← Commentary_S8_925_1078_song ngữ

Preamble for S8S10

Trích nội dung chương

114. We see that DK is very much discussing what we will take up in discussion. The text thus far considered in this commentary is preparatory to larger discussions. 114. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK đang bàn rất nhiều về điều mà chúng ta sẽ đem ra thảo luận. Bản văn được xét cho đến nay trong phần bình giải này chỉ là phần chuẩn bị cho những cuộc thảo luận lớn hơn.


114. We see that DK is very much discussing what we will take up in discussion. The text thus far considered in this commentary is preparatory to larger discussions.

114. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK đang bàn rất nhiều về điều mà chúng ta sẽ đem ra thảo luận. Bản văn được xét cho đến nay trong phần bình giải này chỉ là phần chuẩn bị cho những cuộc thảo luận lớn hơn.

115. We see below that the considerations are including many macrocosmic factors.

115. Chúng ta thấy dưới đây rằng các xem xét này bao gồm nhiều yếu tố đại thiên địa.

This will involve our taking up the consideration of the orbital paths of these various spheres, their centres, interplay and intercommunication, and of force transference,

Điều này sẽ đòi hỏi chúng ta phải xem xét các quỹ đạo của những khối cầu khác nhau này, các trung tâm của chúng, sự tương tác và sự liên lạc qua lại, và sự chuyển dịch mãnh lực,

116. As we have discussed above…

116. Như chúng ta đã bàn ở trên…

and will bring out the concept that all spiral-cyclic activity is not the result of the rotary action of matter itself, but of an impulse emanating from without any particular atom, and therefore extraneous to it.

và sẽ làm nổi bật khái niệm rằng mọi hoạt động xoắn ốc-chu kỳ không phải là kết quả của chính tác động quay của vật chất, mà là của một xung lực phát ra từ bên ngoài bất kỳ nguyên tử riêng biệt nào, và do đó là ngoại lai đối với nó.

117. Mistakes are made by modern thinkers when they attribute consciousness to the activities of matter, as if consciousness were some extrusion or side-effect of material processes.

117. Các nhà tư tưởng hiện đại phạm sai lầm khi quy tâm thức cho các hoạt động của vật chất, như thể tâm thức là một sự phóng xuất hay tác dụng phụ nào đó của các tiến trình vật chất.

118. Superior types of motion do not derive from lesser types. Rather, it is the other way round.

118. Các loại chuyển động cao hơn không phát sinh từ các loại thấp hơn. Đúng hơn, điều ngược lại mới đúng.

119. DK is telling us that spiral-cyclic motion is always extraneous to the motion of any atom which is, per se, rotary rather than spiral-cyclic.

119. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng chuyển động xoắn ốc-chu kỳ luôn luôn là điều ngoại lai đối với chuyển động của bất kỳ nguyên tử nào mà, chính nó, là quay chứ không phải xoắn ốc-chu kỳ.

4. Motion, or the form-building impulse latent in:

4. Chuyển động, hay xung lực kiến tạo hình tướng tiềm ẩn trong:

120. Is motion to be equated with the “form-building impulse”?

120. Có phải chuyển động được đồng nhất với “xung lực kiến tạo hình tướng” không?

a. The mental sheath itself, both cosmically and humanly considered.

a. Chính thể trí, xét cả về mặt vũ trụ lẫn nhân loại.

121. The second and fifth rays are intimately related as a study of the nature of the Solar Angel will reveal.

121. Cung hai và cung năm có liên hệ mật thiết với nhau, như việc nghiên cứu bản chất của Thái dương Thiên Thần sẽ cho thấy.

122. Processes emanating from the mental sheath are meant to bring about cohesion. We can see this when studying the white magical process as applied to the creations of the human magician. Activity upon the mental plane is the first strictly human activity in the white magical process.

122. Các tiến trình phát ra từ thể trí nhằm tạo nên sự cố kết. Chúng ta có thể thấy điều này khi nghiên cứu tiến trình huyền thuật chánh đạo như được áp dụng vào các sáng tạo của nhà huyền thuật nhân loại. Hoạt động trên cõi trí là hoạt động đầu tiên thực sự mang tính nhân loại trong tiến trình huyền thuật chánh đạo.

b. The causal body of the macrocosm and the microcosm.

b. Thể nguyên nhân của đại thiên địa và tiểu thiên địa.

123. For millions of years the causal body is the cohesive factor in the human energy system.

123. Trong hàng triệu năm, thể nguyên nhân là yếu tố cố kết trong hệ thống năng lượng của con người.

c. The centres, divine and human.

c. Các trung tâm, thiêng liêng và nhân loại.

124. These centers collectively hold in coherence the vehicle in which they are located.

124. Các trung tâm này, xét chung, giữ cho vận cụ mà chúng tọa lạc trong đó được nhất quán.

125. We are dealing with three ‘places’ where motion or the “form-building impulse” are to be considered “latent”.

125. Chúng ta đang đề cập đến ba “nơi chốn” mà trong đó chuyển động hay “xung lực kiến tạo hình tướng” được xem là “tiềm ẩn”.

5. The effects of the united activity of the sheath, the centres, and the causal body as it produces:

5. Các hiệu quả của hoạt động hợp nhất của thể, các trung tâm, và thể nguyên nhân khi nó tạo ra:

126. We are listing the various subject headings to be considered in the forthcoming sections of text.

126. Chúng ta đang liệt kê các đề mục khác nhau sẽ được xem xét trong những phần bản văn sắp tới.

127. We are looking at the combined activity of the causal body, the mental sheath and the centers with the sheaths.

127. Chúng ta đang nhìn vào hoạt động kết hợp của thể nguyên nhân, thể trí và các trung tâm cùng với các thể.

a. Periodic manifestation.

a. Biểu hiện theo chu kỳ.

128. Reincarnation is one of the chief of these period manifestations.

128. Tái sinh là một trong những biểu hiện theo chu kỳ chủ yếu này.

129. The combination of causal body, mental sheath and the centers brings about periodic manifestation.

129. Sự kết hợp của thể nguyên nhân, thể trí và các trung tâm tạo ra biểu hiện theo chu kỳ.

b. The linking of the triangles.

b. Sự nối kết các tam giác.

130. This brings coherent interplay into any system in which these triangles are found.

130. Điều này đem lại sự tương tác nhất quán vào bất kỳ hệ thống nào trong đó các tam giác này được tìm thấy.

131. The impulses of the causal body and the mental sheath combined promote the linking of the triangles.

131. Các xung lực của thể nguyên nhân và thể trí kết hợp với nhau thúc đẩy sự nối kết các tam giác.

c. The relation between the throat centre, the alta major centre, and the mental centre, macrocosmically and microcosmically considered. [Page 1032]

c. Mối liên hệ giữa trung tâm cổ họng, trung tâm alta major, và trung tâm trí tuệ, xét về mặt đại thiên địa và tiểu thiên địa. [Page 1032]

132. This triple interplay is unusual. What is meant by the “mental centre”? A particular center within the lower mental sheath?

132. Sự tương tác tam phân này thật khác thường. “Trung tâm trí tuệ” có nghĩa là gì? Một trung tâm đặc biệt nào đó bên trong thể trí hạ hay sao?

133. All of members of this relation are related to the third aspect of divinity.

133. Tất cả các thành phần của mối liên hệ này đều liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.

134. There is no throat center in the mental sheath per se—i.e., the sheath which encompasses the four subplanes of the lower mental plane. With what then are the throat center and the alta major center linked? With the sacral center in the mental body? The sacral center is the home or location of the mental elemental prior to its transference to the throat center. Remember we are speaking of the a mental center on the lower mental plane.

134. Không có trung tâm cổ họng nào trong chính thể trí—tức thể bao trùm bốn cõi phụ của cõi hạ trí. Vậy thì trung tâm cổ họng và trung tâm alta major được nối kết với cái gì? Với trung tâm xương cùng trong thể trí chăng? Trung tâm xương cùng là nơi cư ngụ hay vị trí của hành khí trí tuệ trước khi nó được chuyển dịch lên trung tâm cổ họng. Hãy nhớ rằng chúng ta đang nói về một trung tâm trí tuệ trên cõi hạ trí.

II. THE NATURE OF THIS MOTION

II. BẢN CHẤT CỦA CHUYỂN ĐỘNG NÀY

As we well know, the nature of the motion on the plane of matter is rotary.

Như chúng ta đều biết rõ, bản chất của chuyển động trên cõi vật chất là sự quayy.

135. It functions under the third aspect of divinity.

135. Nó vận hành dưới phương diện thứ ba của thiên tính.

136. We have to remember that all our twenty-one lowest systemic planes are located on the “planet of matter” as far as our Solar Logos is concerned. The eighteen lower sub-planes are located on the “planet of matter” as far as our Planetary Logos is concerned.

136. Chúng ta phải nhớ rằng tất cả hai mươi mốt cõi thấp nhất trong hệ thống của chúng ta đều nằm trên “hành tinh vật chất” xét theo Thái dương Thượng đế của chúng ta. Mười tám cõi phụ thấp hơn nằm trên “hành tinh vật chất” xét theo Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

Each atom of matter

Mỗi nguyên tử vật chất

137. There are rather material atoms on the astral plane and the lower mental plane and really, on all levels of the cosmic physical plane.

137. Có những nguyên tử vật chất trên cõi cảm dục và cõi hạ trí, và thực ra, trên mọi cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ.

138. Therefore, we will find lesser types or rotary motion and greater type of rotary motion which are occurring on those planes whereon lower forms of cyclic, spiral-cyclic and progressive motion are thought to occur.

138. Do đó, chúng ta sẽ thấy những loại chuyển động quay thấp hơn và những loại chuyển động quay lớn hơn đang xảy ra trên những cõi mà tại đó các hình thức thấp hơn của chuyển động chu kỳ, xoắn ốc-chu kỳ và tiến triển được cho là xảy ra.

139. In other words, the entire cosmic physical plane is rotating even though within that cosmic physical plane all kinds of lesser cyclic, spiral-cyclic and progressive motions are occurring. Wheels within wheels. Cycles within cycles.

139. Nói cách khác, toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ đều đang quay mặc dù bên trong cõi hồng trần vũ trụ ấy mọi loại chuyển động chu kỳ, xoắn ốc-chu kỳ và tiến triển thấp hơn đều đang xảy ra. Những bánh xe trong các bánh xe. Những chu kỳ trong các chu kỳs.

rotates on its own axis, and each larger atom, from the purely physical standpoint, likewise does the same;

quay trên trục riêng của nó, và mỗi nguyên tử lớn hơn, xét từ quan điểm thuần hồng trần, cũng làm như vậy;

140. In a way, this “purely physical standpoint” exists throughout the cosmic physical plane.

140. Theo một nghĩa nào đó, “quan điểm thuần hồng trần” này tồn tại khắp cõi hồng trần vũ trụ.

a cosmic atom, a solar system, a planetary atom, and a human atom, man, can be seen equally rotating at differing degrees of velocity upon their own axis or around their own pole.

một nguyên tử vũ trụ, một hệ mặt trời, một nguyên tử hành tinh, và một nguyên tử nhân loại, con người, đều có thể được thấy là quay với những mức độ vận tốc khác nhau trên trục riêng của chúng hay quanh cực riêng của chúng.

141. Each atom has a “pole”. This has not been much emphasized in modern physics though there has been an emphasis on polarity.

141. Mỗi nguyên tử đều có một “cực”. Điều này chưa được nhấn mạnh nhiều trong vật lý học hiện đại mặc dù đã có sự nhấn mạnh về tính phân cực.

142. While we can imagine that we can perceive some semblance of shape for an atom of matter, a human atom, a planetary atom and a solar-systemic atom, how would we conceive the shape of a “cosmic atom”—for instance that atom composed of seven major solar systems (and many others) which contains our particular solar system. Would the shape be etheric?

142. Trong khi chúng ta có thể hình dung rằng mình có thể nhận biết một dáng vẻ nào đó của hình thể nơi một nguyên tử vật chất, một nguyên tử nhân loại, một nguyên tử hành tinh và một nguyên tử hệ mặt trời, thì chúng ta sẽ quan niệm hình thể của một “nguyên tử vũ trụ” như thế nào—thí dụ nguyên tử gồm bảy hệ mặt trời lớn (và nhiều hệ khác) chứa hệ mặt trời riêng của chúng ta. Hình thể ấy có phải là dĩ thái không?

143. As for a ‘galactic atom’, again, we imagine that it is conceivable. The factor of rotation is certainly evident in such an atom and its speed of rotation is the subject of modern scientific investigation.

143. Còn đối với một “nguyên tử thiên hà”, một lần nữa, chúng ta hình dung rằng điều đó có thể quan niệm được. Yếu tố quay chắc chắn hiển nhiên trong một nguyên tử như thế và tốc độ quay của nó là đối tượng nghiên cứu của khoa học hiện đại.

144. We can imagine that the speed of rotation of some of these atoms (not only as regards physical rotation but subtle rotation as well) is a secret of initiation and contains within itself many secrets regarding the dynamics occurring within the atom.

144. Chúng ta có thể hình dung rằng tốc độ quay của một số nguyên tử này (không chỉ xét về sự quay hồng trần mà cả sự quay vi tế nữa) là một bí mật của điểm đạo và tự nó chứa đựng nhiều bí mật liên quan đến các động lực xảy ra bên trong nguyên tử.

145. Our solar systemic atom is said to rotate about once every 100,000 years.

145. Nguyên tử hệ mặt trời của chúng ta được nói là quay khoảng một lần trong mỗi 100.000 năm.

The solar atom must be considered as pursuing analogous lines of activity and as paralleling on a vast scale the evolution of the planetary atom. The entire solar sphere, the logoic ring-pass-not, rotates upon its axis, and thus all that is included within the sphere is carried in a circular manner through the Heavens. The exact figures of the cycle which covers the vast rotation must remain as yet esoteric, but it may be stated that it approximates one hundred thousand years, being, as might be supposed, controlled by the energy of the first aspect, and therefore of the first Ray. (TCF 1057)

Nguyên tử thái dương phải được xem như đang theo đuổi những đường hoạt động tương tự và đang song hành trên một quy mô rộng lớn với sự tiến hoá của nguyên tử hành tinh. Toàn bộ khối cầu thái dương, vòng-giới-hạn của đấng logoic, quay trên trục của nó, và như thế mọi sự được bao gồm trong khối cầu đều được mang theo theo cách tròn xoay xuyên qua các cõi trời. Những con số chính xác của chu kỳ bao trùm sự quay bao la ấy hiện vẫn phải còn là huyền bí, nhưng có thể nói rằng nó xấp xỉ một trăm ngàn năm, do, như có thể giả định, bị kiểm soát bởi năng lượng của phương diện thứ nhất, và vì thế bởi cung một. (TCF 1057)

When we arrive at the plane of mind, and have to consider the activity of the second aspect of divinity, that which builds and holds the forms in coherent form,

Khi chúng ta đạt đến cõi trí, và phải xem xét hoạt động của phương diện thứ hai của thiên tính, điều kiến tạo và giữ các hình tướng trong sự nhất quán của hình tướng,

146. Here we have an excellent definition of the second aspect of divinity.

146. Ở đây chúng ta có một định nghĩa tuyệt vời về phương diện thứ hai của thiên tính.

147. Also, we find that we are tracing the activity of the second aspect through different sheaths and centers—the causal body, the mental sheath and the various chakras.

147. Ngoài ra, chúng ta thấy rằng mình đang lần theo hoạt động của phương diện thứ hai qua các thể và các trung tâm khác nhau—thể nguyên nhân, thể trí và các luân xa khác nhau.

and which is the basis of the phenomenon we call time (literally, the awareness of the form), a different type of force or motion becomes apparent.

và là nền tảng của hiện tượng mà chúng ta gọi là thời gian (theo nghĩa đen, sự nhận biết hình tướng), một loại mãnh lực hay chuyển động khác trở nên hiển lộ.

148. Here is a most important definition of “time”—awareness of the form.

148. Đây là một định nghĩa hết sức quan trọng về “thời gian”—sự nhận biết hình tướng.

149. Is DK telling us that the second aspect of divinity is the basis of the “phenomenon we call time”? Usually, the third aspect is considered in this respect.

149. Có phải Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng phương diện thứ hai của thiên tính là nền tảng của “hiện tượng mà chúng ta gọi là thời gian” không? Thông thường, phương diện thứ ba được xét trong mối liên hệ này.

150. DK, however, is relating time to form and not to matter per se (though even the tiniest unit of matter can be considered a form.

150. Tuy nhiên, Chân sư DK đang liên hệ thời gian với hình tướng chứ không phải với vật chất chính nó (mặc dù ngay cả đơn vị vật chất nhỏ nhất cũng có thể được xem là một hình tướng.

151. Another important definition of time is the following:

151. Một định nghĩa quan trọng khác về thời gian là như sau:

People are apt to forget that time is the sequence of events and of states of consciousness as registered by the physical brain. Where no physical brain exists, what humanity understands by time is nonexistent. (EH 403-404)

Người ta thường quên rằng thời gian là chuỗi tiếp nối của các biến cố và các trạng thái tâm thức như được bộ não hồng trần ghi nhận. Nơi nào không có bộ não hồng trần, điều mà nhân loại hiểu là thời gian không tồn tại. (EH 403-404)

152. As well, we are reminded when considering the “Seed of all Philosophy”:

152. Ngoài ra, khi xem xét “Hạt Giống của mọi Triết Học”, chúng ta được nhắc nhở rằng:

“Time IS. Being descends to manifest. Creation is. Time then and form agree. Being and time do not agree.

“Thời gian LÀ. Bản Thể giáng xuống để biểu hiện. Sáng tạo hiện hữu. Khi ấy thời gian và hình tướng tương hợp. Bản Thể và thời gian không tương hợp.

153. We see the connection here of time and form, but not of time and matter.

153. Ở đây chúng ta thấy mối liên hệ giữa thời gian và hình tướng, nhưng không phải giữa thời gian và vật chất.

154. Just as Being and Time do not agree, it could be said that formless Matter and Time to not agree.

154. Cũng như Bản Thể và Thời Gian không tương hợp, có thể nói rằng Vật chất vô tướng và Thời Gian cũng không tương hợp.

155. If we can succeed in the requirements for Rule V and Rule IX, the light of form will be blotted out, and, even more radically (in Rule IX), form itself will be blotted out. When this has occurred, time as we know it will be eradicated.

155. Nếu chúng ta có thể thành công trong các đòi hỏi của Quy luật V và Quy luật IX, ánh sáng của hình tướng sẽ bị xóa mờ, và, còn triệt để hơn nữa (trong Quy luật IX), chính hình tướng sẽ bị xóa bỏ. Khi điều này xảy ra, thời gian như chúng ta biết sẽ bị triệt tiêu.

Rule V: For Disciples and Initiates: In unison let the group perceive the Triad shining forth, dimming the light of the soul and blotting out the light of form. The macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought "My soul and thine." (R&I 20)

Quy luật V: Dành cho các đệ tử và các điểm đạo đồ: Trong hợp nhất, hãy để nhóm nhận biết Tam nguyên tinh thần đang chiếu sáng, làm mờ ánh sáng của linh hồn và xóa bỏ ánh sáng của hình tướng. Toàn Thể đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để nhóm nhận biết Toàn Thể ấy và rồi không còn dùng tư tưởng “Linh hồn của tôi và của bạn.” (R&I 20)

Rule IX: For Disciples and Initiates: Let the group know there are no other selves. Let the group know there is no colour, only light; and then let darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form. Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when the Door first was passed. (R&I 21)

Quy luật IX: Dành cho các đệ tử và các điểm đạo đồ: Hãy để nhóm biết rằng không có những bản ngã nào khác. Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; rồi hãy để bóng tối thay chỗ ánh sáng, che giấu mọi khác biệt, xóa bỏ mọi hình tướng. Khi đó—tại điểm tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy—hãy để nhóm thấy một điểm lửa lạnh trong sáng, và trong lửa (ngay tại trung tâm của nó) hãy để Đấng Điểm đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng mà ngôi sao của Ngài đã chiếu sáng khi Cánh Cửa lần đầu được vượt qua. (R&I 21)

156. In a way, time or the experience of time is the ‘awareness of the sequence of differences”. When homogeneity can be perceived regardless of apparent difference, the sense of time ceases.

156. Theo một nghĩa nào đó, thời gian hay kinh nghiệm về thời gian là “sự nhận biết chuỗi tiếp nối của các dị biệt”. Khi tính đồng nhất có thể được nhận biết bất kể sự khác biệt biểu kiến, cảm thức về thời gian chấm dứt.

157. Spirit in essence is homogeneous. Matter in essence is also homogeneous, but students do not sufficiently distinguish between matter and form.

157. Tinh thần trong bản chất là đồng nhất. Vật chất trong bản chất cũng đồng nhất, nhưng các đạo sinh không phân biệt đầy đủ giữa vật chất và hình tướng.

This type of energy [the energy of the second aspect] in no way negates or renders useless the atomic rotary type,

Loại năng lượng này [năng lượng của phương diện thứ hai] không hề phủ nhận hay làm cho vô dụng loại quay nguyên tử,

158. The greater includes the lesser. This principle is constantly found in occultism.

158. Cái lớn hơn bao gồm cái nhỏ hơn. Nguyên lý này luôn luôn được tìm thấy trong huyền bí học.

159. And there is also a greater third aspect motion which includes lesser second aspect motions.

159. Và cũng có một chuyển động phương diện thứ ba lớn hơn bao gồm các chuyển động phương diện thứ hai nhỏ hơn.

but involves it, and yet at the same time it brings the atoms of all degrees under the influence of its own activity,

nhưng bao hàm nó, đồng thời cũng đưa các nguyên tử ở mọi cấp độ vào dưới ảnh hưởng của hoạt động riêng của nó,

160. Atoms continue their own rotary motion but become subject, as well, to spiral-cyclic motion—generically the motion usually considered associated with the second aspect of divinity.

160. Các nguyên tử tiếp tục chuyển động quay riêng của chúng nhưng đồng thời cũng trở thành đối tượng của chuyển động xoắn ốc-chu kỳ—nói chung là chuyển động thường được xem là gắn liền với phương diện thứ hai của thiên tính.

so that in every form which is in manifestation, the two types are manifested.

để cho trong mọi hình tướng đang biểu hiện, cả hai loại đều được biểu lộ.

161. Rotation and spiral cyclicity…

161. Sự quay và tính xoắn ốc-chu kỳ…

162. This dual demonstration is certainly how it is now.

162. Sự biểu lộ nhị phân này chắc chắn là cách mà nó đang là hiện nay.

I would here remind the student that we are primarily considering the force of the second aspect

Ở đây tôi muốn nhắc đạo sinh rằng chúng ta chủ yếu đang xem xét mãnh lực của phương diện thứ hai

163. And this despite all the various angles of vision presented in the foregoing text

163. Và điều này bất chấp mọi góc độ tầm nhìn khác nhau được trình bày trong phần bản văn đi trước

as it concerns the human and superhuman kingdoms, or as the Manasaputras and their various groups are concerned.

khi nó liên quan đến các giới nhân loại và siêu nhân loại, hay khi các Manasaputras và các nhóm khác nhau của các Ngài được xét đến.

164. Again, the “Manasaputras”—not called “Divine Manasaputras” in this instance, function most specifically under the second aspect of divinity.

164. Một lần nữa, các “Manasaputras”—không được gọi là “Các Manasaputras Thiêng Liêng” trong trường hợp này—vận hành một cách đặc biệt nhất dưới phương diện thứ hai của thiên tính.

165. The human and super-human kingdoms are considered as various groups within the body of manifestation of the Divine Manasaputras.

165. Các giới nhân loại và siêu nhân loại được xem như những nhóm khác nhau bên trong thể biểu hiện của các Manasaputras Thiêng Liêng.

On the involutionary arc, the Vishnu force is likewise felt,

Trên cung giáng hạ tiến hoá, mãnh lực Vishnu cũng được cảm nhận,

166. We are speaking of the first part of the Second Outpouring.

166. Chúng ta đang nói về phần đầu tiên của Lần Tuôn Đổ thứ Hai.

but until the nature of the group soul is more apprehended,

nhưng cho đến khi bản chất của Hồn nhóm được lĩnh hội nhiều hơn,

167. And, truly, at this time it is not well apprehended. The formation of group souls occurs on the downward arc of the Second Outpouring, but is still active on the evolutionary arc until individualization is reached.

167. Và quả thật, vào lúc này nó chưa được lĩnh hội rõ. Sự hình thành các hồn nhóm xảy ra trên cung đi xuống của Lần Tuôn Đổ thứ Hai, nhưng vẫn còn hoạt động trên cung tiến hoá cho đến khi đạt tới biệt ngã hóa.

and the quality of the Life who informs each of the subhuman kingdoms of nature is known with greater accuracy,

và phẩm tính của Sự Sống phú linh cho mỗi giới dưới nhân loại của thiên nhiên được biết đến với độ chính xác lớn hơn,

168. We are speaking of the second aspect of divinity which is that aspect which demonstrates as quality.

168. Chúng ta đang nói về phương diện thứ hai của thiên tính, là phương diện biểu lộ thành phẩm tính.

169. Such a Life (informing each of the sub-human kingdoms) is a great systemic Being. The Lords of the kingdoms are primarily systemic Beings, but in Their subdivisions become planetary.

169. Một Sự Sống như thế (phú linh cho mỗi giới dưới nhân loại) là một Hữu thể hệ thống vĩ đại. Các Chúa Tể của các giới trước hết là những Hữu thể hệ thống, nhưng trong các phân bộ của Các Ngài thì trở thành hành tinh.

170. A little has been written about the relationship between the Being informing the animal kingdom and the Being informing the human kingdom, but not much else.

170. Một ít điều đã được viết về mối liên hệ giữa Hữu thể phú linh cho giới động vật và Hữu thể phú linh cho giới nhân loại, nhưng ngoài ra thì không nhiều.

171. It also seems that the Being informing the vegetable kingdom is the most advanced (relatively) of the Lords of all the three lower kingdoms.

171. Dường như Hữu thể phú linh cho giới thực vật cũng là vị tiến bộ nhất (xét tương đối) trong các Chúa Tể của cả ba giới thấp.

it will profit us more to deal with force as it affects the human being, the planet on which he may be found, and the system in which that planet is playing its part.

sẽ có ích cho chúng ta hơn nếu bàn đến mãnh lực khi nó tác động lên con người, hành tinh nơi y có thể được tìm thấy, và hệ thống trong đó hành tinh ấy đang giữ phần việc của nó.

172. DK is suggesting that we should consider the effect of the second aspect of divinity, or spiral-cyclic motion, or the Law of Attraction, on a higher turn of the spiral where it is possible to achieve better understanding. In other words we are to concentrate on the manner in which this force affects the human kingdom and not the lower kingdoms of nature.

172. Chân sư DK đang gợi ý rằng chúng ta nên xem xét hiệu quả của phương diện thứ hai của thiên tính, hay chuyển động xoắn ốc-chu kỳ, hay Định luật Hấp Dẫn, trên một vòng xoắn cao hơn nơi có thể đạt được sự thấu hiểu tốt hơn. Nói cách khác, chúng ta phải tập trung vào cách thức mà mãnh lực này tác động lên giới nhân loại chứ không phải các giới thấp của thiên nhiên.

173. The true nature of the consciousness of the lower kingdoms is still very opaque to present human understanding.

173. Bản chất thực sự của tâm thức của các giới thấp vẫn còn rất mờ đục đối với sự thấu hiểu hiện nay của con người.

The activity of the second aspect has been called spiral-cyclic, which in itself involves the concept of duality.

Hoạt động của phương diện thứ hai đã được gọi là xoắn ốc-chu kỳ, mà tự nó bao hàm khái niệm về nhị nguyên tínhy.

174. Wherever the second aspect is mentioned duality is inescapably involved.

174. Bất cứ nơi nào phương diện thứ hai được nhắc đến thì nhị nguyên tính đều tất yếu được bao hàm.

175. Our solar system is a Love-Wisdom solar system and the second ray is a manifestly dual ray.

175. Hệ mặt trời của chúng ta là một hệ mặt trời Bác Ái – Minh Triết và cung hai là một cung biểu hiện rõ rệt tính kép.

176. In this reference, DK discusses the activity of the second aspect in relation to spiral-cyclic motion and not only in relation to cyclic motion which He does as well in the text covered in this commentary.

176. Trong chỗ dẫn này, Chân sư DK bàn đến hoạt động của phương diện thứ hai trong liên hệ với chuyển động xoắn ốc-chu kỳ chứ không chỉ trong liên hệ với chuyển động chu kỳ, điều mà Ngài cũng làm trong phần văn bản được khảo sát trong lời bình này.

177. Shortly below, we will find DK taking the term “spiral-cyclic” and relating it to a combination of both first and second ray motions.

177. Ngay bên dưới, chúng ta sẽ thấy Chân sư DK lấy thuật ngữ “xoắn ốc-chu kỳ” và liên hệ nó với sự kết hợp của cả chuyển động cung một lẫn cung hai.

This activity is the cause of all cyclic evolution, and has been called in the occult phraseology "the activity of Brahma's year."

Hoạt động này là nguyên nhân của mọi tiến hoá theo chu kỳ, và đã được gọi trong cụm từ huyền bí là “hoạt động của năm Brahma”.

178. “Cyclic evolution” involves the idea of repetition but also of ascent.

178. “Tiến hoá theo chu kỳ” bao hàm ý niệm lặp lại nhưng cũng bao hàm sự thăng tiến.

179. The occult phraseology here offered is very interesting. Implied is the ascent in consciousness which occurs with each succeeding “Year of Brahma”. Sometimes a “Year of Brahma” has been considered as a round, but sometimes, strangely, as the period of duration of a planetary scheme.

179. Cụm từ huyền bí được nêu ra ở đây rất đáng chú ý. Hàm ý ở đây là sự thăng lên trong tâm thức diễn ra theo mỗi “Năm của Brahma” kế tiếp. Đôi khi một “Năm của Brahma” được xem là một cuộc tuần hoàn, nhưng đôi khi, một cách lạ lùng, lại được xem là thời kỳ tồn tại của một hệ hành tinh.

180. When we consider rounds we should consider them as containing a spiralling dimension. Each succeeding round is evolutionarily in advance of the preceding.

180. Khi chúng ta xét đến các cuộc tuần hoàn, chúng ta nên xem chúng như có chứa một chiều kích xoắn ốc. Mỗi cuộc tuần hoàn kế tiếp đều tiến hoá vượt trước cuộc tuần hoàn trước đó.

It is that which brings about the [Page 1033] periodical appearing and disappearing of all existences, great or small.

Chính điều đó mang lại [Page 1033] sự xuất hiện và biến mất theo chu kỳ của mọi tồn tại, lớn hay nhỏ.

181. We see how spiral-cyclic motion, the motion of the second aspect of divinity, is directly related to the Law of Periodicity.

181. Chúng ta thấy chuyển động xoắn ốc-chu kỳ, chuyển động của phương diện thứ hai của thiên tính, có liên hệ trực tiếp với Định luật Chu Kỳ.

182. This type of motion seems to demand the relinquishing of form so that a new form can reappear on a higher turn of the spiral.

182. Loại chuyển động này dường như đòi hỏi phải từ bỏ hình tướng để một hình tướng mới có thể tái xuất hiện trên một vòng xoắn cao hơn.

183. This makes sense because as consciousness expands and deepens under spiral-cyclic motion, a new type of form is needed through which the advancing consciousness can more adequately express.

183. Điều này hợp lý, bởi vì khi tâm thức mở rộng và đào sâu dưới chuyển động xoắn ốc-chu kỳ, một loại hình tướng mới là cần thiết để qua đó tâm thức đang tiến lên có thể biểu lộ đầy đủ hơn.

184. Rotary motion, per se, does not demand the disappearance of the form.

184. Chính chuyển động quay, chính nó, không đòi hỏi sự biến mất của hình tướng.

It is intimately linked with the will aspect of Divinity, and with the Lipika Lords of the highest degree and its origin is, therefore, difficult for us to comprehend.

Nó gắn bó mật thiết với phương diện ý chí của thiên tính, và với các Đấng Lipika ở cấp độ cao nhất, vì thế nguồn gốc của nó khó để chúng ta thấu hiểu.

185. We are speaking of the manner in which second ray motion is related to the First Divine Aspect. The Lipika Lords of highest degree are directly related to the first aspect.

185. Chúng ta đang nói về cách mà chuyển động cung hai liên hệ với Phương diện Thiêng liêng thứ nhất. Các Đấng Lipika ở cấp độ cao nhất có liên hệ trực tiếp với phương diện thứ nhất.

186. Further, the will as it expresses in this solar system, is an expression of Love-Wisdom, and therefore linked directly to the second aspect.

186. Hơn nữa, ý chí, như nó biểu lộ trong hệ mặt trời này, là một biểu hiện của Bác Ái – Minh Triết, và do đó liên kết trực tiếp với phương diện thứ hai.

187. We might think of the motion of the first aspect as driving the motion of the second aspect—as making second aspect motion possible.

187. Chúng ta có thể nghĩ đến chuyển động của phương diện thứ nhất như đang thúc đẩy chuyển động của phương diện thứ hai—như làm cho chuyển động của phương diện thứ hai trở nên khả hữu.

188. The Spirit is always the source of progression or “progress onward”.

188. Tinh thần luôn luôn là nguồn gốc của sự tiến triển hay “tiến lên phía trước”.

189. When thinking of the second aspect itself, it is always possible to expand without progressing. Expansion would be “more of the same”. Progression would involve something new.

189. Khi suy nghĩ về chính phương diện thứ hai, luôn luôn có thể mở rộng mà không tiến triển. Sự mở rộng sẽ là “nhiều hơn của cùng một điều”. Sự tiến triển sẽ bao hàm một điều gì mới.

190. With regard to the Lipikas, we must remember that for our Solar Logos Sirius (and the great Lipika Lives there found) is the source of karma.

190. Liên quan đến các Lipika, chúng ta phải nhớ rằng đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, Sirius (và các Sự sống Lipika vĩ đại được tìm thấy ở đó) là nguồn của nghiệp quả.

Perhaps all that can be said about it is that it is largely due to certain impulses which (as far as our solar system is concerned) can be traced to the sun Sirius.

Có lẽ tất cả những gì có thể nói về nó là rằng nó phần lớn là do một số xung lực nào đó mà (xét theo hệ mặt trời của chúng ta) có thể được truy nguyên về mặt trời Sirius.

191. Sirius can be considered related to the all three aspects of divinity. We know that the Lipika Lords Who karmically administrate our Solar Logos and His system have residence on Sirius and come forth from Sirius. They impose karma on our Solar Logos and hence express a first aspect function.

191. Sirius có thể được xem là liên hệ với cả ba phương diện của thiên tính. Chúng ta biết rằng các Đấng Lipika, Đấng quản trị nghiệp quả cho Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ của Ngài, cư ngụ trên Sirius và xuất phát từ Sirius. Các Ngài áp đặt nghiệp quả lên Thái dương Thượng đế của chúng ta và do đó biểu lộ một chức năng của phương diện thứ nhất.

192. Yet Sirius is, from one perspective, the Cosmic Christ and as the One Who bestowed manasic stimulation upon our Solar Logos can also be related to the third aspect of divinity.

192. Tuy nhiên, Sirius, từ một góc nhìn, là Đức Christ Vũ Trụ và, với tư cách là Đấng đã ban sự kích thích manas cho Thái dương Thượng đế của chúng ta, cũng có thể được liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.

193. DK seems to be saying that all within our solar system is spiraling upward due to impulses emanating form the Logos of the star Sirius.

193. Chân sư DK dường như đang nói rằng mọi sự bên trong hệ mặt trời của chúng ta đều đang xoắn ốc đi lên do các xung lực phát ra từ Thượng đế của ngôi sao Sirius.

These impulses find their analogy in the impulses emanating in cyclic fashion from the causal body of man,

Những xung lực này tìm thấy sự tương đồng của chúng trong những xung lực phát ra theo cách chu kỳ từ thể nguyên nhân của con người,

194. The implication in this context is that Sirius is to our Solar Logos and His solar system as the causal body is to man.

194. Hàm ý trong bối cảnh này là Sirius đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ mặt trời của Ngài cũng như thể nguyên nhân đối với con người.

195. From the point of view we can consider the causal body a tiny representative of the Sirian energy, and the Solar Angels as Representatives of Sirius.

195. Từ quan điểm này, chúng ta có thể xem thể nguyên nhân là một đại diện nhỏ bé của năng lượng Sirian, và các Thái dương Thiên Thần là các Đại Diện của Sirius.

which impulses bring about his appearance upon the plane of maya for a temporary period.

những xung lực này mang lại sự xuất hiện của y trên cõi ảo lực trong một thời kỳ tạm thời.

196. Impulses from the causal body cause the emergence of the human being into incarnation and his withdrawal to the inner planes with the incarnational cycle is completed.

196. Các xung lực từ thể nguyên nhân gây ra sự xuất hiện của con người vào lâm phàm và sự rút lui của y vào các cõi bên trong khi chu kỳ nhập thể hoàn tất.

A hint may here be given to the earnest student; in the threefold Ego (the lives who form the central bud, the lives of the petals, and the triple group of lives who form the three permanent atoms—[all of these three groups are solar angelic lives]) is seen a correspondence to the three groups of Lipika Lords who are the karmic cause of solar manifestation, and who control its periodic manifestation.

Ở đây có thể đưa ra một gợi ý cho đạo sinh chí thành; trong Chân ngã tam phân (các sự sống tạo thành nụ trung tâm, các sự sống của các cánh hoa, và nhóm tam phân các sự sống tạo thành ba nguyên tử trường tồn—[tất cả ba nhóm này đều là các sự sống thái dương thiên thần]) người ta thấy một sự tương ứng với ba nhóm các Đấng Lipika là những Đấng là nguyên nhân nghiệp quả của sự biểu hiện thái dương, và kiểm soát sự biểu hiện theo chu kỳ của nó.

197. Are we to correlate the Lipika Lords with the greater Solar Angels found on the cosmic mental plane? It if from this cosmic plane that the Solar Logos comes forth into cosmic manifestation—presumably with the aid of the greater Solar Angels and the Lipika Lords. Are They to be considered equivalent? This must be researched.

197. Chúng ta có nên tương quan các Đấng Lipika với các Thái dương Thiên Thần lớn hơn được tìm thấy trên cõi trí vũ trụ chăng? Chính từ cõi vũ trụ này mà Thái dương Thượng đế đi ra vào biểu hiện vũ trụ—có lẽ với sự trợ giúp của các Thái dương Thiên Thần lớn hơn và các Đấng Lipika. Có nên xem Các Ngài là tương đương nhau không? Điều này cần được nghiên cứu.

198. From what is here said, it seems that the Lipika Lords are ‘sending’ the Solar Logos into incarnational existence and are doing so according the cosmic Law of Karma which They administrate.

198. Từ những gì được nói ở đây, dường như các Đấng Lipika đang ‘gửi’ Thái dương Thượng đế vào sự tồn tại nhập thể và làm như vậy theo Định luật Nghiệp quả vũ trụ mà Các Ngài quản trị.

199. There is no doubt that we are presented with a profound occult hint.

199. Không còn nghi ngờ gì rằng chúng ta đang được trình bày một gợi ý huyền bí sâu xa.

200. How shall we interpret this?

200. Chúng ta sẽ diễn giải điều này như thế nào?

201. Perhaps we should begin by realizing that there are Lipika Lords Who remain ‘on’ Sirius (the three great Orders of Lives on Sirius) and Those which are delegated to ‘go’ to our solar system and there administrate karma.

201. Có lẽ chúng ta nên bắt đầu bằng cách nhận ra rằng có những Đấng Lipika ở lại ‘trên’ Sirius (ba Đại Đẳng Cấp Sự Sống trên Sirius) và những Đấng được ủy phái ‘đi’ đến hệ mặt trời của chúng ta và tại đó quản trị nghiệp quả.

The Lipika Lords of our system, the systemic Lords of Karma, are under the rule of a greater corresponding Lord on Sirius. (TCF 570)

Các Đấng Lipika của hệ chúng ta, các Chúa Tể Nghiệp quả của hệ, ở dưới quyền cai quản của một Chúa Tể tương ứng lớn hơn trên Sirius. (TCF 570)

202. Each Lipika Lord within our solar system has its higher correspondence on Sirius.

202. Mỗi Đấng Lipika trong hệ mặt trời của chúng ta đều có sự tương ứng cao hơn của mình trên Sirius.

203. We could say that the Ones Who remain (on Sirius) are closer to the first and second aspects of divinity and that the One Who are sent forth (probably as Emanations of the three Great Orders of Lives on Sirius) are closer to the third aspect.

203. Chúng ta có thể nói rằng những Đấng ở lại (trên Sirius) gần với các phương diện thứ nhất và thứ hai của thiên tính hơn, còn những Đấng được phái đi (có lẽ như các phát xạ của ba Đại Đẳng Cấp Sự Sống trên Sirius) gần với phương diện thứ ba hơn.

204. We know with certainty that the solar angelic lives which inform or substand the three synthesis petals are of a higher emanatory calibre than the solar angels substanding nine petals of the egoic lotus and those substanding the members of the atomic triangle. The latter are, of course, associated with the third aspect of divinity. The Solar Angels substanding the bud are to be related to the first aspect and the Solar Angels substanding the nine petals to the second aspect. Yet even within the synthesis petals there is something of the second aspect since this tier of petals was formed by a downflow of buddhi.

204. Chúng ta biết chắc rằng các sự sống thái dương thiên thần thấm nhuần hay làm nền cho ba cánh hoa tổng hợp thuộc về một cấp bậc phát xạ cao hơn các thái dương thiên thần làm nền cho chín cánh hoa của hoa sen chân ngã và những vị làm nền cho các thành phần của tam giác nguyên tử. Dĩ nhiên, nhóm sau được liên kết với phương diện thứ ba của thiên tính. Các Thái dương Thiên Thần làm nền cho nụ phải được liên hệ với phương diện thứ nhất và các Thái dương Thiên Thần làm nền cho chín cánh hoa với phương diện thứ hai. Tuy nhiên, ngay cả trong các cánh hoa tổng hợp vẫn có điều gì đó của phương diện thứ hai vì tầng cánh hoa này được hình thành bởi một dòng tuôn đổ của Bồ đề.

205. We may infer that the Lipikas on Sirius are meant to induce in the Solar Logos the realization of cosmic synthesis, just as the function of the synthesis petals is to induce in man a much lower and microcosmic sense of synthesis.

205. Chúng ta có thể suy ra rằng các Lipika trên Sirius có mục đích gây ra nơi Thái dương Thượng đế sự chứng nghiệm tổng hợp vũ trụ, cũng như chức năng của các cánh hoa tổng hợp là gây ra nơi con người một cảm thức tổng hợp thấp hơn nhiều và mang tính tiểu thiên địa.

206. It is to be noted that when Lipika Lords come to our solar system, They come or manifest in groups.

206. Cần lưu ý rằng khi các Đấng Lipika đến hệ mặt trời của chúng ta, Các Ngài đến hay biểu hiện theo nhóm.

207. The relationship between the Lipika Lords of our system and the Four Maharajas (making seven groups) is to be carefully explored.

207. Mối liên hệ giữa các Đấng Lipika của hệ chúng ta và Bốn Maharaja (tạo thành bảy nhóm) cần được khảo sát cẩn trọng.

208. They are a high example of a higher three and a lower four.

208. Các Ngài là một thí dụ cao về một bộ ba cao hơn và một bộ bốn thấp hơn.

These three groups are related to Their guiding Intelligences on Sirius.

Ba nhóm này có liên hệ với các Trí Tuệ hướng dẫn của Các Ngài trên Sirius.

209. To be clear, we have so far:

209. Để rõ ràng, cho đến nay chúng ta có:

a. A triple group of “guiding Intelligences” on Sirius. They are the higher correspondences of the Lipika Lords sent to our solar system.

a. Một nhóm tam phân các “Trí Tuệ hướng dẫn” trên Sirius. Các Ngài là những sự tương ứng cao hơn của các Đấng Lipika được phái đến hệ mặt trời của chúng ta.

b. Three groups of Lipika Lords within our solar system and guided by the Lords on Sirius.

b. Ba nhóm các Đấng Lipika trong hệ mặt trời của chúng ta và được các Chúa Tể trên Sirius hướng dẫn.

c. A triple structure within the egoic lotus of man:

c. Một cấu trúc tam phân bên trong hoa sen chân ngã của con người:

i. The lives substanding the bud or synthesis petals plus, perhaps, the Jewel in the Lotus

i. Các sự sống làm nền cho nụ hay các cánh hoa tổng hợp cộng thêm, có lẽ, Bảo Châu trong Hoa Sen

ii. The lives substanding the nine petals of the egoic lotus

ii. Các sự sống làm nền cho chín cánh hoa của hoa sen chân ngã

iii. The lives substanding the members of the atomic triangle.

iii. Các sự sống làm nền cho các thành phần của tam giác nguyên tử.

210. We are presented with a threefold connection.

210. Chúng ta được trình bày một mối liên kết tam phân.

a. The Lives on Sirius uphold, relatively, the function of the first aspect, through in three divisions.

a. Các Sự Sống trên Sirius tương đối duy trì chức năng của phương diện thứ nhất, dù trong ba phân bộ.

b. The Lipika Lords within our solar system are, relative to the Lives on Sirius, representatives of the second aspect, though relative to our Solar Logos and His expression within His solar system, these Lipika have a very first ray function.

b. Các Đấng Lipika trong hệ mặt trời của chúng ta, xét tương đối với các Sự Sống trên Sirius, là những đại diện của phương diện thứ hai, dù xét tương đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta và biểu hiện của Ngài trong hệ mặt trời của Ngài, các Lipika này có một chức năng cung một rất mạnh.

c. The solar angelic lives, substanding the structure of the human egoic lotus are, in this context, up holding the functions of the third aspect.

c. Các sự sống thái dương thiên thần, làm nền cho cấu trúc của hoa sen chân ngã của con người, trong bối cảnh này đang duy trì các chức năng của phương diện thứ ba.

211. It becomes clear that Solar Angels are karmic agents of the Lipika Lords, receiving ‘instructions’ one would think, from these greater Beings and administrating the appropriate karma to the human being under supervision.

211. Rõ ràng là các Thái dương Thiên Thần là những tác nhân nghiệp quả của các Đấng Lipika, nhận ‘chỉ thị’, người ta có thể nghĩ vậy, từ các Đấng vĩ đại hơn này và quản trị nghiệp quả thích hợp cho con người dưới sự giám sát.

212. This relationship between three groups of intra-systemic Lipikas and three groups of Solar Angels deserves close consideration. Light will be thrown upon the functions of each by examining the analogical comparison.

212. Mối liên hệ giữa ba nhóm Lipika nội hệ này và ba nhóm Thái dương Thiên Thần đáng được xem xét kỹ lưỡng. Ánh sáng sẽ được soi rọi lên chức năng của mỗi bên bằng cách khảo sát sự so sánh tương đồng.

The Law of Periodicity is the effect produced by the amalgamation of these two types of force with a third.

Định luật Chu Kỳ là hiệu quả được tạo ra bởi sự hòa trộn của hai loại mãnh lực này với một loại thứ ba.

213. Now we have the clarification of what DK seemed to be hinting in the foregoing discussions.

213. Giờ đây chúng ta có sự làm sáng tỏ về điều mà Chân sư DK dường như đã gợi ý trong những phần bàn luận trước đós.

214. From one perspective, in the motions of the Law of Periodicity, there is both repetition (third aspect) and yet spiral-cyclic vibrational advancement (second aspect cyclicity with first aspect spirality), and thus the blending of the third and second aspects (with the first implied within the second). There would be no purpose in periodicity if there we not a refinement of form and an elevation of consciousness accompanying the process.

214. Từ một góc nhìn, trong các chuyển động của Định luật Chu Kỳ, vừa có sự lặp lại (phương diện thứ ba) vừa có sự tiến bộ rung động theo xoắn ốc-chu kỳ (tính chu kỳ của phương diện thứ hai cùng với tính xoắn ốc của phương diện thứ nhất), và do đó có sự hòa trộn của phương diện thứ ba và thứ hai (với phương diện thứ nhất được hàm ý trong phương diện thứ hai). Sẽ không có mục đích nào trong tính chu kỳ nếu không có sự tinh luyện hình tướng và sự nâng cao tâm thức đi kèm tiến trình này.

215. We see that when spiral-cyclic motion is usually considered related to the second aspect, but when one analyzes its constituents, it is considered to be a union of first and second aspects energies—‘spirality’ related to the first aspect and ‘cyclicity’ related to the second.

215. Chúng ta thấy rằng khi chuyển động xoắn ốc-chu kỳ thường được xem là liên hệ với phương diện thứ hai, nhưng khi người ta phân tích các thành phần của nó, nó được xem là sự hợp nhất của các năng lượng phương diện thứ nhất và thứ hai—‘tính xoắn ốc’ liên hệ với phương diện thứ nhất và ‘tính chu kỳ’ liên hệ với phương diện thứ hai.

The two types of force or energy are the activity of the first Aspect, the logoic will or purpose, and the energy of the second aspect.

Hai loại mãnh lực hay năng lượng ấy là hoạt động của Phương diện thứ nhất, ý chí hay mục đích logoic, và năng lượng của phương diện thứ hai.

216. How shall we apportion these forces? We realize that when the motion of the first aspect is applied to the motion of the third aspect, the motion of the second aspect of produced. This is easily seen.

216. Chúng ta sẽ phân định các mãnh lực này như thế nào? Chúng ta nhận ra rằng khi chuyển động của phương diện thứ nhất được áp dụng vào chuyển động của phương diện thứ ba, thì chuyển động của phương diện thứ hai được tạo ra. Điều này dễ thấy.

217. DK seems, however, to be speaking of the union of the first and second types of forces and their blending with the third or rotary force, rather than considering spiral-cyclic motion as emerging from the union of the first and third types.

217. Tuy nhiên, Chân sư DK dường như đang nói về sự hợp nhất của loại mãnh lực thứ nhất và thứ hai cùng sự hòa trộn của chúng với mãnh lực thứ ba hay mãnh lực quay, hơn là xem chuyển động xoắn ốc-chu kỳ như phát sinh từ sự hợp nhất của loại thứ nhất và thứ ba.

218. In some way, both cyclic motion and spiral-cyclic motion are derived from the first type of motion—the energy of “progress onwards”.

218. Theo một cách nào đó, cả chuyển động chu kỳ lẫn chuyển động xoắn ốc-chu kỳ đều bắt nguồn từ loại chuyển động thứ nhất—năng lượng của “tiến lên phía trước”.

219. Unlike strictly rotary motion, cyclic motion implies some degree of growth and expansion. Spiral-cyclic motion definitely suggests elevation (on a higher turn of the spiral).

219. Không giống chuyển động quay thuần túy, chuyển động chu kỳ hàm ý một mức độ tăng trưởng và mở rộng nào đó. Chuyển động xoắn ốc-chu kỳ chắc chắn gợi ý sự nâng cao (trên một vòng xoắn cao hơn).

This purpose is hidden in foreknowledge of the Logos and is completely hidden even from the Adept of the fifth Initiation.

Mục đích này được che giấu trong sự biết trước của Thượng đế và hoàn toàn bị che giấu ngay cả đối với chân sư của lần điểm đạo thứ năm.

220. The Masters, Themselves, are not apprised of the true Purpose of our Planetary Logos. How, then, are disciples of our calibre to fathom it?

220. Chính các Chân sư cũng không được biết Mục Đích đích thực của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Vậy thì các đệ tử có cấp độ như chúng ta làm sao có thể dò thấu được?

221. It is as if DK is saying that the two types of motion/force are contained within that type of motion/force which is to be blended with rotary motion/force.

221. Dường như Chân sư DK đang nói rằng hai loại chuyển động/mãnh lực được chứa bên trong loại chuyển động/mãnh lực sẽ được hòa trộn với chuyển động/mãnh lực quay.

The Adept has achieved a comprehension of the purpose of the Son, and for Him there remains the problem to recognise the purpose of the Father.

Chân sư đã đạt được sự thấu hiểu mục đích của Con, và đối với Ngài vẫn còn vấn đề là nhận ra mục đích của Người Cha.

222. Purpose, itself, seems divided in three grades—that which applies to the Father; that which applies to the Son; and one would surmise that an aspect of the Purpose applies as well to the Mother aspect.

222. Bản thân Mục Đích dường như được chia thành ba cấp—điều áp dụng cho Người Cha; điều áp dụng cho Người Con; và người ta có thể suy đoán rằng một phương diện của Mục Đích cũng áp dụng cho phương diện Người Mẹ.

223. Technically, the Adept has not yet become the pure Monad. When He achieves the sixth initiation, this becomes possible and He will recognize the purpose of the Father.

223. Về mặt kỹ thuật, chân sư vẫn chưa trở thành Chân thần thuần túy. Khi Ngài đạt lần điểm đạo thứ sáu, điều này trở nên khả hữu và Ngài sẽ nhận ra mục đích của Người Cha.

The one is the impulse behind the forward movement of all life, and the other the impulse behind its cyclic activity, and this is called spiral-cyclic.

Một là xung lực đứng sau sự chuyển động tiến tới của mọi sự sống, và cái kia là xung lực đứng sau hoạt động chu kỳ của nó, và điều này được gọi là xoắn ốc-chu kỳ.

224. It is the Father Who is responsible for “the forward movement of all life”. This type of motion is called “progress onwards” or “driving forward through space”.

224. Chính Người Cha chịu trách nhiệm cho “sự chuyển động tiến tới của mọi sự sống”. Loại chuyển động này được gọi là “tiến lên phía trước” hay “được thúc đẩy tiến tới xuyên qua không gian”.

225. It is the Son or Deity representing the second aspect Who is responsible for the impulse behind the cyclic activity of all life.

225. Chính Người Con hay Thượng đế đại diện cho phương diện thứ hai chịu trách nhiệm cho xung lực đứng sau hoạt động chu kỳ của mọi sự sống.

226. Note that DK here equates “cyclic activity” with “spiral-cyclic motion”. In other references He seems to separate “cyclic activity” from “spiral-cyclic-activity”.

226. Lưu ý rằng ở đây Chân sư DK đồng nhất “hoạt động chu kỳ” với “chuyển động xoắn ốc-chu kỳ”. Trong những chỗ dẫn khác, Ngài dường như tách biệt “hoạt động chu kỳ” khỏi “hoạt động xoắn ốc-chu kỳ”.

When this blended dual force is brought in touch with the rotary activity of matter itself, we have the triple activity of the Ego,

Khi mãnh lực nhị nguyên đã hòa trộn này được đưa vào tiếp xúc với hoạt động quay của chính vật chất, chúng ta có hoạt động tam phân của Chân ngã,

227. The Ego puts forth recurrent personalities. This is, in one respect, rotary motion. The Ego sees to the spiralling elevation of those personalities. The Ego-as-Triad (representing the Monad) drives the consciousness (the consciousness of both the personality and Ego on the higher mental plane) forward according to that portion of the Divine Plan and Purpose which it apprehends.

227. Chân ngã phóng ra các phàm ngã tái diễn. Ở một phương diện, đây là chuyển động quay. Chân ngã bảo đảm sự nâng cao theo xoắn ốc của các phàm ngã ấy. Chân ngã-như-Tam nguyên tinh thần (đại diện cho chân thần) thúc đẩy tâm thức (tâm thức của cả phàm ngã lẫn chân ngã trên cõi thượng trí) tiến lên theo phần Thiên Cơ và Mục Đích thiêng liêng mà nó lĩnh hội được.

228. DK is speaking of the fusing of the two (first and second aspects) and their approach to the waiting, rotary third aspect.

228. Chân sư DK đang nói về sự dung hợp của hai phương diện (thứ nhất và thứ hai) và sự tiếp cận của chúng đối với phương diện thứ ba đang chờ đợi, tức phương diện quay.

229. The apparent discrepancy to keep in mind is that DK most often associates spiral-cyclic motion with the second aspect, but also speaks of it as containing “the activity of the first Aspect, the logoic will or purpose, and the energy of the second aspect”.

229. Điểm sai biệt bề ngoài cần ghi nhớ là Chân sư DK thường gắn chuyển động xoắn ốc-chu kỳ với phương diện thứ hai nhất, nhưng cũng nói về nó như chứa đựng “hoạt động của Phương diện thứ nhất, ý chí hay mục đích logoic, và năng lượng của phương diện thứ hai”.

230. Importantly, we should look back and consider the three types of Solar Angels underlying the egoic lotus. If we follow this analogy, the “blended dual force”, represents the energy of the synthesis petals and the energy of the nine normal petals of the egoic lotus, and the third type of force is associated with the energy of the lower permanent atoms (the mental unit, the astral permanent atom, and the physical permanent atom).

230. Điều quan trọng là chúng ta nên nhìn lại và xét đến ba loại Thái dương Thiên Thần làm nền cho hoa sen chân ngã. Nếu theo sự tương đồng này, “mãnh lực nhị nguyên đã hòa trộn” biểu thị năng lượng của các cánh hoa tổng hợp và năng lượng của chín cánh hoa thông thường của hoa sen chân ngã, còn loại mãnh lực thứ ba được liên kết với năng lượng của các nguyên tử trường tồn thấp hơn (đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục, và nguyên tử trường tồn hồng trần).

231. If we look at the constitution of the egoic lotus we can apportion the motions in the following way:

231. Nếu chúng ta nhìn vào cấu tạo của hoa sen chân ngã, chúng ta có thể phân định các chuyển động theo cách sau:

a. The motion of associated with the permanent atoms: rotary motion

a. Chuyển động gắn với các nguyên tử trường tồn: chuyển động quay

b. The motion associated with the causal body: cyclic motion (as distinguished from spiral cyclic motion.

b. Chuyển động gắn với thể nguyên nhân: chuyển động chu kỳ (phân biệt với chuyển động xoắn ốc-chu kỳ).

c. The motion associated with the spiritual triad: spiral-cyclic motion (as the spiritual triad is a blend of both second ray energy and first ray energy.

c. Chuyển động gắn với Tam Nguyên Tinh Thần: chuyển động xoắn ốc-chu kỳ (vì Tam Nguyên Tinh Thần là sự hòa trộn của cả năng lượng cung hai lẫn năng lượng cung một).

d. The motion associated with the Monad: “progress onwards” or “driving forward through space”

d. Chuyển động gắn với Chân thần: “tiến lên phía trước” hay “được thúc đẩy tiến tới xuyên qua không gian”

232. If we look at the constitution of the egoic lotus per se then:

232. Nếu chúng ta nhìn vào cấu tạo của chính hoa sen chân ngã thì:

a. The types of Solar Angels associated with the atomic triangle are associated with the energy of rotary motion.

a. Các loại Thái dương Thiên Thần gắn với tam giác nguyên tử được gắn với năng lượng của chuyển động quay.

b. The types of Solar Angels associated with the nine petals of the egoic lotus are associated with the energy of cyclic motion.

b. Các loại Thái dương Thiên Thần gắn với chín cánh hoa của hoa sen chân ngã được gắn với năng lượng của chuyển động chu kỳ.

c. The type of Solar Angels associated with the three synthesizing petals are associated with the energy of spiral-cyclic motion. These petals reflect the spiritual triad and so we see how this tabulation accords with the one given immediately above.

c. Loại Thái dương Thiên Thần gắn với ba cánh hoa tổng hợp được gắn với năng lượng của chuyển động xoắn ốc-chu kỳ. Các cánh hoa này phản chiếu Tam Nguyên Tinh Thần và vì thế chúng ta thấy bảng phân loại này phù hợp với bảng vừa nêu ngay trên.

d. Within the egoic lotus per se, we do not have a full representative of the motion of “progress onward” (TCF 1059), but the Jewel in the Lotus, in part, serves this function.

d. Trong chính hoa sen chân ngã, chúng ta không có một đại diện đầy đủ cho chuyển động của “tiến lên phía trước” (TCF 1059), nhưng Bảo Châu trong Hoa Sen phần nào đảm nhiệm chức năng này.

233. Thus, all four types of motion are represented in the egoic lotus by its four major structures: the atomic triangle; the nine petals; the three synthesis petals; the Jewel in the Lotus.

233. Như vậy, cả bốn loại chuyển động đều được biểu hiện trong hoa sen chân ngã qua bốn cấu trúc chính của nó: tam giác nguyên tử; chín cánh hoa; ba cánh hoa tổng hợp; Bảo Châu trong Hoa Sen.

234. Are there Solar Angels particularly associated with the Jewel in the Lotus, per se? As it is the representative of the Monad on the higher mental plane, perhaps not. This remains to be researched.

234. Có những Thái dương Thiên Thần đặc biệt gắn với chính Bảo Châu trong Hoa Sen chăng? Vì nó là đại diện của chân thần trên cõi thượng trí, có lẽ là không. Điều này vẫn cần được nghiên cứu.

235. Is it possible that if the three synthesis petals are macrocosmic representatives of the three intra-systemic Lipika Lords, that the Jewel in the Lotus, reflecting the triple Monad, is the representative of the controlling Lords Who direct the Lipikas from Sirius?

235. Có thể chăng nếu ba cánh hoa tổng hợp là những đại diện đại thiên địa của ba Đấng Lipika nội hệ, thì Bảo Châu trong Hoa Sen, phản chiếu Chân thần tam phân, là đại diện của các Chúa Tể kiểm soát, những Đấng chỉ đạo các Lipika từ Sirius?

236. One problematic discrimination is that between “cyclic activity” and “spiral-cyclic-activity”. They seem to be very similar, but the first does not carry the same progressive, elevative power.

236. Một sự phân biện khó khăn là giữa “hoạt động chu kỳ” và “hoạt động xoắn ốc-chu kỳ”. Chúng dường như rất giống nhau, nhưng loại thứ nhất không mang cùng quyền năng tiến bộ, nâng cao như vậy.

for instance, which is rotary-spiral-cyclic,

chẳng hạn, vốn là quay-xoắn ốc-chu kỳ,

237. This is DK’s description of the triple motion of the Ego.

237. Đây là mô tả của Chân sư DK về chuyển động tam phân của Chân ngã.

and that which results in the stimulation of the self-contained atom, in the periodical emergence of form, and in the [Page 1034] steady, though slow, progress towards a goal.

và điều dẫn đến sự kích thích của nguyên tử tự chứa, sự xuất hiện theo chu kỳ của hình tướng, và sự tiến bộ[Page 1034] đều đặn, dù chậm chạp, hướng tới một mục tiêu.

238. Let us tabulate. From rotary spiral-cyclic activity emerges:

238. Chúng ta hãy lập bảng. Từ hoạt động quay-xoắn ốc-chu kỳ phát sinh:

a. The stimulation of the self-contained atom. (Rotary motion)

a. Sự kích thích của nguyên tử tự chứa. (Chuyển động quay)

b. The periodical emergence of form (Cyclic motion or spiral-cyclic motion)

b. Sự xuất hiện theo chu kỳ của hình tướng (Chuyển động chu kỳ hoặc chuyển động xoắn ốc-chu kỳ)

Preamble for S8S10

Dear Fellow Students of A Treatise on Cosmic Fire,

Kính gửi các đạo sinh đồng học của Luận về Lửa Vũ Trụ,

We have entered that portion of the book in which truly vast considerations are found on nearly every page. We are engaged in a study of motion with all its differentiations—motion both in the microcosm and the macrocosm. DK has given us a truly abstract and impersonal way of viewing the process and progress of all atoms, great and small. As well, we ill find many illuminating notes from H.P.B. and The Secret Doctrine.

Chúng ta đã bước vào phần của cuốn sách trong đó những khảo sát thật sự bao la xuất hiện trên gần như mọi trang. Chúng ta đang tham gia vào một nghiên cứu về chuyển động với mọi sự biến phân của nó—chuyển động trong cả tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa. Chân sư DK đã trao cho chúng ta một cách nhìn thật sự trừu tượng và phi ngã về tiến trình và sự tiến bộ của mọi nguyên tử, lớn cũng như nhỏ. Đồng thời, chúng ta sẽ tìm thấy nhiều ghi chú soi sáng từ H.P.B. và Giáo Lý Bí Nhiệm.

In this commentary we will study the Law of Expansion which related to the process by means of which great Beings undergo an expansion of consciousness, and the "Law of Monadic Return" which is the analogue to the Law of Expansion as applied to the microcosm whose field of experience is the monadic auric egg.

Trong lời bình này, chúng ta sẽ nghiên cứu Định luật Mở Rộng, vốn liên hệ với tiến trình nhờ đó các Đấng vĩ đại trải qua một sự mở rộng tâm thức, và “Định luật Trở Về của Chân thần”, là sự tương đồng với Định luật Mở Rộng khi được áp dụng cho tiểu thiên địa, mà trường kinh nghiệm của nó là noãn hào quang chân thần.

The monadic pilgrimage is our main focus and all the many energies and forces to which the Monad is subject during that pilgrimage. The number of energy and forces are of great variety and their sources extend ‘upwards’ to the "One About Whom Naught May Be Said" and ‘downwards’ to the tiny atoms of substance.

Cuộc hành hương của chân thần là trọng tâm chính của chúng ta, cùng với tất cả nhiều năng lượng và mãnh lực mà Chân thần phải chịu trong suốt cuộc hành hương ấy. Số lượng các năng lượng và mãnh lực ấy vô cùng đa dạng và nguồn gốc của chúng trải dài ‘lên trên’ đến “Đấng Bất Khả Tư Nghị” và ‘xuống dưới’ đến những nguyên tử nhỏ bé của chất liệu.

All of us will have to work very carefully as we study this abstruse section of the book. I would recommend that you have your TCF book open before you as you read this commentary, the text of which is necessarily divided into relatively small sections. The open book will help you preserve continuity as you study.

Tất cả chúng ta sẽ phải làm việc thật cẩn trọng khi nghiên cứu phần khó hiểu này của cuốn sách. Tôi xin khuyến nghị rằng các bạn nên mở cuốn TCF trước mặt khi đọc lời bình này, mà văn bản của nó tất yếu được chia thành những phần tương đối nhỏ. Cuốn sách mở ra sẽ giúp các bạn giữ được tính liên tục khi các bạn nghiên cứu.

We will have to bring our powers of abstract thinking to this study. We are talking about things which we can only visualize and, even then, only dimly. But a sense of our monadic ‘place’ within the ‘Grand Scheme’ will surely begin to dawn in our consciousness and our occult understanding of planetary, systemic, cosmic logoic and super-cosmic logoic processes will be significantly stimulated.

Chúng ta sẽ phải vận dụng năng lực trí trừu tượng của mình vào công trình nghiên cứu này. Chúng ta đang nói về những điều mà chúng ta chỉ có thể hình dung, và ngay cả như thế cũng chỉ một cách mờ nhạt. Nhưng một cảm nhận về “vị trí” chân thần của chúng ta trong “Đại Thiên Cơ” chắc chắn sẽ bắt đầu ló rạng trong tâm thức chúng ta, và sự thấu hiểu huyền bí học của chúng ta về các tiến trình logoi hành tinh, hệ thống, vũ trụ và siêu-vũ-trụ sẽ được kích thích một cách đáng kể.

It’s summer now up here, so you can bring this commentary to the beach! 

Hiện nay trên này đang là mùa hè, nên các bạn có thể mang bản bình giải này ra bãi biển! 

Love and Many Blessings,

Thương mến và nhiều phúc lành,

Michael

Michael