Trích nội dung chương
150. This involves the willful use of the concrete mind. The mind is the instrument of the will but the source of the energy of will is higher than the mind. The first ray and the fifth ray are intimately related. 150. Điều này liên quan đến việc sử dụng có chủ ý trí cụ thể. Trí tuệ là công cụ của ý chí nhưng nguồn của năng lượng ý chí thì cao hơn trí tuệ. Cung một và cung năm liên hệ mật thiết.
149. Presumably, the Logos knows more than to become exhausted!
149. Có lẽ Thượng đế biết rõ hơn là để mình trở nên cạn kiệt!
a. Lack of sustained will or concentration,
a. Thiếu ý chí hay sự tập trung được duy trì,
150. This involves the willful use of the concrete mind. The mind is the instrument of the will but the source of the energy of will is higher than the mind. The first ray and the fifth ray are intimately related.
150. Điều này liên quan đến việc sử dụng có chủ ý trí cụ thể. Trí tuệ là công cụ của ý chí nhưng nguồn của năng lượng ý chí thì cao hơn trí tuệ. Cung một và cung năm liên hệ mật thiết.
151. Notice the factor of sustainment. Brief and sporadic application of will and the concentrated mind are insufficient to overcome the inhibitory forces. Only sustained application will suffice.
151. Hãy lưu ý yếu tố duy trì. Việc ứng dụng ý chí và trí tuệ tập trung một cách ngắn ngủi và rời rạc thì không đủ để vượt qua các mãnh lực ức chế. Chỉ có sự ứng dụng được duy trì mới đủ.
b. Lack of alignment with the Ego,
b. Thiếu chỉnh hợp với chân ngã,
152. Whether the Ego on the higher mental plane or the triadal Ego, it holds the blueprint for what must happen and is the source of sustaining strength. It offers the energizing quality of inspiration, so needed in arduous processes of externalization.
152. Dù là chân ngã trên cõi thượng trí hay chân ngã tam nguyên tinh thần, nó nắm giữ bản thiết kế cho điều phải xảy ra và là nguồn của sức mạnh duy trì. Nó cống hiến phẩm tính tiếp năng của cảm hứng, điều rất cần trong những tiến trình ngoại hiện gian khổ.
c. A weakness of co-ordination between the two parts of the physical vehicle.
c. Sự yếu kém trong phối hợp giữa hai phần của vận cụ hồng trần.
153. The etheric pattern simply cannot make sufficient impression upon the dense physical subplanes.
153. Mô hình dĩ thái đơn giản là không thể tạo được ấn tượng đầy đủ lên các cõi phụ hồng trần đậm đặc.
154. One of the earliest initiations of the human being involved the mastery of the dense physical subplanes by the etheric subplanes. The processes of mastery demanded in the first initiation require etheric dominance over dense physical tendency.
154. Một trong những lần điểm đạo sớm nhất của con người liên quan đến việc làm chủ các cõi phụ hồng trần đậm đặc bằng các cõi phụ dĩ thái. Những tiến trình làm chủ được đòi hỏi trong lần điểm đạo thứ nhất đòi hỏi sự thống trị dĩ thái đối với khuynh hướng hồng trần đậm đặc.
155. Presumably, knowing the words of manifestation—the seven syllabled Word, will be of great value at this point. This is another way of saying that one must not forget the purpose for which on is undertaking manifestation.
155. Có lẽ, việc biết các linh từ của sự biểu hiện—Linh từ bảy âm tiết, sẽ rất có giá trị tại điểm này. Đây là một cách khác để nói rằng người ta không được quên mục đích mà vì đó mình đảm nhận sự biểu hiện.
156. To work with the sevenfold Word is to work within an Ashram. Each Ashram can be thought of as representing one syllable of this sevenfold Word.
156. Làm việc với Linh từ thất phân là làm việc trong một ashram. Mỗi ashram có thể được xem như biểu thị một âm tiết của Linh từ thất phân này.
157. Obviously, the Ashrams are great and necessary sources of continued inspiration and, therefore, sustenance.
157. Hiển nhiên, các ashram là những nguồn lớn lao và cần thiết của cảm hứng liên tục và, do đó, của sự duy trì.
The logoic Phrase...Fifth plane...The plane of the logoic mantram of 35 stanzas. The gaseous body.
Cụm Từ logoic...Cõi thứ năm...Cõi của mantram logoic gồm 35 bài kệ. Thể khí.
158. We have reached the fifth systemic plane, the mental plane.
158. Chúng ta đã đạt đến cõi hệ thống thứ năm, cõi trí.
159. This is the plane whereon the Solar Angels express through the medium of the causal body.
159. Đây là cõi trên đó các Thái dương Thiên Thần biểu lộ qua trung gian của thể nguyên nhâny.
160. First we had a logoic Breath. Then a Sound. Then a threefold Word. Then a sevenfold Word or Word of seven syllables. Now we have a “logoic Phrase”. The complexity is growing. We have moved from Words to combinations of Words as found in phrases.
160. Trước hết chúng ta có một Hơi Thở logoic. Rồi đến một Âm Thanh. Rồi đến một Linh từ tam phân. Rồi đến một Linh từ thất phân hay Linh từ gồm bảy âm tiết. Giờ đây chúng ta có một “Cụm Từ logoic”. Tính phức tạp đang gia tăng. Chúng ta đã chuyển từ các Linh từ sang những tổ hợp của Linh từ như được thấy trong các cụm từs.
161. The Solar Angel, it must be realized, is a creator of mantrams. We have already studied the relationship between a transmitted “Word of Power”; solar angelically created mantrams based on that Word; and formulas based upon those mantrams.
161. Cần chứng nghiệm rằng Thái dương Thiên Thần là một đấng sáng tạo các mantram. Chúng ta đã nghiên cứu mối liên hệ giữa một “Quyền năng từ” được truyền xuống; các mantrams do thái dương thiên thần sáng tạo dựa trên Linh từ ấy; và các công thức dựa trên những mantram ấys.
162. Mantrams are magical incantations to bring about the externalization of divine patterns.
162. Mantram là những lời chú huyền thuật nhằm mang lại sự ngoại hiện của các mô hình thiêng liêngs.
163. The numbers 3 and 5 are significant, for the Solar Angels express primarily upon that systemic plane of the solar system for which these numbers are representative. The mental plane is the third counting from below and the fifth counting from above.
163. Các số 3 và 5 có ý nghĩa quan trọng, vì các Thái dương Thiên Thần biểu lộ chủ yếu trên cõi hệ thống của hệ mặt trời mà các số này tượng trưng. Cõi trí là cõi thứ ba tính từ dưới lên và là cõi thứ năm tính từ trên xuốnge.
164. Assuming that in all these seven forms of logoic expression the atomic subplane of each systemic plane is important, we find in Letters on Occult Meditation that there are 35 egoic groups to be found on the first or atomic subplane of the mental plane.
164. Giả sử rằng trong cả bảy hình thức biểu lộ logoic này, cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi hệ thống đều quan trọng, chúng ta thấy trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí rằng có 35 nhóm chân ngã được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất hay cõi phụ nguyên tử của cõi trí.
165. Some theorists have also concluded that the number 35 is the number which particularly represents the cycles of the fifth ray, of which the Solar Angels are a major expression on the fifth plane.
165. Một số nhà lý thuyết cũng đã kết luận rằng số 35 là con số đặc biệt tượng trưng cho các chu kỳ của cung năm, mà các Thái dương Thiên Thần là một biểu hiện chủ yếu trên cõi thứ năme.
166. We have, therefore--the fifth plane; the number 35 representing the fifth ray; the Solar Angels Who ‘speak’ in mantrams (phrases).
166. Vì vậy, chúng ta có—cõi thứ năm; số 35 tượng trưng cho cung năm; các Thái dương Thiên Thần là những Đấng “nói” bằng mantram (các cụm từ).
167. We might say that upon the fifth plane complete thoughts are formulated—thoughts which “make sense” under the influence of the logical fifth ray.
167. Chúng ta có thể nói rằng trên cõi thứ năm, các tư tưởng hoàn chỉnh được hình thành—những tư tưởng “có ý nghĩa” dưới ảnh hưởng của cung năm đầy luận lýy.
168. Phrases, sentences, mantrams—these appeal to the mind. These suggest a subject, verb and object. The separation of the subject and object (united upon and within the cosmic ethers) occurs in this realm of the mind.
168. Các cụm từ, câu văn, mantram—những điều này tác động đến trí tuệ. Chúng gợi ý một chủ từ, động từ và túc từ. Sự tách biệt giữa chủ từ và túc từ (được hợp nhất trên và trong các dĩ thái vũ trụ) xảy ra trong lĩnh vực này của trí tuệ.
The gaseous form of the solar system now appears, and the energy centres become veiled and hidden.
Thể khí của hệ mặt trời nay xuất hiện, và các trung tâm năng lượng trở nên được che phủ và ẩn kín.
169. DK is speaking of the creative process from the solar logoic perspective.
169. Chân sư DK đang nói về tiến trình sáng tạo từ quan điểm của Thái dương Thượng đế.
170. How interesting to think of gas as a veil upon the energy centers. From the cosmic point of view this is like saying that thought veils the pure intuition of buddhi.
170. Thật thú vị khi nghĩ về khí như một bức màn phủ lên các trung tâm năng lượng. Từ quan điểm vũ trụ, điều này cũng như nói rằng tư tưởng che phủ trực giác thuần khiết của Bồ đềi.
171. We might also wish to create a link between the gaseous envelope of the chakras and the etheric webs which protect the chakras and are sometimes mistaken for the chakras themselves.
171. Chúng ta cũng có thể muốn tạo một mối liên kết giữa lớp bao khí của các luân xa và các màng dĩ thái bảo vệ các luân xa và đôi khi bị lầm tưởng là chính các luân xa ấys.
Accretion and concretion rapidly proceeds.
Sự bồi tụ và sự kết đặc tiến triển nhanh chóng.
172. The fifth ray is the ray of concretion. There is a rapid concretization of the intended idea.
172. Cung năm là cung của sự kết đặc. Có một sự cụ thể hóa nhanh chóng của ý tưởng được dự địnha.
173. On microcosmic levels, that which is in process of precipitating becomes more substantial and enters a dense physical form.
173. Trên các cấp độ tiểu thiên địa, điều đang trong tiến trình ngưng tụ trở nên thực chất hơn và đi vào một hình tướng hồng trần đậm đặcm.
174. Accretion occurs under the influence of magnetism. Upon the fifth plane, the second ray or ‘Ray of Magnetism’ is also influential, for the fifth plane is the plane of the soul (governed generically by the second ray).
174. Sự bồi tụ xảy ra dưới ảnh hưởng của từ điện. Trên cõi thứ năm, cung hai hay “Cung Từ Điện” cũng có ảnh hưởng, vì cõi thứ năm là cõi của linh hồn (được cai quản một cách tổng quát bởi cung hai).
The three groups of builders co-ordinate their efforts afresh and a new influx of energy — bearing devas from the logoic head centre — pours in.
Ba nhóm đấng kiến tạo lại phối hợp các nỗ lực của họ, và một luồng năng lượng mới — mang theo các thiên thần từ trung tâm đầu logoic — tuôn vào.
175. The "Transmitters of the Word" seem to fit into this category—carriers of the first ray and, therefore, probably to be associated with the logoic head center.
175. “Những Đấng Truyền Tải Linh từ” dường như phù hợp với loại này—những kẻ mang cung một và vì vậy có lẽ được liên kết với trung tâm đầu logoicr.
176. We may expect to find the logoic head center principally on the logoic plane, though it is probably reflected on every plane subsidiary to the logoic plane. We must remember that the seven chakras are to be found on all the planes—on the four higher levels of the cosmic physical subplanes and on the four higher levels of the systemic physical subplanes.
176. Chúng ta có thể mong đợi tìm thấy trung tâm đầu logoic chủ yếu trên cõi logoic, dù có lẽ nó được phản chiếu trên mọi cõi phụ thuộc vào cõi logoic. Chúng ta phải nhớ rằng bảy luân xa được tìm thấy trên mọi cõi—trên bốn cấp độ cao hơn của các cõi phụ hồng trần vũ trụ và trên bốn cấp độ cao hơn của các cõi phụ hồng trần hệ thốngs.
177. We remember (as we learned in a previous commentary) that this high group of devas originate within the "One About Whom Naught May Be Said", are transmitted through three great constellations and even through the seven major stars of the Great Bear (a constellation which, as a whole, has a first ray quality).
177. Chúng ta nhớ lại (như đã học trong một Cổ Luận trước đây) rằng nhóm thiên thần cao cả này phát nguyên trong “Đấng Bất Khả Tư Nghị”, được truyền qua ba chòm sao lớn và thậm chí qua bảy ngôi sao chính của Đại Hùng Tinh (một chòm sao mà, như một toàn thể, có phẩm tính cung một).
178. When speaking of “three groups of builders” there are different ways to approach the interpretation of the phrase, but the idea, as developed in foregoing chapters, has emphasized transmitters, building (manipulating) devas, and building essence.
178. Khi nói đến “ba nhóm đấng kiến tạo”, có nhiều cách khác nhau để tiếp cận việc giải thích cụm từ này, nhưng ý tưởng, như đã được triển khai trong các chương trước, đã nhấn mạnh những đấng truyền tải, các thiên thần kiến tạo (thao tác), và tinh chất kiến tạoe.
179. The first and fifth rays are, we know, intimately related as are the first and fifth planes.
179. Như chúng ta biết, cung một và cung năm có liên hệ mật thiết, cũng như cõi thứ nhất và cõi thứ năms.
180. It is also well to remember when dealing with the fifth plane and with Solar Angels, that certain Solar Angels do emanate from the logoic Central Spiritual Sun (naturally connected to the “logoic head centre”) and other Solar Angels emanate from the logoic Heart of the Sun.
180. Cũng nên nhớ rằng khi đề cập đến cõi thứ năm và các Thái dương Thiên Thần, một số Thái dương Thiên Thần thực sự phát xạ từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương logoic (đương nhiên liên hệ với “trung tâm đầu logoic”) và những Thái dương Thiên Thần khác phát xạ từ Trái Tim logoic của Mặt Trờin.
181. We are seeing that “Transmitters of the Word” and ‘Enunciators of Mantrams” are closely interactive. Thus the numbers one and five are closely interactive.
181. Chúng ta đang thấy rằng “Những Đấng Truyền Tải Linh từ” và “Những Đấng Xướng Lên Mantram” tương tác rất chặt chẽ. Vì vậy các số một và năm cũng tương tác rất chặt chẽ.
The lesser builders [lunar pitris?] respond to the logoic mantram chanted anew at each manvantara,
Các vị tiểu kiến tạo [thái âm tổ phụ?] đáp ứng với mantram logoic được xướng lên mới mẻ trong mỗi giai kỳ sinh hóa,
182. Will this mantram be chanted by great Solar Angels as found upon the cosmic mental plane? If a human incarnation is impulsed largely from the systemic mental plane then the incarnation of a Planetary Logos or Planetary Logos should be impulsed from the cosmic mental plane.
182. Liệu mantram này có được xướng lên bởi các Thái dương Thiên Thần vĩ đại như được tìm thấy trên cõi trí vũ trụ chăng? Nếu một lần lâm phàm của con người được thúc đẩy phần lớn từ cõi trí hệ thống, thì lần lâm phàm của một Hành Tinh Thượng Đế hay Hành Tinh Thượng Đế hẳn phải được thúc đẩy từ cõi trí vũ trụ.
183. When we examine a term like “lesser builders” we must realize its relativity.
183. Khi khảo sát một thuật ngữ như “các vị tiểu kiến tạo”, chúng ta phải nhận ra tính tương đối của nóy.
and the seven streams of energy from the seven logoic centres are directed downwards.
và bảy dòng năng lượng từ bảy trung tâm logoic được hướng xuống dưới.
184. We seem to be speaking of the creative process of the Solar Logos.
184. Dường như chúng ta đang nói về tiến trình sáng tạo của Thái dương Thượng đếs.
185. May we assume that these “seven streams” are directed from the logoic plane? May it be that on that plane the seven solar logoic centers are likely to be found? It is on the monadic plane that the seven major centers of a Planetary Logos are to be found. This is a possible distinction here which needs careful examination. We would have to know the planar ‘location’ of the seven major head centers of the Solar Logos. Very possibly it is a ‘location’ on the systemic logoic plane.
185. Chúng ta có thể giả định rằng bảy “dòng” này được hướng đi từ cõi logoic chăng? Có thể nào trên cõi ấy bảy trung tâm logoic thái dương có khả năng được tìm thấy? Chính trên cõi chân thần mà bảy trung tâm chính của một Hành Tinh Thượng Đế được tìm thấy. Đây là một sự phân biệt khả dĩ ở đây cần được khảo sát cẩn thận. Chúng ta sẽ phải biết “vị trí” theo cõi của bảy trung tâm đầu chính của Thái dương Thượng đế. Rất có thể đó là một “vị trí” trên cõi logoic hệ thốnge.
186. In any case, it seems that the logoic mantram is sevenfold and must (by a series of transformations) reach the distributing chakra which are responsible for objectification.
186. Dù sao đi nữa, dường như mantram logoic là thất phân và phải (qua một chuỗi chuyển đổi) đạt đến luân xa phân phối chịu trách nhiệm cho sự khách quan hóan.
187. When we speak of the fifth ray, we speak of concretion. The number 35 is derived from the product of 5 x 7. If there is a sevenfold “logoic mantram”, then much of that which concretizes this mantram into form within the dense physical body of the Solar Logos is accomplished on the fifth or mental plane (the higher mental plane specifically). On the highest level (subplane) of the higher mental plane there are 35 groupings of Egos, each responsible for materializing some aspect of the logoic mantram.
187. Khi nói về cung năm, chúng ta nói về sự kết đặc. Số 35 được rút ra từ tích số 5 x 7. Nếu có một “mantram logoic” thất phân, thì phần lớn điều cụ thể hóa mantram này thành hình tướng trong thể xác hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế được hoàn thành trên cõi thứ năm hay cõi trí (đặc biệt là cõi thượng trí). Trên cấp độ cao nhất (cõi phụ) của cõi thượng trí có 35 nhóm Chân ngã, mỗi nhóm chịu trách nhiệm hiện hình một phương diện nào đó của mantram logoicm.
The logoic Song of Love or Desire...The Sixth plane...A poem in forty-two verses. The logoic liquid body.
Bài Ca logoic của Tình thương hay Dục vọng...Cõi thứ sáu...Một bài thơ gồm bốn mươi hai câu. Thể lỏng logoic.
188. We are no longer talking about the ‘Science of Mantra’ requiring the fifth ray and the fifth plane. Our emphasis has become decidedly more ‘emotional’ (if we can use such a term as we speak of a Solar Logos) when we descend to the systemic astral plane.
188. Chúng ta không còn nói về “Khoa Học Mantra” đòi hỏi cung năm và cõi thứ năm nữa. Trọng tâm của chúng ta đã trở nên rõ rệt là “cảm xúc” hơn (nếu có thể dùng một thuật ngữ như thế khi nói về một Thái dương Thượng đế) khi chúng ta đi xuống cõi cảm dục hệ thốnge.
189. We are contrasting “phrases” which appear on the fifth plane with “verses” (with their emotive appeal) which appear on the sixth. We are moving from science to art, from logic to poetry.
189. Chúng ta đang đối chiếu “các cụm từ” xuất hiện trên cõi thứ năm với “các câu thơ” (với sức gợi cảm xúc của chúng) xuất hiện trên cõi thứ sáu. Chúng ta đang chuyển từ khoa học sang nghệ thuật, từ luận lý sang thi cay.
190. The planet Neptune becomes important. Interestingly, the number 42 sums to 6, and it is the sixth plane we are discussing. It is the reverse of 24 which relates intimately to Shamballa (the number of which is 24).
190. Hành tinh Sao Hải Vương trở nên quan trọng. Điều thú vị là số 42 cộng lại thành 6, và đây là cõi thứ sáu mà chúng ta đang bàn đến. Nó là số đảo của 24, vốn liên hệ mật thiết với Shamballa (mà con số của nó là 24).
191. That which began on the highest planes now develops magnetic appeal.
191. Điều đã bắt đầu trên các cõi cao nhất nay phát triển sức hấp dẫn từ tínhl.
192. The soft-line rays are the ones in expression on the sixth plane. There is also a resonance to the second subplane of the higher mental plane, with its 42 groups of Egos.
192. Các cung mềm là những cung đang biểu lộ trên cõi thứ sáu. Cũng có một sự cộng hưởng với cõi phụ thứ hai của cõi thượng trí, với 42 nhóm Chân ngã của nós.
This song or vibration causes the bringing in of a body of devas from the logoic heart centre to swell the efforts of those already active.
Bài ca hay rung động này gây ra việc đưa vào một đoàn thiên thần từ trung tâm tim logoic để làm tăng cường các nỗ lực của những vị đã hoạt động sẵn.
193. Just as the number one and five are closely related, when considering the dynamics of the logoic creative process as it reaches the fifth plane, so the numbers two and six are closely related.
193. Cũng như số một và số năm có liên hệ chặt chẽ khi xét đến động lực của tiến trình sáng tạo logoic khi nó đạt đến cõi thứ năm, thì các số hai và sáu cũng liên hệ chặt chẽ.
194. We must remember the influence of Neptune Who is the “Divine Singer”, Vishnu.
194. Chúng ta phải nhớ ảnh hưởng của Sao Hải Vương, Đấng là “Đấng Ca Hát Thiêng Liêng”, Vishnu.
195. The number one suggests the logoic head center; the number two, the logoic heart center.
195. Số một gợi ý trung tâm đầu logoic; số hai, trung tâm tim logoicr.
196. The astral plane, the buddhic plane, the monadic plane, and the cosmic astral plane all have a close relation to the Heart of the Sun. As for the logoic heart center where may we find it? If analogies from TCF Chart VIII hold good, we would look for it on the systemic monadic plane with reflected expressions on the systemic buddhic plane.
196. Cõi cảm dục, cõi Bồ đề, cõi chân thần, và cõi cảm dục vũ trụ đều có liên hệ mật thiết với Trái Tim của Mặt Trời. Còn trung tâm tim logoic thì chúng ta có thể tìm thấy nó ở đâu? Nếu các phép tương đồng từ Biểu Đồ VIII của TCF là đúng, chúng ta sẽ tìm nó trên cõi chân thần hệ thống với các biểu hiện phản chiếu trên cõi Bồ đề hệ thốnge.
197. There will be activity ‘native’ to or characteristic of every one of the systemic planes, and this activity can be augmented by inflows from the major vehicles of the Solar Logos. In this case the natural activity upon the astral plane is augmented by the energies from the logoic heart center (active, for practical purposes, on the monadic and buddhic planes). Naturally, there will be a higher correspondence to this logoic heart center on the cosmic astral plane.
197. Sẽ có hoạt động “bản địa” hay đặc trưng cho từng cõi hệ thống, và hoạt động này có thể được tăng cường bởi các luồng đổ vào từ các vận cụ chính của Thái dương Thượng đế. Trong trường hợp này, hoạt động tự nhiên trên cõi cảm dục được tăng cường bởi các năng lượng từ trung tâm tim logoic (hoạt động, cho các mục đích thực tiễn, trên các cõi chân thần và Bồ đề). Đương nhiên, sẽ có một tương ứng cao hơn với trung tâm tim logoic này trên cõi cảm dục vũ trụ.
The liquid body of the solar Logos appears, and the form exists in its six differentiations.
Thể lỏng của Thái dương Thượng đế xuất hiện, và hình tướng tồn tại trong sáu sự biến phân của nó.
198. We see that the vehicles of any entity appear progressively, presumably through the emanative process.
198. Chúng ta thấy rằng các vận cụ của bất kỳ thực thể nào cũng xuất hiện dần dần, có lẽ thông qua tiến trình phát xạs.
199. Even on the monadic plane, seven proto-forms existed (seven monadic Sounds within the One Sound). Why, then, only six forms? Or are we dealing with one form in six differentiations?
199. Ngay cả trên cõi chân thần, bảy hình thức nguyên sơ đã tồn tại (bảy Âm Thanh chân thần trong Một Âm Thanh). Vậy tại sao chỉ có sáu hình thức? Hay là chúng ta đang đề cập đến một hình tướng trong sáu sự biến phân?
200. Perhaps full differentiation of form only appears as we descend through the planes, and perhaps the number of differentiations is closely related to the number of the plane concerned. This is true for the first, second and third planes, but not to the fourth and fifth planes. On the sixth plane the number 42 sums to 6. Even on the second plane, however, there is a strong presence of the number seven.
200. Có lẽ sự biến phân đầy đủ của hình tướng chỉ xuất hiện khi chúng ta đi xuống qua các cõi, và có lẽ số lượng các biến phân liên hệ chặt chẽ với số của cõi đang xét. Điều này đúng với cõi thứ nhất, thứ hai và thứ ba, nhưng không đúng với cõi thứ tư và thứ năm. Trên cõi thứ sáu, số 42 cộng lại thành 6. Tuy nhiên, ngay cả trên cõi thứ hai, vẫn có sự hiện diện mạnh mẽ của số bản.
201. Probably the better way of way of understanding the thought here presented is that the single form descending as a result of the cosmic magical process is now sixfold.
201. Có lẽ cách tốt hơn để hiểu tư tưởng được trình bày ở đây là hình tướng đơn nhất đi xuống như kết quả của tiến trình huyền thuật vũ trụ nay là lục phân.
Concretion is very rapid, and activity is considerably more violent owing to the greater density of the accruing substance.
Sự kết đặc diễn ra rất nhanh, và hoạt động mãnh liệt hơn đáng kể do mật độ lớn hơn của chất liệu đang bồi thêm.
202. Rays five, six and seven are all rays of concretion.
202. Các cung năm, sáu và bảy đều là những cung của sự kết đặcn.
203. We know the reputation of those upon the sixth for forming rapid conclusions based on emotional impulse, and their reputation for violence (especially if influenced by the Martian aspect of the sixth ray). Perhaps the dynamics of this sevenfold creative process, once that process reaches the sixth plane, explain somewhat these character traits.
203. Chúng ta biết tiếng tăm của những người ở trên cõi thứ sáu trong việc đi đến các kết luận nhanh chóng dựa trên xung lực cảm xúc, và tiếng tăm của họ về tính bạo liệt (đặc biệt nếu bị ảnh hưởng bởi phương diện Sao Hỏa của cung sáu). Có lẽ động lực của tiến trình sáng tạo thất phân này, một khi tiến trình ấy đạt đến cõi thứ sáu, phần nào giải thích các nét tính cách nàys.
204. In any case, DK is telling us that rapid concretion is associated with the sixth plane and the sixth ray.
204. Dù sao đi nữa, Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng sự kết đặc nhanh chóng gắn liền với cõi thứ sáu và cung sáuy.
The logoic Book of Life...Seventh plane...Exists in forty-nine chapters.
Quyển Sách Sự Sống logoic...Cõi thứ bảy...Tồn tại trong bốn mươi chín chương.
205. Finally we reach the lowest level in this creative process. We have moved from the Breath, to the Sound, to the threefold Word, to the Word with seven syllables, to the Mantram with thirty-five phases, to the “Song of Love or Desire”, a poem in forty-two verses, and finally to the expression in form of a “Book of Life”…”in forty-nine chapters”.
205. Cuối cùng chúng ta đạt đến cấp độ thấp nhất trong tiến trình sáng tạo này. Chúng ta đã đi từ Hơi Thở, đến Âm Thanh, đến Linh từ tam phân, đến Linh từ có bảy âm tiết, đến Mantram có ba mươi lăm giai đoạn, đến “Bài Ca của Tình thương hay Dục vọng”, một bài thơ gồm bốn mươi hai câu, và cuối cùng đến sự biểu lộ trong hình tướng của một “Quyển Sách Sự Sống”…”trong bốn mươi chín chương”.
206. The following numerical sequences bears study: 1—2—3—7—35—42—49.
206. Chuỗi số sau đây đáng được nghiên cứu: 1—2—3—7—35—42—49.
The entire form stands revealed.
Toàn bộ hình tướng đứng được mặc khải.
207. It is the purpose of the seventh ray to make full revelation. Jupiter is the planet of fulness and also a major seventh ray planet.
207. Mục đích của cung bảy là mang lại sự mặc khải trọn vẹn. Sao Mộc là hành tinh của sự viên mãn và cũng là một hành tinh lớn của cung bảyt.
208. We have reached a point of fullest objectivity.
208. Chúng ta đã đạt đến một điểm khách quan tính đầy đủ nhấty.
209. The seven above (on the monadic plane certainly, and perhaps, from the solar logoic standpoint, on the logoic plane) are manifested in seven below, each with its seven divisions.
209. Bảy ở trên (chắc chắn trên cõi chân thần, và có lẽ, từ quan điểm của Thái dương Thượng đế, trên cõi logoic) được biểu lộ thành bảy ở dưới, mỗi cái với bảy phân chia của nós.
210. The 4 and the 9 of 49 (the number of expressed differentiations on the seventh plane) sum to 13 and then 4, thus showing the relationship between the four and seven, as suggested in relation to the fourth plane and its sevenfold Word.
210. Số 4 và số 9 của 49 (con số của các biến phân được biểu lộ trên cõi thứ bảy) cộng lại thành 13 rồi thành 4, như thế cho thấy mối liên hệ giữa số bốn và số bảy, như đã được gợi ý liên quan đến cõi thứ tư và Linh từ thất phân của nó.
During evolution it must manifest its purpose and its nature.
Trong tiến hoá, nó phải biểu lộ mục đích và bản chất của nó.
211. The purpose behind the form must be revealed.
211. Mục đích ẩn sau hình tướng phải được mặc khảid.
A third group [Page 929] of devas from the logoic throat centre appear, and cooperate with their brothers.
Một nhóm thiên thần thứ ba [Page 929] từ trung tâm cổ họng logoic xuất hiện, và hợp tác với các huynh đệ của họ.
212. The higher devas come forth to cooperate with devas whose process is already in progress.
212. Các thiên thần cao hơn xuất hiện để hợp tác với các thiên thần mà tiến trình của họ đã đang diễn ras.
213. We have seen the first ray related to the fifth plane, the second ray related to the sixth plane and now the third ray related to the seventh plane.
213. Chúng ta đã thấy cung một liên hệ với cõi thứ năm, cung hai liên hệ với cõi thứ sáu, và giờ đây cung ba liên hệ với cõi thứ bảye.
214. The third and seventh rays are intimately related. This has worked out in a practical manner through the relation of the Mahachohan, Master R. to both the third and seventh rays.
214. Cung ba và cung bảy có liên hệ mật thiết. Điều này đã được thể hiện một cách thực tiễn qua mối liên hệ của Đức Mahachohan, Chân sư R. với cả cung ba lẫn cung bảys.
215. Where shall we find the logoic throat center? Some might point to the buddhic plane, but it remains a strong possibility that we are to look for it upon the third plane or atmic plane.
215. Chúng ta sẽ tìm thấy trung tâm cổ họng logoic ở đâu? Một số người có thể chỉ đến cõi Bồ đề, nhưng vẫn có khả năng lớn là chúng ta phải tìm nó trên cõi thứ ba hay cõi atmae.
216. Saturn is the ruler of the atmic plane and Uranus (veiled by the Moon) of the seventh plane. There is distinct relationship between Saturn and Uranus.
216. Sao Thổ là chủ tinh của cõi atma và Sao Thiên Vương (được che phủ bởi Mặt Trăng) là chủ tinh của cõi thứ bảy. Có một mối liên hệ rõ rệt giữa Sao Thổ và Sao Thiên Vươngs.
217. When looking at the logoic creative process, we may link the first and the fifth planes; the second and the sixth planes, and the third and the seventh planes. The origin of creativity on the lower planes is to be found on the three highest planes.
217. Khi xem xét tiến trình sáng tạo logoic, chúng ta có thể liên kết cõi thứ nhất với cõi thứ năm; cõi thứ hai với cõi thứ sáu; và cõi thứ ba với cõi thứ bảy. Nguồn gốc của tính sáng tạo trên các cõi thấp được tìm thấy trên ba cõi cao nhấts.
All the fires are burning, all the centres are active, and every petal, forty-nine in number, on the fourth plane of Buddhi is producing a reflex activity upon the dense physical plane.
Mọi lửa đều đang cháy, mọi trung tâm đều hoạt động, và mỗi cánh hoa, tổng cộng là bốn mươi chín, trên cõi thứ tư của Bồ đề đang tạo ra một hoạt động phản xạ trên cõi hồng trần đậm đặc.
218. We have two perspectives. There may be seven solar logoic centers of force on the buddhic plane (as here suggested, but three of those centers of force may have originated on planes higher than the buddhic, although they may be represented on the buddhic. By analogy, we have seven etheric chakras, and seven astral chakras. Eventually we shall have seven, not four mental plane chakras, and there is every reason to believe that there are seven chakras on the buddhic and atmic planes as well (and perhaps beyond)
218. Chúng ta có hai quan điểm. Có thể có bảy trung tâm mãnh lực của Thái dương Thượng đế trên cõi Bồ đề (như ở đây được gợi ý, nhưng ba trong số các trung tâm mãnh lực ấy có thể đã phát nguyên trên những cõi cao hơn cõi Bồ đề, dù chúng có thể được biểu hiện trên cõi Bồ đề. Theo phép tương đồng, chúng ta có bảy luân xa dĩ thái, và bảy luân xa cảm dục. Cuối cùng chúng ta sẽ có bảy, chứ không phải bốn, luân xa của cõi trí, và có mọi lý do để tin rằng cũng có bảy luân xa trên các cõi Bồ đề và atma nữa (và có lẽ còn vượt lên trên)
219. We have seen how the “A” originating on plane one is transposed to plane two to join the “U”, “A U”. This same additive approach carries on to plane three where we have “A U M”
219. Chúng ta đã thấy cách “A” phát nguyên trên cõi một được chuyển sang cõi hai để kết hợp với “U”, thành “A U”. Cùng một cách tiếp cận cộng thêm này tiếp tục đến cõi ba, nơi chúng ta có “A U M”
220. Maybe this is the way that chakras work as well. Perhaps those chakras on higher subplanes (head center on the first subplane, heart center on the second, throat center on the third) all make their vorticular impression on the fourth subplane, thus making it possible to say that all chakric vortices are to be found on the fourth subplane). In fact, if higher vortices are to appear as vortices on the buddhic plane, then it may be that these higher vortices descend through planes higher than the buddhic on their way to the buddhic. In such a case, the logoic head center would have a vorticular presence on the monadic plane and the atmic plane before reaching the buddhic plane. The logoic heart center would on the monadic plane would have a vorticular presence on the atmic plane before reaching the buddhic plane. The logoic throat center, presumably on the atmic plane, would have it originating vortex there, but would also have a vorticular presence on the buddhic plane. We can see some of the possible intricacy.
220. Có lẽ đây cũng là cách các luân xa vận hành. Có lẽ những luân xa trên các cõi phụ cao hơn (trung tâm đầu trên cõi phụ thứ nhất, trung tâm tim trên cõi phụ thứ hai, trung tâm cổ họng trên cõi phụ thứ ba) đều tạo ra ấn tượng xoáy lực của chúng trên cõi phụ thứ tư, nhờ đó có thể nói rằng mọi xoáy lực luân xa đều được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư). Thật vậy, nếu các xoáy lực cao hơn phải xuất hiện như những xoáy lực trên cõi Bồ đề, thì có thể các xoáy lực cao hơn này đi xuống qua những cõi cao hơn cõi Bồ đề trên đường đến cõi Bồ đề. Trong trường hợp như vậy, trung tâm đầu logoic sẽ có một sự hiện diện xoáy lực trên cõi chân thần và cõi atma trước khi đạt đến cõi Bồ đề. Trung tâm tim logoic trên cõi chân thần sẽ có một sự hiện diện xoáy lực trên cõi atma trước khi đạt đến cõi Bồ đề. Trung tâm cổ họng logoic, có lẽ trên cõi atma, sẽ có xoáy lực phát nguyên tại đó, nhưng cũng sẽ có một sự hiện diện xoáy lực trên cõi Bồ đề. Chúng ta có thể thấy phần nào sự phức tạp khả dĩ nàyy.
221. When looking at the cosmic physical plane from the cosmic perspective, and when studying the various Planetary Logoi as if they were chakras within the energy system of the Solar Logos, it is clear that each one of these planetary lotuses does not have forty-nine petals, but, rather, seven major petals.
221. Khi nhìn cõi hồng trần vũ trụ từ quan điểm vũ trụ, và khi nghiên cứu các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau như thể các Ngài là những luân xa trong hệ thống năng lượng của Thái dương Thượng đế, rõ ràng là mỗi hoa sen hành tinh này không có bốn mươi chín cánh hoa, mà đúng hơn là bảy cánh hoa chínhs.
222. How many petals there are to be found in each etheric planetary lotus is probably one of the secrets of initiate. Usually the number twelve is used when referring to planetary or even solar lotuses; this usually has a heart center connection or perhaps a causal body connection.
222. Có bao nhiêu cánh hoa được tìm thấy trong mỗi hoa sen hành tinh dĩ thái có lẽ là một trong những bí mật của điểm đạo đồ. Thông thường số mười hai được dùng khi nói đến các hoa sen hành tinh hay thậm chí các hoa sen thái dương; điều này thường có liên hệ với trung tâm tim hoặc có lẽ với thể nguyên nhânn.
223. When it comes to the human being, of course, we are given different numbers of petals for each of the chakras, and there is no reason to suspect that the planetary chakric lotuses appearing on the cosmic ethers would be identical in petal number or formation. To solve this intricate problem, we simply will have to wait until more is known.
223. Khi nói đến con người, dĩ nhiên, chúng ta được cho biết những số lượng cánh hoa khác nhau cho mỗi luân xa, và không có lý do gì để nghi ngờ rằng các hoa sen luân xa hành tinh xuất hiện trên các dĩ thái vũ trụ sẽ giống hệt nhau về số lượng hay cấu tạo cánh hoa. Để giải quyết vấn đề phức tạp này, đơn giản là chúng ta sẽ phải chờ cho đến khi biết nhiều hơnn.
224. Again the count of forty-nine petals on the buddhic plane is not easily determined, though it seems logical enough before one starts to go into the details.
224. Một lần nữa, số đếm bốn mươi chín cánh hoa trên cõi Bồ đề không dễ xác định, dù trước khi đi vào chi tiết thì điều đó có vẻ khá hợp lýs.
Men, when occupied in creation of any kind, and in the process of producing forms on earth which embody an idea, work along similar lines. The analogy is perfect.
Những người nam và nữ, khi bận rộn trong việc sáng tạo dưới bất kỳ hình thức nào, và trong tiến trình tạo ra các hình tướng trên Trái Đất thể hiện một ý tưởng, đều làm việc theo những đường lối tương tự. Phép tương đồng là hoàn hảo.
225. And this is the analogy which is so thoroughly developed in A Treatise on White Magic.
225. Và đây là phép tương đồng được triển khai rất triệt để trong Luận về Chánh Thuật.
226. Even when dealing with the human magical creative process, this descent from the Breath to the forty-nine chapters should be studied carefully as, once more is known along a practical line, it would hold many hints regarding how to proceed—magically.
226. Ngay cả khi đề cập đến tiến trình sáng tạo huyền thuật của con người, sự đi xuống này từ Hơi Thở đến bốn mươi chín chương cũng nên được nghiên cứu cẩn thận vì, một khi biết thêm theo đường lối thực tiễn, nó sẽ chứa đựng nhiều gợi ý về cách tiến hành—một cách huyền thuậty.
In connection with those human beings who create nothing,
Liên quan đến những con người không sáng tạo ra điều gì,
227. Though they will always be capable of procreation…
227. Dù họ luôn luôn vẫn có khả năng sinh sản…
but who are only swept into activity under the urge of circumstance—
nhưng chỉ bị cuốn vào hoạt động dưới sự thúc đẩy của hoàn cảnh—
228. They are simply reactive rather than proactive…
228. Họ đơn thuần là phản ứng lại thay vì chủ động…
and they are the bulk of the human race—
và họ là đại bộ phận của nhân loại—
229. We must not forget just how few human beings are really personalities or advanced in any way. So few have the higher functions of the throat center developed.
229. Chúng ta không được quên rằng có quá ít con người thực sự là các phàm ngã hay tiến bộ theo bất kỳ cách nào. Rất ít người có các chức năng cao hơn của trung tâm cổ họng được phát triểnd.
it should be pointed out that they are a part of the creative activity of some greater, and more advanced, entity.
cần phải chỉ ra rằng họ là một phần của hoạt động sáng tạo của một thực thể nào đó lớn hơn và tiến bộ hơn.
230. Deliberate creativity is occurring on many systemic and cosmic levels and necessarily, even if human beings are unconscious of it, they are involved as tiny units in some greater creative process.
230. Sự sáng tạo có chủ đích đang diễn ra trên nhiều cấp độ hệ thống và vũ trụ, và tất yếu là, ngay cả khi con người không hữu thức về điều đó, họ vẫn tham dự như những đơn vị nhỏ bé trong một tiến trình sáng tạo lớn hơn nào đós.
231. Tiny elemental lives are, analogously, involved in the creative process of higher devas who sweep these lesser lives into various patterns and relationships.
231. Tương tự như vậy, những sự sống hành khí nhỏ bé cũng tham dự vào tiến trình sáng tạo của các thiên thần cao hơn, những vị cuốn các sự sống nhỏ bé ấy vào những mô hình và mối liên hệ khác nhaus.
As self-conscious evolution proceeds, more and more of the human family will become creators and intelligent workers in connection with deva substance.
Khi tiến hoá ngã thức tiếp diễn, ngày càng nhiều thành viên của gia đình nhân loại sẽ trở thành những đấng sáng tạo và những người hoạt động thông minh trong mối liên hệ với chất liệu thiên thần.
232. This means that their throat center will become activated. Man, as he advances, will no longer become the plaything of the devas and lesser lives.
232. Điều này có nghĩa là trung tâm cổ họng của họ sẽ được hoạt hóa. Con người, khi tiến bộ, sẽ không còn trở thành món đồ chơi của các thiên thần và các sự sống nhỏ bé nữas.
In the initial stages, therefore, of their dissociation from a passive attitude, there will be found a revolt against law and order, a refusal to be governed, and an ability evidenced to follow out an individual concept at the expense of the group, great or small.
Vì vậy, trong những giai đoạn đầu của sự tách rời khỏi thái độ thụ động, sẽ thấy có một sự nổi loạn chống lại luật pháp và trật tự, một sự từ chối bị cai quản, và một khả năng được biểu lộ là theo đuổi một quan niệm cá nhân với cái giá phải trả của tập thể, dù lớn hay nhỏ.
233. DK offers a certain assessment of an inevitable stage of the process--rebellion.
233. Chân sư DK đưa ra một sự đánh giá nhất định về một giai đoạn tất yếu của tiến trình—sự nổi loạnn.
234. The sequence seems to be: passivity—rebellion—conformity (to higher or spiritual requirements).
234. Trình tự dường như là: thụ động—nổi loạn—tuân hợp (với các đòi hỏi cao hơn hay tinh thần).
235. In the stage under discussion, it seems that one becomes an ‘outlaw’.
235. Trong giai đoạn đang được bàn đến, dường như người ta trở thành một kẻ “ngoài vòng pháp luật”.
236. The personality at some stage always rebels against the soul and the individual against the group.
236. Phàm ngã ở một giai đoạn nào đó luôn nổi loạn chống lại linh hồn và cá nhân chống lại nhóm.
This apparent defect, evolution itself and experience will remedy, and as the consciousness becomes alive to higher vibrations the man will become aware of the purpose and plan of the Intelligence of his group.
Khuyết điểm bề ngoài này, chính tiến hoá và kinh nghiệm sẽ sửa chữa, và khi tâm thức trở nên sống động trước các rung động cao hơn, con người sẽ nhận biết mục đích và Thiên Cơ của Trí Tuệ của nhóm mình.
237. Correction is built into the evolutionary process.
237. Sự điều chỉnh được tích hợp sẵn trong tiến trình tiến hoán.
238. DK calls the rebellious attitude an “apparent defect” because He knows that it is an inevitable and temporary part of the evolutionary process.
238. Chân sư DK gọi thái độ phản nghịch là một “khuyết điểm bề ngoài” vì Ngài biết rằng đó là một phần tất yếu và tạm thời của tiến trình tiến hoán.
239. Pain and the inevitable sensitization that it brings will also render the man more capable to cooperation with the group.
239. Đau khổ và sự nhạy cảm hoá tất yếu mà nó mang lại cũng sẽ khiến con người có khả năng hợp tác với nhóm nhiều hơnm.
He will awaken to the beauty of that plan and will begin to submerge his own interests in the greater, and to co-operate intelligently.
Y sẽ thức tỉnh trước vẻ đẹp của Thiên Cơ ấy và sẽ bắt đầu dìm lợi ích riêng của mình vào trong điều lớn lao hơn, và hợp tác một cách thông minh.
240. What is suggested is that the realization of beauty translates into self-discipline. Perhaps intelligent artists understand this.
240. Điều được gợi ý ở đây là sự chứng nghiệm về cái đẹp chuyển thành tự kỷ luật. Có lẽ các nghệ sĩ thông minh hiểu điều này.
241. Every evolving human being must learn how to submerge the lesser in the greater.
241. Mỗi con người đang tiến hoá đều phải học cách dìm cái nhỏ hơn vào trong cái lớn hơn.
The creative power which had before been of a separative nature will be offered as a willing sacrifice to the greater energy,
Quyền năng sáng tạo vốn trước đây mang bản chất phân ly sẽ được hiến dâng như một sự hi sinh tự nguyện cho năng lượng lớn lao hơn,
242. The story is ever the same; the part sacrifices for the whole—eventually.
242. Câu chuyện luôn vẫn như vậy; bộ phận hi sinh cho toàn thể—rốt cuộc là thếy.
and his small plans and ideas will be merged in the greater ones. He will no longer, however, be a passive unit, swept hither and thither by the energy of his group,
và những kế hoạch cùng ý tưởng nhỏ bé của y sẽ được hoà nhập vào những điều lớn lao hơn. Tuy nhiên, y sẽ không còn là một đơn vị thụ động, bị cuốn hết nơi này đến nơi khác bởi năng lượng của nhóm mình,
243. Man, himself, passes through long periods when he is analogous to an elemental life. He is unconsciously “swept” by greater forces, and in general by the energy of his group.
243. Chính con người cũng trải qua những thời kỳ dài khi tương tự như một sự sống hành khí. Y bị các mãnh lực lớn hơn “cuốn đi” một cách vô thức, và nói chung là bởi năng lượng của nhóm mình.
244. The use of the word “swept” is graphic and appears throughout the teaching when this type of dynamic is being described. The suggestion is predominantly that the entity or unit that is swept has no control over the direction in which it is moved nor of the degree of force with which it is moved in that direction.
244. Việc dùng từ “cuốn đi” rất sinh động và xuất hiện xuyên suốt giáo huấn khi loại động lực này được mô tả. Gợi ý chủ yếu là thực thể hay đơn vị bị cuốn đi không có quyền kiểm soát đối với hướng mà nó bị di chuyển đến, cũng không kiểm soát được mức độ mãnh lực khiến nó bị đẩy theo hướng đó.
"Amid the whirling forces, I stand confused. I know them not, for, during all my past, they swept me up and down the land wherein I moved, blinded and unaware. From place to place and point to point, they drove me up and down the land and nowhere was there rest.
"Giữa những mãnh lực xoáy cuộn, tôi đứng trong hoang mang. Tôi không biết chúng, vì trong suốt quá khứ của tôi, chúng đã cuốn tôi lên xuống khắp miền đất nơi tôi di chuyển, mù quáng và không hay biết. Từ nơi này sang nơi khác và từ điểm này sang điểm khác, chúng xua đuổi tôi lên xuống khắp miền đất và chẳng nơi nào có sự nghỉ ngơi.
I know them now and here I stand and will not move until I know the Law which governs all this movement up and down the land. I may revolve and turning face the many different ways; I face some wide horizons and yet today I stand.
Giờ đây tôi biết chúng và ở đây tôi đứng, và sẽ không chuyển động cho đến khi tôi biết Định luật chi phối mọi chuyển động lên xuống khắp miền đất này. Tôi có thể quay vòng và khi xoay chuyển thì đối diện nhiều con đường khác nhau; tôi đối diện những chân trời rộng lớn và tuy vậy hôm nay tôi vẫn đứng.
I will determine for myself the way to go. Then onward I will move. I will not travel up and down the land nor turn in space. But onward I will move." (EA 20)
Tôi sẽ tự mình quyết định con đường phải đi. Rồi tôi sẽ tiến bước. Tôi sẽ không đi lên xuống khắp miền đất cũng không xoay chuyển trong không gian. Mà tôi sẽ tiến về phía trước." (EA 20)
but will become a positive, active potent force, self-immolated through intelligent recognition of the greater plan.
mà sẽ trở thành một mãnh lực tích cực, năng động, mạnh mẽ, tự hiến thiêu nhờ sự nhận biết thông minh về Thiên Cơ lớn lao hơn.
245. Thus the destiny of man is described in arresting terms—abstractly, in terms of energy.
245. Như thế, định mệnh của con người được mô tả bằng những thuật ngữ đầy ấn tượng—một cách trừu tượng, bằng những thuật ngữ của năng lượng.
246. Self-immolation is usually the way of release followed by those whose souls are focused on the sixth ray, but the terms has general applicability as well.
246. Tự hiến thiêu thường là con đường giải thoát được theo bởi những người có linh hồn tập trung trên cung sáu, nhưng thuật ngữ này cũng có tính áp dụng tổng quátt.
247. It is always that mistaken notion of identity called the “lower self” which must be immolated. The true Self is fire and is the cause of self-immolation.
247. Luôn luôn chính quan niệm sai lầm về bản sắc được gọi là “phàm ngã” phải bị hiến thiêu. Chân Ngã đích thực là lửa và là nguyên nhân của sự tự hiến thiêuu.
He will become alive to the fact that there are living [Page 930] forces in nature.
Y sẽ trở nên sống động trước sự kiện rằng có những mãnh lực sống động trong bản chất [Page 930].
248. And not only so-called “blind forces”…
248. Và không chỉ là những “mãnh lực mù quáng” như người ta vẫn gọi…
As the greater energy thrills through him, his own latent powers are awakened.
Khi năng lượng lớn hơn rung động xuyên qua y, các quyền năng tiềm ẩn của chính y được đánh thức.
249. The greater energy awakens the lesser. This is why we must put ourselves in touch with that which is greater. Our faculties will be awakened.
249. Năng lượng lớn hơn đánh thức năng lượng nhỏ hơn. Đây là lý do vì sao chúng ta phải đặt mình vào tiếp xúc với điều lớn lao hơn. Các năng lực của chúng ta sẽ được đánh thức.
He sees and knows the deva forces and can consequently work with them intelligently.
Y thấy và biết các mãnh lực thiên thần và do đó có thể làm việc với chúng một cách thông minh.
250. So far, much so-called ‘work’ undertaken with the devas is blind engagement and, therefore, dangerous.
250. Cho đến nay, phần lớn cái gọi là “công việc” được thực hiện với các thiên thần là sự dấn thân mù quáng và vì thế rất nguy hiểm.
Some he will control and manipulate, with others he will co-operate, and others still he will obey.
Một số y sẽ kiểm soát và vận dụng, với một số khác y sẽ hợp tác, và còn những vị khác nữa thì y sẽ vâng lời.
251. This is one of the great statements in the Teaching regarding man’s relation to the devas.
251. Đây là một trong những phát biểu lớn của Giáo Huấn liên quan đến mối quan hệ của con người với các thiên thần.
252. Man is to control the elementals—the elemental forces of nature. He is, probably, to learn how to control some of the lower manipulating devas and cooperate with those which are equally intelligent and experienced as he. And there are certain great deva Lives which man must simply obey. The "Transmitters of the Word" certainly come into this category.
252. Con người phải kiểm soát các hành khí—các mãnh lực hành khí của bản chất. Có lẽ y phải học cách kiểm soát một số thiên thần điều khiển thấp hơn và hợp tác với những vị có trí tuệ và kinh nghiệm ngang bằng với mình. Và có những Sự Sống thiên thần vĩ đại nào đó mà con người đơn giản phải vâng lời. Các "Đấng Truyền Đạt Linh từ" chắc chắn thuộc vào loại này.
253. Before we can accurately assess the devic lives which man must control, or with which he must cooperate, or which he must obey, we have to know a lot more about the nature, scope and variety of such lives. Modern man’s effective study of the deva kingdom is relatively in its infancy.
253. Trước khi chúng ta có thể đánh giá chính xác các sự sống thiên thần mà con người phải kiểm soát, hay phải hợp tác cùng, hay phải vâng lời, chúng ta phải biết nhiều hơn nữa về bản chất, phạm vi và sự đa dạng của các sự sống như thế. Việc nghiên cứu hữu hiệu của con người hiện đại về giới thiên thần còn tương đối ở thời kỳ sơ khai.
It is in the realisation of these facts anent deva substance, the power of sound, the law of vibration, and the ability to produce forms in conformity with law, that the true magician can be seen.
Chính trong sự chứng nghiệm các sự kiện này liên quan đến chất liệu thiên thần, quyền năng của âm thanh, định luật rung động, và khả năng tạo ra các hình tướng phù hợp với định luật, mà nhà huyền thuật chân chính có thể được nhận ra.
254. We are speaking of that which makes the true magician. Let us tabulate for clarity and impact:
254. Chúng ta đang nói về điều làm nên nhà huyền thuật chân chính. Hãy liệt kê để rõ ràng và gây ấn tượng:
255. The true magician must—
255. Nhà huyền thuật chân chính phải—
a. Realize certain necessary facts anent deva substance
a. Chứng nghiệm một số sự kiện cần thiết liên quan đến chất liệu thiên thần
b. Realize the power of sound and what may be called the ‘laws of sound’
b. Chứng nghiệm quyền năng của âm thanh và điều có thể được gọi là ‘các định luật của âm thanh’
c. Realize the nature of the Law of Vibration
c. Chứng nghiệm bản chất của Định luật Rung động
d. Possess the ability to produce forms in conformity with law
d. Sở hữu khả năng tạo ra các hình tướng phù hợp với định luật
256. These are just a few of the requirements.
256. Đây chỉ là một vài trong các yêu cầu.
Herein too lies one of the distinctions to be found between magicians of the Good Law, and those of the Left-hand Path.
Ở đây cũng có một trong những điểm phân biệt giữa các nhà huyền thuật của Chánh đạo và những kẻ thuộc tả đạo.
257. Distinctions between these two types of workers—workers with matter/form and workers principally polarized in Spirit/soul, are frequently given by DK. When we are learning to “play with fire”, He wants to be assured that we know the dangers involved.
257. Những điểm phân biệt giữa hai loại người hoạt động này—những người hoạt động với vật chất/hình tướng và những người chủ yếu phân cực trong tinh thần/linh hồn—thường được Chân sư DK nêu ra. Khi chúng ta đang học cách “đùa với lửa”, Ngài muốn bảo đảm rằng chúng ta biết những hiểm nguy liên quan.
A white magician can control and manipulate deva substance, and he proceeds to do it through an intelligent co-operation with the greater builders. Owing to the purity and holiness of his life, and the height of his own vibration, he can contact them in some one or other of their grades.
Nhà huyền thuật chánh đạo có thể kiểm soát và vận dụng chất liệu thiên thần, và y tiến hành làm điều đó thông qua sự hợp tác thông minh với các đấng đại kiến tạo. Nhờ sự thanh khiết và thiêng liêng của đời sống y, và độ cao của rung động riêng của y, y có thể tiếp xúc với các vị ấy ở cấp bậc này hay cấp bậc khác của các vị.
258. The white magician can certainly control all manner of deva substance but he does so through intelligent cooperation with the greater builders.
258. Nhà huyền thuật chánh đạo chắc chắn có thể kiểm soát mọi loại chất liệu thiên thần nhưng y làm điều đó thông qua sự hợp tác thông minh với các đấng đại kiến tạo.
259. While the white magician can contact the greater builders (because he is qualified to do so) the black magician cannot.
259. Trong khi nhà huyền thuật chánh đạo có thể tiếp xúc với các đấng đại kiến tạo (vì y đủ tư cách để làm vậy) thì nhà hắc thuật không thển.
The magician of the shadows
Nhà huyền thuật của bóng tối
260. This term suggests that such magicians can work effectively on the systemic etheric plane, the realm of the “shadows”.
260. Thuật ngữ này gợi ý rằng các nhà huyền thuật như thế có thể hoạt động hữu hiệu trên cõi dĩ thái của hệ thống, lĩnh vực của những “bóng tối”.
261. The term “shadows”, however, when extended, suggests all that transpires upon and within the lower eighteen subplanes.
261. Tuy nhiên, thuật ngữ “bóng tối”, khi được mở rộng, gợi ý mọi điều diễn ra trên và trong mười tám cõi phụ thấp hơn.
controls and manipulates deva substance on the astral and physical plane and on the lower levels of the mental plane
kiểm soát và vận dụng chất liệu thiên thần trên cõi cảm dục và cõi hồng trần và trên các cấp thấp của cõi trí
262. Only with the lower three worlds…
262. Chỉ với ba cõi thấp hơn…
through the force of his own vibration and knowledge, but not through co-operation with the directing builders.
thông qua mãnh lực của rung động và tri thức riêng của y, nhưng không thông qua sự hợp tác với các đấng kiến tạo chỉ đạo.
263. The black magician is, as it were, interrupting the natural chain of command. He is selfishly intervening in an otherwise integrated process for the sake of fulfilling his own desires, which are separative and uncooperative.
263. Nhà hắc thuật, có thể nói như vậy, đang làm gián đoạn chuỗi mệnh lệnh tự nhiên. Y ích kỷ can thiệp vào một tiến trình vốn dĩ đã được tích hợp để hoàn thành những ham muốn riêng của y, vốn có tính phân ly và không hợp tác.
He cannot contact them, as his character is impure through selfishness, and his vibration is too low; his power therefore is limited and destructive, yet immense within certain restrictions.
Y không thể tiếp xúc với các vị ấy, vì Tính cách của y ô uế bởi tính ích kỷ, và rung động của y quá thấp; do đó quyền năng của y bị giới hạn và có tính phá hoại, tuy vậy vẫn rất lớn trong những giới hạn nhất định.
264. The limitations of the black magician are given. His own impurity, selfness and insufficiently rapid vibration prevent him from contacting the greater builders.
264. Những giới hạn của nhà hắc thuật đã được nêu ra. Chính sự ô uế, tính ích kỷ và rung động chưa đủ nhanh của y ngăn y tiếp xúc với các đấng đại kiến tạo.
265. However, his power is not to be underestimated “within certain restrictions”. He works, apparently, entirely within the three lower worlds and has particular interest in the matter inherited from the previous solar system—unprincipled dense physical matter.
265. Tuy nhiên, không nên đánh giá thấp quyền năng của y “trong những giới hạn nhất định”. Hiển nhiên y hoạt động hoàn toàn trong ba cõi thấp và đặc biệt quan tâm đến vật chất được thừa hưởng từ hệ mặt trời trước—vật chất hồng trần đậm đặc vô nguyên khít.
The devas of the etheric doubles fall into two groups.
Các thiên thần của các bản sao dĩ thái thuộc vào hai nhóm.
266. As we enter this discussion, we must keep constantly in mind the need to differentiate between lesser devas and elementals (some of whom can be called “elementals” and, those who are merely “building essence”.
266. Khi bước vào cuộc thảo luận này, chúng ta phải luôn ghi nhớ nhu cầu phân biệt giữa các thiên thần thấp hơn và các hành khí (một số trong đó có thể được gọi là “elementals”) và những vị chỉ đơn thuần là “tinh chất kiến tạo”.
267. We are now going to speak principally of the “devas of the etheric doubles” and must not confuse them with elemental builders who work within the dense physical subplanes—dense-dense, liquid-dense and gaseous-dense.
267. Giờ đây chúng ta sẽ nói chủ yếu về “các thiên thần của các bản sao dĩ thái” và không được nhầm lẫn họ với các hành khí kiến tạo hoạt động trong các cõi phụ hồng trần đậm đặc—đậm đặc-đậm đặc, lỏng-đậm đặc và khí-đậm đặc.
They are those who are the lesser builders, and who, under direction from the greater builders,
Họ là những vị tiểu kiến tạo, và những vị này, dưới sự chỉ đạo của các đấng đại kiến tạo,
268. In this discussion we are, essentially, discriminating between lesser builders and greater builders.
268. Trong cuộc thảo luận này, về cơ bản chúng ta đang phân biện giữa các vị tiểu kiến tạo và các đấng đại kiến tạo.
form the etheric doubles of all that can be seen and all that is tangible on the dense physical plane.
tạo thành các bản sao dĩ thái của mọi thứ có thể thấy được và mọi thứ có thể sờ chạm được trên cõi hồng trần đậm đặc.
269. Let us again recall our discussion of three principal types of devas—
269. Hãy một lần nữa nhớ lại cuộc thảo luận của chúng ta về ba loại thiên thần chính—
a. Devas who are "Transmitters of the Word"
a. Các thiên thần là "Đấng Truyền Đạt Linh từ"
b. Devas who are “Transmitters of Prana”
b. Các thiên thần là “Đấng Truyền Đạt Prana”
c. Devas (or lesser builders) who form the etheric doubles of all that Cancer be seen. Our question will revolve around the degree of passivity of such lesser devas and their degree of intelligence (even if it is unconscious intelligence).
c. Các thiên thần (hay các vị tiểu kiến tạo) tạo thành các bản sao dĩ thái của mọi thứ có thể được nhìn thấy. Câu hỏi của chúng ta sẽ xoay quanh mức độ thụ động của các thiên thần thấp hơn như thế và mức độ trí tuệ của họ (ngay cả nếu đó là trí tuệ vô thức).
270. The devas who form the etheric doubles should not be called “building essence” or passive substance. They are formulators rather than passive lives.
270. Các thiên thần tạo thành các bản sao dĩ thái không nên được gọi là “tinh chất kiến tạo” hay chất liệu thụ động. Họ là những vị tạo lập công thức hơn là những sự sống thụ động.
They exist in vast hosts and are omnipresent; they gather and build the material needed to form the etheric double of everything, and they do this under certain laws and work under certain restrictions.
Họ tồn tại thành những đạo quân rộng lớn và hiện diện khắp nơi; họ tập hợp và xây dựng vật liệu cần thiết để tạo thành bản sao dĩ thái của mọi sự vật, và họ làm điều này dưới những định luật nhất định và hoạt động dưới những giới hạn nhất định.
271. There is an important distinction here. These lesser builders “gather and build the needed material”. They are not entirely passive. The “needed material” is passive and elemental essence. It is “building essence”-
271. Ở đây có một sự phân biệt quan trọng. Những vị tiểu kiến tạo này “tập hợp và xây dựng vật liệu cần thiết”. Họ không hoàn toàn thụ động. “Vật liệu cần thiết” là thụ động và là tinh chất hành khí. Nó là “tinh chất kiến tạo”—
272. This section of text has allowed us to discriminate between such devas and the passive substantial lives (the “material”) which they gather and build into form.
272. Phần văn bản này đã cho phép chúng ta phân biện giữa các thiên thần như thế và các sự sống chất liệu thụ động (tức “vật liệu”) mà họ tập hợp và xây dựng thành hình tướng.
273. We gather the impression that they are extremely numerous and not at all individual. They are subjected to group life and group law.
273. Chúng ta có ấn tượng rằng họ cực kỳ đông đảo và hoàn toàn không có tính cá thể. Họ chịu sự chi phối của sự sống nhóm và quy luật nhóm.
274. They do work under law and restriction. The planet Saturn will be important in relation to them.
274. Họ thực sự hoạt động dưới định luật và giới hạn. Hành tinh Sao Thổ sẽ quan trọng trong mối liên hệ với họ m.
They are called in occult phraseology "the listening devas," for they are the ones who pick up that particular note and tone from the transmitters of [Page 931] the physical plane sound which is needed to gather the substance for any intended material form.
Trong cụm từ thần bí huyền bí học, họ được gọi là "Thien thần lắng nghe," vì họ là những vị tiếp nhận âm điệu và thanh âm đặc thù ấy từ các đấng truyền đạt âm thanh cõi hồng trần [Page 931] vốn cần thiết để tập hợp chất liệu cho bất kỳ hình tướng vật chất dự định nào.
275. Via activity on the etheric plane, the dense physical substance (in its three grades) is magnetically gathered.
275. Thông qua hoạt động trên cõi dĩ thái, chất liệu hồng trần đậm đặc (trong ba cấp của nó) được tập hợp bằng từ tính.
276. These “listening devas” seem to have a particular relation to the “transmitters of the physical plane sound”—presumably, a high group of devas. Such transmitters are related to the first ray and these “listening devas” to the third ray. Rays three and one are always reciprocally related being along the same line.
276. Những “Thien thần lắng nghe” này dường như có một mối liên hệ đặc biệt với các “đấng truyền đạt âm thanh cõi hồng trần”—có lẽ là một nhóm thiên thần cao. Những đấng truyền đạt như thế liên hệ với cung một và những “Thien thần lắng nghe” này liên hệ với cung ba. Cung ba và cung một luôn liên hệ hỗ tương vì cùng nằm trên một đường.
277. The “listening devas” are elementals but are not “elemental essence”, “building essence”, “passive lives”, “material”.
277. Các “Thien thần lắng nghe” là các hành khí nhưng không phải là “tinh chất hành khí”, “tinh chất kiến tạo”, “các sự sống thụ động”, hay “vật liệu”.
278. Saturn, we know, is the principal ray three planet and is peculiarly related to the sense of hearing which allows a human being, for instance, to locate himself in space—a very Saturnian act.
278. Như chúng ta biết, Sao Thổ là hành tinh cung ba chủ yếu và có liên hệ đặc biệt với giác quan thính giác, vốn cho phép chẳng hạn một con người định vị mình trong không gian—một hoạt động rất mang tính Sao Thổn.
279. If the listening devas do not receive the needed note or tone from the transmitters, they cannot “gather the substance for any intended material form”.
279. Nếu các Thien thần lắng nghe không nhận được âm điệu hay thanh âm cần thiết từ các đấng truyền đạt, họ không thể “tập hợp chất liệu cho bất kỳ hình tướng vật chất dự định nào”.
280. We know that the sense of hearing is the first sense to emerge, and so it is correspondentially fitting that this first and lowest group of devas be related to the first and lowest sense.
280. Chúng ta biết rằng thính giác là giác quan đầu tiên xuất hiện, và vì thế theo định luật tương ứng, thật thích hợp khi nhóm thiên thần tương ứng đầu tiên và thấp nhất này lại liên hệ với giác quan đầu tiên và thấp nhấtn.
Again, they are spoken of as "having ears but seeing not."
Một lần nữa, họ được nói đến như là "có tai mà không thấy."
281. The sense of sight emerges only long after the sense of hearing.
281. Thị giác chỉ xuất hiện rất lâu sau thính giác.
They work in close co-operation with the elementals of the dense physical body [who may or may not be etheric devas but who live in or “exist in” the three subplanes of density].
Họ hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ với các hành khí của thể xác đậm đặc [những vị này có thể hoặc không thể là các thiên thần dĩ thái nhưng sống trong hay “tồn tại trong” ba cõi phụ của sự đậm đặc].
282. Presumably, the elementals of the dense physical body are a lower form of building life than the “listening devas”..
282. Có lẽ các hành khí của thể xác đậm đặc là một hình thức sự sống kiến tạo thấp hơn so với các “Thien thần lắng nghe”..
283. We have to keep these two types of elemental builders separate—those working in the ethers (“listening devas”) and those working in dense physical matter—in its three states (“seeing elementals”). Notice here the contrast between listening devas and seeing elementals.
283. Chúng ta phải giữ riêng hai loại hành khí kiến tạo này—những vị hoạt động trong các dĩ thái (“Thien thần lắng nghe”) và những vị hoạt động trong vật chất hồng trần đậm đặc—trong ba trạng thái của nó (“hành khí thấy”). Hãy lưu ý ở đây sự tương phản giữa các thiên thần lắng nghe và các hành khí thấy.
284. We have to proceed carefully here because the elementals of the dense physical plane are not substance (or elemental essence), per se. They have a kind of building, devic function in relation to substance as we shall see below.
284. Chúng ta phải tiến hành cẩn thận ở đây vì các hành khí của cõi hồng trần đậm đặc không phải là chất liệu (hay tinh chất hành khí), chính [nó/chúng]. Chúng có một loại chức năng kiến tạo, thiên thần tính nào đó liên hệ với chất liệu như chúng ta sẽ thấy bên dưới.
This second group [the elementals of the dense physical body] are spoken of as the "seeing elementals," for they exist in matter of the three lower subplanes and can therefore see on the objective plane in the occult sense which always implies an analogy between sight and knowledge.
Nhóm thứ hai này [các hành khí của thể xác đậm đặc] được gọi là "hành khí thấy," vì chúng tồn tại trong vật chất của ba cõi phụ thấp hơn và do đó có thể thấy trên cõi khách quan theo nghĩa huyền bí, điều luôn hàm ý một sự tương đồng giữa thị giác và tri thức.
285. We are to infer that the “listening devas” work etherically, but that the “seeing elementals” work within the three dense physical subplanes. If this is true, it is an important distinction.
285. Chúng ta phải suy ra rằng các “Thien thần lắng nghe” hoạt động một cách dĩ thái, còn các “hành khí thấy” thì hoạt động trong ba cõi phụ hồng trần đậm đặc. Nếu điều này đúng, đó là một sự phân biệt quan trọng.
286. We shall definitely have to understand whether the words “exist in” means that these “seeing elementals” are dense physical entities and not etheric builders, or whether they are etheric builders who can still, somehow, “exist in” matter of the lower three subplanes. As we read ahead, we shall see why this question is of real consequence.
286. Chúng ta chắc chắn sẽ phải hiểu liệu các từ “tồn tại trong” có nghĩa là các “hành khí thấy” này là các thực thể hồng trần đậm đặc và không phải là các đấng kiến tạo dĩ thái, hay liệu chúng là các đấng kiến tạo dĩ thái mà bằng cách nào đó vẫn có thể “tồn tại trong” vật chất của ba cõi phụ thấp hơn. Khi đọc tiếp, chúng ta sẽ thấy vì sao câu hỏi này có hậu quả thực sự.
287. The sense in which the elementals of the dense physical body are “seeing elementals” is an “occult” sense. They do not literally ‘see’, but have the capacity to function on those subplanes—the lowest systemic three.
287. Ý nghĩa theo đó các hành khí của thể xác đậm đặc là “hành khí thấy” là một nghĩa “huyền bí”. Chúng không thực sự ‘thấy’ theo nghĩa đen, nhưng có khả năng hoạt động trên các cõi phụ ấy—ba cõi thấp nhất của hệ thống.
288. There is always an analogy between sight and knowledge. It was only as pre-individualized animal man was individualized, that he began also to see.
288. Luôn luôn có một sự tương đồng giữa thị giác và tri thức. Chỉ khi người thú tiền biệt ngã hóa được biệt ngã hóa, y mới bắt đầu thấyn.
289. We note that these “elementals “ are builders who build but are not ‘built into’.
289. Chúng ta lưu ý rằng các “hành khí” này là những đấng kiến tạo biết xây dựng nhưng không bị ‘xây vào’.
The "listening builders" [also called “listening devas”] gather the material;
Các "đấng kiến tạo lắng nghe" [cũng được gọi là “Thien thần lắng nghe”] tập hợp vật liệu;
290. They are called, then, both “listening devas” and “listening builders”.
290. Như vậy, họ được gọi bằng cả hai tên “Thien thần lắng nghe” và “đấng kiến tạo lắng nghe”.
291. It is interesting that the first way a human being contacts the soul is through the sense of hearing—for instance, hearing the voice of conscience.
291. Điều thú vị là cách đầu tiên một con người tiếp xúc với linh hồn là thông qua thính giác—chẳng hạn, nghe tiếng nói của lương tâm.
the "seeing elementals" take that gathered material, and build it into any specific form.
các "hành khí thấy" lấy vật liệu đã được tập hợp ấy, và xây dựng nó thành bất kỳ hình tướng đặc thù nào.