Trích nội dung chương
90. Without a true knowledge of the forces to be conveyed in speech, speech will remain ineffective despite an expert use of speech and silence. 90. Nếu không có tri thức chân thực về các mãnh lực cần được chuyển tải trong lời nói, thì lời nói sẽ vẫn không hiệu quả dù có sử dụng lời nói và im lặng một cách thành thạo.
a. Knowledge of the forces
a. Tri thức về các mãnh lực
b. The power of silence
b. Quyền năng của im lặng
c. The power of speech
c. Quyền năng của lời nói
90. Without a true knowledge of the forces to be conveyed in speech, speech will remain ineffective despite an expert use of speech and silence.
90. Nếu không có tri thức chân thực về các mãnh lực cần được chuyển tải trong lời nói, thì lời nói sẽ vẫn không hiệu quả dù có sử dụng lời nói và im lặng một cách thành thạo.
91. It is interesting that the “power of silence” is mentioned before the power of speech.
91. Điều đáng chú ý là “quyền năng của im lặng” được nhắc đến trước quyền năng của lời nói.
92. It is almost as if there must be a moment of silence before speech is delivered.
92. Dường như gần như phải có một khoảnh khắc im lặng trước khi lời nói được thốt ra.
93. While silence may be required before speech is uttered, it is also necessary between utterances.
93. Trong khi im lặng có thể được đòi hỏi trước khi lời nói được thốt ra, thì nó cũng cần thiết giữa các lần phát ngôn.
94. Before speaking, one must also be very sure of the strength and quality of force which one wishes to convey.
94. Trước khi nói, người ta cũng phải hết sức chắc chắn về sức mạnh và phẩm tính của mãnh lực mà mình muốn chuyển tải.
As we well know, there is a branch of magical work which consists in the utilisation of this knowledge in the form of Words of Power and of those mantrams and formulae which set in motion the hidden energies of nature and call the devas to their work.
Như chúng ta đều biết rõ, có một ngành công việc huyền thuật bao gồm việc sử dụng tri thức này dưới hình thức các Quyền năng từ và những mantram cùng công thức làm chuyển động các năng lượng ẩn giấu của bản chất và kêu gọi các thiên thần vào công việc của họ.
95. We are speaking of Mantra Yoga.
95. Chúng ta đang nói về Mantra Yoga.
96. We note that the relation of Mantra Yoga to the third aspect of divinity because the factor of “motion” is particularly related to the third ray.
96. Chúng ta lưu ý mối liên hệ của Mantra Yoga với phương diện thứ ba của thiên tính, bởi vì yếu tố “chuyển động” đặc biệt liên hệ với cung ba.
97. Through the correct use of certain mantrams and formulas, devas are called to their work. Must they obey the call? The implication here seems to be that they must.
97. Qua việc sử dụng đúng một số mantram và công thức, các thiên thần được kêu gọi vào công việc của họ. Họ có phải tuân theo lời kêu gọi ấy không? Hàm ý ở đây dường như là họ phải tuân theo.
98. Elsewhere, we are told that devas (self-conscious devas, presumably) attend events freely and according to their will.
98. Ở nơi khác, chúng ta được cho biết rằng các thiên thần (có lẽ là các thiên thần có ngã thức) tham dự các sự kiện một cách tự do và theo ý chí của họ.
Speech is one of the keys which opens the doors of communication between men and subtler beings. It gives the clue to the discovery of those entities who are contacted on the other side of the veil. But only he who has learned to keep silent, and has arrived at the knowledge of the times to speak can pass this veil and make certain esoteric contacts.
Lời nói là một trong những chìa khóa mở ra các cánh cửa giao tiếp giữa con người và những hữu thể vi tế hơn. Nó cho manh mối để khám phá những thực thể được tiếp xúc ở phía bên kia bức màn. Nhưng chỉ người nào đã học được cách giữ im lặng, và đã đạt đến tri thức về những thời điểm cần nói, mới có thể vượt qua bức màn này và thực hiện một số tiếp xúc huyền bí nhất định.
99. Here the necessity for correct silence is emphasized.
99. Ở đây sự cần thiết của im lặng đúng đắn được nhấn mạnh.
100. Speech is not only an instrument of revelation and disclosure but an instrument of discovery. Certain beings cannot be contacted except through correct mantric speech. As well intercourse is not possible with them except through the kind of speech cognizable by them.
100. Lời nói không chỉ là một công cụ của sự mặc khải và bộc lộ mà còn là một công cụ của sự khám phá. Một số hữu thể không thể được tiếp xúc ngoại trừ qua lời nói mantram đúng đắn. Hơn nữa, sự giao tiếp với họ cũng không thể có được ngoại trừ qua loại lời nói mà họ có thể nhận biết.
101. But one must be extremely sensitive in these matters, as there are times to speak and times to remain silent. Ill-timed speech (even rightly motivated and rightly delivered) can have a disruptive effect.
101. Nhưng người ta phải cực kỳ nhạy bén trong những vấn đề này, vì có lúc để nói và có lúc để im lặng. Lời nói không đúng lúc (dù được thúc đẩy đúng đắn và được phát ra đúng đắn) có thể gây ra một tác động làm xáo trộn.
Magic consists, we are told in the Secret Doctrine, in addressing the Gods in Their own language; therefore, the speech of average man cannot reach Them.
Như chúng ta được bảo trong Giáo Lý Bí Nhiệm, huyền thuật hệ tại ở việc xưng hô với các Thượng đế bằng ngôn ngữ của chính Các Ngài; vì vậy, lời nói của con người trung bình không thể vươn tới Các Ngài.
102. In one respect, the true language of mantra is that language.
102. Ở một phương diện, ngôn ngữ chân thực của mantra chính là ngôn ngữ ấy.
103. There is also a language of symbolism as well as a musical language and a language of color; all these are effective in contacting and holding discourse with devas.
103. Cũng có một ngôn ngữ của biểu tượng, cũng như một ngôn ngữ âm nhạc và một ngôn ngữ màu sắc; tất cả những ngôn ngữ này đều hữu hiệu trong việc tiếp xúc và đàm đạo với các thiên thần.
104. There exists lore which reveals how the “Gods” first spoke to us. Knowledge of how they spoke and what they imparted has been preserved. We must learn to enter discourse with them using the language in which they addressed us.
104. Có một truyền thuyết tiết lộ cách các “Thượng đế” lần đầu tiên nói với chúng ta. Tri thức về cách họ đã nói và điều họ đã truyền đạt đã được bảo tồn. Chúng ta phải học cách bước vào cuộc đàm đạo với họ bằng ngôn ngữ mà họ đã dùng để ngỏ lời với chúng ta.
105. We come to realize how really ineffective is our ordinary speech in the task of penetrating the veils to higher spiritual levels. A very refined approach even to ordinary speech is required if that speech is to be rendered more spiritually effective.
105. Chúng ta đi đến chỗ nhận ra rằng ngôn ngữ thông thường của chúng ta thật sự kém hiệu quả biết bao trong nhiệm vụ xuyên thấu các bức màn để đạt tới những cấp độ tinh thần cao hơn. Cần có một cách tiếp cận hết sức tinh luyện ngay cả đối với lời nói thông thường nếu lời nói ấy muốn trở nên hữu hiệu hơn về mặt tinh thần.
Therefore, those who seek to learn the occult language, those who yearn to become aware of the words which will penetrate to the ears of those who stand on the other side, and those who seek to utilise the formulae and phrases which will give them power over the Builders, have to unlearn their previous use of words and to refrain from ordinary methods of talking.
Vì vậy, những ai tìm cách học ngôn ngữ huyền bí, những ai khát khao trở nên nhận biết những lời sẽ xuyên thấu đến tai của những vị đứng ở phía bên kia, và những ai tìm cách sử dụng các công thức và cụm từ sẽ ban cho họ quyền năng đối với các đấng kiến tạo, phải quên đi cách dùng từ ngữ trước đây của mình và phải kiêng dùng những phương pháp nói năng thông thường.
106. How fascinating that we must no longer speak as we have habitually spoken if we wish to—
106. Thật hấp dẫn biết bao khi chúng ta không còn được nói như thói quen lâu nay nữa nếu chúng ta muốn—
a. Learn the truly occult language
a. Học ngôn ngữ huyền bí chân chính
b. Penetrate to the ears of those who are on the other side
b. Xuyên thấu đến tai của những vị ở phía bên kia
c. Seek to use those words which will give us power over the Builders
c. Tìm cách dùng những lời sẽ ban cho chúng ta quyền năng đối với các đấng kiến tạo
107. We are told that we must “unlearn” and “refrain”…
107. Chúng ta được bảo rằng mình phải “quên đi” và “kiêng dùng”…
Let the disciple turn his attention to the enunciating of those sounds which echo in the halls where walks the Master. Let him not sound the lesser notes which awaken vibration within the halls of Maya. (IHS 198)
Hãy để người đệ tử hướng sự chú ý của y vào việc phát ra những âm thanh vang dội trong các điện đường nơi Chân sư bước đi. Đừng để y xướng lên những âm điệu thấp hơn, những âm điệu đánh thức rung động trong các điện đường của ảo lực. (IHS 198)
108. To follow the injunction above would at least represent a beginning in the process of learning the true occult language.
108. Tuân theo huấn lệnh trên ít nhất cũng sẽ tượng trưng cho một sự khởi đầu trong tiến trình học ngôn ngữ huyền bí chân chính.
Then the new language will be theirs and the new expressions, words, mantrams and formulas will be entrusted to their care. [Page 982]
Khi đó ngôn ngữ mới sẽ thuộc về họ và những cách diễn đạt mới, những lời, những mantram và những công thức mới sẽ được giao phó cho họ gìn giữ. [Page 982]
109. How will this happen? For one thing, the soul (from its vast repositories of knowledge) may reveal some of this language. As well, ancient memory may reawaken, for there was a time when many of us knew the necessary words.
109. Điều này sẽ xảy ra như thế nào? Trước hết, linh hồn (từ những kho tàng tri thức bao la của nó) có thể mặc khải một phần ngôn ngữ này. Ngoài ra, ký ức cổ xưa có thể thức dậy trở lại, vì đã từng có một thời nhiều người trong chúng ta biết những lời cần thiết ấy.
110. Then, there is the process of initiation in which certain words and phrases are entrusted to the initiate in the initiation chamber. These are, perhaps, rarely remembered in the waking brain-consciousness, but the possibility of retention can be enhanced through methods known by the Masters.
110. Rồi còn có tiến trình điểm đạo, trong đó một số lời và cụm từ nhất định được giao phó cho điểm đạo đồ trong phòng điểm đạo. Có lẽ những điều này hiếm khi được nhớ lại trong tâm thức não bộ lúc thức, nhưng khả năng lưu giữ có thể được tăng cường nhờ những phương pháp mà các Chân sư biết rõ.
The laws of speech are the laws of matter
Các định luật của lời nói là các định luật của vật chất
111. We are, let us remember, dealing with Saturn, the throat center and the third ray—the Ray of Materiality.
111. Xin nhớ rằng chúng ta đang đề cập đến Sao Thổ, trung tâm cổ họng và cung ba—Cung của Tính Vật Chất.
and students can apply the laws governing physical plane substance to their use of words, for it concerns the manipulation of matter on other levels.
và các đạo sinh có thể áp dụng các định luật chi phối chất liệu cõi hồng trần vào việc sử dụng từ ngữ của mình, vì điều này liên quan đến sự vận dụng vật chất trên những cấp độ khác.
112. Such application suggests the use, among other things, of the Law of Economy.
112. Sự áp dụng như thế gợi ý việc sử dụng, trong nhiều điều khác, Định luật Tiết Kiệm.
113. Through the correct use of words, matter of all kinds can be manipulated—not just etheric matter. Every plane and subplane of the cosmic physical plane has its Words of Power.
113. Qua việc sử dụng đúng đắn từ ngữ, vật chất thuộc mọi loại đều có thể được vận dụng—không chỉ riêng vật chất dĩ thái. Mỗi cõi và cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ đều có những Quyền năng từ của riêng nó.
Speech is the great medium whereby we make apparent the nature of the little system we are constructing
Lời nói là môi giới lớn lao nhờ đó chúng ta làm hiển lộ bản chất của hệ thống nhỏ bé mà chúng ta đang kiến tạo
114. We are creative workers in constant process of creation. This creative activity should be purposeful and in line with the Divine Plan.
114. Chúng ta là những người hoạt động sáng tạo trong tiến trình sáng tạo không ngừng. Hoạt động sáng tạo này phải có mục đích và phù hợp với Thiên Cơ.
—that system of which each human unit is the central sun, for under the Law of Attraction he draws to himself that which he needs.
—hệ thống mà trong đó mỗi đơn vị nhân loại là mặt trời trung tâm, vì dưới Định luật Hấp Dẫn, y thu hút về mình điều mà y cần.
115. We are creating a world or system just as the Solar Logos has created a solar system.
115. Chúng ta đang sáng tạo một thế giới hay một hệ thống cũng như Thái dương Thượng đế đã sáng tạo một hệ mặt trời.
116. Every creator is as the Sun to the system he is in process of creating.
116. Mỗi đấng sáng tạo đều như Mặt Trời đối với hệ thống mà vị ấy đang trong tiến trình sáng tạo.
117. There are ugly, useless or harmful creations, and there are those which are beautiful, timely and aid the objectives of the Planetary Logos. May we be capable of thinking, speaking and creating in such a way which will further the manifestation intended by the “One in Whom we live and move and have our being”!
117. Có những sáng tạo xấu xí, vô dụng hoặc có hại, và cũng có những sáng tạo đẹp đẽ, đúng lúc và hỗ trợ các mục tiêu của Chân Linh Hành Tinh. Mong sao chúng ta có khả năng suy nghĩ, nói năng và sáng tạo theo cách sẽ thúc đẩy sự biểu hiện mà “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu” đã dự định!
S8S5 Part II.1
TCF 977-985
TCF 977-985
13 – 28 December 2008
13 – 28 tháng Mười Hai 2008
2. The Nature of Magic. 92
2. Bản Chất của huyền thuật. 92
Footnote 92:
Chú thích 92:
Magic.—S. D., I, 284.
Huyền thuật.—S. D., I, 284.
1. Magic is a divine science which leads to a participation in the attributes of divinity itself.—Isis Unveiled, I, 25-27.
1. Huyền thuật là một khoa học thiêng liêng dẫn đến sự tham dự vào chính các thuộc tính của thiên tính.—Isis Unveiled, I, 25-27.
1. We can assume that HBP is not really differentiating between “attributes” and “aspects”.
1. Chúng ta có thể giả định rằng HBP thực ra không phân biệt rõ giữa “thuộc tính” và “phương diện”.
2. To participate in the “attributes of divinity” is both to contact them and wield them.
2. Tham dự vào “các thuộc tính của thiên tính” vừa là tiếp xúc với chúng vừa là vận dụng chúng.
2. All magical operations consist in freeing oneself from the coils of the Ancient Serpent.—Isis Unveiled, I, 138.
2. Mọi hoạt động huyền thuật đều bao gồm việc tự giải thoát khỏi những vòng cuốn của Con Rắn Cổ Xưa.—Isis Unveiled, I, 138.
3. There are many possible meanings of “the Ancient Serpent”. We can think that the true magician is freed from the coils of lunar life, the “Serpent of Matter”. We can think that he is freed of lunar compulsion, helplessness before lunar forces and unconsciousness.
3. Có nhiều ý nghĩa khả dĩ của “Con Rắn Cổ Xưa”. Chúng ta có thể nghĩ rằng nhà huyền thuật chân chính được giải thoát khỏi những vòng cuốn của sự sống thái âm, “Con Rắn của Vật Chất”. Chúng ta có thể nghĩ rằng ông được giải thoát khỏi sự cưỡng bách thái âm, sự bất lực trước các mãnh lực thái âm và trạng thái vô thức.
3. The object of the art of magic is the perfection of man.—Isis Unveiled, I, 309.
3. Mục tiêu của nghệ thuật huyền thuật là sự hoàn thiện của con người.—Isis Unveiled, I, 309.
4. This is a magnificent thought. If, by magical means, the entire lower nature can be transmuted, transformed and transfigured.
4. Đây là một tư tưởng tráng lệ. Nếu bằng những phương tiện huyền thuật, toàn bộ bản chất thấp có thể được chuyển hoá, chuyển đổi và biến hình.
5. The purpose of magic is certainly not the manipulation of subtle matter for selfish ends.
5. Mục đích của huyền thuật chắc chắn không phải là sự vận dụng vật chất vi tế cho những mục đích ích kỷ.
6. Magic is the means of bringing the higher nature of man into redemptive contact with the lower.
6. Huyền thuật là phương tiện đưa bản chất cao hơn của con người vào sự tiếp xúc cứu chuộc với bản chất thấp hơn.
4. Magic explores the essence and power of everything.—Isis Unveiled, I, 282; S. D., II, 538.
4. Huyền thuật khảo sát tinh chất và quyền năng của mọi sự vật.—Isis Unveiled, I, 282; S. D., II, 538.
7. We can see that magic is related to the first ray of will and power, and also to the seventh which is a more concrete reflection of the first ray. The true occultist is a magician and operates along the 1—3—5—7 ray line.
7. Chúng ta có thể thấy rằng huyền thuật liên hệ với cung một của ý chí và quyền năng, và cũng với cung bảy là sự phản chiếu cụ thể hơn của cung một. Nhà huyền bí học chân chính là một nhà huyền thuật và hoạt động theo tuyến cung 1—3—5—7.
8. If magic explores the “essence” as well as the “power” of everything, it must have some power to touch the Spirit aspect. Of course, HPB may have in mind a more relative definition of the word “essence”.
8. Nếu huyền thuật khảo sát “tinh chất” cũng như “quyền năng” của mọi sự vật, thì nó hẳn phải có một quyền năng nào đó để chạm đến phương diện tinh thần. Dĩ nhiên, HPB có thể đang nghĩ đến một định nghĩa tương đối hơn của từ “tinh chất”.
5. Magic and magnetism are synonymous terms.—Isis Unveiled, I, 279.
5. Huyền thuật và từ điện là những thuật ngữ đồng nghĩa.—Isis Unveiled, I, 279.
9. This is a fascinating thought. It is as if magical arrangements are not so much compelled but magnetically drawn into the necessary pattern.
9. Đây là một tư tưởng thật hấp dẫn. Dường như những sắp xếp huyền thuật không hẳn bị cưỡng ép mà được từ tính hút vào mô hình cần thiết.
10. Magic has so much to do with the activation of certain devic forces. This is done through the power of the “word”. When the “word” sounds, certain devas are magnetically drawn and patterned into a relationship contained within the word.
10. Huyền thuật liên hệ rất nhiều đến sự hoạt hóa một số mãnh lực thiên thần nhất định. Điều này được thực hiện qua quyền năng của “linh từ”. Khi “linh từ” được xướng lên, một số thiên thần nhất định bị hút bằng từ tính và được định hình vào một tương quan nằm trong linh từ ấy.
6. Magic is the sum-total of natural knowledge.—Isis Unveiled, II, 99, 189.
6. Huyền thuật là tổng thể của tri thức tự nhiên.—Isis Unveiled, II, 99, 189.
11. Magic is particularly related to the third aspect of divinity. Knowledge is subsumed by the third aspect of divinity whereas wisdom pertains more to the second. Really, wisdom is the bridge between the third and second aspects of divinity.
11. Huyền thuật đặc biệt liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính. Tri thức được bao hàm trong phương diện thứ ba của thiên tính, trong khi minh triết thuộc nhiều hơn về phương diện thứ hai. Thật ra, minh triết là cây cầu nối giữa phương diện thứ ba và thứ hai của thiên tính.
12. What is “natural knowledge”? May we say that it is knowledge which pertains, particularly, to the lower three worlds?
12. “Tri thức tự nhiên” là gì? Chúng ta có thể nói rằng đó là tri thức liên hệ đặc biệt đến ba cõi thấp chăng?
13. In a sense, however, the natural world is the entire cosmic physical plane. There are, no doubt, magical processes which pertain to the cosmic ethers.
13. Tuy nhiên, theo một nghĩa nào đó, thế giới tự nhiên là toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ. Chắc chắn có những tiến trình huyền thuật liên hệ đến các dĩ thái vũ trụ.
7. Magic does not imply a transgression of the laws of nature.—Isis Unveiled, I, Preface.
7. Huyền thuật không hàm ý sự vi phạm các định luật của bản chất.—Isis Unveiled, I, Lời tựa.
14. In fact, the true magic implies deep cooperation with the laws of nature. It is only those who are addicted to black magic, selfish magic, who transgress the laws of nature.
14. Thật vậy, huyền thuật chân chính hàm ý sự hợp tác sâu sắc với các định luật của bản chất. Chỉ những kẻ nghiện hắc thuật, huyền thuật ích kỷ, mới vi phạm các định luật của bản chất.
15. We can see that the book Isis Unveiled was a pioneering book for its time.
15. Chúng ta có thể thấy rằng quyển Isis Unveiled là một tác phẩm tiên phong đối với thời đại của nó.
The Basis of Magic.
Nền Tảng của Huyền thuật.
1. Magic is based on the inner powers in man's soul.—Isis Unveiled, I, 459.
1. Huyền thuật dựa trên những quyền năng bên trong trong linh hồn con người.—Isis Unveiled, I, 459.
16. DK has often told us that only the soul-infused disciple can be a white magician.
16. Chân sư DK thường nói với chúng ta rằng chỉ đệ tử được linh hồn thấm nhuần mới có thể là một nhà huyền thuật chánh đạn.
17. The true white magician is the soul in expression in the three lower worlds.
17. Nhà huyền thuật chánh đạo chân chính là linh hồn đang biểu hiện trong ba cõi thấp.
2. The trinity of nature is the lock of magic, the trinity of man the key that fits it.—Isis Unveiled, II, 635.
2. bộ ba của bản chất là ổ khóa của huyền thuật, bộ ba của con người là chiếc chìa khóa vừa khít với nó.—Isis Unveiled, II, 635.
18. This is a profound analogy. The “trinity of nature” can be considered the three lower kingdoms. The trinity of man may be considered the three aspects of his soul, or, ultimately, the power of atma-buddhi-manas.
18. Đây là một phép tương đồng sâu sắc. “Bộ ba của bản chất” có thể được xem là ba giới thấp. Bộ ba của con người có thể được xem là ba phương diện của linh hồn y, hoặc rốt ráo là quyền năng của atma-buddhi-manas.
19. Man must know himself to body evolution a true magician.
19. Con người phải biết chính mình để trở thành một nhà huyền thuật chân chính qua tiến hoá của thể.
3. Magic is occult psychology.—Isis Unveiled, I, 612-616.
3. Huyền thuật là Tâm Lý Học Nội Môn.—Isis Unveiled, I, 612-616.
20. This is another way of saying that the performance of magic is based upon a knowledge of the qualities of all things.
20. Đây là một cách khác để nói rằng việc thực hành huyền thuật dựa trên sự hiểu biết về các phẩm tính của mọi sự vật.
21. Further, there is psyche or soul in all things—even the tiniest atom or particle. Magic calls from soul to soul and bring the true qualities of all things into expression.
21. Hơn nữa, có psyche hay linh hồn trong mọi sự vật—ngay cả nguyên tử hay hạt nhỏ bé nhất. Huyền thuật kêu gọi từ linh hồn đến linh hồn và đưa các phẩm tính chân thực của mọi sự vật vào biểu hiện.
4. The astral light is the chief agent of magic.—Isis Unveiled, I, 128, 616; S. D., I, 275; II, 537.
4. Ánh sáng cảm dục là tác nhân chủ yếu của huyền thuật.—Isis Unveiled, I, 128, 616; S. D., I, 275; II, 537.
22. Certainly this is the case with the lower magic. The astral light is essentially the power of formation behind and within concretion. When we speak of the astral light we will not be speaking of the astral plane at all but of the dynamic formative power of the ethers. The term “astral” means “starry” and describes the appearance of the ethers.
22. Chắc chắn điều này đúng với huyền thuật thấp. Ánh sáng cảm dục về bản chất là quyền năng tạo hình ở phía sau và bên trong sự kết tụ cụ thể. Khi chúng ta nói về ánh sáng cảm dục, chúng ta hoàn toàn không nói về cõi cảm dục mà nói về quyền năng tạo hình năng động của các dĩ thái. Thuật ngữ “cảm dục” có nghĩa là “đầy sao” và mô tả sắc tướng của các dĩ thái.
23. After this series of definitions, we return to text.
23. Sau loạt định nghĩa này, chúng ta trở lại bản văn.
We have considered somewhat at length the building of thought forms, and have seen that the process pursued by man is analogous to that pursued by the threefold Logos in the creation of the solar system.
Chúng ta đã khảo sát khá dài về việc kiến tạo các Hình tư tưởng, và đã thấy rằng tiến trình do con người theo đuổi là tương tự với tiến trình do Thượng đế tam phân theo đuổi trong việc sáng tạo hệ mặt trời.
24. DK offers us a brief summary. Whether the thoughtform built is a human thought or a solar system, the process is essentially the same though the C/creators are vastly different in power and consciousness.
24. Chân sư DK đưa ra cho chúng ta một bản tóm lược ngắn. Dù hình tư tưởng được xây dựng là một tư tưởng của con người hay một hệ mặt trời, tiến trình về cơ bản là như nhau, mặc dù các đấng sáng tạo khác nhau rất xa về quyền năng và tâm thức.
We are to deal now with that great department in occultism which is usually termed magic.
Giờ đây chúng ta sẽ đề cập đến bộ môn lớn lao trong huyền bí học thường được gọi là huyền thuật.
25. There is a huge interest in this subject because man innately realizes that in the mastery of magic lie his freedom and also his ability to co-create with the Deity.
25. Có một mối quan tâm rất lớn đối với chủ đề này vì con người bẩm sinh nhận ra rằng chính trong sự làm chủ huyền thuật có tự do của y và cả khả năng đồng sáng tạo với Thượng đế của y.
26. We realize from this statement that there are other departments in occultism to be considered.
26. Từ phát biểu này, chúng ta nhận ra rằng còn có những bộ môn khác trong huyền bí học cần được xem xét.
The man who masters the esoteric significance of what is here said will take his place in the ranks of those entitled to call themselves the "Brothers of White Magic."
Người nào làm chủ được thâm nghĩa huyền bí của điều được nói ở đây sẽ chiếm vị trí của mình trong hàng ngũ những người có quyền gọi mình là “Huynh đệ của Chánh Thuật.”
27. In this title we have described those who are members of the Great White Lodge.
27. Trong danh xưng này, chúng ta có sự mô tả những người là thành viên của Thánh đoàn.
28. It is clear that to use the name, “Brother of White Magic” one must earn the right.
28. Rõ ràng là để dùng danh xưng “Huynh đệ của Chánh Thuật”, người ta phải xứng đáng với quyền ất.
29. Obviously, a student of white magic, such as we are, cannot yet call himself a “Brother of White Magic”.
29. Hiển nhiên, một đạo sinh của Chánh Thuật như chúng ta chưa thể gọi mình là “Huynh đệ của Chánh Thuật”.
The subject is too immense to be more than briefly touched upon, for it covers [Page 983] the entire range of endeavour in the field of material construction.
Chủ đề này quá bao la nên chỉ có thể được chạm đến một cách ngắn gọn, vì nó bao trùm [Page 983] toàn bộ phạm vi nỗ lực trong lĩnh vực kiến tạo vật chất.
30. We have been told that A Treatise on Cosmic Fire is written upon the first ray and the third ray. The “field of material construction” is, broadly considered, the province of the third ray under Saturn and ‘Greater Saturn’.
30. Chúng ta đã được bảo rằng Luận về Lửa Vũ Trụ được viết trên cung một và cung ba. “Lĩnh vực kiến tạo vật chất”, xét theo nghĩa rộng, là phạm vi của cung ba dưới Sao Thổ và ‘Đại Sao Thổ’.
31. The seventh ray is also involved through Uranus and the first ray through Vulcan.
31. Cung bảy cũng có liên hệ qua Sao Thiên Vương và cung một qua Vulcan.
We must deal first with the mental attitude of man as he faces the work of creation, and his ability to bring through, via the mental body, the purpose of the Ego,
Trước hết, chúng ta phải đề cập đến thái độ trí tuệ của con người khi y đối diện với công việc sáng tạo, và khả năng của y trong việc mang xuyên qua, qua thể trí, mục đích của chân ngã,
32. We remember that not only has the Ego to impress the mind but the brain as well.
32. Chúng ta nhớ rằng không chỉ chân ngã phải gây ấn tượng lên trí tuệ mà còn lên cả bộ não nữa.
33. A Treatise on Cosmic Fire is also a book on creativity and thus the abundant information on the deva kingdom.
33. Luận về Lửa Vũ Trụ cũng là một quyển sách về sự sáng tạo và do đó có rất nhiều thông tin về giới thiên thần.
34. How many of us, when we think, can be sure that our thoughts reflect the purposes of the Ego?
34. Có bao nhiêu người trong chúng ta, khi suy nghĩ, có thể chắc chắn rằng tư tưởng của mình phản ánh các mục đích của chân ngã?
thereby impressing the building agents on the mental plane with a certain rate of rhythm, and a certain vibratory activity. This is the prime factor which results (on the physical plane) in direct egoic activity.
nhờ đó gây ấn tượng lên các tác nhân kiến tạo trên cõi trí bằng một nhịp điệu nhất định, và một hoạt động rung động nhất định. Đây là yếu tố chủ yếu dẫn đến (trên cõi hồng trần) hoạt động chân ngã trực tiếp.
35. We are interested in direct egoic activity on the physical plane. Such activity begins on the mental plane.
35. Chúng ta quan tâm đến hoạt động chân ngã trực tiếp trên cõi hồng trần. Hoạt động như thế bắt đầu trên cõi trí.
36. From the Ego emanates that certain rate of rhythm and a certain vibratory activity which evokes correct response from the building agents of the mental plane.
36. Từ chân ngã phát ra một nhịp điệu nhất định và một hoạt động rung động nhất định, điều này gợi lên sự đáp ứng đúng đắn từ các tác nhân kiến tạo của cõi trí.
37. There are “building agents” on the mental plane. This does not mean only mental elemental essence, but actual devic builders on the evolutionary arc who assist man in the carrying forward of his creative objectives (objectives, however, often unconsciously approached).
37. Có những “tác nhân kiến tạo” trên cõi trí. Điều này không chỉ có nghĩa là tinh chất hành khí trí tuệ, mà còn là những đấng kiến tạo thiên thần thực sự trên cung tiến hoá, những vị trợ giúp con người trong việc xúc tiến các mục tiêu sáng tạo của y (tuy nhiên, những mục tiêu này thường được tiếp cận một cách vô thức).
We must also bear in mind, that in the consideration of this matter we are not dealing with the every day work of average man,
Chúng ta cũng phải ghi nhớ rằng, khi xem xét vấn đề này, chúng ta không đề cập đến công việc hằng ngày của con người trung bình,
38. Average man is also a creator but largely an unconscious creator.
38. Con người trung bình cũng là một đấng sáng tạo nhưng phần lớn là một đấng sáng tạo vô thức.
but are speaking of the organised creative work, under law and rule, of the advanced man.
mà đang nói đến công việc sáng tạo có tổ chức, dưới định luật và quy luật, của con người tiến bộ.
39. Advanced man is the human being whose Ego has refocused itself on he second subplane of the higher mental plane.
39. Con người tiến bộ là con người mà chân ngã của y đã tái tập trung trên cõi phụ thứ hai của Cõi thượng trí.
40. The creative work of which we are speaking is
40. Công việc sáng tạo mà chúng ta đang nói đến là
a. Organized
a. Có tổ chức
b. Under law
b. Dưới định luật
c. Under rule
c. Dưới quy luật
41. Remember that laws cannot be evaded. Rules can be disobeyed but they represent the very best ways of working in response to laws.
41. Hãy nhớ rằng các định luật không thể bị né tránh. Các quy luật có thể bị bất tuân, nhưng chúng tượng trưng cho những cách làm việc tốt nhất để đáp ứng các định luật.
We thereby set a standard and emphasise the ideal towards which occult students should strive.
Nhờ đó chúng ta đặt ra một tiêu chuẩn và nhấn mạnh lý tưởng mà các đạo sinh huyền bí học nên phấn đấu hướng tới.
42. And we who read these pages are exactly those who should be striving in this manner, for we are far from mastery.
42. Và chính chúng ta, những người đọc các trang này, là những người nên phấn đấu theo cách ấy, vì chúng ta còn xa mới đạt đến sự làm chủ.
43. We are far from being white magicians. This portion of A Treatise on Cosmic Fire and the entire book, A Treatise on White Magic, are intended to produce in one suspects the aspiration to become white magicians.
43. Chúng ta còn xa mới là những nhà huyền thuật chánh đạo. Phần này của Luận về Lửa Vũ Trụ và toàn bộ quyển sách, Luận về Chánh Thuật, nhằm khơi dậy nơi người ta, ta ngờ rằng, khát vọng trở thành những nhà huyền thuật chánh đạo.
We must also consider the work of the wise magical student upon the astral plane, whereon, through purified desire and sanctified emotion, he provides those equilibrised conditions and those stable vibrations, which will permit of the transmission without hindrance to the physical plane via the physical brain of the man, of the vibratory activity emanating from the Ego, and of the circulatory action of the higher force.
Chúng ta cũng phải xem xét công việc của đạo sinh huyền thuật minh triết trên cõi cảm dục, nơi mà, nhờ dục vọng được thanh lọc và xúc cảm được thánh hiến, y tạo ra những điều kiện quân bình và những rung động ổn định, những điều sẽ cho phép hoạt động rung động phát ra từ chân ngã, và tác động tuần hoàn của mãnh lực cao hơn, được truyền xuống cõi hồng trần không bị cản trở qua bộ não hồng trần của con người.
44. Here we have a very powerful sentence.
44. Ở đây chúng ta có một câu rất mạnh mẽ.
45. The “wise” magical student is to have “purified desire” and “sanctified emotion”—emotions which are expressive of spiritual states of consciousness or, at least, build no barrier against their transmission through the astral body.
45. Đạo sinh huyền thuật “minh triết” phải có “dục vọng được thanh lọc” và “xúc cảm được thánh hiến”—những xúc cảm biểu lộ các trạng thái tâm thức tinh thần hoặc ít nhất không dựng lên rào cản nào chống lại sự truyền dẫn của chúng qua thể cảm dục.
46. One of the most important requirements for the transmission of thought to the physical brain is a condition of peace in the astral body. Thus, the indispensable role of the energy of Libra, a sign which eventually brings peace, balance and tranquility to any vibratory field which it touches.
46. Một trong những đòi hỏi quan trọng nhất để truyền tư tưởng đến bộ não hồng trần là một trạng thái bình an trong thể cảm dục. Vì thế, vai trò không thể thiếu của năng lượng Thiên Bình, một dấu hiệu hoàng đạo cuối cùng mang lại bình an, quân bình và tĩnh lặng cho bất kỳ trường rung động nào mà nó chạm đến.
47. For most people it is precisely turbulent, unbalanced conditions within the astral body which hinder egoic transmission through to the physical brain.
47. Đối với phần lớn mọi người, chính những điều kiện hỗn loạn, mất quân bình trong thể cảm dục cản trở sự truyền dẫn chân ngã đến bộ não hồng trần.
Hence (if a remark of a practical nature may be interpolated for the average student) the cultivation of emotional tranquility is one of the first steps towards the achievement of the needed equipment of the white magician.
Do đó (nếu có thể xen vào một nhận xét có tính thực tiễn cho đạo sinh trung bình) việc vun bồi sự tĩnh lặng cảm xúc là một trong những bước đầu tiên hướng tới việc đạt được trang bị cần thiết của nhà huyền thuật chánh đạo.
48. This seems a simple statement but it obviously points to an indispensable requirement. We can understand that no matter how well conceived may be a thoughtform, it could be drowned upon the astral plane by roiling ‘waters’.
48. Điều này có vẻ là một phát biểu đơn giản nhưng hiển nhiên chỉ đến một đòi hỏi không thể thiếu. Chúng ta có thể hiểu rằng dù một hình tư tưởng có được hình thành tốt đến đâu, nó vẫn có thể bị nhấn chìm trên cõi cảm dục bởi những “làn nước” cuộn xoáy.
49. One who has emotional tranquility has cultivated emotional equanimity—i.e., the ability to remain in balanced emotional condition even when faced with potentially disturbing circumstances.
49. Người có sự tĩnh lặng cảm xúc là người đã vun bồi sự bình thản cảm xúc—tức là khả năng duy trì trạng thái cảm xúc quân bình ngay cả khi đối diện với những hoàn cảnh có thể gây xáo động.
This tranquillity is not to be achieved by an effort of the will which succeeds in strangling all astral vibratory activity,
Sự tĩnh lặng này không đạt được bằng một nỗ lực của ý chí thành công trong việc bóp nghẹt mọi hoạt động rung động cảm dục,
50. What an interesting use of words—“strangling”! One thinks of a kind of grip or clamp which the will can exert. Through assertion of the will vibratory activity can be made to cease, but this does not eradicate that condition within the astral body which lies as the root of such activity.
50. Thật là một cách dùng từ thú vị—“bóp nghẹt”! Người ta nghĩ đến một loại siết chặt hay kẹp chặt mà ý chí có thể áp đặt. Qua sự khẳng định của ý chí, hoạt động rung động có thể bị làm cho chấm dứt, nhưng điều này không xóa bỏ được tình trạng nằm trong thể cảm dục vốn là gốc rễ của hoạt động ấy.
but by the cultivation of response to the Ego, and a negation of all response to the inherent vibration of the astral sheath itself.
mà bằng việc vun bồi sự đáp ứng với chân ngã, và phủ nhận mọi đáp ứng đối với rung động cố hữu của chính vỏ bọc cảm dục.
51. The Ego, itself, possesses those energies which can tranquilize aggravated activity within the astral body. The end result is that the inherent activity of the astral sheath is entirely neutralized. In creating this negation, the strength of the personal will (with its potent sense of “this controls that”) is not present.
51. Bản thân chân ngã sở hữu những năng lượng có thể làm lắng dịu hoạt động bị kích động trong thể cảm dục. Kết quả cuối cùng là hoạt động cố hữu của vỏ bọc cảm dục hoàn toàn bị trung hòa. Trong việc tạo ra sự phủ nhận này, sức mạnh của ý chí cá nhân (với cảm giác mạnh mẽ rằng “cái này kiểm soát cái kia”) không hiện diện.
52. As the dense physical body provides an avenue of expression for the personality; and as the mind, eventually, provides an avenue of expression for the Monad; so the astral body is naturally attuned to the Ego/soul and provides an avenue of expression for that central (second) periodical vehicle.
52. Cũng như thể xác đậm đặc cung cấp một con đường biểu hiện cho phàm ngã; và cũng như trí tuệ cuối cùng cung cấp một con đường biểu hiện cho chân thần; thì thể cảm dục tự nhiên được chỉnh hợp với chân ngã/linh hồn và cung cấp một con đường biểu hiện cho vận cụ tuần hoàn trung tâm (thứ hai) ấy.
We will take up the work of force transmission on the physical plane via the etheric centres and the physical brain, studying somewhat the effect of sound as it is emitted unconsciously in everyday speech, and consciously [Page 984] in the ordered regulated words of the true worker in magic.93
Chúng ta sẽ bàn đến công việc truyền dẫn mãnh lực trên cõi hồng trần qua các trung tâm dĩ thái và bộ não hồng trần, đồng thời khảo sát phần nào tác động của âm thanh khi nó được phát ra một cách vô thức trong lời nói hằng ngày, và một cách hữu thức [Page 984] trong những lời có trật tự và được điều chỉnh của người hoạt động huyền thuật chân chính.93
53. Force transmission on the physical plane occurs via or through the etheric centers. Sound accompanies this transmission, especially through the throat center. This sound is either unconsciously emitted or consciously emitted in an ordered and regulated manner.
53. Sự truyền dẫn mãnh lực trên cõi hồng trần diễn ra qua các trung tâm dĩ thái. Âm thanh đi kèm sự truyền dẫn này, đặc biệt qua trung tâm cổ họng. Âm thanh này hoặc được phát ra một cách vô thức, hoặc được phát ra một cách hữu thức theo cách có trật tự và được điều chỉnh.
Footnote 93:
Chú thích 93:
Magic.—The very word Magic bears within itself proof of its high origin. The Latin Magus, the Greek Magos, a magician, gives us all those other words that are so indicative of authority, wisdom, superiority.
Huyền thuật.—Chính từ Magic đã tự mang trong nó bằng chứng về nguồn gốc cao cả của nó. Từ Latin Magus, từ Hy Lạp Magos, một nhà huyền thuật, cho chúng ta tất cả những từ khác gợi rõ đến quyền uy, minh triết, sự siêu việt.
54. HBP touches upon the high origin of the word “magic”. Essentially it indicates that which is rooted in greatness.
54. HBP chạm đến nguồn gốc cao cả của từ “huyền thuật”. Về bản chất, nó chỉ điều gì đó bắt rễ trong sự vĩ đại.
55. She seeks to restore the proper dignity to the subject which has been so basely defiled through misuse.
55. Bà tìm cách khôi phục phẩm giá đúng đắn cho chủ đề này, vốn đã bị làm ô uế một cách thấp hèn qua sự lạm dụng.
Then we have magnitude, magnificent, magniloquent, to express greatness in position, in action and in speech.
Rồi chúng ta có magnitude, magnificent, magniloquent, để diễn tả sự vĩ đại trong vị thế, trong hành động và trong lời nói.
56. And all of these are certainly required:
56. Và tất cả những điều này chắc chắn đều cần thiết:
a. The perspective of the soul is greatness in position
a. Quan điểm của linh hồn là sự vĩ đại trong vị thế
b. The action of the soul in the three worlds is greatness in action
b. Hành động của linh hồn trong ba cõi giới là sự vĩ đại trong hành động
c. The magician must utter great words and hence be magniloquent
c. Nhà huyền thuật phải thốt ra những lời lớn lao và do đó phải hùng biện
With the termination slightly changed the same words become majesty, implying dominion,
Với phần kết được thay đổi đôi chút, những từ ấy trở thành majesty, hàm ý quyền thống trị,
57. In this word there is always the suggestion of authority and control. The word implies the hierarchical arrangement of nature.
57. Trong từ này luôn có gợi ý về quyền uy và sự kiểm soát. Từ ấy hàm ý sự sắp xếp có tôn ti của bản chất.
58. No one can be a true magician without the ability to achieve dominion over the lesser lives.
58. Không ai có thể là một nhà huyền thuật chân chính nếu không có khả năng đạt được quyền thống trị đối với các sự sống nhỏ hơn.
and again, we have magistrate, anything that is magisterial which again has been simplified into Master, and finally by the process of word evolution has become plain Mister.
và rồi nữa, chúng ta có magistrate, bất cứ điều gì magisterial, rồi lại được đơn giản hóa thành Master, và cuối cùng qua tiến trình tiến hoá của từ ngữ đã trở thành đơn giản là Mister.
59. Is this not fascinating? The use of the word “Mister” suggests the recognition of greatness inherent in every human being. When using this word one is, in essence, addressing the ‘Master’ within, though the word has become
59. Điều này chẳng phải rất hấp dẫn sao? Việc dùng từ “Mister” gợi ý sự thừa nhận tính vĩ đại vốn có trong mỗi con người. Khi dùng từ này, về bản chất người ta đang xưng hô với ‘Chân sư’ bên trong, mặc dù từ ấy đã trở nên
But the Latin is only a transmitter of words. We can equally follow up the historical development of this root until we reach the Zend where we find it doing duty as the name for the whole priestly caste.
Nhưng tiếng Latin chỉ là một môi giới truyền đạt từ ngữ. Chúng ta cũng có thể lần theo sự phát triển lịch sử của gốc từ này cho đến khi đạt tới Zend nơi chúng ta thấy nó được dùng như tên gọi của toàn bộ giai cấp tư tế.
60. The priestly caste is the caste having divine authority. The magical abilities of this class serve to meditate between the inherent divinity and the lesser lives within each human being.
60. Giai cấp tư tế là giai cấp có thẩm quyền thiêng liêng. Các khả năng huyền thuật của giai cấp này phục vụ cho việc tham thiền giữa thiên tính cố hữu và các sự sống nhỏ hơn trong mỗi con người.
The magi were renowned all over the world for their wisdom and skill in occultism and no doubt our word magic is mostly indebted to that source for its present existence and meaning.
Các magi nổi danh khắp thế giới vì minh triết và kỹ năng của họ trong huyền bí học, và chắc chắn từ magic của chúng ta phần lớn mắc nợ nguồn này về sự hiện hữu và ý nghĩa hiện nay của nó.
61. The magic were also great astrologers. They knew the times and seasons and the method of invoking specific energies.
61. Các magi cũng là những nhà chiêm tinh học vĩ đại. Họ biết thời điểm và mùa kỳ, cùng phương pháp khẩn cầu những năng lượng đặc thù.
62. The correct use of magical process is very dependent upon “times and seasons”.
62. Việc sử dụng đúng đắn tiến trình huyền thuật phụ thuộc rất nhiều vào “thời điểm và mùa kỳ”.
That we need not pause even here for back of the Zend "mag," "looms up the Sanskrit, maha, signifying great."
Chúng ta cũng không cần dừng lại ở đây, vì đằng sau từ Zend "mag," thấp thoáng hiện ra từ Sanskrit, maha, có nghĩa là lớn lao."
63. The word “magic”, then, is being traced to the Sanskrit. Probably behind the Sanskrit root is a still older Atlantean root.
63. Như vậy, từ “magic” đang được truy nguyên về Sanskrit. Có lẽ đằng sau gốc Sanskrit còn có một gốc Atlantis cổ xưa hơn nữa.
It is thought by good scholars that maha was originally spelled magha. To be sure, there is in the Sanskrit the word Maga meaning a priest of the Sun, but this was evidently a later borrowing from the Zend which had originally derived its root from its neighbor the Sanskrit.—Lucifer, Vol. X, p. 157.
Người ta cho rằng theo các học giả giỏi, maha nguyên thủy được đánh vần là magha. Quả thật, trong Sanskrit có từ Maga nghĩa là một tư tế của Mặt Trời, nhưng hiển nhiên đây là một sự vay mượn muộn hơn từ Zend, mà bản thân Zend ban đầu đã rút gốc từ người láng giềng của nó là Sanskrit.—Lucifer, Tập X, tr. 157.
64. This exercise in etymology informs us of the potent essential meaning of the word “magic”.
64. Bài tập về từ nguyên học này cho chúng ta biết ý nghĩa bản chất đầy mãnh lực của từ “huyền thuật”.
In this connection, therefore, owing to the vital practical value of this section, and to the dangers attendant upon a comprehension of these matters by those who are as yet unready for the work of conscious manipulation of force,
Vì vậy, trong mối liên hệ này, do giá trị thực tiễn sống còn của phần này, và do những nguy hiểm đi kèm với việc thấu hiểu các vấn đề này bởi những người còn chưa sẵn sàng cho công việc vận dụng mãnh lực một cách hữu thức,
65. This is yet another definition of the term “magic”—the “conscious manipulation of force”, presumably for worthy (or, better, “great”) purposes and ends.
65. Đây lại là một định nghĩa khác của thuật ngữ “huyền thuật”—“sự thao tác mãnh lực một cách hữu thức”, hẳn là vì những mục đích và cứu cánh xứng đáng (hay đúng hơn là “cao cả”).
it is proposed to impart the necessary teaching under the formula of "Rules of Magic,"
người ta đề nghị truyền đạt giáo huấn cần thiết dưới công thức “Các quy luật Huyền thuật,”
66. The method of impartation is a safeguard. Apparently, the Rules conceal as much as they reveal.
66. Phương pháp truyền đạt này là một sự bảo vệ. Rõ ràng, các quy luật che giấu cũng nhiều như chúng mặc khải.
with certain elucidating comments. In this way, the magical work is fully safeguarded, and at the same time sufficient is imparted to those who have the inner ear attentive, and the eye of wisdom in process of opening.
kèm theo một số nhận xét làm sáng tỏ. Bằng cách này, công việc huyền thuật được bảo vệ trọn vẹn, và đồng thời vẫn truyền đạt đủ cho những ai có nội nhĩ chăm chú lắng nghe, và con mắt minh triết đang trong tiến trình mở ra.
67. The Masters are experts in simultaneously revealing and concealing. The “inner ear” is to be attentive to the magical words. The “eye of wisdom” is the third eye which sees into the world of the soul.
67. Các Chân sư là những bậc thiện nghệ trong việc đồng thời mặc khải và che giấu. “Nội nhĩ” phải chăm chú lắng nghe những lời huyền thuật. “Con mắt minh triết” là con mắt thứ ba, nhìn vào thế giới của linh hồn.
68. It may be that the visualized disk of indigo is, if cultivated, the “Eye of Shiva”—the eye of synthesis.
68. Có thể là đĩa màu chàm được hình dung ấy, nếu được vun bồi, chính là “Con Mắt của Shiva”—con mắt của tổng hợp.
69. The “inner ear” suggests buddhic sensitivity. On the seventh subplane of the buddhic plane we find the siddhi “comprehension of four sounds”. The buddhic plane is subjective when compared to the higher mental plane. This type of hearing/comprehension is most definitely “inner hearing”.
69. “Nội nhĩ” gợi ý tính nhạy cảm Bồ đề. Trên cõi phụ thứ bảy của cõi Bồ đề, chúng ta thấy siddhi “sự thấu hiểu bốn âm thanh”. Cõi Bồ đề là chủ quan khi so với Cõi thượng trí. Loại nghe/thấu hiểu này chắc chắn là “thính giác bên trong”.
70. The attentive “inner ear” can hear the inner sound of other beings.
70. “Nội nhĩ” chăm chú có thể nghe được âm thanh bên trong của các hữu thể khác.
S8S5 - Part II.2
TCF 985-989
TCF 985-989
13 – 28 December 2008
13 – 28 tháng 12 năm 2008
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary
Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận
a. Black Magicians and White. Much is said among occult students these days anent white and black magic,94 and much that is said is without force, or truth. It has [985] been truly said that between the two types of workers, the line of demarcation is so slight as to be difficult of recognition by those who, as yet, merit not the term "knower."
a. Các nhà hắc thuật và nhà huyền thuật chánh đạo. Ngày nay, trong giới đạo sinh huyền bí học, người ta nói nhiều về chánh thuật và hắc thuật,94 và nhiều điều được nói ra lại thiếu mãnh lực hoặc chân lý. Đã có lời nói rất đúng rằng giữa hai loại người hoạt động này, ranh giới phân định mong manh đến nỗi khó được nhận ra bởi những ai, cho đến nay, vẫn chưa xứng đáng với danh xưng “thức giả”.
1. DK is warning us that we may not yet in a position to differentiate between white and black magic and the exponents of these two types of magic. Master M says the same.
1. Chân sư DK đang cảnh báo chúng ta rằng có thể chúng ta chưa ở vào vị thế để phân biệt giữa chánh thuật và hắc thuật cùng những người đại diện cho hai loại huyền thuật này. Chân sư M. cũng nói như vậy.
2. Only the true “knower”—perhaps the “knower” is minimally an initiate of the third degree—is in a position to distinguish.
2. Chỉ “thức giả” chân chính—có lẽ tối thiểu là một điểm đạo đồ bậc ba—mới ở vào vị thế để phân biệt.
Footnote 94:
Chú thích 94:
Magic.—The art of divine Magic consists in the ability to perceive the essence of things in the light of nature (astral light),
Huyền thuật.—Nghệ thuật của Huyền thuật thiêng liêng hệ tại ở khả năng nhận biết tinh túy của sự vật trong ánh sáng của bản chất (ánh sáng cảm dục),
3. The term “astral light” can be understood in a number of ways. Here it is called “the light of nature” which, again, may suggest the light of the etheric subplanes.
3. Thuật ngữ “ánh sáng cảm dục” có thể được hiểu theo nhiều cách. Ở đây nó được gọi là “ánh sáng của bản chất”, điều này lại có thể gợi ý ánh sáng của các cõi phụ dĩ thái.
4. The word “essence”, too, can be variously interpreted. In a sense, an etheric template is the “essence” of all things physical, though it is not the true essence.
4. Từ “tinh túy” cũng có thể được giải thích theo nhiều cách. Theo một nghĩa nào đó, một khuôn mẫu dĩ thái là “tinh túy” của mọi sự vật hồng trần, dù nó không phải là tinh túy đích thựce.
and—by using the soul-powers of the Spirit
và—bằng cách sử dụng các quyền năng linh hồn của Tinh thần
5. This is a very interesting phrase—“the soul-powers of the Spirit”. Indeed, the soul is an extension of the Spirit.
5. Đây là một cụm từ rất thú vị—“các quyền năng linh hồn của Tinh thần”. Quả thật, linh hồn là một sự mở rộng của Tinh thần.
6. Both soul power and Spirit powers are involved in the magical process, but first soul powers and when we become students of white magic, as now we are, it is the magical powers of the soul to which we first attend.
6. Cả quyền năng linh hồn lẫn các quyền năng của Tinh thần đều tham dự vào tiến trình huyền thuật, nhưng trước hết là các quyền năng linh hồn; và khi chúng ta trở thành đạo sinh của chánh thuật, như hiện nay, thì trước tiên chúng ta chú ý đến các quyền năng huyền thuật của linh hồn.
—to produce material things from the unseen universe,
—để tạo ra những sự vật vật chất từ vũ trụ vô hình,
7. The “unseen universe” consists of all the subtle planes. For practical purposes, we can consider this universe as consisting of the etheric-physical plane, the astral plane, the mental plane and the higher mental plane. Impression may arise in still higher worlds, but in order to be materialized, it has to pass through the higher Ego and through the subtle aspects of the personality equipment.
7. “Vũ trụ vô hình” gồm tất cả các cõi vi tế. Vì mục đích thực tiễn, chúng ta có thể xem vũ trụ này gồm cõi hồng trần-dĩ thái, cõi cảm dục, cõi trí và Cõi thượng trí. Ấn tượng có thể phát sinh trong những thế giới còn cao hơn nữa, nhưng để được hiện hình, nó phải đi qua chân ngã cao hơn và qua các phương diện vi tế của bộ máy phàm ngã.
and in such operations the Above and the Below must be brought together and made to act harmoniously.—S. D., II, 538.
và trong những thao tác như thế, Cái Trên và Cái Dưới phải được đưa lại với nhau và làm cho hoạt động hài hòa.—S. D., II, 538.
8. We have here a version of the seventh ray Word of Power—“The Highest and the Lowest Meet”. The first and seventh rays are both involved in bringing the “Above” and the “Below” together. It is via the fourth ray that they can these two can be “made to act harmoniously”.
8. Ở đây chúng ta có một phiên bản của Quyền năng từ cung bảy—“Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất Gặp Nhau”. Cung một và cung bảy đều cùng tham dự vào việc đưa “Cái Trên” và “Cái Dưới” lại với nhau. Chính qua cung bốn mà hai cái này có thể được “làm cho hoạt động hài hòa”.
9. These three rays, the first, fourth and seventh, present the essence of Masonry and also of the ancient Egyptian Mystery Religion.
9. Ba cung này, cung một, cung bốn và cung bảy, trình bày tinh túy của Hội Tam Điểm và cả của Tôn Giáo Huyền Nhiệm Ai Cập cổ đại.
Magic is the second of the four Vidyas, and is the great maha-Vidya in the Tantric writings.
Huyền thuật là thứ hai trong bốn Vidya, và là maha-Vidya vĩ đại trong các trước tác Tantras.
"Of the four Vidyas -- out of the seven branches of Knowledge mentioned in the Puranas -- namely, 'Yajna-Vidya' (the performance of religious rites in order to produce certain results); 'Maha-Vidya,' the great (Magic) knowledge, now degenerated into Tantrika worship; 'Guhya-Vidya,' the science of Mantras and their true rhythm or chanting, of mystical incantations, etc. -- it is only the last one, 'Atma-Vidya,' or the true Spiritual and Divine wisdom, which can throw absolute and final light upon the teachings of the three first named. Without the help of Atma-Vidya, the other three remain no better than surface sciences, geometrical magnitudes having length and breadth, but no thickness.” (Spiritual Theosophy Dictionary)
“Trong bốn Vidya -- trong số bảy ngành Tri Thức được nhắc đến trong các Purana -- tức là, ‘Yajna-Vidya’ (việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo nhằm tạo ra những kết quả nhất định); ‘Maha-Vidya,’ tri thức vĩ đại (Huyền thuật), nay đã suy đồi thành sự thờ phụng Tantrika; ‘Guhya-Vidya,’ khoa học về các Mantram và nhịp điệu hay cách xướng chân chính của chúng, về những câu chú thần bí, v.v. -- chỉ có môn cuối cùng, ‘Atma-Vidya,’ hay minh triết tinh thần và thiêng liêng chân chính, mới có thể rọi ánh sáng tuyệt đối và tối hậu lên giáo huấn của ba môn được nêu tên trước. Không có sự trợ giúp của Atma-Vidya, ba môn kia vẫn chỉ là những khoa học bề mặt, những đại lượng hình học có chiều dài và chiều rộng, nhưng không có chiều sâu.” (Từ điển Thông Thiên Học Tinh thần)
10. We may think of magic as the knowledge of all forms and over all forms—this knowledge an expression of the spiritual essence of man.
10. Chúng ta có thể nghĩ về huyền thuật như tri thức về mọi hình tướng và trên mọi hình tướng—tri thức này là một biểu hiện của tinh túy tinh thần của con người.
It needs the light of the fourth vidya (atmavidya) thrown on it in order to be White magic.—S. D., I, 192.
Nó cần ánh sáng của vidya thứ tư (atmavidya) chiếu rọi lên nó để trở thành chánh thuật.—S. D., I, 192.
11. DK does not tell us the nature of the four Vidyas or powers (though see above=, but we can see that uninfluenced by the fourth or highest Vidya (expressive of the power of the will aspect and identified with the highest of the seventh principles), magic cannot be white magic.
11. Chân sư DK không cho chúng ta biết bản chất của bốn Vidya hay quyền năng này (dù xem phần trên=), nhưng chúng ta có thể thấy rằng nếu không được vidya thứ tư hay cao nhất tác động đến (vidya biểu lộ quyền năng của phương diện ý chí và đồng nhất với nguyên khí cao nhất trong bảy nguyên khí), thì huyền thuật không thể là chánh thuật.
12. The whiteness of magic arises from the fact that it is aligned with the Spirit and the Higher Will, and represents them.
12. Tính trắng của huyền thuật phát sinh từ sự kiện rằng nó được chỉnh hợp với Tinh thần và Ý Chí Cao Cả, và biểu hiện các điều ấy.
Black Magic is defined by H. P. B. as follows:
H. P. B. định nghĩa Hắc thuật như sau:
a. Black magic employs the astral light
a. Hắc thuật sử dụng ánh sáng cảm dục
The invisible region that surrounds our globe, as it does every other, and corresponding as the second Principle of Kosmos (the third being Life, of which it is the vehicle) to the Linga Sarira. or Astral Double in man. A subtle Essence visible only to a clairvoyant eye, and the lowest but one (viz. the earth) of the Seven Akashic or Kosmic Principles. Eliphas Levi calls it the great Serpent and the Dragon from which radiates on Humanity every evil influence. This is so; but why not add that the Astral Light gives out nothing but what it has received; that it is the great terrestrial crucible, in which the vile emanations of the earth (moral and physical) upon which the Astral Light is fed, are all converted into their subtlest essence, and radiated back intensified, thus becoming epidemics - moral, psychic and physical. Finally, the Astral Light is the same as the Sidereal Light of Paracelsus and other Hermetic philosophers. Physically, it is the ether of modern [Note, 19th century] science. Metaphysically, and in its spiritual, or occult sense, ether is a great deal more than is often imagined. In occult physics and alchemy it is well demonstrated to enclose within its shoreless waves not only Mr. Tyndall's "promise and potency of every quality of life" but also the realisation of the potency of every quality of spirit. (H.P.B. from the Theosophical Glossary)
Miền vô hình bao quanh bầu hành tinh của chúng ta, cũng như bao quanh mọi bầu hành tinh khác, và tương ứng, như Nguyên khí thứ hai của Vũ Trụ (nguyên khí thứ ba là Sự sống, mà nó là vận cụ), với Linga Sarira. hay Bản Sao Cảm Dục nơi con người. Một Tinh chất vi tế chỉ thấy được đối với con mắt thông nhãn, và là nguyên khí thấp thứ nhì (nghĩa là trên Trái Đất) trong Bảy Nguyên khí Akasha hay Vũ Trụ. Eliphas Levi gọi nó là Con Rắn lớn và Con Rồng, từ đó mọi ảnh hưởng xấu đều phát xạ lên Nhân loại. Điều này là đúng; nhưng tại sao không nói thêm rằng Ánh Sáng Cảm Dục không phát ra điều gì ngoài những gì nó đã tiếp nhận; rằng nó là chiếc nồi nấu luyện lớn của địa cầu, trong đó những phát xạ thấp kém của trái đất (đạo đức và hồng trần), là thứ nuôi dưỡng Ánh Sáng Cảm Dục, đều được chuyển thành tinh túy vi tế nhất của chúng, rồi được phát xạ trở lại với cường độ tăng mạnh, nhờ đó trở thành những dịch bệnh - đạo đức, thông linh và hồng trần. Sau cùng, Ánh Sáng Cảm Dục cũng chính là Ánh Sáng Tinh Tú của Paracelsus và các triết gia Hermetic khác. Về mặt hồng trần, nó là dĩ thái của khoa học hiện đại [Lưu ý, thế kỷ 19]. Về mặt siêu hình, và trong ý nghĩa tinh thần hay huyền bí của nó, dĩ thái còn lớn lao hơn nhiều so với điều người ta thường tưởng. Trong vật lý học huyền bí và thuật luyện kim, người ta đã chứng minh rõ rằng trong những làn sóng vô bờ của nó không chỉ bao hàm “lời hứa và tiềm năng của mọi phẩm tính của sự sống” của ông Tyndall mà còn cả sự chứng nghiệm của tiềm năng của mọi phẩm tính của tinh thần. (H.P.B. trích từ Theosophical Glossary)
13. Again, the formative power of nature. We are dealing with creative work and the all-important motive behind that work.
13. Một lần nữa, đây là quyền năng tạo hình của bản chất. Chúng ta đang bàn đến công việc sáng tạo và động cơ tối quan trọng đứng sau công việc ấy.
14. When we speak of magic we inevitably must discuss the ethers and their use. Both types of magicians employ the ethers, though, from what DK tells us above and elsewhere, the black magician uses the ethers far more frequently. The white magician is more likely to impulse creation from a subtle vibratory level ‘above’ the ethers. In earlier sections of this book DK emphasized the use by the Spiritual Hierarchy of the magnetic forces of the astral plane. As the White Brothers work with souls, their impulses emanate from still higher levels.
14. Khi nói về huyền thuật, tất yếu chúng ta phải bàn đến các dĩ thái và việc sử dụng chúng. Cả hai loại nhà huyền thuật đều sử dụng các dĩ thái, dù theo điều Chân sư DK nói ở trên và ở nơi khác, nhà hắc thuật sử dụng các dĩ thái thường xuyên hơn nhiều. Nhà huyền thuật chánh đạo có nhiều khả năng thúc đẩy sự sáng tạo từ một cấp độ rung động vi tế “ở trên” các dĩ thái. Trong những phần trước của quyển sách này, Chân sư DK đã nhấn mạnh việc Thánh đoàn tinh thần sử dụng các mãnh lực từ tính của cõi cảm dục. Vì các Huynh Đệ Chánh đạo làm việc với các linh hồn, nên các xung lực của họ phát ra từ những cấp độ còn cao hơn nữa.
for purposes of deception and seduction,
vì những mục đích lừa dối và quyến dụ,
15. No true forms are created. Forms are created to deceive and mislead. Forms are utilized to gain power over others by weakening their will.
15. Không có hình tướng chân thực nào được tạo ra. Các hình tướng được tạo ra để lừa dối và dẫn lạc. Các hình tướng được sử dụng để giành quyền lực trên người khác bằng cách làm suy yếu ý chí của họ.
16. The black brother on the second ray is called “The Deluder of Souls”. On the third ray, he is called “The Manipulator of Souls”.
16. Huynh đệ bóng tối thuộc cung hai được gọi là “Kẻ Mê Hoặc các linh hồn”. Ở cung ba, y được gọi là “Kẻ Thao Túng các linh hồn”.
whereas the white magician employs it for purposes of information, and the aiding of evolution.—S. D., I, 274.
trong khi nhà huyền thuật chánh đạo sử dụng nó vì những mục đích truyền đạt thông tin và trợ giúp tiến hoá.—S. D., I, 274.
17. The forms created by the white magician convey light and attempt faithfully to represent the greater archetypal arupa forms (‘formless forms’) inherent in the Divine Plan.
17. Các hình tướng do nhà huyền thuật chánh đạo tạo ra truyền đạt ánh sáng và cố gắng biểu hiện trung thành những hình tướng nguyên mẫu arupa lớn hơn (“những hình tướng vô tướng”) vốn tiềm ẩn trong Thiên Cơ.
18. Are we in a position to determine why a subtle form was created and whether it is, in essence, beneficent or maleficent?
18. Chúng ta có ở vào vị thế để xác định vì sao một hình tướng vi tế được tạo ra và liệu về bản chất nó là thiện lành hay độc hại không?
b. Black magic works with opposing poles. The white magician seeks the point of equilibrium or balance, and of synthesis.—S. D., I, 448.
b. Hắc thuật làm việc với các cực đối nghịch. Nhà huyền thuật chánh đạo tìm kiếm điểm quân bình hay cân bằng, và điểm tổng hợp.—S. D., I, 448.
19. This is an interesting distinction. We can see that the principle of conflict (and, hence, disharmony and destruction) is built into the black magical process, but that the reconciliation of the poles leading to unity is characteristic of the method pursued by the white magician.
19. Đây là một sự phân biệt thú vị. Chúng ta có thể thấy rằng nguyên lý xung đột (và do đó, bất hòa và hủy diệt) được cài sẵn trong tiến trình hắc thuật, còn sự hòa giải các cực dẫn đến hợp nhất lại là đặc trưng của phương pháp mà nhà huyền thuật chánh đạo theo đuổi.
20. Evolution is unitive in intent. Involution divides and differentiates.
20. Tiến hoá có ý hướng hợp nhất. Giáng hạ tiến hoá thì phân chia và biến phân.
c. Black magic has for its symbol the inverted 5-pointed star. White magic uses the same symbol with the point uppermost.
c. Hắc thuật lấy ngôi sao 5 cánh đảo ngược. làm biểu tượng. Chánh thuật dùng cùng biểu tượng ấy nhưng với một đỉnh hướng lên trên.
21. Many are familiar with this distinction. There is probably far more occultism in it than we can at present grasp.
21. Nhiều người đã quen thuộc với sự phân biệt này. Có lẽ trong đó chứa đựng nhiều huyền bí học hơn mức hiện nay chúng ta có thể nắm bắt.
22. We can see that the single point of the pentagram (whether pointing upwards or downwards) is the point of resolution or focused expression for the star, the most powerful point.
22. Chúng ta có thể thấy rằng một đỉnh đơn của ngôi sao năm cánh (dù hướng lên hay hướng xuống) là điểm giải quyết hay biểu hiện tập trung của ngôi sao, điểm mạnh nhất.
23. The five-pointed star represents the mind, and the direction of the single point represents the direction of the forces of the star. For the black magician the star points towards the world of desire (the astral plane immediately ‘below’ the lower mental) and towards dense physicality.
23. Ngôi sao năm cánh tượng trưng cho trí tuệ, và hướng của đỉnh đơn tượng trưng cho hướng đi của các mãnh lực của ngôi sao. Đối với nhà hắc thuật, ngôi sao hướng về thế giới dục vọng (cõi cảm dục ngay “bên dưới” cõi hạ trí) và về tính hồng trần đậm đặc.
24. The dualistic forces of nature, which the black magician emphasises are meant to lead to ‘unitive materialism’—the complete power of matter over soul and Spirit.
24. Các mãnh lực nhị nguyên của bản chất mà nhà hắc thuật nhấn mạnh được dự định dẫn đến “chủ nghĩa duy vật hợp nhất”—quyền lực hoàn toàn của vật chất đối với linh hồn và Tinh thần.
25. For the white magician, the direction is towards the higher mental plane and the spiritual triad.
25. Đối với nhà huyền thuật chánh đạo, hướng đi là về phía Cõi thượng trí và Tam Nguyên Tinh Thần.
26. Thus, the upright five-pointed star signals the direction of release and the inverted star, the direction of bondage.
26. Do đó, ngôi sao năm cánh dựng thẳng báo hiệu hướng giải thoát, còn ngôi sao đảo ngược báo hiệu hướng trói buộc.
27. We have all seen the head of the devil-goat superimposed upon the inverted five-pointed star—with two horns and two ears representing the highest two points and middle two points of the inverted star.
27. Tất cả chúng ta đều đã thấy đầu dê quỷ chồng lên ngôi sao năm cánh đảo ngược—với hai sừng và hai tai tượng trưng cho hai đỉnh cao nhất và hai đỉnh giữa của ngôi sao đảo ngược.
28. This image suggests the lower expression of Capricorn—dense, materialistic—interested only in concretion and in the power of the lower mind over all still lower forces.
28. Hình ảnh này gợi ra biểu hiện thấp của Ma Kết—đậm đặc, duy vật—chỉ quan tâm đến sự kết tinh và quyền lực của hạ trí trên mọi mãnh lực còn thấp hơn.
d. Black magic is maha-vidya without the light of atma-vidya. White magic is maha-vidya illumined by atma-vidya.—S. D., I, 592.
d. Hắc thuật là maha-vidya không có ánh sáng của atma-vidya. Chánh thuật là maha-vidya được atma-vidya soi sáng.—S. D., I, 592.
29. This statement explains the difference precisely and is a further elaboration of the discussion of the second and fourth Vidyas above.
29. Phát biểu này giải thích sự khác biệt một cách chính xác và là sự khai triển thêm cho cuộc bàn luận ở trên về vidya thứ hai và thứ tư.
30. Atma Vidya is essentially “Spiritual or Divine Wisdom”.
30. Atma Vidya về bản chất là “Minh triết Tinh thần hay Thiêng liêng”.
31. Black magic is magic unillumined. White magic is illumined magic.
31. Hắc thuật là huyền thuật không được soi sáng. Chánh thuật là huyền thuật được soi sáng.
32. The greatest of all the Vidyas is “atma-vidya”. It stands for the seventh School of Indian Philosophy, embracing the other six, just as the seventh or highest plane is the essence of the other six subplanes.
32. Vĩ đại nhất trong mọi Vidya là “atma-vidya”. Nó tượng trưng cho Trường phái thứ bảy của Triết học Ấn Độ, bao gồm sáu trường phái kia, cũng như cõi thứ bảy hay cao nhất là tinh túy của sáu cõi phụ còn lại.
e. Black magic is ruled over by the moon. White magic is ruled over by the sun.
e. Hắc thuật bị mặt trăng cai quản. Chánh thuật bị mặt trời cai quản.
33. We have here a most powerful distinction. We also find it in esoteric healing—lunar forces lead to disease and death; solar energies lead to health and life.
33. Ở đây chúng ta có một sự phân biệt cực kỳ mạnh mẽ. Chúng ta cũng thấy điều đó trong trị liệu huyền môn—các mãnh lực nguyệt dẫn đến bệnh tật và cái chết; các năng lượng thái dương dẫn đến sức khỏe và sự sống.
When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower Personal self, then you have disease, ill health and death. (EH 191)
Khi các năng lượng kiến tạo của linh hồn hoạt động trong thể, thì có sức khỏe, sự tương tác thanh sạch và hoạt động đúng đắn. Khi các đấng kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những vị hoạt động dưới sự kiểm soát của mặt trăng và theo mệnh lệnh của phàm ngã thấp, thì bạn có bệnh tật, sức khỏe kém và cái chết. (EH 191)
34. The Moon, symbolically and for lives attempting to express themselves progressively within the Earth-chain represents all that is retrogressive. Such forces represent the forces of the past, forces which should have been mastered and outlived but which are allowed to attract and even dominate.
34. Mặt Trăng, về mặt biểu tượng và đối với những sự sống đang cố gắng biểu hiện chính mình một cách tiến bộ trong Dãy Địa Cầu, tượng trưng cho tất cả những gì là thoái hóa. Những mãnh lực như thế tượng trưng cho các mãnh lực của quá khứ, những mãnh lực lẽ ra phải được chế ngự và vượt qua nhưng lại được cho phép hấp dẫn và thậm chí thống trị.
35. In an important sense, black magic is a refusal to move into the future. It is based upon a perverse satisfaction with the powers of the past and the attempt to perpetuate those powers unduly instead of developing the powers appropriate to the present (the forces related to Love) which lead to the fulfillment of the intended divinely intended plans.
35. Theo một nghĩa quan trọng, hắc thuật là sự từ chối tiến vào tương lai. Nó dựa trên một sự thỏa mãn lệch lạc với các quyền năng của quá khứ và nỗ lực kéo dài các quyền năng ấy một cách quá mức thay vì phát triển những quyền năng thích hợp với hiện tại (các mãnh lực liên hệ đến Bác ái), những quyền năng dẫn đến sự hoàn thành các kế hoạch được thiêng liêng dự địnhs.
f. Black and white magic arose during the great schism which started during the fourth root-race.—S. D., II, 221, 445, 520.
f. Hắc thuật và chánh thuật phát sinh trong cuộc phân ly lớn bắt đầu vào giống dân gốc thứ tư.—S. D., II, 221, 445, 520.
36. DK has described the great conflict between the “Lords of the Dark Face” and the “Lords of the Shining Countenance”. This schism arose for many reasons. In one respect it was exacerbated by the entry of intelligent Moon-chain Egos into the Earth-chain during the early fourth rootrace. From another perspective, the conflict was precipitated by the highly intelligent but morally degraded initiates of the first solar system who sought to dominate a humanity which was still in its early adolescence and relatively incapable of discriminating between good and evil.
36. Chân sư DK đã mô tả cuộc xung đột lớn giữa “các Đấng của Khuôn Mặt Tối Tăm” và “các Đấng của Dung Nhan Rạng Ngời”. Sự phân ly này phát sinh vì nhiều lý do. Theo một phương diện, nó bị làm trầm trọng thêm bởi sự gia nhập của các Chân ngã Dãy Mặt Trăng thông minh vào Dãy Địa Cầu trong thời kỳ đầu của giống dân gốc thứ tư. Theo một góc nhìn khác, cuộc xung đột bị kết tủa bởi những điểm đạo đồ rất thông minh nhưng suy đồi về đạo đức của hệ mặt trời thứ nhất, những kẻ tìm cách thống trị một nhân loại vẫn còn ở giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên và tương đối chưa có khả năng phân biện giữa thiện và ác.
37. We should note that the fourth ray is as much as ray of division as of the healing of through harmony of division.
37. Chúng ta nên lưu ý rằng cung bốn cũng là cung của sự phân chia nhiều như là cung chữa lành thông qua sự hài hòa của phân chia.
g. Black magic is based on the degradation of sex and of the creative function. White magic is based on the transmutation of the creative faculty into the higher creative thought, the generative organs being neglected by the inner fire, which passes to the throat, the centre of creative sound.
g. Hắc thuật dựa trên sự suy đồi của tính dục và chức năng sáng tạo. Chánh thuật dựa trên sự chuyển hoá năng lực sáng tạo thành tư tưởng sáng tạo cao hơn, các cơ quan sinh dục bị nội hỏa bỏ qua, nội hỏa ấy chuyển lên cổ họng, trung tâm của âm thanh sáng tạo.
38. Here we have a crucial distinction. The sex function is meant for the production of forms through which the higher will can be expressed. When it is perverted or bent to wrong use, the form of man is weakened and is unable to support the ascension of the soul.
38. Ở đây chúng ta có một sự phân biệt then chốt. Chức năng tính dục được dự định để tạo ra những hình tướng qua đó ý chí cao hơn có thể được biểu hiện. Khi nó bị làm lệch lạc hay bị uốn theo cách sử dụng sai lầm, hình tướng con người bị suy yếu và không thể nâng đỡ sự thăng lên của linh hồn.
39. We can see how Uranus, the planet of elevation and hence, transmutation, is naturally connected with white magic. Interestingly, Uranus is the normal ruler of the sacral center and, if properly used, will direct these energies upwards towards the throat center contributing to the generation of the “creative sound”—a regenerative sound. In the initiate of the first degree (the true disciple), Uranus and the seventh ray become the rulers of the throat center.
39. Chúng ta có thể thấy Uranus, hành tinh của sự nâng cao và do đó của sự chuyển hoá, tự nhiên liên hệ với chánh thuật như thế nào. Điều thú vị là Uranus là chủ tinh thông thường của trung tâm xương cùng và, nếu được sử dụng đúng cách, sẽ hướng các năng lượng này đi lên trung tâm cổ họng, góp phần tạo ra “âm thanh sáng tạo”—một âm thanh tái sinh. Trong điểm đạo đồ bậc một (người đệ tử chân chính), Uranus và cung bảy trở thành các chủ tinh của trung tâm cổ họng.
40. From another perspective, the sacral center is ruled by the Moon—by the forces of regression leading deeper into matter. But the Moon veils Uranus which speaks of a reorientation of the sacral center toward a higher creativity.
40. Theo một góc nhìn khác, trung tâm xương cùng bị Mặt Trăng cai quản—bởi các mãnh lực thoái hóa dẫn sâu hơn vào vật chất. Nhưng Mặt Trăng che giấu Uranus, điều này nói lên sự tái định hướng của trung tâm xương cùng về phía một tính sáng tạo cao hơn.
41. In the contrast between the Moon and Uranus as rulers of the sacral center, we have another representation of the effects of the upright and inverted pentagram.
41. Trong sự tương phản giữa Mặt Trăng và Uranus như các chủ tinh của trung tâm xương cùng, chúng ta có thêm một biểu hiện khác của các hiệu quả của ngôi sao năm cánh dựng thẳng và đảo ngược.
42. The intended union is represented by two stars—the upright pentagram and the six-pointed star (representing the astral plane and the sacral center—the sixth chakra counting from above).
42. Sự kết hợp được dự định được biểu hiện bằng hai ngôi sao—ngôi sao năm cánh dựng thẳng và ngôi sao sáu cánh (tượng trưng cho cõi cảm dục và trung tâm xương cùng—luân xa thứ sáu tính từ trên xuống).
h. Black magic deals with the forces of involution. White magic works with the powers of evolution.
h. Hắc thuật đề cập đến các mãnh lực của giáng hạ tiến hoá. Chánh thuật làm việc với các quyền năng của tiến hoá.
43. The black magician is a dedicated enemy of evolution as evolution is conceived by the Planetary Logoi and Solar Logos.
43. Nhà hắc thuật là kẻ thù tận tụy của tiến hoá như tiến hoá được các Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế quan niệm.
44. We are learning that the black magician works with the elementals but not exclusively so. There are also some lesser manipulating devas with which the black brother also works. DK has detailed the lower devas who respond to the behests of the black magician and those who do not.
44. Chúng ta đang học rằng nhà hắc thuật làm việc với các hành khí nhưng không chỉ riêng với chúng. Cũng có một số thiên thần thao túng thấp mà huynh đệ bóng tối cũng làm việc cùng. Chân sư DK đã trình bày chi tiết về các thiên thần thấp đáp ứng các mệnh lệnh của nhà hắc thuật và những vị không đáp ứng.
45. Still, the quality of the lives with which these various magicians work is an important discriminating factor. The white magician works naturally with higher types of devic entities.
45. Tuy nhiên, phẩm tính của những sự sống mà các nhà huyền thuật khác nhau này làm việc cùng là một yếu tố phân biện quan trọng. Nhà huyền thuật chánh đạo tự nhiên làm việc với những loại thực thể thiên thần cao hơn.
i. Black magic is concerned with the form, with matter. White magic is concerned with the life within the form, with Spirit.
i. Hắc thuật quan tâm đến hình tướng, đến vật chất. Chánh thuật quan tâm đến sự sống bên trong hình tướng, đến Tinh thần.
46. We have the great pairs of opposites, Spirit and matter. It comes as no surprise that black magic is concerned with the matter aspect and with attempting to preserve the dominance of matter over Spirit.
46. Chúng ta có cặp đối cực lớn, Tinh thần và vật chất. Không có gì đáng ngạc nhiên khi hắc thuật quan tâm đến phương diện vật chất và đến việc cố duy trì sự thống trị của vật chất đối với Tinh thần.
47. In this respect, the nucleus of any atom (we have been told that the energy of buddhi lies at the heart of every atom) is the concern of the white magician and the electrons the focus of the black magician.
47. Về phương diện này, hạt nhân của bất kỳ nguyên tử nào (chúng ta đã được cho biết rằng năng lượng của Bồ đề nằm ở trung tâm của mọi nguyên tử) là mối quan tâm của nhà huyền thuật chánh đạo, còn các điện tử là trọng tâm của nhà hắc thuật.
48. Can we distinguish in our own energy system between those forces and patterns which are responsive to the nucleus of the human atom and those which are related to its electronic nature?
48. Trong hệ thống năng lượng của chính mình, chúng ta có thể phân biệt giữa những mãnh lực và mô hình đáp ứng với hạt nhân của nguyên tử nhân loại và những gì liên hệ với bản chất điện tử của nó không?
49. We might also say that white magic is concerned with higher types of forms—those of an arupa nature and found within the cosmic ethers.
49. Chúng ta cũng có thể nói rằng chánh thuật quan tâm đến những loại hình tướng cao hơn—những hình tướng có bản chất arupa và được tìm thấy trong các dĩ thái vũ trụ.
The distinction between the two exists in both motive and method, and might be summed up as follows:
Sự phân biệt giữa hai bên tồn tại cả trong động cơ lẫn phương pháp, và có thể được tóm tắt như sau:
50. We are certainly using the Geminian/Mercurian method of contrast to gain the clearest possible idea of the differences between these two groups, so active on the world stage at this very moment of history just as once they were in Atlantean times.
50. Chắc chắn chúng ta đang sử dụng phương pháp Song Tử/Sao Thủy của sự tương phản để đạt được ý niệm rõ ràng nhất có thể về những khác biệt giữa hai nhóm này, hiện đang hoạt động mạnh mẽ trên vũ đài thế giới vào chính thời điểm lịch sử này cũng như đã từng như thế trong thời Atlantis.
The white magician has for motive that which will be of benefit to the group for whom he is expending his energy and time.
Nhà huyền thuật chánh đạo lấy làm động cơ điều gì sẽ mang lại lợi ích cho nhóm mà y đang dành năng lượng và thời gian của mình cho họ.
51. We see that the white magician is group consciousness. He thinks beyond his own ring-pass-not. He is actuated by love and inclusiveness.
51. Chúng ta thấy rằng nhà huyền thuật chánh đạo là tâm thức nhóm. Y suy nghĩ vượt ra ngoài vòng-giới-hạn của riêng mình. Y được thúc đẩy bởi bác ái và tính bao gồm.
The magician of the left hand path ever works alone, or if he at any time co-operates with others, it is with a hidden selfish purpose.
Nhà huyền thuật của tả đạo luôn luôn làm việc một mình, hoặc nếu vào bất kỳ lúc nào y hợp tác với người khác, thì đó là với một mục đích ích kỷ ẩn giấu.
52. We see the unworthy motive for engaging in alliances.
52. Chúng ta thấy động cơ bất xứng đằng sau việc tham gia các liên minh.
53. The unrelated atom can be seen as a symbol of the third aspect of divinity. The principle of right relationship has not yet influenced those who are exclusively motivated by third aspect values.
53. Nguyên tử không liên hệ có thể được xem như một biểu tượng của phương diện thứ ba của thiên tính. Nguyên lý của mối liên hệ đúng đắn vẫn chưa tác động đến những ai chỉ được thúc đẩy bởi các giá trị của phương diện thứ ba.
54. We see also that the principle of concealment is one of the chief methods by means of which the black brother works.
54. Chúng ta cũng thấy rằng nguyên lý che giấu là một trong những phương pháp chủ yếu mà huynh đệ bóng tối sử dụng để hoạt động.