← Commentary_S8_925_1078_song ngữ

S8S9

Trích nội dung chương

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) (Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)


S8S9

(1027-1039)

(1027-1039)

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ chuyển tải ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình luận

1. This following presents a table of contents for subjects to be covered in the next hundreds of pages. We can see that we are dealing with that section of the book which pertains largely to electric fire.

1. Phần sau đây trình bày một mục lục các chủ đề sẽ được đề cập trong hàng trăm trang kế tiếp. Chúng ta có thể thấy rằng mình đang xử lý phần của quyển sách chủ yếu liên quan đến Lửa Điện.

SECTION TWO

PHẦN HAI

DIVISION E - MOTION ON THE PLANE OF MIND

PHÂN ĐOẠN E - CHUYỂN ĐỘNG TRÊN CÕI TRÍ

I. Introductory Remarks.

I. Những nhận xét mở đầu.

II. The Nature of this Motion.

II. Bản chất của chuyển động này.

1. Spiral-cyclic.

1. Xoắn ốc-chu kỳ.

2. Triple.

2. Tam phân.

3. Attractive.

3. Hấp dẫn.

III. Results of its Activity.

III. Những kết quả của hoạt động của nó.

1. The Law of Expansion.

1. Định luật Mở Rộng.

2. The Law of Monadic Return.

2. Định luật Chân Thần Trở Về.

3. The Law of Solar Evolution.

3. Định luật Tiến Hóa Thái dương.

4. The Law of Radiation.

4. Định luật Phóng xạ.

a. The cause of radiation.

a. Nguyên nhân của phóng xạ.

b. Radiation in the five kingdoms,

b. Phóng xạ trong năm giới,

c. Radiation and cyclic law.

c. Phóng xạ và định luật chu kỳ.

IV. The Turning of the Wheel.

IV. Sự quay của bánh xe.

1. The solar wheel.

1. Bánh xe thái dương.

2. The planetary wheel.

2. Bánh xe hành tinh.

3. The human wheel.

3. Bánh xe nhân loại.

2. It is obvious from studying the subjects in this table of contacts that we are dealing with large, macrocosmic matters.

2. Rõ ràng từ việc nghiên cứu các chủ đề trong bảng mục lục này rằng chúng ta đang xử lý những vấn đề lớn lao, thuộc đại thiên địa.

V. Motion and the Form-Building Aspect.

V. Chuyển động và phương diện kiến tạo hình tướng.

1. In the mental sheath.

1. Trong thể trí.

2. In the causal body.

2. Trong thể nguyên nhân.

VI. Effects of Synthetic Motion.

VI. Những hiệu quả của chuyển động tổng hợp.

1. Introductory remarks.

1. Những nhận xét mở đầu.

2. It produces periodic manifestation.

2. Nó tạo ra sự biểu hiện theo chu kỳ.

3. Causes triangular linking.

3. Gây ra sự liên kết tam giác.

4. Produces a relation between three centres.

4. Tạo ra một mối liên hệ giữa ba trung tâm.

I. INTRODUCTORY REMARKS

I. NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU

We have now concluded our consideration of thought forms, having viewed the whole universe (including man) as an embodied thought,

Giờ đây chúng ta đã kết thúc việc xem xét các hình tư tưởng, sau khi xem toàn thể vũ trụ (kể cả con người) như một tư tưởng được nhập thể,

3. Thus the entire preceding section has dealt with thoughtform creation—both microcosmic and macrocosmic.

3. Như vậy toàn bộ phần trước đã bàn đến việc tạo hình tư tưởng—cả ở tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa.

4. Yes, the entire “universe” itself, if by “universe” means that entire collection of all stars and starry systems. We would then have to ask, “If the entire universe is a vast thoughtform or “embodied thought”, WHO or WHAT is the THINKER Who created this thoughtform?” Though the answer to this question may seem easy—for instance, “GOD” or the “ABSOLUTE”, may problems arise by attributing conscious action to “BE-NESS”.

4. Đúng vậy, chính toàn thể “vũ trụ”, nếu “vũ trụ” có nghĩa là toàn bộ tập hợp của mọi ngôi sao và các hệ sao. Khi ấy chúng ta phải hỏi, “Nếu toàn thể vũ trụ là một hình tư tưởng bao la hay ‘tư tưởng được nhập thể’, thì AI hay CÁI GÌ là ĐẤNG TƯ TƯỞNG đã tạo ra hình tư tưởng này?” Dù câu trả lời cho câu hỏi này có vẻ dễ dàng—chẳng hạn, “THƯỢNG ĐẾ” hay “TUYỆT ĐỐI”—nhiều vấn đề sẽ nảy sinh khi quy cho “TỒN TẠI TÍNH” một hành động có ý thức.

and having dealt with the ability [Page 1028] of man himself to create forms for the clothing of his ideas.

và sau khi bàn đến khả năng [Trang 1028] của chính con người trong việc tạo ra các hình tướng để khoác lên những ý tưởng của y.

5. We are referring to the entire white magical process.

5. Chúng ta đang nói đến toàn bộ tiến trình huyền thuật chánh đạo.

We now return once more to the realm of technicalities,

Giờ đây chúng ta lại quay về lĩnh vực của các chi tiết kỹ thuật,

6. As if, perhaps, the foregoing sections had not been filled with technicalities—at least from the perspective of the average reader!

6. Như thể, có lẽ, các phần trước đó đã không đầy những chi tiết kỹ thuật—ít nhất là từ góc nhìn của độc giả trung bình!

and to the more scientific part of our thesis. I use the word "scientific," for that which will be said concerns that which is proven and known to occultists, and deals with facts.

và về phần khoa học hơn của luận đề của chúng ta. Tôi dùng từ "khoa học", vì điều sẽ được nói đến liên quan đến điều đã được các nhà huyền bí học chứng minh và biết rõ, và bàn đến các sự kiện.

7. In this respect, normal readers of A Treatise on Cosmic Fire are not referenced. They are not occultists, as DK is here using the term. Rather, high initiates and Master of the Wisdom are the kind of “occultists” of whom Master DK speaks.

7. Về phương diện này, những độc giả thông thường của Luận về Lửa Vũ Trụ không phải là đối tượng được nói đến. Họ không phải là các nhà huyền bí học, theo cách Chân sư DK dùng thuật ngữ này ở đây. Đúng hơn, các điểm đạo đồ cao cấp và các Chân sư Minh Triết mới là loại “nhà huyền bí học” mà Chân sư DK đang nói tới.

8. In the following, we find DK’s definition of the term “fact” as that term is considered in the modern world.

8. Trong phần sau, chúng ta thấy định nghĩa của DK về thuật ngữ “sự kiện” theo cách thuật ngữ ấy được hiểu trong thế giới hiện đại.

The modern fact of the modern scientist is his approximation of a part, and often an infinitesimal part, of some greater whole,

Sự kiện hiện đại của nhà khoa học hiện đại là sự xấp xỉ của ông đối với một phần, và thường là một phần vô cùng nhỏ, của một toàn thể lớn hơn,

9. “I take that garment piece by piece.” This sentence derives from the Technique of Integration to be used by those who are fifth ray souls.

9. “Tôi lấy chiếc áo ấy từng mảnh một.” Câu này xuất phát từ Kỹ Thuật Tích Hợp được dùng bởi những linh hồn cung năm.

10. The focus of modern scientific inquiry is often narrow, certainly exclusive of higher realities, but extremely intense.

10. Trọng tâm của việc khảo cứu khoa học hiện đại thường hẹp, chắc chắn loại trừ các thực tại cao hơn, nhưng lại cực kỳ mãnh liệt.

and even then it concerns only the most objective part of manifestation,

và ngay cả khi ấy nó cũng chỉ liên quan đến phần khách quan nhất của sự biểu hiện,

11. This, of course, is the problem. Not only is penetration into subjective realities rarely to be found, but the scope of modern scientific inquiry is often very limited—at least when compare to the possible scope of inquiry offered by occultism.

11. Dĩ nhiên, đây là vấn đề. Không những sự thâm nhập vào các thực tại chủ quan hiếm khi được tìm thấy, mà phạm vi khảo cứu khoa học hiện đại cũng thường rất hạn hẹp—ít nhất khi so với phạm vi khảo cứu khả hữu mà huyền bí học đem lại.

for that which is the essence is not regarded as a reality at all by them as it is by the real occult knower.

vì điều là tinh túy hoàn toàn không được họ xem là một thực tại như nó được thức giả huyền bí chân chính xem là như vậy.

12. This type of modern scientific mind is veiled thickly by skepticism as regards all that the occultist considers “real”.

12. Loại trí tuệ khoa học hiện đại này bị che phủ dày đặc bởi sự hoài nghi đối với tất cả những gì mà nhà huyền bí học xem là “thực”.

That which we see and can touch is but an effect of inner underlying causes.

Điều mà chúng ta thấy và có thể chạm tới chỉ là một hiệu quả của những nguyên nhân bên trong làm nền tảng.

13. After numerous years of study, many students of the Ageless Wisdom consider this a foregone conclusion, but it is not so for the average scientist. Some there are in the scientific field, who sense the deeper realities and have begun to search for them. They have begun “…searching for the Mystery which brought the mysteries to thee.”

13. Sau nhiều năm nghiên cứu, nhiều đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời xem đây là một kết luận hiển nhiên, nhưng với nhà khoa học trung bình thì không phải vậy. Có một số người trong lĩnh vực khoa học cảm nhận được những thực tại sâu xa hơn và đã bắt đầu tìm kiếm chúng. Họ đã bắt đầu “…tìm kiếm Huyền Nhiệm đã mang các huyền nhiệm đến cho ngươi.”

The occultist does not concern himself with effects, but only with their originating cause.

Nhà huyền bí học không quan tâm đến các hiệu quả, mà chỉ quan tâm đến nguyên nhân phát sinh ra chúng.

14. Here we have the most clarifying definition possible. Now, how would we measure our own approach against this standard? Are there any ways in which we find ourselves preoccupied with effects instead of causes? I suggest that we ponder the matter carefully.

14. Ở đây chúng ta có định nghĩa sáng tỏ nhất có thể có. Vậy, chúng ta sẽ đo lường cách tiếp cận của chính mình theo tiêu chuẩn này như thế nào? Có cách nào mà chúng ta thấy mình đang bận tâm với các hiệu quả thay vì các nguyên nhân không? Tôi gợi ý rằng chúng ta hãy suy ngẫm vấn đề này một cách cẩn trọng.

The modern scientist, therefore, is not as yet occupying himself with causes,

Do đó, nhà khoa học hiện đại cho đến nay vẫn chưa bận tâm với các nguyên nhân,

15. To a degree (now almost ninety years after A Treatise on Cosmic Fire was written), this is changing. The deepest causes, however, are still not touched by the modern scientist.

15. Ở một mức độ nào đó (nay gần chín mươi năm sau khi Luận về Lửa Vũ Trụ được viết), điều này đang thay đổi. Tuy nhiên, những nguyên nhân sâu xa nhất vẫn chưa được nhà khoa học hiện đại chạm tới.

and during the past only approached the realm of these initiatory impulses

và trong quá khứ chỉ mới tiếp cận lĩnh vực của những xung lực điểm đạo này

16. Shall we think of them as etheric impulses, for surely, the modern scientific student of the "Garment of God" is not scientifically studying the astral plane nor the lower mental plane? Nor is he able to penetrate, in most cases, beyond the fourth and lowest ether.

16. Chúng ta có nên nghĩ đến chúng như những xung lực dĩ thái không, vì chắc chắn đạo sinh khoa học hiện đại của "Y Phục của Thượng đế" không nghiên cứu một cách khoa học cõi cảm dục cũng không nghiên cứu cõi hạ trí? Ông cũng không thể, trong đa số trường hợp, thâm nhập vượt quá dĩ thái thứ tư và thấp nhất.

when he began to comprehend the energy aspect of matter, and to consider the nature of the atom.

khi ông bắt đầu hiểu phương diện năng lượng của vật chất, và xem xét bản chất của nguyên tử.

17. Einstein, we see, had begun to comprehend the “energy aspect of matter”. This is, according to occultism etheric in nature, even though the scientists in Einstein’s day discounted the need for any ether.

17. Như chúng ta thấy, Einstein đã bắt đầu hiểu “phương diện năng lượng của vật chất”. Theo huyền bí học, điều này có bản chất dĩ thái, mặc dù các nhà khoa học thời Einstein phủ nhận nhu cầu về bất kỳ dĩ thái nào.

When he can pass more directly in his thoughts to the discussion and consideration of the etheric substratum which underlies the tangible, then and only then will he be entering the domain of causes,

Khi ông có thể chuyển trực tiếp hơn trong tư tưởng của mình sang việc thảo luận và xem xét nền tảng dĩ thái nằm bên dưới cái hữu hình, thì khi ấy và chỉ khi ấy ông mới bước vào lãnh vực của các nguyên nhân,

18. If we consider the entire gamut of occult causes, these etheric causes are relatively secondary causes, but they are primary in relation to the dense physical plane.

18. Nếu chúng ta xét toàn bộ phổ các nguyên nhân huyền bí, thì những nguyên nhân dĩ thái này là những nguyên nhân tương đối thứ yếu, nhưng chúng là nguyên nhân sơ cấp trong liên hệ với cõi hồng trần đậm đặc.

19. We can see how much attention is given to the etheric plane in this book A Treatise on Cosmic Fire.

19. Chúng ta có thể thấy cõi dĩ thái được chú ý nhiều đến mức nào trong quyển Luận về Lửa Vũ Trụ này.

and even in this case, only those physical causes which underlie the grossly objective;

và ngay cả trong trường hợp này, cũng chỉ là những nguyên nhân hồng trần nằm bên dưới cái khách quan thô nặng;

20. As stated. Etheric causes are still “physical” from a larger perspective.

20. Như đã nói. Các nguyên nhân dĩ thái vẫn là “hồng trần” từ một góc nhìn rộng hơn.

he will not really have ascertained the vital impulses which produce Being.

ông vẫn chưa thực sự xác định được những xung lực thiết yếu tạo ra Bản Thể.

21. From one perspective we might ask if there is any impulse which can ever produce “Being”. Is not “Being” that which is—forever. Or should we refer to ‘BE-NESS” as the ABSOLUTE SUBSTRATUM, differentiating IT from “Being”? Are we really capable of doing this?

21. Từ một góc nhìn nào đó, chúng ta có thể hỏi liệu có bất kỳ xung lực nào có thể bao giờ tạo ra “Bản Thể” hay không. Chẳng phải “Bản Thể” là điều là—mãi mãi sao? Hay chúng ta nên quy chiếu ‘TỒN TẠI TÍNH” như NỀN TẢNG TUYỆT ĐỐI, phân biệt NÓ với “Bản Thể”? Chúng ta có thật sự có khả năng làm điều này không?

Yet a great step will have been made for, under the Law of Analogy, he will then be in a position to comprehend some of the major secrets of solar manifestation;

Tuy vậy, một bước tiến lớn sẽ được thực hiện vì, dưới định luật tương đồng, khi ấy ông sẽ ở vào vị thế để hiểu được một số bí mật lớn của sự biểu hiện thái dương;

22. The Law of Analogy is the great interpretive law of the system.

22. Định luật tương đồng là định luật diễn giải vĩ đại của hệ thống.

23. It is amazing that we can analogize from the etheric plane to planes and relations far higher.

23. Thật đáng kinh ngạc khi chúng ta có thể suy luận tương đồng từ cõi dĩ thái đến những cõi và những tương quan cao hơn rất nhiều.

24. DK is telling us that some of the “major secrets of solar manifestation” are discernible from an understanding of the etheric plane. We must remember that the etheric plane is both solar and lunar simultaneously—or shall we say that prana is especially solar and that the etheric body, per se, is more lunar,

24. DK đang cho chúng ta biết rằng một số “bí mật lớn của sự biểu hiện thái dương” có thể được phân biện từ sự hiểu biết về cõi dĩ thái. Chúng ta phải nhớ rằng cõi dĩ thái vừa là thái dương vừa là thái âm đồng thời—hay chúng ta nên nói rằng prana đặc biệt mang tính thái dương còn thể dĩ thái, chính nó, lại mang tính thái âm hơn,

In the words "prana and the etheric body" (or life force and form) we have the key to the mystery of the solar and lunar pitris, and a hint as to the place of the physical body in the scheme of things. (TCF 617)

Trong những lời "prana và thể dĩ thái" (hay sinh lực và hình tướng), chúng ta có chìa khóa cho huyền nhiệm của các thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ, và một gợi ý về vị trí của thể xác trong hệ thống sự vật. (TCF 617)

for the planes of our solar system constitute, as we know, and as this Treatise seeks to demonstrate, the seven subplanes of the cosmic physical plane.

vì các cõi của hệ mặt trời chúng ta cấu thành, như chúng ta biết, và như Luận thuyết này tìm cách chứng minh, bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

25. DK is telling us that whatever we can understand with regard to the systemic physical plane (which includes the systemic etheric subplanes) we can in some respect understand in relation to the cosmic physical plane (which includes the cosmic etheric subplanes).

25. DK đang cho chúng ta biết rằng bất cứ điều gì chúng ta có thể hiểu liên quan đến cõi hồng trần của hệ thống (bao gồm các cõi phụ dĩ thái của hệ thống) thì ở một phương diện nào đó chúng ta cũng có thể hiểu trong liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ (bao gồm các cõi phụ dĩ thái vũ trụ).

It is apparent to all careful students of this Treatise on Fire that in this section we are concerned with:

Hiển nhiên đối với mọi đạo sinh cẩn trọng của Luận về Lửa này rằng trong phần này chúng ta quan tâm đến:

26. We pause—“Are we truly careful students?”

26. Chúng ta dừng lại—“Chúng ta có thật sự là những đạo sinh cẩn trọng không?”

First, that mode of activity which distinguishes the Vishnu aspect of Deity, or the motion of the Divine Manasaputras. [Page 1029]

Thứ nhất, đó là phương thức hoạt động phân biệt phương diện Vishnu của Thượng đế, hay chuyển động của các Manasaputra thiêng liêng. [Trang 1029]

27. The Vishnu aspect of Deity, we know, is associated with the second aspect of divinity.

27. Như chúng ta biết, phương diện Vishnu của Thượng đế gắn liền với phương diện thứ hai của thiên tính.

28. The Divine Manasaputras are, from one perspective, the Planetary Logoi or “Dragons of Wisdom”. In general, they are thought to embody the second aspect of Deity—the Love-Wisdom aspect. They express that aspect far more fully than man and less fully than the Solar Logos.

28. Các Manasaputra thiêng liêng, từ một góc nhìn, là các Hành Tinh Thượng Đế hay “Những Rồng Minh Triết”. Nói chung, các Ngài được xem là hiện thân của phương diện thứ hai của Thượng đế—phương diện Bác Ái – Minh Triết. Các Ngài biểu lộ phương diện ấy đầy đủ hơn con người rất nhiều và kém đầy đủ hơn Thái dương Thượng đế.

29. We are probably speaking, in general, of “spiral-cyclic motion” (though occasionally, such motion is associated with the first aspect of divinity).

29. Có lẽ, nói chung, chúng ta đang nói đến “chuyển động xoắn ốc-chu kỳ” (dù đôi khi, chuyển động như thế lại được liên kết với phương diện thứ nhất của thiên tính).

30. We shall have to watch how Master DK refers to spiral-cyclic motion. Sometimes He associates it specifically with the second aspect of divinity but sometimes it is presented as a combination of first and second ray motions. In such instances He calls second ray motion by the name “cyclic activity”, which He distinguishes from “rotary motion”.

30. Chúng ta sẽ phải theo dõi cách Chân sư DK đề cập đến chuyển động xoắn ốc-chu kỳ. Đôi khi Ngài liên kết nó một cách đặc biệt với phương diện thứ hai của thiên tính, nhưng đôi khi nó lại được trình bày như một sự kết hợp của các chuyển động cung một và cung hai. Trong những trường hợp như thế, Ngài gọi chuyển động cung hai bằng tên “hoạt động chu kỳ”, mà Ngài phân biệt với “chuyển động quay tròn”.

31. We must also be alert to those rare moments when He refers to spiral-cyclic motion as related to the first ray. We shall see that “spiral” motion certainly is so related—at least in our solar system and at this time.

31. Chúng ta cũng phải tỉnh táo trước những lúc hiếm hoi khi Ngài nói đến chuyển động xoắn ốc-chu kỳ như có liên hệ với cung một. Chúng ta sẽ thấy rằng chuyển động “xoắn ốc” chắc chắn có liên hệ như thế—ít nhất trong hệ mặt trời của chúng ta và vào thời điểm này.

This involves, therefore, a consideration of the effects of this motion:

Vì vậy, điều này bao hàm việc xem xét các hiệu quả của chuyển động này:

a. Within the planetary schemes, Their bodies.

a. Bên trong các hệ hành tinh, các thể của Các Ngài.

32. The Divine Manasaputras have planetary schemes as Their “bodies” of manifestation.

32. Các Manasaputra thiêng liêng có các hệ hành tinh như những “thể” biểu hiện của Các Ngài.

33. This type of motion, then, is particularly influential on the scheme level.

33. Vậy thì, loại chuyển động này đặc biệt có ảnh hưởng ở cấp độ hệ hành tinh.

b. Upon the atoms or "Points" in those bodies, the human and deva Monads.

b. Lên các nguyên tử hay “Các Điểm” trong những thể ấy, tức các chân thần người và thiên thần.

34. This seems a very occult reference. Somehow, an equivalence between human and deva Monads is suggested. Presumably, they are both found upon the same subplane of the cosmic physical plane.

34. Điều này dường như là một quy chiếu rất huyền bí. Bằng cách nào đó, một sự tương đương giữa các chân thần người và chân thần thiên thần được gợi ra. Có lẽ, cả hai đều được tìm thấy trên cùng một cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

35. The term “bodies” has to examined in this context. Often DK differentiates the centers or chakras from the remainder of the body. The deva units are said to be part of the body per se, and man, part of the centers. Yet, since these deva units are “Monads”, their essence would have to find their place on the monadic plane just as does man’s essence.

35. Thuật ngữ “các thể” cần được xem xét trong bối cảnh này. DK thường phân biệt các trung tâm hay luân xa với phần còn lại của thể. Các đơn vị thiên thần được nói là thuộc về chính thể ấy, còn con người thì thuộc về các trung tâm. Tuy nhiên, vì các đơn vị thiên thần này là các “chân thần”, nên tinh túy của chúng hẳn phải tìm được vị trí của mình trên cõi chân thần cũng như tinh túy của con người vậy.

36. We are being told that both human and deva Monads are affected by spiral-cyclic motion. For one thing, the process of reincarnation to which human beings, at least, are subjected, demonstrates this. The ‘motion’ of reincarnation is repetitive and, thus, rotary (or cyclic—in the general but not specific sense) but the indispensable factor of ‘occult elevation’ is also present, rendering it “spiral”.

36. Chúng ta đang được cho biết rằng cả các chân thần người lẫn chân thần thiên thần đều bị ảnh hưởng bởi chuyển động xoắn ốc-chu kỳ. Trước hết, tiến trình tái sinh mà ít nhất con người phải chịu đã chứng minh điều này. “Chuyển động” của tái sinh có tính lặp lại và do đó là quay tròn (hay chu kỳ—theo nghĩa tổng quát chứ không phải nghĩa chuyên biệt), nhưng yếu tố không thể thiếu của “sự nâng cao huyền bí” cũng hiện diện, khiến nó trở thành “xoắn ốc”.

37. Do devas reincarnate? This is a question which has not been touched upon satisfactorily to give an adequate answer. Since the Law of Periodicity controls all forms of life, it would seem that in some manner, they must necessarily do so.

37. Các thiên thần có tái sinh không? Đây là một câu hỏi chưa được đề cập một cách thỏa đáng để có thể đưa ra câu trả lời đầy đủ. Vì Định luật Chu Kỳ chi phối mọi hình thái sự sống, dường như theo một cách nào đó, họ nhất thiết cũng phải như vậy.

38. If devas do not re-incarnate, then they perfect themselves in some other manner. They are not yet perfect, so they too must be engaged in the process of self-perfection.

38. Nếu các thiên thần không tái sinh, thì họ tự hoàn thiện mình theo một cách nào khác. Họ vẫn chưa hoàn hảo, nên họ cũng phải đang tham dự vào tiến trình tự hoàn thiện.

Second, that impulse which is the basis of the Law of Periodicity, and which results in the cyclic incarnation of all Beings.

Thứ hai, xung lực là nền tảng của Định luật Chu Kỳ, và đưa đến sự nhập thể chu kỳ của mọi Hữu thểs.

39. Now Master DK begins to discuss this very thing.

39. Giờ đây Chân sư DK bắt đầu bàn đến chính điều này.

40. First we discussed a “mode of activity” in relation to the Vishnu aspect of Deity. Now we discuss another aspect lying behind the Law of Periodicity. We have to focus. Is DK considering the Law of Periodicity the result of a second ray or third ray impulse? Is DK saying that the Vishnu aspect is not the basis of the Law of Periodicity? Certainly there is something “rotary” about the Law of Periodicity, and this would relate it to the third aspect of divinity.

40. Trước hết chúng ta đã bàn về một “phương thức hoạt động” liên hệ với phương diện Vishnu của Thượng đế. Giờ đây chúng ta bàn về một phương diện khác nằm phía sau Định luật Chu Kỳ. Chúng ta phải tập trung. DK có xem Định luật Chu Kỳ là kết quả của một xung lực cung hai hay cung ba không? DK có đang nói rằng phương diện Vishnu không phải là nền tảng của Định luật Chu Kỳ không? Chắc chắn có điều gì đó “quay tròn” trong Định luật Chu Kỳ, và điều này sẽ liên hệ nó với phương diện thứ ba của thiên tính.

This impulse manifests in three cycles or in three turns of the wheel of Being.

Xung lực này biểu lộ trong ba chu kỳ hay trong ba vòng quay của bánh xe Hữu thể.

41. Let us not gloss over the phrase “the wheel of Being”. With this phrase and in this context, DK seems to be referring to the action of the first, second and third Logos, which are subsidiary to the Solar Logos.

41. Chúng ta đừng lướt qua cụm từ “bánh xe Hữu thể”. Với cụm từ này và trong bối cảnh này, DK dường như đang nói đến hoạt động của Logos thứ nhất, thứ hai và thứ ba, là những Đấng phụ thuộc vào Thái dương Thượng đế.

a. The activity which produces involution, or the submergence in matter of Life or Spirit.

a. Hoạt động tạo ra sự giáng hạ tiến hoá, hay sự chìm đắm của Sự sống hoặc tinh thần vào vật chất.

42. This is what is known as the First Outpouring and includes the first half of the Second Outpouring. The entire First Outpouring is involutionary and half of the Second Outpouring is also involutionary.

42. Đây là điều được biết đến như Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất và bao gồm nửa đầu của Lần Tuôn Đổ Thứ Hai. Toàn bộ Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất là giáng hạ tiến hoá, và một nửa của Lần Tuôn Đổ Thứ Hai cũng là giáng hạ tiến hoá.

43. When we use the term “submergence” we can understand why “matter” and “water” are often considered equivalent terms.

43. Khi chúng ta dùng thuật ngữ “chìm đắm”, chúng ta có thể hiểu vì sao “vật chất” và “nước” thường được xem là những thuật ngữ tương đương.

b. The activity which produces the equilibrium of these two forces, matter and Spirit, or manifestation, or the processes of evolution.

b. Hoạt động tạo ra sự quân bình của hai mãnh lực này, vật chất và tinh thần, hay sự biểu hiện, hay các tiến trình tiến hoá.

44. In general the activity which produces equilibrium of these two forces

44. Nói chung, đó là hoạt động tạo ra sự quân bình của hai mãnh lực này

45. This process begins in the second part of the Second Outpouring which is evolutionary in nature.

45. Tiến trình này bắt đầu trong phần thứ hai của Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, vốn có bản chất tiến hoá.

46. At the beginning of the Second Outpouring, such equilibrium does not yet exist.

46. Vào lúc khởi đầu của Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, sự quân bình như thế vẫn chưa hiện hữu.

c. The activity which withdraws the central energy from out of the responsive form and produces obscuration.

c. Hoạt động rút năng lượng trung tâm ra khỏi hình tướng đáp ứng và tạo ra sự che mờ.

47. This is the result of the Third Outpouring and represents the consummation of that outpouring.

47. Đây là kết quả của Lần Tuôn Đổ Thứ Ba và biểu thị sự hoàn tất của lần tuôn đổ ấy.

48. In other words we are speaking of the withdrawal of the Jewel in the Lotus into its source, the Monad.

48. Nói cách khác, chúng ta đang nói về việc rút Viên Ngọc trong Hoa Sen trở về nguồn của nó, tức chân thần.

49. From one perspective the Monad has been present throughout involution and evolution coming only into consciousness during the latter phases of evolution after the second outpouring has risen through four kingdoms. Once the human being becomes conscious of himself as an extension of the Monad, the withdrawal process is already beginning. This happens with definiteness at the third initiation.

49. Từ một góc nhìn, chân thần đã hiện diện suốt trong giáng hạ tiến hoá và tiến hoá, chỉ đi vào tâm thức trong các giai đoạn sau của tiến hoá sau khi lần tuôn đổ thứ hai đã đi lên qua bốn giới. Một khi con người trở nên có ý thức về chính mình như một sự mở rộng của chân thần, tiến trình rút lui đã bắt đầu rồi. Điều này xảy ra một cách xác định ở lần điểm đạo thứ ba.

Third, that activity which causes the interplay—attraction and consequent repulsion—between all atoms, from the great cosmic atom, a solar system, to the tiny atom of the chemist or the physicist.

Thứ ba, hoạt động gây ra sự tương tác—hấp dẫn và sự đẩy lùi hệ quả—giữa mọi nguyên tử, từ nguyên tử vũ trụ vĩ đại là một hệ mặt trời cho đến nguyên tử nhỏ bé của nhà hóa học hay nhà vật lýt.

50. Thus far we have dealt with the two modes or activity or impulses:

50. Cho đến đây chúng ta đã bàn đến hai phương thức hoạt động hay xung lực:

a. The mode of activity behind the Vishnu aspect of Deity

a. Phương thức hoạt động đứng sau phương diện Vishnu của Thượng đế

b. The impulse behind the Law of Periodicity as it works out in three turnings of the Great Wheel.

b. Xung lực đứng sau Định luật Chu Kỳ khi nó được triển khai trong ba vòng quay của Đại Luân.

51. In seems that in all these examples we are speaking very much of motion associated with the second aspect of divinity.

51. Dường như trong tất cả các thí dụ này, chúng ta đang nói rất nhiều về chuyển động gắn liền với phương diện thứ hai của thiên tính.

52. Now the third mode of activity concerns “interplay”—both attraction and repulsion.

52. Giờ đây phương thức hoạt động thứ ba liên quan đến “sự tương tác”—cả hấp dẫn lẫn đẩy lùi.

53. Such activity comes under the Law of Attraction which we recognize as related both the Vishnu aspect and to spiral-cyclic motion. The factor of repulsion (normally a first ray, dispersive factor) is to be included as an aspect of this second ray law.

53. Hoạt động như thế thuộc về Định luật Hấp Dẫn mà chúng ta nhận ra là có liên hệ cả với phương diện Vishnu lẫn với chuyển động xoắn ốc-chu kỳ. Yếu tố đẩy lùi (thường là một yếu tố phân tán của cung một) phải được bao gồm như một phương diện của định luật cung hai này.

This activity, therefore, may be viewed as:

Vì vậy, hoạt động này có thể được xem như:

a. Inter-cosmic, or affecting constellations.

a. Liên-vũ-trụ, hay tác động đến các chòm sao.

54. The implication is that constellations are attracted to and repelled by each other. The Law of Attraction has within it an aspect of repulsion.

54. Hàm ý ở đây là các chòm sao bị hút về nhau và bị đẩy ra khỏi nhau. Định luật Hấp Dẫn chứa trong nó một phương diện đẩy lùi.

55. We recognize this, perhaps, in the attraction and repulsion which exists between the energies of certain sign of the zodiac—really constellations of the zodiac.

55. Có lẽ chúng ta nhận ra điều này trong sự hấp dẫn và đẩy lùi tồn tại giữa các năng lượng của một số dấu hiệu hoàng đạo—thực ra là các chòm sao hoàng đạo.

56. One level of interaction has been skipped, apparently. What about the attraction and repulsion of various stars? This certainly exists, for our Solar Logos seeks the Logos Who is His polar opposite and will ‘marry’ that Logos.

56. Dường như một cấp độ tương tác đã bị bỏ qua. Còn sự hấp dẫn và đẩy lùi của các ngôi sao khác nhau thì sao? Điều này chắc chắn có tồn tại, vì Thái dương Thượng đế của chúng ta tìm kiếm Logos là cực đối nghịch của Ngài và sẽ “kết hôn” với Logos ấy.

57. We must pause to ask whether Master DK is considering our solar system a kind of “constellation”. Sometimes, it seems He does. The following quotation demonstrates that DK sometimes considers solar systems as constellations:

57. Chúng ta phải dừng lại để hỏi liệu Chân sư DK có đang xem hệ mặt trời của chúng ta như một loại “chòm sao” hay không. Đôi khi dường như Ngài có như vậy. Trích dẫn sau đây chứng minh rằng DK đôi khi xem các hệ mặt trời như các chòm sao:

This "fall of the angels" was a tremendous event in the history of our planet, but was nevertheless only a passing and interesting phenomenon in the history of the solar system, and a trifling incident in the affairs of the seven constellations, of which our solar system is but one. (EP I 395)

“Sự ‘sa ngã của các thiên thần’ này là một biến cố lớn lao trong lịch sử hành tinh chúng ta, nhưng tuy vậy chỉ là một hiện tượng thoáng qua và đáng chú ý trong lịch sử của hệ mặt trời, và là một sự cố nhỏ nhặt trong các công việc của bảy chòm sao, mà hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một trong số đó. (EP I 395)

b. Inter-planetary, or affecting the schemes.

b. Liên-hành-tinh, hay tác động đến các hệ hành tinh.

58. The term “planet” or “planetary” is sometimes ambiguous and one does not know whether DK is referring to a globe (such as our so-called “dense globe”—though not entirely dense!) or to the entire planetary scheme. Here it is apparent that He is referring to the scheme level and that the term “planetary” can reference an entire scheme.

58. Thuật ngữ “hành tinh” hay “thuộc hành tinh” đôi khi mơ hồ, và người ta không biết DK đang nói đến một bầu hành tinh (như “bầu đậm đặc” được gọi như thế của chúng ta—dù không hoàn toàn đậm đặc!) hay toàn bộ hệ hành tinh. Ở đây rõ ràng là Ngài đang nói đến cấp độ hệ hành tinh và rằng thuật ngữ “thuộc hành tinh” có thể quy chiếu đến toàn bộ một hệ.

c. Inter-chain, or affecting the chains.

c. Liên-dãy, hay tác động đến các dãy.

59. Of this kind of inter-chain attraction and repulsion we know very little if anything. Yet we can use the Law of Analogy. Chakras are attracted to and (so one presumes) repelled from each other—at least qualitatively. At least in the process of the rising of energy from a lesser to a greater chakra, the Law of Attraction seems to be in effect. Probably, as well, the functioning of a higher chakra often negates the excessive functioning of the lower chakra with which it is naturally paired and does not allow the quality of energy found in such a lower chakra to rise into it without undergoing transmutation.

59. Về loại hấp dẫn và đẩy lùi liên-dãy này, chúng ta biết rất ít, nếu có biết gì. Tuy nhiên, chúng ta có thể dùng định luật tương đồng. Các luân xa hút nhau và (người ta giả định như vậy) đẩy nhau—ít nhất về mặt phẩm tính. Ít nhất trong tiến trình năng lượng đi lên từ một luân xa thấp hơn đến một luân xa cao hơn, Định luật Hấp Dẫn dường như đang có hiệu lực. Có lẽ cũng vậy, hoạt động của một luân xa cao hơn thường phủ nhận hoạt động quá mức của luân xa thấp hơn mà nó được ghép cặp một cách tự nhiên, và không cho phép phẩm tính năng lượng được tìm thấy trong luân xa thấp hơn ấy đi lên vào nó mà không trải qua sự chuyển hoá.

d. Inter-globular, or producing an interchange of force between the globes of the chains.

d. Liên-bầu hành tinh, hay tạo ra sự trao đổi mãnh lực giữa các bầu hành tinh của các dãy.

60. We could be speaking of two kinds of “inter-globular” interchange.

60. Chúng ta có thể đang nói đến hai loại trao đổi “liên-bầu hành tinh”.

a. Between globes in the same chain.

a. Giữa các bầu hành tinh trong cùng một dãy.

b. Between the globes in one chain and corresponding or complementary globes in another chain—all presumably within the same planetary scheme. As for inter-globular contact from scheme to scheme we have heard very little if anything.

b. Giữa các bầu hành tinh trong một dãy và các bầu hành tinh tương ứng hay bổ sung trong một dãy khác—tất cả có lẽ đều nằm trong cùng một hệ hành tinh. Còn về sự tiếp xúc liên-bầu hành tinh từ hệ này sang hệ khác thì chúng ta hầu như chưa nghe gì, nếu có.

61. If there can be an interchange of force between the globes in one chain and the globes in another, then, analogously, there can be an interchange of force between the chains in one planetary scheme and the chains in another.

61. Nếu có thể có sự trao đổi mãnh lực giữa các bầu hành tinh trong một dãy và các bầu hành tinh trong một dãy khác, thì theo phép tương đồng, cũng có thể có sự trao đổi mãnh lực giữa các dãy trong một hệ hành tinh và các dãy trong một hệ hành tinh khác.

62. Carrying the idea further, we could have an interchange of forces between the planetary schemes in one solar system and the planetary schemes in another.

62. Đẩy ý tưởng đi xa hơn, chúng ta có thể có sự trao đổi các mãnh lực giữa các hệ hành tinh trong một hệ mặt trời và các hệ hành tinh trong một hệ mặt trời khác.

63. Similarly we would find an interchange of forces between the solar systems in one Cosmic Logos and the solar systems in another Cosmic Logos—etc. We could continue the speculation to the bound of the universe.

63. Tương tự, chúng ta sẽ thấy có sự trao đổi các mãnh lực giữa các hệ mặt trời trong một Logos Vũ Trụ và các hệ mặt trời trong một Logos Vũ Trụ khác—v.v. Chúng ta có thể tiếp tục suy đoán đến tận biên giới của vũ trụ.

64. It seems that throughout the vast cosmic web of life there is nothing but flow and exchange impulsed by the Cosmic Law of Attraction (and Repulsion).

64. Dường như trong toàn bộ mạng lưới vũ trụ bao la của sự sống, không có gì ngoài dòng chảy và sự trao đổi được thúc đẩy bởi Định luật Hấp Dẫn (và Đẩy Lùi) Vũ Trụ.

e. Inter-sectional, or affecting the transference of force between the five kingdoms of nature.

e. Liên-phân-khu, hay tác động đến sự chuyển dịch mãnh lực giữa năm giới trong tự nhiên.

65. This interchange will not be limited to exchange upon a single planet, as kingdoms of nature are found throughout the solar system.

65. Sự trao đổi này sẽ không bị giới hạn vào sự trao đổi trên một hành tinh đơn lẻ, vì các giới trong tự nhiên được tìm thấy khắp hệ mặt trời.

66. The word “sectional” is important and should be noted. It corresponds to the kingdom level.

66. Từ “phân khu” là quan trọng và cần được lưu ý. Nó tương ứng với cấp độ giới.l

67. This level, it appears, is one level lower than the globe level.

67. Dường như cấp độ này thấp hơn một cấp so với cấp độ bầu hành tinh.

68. Is the Being Who informs a kingdom of nature within a planetary scheme of lower status than the Being who informs a globe within that planetary scheme?

68. Hữu thể phú linh cho một giới trong tự nhiên bên trong một hệ hành tinh có địa vị thấp hơn Hữu thể phú linh cho một bầu hành tinh trong hệ hành tinh ấy chăng?

69. Is the Being Who informs a kingdom of nature within the solar system of lower status or higher status that the Being who informs a globe within that planetary scheme?

69. Hữu thể phú linh cho một giới trong tự nhiên bên trong hệ mặt trời có địa vị thấp hơn hay cao hơn Hữu thể phú linh cho một bầu hành tinh trong hệ hành tinh ấy chăng?

f. Inter-human, or relating to the interplay between the various human units.

f. Liên-nhân loại, hay liên hệ đến sự tương tác giữa các đơn vị người khác nhau.

70. With this level, of course, we are very familiar. It provides the very substance of our life within the human kingdom.

70. Dĩ nhiên, với cấp độ này, chúng ta rất quen thuộc. Nó cung cấp chính chất liệu của đời sống chúng ta trong giới nhân loại.

71. The perpetuation of the race of human beings depends upon interplay and exchange as must be obvious.

71. Sự duy trì nòi giống của nhân loại hiển nhiên phụ thuộc vào sự tương tác và trao đổi.

g. Inter-atomic, or the passage of force from one atom to another atom.

g. Liên-nguyên-tử, hay sự truyền mãnh lực từ nguyên tử này sang nguyên tử khác.

72. This type of passage of forces is the province of the realms of chemistry and physics.

72. Loại truyền các mãnh lực này thuộc phạm vi của các lĩnh vực hóa học và vật lý học.

73. The term “chemical affinity” indicates this type of exchange involving both attraction and repulsion.

73. Thuật ngữ “ái lực hóa học” chỉ ra loại trao đổi này, bao gồm cả hấp dẫn lẫn đẩy lùi.

74. Note that we have spoken of seven levels of exchange, from the cosmic to the level involving the atom of substances. Obviously there are more levels to consider, but it is interesting that Master DK cited seven.

74. Lưu ý rằng chúng ta đã nói đến bảy cấp độ trao đổi, từ cấp độ vũ trụ cho đến cấp độ liên quan đến nguyên tử của các chất liệu. Hiển nhiên còn nhiều cấp độ khác cần xem xét, nhưng điều đáng chú ý là Chân sư DK đã nêu ra bảy cấp độ.

Students need here to remember that we are concerned with the energy or activity which produces forms, and, [Page 1030] therefore, with the forces which tend to coherence, to concretion, and to the stabilisation of the work of the builders.

Ở đây các đạo sinh cần nhớ rằng chúng ta đang quan tâm đến năng lượng hay hoạt động tạo ra các hình tướng, và, [Trang 1030] vì vậy, đến các mãnh lực có khuynh hướng tạo nên sự cố kết, sự kết tinh cụ thể, và sự ổn định hóa công việc của các đấng kiến tạo.

75. There is no reason why we should not consider the energy of the second ray in this light.

75. Không có lý do gì khiến chúng ta không xem năng lượng của cung hai dưới ánh sáng này.

76. Coherence, however, is one thing and concretion another. The factor of concretion is better accounted for by the hard line rays, each of which plays its part such a process.

76. Tuy nhiên, sự cố kết là một chuyện, còn sự kết tinh cụ thể là chuyện khác. Yếu tố kết tinh cụ thể được giải thích tốt hơn bởi các cung tuyến cứng, mỗi cung đều góp phần của mình trong một tiến trình như thế.

77. The factor of concretion is particularly related to the fifth ray and the “stabilisation of the work of the builders” to the seventh ray.

77. Yếu tố kết tinh cụ thể đặc biệt liên hệ với cung năm, còn “sự ổn định hóa công việc của các đấng kiến tạo” thì liên hệ với cung bảy.

If they but realised it, the key to much that is connected with the production of forms, or of the Son,

Nếu họ chỉ chứng nghiệm được điều đó, thì chìa khóa của nhiều điều liên hệ với việc tạo ra các hình tướng, hay của Con,

78. The second ray is the great ‘Ray of Form Production’. The third ray is related to matter; the second ray to form; the first ray to the life within the form, animating both form and matter.

78. Cung hai là ‘Cung của Sự Tạo Dựng Hình Tướng’ vĩ đại. Cung ba liên hệ với vật chất; cung hai với hình tướng; cung một với sự sống bên trong hình tướng, làm sinh động cả hình tướng lẫn vật chất.

79. Our solar system is the Divine Son in manifestation.

79. Hệ mặt trời của chúng ta là Con thiêng liêng đang biểu hiện.

80. The word “inter” suggests particularly the second ray and its subsidiary, the fourth.

80. Từ “liên” đặc biệt gợi đến cung hai và cung phụ của nó là cung bốn.

the second aspect, is contained in the above tabulation,

phương diện thứ hai, được bao hàm trong bảng liệt kê trên,

81. Whatever the subsidiary rays involved, DK is informing us that in the three modes of motion or activity which He has somewhat elaborated, He has been speaking principally of the energy of the second aspect of divinity.

81. Dù các cung phụ nào có liên quan đi nữa, DK đang cho chúng ta biết rằng trong ba phương thức chuyển động hay hoạt động mà Ngài đã phần nào khai triển, Ngài chủ yếu đang nói về năng lượng của phương diện thứ hai của thiên tính.

82. The tabulation is therefore explanatory and important.

82. Vì vậy, bảng liệt kê này có tính giải thích và quan trọng.

for all nature holds together, and the life of any scheme, globe, kingdom, or atom, becomes in turn the animating principle of another scheme, globe, kingdom, or atom.

vì toàn thể tự nhiên kết dính với nhau, và sự sống của bất kỳ hệ, bầu hành tinh, giới hay nguyên tử nào đến lượt nó trở thành nguyên khí sinh động của một hệ, bầu hành tinh, giới hay nguyên tử khác.

83. That which is animated becomes that which animates. That which is receptive is also that which is positive to lesser centers which are receptive to itself. There is a seemingly endless chain of E/entities, varying in their polarity relative to each other.

83. Cái được làm sinh động trở thành cái làm sinh động. Cái tiếp nhận cũng là cái mang tính dương đối với những trung tâm thấp hơn vốn tiếp nhận từ chính nó. Có một chuỗi Hữu thể/thực thể dường như vô tận, khác nhau về cực tính tương đối đối với nhau.

Everything in the solar system is in a state of flux, as is everything in the universe,

Mọi sự trong hệ mặt trời đều ở trong trạng thái lưu chuyển, cũng như mọi sự trong vũ trụ,

84. This is why it is so terribly difficult to understand the universal process with the aid of the concrete mind alone. Perhaps only the Mercurian intuition can begin to see reason and pattern in the perpetual flux.

84. Đây là lý do vì sao thật vô cùng khó hiểu được tiến trình vũ trụ chỉ với sự trợ giúp của trí cụ thể. Có lẽ chỉ trực giác kiểu Sao Thủy mới có thể bắt đầu nhìn ra lý do và mô hình trong dòng lưu chuyển bất tận ấy.

and the vital energy circulates, as the blood or the nervous energy of the body circulates, throughout the entire system.

và năng lượng sinh lực lưu thông, như máu hay năng lượng thần kinh của thể lưu thông, khắp toàn bộ hệ thống.

85. Such are the rivers and streams of energy revealed to the initiate of the third degree from his point of consciousness “upon the mountaintop”.

85. Đó là những con sông và dòng suối năng lượng được mặc khải cho điểm đạo đồ bậc ba từ điểm tâm thức của y “trên đỉnh núi”.

This is the basis of the occult fact that all in nature, for instance, will be, is, or has been, through the human kingdom.5 [S.D., I, 215, 242, 293]

Đây là nền tảng của sự kiện huyền bí rằng mọi sự trong tự nhiên, chẳng hạn, sẽ đi qua, đang đi qua, hoặc đã đi qua giới nhân loại.5 [S.D., I, 215, 242, 293]

86. We must be very cautious as we approach the interpretation of this thought. Is the human “kingdom” literally the human form (as we know it or as it may appear on other planets), or are we discussing a human stage which is characterized by an individualized consciousness poised midway between super-human kingdoms and sub-human kingdoms?

86. Chúng ta phải hết sức thận trọng khi tiến đến việc giải thích tư tưởng này. “Giới” người có theo nghĩa đen là hình tướng người (như chúng ta biết hoặc như nó có thể xuất hiện trên các hành tinh khác) hay không, hay chúng ta đang bàn về một giai đoạn người được đặc trưng bởi một tâm thức biệt ngã hóa đứng ở điểm giữa giữa các giới siêu nhân và các giới hạ nhân?

87. In other words, can there be an individualized devas equivalent in its consciousness to a human being and yet living through a human stage which is equivalent to living within the human form, per se?

87. Nói cách khác, có thể có một thiên thần biệt ngã hóa tương đương với một con người về tâm thức của nó, nhưng lại sống qua một giai đoạn người tương đương với việc sống trong chính hình tướng người hay không?

88. This question is not easily resolved unless deep thought is applied to the line of progress pursued by the deva evolution from its lower reaches to its higher.

88. Câu hỏi này không dễ giải quyết trừ phi áp dụng sự suy tư sâu sắc vào đường tiến bộ mà tiến hoá thiên thần theo đuổi từ những tầng thấp đến những tầng cao của nó.

Under this type of solar activity, the ultimate good is attained by the method of interplay, interchange, and in mutual attraction and repulsion.

Dưới loại hoạt động thái dương này, thiện hảo tối hậu được đạt đến bằng phương pháp tương tác, trao đổi, và trong sự hấp dẫn và đẩy lùi hỗ tương.

89. We see how the Will-to-Good, involving the motion of the Vishnu aspect achieves this “ultimate good”.

89. Chúng ta thấy Ý Chí-hướng Thiện, bao hàm chuyển động của phương diện Vishnu, đạt được “thiện hảo tối hậu” này như thế nào.

90. Let us list the factors which achieve, eventually, the “ultimate good”

90. Hãy liệt kê các yếu tố cuối cùng đạt đến “thiện hảo tối hậu”

a. Interplay

a. Sự tương tác

b. Interchange

b. Sự trao đổi

c. Attraction

c. Sự hấp dẫn

d. Repulsion

d. Sự đẩy lùi

91. We note that DK calls the general type of motion He has been discussing a “solar activity” so we are to conclude that He has been discussing the Law of Attraction as it operates within the solar system.

91. Chúng ta lưu ý rằng DK gọi loại chuyển động tổng quát mà Ngài đã bàn đến là một “hoạt động thái dương”, vì vậy chúng ta phải kết luận rằng Ngài đã bàn về Định luật Hấp Dẫn khi nó vận hành bên trong hệ mặt trời.

It would be advisable here if students would study that which was communicated in the early part of this treatise upon motion upon the physical and astral planes.

Ở đây sẽ là điều nên làm nếu các đạo sinh nghiên cứu điều đã được truyền đạt trong phần đầu của bộ luận này về chuyển động trên cõi hồng trần và cõi cảm dục.

92. No part of this book stands entirely on its own but must be cross referenced and supplemented by material from earlier and later sections. Thus, we are directed back to that which we have already studied. Can any one of us say we have thoroughly absorbed it?

92. Không phần nào của quyển sách này đứng hoàn toàn riêng lẻ, mà phải được đối chiếu chéo và bổ sung bằng tài liệu từ các phần trước và sau. Vì vậy, chúng ta được hướng trở lại với điều mình đã học. Có ai trong chúng ta có thể nói rằng mình đã hấp thụ nó một cách thấu đáo không?

93. While A Treatise on Cosmic Fire is a study of “fire” it is also necessarily a study of “motion”. In many respects, fire is motion and motion is fire.

93. Trong khi Luận về Lửa Vũ Trụ là một nghiên cứu về “lửa”, nó cũng tất yếu là một nghiên cứu về “chuyển động”. Ở nhiều phương diện, lửa là chuyển động và chuyển động là lửa.

Under the Law of Analogy, much will be noted as necessarily translated on to the higher plane, and to be transmuted into the energy of the form-building impulse.

Theo định luật tương đồng, nhiều điều sẽ được lưu ý như là nhất thiết được chuyển dịch lên cõi cao hơn, và được chuyển hoá thành năng lượng của xung lực tạo hình tướng.

94. Our method of inter-plane comparison continues and is encouraged.

94. Phương pháp so sánh liên-cõi của chúng ta vẫn tiếp tục và được khuyến khích.

95. We are to recognize processes occurring on a lower plane which, when transmuted, are closely related to the form-building impulse of the Vishnu aspect.

95. Chúng ta phải nhận ra các tiến trình xảy ra trên một cõi thấp hơn mà, khi được chuyển hoá, có liên hệ mật thiết với xung lực tạo hình tướng của phương diện Vishnu.

We will consider what we have to say in this section under the following heads:

Chúng ta sẽ xem xét điều mình phải nói trong phần này dưới các đề mục sau:

96. There are five headings given.

96. Có năm đề mục được nêu ra.

1. The nature of this motion.....spiral cycling

1. Bản chất của chuyển động này.....chu chuyển xoắn ốc

97. Yes, we are studying principally the second ray aspect of motion. But we will note in sections of text following that DK correlates the term “spiral” with the first ray and “cycling” with the second.

97. Đúng vậy, chúng ta chủ yếu đang nghiên cứu phương diện chuyển động của cung hai. Nhưng trong các phần văn bản tiếp theo, chúng ta sẽ lưu ý rằng DK liên hệ thuật ngữ “xoắn ốc” với cung một và “chu chuyển” với cung hai.

2. The results of its activity. These results can be viewed as four subsidiary laws or adjuncts to the major law of Attraction, and may be called:

2. Các kết quả của hoạt động của nó. Những kết quả này có thể được xem như bốn định luật phụ thuộc hay bổ trợ cho định luật lớn về Hấp Dẫn, và có thể được gọi là:

98. We see here that DK has, in this context, definitely related spiral-cyclic motion or “spiral cycling” motion to the major law of the system, the Law of Attraction.

98. Ở đây chúng ta thấy rằng Chân sư DK, trong ngữ cảnh này, đã dứt khoát liên hệ chuyển động xoắn ốc-chu kỳ hay chuyển động “chu chuyển xoắn ốc” với định luật lớn của hệ thống, tức Định luật Hấp Dẫn.

99. As stated previously, however, we have to remain alert to those one or two instances in which He seems to connect spiral motion to the first ray and spiral-cyclic motion to some combination of first and second ray motions.

99. Tuy nhiên, như đã nói trước đây, chúng ta phải luôn cảnh giác với một hay hai trường hợp trong đó Ngài dường như nối kết chuyển động xoắn ốc với cung một và chuyển động xoắn ốc-chu kỳ với một sự kết hợp nào đó của các chuyển động cung một và cung hai.

The Law of Expansion.

Định luật Mở Rộng.

100. We can see the analogy to Jupiter and the second ray. Probably our second ray Solar Logos operates largely under this law.

100. Chúng ta có thể thấy sự tương đồng với Sao Mộc và cung hai. Có lẽ Thái dương Thượng đế cung hai của chúng ta vận hành phần lớn dưới định luật này.

The Law of Monadic Return.

Định luật Trở Về của Chân Thần.

101. We understand that the Monad has its permanent place of focus (‘permanent’ during its long pilgrimage into the five lower worlds) on the monadic plane.

101. Chúng ta hiểu rằng chân thần có điểm tập trung thường trực của nó (“thường trực” trong suốt cuộc hành hương dài của nó vào năm cõi thấp) trên cõi chân thần.

The Law of Solar Evolution.

Định luật Tiến Hóa Thái Dương.

102. We are presently in a second ray solar system and the soul ray of our Solar Logos (the soul being the aspect presently undergoing evolution) is the second ray. (His Personality is also upon the second ray.) Naturally, the Solar Logos is extremely responsive to the second Ray of Love-Wisdom.

102. Hiện nay chúng ta đang ở trong một hệ mặt trời cung hai và cung linh hồn của Thái dương Thượng đế của chúng ta (linh hồn là phương diện hiện đang trải qua tiến hoá) là cung hai. (Phàm ngã của Ngài cũng ở trên cung hai.) Một cách tự nhiên, Thái dương Thượng đế cực kỳ đáp ứng với cung hai Bác Ái – Minh Triết.

103. The Beings Who emanate from Him (i.e., the Solar Angels) are also extremely responsive to the love-Wisdom ray.

103. Các Đấng xuất lộ từ Ngài (tức các Thái dương Thiên Thần) cũng cực kỳ đáp ứng với cung Bác Ái – Minh Triết.

The Law of Radiation. [Page 1031]

Định luật Bức Xạn. [Page 1031]

104. The Second Ray Lord is called among other things, “The Radiance in the Form”. (EP I 66)

104. Đấng Chúa Tể Cung hai, trong nhiều danh xưng khác, được gọi là “Sự Rạng Ngời trong Hình Tướng”. (EP I 66)

It will, therefore, be apparent that, as we consider these laws, we are dealing with matters that concern:

Do đó, sẽ hiển nhiên rằng khi chúng ta xem xét các định luật này, chúng ta đang đề cập đến những vấn đề liên quan tới:

The process of initiation.

Tiến trình điểm đạo.

105. The highest of the teaching methods of teaching truth to humanity utilized by those representing the second ray focuses upon the “processes of initiation”. (EP I 50)

105. Phương pháp giáo huấn cao nhất để truyền dạy chân lý cho nhân loại, được những vị đại diện cho cung hai sử dụng, tập trung vào “các tiến trình điểm đạo”. (EP I 50)

The life of the divine pilgrims upon the upward arc.

Sự sống của các lữ khách thiêng liêng trên cung đi lên.

106. The “divine pilgrims” are the Jivas which are really extensions of the Monad. The Monad, in the form of the Jiva, is the divine pilgrim.

106. Các “lữ khách thiêng liêng” là các Jivas, vốn thực sự là những sự mở rộng của chân thần. Chân thần, dưới hình thức Jiva, là lữ khách thiêng liêng.

107. The “upward arc” is the second half to the Second Outpouring which but the part of that “upward arc” here referenced occurs only after individualization has occurred.

107. “Cung đi lên” là nửa sau của Lần Tuôn Đổ thứ Hai, nhưng phần của “cung đi lên” được nói đến ở đây chỉ xảy ra sau khi biệt ngã hóa đã diễn ra.

The impulse which produces the Son, and which drives Him to gain experience through the medium of the solar system.

Xung lực tạo ra Con, và thúc đẩy Ngài đạt được kinh nghiệm qua trung gian của hệ mặt trời.

108. The “Son” is the second aspect of Deity. We can consider the “Son” as the soul or consciousness aspect of the Solar Logos.

108. “Con” là phương diện thứ hai của Thượng đế. Chúng ta có thể xem “Con” như phương diện linh hồn hay tâm thức của Thái dương Thượng đế.

109. The impulse which produces the Son is a kind of cosmic individualization.

109. Xung lực tạo ra Con là một loại biệt ngã hóa vũ trụ.

Magnetism, or Divine Alchemy.

Từ điện, hay Thuật Luyện Kim Thiêng Liêng.

110. This is certainly a different way of defining “Divine Alchemy”. We must gather that the liberation of the volatile essence (the entombed essence plus the first aspect) would not occur unless it were subjected to the second aspect of divinity—in other words to ‘Divine Magnetism’. It is drawn forth from the containing vessel as much as it breaks through the containing vessel.

110. Đây chắc chắn là một cách khác để định nghĩa “Thuật Luyện Kim Thiêng Liêng”. Chúng ta phải hiểu rằng sự giải phóng tinh chất dễ bay hơi (tinh chất bị giam hãm cộng với phương diện thứ nhất) sẽ không xảy ra trừ phi nó chịu tác động của phương diện thứ hai của thiên tính—nói cách khác là của “Từ Điện Thiêng Liêng”. Nó được kéo ra khỏi bình chứa cũng nhiều như nó phá vỡ bình chứa ấy.

3. The turning of the wheel,

3. Sự quay của bánh xe,

111. This phrase is often used to indicate the reincarnational process.

111. Cụm từ này thường được dùng để chỉ tiến trình tái sinhs.

a. The solar wheel,

a. Bánh xe thái dương,

b. The planetary wheel,

b. Bánh xe hành tinh,

c. The human wheel.

c. Bánh xe nhân loại.

112. All these types of atoms are subject to reincarnation.

112. Tất cả các loại nguyên tử này đều chịu sự tái sinh.

113. Reincarnation always involves the second aspect because there results an expansion and elevation of consciousness. The fact that it is repetitive involves as well the third aspect of motion—rotary motion.

113. Tái sinh luôn bao hàm phương diện thứ hai vì kết quả là có sự mở rộng và nâng cao tâm thức. Việc nó có tính lặp lại cũng đồng thời bao hàm phương diện thứ ba của chuyển động—chuyển động quay.