impulses, and it is these, rather than thought, which impel him into activity.
99. Rõ ràng là con người chưa biệt ngã hóa chắc chắn có những xung lực cảm dục và dĩ thái-hồng trần (tức là bản năng) xung lực, và chính những xung lực này, chứ không phải tư tưởng, thúc đẩy y đi vào hoạt động.
100. DK hints at the idea that “group thought forms” are created by combining the impulses of a group. This hearkens back to the creation of independent thoughtforms through mob energy.
100. DK gợi ý ý tưởng rằng “các hình tư tưởng nhóm” được tạo ra bằng cách kết hợp các xung lực của một nhóm. Điều này gợi lại việc tạo ra các hình tư tưởng độc lập thông qua năng lượng đám đông.
101. We can summarize this little section by saying that activity is caused both by thoughtforms and by lesser impulses (from within the individual or from within a group).
101. Chúng ta có thể tóm tắt phần nhỏ này bằng cách nói rằng hoạt động được gây ra vừa bởi các hình tư tưởng vừa bởi những xung lực thấp hơn (từ bên trong cá nhân hoặc từ bên trong một nhóm).
It will be apparent, therefore, how vital is this matter,
Do đó, sẽ hiển nhiên thấy được vấn đề này thiết yếu đến mức nào,
102. We are speaking of thoughtform vitalization and manifestation.
102. Chúng ta đang nói về sự tiếp sinh lực và biểu hiện của hình tư tưởng.
103. We are speaking of the sources of those conditioning factors and impulses which drive any being (great or tiny) into action.
103. Chúng ta đang nói về các nguồn của những yếu tố tác động và những xung lực thúc đẩy bất kỳ hữu thể nào (lớn hay nhỏ) đi vào hoạt động.
and how influenced men and women are by the thought forms they themselves create, or the mental children of other men.
và những người nam và nữ bị ảnh hưởng biết bao bởi các hình tư tưởng do chính họ tạo ra, hay những đứa con trí tuệ của những người khác.
104. We hear the note of responsibility sounding. Day in and out, night after night, we create thoughtforms and desire forms—mostly unconsciously. This condition must be rectified if we are to become true white magicians.
104. Chúng ta nghe thấy âm điệu của trách nhiệm đang vang lên. Ngày này qua ngày khác, đêm này qua đêm khác, chúng ta tạo ra các hình tư tưởng và hình dục vọng—phần lớn là vô thức. Tình trạng này phải được sửa chữa nếu chúng ta muốn trở thành những nhà huyền thuật chánh đạo chân chính.
105. We are being told that it is not only what we do that counts for good or ill, but what we desire and most of all, what we think—for thinking is the seed of all that transpires on the two lower planes. This is especially true of disciples.
105. Chúng ta đang được bảo rằng không chỉ điều chúng ta làm mới tạo nên thiện hay ác, mà còn điều chúng ta ham muốn và trên hết là điều chúng ta nghĩ—vì tư tưởng là hạt giống của mọi điều diễn ra trên hai cõi thấp. Điều này đặc biệt đúng đối với các đệ tử.
106. We are being encouraged to take responsibility for our creative life and realize that the whole matter of creation of far more subtle than we may have thought.
106. Chúng ta đang được khuyến khích nhận trách nhiệm về đời sống sáng tạo của mình và nhận ra rằng toàn bộ vấn đề sáng tạo tinh tế hơn rất nhiều so với điều chúng ta có thể đã nghĩ.
107. The life of the occultist becomes ever more subtle and his responsibility exists on levels which others believe non-existent.
107. Đời sống của nhà huyền bí học ngày càng trở nên tinh tế hơn và trách nhiệm của y tồn tại trên những cấp độ mà người khác cho là không hiện hữu.
108. Great caution is demanded of us. Our creations determine our karma and that, collectively, that of the human race.
108. Chúng ta được đòi hỏi phải hết sức thận trọng. Những sáng tạo của chúng ta quyết định nghiệp quả của chúng ta và, một cách tập thể, cả nghiệp quả của nhân loại.
S8S5 Part I
TCF 978-982
TCF 977-982
13 – 28 December 2008
13 – 28 tháng Mười Hai 2008
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary
Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận
c. The occult significance of speech. The old Scripture saith: "In the multitude of words there wanteth not sin,"90 [Bible. Prov. 10:19]
c. Ý nghĩa huyền bí của lời nói. Thánh thư xưa nói rằng: “Trong nhiều lời nói, tội lỗi chẳng thiếu,”90 [Bible. Prov. 10:19]
1. One is reminded of the rather amusing saying reputedly by Bertrand Russell, “A big book is a big evil”, yet it may be a far more ancient saying.
1. Người ta nhớ đến câu nói khá khôi hài được cho là của Bertrand Russell, “Một quyển sách lớn là một điều ác lớn”, tuy nhiên đó có thể là một câu nói còn cổ xưa hơn nhiều.
because in a tide of words at this stage of man's evolution, many are spoken purposelessly or from motives which (when analysed) will be found to be based purely in the personality.
bởi vì trong một dòng thác lời nói ở giai đoạn này của tiến hoá nhân loại, nhiều lời được nói ra không mục đích hoặc từ những động cơ mà (khi được phân tích) sẽ thấy là hoàn toàn dựa trên phàm ngã.
2. The problem lies not with speech but in the manner in the content of speech.
2. Vấn đề không nằm ở lời nói mà ở cách thức và nội dung của lời nói.
3. Sin is of the personality (the 666, the three levels of form, each a 6) Sin is to be found in the natural tendencies of the lunar vehicles when not guided by the Ego.
3. Tội lỗi thuộc về phàm ngã (con số 666, ba cấp độ của hình tướng, mỗi cấp là một số 6). Tội lỗi được tìm thấy trong những khuynh hướng tự nhiên của các hiện thể nguyệt tinh khi không được chân ngã hướng dẫn.
The greater the progress that is made along the path of approach to the Mysteries, the greater the care that must be taken by the aspirant.
Tiến bộ đạt được trên con đường tiếp cận các Mầu Nhiệm càng lớn bao nhiêu, thì người chí nguyện càng phải thận trọng bấy nhiêu.
4. As the aspirant becomes a more powerful thinker, the aspirant’s speech (if spoken in a manner unmotivated by soul consciousness) will have more power to harm.
4. Khi người chí nguyện trở thành một kẻ tư duy mạnh mẽ hơn, thì lời nói của y (nếu được nói ra theo cách không được thúc đẩy bởi tâm thức linh hồn) sẽ có nhiều quyền năng gây hại hơn.
This is necessary for three reasons:
Điều này là cần thiết vì ba lý do:
First, owing to his stage in evolution, he is able to enforce his words in a manner which would surprise him could he but see on the mental plane.
Thứ nhất, do giai đoạn tiến hoá của mình, y có thể áp đặt lời nói của mình theo một cách mà nếu có thể thấy trên cõi trí thì chính y cũng sẽ ngạc nhiên.
5. Enforcement is found—the powers of Mars and Saturn. The aspirant has greater will than has the average man, and this will goes into his words.
5. Sự áp đặt được tìm thấy ở đó—các quyền năng của Sao Hỏa và Sao Thổ. Người chí nguyện có ý chí lớn hơn người bình thường, và ý chí này đi vào lời nói của y.
He builds more accurately than the average men, his subsequent thought-form is more strongly vitalised, and it performs the function whereon it is sent by the "Sound" or speech with greater precision.
Y xây dựng chính xác hơn người bình thường, hình tư tưởng tiếp theo của y được tiếp sinh lực mạnh hơn, và nó thực hiện chức năng mà nó được gửi đến nhờ “Âm Thanh” hay lời nói với độ chính xác lớn hơn.
6. Greater force, greater vitality, greater accuracy, greater precision—all these can be of value, but if the speech is strictly personal in nature it will become a strong obstacle to the achievement of spiritual objectives.
6. Mãnh lực lớn hơn, sinh lực lớn hơn, độ chính xác lớn hơn, sự chuẩn xác lớn hơn—tất cả những điều này đều có giá trị, nhưng nếu lời nói mang bản chất hoàn toàn cá nhân thì nó sẽ trở thành một chướng ngại mạnh mẽ đối với việc đạt được các mục tiêu tinh thần.
Second, any word spoken and consequent thought-form built
Thứ hai, bất kỳ lời nào được nói ra và hình tư tưởng hệ quả được xây dựng
7. A spoken word is a thoughtform which has been built.
7. Một lời nói ra là một hình tư tưởng đã được xây dựng.
(unless along the higher path and not based on personality impulses) is apt to cause a barrier of mental matter between a man and his goal.
(trừ phi thuộc con đường cao hơn và không dựa trên các xung lực của phàm ngã) đều có khuynh hướng gây ra một bức tường bằng vật chất trí tuệ giữa con người và mục tiêu của y.
8. Thoughtforms rendered into word can become barriers as well as instruments of assistance.
8. Những hình tư tưởng được chuyển thành lời nói có thể trở thành những bức tường ngăn cách cũng như những công cụ trợ giúp.
9. We are reminded of what DK as said about “the idle thought, the selfish thought, the cruel, hateful thought” when “rendered into word”:
9. Chúng ta được nhắc nhớ điều DK đã nói về “tư tưởng nhàn rỗi, tư tưởng ích kỷ, tư tưởng tàn nhẫn, đầy hận thù” khi chúng được “chuyển thành lời nói”:
14. The idle thought, the selfish thought, the cruel hateful thought if rendered into word produce a prison, poison all the springs of life, lead to disease, and cause disaster and delay. Therefore, be sweet and kind and good as far as in thee lies. Keep silence and the light will enter in. (TWM 474)
14. Tư tưởng nhàn rỗi, tư tưởng ích kỷ, tư tưởng tàn nhẫn đầy hận thù nếu được chuyển thành lời nói sẽ tạo ra một nhà tù, đầu độc mọi nguồn suối của sự sống, dẫn đến bệnh tật, và gây nên tai họa cùng trì hoãn. Vì vậy, hãy dịu dàng, tử tế và tốt lành trong mức ngươi có thể. Hãy giữ im lặng và ánh sáng sẽ đi vào. (TWM 474)
10. These barriers are subtle but effective in preventing access to spiritual energy and realization.
10. Những bức tường ngăn cách này tuy vi tế nhưng hữu hiệu trong việc ngăn cản sự tiếp cận năng lượng tinh thần và sự chứng nghiệm.
This matter or separating wall has to be dissipated before further [Page 978] advance can be made, and this process is karmic and unavoidable.
Chất liệu này hay bức tường ngăn cách phải được làm tiêu tan trước khi có thể tiến xa hơn [Page 978], và tiến trình này là nghiệp quả và không thể tránh khỏi.
11. Saturn, the primary planet of karma, represents barriers, obstructions, separating walls. If for instance a country builds without justification an actual wall on borders with another country, the country building the wall will have to tear it down before further development between the two countries is possible. We have seen this with the “Berlin Wall” and can imagine it will be so with new walls which are presently being built.
11. Sao Thổ, hành tinh chủ yếu của nghiệp quả, tượng trưng cho những rào cản, chướng ngại, những bức tường ngăn cách. Chẳng hạn, nếu một quốc gia xây dựng không chính đáng một bức tường thực sự trên biên giới với một quốc gia khác, thì quốc gia xây bức tường ấy sẽ phải phá bỏ nó trước khi sự phát triển xa hơn giữa hai quốc gia có thể xảy ra. Chúng ta đã thấy điều này với “Bức tường Berlin” và có thể hình dung rằng cũng sẽ như vậy với những bức tường mới hiện đang được xây dựng.
Third, speech is very largely a mode of communication on the physical levels; on the subtler levels whereon the worker stands, and in his communications with his fellow workers and chosen co-operators it will play an ever lessening part.
Thứ ba, lời nói phần lớn là một phương thức giao tiếp trên các cấp độ hồng trần; trên những cấp độ vi tế hơn nơi người hoạt động đứng, và trong sự giao tiếp của y với các bạn đồng sự và những người cộng tác được chọn, nó sẽ đóng vai trò ngày càng ít hơn.
12. DK is predicting the future of the factor of speech, especially between spiritual co-workers.
12. DK đang tiên đoán tương lai của yếu tố lời nói, đặc biệt giữa những người cộng tác tinh thần.
13. Speech, per se, will be transcended, just a the third aspect of divinity is transcended by the second.
13. Chính lời nói sẽ bị vượt qua, cũng như phương diện thứ ba của thiên tính bị vượt qua bởi phương diện thứ hai.
Intuitive perception and telepathic interplay will distinguish the intercourse between aspirants and disciples, and when this is coupled with a full trust, sympathy and united effort for the plan we will have a formation wherewith the Master can work, and through which He can pour His force.
Linh thị trực giác và sự tương tác viễn cảm sẽ phân biệt sự giao tiếp giữa những người chí nguyện và các đệ tử, và khi điều này được kết hợp với sự tín nhiệm trọn vẹn, sự cảm thông và nỗ lực hợp nhất vì Thiên Cơ thì chúng ta sẽ có một sự hình thành mà Chân sư có thể làm việc với nó, và xuyên qua đó Ngài có thể tuôn đổ mãnh lực của Ngài.
14. It becomes necessary to ensure that the results speech do not prevent the Master from pouring His force into the spiritual work undertaken.
14. Cần phải bảo đảm rằng các kết quả của lời nói không ngăn cản Chân sư tuôn đổ mãnh lực của Ngài vào công việc tinh thần đang được thực hiện.
15. Let us tabulate that which should increasingly characterize intercourse between aspirants and disciples and the atmosphere in which their relations occur:
15. Chúng ta hãy lập bảng những điều ngày càng nên đặc trưng cho sự giao tiếp giữa những người chí nguyện và các đệ tử, cũng như bầu khí quyển trong đó các mối quan hệ của họ diễn ra:
a. Intuitive perception
a. Linh thị trực giác
b. Telepathic interplay
b. Sự tương tác viễn cảm
c. Full trust
c. Sự tín nhiệm trọn vẹn
d. Sympathy
d. Sự cảm thông
e. United effort
e. Nỗ lực hợp nhất
16. It is obvious that too great a tide of speech can obstruct the development of intuitive perception and telepathic interplay.
16. Hiển nhiên là một dòng thác lời nói quá lớn có thể cản trở sự phát triển của linh thị trực giác và sự tương tác viễn cảm.
17. Speech relates to the third aspect of divinity and it is principally the second aspect which is being cultivated in relations between aspirants and disciples.
17. Lời nói liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính, và chính phương diện thứ hai là điều đang được vun bồi chủ yếu trong các mối quan hệ giữa những người chí nguyện và các đệ tử.
18. If intuitive perception and telepathic interplay are in process of realization, the level of understanding is becoming increasingly representative of the third initiation. The concrete mind is being transcended.
18. Nếu linh thị trực giác và sự tương tác viễn cảm đang trong tiến trình được chứng nghiệm, thì cấp độ thấu hiểu đang ngày càng đại diện cho lần điểm đạo thứ ba. Trí cụ thể đang bị vượt qua.
The Master works through groups (large or small) and the work is facilitated for Them if the interplay between units of the group is steady and uninterrupted. One of the most frequent causes of difficulty in group work and consequent arrest of the inflow of force from the Master temporarily is based on misuse of speech. It brings about a clogging of the channel for the time being on the mental plane.
Chân sư làm việc thông qua các nhóm (lớn hay nhỏ) và công việc được tạo thuận lợi cho Các Ngài nếu sự tương tác giữa các đơn vị của nhóm là vững vàng và không gián đoạn. Một trong những nguyên nhân thường gặp nhất của khó khăn trong công việc nhóm và do đó sự ngưng trệ tạm thời của dòng mãnh lực từ Chân sư, là dựa trên việc lạm dụng lời nói. Nó gây ra sự tắc nghẽn của kênh trong một thời gian trên cõi trí.
19. These are arresting thoughts. During these days when the internet is so conveniently available, many aspirants and disciples communicate through a torrent of words. We are, however, being warned about the clogging effect of too much speech. It can prevent the assistance of the Master from reaching the groups He has under cultivation and, additionally, prevent steady, uninterrupted interplay between the members of a group.
19. Đây là những ý nghĩ đáng chú ý. Trong những ngày này, khi internet sẵn có một cách thuận tiện, nhiều người chí nguyện và đệ tử giao tiếp qua một dòng thác lời nói. Tuy nhiên, chúng ta đang được cảnh báo về tác dụng gây tắc nghẽn của quá nhiều lời nói. Nó có thể ngăn cản sự trợ giúp của Chân sư đến được các nhóm mà Ngài đang vun bồi và, thêm vào đó, ngăn cản sự tương tác vững vàng, không gián đoạn giữa các thành viên của một nhóm.
I mention these three factors for this question of group work is of vital importance and much is hoped from it in these days.
Tôi đề cập đến ba yếu tố này vì vấn đề công việc nhóm có tầm quan trọng thiết yếu và rất nhiều hy vọng đang được đặt vào đó trong những ngày này.
20. We have been given three convincing reasons why aspirants and disciples must be watchful concerning the nature of their speech.
20. Chúng ta đã được trao cho ba lý do đầy sức thuyết phục vì sao những người chí nguyện và các đệ tử phải cảnh giác đối với bản chất của lời nói của mình.
21. From the point of view of group dynamics, the group process and the Master’s intended assistance to the group must not be interrupted by the unwise and excessive use of speech.
21. Xét từ quan điểm động lực nhóm, tiến trình nhóm và sự trợ giúp mà Chân sư dự định dành cho nhóm không được bị gián đoạn bởi việc sử dụng lời nói thiếu khôn ngoan và quá mức.
If in any organisation on the physical plane the Masters can get a nucleus of even three people who mutually interact (I choose the word deliberately) and who disinterestedly follow the path of service, They can produce more definite results in a shorter space of time than is possible with a large and active body of people who may be sincere and earnest but do not know the meaning of trust in, and co-operation with each other and who guard not the gate of speech.
Nếu trong bất kỳ tổ chức nào trên cõi hồng trần, các Chân sư có thể có được một hạt nhân chỉ gồm ba người biết tương tác lẫn nhau (tôi cố ý chọn từ này) và những người ấy vô tư bước theo con đường phụng sự, thì Các Ngài có thể tạo ra những kết quả xác định hơn trong một khoảng thời gian ngắn hơn so với điều có thể thực hiện được với một tập thể đông đảo và năng động gồm những người có thể chân thành và nhiệt thành nhưng không biết ý nghĩa của sự tin cậy lẫn nhau và sự hợp tác với nhau, và không canh giữ cánh cổng của lời nói.
22. There can be no passivity or imbalance between these three. It is the responsibility of the three (or more) to interact each with each, and each with all. The factor of personality is also reduced through the disinterested following of service. The purpose of the interaction has only service as its objective.
22. Không thể có sự thụ động hay mất quân bình giữa ba người này. Trách nhiệm của ba người ấy (hay nhiều hơn) là tương tác từng người với từng người, và từng người với tất cả. Yếu tố phàm ngã cũng được giảm thiểu nhờ việc vô tư bước theo sự phụng sự. Mục đích của sự tương tác chỉ lấy phụng sự làm cứu cánh.
23. Members of the Hierarchy work through ‘creative minorities’. Work with crowds does not interest Them.
23. Các thành viên của Thánh Đoàn hoạt động thông qua “những thiểu số sáng tạo”. Làm việc với đám đông không khiến Các Ngài quan tâm.
24. DK is warning against the futility of sincere and earnest groupings of those who do trust in and cooperate with each other and who do not “guard the gate of speech”.
24. Chân sư DK đang cảnh báo về tính vô ích của những nhóm chân thành và nhiệt thành gồm những người không tin cậy và hợp tác với nhau, và không “canh giữ cánh cổng của lời nói”.
25. A we survey the nature of most group work today, we are given much to ponder.
25. Khi khảo sát bản chất của phần lớn công việc nhóm ngày nay, chúng ta được trao cho nhiều điều đáng suy ngẫm.
If a man succeeds in understanding the significance of speech, if he learns how to speak, when to speak, what is gained by speech, and what happens when he speaks, he is well on the way to achieving his goal. The person [Page 979] who regulates his speech rightly is the person who is going to make the most progress. This has ever been realised by all leaders of occult movements.
Nếu một người thành công trong việc hiểu thâm nghĩa của lời nói, nếu y học được cách nói, khi nào nên nói, điều gì đạt được nhờ lời nói, và điều gì xảy ra khi y nói, thì y đã đi rất xa trên con đường đạt đến mục tiêu của mình. Người [Page 979] điều chỉnh lời nói của mình một cách đúng đắn là người sẽ tiến bộ nhiều nhất. Điều này từ lâu vẫn được chứng nghiệm bởi mọi nhà lãnh đạo của các phong trào huyền bí học.
26. The goal of all speech is effective service.
26. Mục tiêu của mọi lời nói là sự phụng sự hữu hiệu.
27. Since what is said here is so important, let us tabulate for emphasis:
27. Vì điều được nói ra ở đây quan trọng đến thế, chúng ta hãy liệt kê thành bảng để nhấn mạnh:
a. One must understand the significance of speech
a. Người ta phải hiểu thâm nghĩa của lời nói
b. One must learn how to speak
b. Người ta phải học cách nói
c. One must learn when to speak
c. Người ta phải học khi nào nên nói
d. One must learn what is gained and to be gained by speech
d. Người ta phải học điều gì đạt được và có thể đạt được nhờ lời nói
e. One must learn what happens when he speaks
e. Người ta phải học điều gì xảy ra khi y nói
f. One must, in short, regulate his speech
f. Tóm lại, người ta phải điều chỉnh lời nói của mình
That most occult order of Pythagoras at Crotona,
Dòng huyền môn nhất của Pythagoras tại Crotona ấy,
28. Within this order, it is said the Master DK had an authoritative position.
28. Người ta nói rằng trong dòng này, Chân sư DK giữ một vị trí có thẩm quyền.
29. Perhaps this was one of His two “European incarnations” (DINA II 473)
29. Có lẽ đây là một trong hai “lần lâm phàm tại châu Âu” của Ngài (DINA II 473)
30. Master DK is said to have been Pythagoras’ favorite pupil, “Kleinias”.
30. Người ta nói Chân sư DK là môn sinh được Pythagoras yêu quý nhất, “Kleinias”.
and many other of the esoteric schools in Europe and Asia had a rule that all neophytes and probationers were not permitted to speak for two years after entering the school and when they had learned to keep silence for that period, they were given the right to speak, for they had learned a specific reticence.
và nhiều trường phái bí truyền khác ở châu Âu và châu Á có một quy luật rằng mọi người sơ cơ và những người trên Con Đường Dự Bị đều không được phép nói trong hai năm sau khi vào trường, và khi họ đã học được cách giữ im lặng trong suốt thời kỳ ấy, họ được ban cho quyền nói, vì họ đã học được một sự kín tiếng đặc thù.
31. Some might consider this a hard way to learn reticence in speech, but apparently it proved effective.
31. Một số người có thể xem đây là một cách khắc nghiệt để học sự kín tiếng trong lời nói, nhưng rõ ràng nó đã chứng tỏ là hữu hiệu.
32. If such an apparently strict discipline could not have been upheld, it would have been impossible to successfully subject oneself to the still the more demanding disciplines of true Schools of the Mysteries.
32. Nếu một kỷ luật có vẻ nghiêm khắc như thế không thể được duy trì, thì sẽ không thể nào tự đặt mình thành công dưới những kỷ luật còn đòi hỏi hơn nữa của các Trường Huyền Bí chân chính.s.
33. The Mystery Schools are now in process of reemerging. In this respect, we should think of the value of reticence and silence if we wish to participate in them.
33. Các Trường Huyền Bí hiện đang trong tiến trình tái xuất hiện. Về phương diện này, chúng ta nên suy nghĩ về giá trị của sự kín tiếng và im lặng nếu muốn tham dự vào đó.
It might be of value here if students realised that every good speaker is doing a most occult work.
Điều này có thể có giá trị ở đây nếu các đạo sinh chứng nghiệm rằng mọi diễn giả giỏi đều đang thực hiện một công việc huyền bí học sâu xa.
34. Perhaps the value of esoteric conferences is justified!
34. Có lẽ giá trị của các hội nghị bí truyền là điều có thể được biện minh!
A good lecturer (for instance) is one who is doing work that is analogous on a small scale to that done by the solar Logos. What did He do? He thought, He built, He vitalised.
Một diễn giả giỏi (chẳng hạn) là người đang làm một công việc tương tự ở quy mô nhỏ với công việc do Thái dương Thượng đế thực hiện. Ngài đã làm gì? Ngài suy tưởng, Ngài kiến tạo, Ngài tiếp sinh lực.
35. Obviously meditative thought must precede gathering, building and vitalization.
35. Hiển nhiên tư tưởng tham thiền phải đi trước việc thu thập, kiến tạo và tiếp sinh lực.
A lecturer, therefore, segregates the material with which he is going to build his lecture and which he is going to vitalise.
Vì vậy, một diễn giả phân loại chất liệu mà ông sẽ dùng để xây dựng bài giảng của mình và sẽ tiếp sinh lực cho nó.
36. This is a phase of gathering.
36. Đây là một giai đoạn của sự thu thập.
37. The note or tone of the thought which he intends to convey will determine the material to be gathered.
37. Âm điệu hay cung bậc của tư tưởng mà ông định truyền đạt sẽ quyết định chất liệu cần được thu thập.
Out of all the thought matter of the world he gathers together the substance which he individually seeks to use.
Từ toàn bộ vật chất tư tưởng của thế giới, ông gom lại chất liệu mà cá nhân ông tìm cách sử dụng.
38. This initial work is apparently analogous to the process undertaken by the Third Logos.
38. Công việc khởi đầu này dường như tương tự với tiến trình do Thượng đế thứ ba đảm nhiệm.
39. We have learned elsewhere of the accumulative faculty of the third aspect.
39. Ở nơi khác, chúng ta đã học về năng lực tích lũy của phương diện thứ ba.
In these "Rays of Aspect" or of divine expression, if so I may call them, the shattering is brought about by the widening of the channel, due to the driving power of will in the first case; by the expansion of the lower auric egg, the causal body, in the second case, due to the inclusiveness of the synthetic Ray of Love and Wisdom; and by the breaking of the periphery of the causal body in the third case, due to the accumulative faculty and systematic absorption of the Adaptability Ray. (LOM 16)
Trong các "Các Cung Trạng Thái" hay các cung của sự biểu lộ thiêng liêng, nếu tôi có thể gọi như vậy, sự phá vỡ được tạo ra bởi sự mở rộng của kênh dẫn, do quyền năng thúc đẩy của ý chí trong trường hợp thứ nhất; bởi sự mở rộng của noãn hào quang thấp hơn, tức thể nguyên nhân, trong trường hợp thứ hai, do tính bao gồm của Cung tổng hợp Bác Ái – Minh Triết; và bởi sự phá vỡ chu vi của thể nguyên nhân trong trường hợp thứ ba, do năng lực tích lũy và sự hấp thụ có hệ thống của Cung Thích Ứng. (LOM 16)
Next he copies the work of the second Logos in wisely building it into form. He constructs the form, and then when it is constructed,
Tiếp theo ông sao chép công việc của Thượng đế thứ hai bằng cách khôn ngoan xây dựng nó thành hình tướng. Ông kiến tạo hình tướng, và rồi khi nó đã được kiến tạo,
40. The second aspect of divinity is the form-building aspect.
40. Phương diện thứ hai của thiên tính là phương diện kiến tạo hình tướng.
he finishes up by playing the part of the first Person of the Trinity putting his Spirit, vitality and force into it so that it is a vibrant, living manifestation.
ông hoàn tất bằng cách đóng vai Ngôi thứ nhất của Tam Vị, đặt tinh thần, sinh lực và mãnh lực của mình vào đó để nó trở thành một biểu hiện sống động, rung động.
41. The first aspect of divinity is particularly associated with life and vitality.
41. Phương diện thứ nhất của thiên tính đặc biệt gắn liền với sự sống và sinh lực.
42. The use of the energies of the “first person of the Trinity” ensures that the lecture will have impact, ‘punch’, that it will make the necessary impression.
42. Việc sử dụng các năng lượng của “ngôi thứ nhất của Tam Vị” bảo đảm rằng bài giảng sẽ có tác động, có “sức đánh”, rằng nó sẽ tạo nên ấn tượng cần thiết.
When a lecturer or speaker of any kind can accomplish that, he can always hold his audience and his audience will always learn from him; they will recognise that which the thought form is intended to convey.
Khi một diễn giả hay người nói thuộc bất kỳ loại nào có thể làm được điều đó, ông luôn có thể giữ được thính giả của mình và thính giả của ông sẽ luôn học hỏi từ ông; họ sẽ nhận ra điều mà hình tư tưởng ấy được dự định truyền đạt.
43. The power to hold is specifically related to the first ray, but unless the work of the second and third aspects support the first ray ‘delivery’, full effectiveness will be lacking.
43. Năng lực giữ đặc biệt liên hệ với cung một, nhưng trừ phi công việc của các phương diện thứ hai và thứ ba nâng đỡ sự “truyền đạt” của cung một, thì hiệu quả trọn vẹn sẽ thiếu vắng.
44. We see that Master DK is dealing with very practical matters.
44. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK đang bàn đến những vấn đề rất thực tiễn.
In everyday life when the student speaks, he is doing just the same thing, only the trouble frequently arises that in his speech he constructs something that is usually not worth while and vitalises it with the wrong kind of energy, so that the form, instead of being a constructive, vital, helpful force, is a destructive one in the world.
Trong đời sống hằng ngày, khi đạo sinh nói, y cũng đang làm đúng điều ấy, chỉ có điều rắc rối thường phát sinh là trong lời nói của mình, y xây dựng một điều thường không đáng giá và tiếp sinh lực cho nó bằng loại năng lượng sai lầm, đến nỗi hình tướng ấy, thay vì là một mãnh lực xây dựng, sống động và hữu ích, lại trở thành một mãnh lực phá hoại trong thế giới.
45. DK points specifically to the kind of errors often made when students speak:
45. DK đặc biệt chỉ ra loại sai lầm thường được các đạo sinh phạm phải khi nói:
a. The construction has no real value
a. Sự kiến tạo không có giá trị thực sự
b. It is vitalized by the wrong kind of energy.
b. Nó được tiếp sinh lực bằng loại năng lượng sai lầm.
46. We may assume that the wrong kind of material has been gathered—i.e., that it is unsuitable to express that which the gatherer intends; that perhaps what has been gathered has been poorly built; and that emotional energy has been used to vitalize speech rather than higher energies of heart and will.
46. Chúng ta có thể giả định rằng loại chất liệu sai lầm đã được thu thập—nghĩa là, nó không thích hợp để biểu đạt điều mà người thu thập dự định; rằng có lẽ điều đã được thu thập đã được xây dựng một cách tồi tệ; và rằng năng lượng cảm xúc đã được dùng để tiếp sinh lực cho lời nói thay vì các năng lượng cao hơn của tim và ý chí.
47. DK warns us against rendering idle thoughts into speech. Such thoughts, he says, “will each produce effect”.
47. DK cảnh báo chúng ta đừng biến những tư tưởng vô ích thành lời nói. Theo Ngài, những tư tưởng ấy “mỗi cái đều sẽ tạo ra hiệu quả”.
If we study the various cosmologies of the world, we shall [Page 980] see that the process of creation was carried on by the means of sound or speech or the Word.
Nếu chúng ta nghiên cứu các vũ trụ luận khác nhau của thế giới, chúng ta sẽ [Page 980] thấy rằng tiến trình sáng tạo đã được thực hiện bằng âm thanh hay lời nói hay Linh từ.
48. All three aspects of divinity are involved in this process:
48. Cả ba phương diện của thiên tính đều dự phần vào tiến trình này:
a. The throat center is related to the third aspect of divinity
a. Trung tâm cổ họng liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính
b. The formative value of the Word is related to the second ray
b. Giá trị tạo hình của Linh từ liên hệ với cung hai
c. The factor of enunciation is related to the first ray.
c. Yếu tố phát ngôn liên hệ với cung một.
Some of the Masters of the Wisdom and Their groups of disciples are actively engaged at this time in an endeavor to impose certain basic and needed ideas upon the races of men, and much of Their work is being prepared for by a group of Destroying Disciples, and also by a group of Enunciating Disciples, for these two types of work carry forward their task as a unit. The idea to be dominant in the future is proclaimed in writing and by the voice, by one Group. The Group of Destroyers takes it up, and proceed to break up the old forms of truth so as to make room and way for the new emerging idea. (EP II 141)
Một số Chân sư của Minh Triết và các nhóm đệ tử của Các Ngài hiện đang tích cực dấn thân vào một nỗ lực nhằm áp đặt một số ý tưởng căn bản và cần thiết lên các nhân loại của loài người, và phần lớn công việc của Các Ngài đang được chuẩn bị bởi một nhóm Đệ tử Hủy Diệt, và cũng bởi một nhóm Đệ tử Phát Ngôn, vì hai loại công việc này xúc tiến nhiệm vụ của mình như một đơn vị. Ý tưởng sẽ chi phối trong tương lai được một Nhóm công bố bằng văn bản và bằng tiếng nói. Nhóm Hủy Diệt tiếp nhận nó, rồi tiến hành phá vỡ các hình tướng cũ của chân lý để dọn chỗ và mở đường cho ý tưởng mới đang xuất hiện. (EP II 141)
We have it in the Christian Bible, "In the beginning was the Word, and the Word was God. All things were made by Him and without Him was not anything made that was made."91 [Bible. John X] Thus, according to the Christian teaching, the worlds were made by the Word of God.
Chúng ta có điều này trong Kinh Thánh Cơ Đốc giáo: "Ban đầu có Linh từ, và Linh từ là Thượng đế. Muôn vật được tạo thành bởi Ngài, và không có Ngài thì chẳng vật gì được tạo thành mà đã được tạo thành."91 [Bible. John X] Như vậy, theo giáo huấn Cơ Đốc giáo, các thế giới đã được tạo thành bởi Linh từ của Thượng đế.
49. We have here a description of the initiatory, creatively impulsive power of the Word, and of sound in general.
49. Ở đây chúng ta có một mô tả về quyền năng điểm đạo, xung lực sáng tạo của Linh từ, và của âm thanh nói chung.
50. Every word we utter inaugurates a form. By speaking, we are ever in process of creating.
50. Mỗi lời chúng ta thốt ra đều khởi tạo một hình tướng. Bằng việc nói, chúng ta luôn luôn ở trong tiến trình sáng tạo.
In the Hindu Scriptures we will find that the Lord Vishnu, Who stands for the second Person of the Trinity, is called "The Voice." He is the great Singer Who has built the worlds and the universe by His song.
Trong Kinh điển Ấn giáo, chúng ta sẽ thấy rằng Chúa Vishnu, Đấng tượng trưng cho Ngôi thứ hai của Tam Vị, được gọi là "Tiếng Nói". Ngài là Đấng Ca Hát vĩ đại đã xây dựng các thế giới và vũ trụ bằng bài ca của Ngài.
51. Song comes through the throat center (ruled by the third aspect of divinity) and yet it involves the unifying energy of the heart.
51. Bài ca phát ra qua trung tâm cổ họng (được cai quản bởi phương diện thứ ba của thiên tính), nhưng đồng thời nó bao hàm năng lượng hợp nhất của tim.
52. Among the Rays of Aspect, it is specifically the second ray which rules the creation of music.
52. Trong Các Cung Trạng Thái, chính cung hai là cung đặc biệt cai quản sự sáng tạo âm nhạc.
53. To speak and create a world of thought is one thing. To sing a world into existence is a still higher act.
53. Nói và tạo ra một thế giới tư tưởng là một chuyện. Hát một thế giới vào hiện hữu còn là một hành vi cao hơn ntữa.
54. Various mythologies describe this ‘singing the world into existence’.
54. Nhiều thần thoại khác nhau mô tả việc “hát thế giới vào hiện hữu” này.
He is the Revealer of the thought of God Who has constructed the universe of solar systems.
Ngài là Đấng Mặc Khải tư tưởng của Thượng đế, Đấng đã kiến tạo vũ trụ của các hệ mặt trời.
55. The Musical Voice of Vishnu reveals Divine Ideation.
55. Tiếng Nói Âm Nhạc của Vishnu mặc khải Ý Tưởng thiêng liêng.
56. The manifested construction of the universe of solar systems is first constructed in the realm of thought.
56. Sự kiến tạo biểu hiện của vũ trụ các hệ mặt trời trước hết được xây dựng trong cõi tư tưởng.
57. A Treatise on Cosmic Fire was written before it was widely understood that the universe consisted of countless galaxies.
57. Luận về Lửa Vũ Trụ được viết trước khi người ta hiểu rộng rãi rằng vũ trụ gồm vô số thiên hà.
58. From a specific point of view, our galaxy of solar systems may, at that time, have been considered “the universe”.
58. Từ một quan điểm nhất định, thiên hà của chúng ta gồm các hệ mặt trời có thể vào thời điểm ấy đã được xem là “vũ trụ”.
Just as the Christian speaks about the great Word, the Word of God, the Christ, so the Hindu speaks of Vishnu, the great Singer, creating by means of His song.
Cũng như người Cơ Đốc giáo nói về Linh từ vĩ đại, Linh từ của Thượng đế, Đức Christ, thì người Ấn giáo nói về Vishnu, Đấng Ca Hát vĩ đại, sáng tạo bằng bài ca của Ngài.
59. Vishnu and the Christ are both representatives of the great Second Ray.
59. Vishnu và Đức Christ đều là những vị đại diện của cung hai vĩ đại.
60. The tradition which describes the worlds being sung into existence is not usually found in the West (though there is something of this approach in the creation myth of Finland. Essentially, the Hindu Tradition is a more beautiful tradition than is normally conceived by conventional Christian or Jewish thinkers.
60. Truyền thống mô tả các thế giới được hát vào hiện hữu thường không được tìm thấy ở phương Tây (dù có phần nào đó của cách tiếp cận này trong huyền thoại sáng tạo của Phần Lan). Về bản chất, Truyền thống Ấn giáo là một truyền thống đẹp đẽ hơn điều thường được các nhà tư tưởng Cơ Đốc giáo hay Do Thái giáo quy ước hình dung.
In physical plane manifestation, we are known by our speech; we are known by our reticence, by the things we say, and by the things we leave unsaid and are judged by the quality of our conversation.
Trong biểu hiện cõi hồng trần, chúng ta được biết đến qua lời nói của mình; chúng ta được biết đến qua sự kín tiếng của mình, qua những điều mình nói, và qua những điều mình không nói ra, và được phán xét bởi phẩm tính của cuộc trò chuyện của mình.
61. Here we have an important idea. We are known not only by what we say, but also by things we do not say.
61. Ở đây chúng ta có một ý tưởng quan trọng. Chúng ta được biết đến không chỉ bởi những gì mình nói, mà còn bởi những điều mình không nói.
62. Few there are who can accurately read the thoughts of another, and so we are necessarily judged by the quality of our conversation.
62. Rất ít người có thể đọc chính xác tư tưởng của người khác, và vì thế tất yếu chúng ta bị phán xét bởi phẩm tính của cuộc trò chuyện của mình.
We think of people in terms of what they say, because their words disclose the type of thought-matter in which they work and the quality of energy or life which they put behind their words.
Chúng ta nghĩ về người khác theo những gì họ nói, bởi vì lời nói của họ tiết lộ loại vật chất tư tưởng mà họ hoạt động trong đó và phẩm tính của năng lượng hay sự sống mà họ đặt đằng sau lời nói của mình.
63. Let us ponder what is said here:
63. Chúng ta hãy suy ngẫm về điều được nói ra ở đây:
a. Words disclose the type of thought matter in which we work
a. Lời nói tiết lộ loại vật chất tư tưởng mà chúng ta hoạt động trong đó
b. Words disclose the quality of energy which we put behind those words
b. Lời nói tiết lộ phẩm tính của năng lượng mà chúng ta đặt đằng sau những lời ấy
64. Therefore, we have both a mental disclosure and an emotional disclosure (allied, in some cases, to the quality of the soul).
64. Do đó, chúng ta có cả một sự bộc lộ trí tuệ lẫn một sự bộc lộ cảm xúc (trong một số trường hợp, gắn liền với phẩm tính của linh hồn).
To the various solar Logoi of the vast constellations that are apparent when we scan the starry heavens, the quality of the Logos of our solar system is seen through the medium of that great thought form He has built by the power of His speech, and which is energised by His particular quality of love.
Đối với các Thái dương Thượng đế khác nhau của những chòm sao bao la hiện rõ khi chúng ta quét nhìn bầu trời đầy sao, phẩm tính của Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta được nhìn thấy qua trung gian của hình tư tưởng vĩ đại mà Ngài đã xây dựng bằng quyền năng của lời nói của Ngài, và hình tư tưởng ấy được nạp năng lượng bởi phẩm tính bác ái đặc thù của Ngài.
65. DK is telling us of the manner in which our Solar Logos is judged by those great Beings Who can perceive and understand the nature of His creation, the solar system.
65. DK đang cho chúng ta biết cách thức mà Thái dương Thượng đế của chúng ta được các Đấng vĩ đại kia phán xét, những Đấng có thể tri giác và thấu hiểu bản chất của sự sáng tạo của Ngài, tức hệ mặt trời.
66. Our solar system was created by the speech (and, presumably, song) of our Solar Logos.
66. Hệ mặt trời của chúng ta đã được tạo ra bởi lời nói (và có lẽ cả bài ca) của Thái dương Thượng đế của chúng ta.
67. The solar system discloses the nature of the Solar Logos’ thought and His quality (a particular quality of love) is also disclosed to these Celestial Observers.
67. Hệ mặt trời tiết lộ bản chất tư tưởng của Thái dương Thượng đế, và phẩm tính của Ngài (một phẩm tính bác ái đặc thù) cũng được bộc lộ cho những Đấng Quan Sát Thiên Giới này.
68. It seems that all are judged by their creations.
68. Dường như mọi hữu thể đều được phán xét bởi những sáng tạo của mình.
When God speaks, the worlds are made and at this present time He is only in process of speaking.
Khi Thượng đế nói, các thế giới được tạo thành, và hiện nay Ngài vẫn chỉ đang ở trong tiến trình nói.
69. The divine speaking and singing is still pouring forth. The Word may have occurred “in the beginning”, but the many combinations and permutations of that Word continue to emerge from the throat center of the Solar Logos.
69. Sự nói và hát thiêng liêng vẫn còn đang tuôn đổ. Linh từ có thể đã xảy ra “thuở ban đầu”, nhưng nhiều tổ hợp và hoán vị của Linh từ ấy vẫn tiếp tục xuất hiện từ trung tâm cổ họng của Thái dương Thượng đế.
70. We might question to what extent the planet Saturn (reasonably the throat center of the Solar Logos) and Mercury (the planet of speech) are involved in this process.
70. Chúng ta có thể tự hỏi hành tinh Sao Thổ (hợp lý là trung tâm cổ họng của Thái dương Thượng đế) và Sao Thủy (hành tinh của lời nói) dự phần vào tiến trình này đến mức nào.
He has not yet concluded what He has to say, and hence the present apparent imperfection.
Ngài vẫn chưa kết thúc điều Ngài phải nói, và vì thế mới có sự bất toàn biểu kiến hiện nay.
71. Time is needed for the Solar Logos’ full utterance.
71. Cần có thời gian để Thái dương Thượng đế phát ngôn trọn vẹn.
72. DK is telling us that an incomplete utterance is an imperfect sentence.
72. DK đang cho chúng ta biết rằng một phát ngôn chưa hoàn tất là một câu chưa hoàn chỉnh.
73. Through the power of speech one clarifies one’s intentions. One also corrects misperceptions.
73. Qua quyền năng của lời nói, người ta làm sáng tỏ các ý định của mình. Người ta cũng sửa chữa những nhận thức sai lầm.
When that great divine phrase or sentence which occupies His thought is brought to a close, we [Page 981] will have a perfect solar system inhabited by perfect existences.
Khi cụm từ thiêng liêng hay câu vĩ đại đang chiếm lĩnh tư tưởng của Ngài được khép lại, chúng ta [Page 981] sẽ có một hệ mặt trời hoàn hảo được cư ngụ bởi những hiện hữu hoàn hảo.
74. We are being told of the nature of God’s creativity (the creativity of the Solar Logos) through sound, word, phrase and sentence. The factor of music should also not be ignored.
74. Chúng ta đang được cho biết về bản chất của tính sáng tạo của Thượng đế (tính sáng tạo của Thái dương Thượng đế) thông qua âm thanh, Linh từ, cụm từ và câu. Yếu tố âm nhạc cũng không nên bị bỏ qua.
75. DK speaks of a “divine phrase” or “sentence” inviting the thought that there are other speakers creating in concert with our Solar Logos and adding their phrases or sentences to His so that, for instance, a stanza may be created, a number of stanzas completing a chapter.
75. DK nói về một “cụm từ thiêng liêng” hay “câu”, gợi ra ý nghĩ rằng còn có những người nói khác đang sáng tạo trong hòa điệu với Thái dương Thượng đế của chúng ta và thêm các cụm từ hay câu của họ vào câu của Ngài, để chẳng hạn một bài kệ có thể được tạo thành, và một số bài kệ hoàn tất một chương.
76. We can speak of the solar system as if it were a book of many chapters but also as if it were a symphony in process of being performed. Presumably, the symphony is created in the mind of God the Solar Logos before it is performed. Likewise, any sentence or phrase in a larger “Book of Life” would be created in the Mind of God the Solar Logos before it was uttered by that Logos.
76. Chúng ta có thể nói về hệ mặt trời như thể nó là một cuốn sách có nhiều chương, nhưng cũng như thể nó là một bản giao hưởng đang trong tiến trình được trình diễn. Có lẽ bản giao hưởng ấy được sáng tạo trong Trí của Thượng đế là Thái dương Thượng đế trước khi được trình diễn. Tương tự như vậy, bất kỳ câu hay cụm từ nào trong một “Sách Sự Sống” lớn hơn cũng sẽ được sáng tạo trong Trí của Thượng đế là Thái dương Thượng đế trước khi được Thượng đế ấy phát ngôn.
Through speech a thought is evoked and becomes present;
Qua lời nói, một tư tưởng được gợi lên và trở nên hiện diện;
77. Through speech the hidden stands revealed.
77. Qua lời nói, điều ẩn giấu được mặc khải.
it is brought out of abstraction and out of a nebulous condition and materialised upon the physical plane,
nó được đưa ra khỏi sự trừu tượng và khỏi một trạng thái mơ hồ, rồi được hiện hình trên cõi hồng trần,
78. To speak is an ‘act of concretion’. Saturn, a planet promoting the processes of concretion, rules the throat center of the disciple. Vulcan, to be associated in part with the throat center, may be involved as well.
78. Nói là một “hành vi làm thành cụ thể”. Sao Thổ, một hành tinh thúc đẩy các tiến trình làm thành cụ thể, cai quản trung tâm cổ họng của đệ tử. Vulcan, được liên kết phần nào với trung tâm cổ họng, cũng có thể dự phần.
79. Perhaps we can understand how Saturn might function in relation to the planet of idealism, Neptune, or the planet of vision, Jupiter.
79. Có lẽ chúng ta có thể hiểu Sao Thổ có thể hoạt động như thế nào trong tương quan với hành tinh của chủ nghĩa lý tưởng là Sao Hải Vương, hay hành tinh của tầm nhìn là Sao Mộc.
producing (could we but see it) something very definite on etheric levels.
tạo ra (nếu chúng ta có thể thấy được) một điều gì đó rất xác định trên các cấp độ dĩ thái.
80. We are also reminded that in the case of disciples, the ruler of the throat center, after the first initiation (and, perhaps, before the third), is Uranus, a planet intimately associated with manifestation, the etheric plane and etheric form.
80. Chúng ta cũng được nhắc rằng trong trường hợp các đệ tử, chủ tinh của trung tâm cổ họng, sau lần điểm đạo thứ nhất (và có lẽ trước lần điểm đạo thứ ba), là Sao Thiên Vương, một hành tinh gắn bó mật thiết với sự biểu hiện, cõi dĩ thái và hình tướng dĩ thái.
81. Speech, then, produces definite etheric effects, which, it may be assumed, work towards concrete manifestation.
81. Vậy thì lời nói tạo ra những hiệu quả dĩ thái xác định, mà có thể giả định là hướng tới sự biểu hiện cụ thể.
Objective manifestation is produced, for "Things are that which the Word makes them in naming them."
Biểu hiện khách quan được tạo ra, vì "Sự vật là điều mà Linh từ làm cho chúng trở thành khi gọi tên chúng."
82. Here we have an ancient saying pointing to the power of the name.
82. Ở đây chúng ta có một câu nói cổ xưa chỉ đến quyền năng của danh xưng.
83. We are dealing with the true nature of a thing (its name) in a way ‘assigned’ to that thing by the Great Word in the Beginning. All things, in fact, are aspects of an ‘emanative Word’ rolling forth as speech/song in various combinations and permutations. In fact, all things or B/beings are words, i.e., essentially patterns of sound which have aggregated matter into form.
83. Chúng ta đang bàn đến bản chất chân thực của một sự vật (tức danh xưng của nó) theo một cách được “ấn định” cho sự vật ấy bởi Linh từ Vĩ Đại thuở Ban Đầu. Thật vậy, mọi sự vật đều là những phương diện của một “Linh từ phát xạ” đang cuộn trào ra như lời nói/bài ca trong nhiều tổ hợp và hoán vị khác nhau. Thật ra, mọi sự vật hay mọi H/hữu thể đều là những lời, nghĩa là về bản chất là những mô hình âm thanh đã kết tụ vật chất thành hình tướng.
84. The idea is that the true name of a thing denotes the true nature of the thing named.
84. Ý tưởng ở đây là danh xưng chân thực của một sự vật biểu thị bản chất chân thực của sự vật được gọi tên.
Speech is literally a great magical force,
Lời nói theo nghĩa đen là một mãnh lực huyền thuật vĩ đại,
85. Yet it is so common and commonly use that we overlook or ignore its magical properties.
85. Tuy nhiên, nó quá thông thường và được dùng quá thông thường đến nỗi chúng ta bỏ qua hay phớt lờ các đặc tính huyền thuật của nó.
and the adepts or white magicians, through knowledge of the forces and power of silence and of speech, can produce effects upon the physical plane.
và các chân sư hay các nhà huyền thuật chánh đạo, nhờ tri thức về các mãnh lực và quyền năng của im lặng và của lời nói, có thể tạo ra những hiệu quả trên cõi hồng trần.
86. To produced desired effects upon the physical plane it is not enough to speak. Speech must be combined with measured silence and also something more.
86. Để tạo ra những hiệu quả mong muốn trên cõi hồng trần, chỉ nói thôi thì chưa đủ. Lời nói phải được kết hợp với sự im lặng có chừng mực và còn với một điều gì khác nữa.
87. Rhythm consists of events and interludes (which are the absence of such events).
87. Nhịp điệu gồm các biến cố và các quãng ngắt (là sự vắng mặt của những biến cố ấy).
88. We are being told that the use of correct rhythm (often in pronouncing mantrams) is a vitally important factor in rendering the mantram effective.
88. Chúng ta đang được cho biết rằng việc sử dụng đúng nhịp điệu (thường là trong khi phát âm các mantram) là một yếu tố cực kỳ quan trọng để làm cho mantram hữu hiệu.
89. Yet three things are here required for magical effectiveness:
89. Tuy nhiên, ở đây cần đến ba điều để có hiệu quả huyền thuật: