← Commentary_S8_925_1078_song ngữ

S8S10

Trích nội dung chương

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) (Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)


S8S10

(1039 – 1054)

(1039 – 1054)

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng bản Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Giải

III. RESULTS OF ITS ACTIVITY.

III. CÁC KẾT QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG CỦA NÓ.

These results can be studied in four ways, considering each as a subsidiary Law of the basic Law of Attraction and Repulsion.

Những kết quả này có thể được nghiên cứu theo bốn cách, xem mỗi cách như một Định luật phụ thuộc của Định luật căn bản về Hấp Dẫn và Đẩy Lui.

1. We are in a first ray portion of the book during which the focus is upon “law” and “laws”.

1. Chúng ta đang ở trong một phần cung một của quyển sách, trong đó trọng tâm đặt vào “định luật” và “các định luật”.

All motion is the result literally of the impact, or intercourse, between atoms, and there is no atom anywhere which escapes this force.

Mọi chuyển động theo nghĩa đen đều là kết quả của sự va chạm, hay tương giao, giữa các nguyên tử, và không có nguyên tử nào ở bất cứ đâu thoát khỏi mãnh lực này.

2. We might however, ask, what is it which ‘moves’ the atoms so that there can be impact. If motion is the “result” of impact, what made that impact possible? How did motion arise—a deep question.

2. Tuy nhiên, chúng ta có thể hỏi: điều gì “làm chuyển động” các nguyên tử để có thể có sự va chạm? Nếu chuyển động là “kết quả” của va chạm, thì điều gì đã làm cho sự va chạm ấy trở nên khả hữu? Chuyển động đã phát sinh như thế nào—một câu hỏi sâu xa.

3. From another perspective, “intercourse” may not be the same as impact and may suggest a magnetic field which generates motion. For now, it seems best to think of the force which causes motion.

3. Từ một góc nhìn khác, “tương giao” có thể không đồng nhất với va chạm, và có thể gợi ý một trường từ tính tạo ra chuyển động. Hiện giờ, dường như tốt nhất là nghĩ đến mãnh lực gây ra chuyển động.

In the case of rotary motion, which governs the activity of the atom of substance, the impulse emanates from within the ring-pass-not, and is produced by the impact of the positive charge upon the negative charges.

Trong trường hợp của chuyển động xoay tròn, vốn chi phối hoạt động của nguyên tử chất liệu, xung lực phát ra từ bên trong vòng-giới-hạn, và được tạo ra bởi sự va chạm của điện tích dương lên các điện tích âm.

4. Much depends on how we define “impact”. If we define it as ‘influence’ rather than as, let us say, ‘collision’, we come closer to saying that motion is generates by energy or force.

4. Rất nhiều điều tùy thuộc vào cách chúng ta định nghĩa “va chạm”. Nếu chúng ta định nghĩa nó là “ảnh hưởng” thay vì, giả sử, là “đụng chạm”, thì chúng ta tiến gần hơn đến việc nói rằng chuyển động được tạo ra bởi năng lượng hay mãnh lực.

5. Rotary motion is not generated by the impact with, influence from or intercourse with other atoms. It arises from within the atom itself and is born of the relationship existing between the positive and negative charge within the atom.

5. Chuyển động xoay tròn không được tạo ra bởi sự va chạm với, ảnh hưởng từ, hay tương giao với các nguyên tử khác. Nó phát sinh từ bên trong chính nguyên tử và được sinh ra từ mối tương quan hiện hữu giữa điện tích dương và điện tích âm bên trong nguyên tử.

6. When the positive and negative within any atom engage, the atom moves.

6. Khi yếu tố dương và âm bên trong bất kỳ nguyên tử nào tương tác, nguyên tử ấy chuyển động.

7. We see then, how very individual rotary motion is.

7. Như vậy, chúng ta thấy chuyển động xoay tròn có tính cá biệt biết bao.

This is true of all atoms, cosmic, solar, individual, chemical, and so forth.

Điều này đúng với mọi nguyên tử, vũ trụ, thái dương, cá nhân, hóa học, v.v.

8. Rotation guarantees exposure to all energies within the sphere in which the rotating unit is contained. Thus rotation promotes the reception and assimilation of the influences necessary for growth.

8. Sự xoay tròn bảo đảm sự phơi mở trước mọi năng lượng bên trong khối cầu mà đơn vị đang xoay tròn được chứa trong đó. Vì vậy, sự xoay tròn thúc đẩy việc tiếp nhận và đồng hóa những ảnh hưởng cần thiết cho sự tăng trưởng.

9. The effect of the positive charge upon the negative charges induces atoms to move, but yet they are held in their orbits by both the attractive and the repulsive power of the nucleus, The only possible response then is rotary motion. The negative charges rotate themselves and at the same time revolve around the center from which acts as the nucleus of the system in which the atom finds its place. We see in the Earth’s motion (rotation and revolution) an analogy to the type of system discussed.

9. Tác động của điện tích dương lên các điện tích âm khiến các nguyên tử chuyển động, nhưng chúng vẫn được giữ trong quỹ đạo của mình bởi cả năng lực hấp dẫn lẫn năng lực đẩy lùi của hạt nhân. Khi ấy, đáp ứng khả hữu duy nhất là chuyển động xoay tròn. Các điện tích âm tự xoay quanh chính mình và đồng thời quay quanh trung tâm, trung tâm ấy hoạt động như hạt nhân của hệ thống mà trong đó nguyên tử tìm thấy vị trí của nó. Chúng ta thấy trong chuyển động của Trái Đất (tự quay và quay quanh) một sự tương đồng với loại hệ thống đang được bàn đến.

When, however, the effect of the rotation of the atom is so strong that it begins to affect other atoms outside its individual ring-pass-not,

Tuy nhiên, khi tác động của sự xoay tròn của nguyên tử mạnh đến mức nó bắt đầu ảnh hưởng đến các nguyên tử khác bên ngoài vòng-giới-hạn cá biệt của nó,

10. We see that one type of motion leads to another. The effect of a sufficiently stimulated atom is not confined within itself. It reaches a point when it influences the field in which it is found.

10. Chúng ta thấy rằng một loại chuyển động dẫn đến một loại khác. Tác động của một nguyên tử được kích thích đầy đủ không bị giới hạn trong chính nó. Nó đạt đến một điểm mà tại đó nó ảnh hưởng đến trường nơi nó hiện diện.

another influence begins to make itself felt, which draws together, or dissipates, those contacting coalescing atoms.

một ảnh hưởng khác bắt đầu tự biểu lộ, ảnh hưởng này kéo các nguyên tử đang tiếp xúc và đang kết tụ lại với nhau, hoặc làm tiêu tan chúng.

11. We can recognize this second type of motion as related to the Law of Attraction and Repulsion.

11. Chúng ta có thể nhận ra loại chuyển động thứ hai này là có liên hệ với Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi.

12. A rotating atom is sounding its note and if it rotates with sufficient strength and intensity that note reaches other atoms which are either attracted or repelled by the quality of the note. As long as the rotation is of insufficient strength or intensity this attractive and repulsive action is not experienced.

12. Một nguyên tử đang xoay tròn đang xướng lên âm điệu của nó, và nếu nó xoay tròn với đủ sức mạnh và cường độ, âm điệu ấy sẽ chạm đến các nguyên tử khác, những nguyên tử này hoặc bị hút hoặc bị đẩy bởi phẩm tính của âm điệu đó. Chừng nào sự xoay tròn chưa đủ mạnh hay đủ cường độ, thì hành động hấp dẫn và đẩy lùi này chưa được cảm nhận.

13. The Law of Economy (which governs individual rotation) is first to manifest just as the manifestation of the third ray precedes that of the second. The Law of Attraction and Repulsion manifests next and ends the strictly ‘individual phase’ point of focus the atom.

13. Định luật Tiết Kiệm (chi phối sự xoay tròn cá biệt) là định luật đầu tiên biểu lộ, cũng như sự biểu lộ của cung ba đi trước cung hai. Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi biểu lộ tiếp theo và chấm dứt giai đoạn hoàn toàn “cá biệt” là điểm tập trung của nguyên tử.

Thus forms are built under the impulse of aggregated forces of some one kind,

Như vậy các hình tướng được xây dựng dưới xung lực của những mãnh lực kết tập thuộc một loại nào đó,

14. The second ray is the form-building ray.

14. cung hai là cung xây dựng hình tướng.

15. We can imagine how units of matter (densified, “congested” forces) aggregate.

15. Chúng ta có thể hình dung cách các đơn vị vật chất (những mãnh lực được làm đậm đặc, “ứ đọng”) kết tập lại.

16. How, however, do we understand the aggregation of forces?

16. Tuy nhiên, chúng ta hiểu sự kết tập của các mãnh lực như thế nào?

17. Can forces interpenetrate each other and occupy the same field? It would seem so. The more concentrated these forces are within a given field, then the more aggregated they are.

17. Các mãnh lực có thể xuyên nhập lẫn nhau và chiếm cùng một trường không? Có vẻ là có. Những mãnh lực này càng tập trung trong một trường nhất định, thì chúng càng được kết tập nhiều hơn.

18. Let us take an analogy: several powerful individuals of very different character are sitting in the same room. Another person enters the room and is subjected to the influence of all of these individuals simultaneously. It would be very different, however, if only one of the individuals were in the room and the other were thousands of miles away and incommunicado. The aggregation of forces would have been greatly reduced.

18. Hãy lấy một sự tương đồng: vài cá nhân mạnh mẽ với tính cách rất khác nhau đang ngồi trong cùng một căn phòng. Một người khác bước vào phòng và đồng thời chịu ảnh hưởng của tất cả những cá nhân ấy. Tuy nhiên, sẽ rất khác nếu chỉ có một trong những cá nhân ấy ở trong phòng còn những người kia ở cách xa hàng ngàn dặm và không thể liên lạc. Sự kết tập của các mãnh lực khi đó sẽ giảm đi rất nhiều.

and these forms in turn produce effects on other cohering atomic forms,

và đến lượt mình, các hình tướng này tạo ra những tác động lên các hình tướng nguyên tử cố kết khác,

19. Groups of atoms within coherent forms affect other groups of atoms also related within coherent forms.

19. Các nhóm nguyên tử bên trong những hình tướng cố kết tác động đến những nhóm nguyên tử khác cũng liên hệ với nhau bên trong những hình tướng cố kết.

20. We are not so much speaking of atomic interplay as the interplay between forms.

20. Chúng ta không nói nhiều đến sự tương tác giữa các nguyên tử bằng sự tương tác giữa các hình tướng.

until the rhythm is built up,

cho đến khi nhịp điệu được xây dựng lên,

21. A rhythm of attraction and repulsion…

21. một nhịp điệu của hấp dẫn và đẩy lùi…

22. When forms come into sustained relation, rhythmic patterns between the forms are soon established.

22. Khi các hình tướng đi vào mối liên hệ bền vững, các mô hình nhịp điệu giữa các hình tướng ấy sớm được thiết lập.

and a vibration [Page 1040] instigated which is a continuation of the rotary motion of the individual atoms,

và một rung động [Trang 1040] được khởi phát, là sự tiếp nối của chuyển động xoay tròn của các nguyên tử cá biệt,

23. Third ray motion is not discontinued; it is simply modified.

23. Chuyển động cung ba không bị chấm dứt; nó chỉ đơn giản được biến đổi.

and the modification produced on them by their group activity. This causes progression and simultaneous rotation.

và sự biến đổi được tạo ra nơi chúng bởi hoạt động nhóm của chúng. Điều này gây ra sự tiến triển và sự xoay tròn đồng thời.n

24. We have been given the manner in which spiral-cyclic motion is generated.

24. Chúng ta đã được cho biết cách thức chuyển động xoắn ốc-chu kỳ được tạo ra.

25. When progression and simultaneous rotation are found, we have spiral-cyclic motion.

25. Khi có sự tiến triển và sự xoay tròn đồng thời, chúng ta có chuyển động xoắn ốc-chu kỳ.

26. Rotary motion is not progressive, but the interplay between groups of atoms induces progression.

26. Chuyển động xoay tròn không có tính tiến triển, nhưng sự tương tác giữa các nhóm nguyên tử gây ra sự tiến triển.

27. For the human being, group interplay of the right kind promote progression while not ending the process of rotation, which must continue.

27. Đối với con người, sự tương tác nhóm đúng đắn thúc đẩy sự tiến triển mà không chấm dứt tiến trình xoay tròn, vốn phải tiếp tục.

28. The human being who remains in a strictly individual phase (rotating only) will not progress. The group has what he needs.

28. Con người còn ở trong một giai đoạn hoàn toàn cá biệt (chỉ xoay tròn mà thôi) sẽ không tiến triển. Nhóm có điều mà y cần.

The movement forward

Sự chuyển động tiến về phía trước

29. This is a first ray inducement. But when first ray motion is modified by “internal atomic activity” or “rotary motion” the result is spiral-cyclic motion.

29. Đây là một sự thúc đẩy của cung một. Nhưng khi chuyển động cung một được biến đổi bởi “hoạt động nguyên tử nội tại” hay “chuyển động xoay tròn”, kết quả là chuyển động xoắn ốc-chu kỳ.

is modified considerably by the internal atomic activity, and this it is which causes that motion we call spiral cyclic.

được biến đổi đáng kể bởi hoạt động nguyên tử nội tại, và chính điều này gây ra chuyển động mà chúng ta gọi là xoắn ốc-chu kỳ.

30. If one drives a rotating object forward, this will clearly be seen. A spiral will be produced which is a modification of progression along a straight line, and also a modification of strictly repetitive, rotary motion.

30. Nếu người ta đẩy một vật đang xoay tròn tiến về phía trước, điều này sẽ được thấy rõ. Một đường xoắn ốc sẽ được tạo ra, là một sự biến đổi của sự tiến triển theo đường thẳng, đồng thời cũng là một sự biến đổi của chuyển động xoay tròn lặp đi lặp lại một cách nghiêm ngặt.

It demonstrates in all forms as a tendency to repeat, owing to the backward pull of the rotating atoms, and yet is offset by the strong progressive impulse of the form activity.

Nó biểu lộ trong mọi hình tướng như một khuynh hướng lặp lại, do sức kéo lùi của các nguyên tử đang xoay tròn, và tuy vậy được hóa giải bởi xung lực tiến triển mạnh mẽ của hoạt động hình tướng.

31. We are dealing with the contrast between matter and form—which are not the same.

31. Chúng ta đang bàn đến sự tương phản giữa vật chất và hình tướng—vốn không phải là một.

32. The attractive life of the form (not the life of the rotating atoms) induces progression in those atoms. Progression, thus, is magnetically induced from without.

32. Sự sống hấp dẫn của hình tướng (không phải sự sống của các nguyên tử đang xoay tròn) gây ra sự tiến triển nơi các nguyên tử ấy. Vì vậy, sự tiến triển được cảm ứng từ tính từ bên ngoài.

33. This same dynamic is obvious in human life: every human being can be asked, “Are you just doing the ‘same old thing’ or are you moving forward?”

33. Chính động lực này cũng hiển nhiên trong đời sống con người: mỗi con người có thể được hỏi, “Bạn chỉ đang làm đi làm lại ‘cùng một việc cũ’ hay bạn đang tiến lên?”

34. Right group relations promote progression—and there will always be the backward pull of old habits.

34. Những tương quan nhóm đúng đắn thúc đẩy sự tiến triển—và luôn luôn sẽ có sức kéo lùi của những thói quen cũ.

Students can work this out in connection with:

Các đạo sinh có thể triển khai điều này liên hệ với:

The planetary Logos, as He manifests through the rounds, each one of which, in its earlier stages, recapitulates all that has previously occurred.

Hành Tinh Thượng Đế, khi Ngài biểu lộ qua các cuộc tuần hoàn, mỗi cuộc trong những giai đoạn đầu của nó đều tái diễn tóm lược tất cả những gì đã xảy ra trước đó.

35. Rounds, we can understand, are spiral cyclic in their nature. They are not simply repetitions. Yet the fact that in their earlier phases they recapitulate previous rounds is analogous to the effect upon the backward pull of the rotating atoms upon the tendency towards progression induced by relationship.

35. Chúng ta có thể hiểu rằng các cuộc tuần hoàn có bản chất xoắn ốc-chu kỳ. Chúng không đơn thuần là những sự lặp lại. Tuy nhiên, sự kiện là trong các giai đoạn đầu chúng tái diễn các cuộc tuần hoàn trước đó thì tương tự với tác động của sức kéo lùi của các nguyên tử đang xoay tròn lên khuynh hướng tiến triển do tương quan gây ra.

36. We might seek to understand rotation as stabilization. The Third Ray Lord is the “Builder of the Foundation” and this is accomplished in no small degree by repetition.

36. Chúng ta có thể tìm cách hiểu sự xoay tròn như sự ổn định hóa. Đấng Chúa Tể Cung ba là “Đấng Kiến Tạo Nền Tảng”, và điều này được hoàn thành không ít nhờ sự lặp lại.

37. Saturn is a third ray planet (essentially so in its Monad) and is also a planet of stabilization. It is Uranus which produces the urge to onward progression. In one respect, Jupiter, a largely second ray planet, the planet which rules progressive expansion, is an influence which promotes spiral-cyclic-activity.

37. Sao Thổ là một hành tinh cung ba (về bản chất là như vậy trong Chân thần của nó) và cũng là một hành tinh của sự ổn định hóa. Chính Sao Thiên Vương tạo ra sự thôi thúc hướng đến tiến triển đi tới. Xét theo một phương diện, Sao Mộc, một hành tinh phần lớn thuộc cung hai, hành tinh cai quản sự mở rộng tiến triển, là một ảnh hưởng thúc đẩy hoạt động xoắn ốc-chu kỳ.

Man, in the ante-natal period, in which he runs through the various stages of development.

Con người, trong thời kỳ trước khi sinh, khi y trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau.

38. Ontogeny recapitulates phylogeny.

38. Sự phát triển của cá thể tái diễn sự phát triển của chủng loại.

39. Nature seeks order and continuity through sequential progression. Saturn is the planet of the past and, from one point of view, the planet of sequential progression.

39. Bản chất tìm kiếm trật tự và tính liên tục thông qua sự tiến triển tuần tự. Sao Thổ là hành tinh của quá khứ và, từ một góc nhìn nào đó, là hành tinh của sự tiến triển tuần tự.

Spiritual man, as he creates that which will destroy the "Dweller on the Threshold."

Con người tinh thần, khi y tạo ra điều sẽ hủy diệt "Kẻ Chận Ngõ".

40. This is, perhaps, a little harder to understand. What will destroy the "Dweller on the Threshold"? Perhaps it is the perfected causal body (a fully developed egoic lotus) built up through many incarnations, each incarnation of which repeats in a rapid way all the others.

40. Điều này có lẽ hơi khó hiểu hơn một chút. Điều gì sẽ hủy diệt "Kẻ Chận Ngõ"? Có lẽ đó là thể nguyên nhân đã được hoàn thiện (một Hoa Sen Chân Ngã phát triển đầy đủ) được xây dựng qua nhiều kiếp sống, mà mỗi kiếp sống trong số đó lặp lại một cách nhanh chóng tất cả các kiếp khác.

41. When a human individuality runs into difficulty during a certain earlier developmental phase, it is perhaps an indication that there were a number of lives, expressive of that developmental phase, which lives were also were problematic. We should read each incarnation for its indications of the past.

41. Khi một cá thể tính con người gặp khó khăn trong một giai đoạn phát triển sớm nào đó, thì có lẽ đó là dấu hiệu cho thấy đã có một số kiếp sống biểu hiện giai đoạn phát triển ấy, và những kiếp sống đó cũng có vấn đề. Chúng ta nên đọc mỗi kiếp nhập thể để nhận ra những chỉ dấu của quá khứ.

This spiral-cyclic activity, which is distinctive of all forms,

Hoạt động xoắn ốc-chu kỳ này, vốn là đặc trưng của mọi hình tướng,

42. Does this include that tiniest type of form—the atom, or even the ‘lesser atoms’ within the atom?

42. Điều này có bao gồm loại hình tướng nhỏ bé nhất ấy—nguyên tử, hay thậm chí cả những “nguyên tử nhỏ hơn” bên trong nguyên tử không?

can perhaps be comprehended more practically if we study it as an expression of four laws, taking each one briefly in turn:

có lẽ có thể được hiểu một cách thực tiễn hơn nếu chúng ta nghiên cứu nó như một biểu hiện của bốn định luật, lần lượt xét ngắn gọn từng định luật:

43. So now we will analyze spiral-cyclic motion in terms of four subsidiary laws in the attempt to understand it more practically.

43. Vì vậy giờ đây chúng ta sẽ phân tích chuyển động xoắn ốc-chu kỳ theo bốn định luật phụ thuộc nhằm cố gắng hiểu nó một cách thực tiễn hơn.

1. The Law of Expansion.

1. Định luật Mở Rộng.

This law of a gradual evolutionary expansion of the consciousness indwelling every form is the cause of the spheroidal form of every life in the entire solar system.

Định luật về sự mở rộng tiến hoá dần dần của tâm thức nội tại trong mọi hình tướng này là nguyên nhân của hình cầu nơi mọi sự sống trong toàn thể hệ mặt trời.

44. We see that the production of the sphere is related to an innate tendency towards the expansion of consciousness.

44. Chúng ta thấy rằng việc tạo ra khối cầu có liên hệ với một khuynh hướng bẩm sinh hướng đến sự mở rộng của tâm thức.

45. The outer form derives from tendencies within the consciousness aspect of divinity.

45. Hình tướng bên ngoài phát sinh từ những khuynh hướng bên trong phương diện tâm thức của thiên tính.

46. As consciousness expands the form must form must accommodate the expansion by expanding.

46. Khi tâm thức mở rộng, hình tướng phải thích ứng với sự mở rộng ấy bằng cách tự mở rộng.

47. Then we might ask whether fully developed human beings are spherical in nature? This may not be a facetious question.

47. Khi ấy chúng ta có thể hỏi liệu những con người phát triển đầy đủ có mang bản chất hình cầu hay không? Đây có thể không phải là một câu hỏi đùa cợt.

It is a fact in nature that all that is in existence dwells within a sphere.6

Đó là một sự kiện trong bản chất rằng mọi thứ đang hiện hữu đều cư ngụ trong một khối cầu.6

48. This will have to be explained in light of the many apparently non-spherical forms. Yet even these forms dwell within subtle spheres. The fivefold form of man dwells with the causal and monadic spheres.

48. Điều này sẽ phải được giải thích dưới ánh sáng của nhiều hình tướng dường như không có dạng cầu. Tuy nhiên, ngay cả những hình tướng ấy cũng cư ngụ trong những khối cầu vi tế. Hình tướng ngũ phân của con người cư ngụ trong các khối cầu nguyên nhân và chân thần.

Footnote 6:

Chú thích 6:

The Atom.—S. D., I, 113, 566. It is on the illusive nature of matter and the infinite divisibility of the atom that the whole Science of Occultism is built.

Nguyên Tử.—S. D., I, 113, 566. Toàn bộ Khoa Học Huyền Bí Học được xây dựng trên bản chất ảo huyễn của vật chất và tính khả phân vô hạn của nguyên tử.

49. One can understand matter as a kind of “congestion” of energy which appears dense to the illusion-producing senses.

49. Người ta có thể hiểu vật chất như một loại “sự ứ đọng” của năng lượng, thứ xuất hiện là đậm đặc đối với các giác quan tạo ra ảo tưởng.

50. Is the atom infinitely divisible or is the term “infinite” not use in a strictly literal manner?

50. Nguyên tử có phải là vô hạn khả phân hay không, hay từ “vô hạn” không được dùng theo nghĩa hoàn toàn đen?

51. In the proposition of the “infinite divisibility of the atom” we have a difficult philosophical issue, especially if we try to reconcile infinite divisibility with a periodically appearing universe.

51. Trong mệnh đề về “tính khả phân vô hạn của nguyên tử”, chúng ta có một vấn đề triết học khó khăn, đặc biệt nếu cố gắng dung hòa tính khả phân vô hạn với một vũ trụ xuất hiện theo chu kỳ.

1. Everything is atomic—God, Monads, atoms.

1. Mọi sự đều là nguyên tử—Thượng đế, các chân thần, các nguyên tử.

52. By an atom we mean a complete, self-contained unit or life.

52. Bởi nguyên tử, chúng ta muốn nói đến một đơn vị hay sự sống hoàn chỉnh, tự chứa đựng trong chính nó.

a. The sphere of solar manifestation....... God

a. Khối cầu của biểu lộ thái dương....... Thượng đế

53. From the point of view of man, the Solar Logos is “God”.

53. Từ quan điểm của con người, Thái dương Thượng đế là “Thượng đế”.

The mundane egg. The logoic auric egg Macrocosm

Noãn thế gian. Noãn hào quang logoi Đại thiên địa

54. The true and final macrocosm is vastly larger than this, but from the perspective of man, the logoic auric egg (including the causal body of the Solar Logos) must be considered the macrocosm. Perhaps the solar logoic monadic expression must also be included within the macrocosm. The solar logoic monadic auric egg would be the fullest representation of this particular macrocosm, but then is the term “mundane” really applicable to this greatest type of logoic auric egg?

54. Đại thiên địa chân thực và tối hậu còn lớn lao hơn thế này rất nhiều, nhưng từ góc nhìn của con người, noãn hào quang logoi (bao gồm thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế) phải được xem là đại thiên địa. Có lẽ biểu hiện chân thần logoi thái dương cũng phải được bao gồm trong đại thiên địa. Noãn hào quang chân thần logoi thái dương sẽ là biểu hiện đầy đủ nhất của đại thiên địa đặc thù này, nhưng khi ấy liệu từ “thế gian” có thực sự thích hợp với loại noãn hào quang logoi vĩ đại nhất này không?

55. Is H.P.B. saying that “the mundane egg” and “logoic auric egg” are equivalent?

55. Có phải H.P.B. đang nói rằng “noãn thế gian” và “noãn hào quang logoi” là tương đương không?

b. The sphere of monadic manifestation Monads

b. Khối cầu của biểu lộ chân thần Các chân thần

The monadic auric egg........................... Microcosm

Noãn hào quang chân thần........................... Tiểu thiên địa

56. The normal relation of macrocosm to microcosm is found in the relation between the Solar Logos and man.

56. Tương quan bình thường giữa đại thiên địa và tiểu thiên địa được tìm thấy trong tương quan giữa Thái dương Thượng đế và con người.

57. When we speak of the microcosm, we should not think only of the personality of man and even of his soul and personality. The Monad of man must be included and the monadic auric egg.

57. Khi nói đến tiểu thiên địa, chúng ta không nên chỉ nghĩ đến phàm ngã của con người, và ngay cả linh hồn cùng phàm ngã của y. Chân thần của con người và noãn hào quang chân thần cũng phải được bao gồm.

c. The sphere of the ultimate physical atom Atoms

c. Khối cầu của nguyên tử hồng trần tối hậu Các nguyên tử

58. What does DK mean here by “the ultimate physical atom”? Although He has discussed the tiny atom of substance which is etheric and appears on the atomic etheric subplane, has He actually discussed the tiniest atom of all types of matter? Probably not.

58. Ở đây Chân sư DK muốn nói gì bởi “nguyên tử hồng trần tối hậu”? Mặc dù Ngài đã bàn đến nguyên tử chất liệu cực nhỏ vốn là dĩ thái và xuất hiện trên cõi phụ nguyên tử dĩ thái, liệu Ngài đã thực sự bàn đến nguyên tử nhỏ nhất của mọi loại vật chất chưa? Có lẽ là chưa.

59. Perhaps, in this context, what is meant, after all, is the tiniest or ultimate atom of etheric substance. The etheric subplanes are part of the systemic physical plane There are, we have learned in our study of occultism, atoms far tinier but they are not part of the systemic physical plane.

59. Có lẽ, trong ngữ cảnh này, điều được hàm ý rốt cuộc là nguyên tử nhỏ nhất hay tối hậu của chất liệu dĩ thái. Các cõi phụ dĩ thái là một phần của cõi hồng trần hệ thống. Chúng ta đã học trong quá trình nghiên cứu huyền bí học rằng có những nguyên tử còn nhỏ hơn rất nhiều, nhưng chúng không thuộc cõi hồng trần hệ thống.

60. Even a bubble in the koilon is far larger than the tiniest possible “atom”.

60. Ngay cả một bong bóng trong koilon cũng lớn hơn rất nhiều so với “nguyên tử” nhỏ nhất khả hữu.

61. If H.P.B. is correct about infinite divisibility, then there is no tiniest possible atom, but the matter is debatable.

61. Nếu H.P.B. đúng về tính khả phân vô hạn, thì không có nguyên tử nhỏ nhất khả hữu, nhưng vấn đề này vẫn còn có thể tranh luận.

2. The solar system is a cosmic atom.

2. Hệ mặt trời là một nguyên tử vũ trụ.

62. The Solar Logos is a cosmic Being. His vehicle, our solar system, is as much an atom as the atom of substance known to the physicist and chemist.

62. Thái dương Thượng đế là một Hữu thể vũ trụ. Vận cụ của Ngài, hệ mặt trời của chúng ta, cũng là một nguyên tử chẳng kém gì nguyên tử chất liệu mà nhà vật lý và nhà hóa học biết đến.

3. Each plane is an atom or complete sphere.

3. Mỗi cõi là một nguyên tử hay một khối cầu hoàn chỉnh.

63. This is an important point as the manner in which the planes are usually presented creates in our minds a misconception as to their nature.

63. Đây là một điểm quan trọng vì cách các cõi thường được trình bày tạo ra trong trí tuệ chúng ta một ngộ nhận về bản chất của chúng.

64. The planes and subplanes are actually spherical and are atomic in their nature—but how we are to conceive their atomic nature is still undisclosed.

64. Các cõi và các cõi phụ thực ra có dạng cầu và có bản chất nguyên tử—nhưng chúng ta phải quan niệm bản chất nguyên tử của chúng như thế nào thì vẫn chưa được tiết lộ.

4. Each planet is an atom.

4. Mỗi hành tinh là một nguyên tử.

65. Is DK speaking of globes? Or is He referencing the level of a planetary chain? He seems to be speaking of the substantial nature of a Planetary Logos and not of His psychological nature.

65. Chân sư DK đang nói về các bầu hành tinh chăng? Hay Ngài đang quy chiếu đến cấp độ của một dãy hành tinh? Dường như Ngài đang nói về bản chất chất liệu của một Hành Tinh Thượng Đế chứ không phải bản chất tâm lý của Ngài.

66. Because a planetary scheme has chain and globe structures, within the planetary atom will be a number of very large subsidiary atoms—i.e., chains and globes.

66. Bởi vì một hệ hành tinh có các cấu trúc dãy và bầu hành tinh, nên bên trong nguyên tử hành tinh sẽ có một số nguyên tử phụ rất lớn—tức là các dãy và các bầu hành tinh.

5. Each Heavenly man is an atomic unit.

5. Mỗi Đấng Thiên Nhân là một đơn vị nguyên tử.

67. A Heavenly Man is much greater than a planet—if we consider a planet to be merely a globe. The Heavenly Man expresses through a planetary scheme and through all “planets’ (i.e., globes) which are corporate parts of that scheme.

67. Một Đấng Thiên Nhân lớn lao hơn nhiều so với một hành tinh—nếu chúng ta xem hành tinh chỉ đơn thuần là một bầu hành tinh. Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hệ hành tinh và qua mọi “hành tinh” (tức các bầu hành tinh) là những phần hợp thành của hệ ấy.

68. Of course it is possible to consider both Chain-Lords and Globe-Lords as types of Heavenly Man, though minor when compared with the Heavenly Man Who is the full Planetary Logos.

68. Dĩ nhiên có thể xem cả các Chúa Tể Dãy lẫn các Chúa Tể Bầu Hành Tinh như những loại Đấng Thiên Nhân, dù là thứ yếu khi so với Đấng Thiên Nhân là Hành Tinh Thượng Đế trọn vẹn.

6. Each human Monad is an atom in the body of one of the Heavenly Men.

6. Mỗi chân thần nhân loại là một nguyên tử trong thể của một trong các Đấng Thiên Nhân.

69. Let us look at the word “atom” in this context. Sometimes it is said that the human Monad is a “cell” within the body of Planetary Logos. It seems as if the term “atom” is being used in a generic sense and does not describe the magnitude of the human Monad in relation to the magnitude of a Heavenly Man.

69. Hãy nhìn vào từ “nguyên tử” trong ngữ cảnh này. Đôi khi người ta nói rằng chân thần nhân loại là một “tế bào” trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế. Dường như từ “nguyên tử” đang được dùng theo nghĩa tổng quát và không mô tả độ lớn của chân thần nhân loại trong tương quan với độ lớn của một Đấng Thiên Nhân.

7. The causal body is an atom, or sphere.

7. Thể nguyên nhân là một nguyên tử, hay khối cầu.

70. The implication is that every atom is spherical.

70. Hàm ý ở đây là mọi nguyên tử đều có dạng cầu.

71. The causal body, then, must have the same structure as every other atom.

71. Vậy thì thể nguyên nhân phải có cùng cấu trúc như mọi nguyên tử khác.

8. The physical plane elemental is an atomic unit.

8. Hành khí cõi hồng trần là một đơn vị nguyên tử.

72. This is interesting because, of all the elementals associated with the human energy system, the physical elemental (including, shall we say, the etheric vehicle) is least spherical. Even the causal body is said to sometime assume an ovoid shape instead of the shape of a sphere—depending, probably, upon the ray type of the Ego for whom the causal body is a vehicle.

72. Điều này thật thú vị vì, trong tất cả các hành khí liên kết với hệ thống năng lượng của con người, hành khí thể xác (bao gồm, giả sử, vận cụ dĩ thái) là ít có dạng cầu nhất. Ngay cả thể nguyên nhân đôi khi cũng được nói là mang hình trứng thay vì hình cầu—có lẽ tùy thuộc vào loại cung của chân ngã mà đối với chân ngã ấy, thể nguyên nhân là một vận cụ.

What is an atom?

Nguyên tử là gì?

1. A sheath formed of the matter of the solar system in one or other of its seven grades and indwelt by life of some kind.

1. Một vỏ bọc được tạo thành từ vật chất của hệ mặt trời ở một hay một loại nào khác trong bảy cấp độ của nó và được một loại sự sống nào đó cư ngụ bên trong.

73. An atom is a sheath (spherical) indwelt by “life of some kind”.

73. Một nguyên tử là một vỏ bọc (hình cầu) được “một loại sự sống nào đó” cư ngụ bên trong.

74. If an atom is a “sheath”, within every atom is a “life”

74. Nếu nguyên tử là một “vỏ bọc”, thì bên trong mọi nguyên tử đều có một “sự sống”

a. Absolute intelligence informs each atom.—S. D., I, 298.

a. Trí tuệ tuyệt đối thấm nhuần mỗi nguyên tử.—S. D., I, 298.

75. Presumably this means that the intelligence of the Solar Logos informs each atom. Expanding the range greatly, we could infer that the intelligence of the Universal Logos of all possible systems informs each atom.

75. Có lẽ điều này có nghĩa là trí tuệ của Thái dương Thượng đế thấm nhuần mỗi nguyên tử. Mở rộng phạm vi rất nhiều, chúng ta có thể suy ra rằng trí tuệ của Thượng đế Vũ Trụ của mọi hệ khả hữu thấm nhuần mỗi nguyên tử.

76. The point is that although each atom of substance is elemental and, in a sense, an involutionary life, it is nevertheless intelligent. Substance is intelligent.

76. Điểm cốt yếu là tuy mỗi nguyên tử của chất liệu là hành khí và, theo một nghĩa nào đó, là một sự sống giáng hạ tiến hoá, nhưng dù vậy nó vẫn thông minh. Chất liệu là thông minh.

b. Absolute life informs each atom.—S. D., I, 278, 28l; II, 742, note.

b. Sự sống tuyệt đối thấm nhuần mỗi nguyên tử.—S. D., I, 278, 28l; II, 742, note.

77. This is more of the same and is a statement derived from Hylozoistic thought.

77. Đây cũng vẫn là cùng một ý và là một phát biểu phát sinh từ tư tưởng Hylozoism.

78. Philosophically, the Wholeness of God the Universal Logos is within each atom, no matter how tiny.

78. Về mặt triết học, Tính Toàn Thể của Thượng đế là Thượng đế Vũ Trụ ở trong mỗi nguyên tử, dù nhỏ bé đến đâu.

2. Atoms and souls are synonymous terms.—S. D., I, 620-622.

2. Nguyên tử và linh hồn là những thuật ngữ đồng nghĩa.—S. D., I, 620-622.

79. Every atom has consciousness, and nothing we usually (even esoterically) call an atom appears unless there is a ‘soul-center’ within it, generating it.

79. Mỗi nguyên tử đều có tâm thức, và không có gì mà chúng ta thường gọi là một nguyên tử (ngay cả theo nghĩa huyền bí) lại xuất hiện nếu không có một ‘trung tâm linh hồn’ bên trong nó, tạo ra nó.

80. There are no ‘soulless’ atoms.

80. Không có những nguyên tử ‘vô hồn’.

a. In this solar system atoms and souls are synonymous terms. The Primordial Ray plus the Divine Ray of Wisdom.

a. Trong hệ mặt trời này, nguyên tử và linh hồn là những thuật ngữ đồng nghĩa. Cung Nguyên Sơ cộng với Cung thiêng liêng của Minh triết.

81. Atoms are examples of the union of the second and third aspects of divinity. It would seem that the first aspect must also be represented as the positive charge within the positive nucleus.

81. Các nguyên tử là những ví dụ về sự hợp nhất của phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính. Có vẻ như phương diện thứ nhất cũng phải được biểu hiện như điện tích dương bên trong hạt nhân dương.

82. Notice, however, the phrase “in this solar system”. The first aspect is not yet emphasized in this solar system, thus DK refers to only two rays as demonstrable in each atom. Technically, this is not correct. There can be no B/being in cosmos in which the first aspect is not, at least, latent.

82. Tuy nhiên, hãy lưu ý cụm từ “trong hệ mặt trời này”. Phương diện thứ nhất chưa được nhấn mạnh trong hệ mặt trời này, vì thế Chân sư DK chỉ đề cập đến hai cung như có thể chứng minh được trong mỗi nguyên tử. Về mặt kỹ thuật, điều này không đúng. Không thể có B/sự hiện hữu nào trong vũ trụ mà phương diện thứ nhất lại không hiện diện, ít nhất là ở trạng thái tiềm ẩn.

b. In the previous solar system atoms and mind were probably synonymous terms. It resulted in the Primordial Ray of active intelligent matter, the basis of the present evolution.

b. Trong hệ mặt trời trước, nguyên tử và trí tuệ có lẽ là những thuật ngữ đồng nghĩa. Điều đó đã tạo ra Cung Nguyên Sơ của vật chất hoạt động thông minh, là nền tảng của tiến hoá hiện tại.

83. We can see how DK is developing the thought. Though it is true that all aspects of divinity must be simultaneously present, DK is emphasizing that aspect of the three which is most prominent in any of the three major solar systems.

83. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đang triển khai tư tưởng này như thế nào. Dù đúng là mọi phương diện của thiên tính phải đồng thời hiện diện, Chân sư DK đang nhấn mạnh phương diện nào trong ba phương diện là nổi trội nhất trong bất kỳ một trong ba hệ mặt trời lớn nào.

84. In the previous solar system, if an atom manifested, mind manifested inescapably. This, though, is also true of atoms in this solar system, though the more subtle factor of soul has emerged more fully.

84. Trong hệ mặt trời trước, nếu một nguyên tử biểu lộ, trí tuệ tất yếu biểu lộ. Tuy nhiên, điều này cũng đúng với các nguyên tử trong hệ mặt trời này, dù yếu tố tinh tế hơn là linh hồn đã xuất hiện đầy đủ hơn.

85. In the next solar system, all three aspects of divinity will be present expressing through an atom, but, eventually, Spirit will be most prominent.

85. Trong hệ mặt trời kế tiếp, cả ba phương diện của thiên tính sẽ hiện diện khi biểu lộ qua một nguyên tử, nhưng rốt cuộc, tinh thần sẽ là phương diện nổi trội nhất.

c. In the next system atoms and the third factor, pure spirit may be synonymous terms. The Primordial Ray and The Divine Ray plus the third cosmic Ray of Will or Power.

c. Trong hệ kế tiếp, nguyên tử và yếu tố thứ ba, tinh thần thuần túy, có thể là những thuật ngữ đồng nghĩa. Cung Nguyên Sơ và Cung thiêng liêng cộng với Cung vũ trụ thứ ba của Ý Chí hay Quyền Năng.

86. There is an additive effect. No lesser factor in the Trinity is entirely relinquished, however, when a greater factor emerges into greater prominence.

86. Có một hiệu ứng cộng thêm. Tuy nhiên, không có yếu tố thấp hơn nào trong Ba Ngôi bị từ bỏ hoàn toàn khi một yếu tố cao hơn xuất hiện với mức độ nổi trội lớn hơn.

3. Atoms are inseparable from Spirit.—S. D., I, 367.

3. Nguyên tử không thể tách rời khỏi Tinh thần.—S. D., I, 367.

87. This is what I was suggesting above.

87. Đó là điều tôi đã gợi ý ở trên.

a. They are the sheaths through which the informing God manifests.

a. Chúng là những vỏ bọc mà qua đó Thượng đế thấm nhuần biểu lộ.

88. Each atom is a sheath. From this perspective the entire Universe is but an atom, a sheath.

88. Mỗi nguyên tử là một vỏ bọc. Từ góc độ này, toàn thể Vũ trụ chỉ là một nguyên tử, một vỏ bọc.

b. The form of the sheath is a sphere.

b. Hình dạng của vỏ bọc là một khối cầu.

89. This is the archetype, and some formal variations are said to occur.

89. Đây là nguyên mẫu, và người ta nói rằng có xảy ra một số biến thể hình thức.

90. Can we say then that the entire Universe, as an atom, is a sphere?

90. Vậy thì chúng ta có thể nói rằng toàn thể Vũ trụ, như một nguyên tử, là một khối cầu chăng?

c. The quality of the sheath is latent love.

c. Phẩm tính của vỏ bọc là tình thương tiềm ẩn.

91. This means that the sheath will eventually develop a relationship of magnetic, appropriate coherence with every other sheath.

91. Điều này có nghĩa là vỏ bọc rốt cuộc sẽ phát triển một mối liên hệ cố kết từ tính thích hợp với mọi vỏ bọc khác.

92. The quality of latent love is especially prominent in the sheaths found in this solar system.

92. Phẩm tính của tình thương tiềm ẩn đặc biệt nổi trội trong những vỏ bọc được tìm thấy trong hệ mặt trời này.

d. The matter of the sheath is active intelligent substance.

d. Vật chất của vỏ bọc là chất liệu hoạt động thông minh.

93. Note that there can be no matter without intelligence, and no matter without activity. Even the blind elemental lives are intelligent in their own way—i.e., selectively responsive.

93. Hãy lưu ý rằng không thể có vật chất mà không có trí tuệ, và không thể có vật chất mà không có hoạt động. Ngay cả những sự sống hành khí mù quáng cũng thông minh theo cách riêng của chúng—tức là đáp ứng có chọn lọc.

The chemical atom is spheroidal;

Nguyên tử hóa học có dạng gần cầu;

94. This is largely confirmed by the modern physicist and chemist.

94. Điều này phần lớn đã được nhà vật lý và nhà hóa học hiện đại xác nhận.

man [Page 1041] dwells within a sphere, as does the planetary Logos and the solar Logos,

con người [Page 1041] cư ngụ trong một khối cầu, cũng như Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế,

95. DK is speaking of the auric nature of man, the Planetary Logos and Solar Logos.

95. Chân sư DK đang nói về bản chất hào quang của con người, của Hành Tinh Thượng Đế và của Thái dương Thượng đế.

this sphere being the form matter takes when its own internal activity, and the activity of the form are working in unison.

khối cầu này là hình tướng mà vật chất mang lấy khi hoạt động nội tại của chính nó, và hoạt động của hình tướng đang vận hành đồng nhất.

96. We are being told that when the third aspect of divinity and the second aspect of divinity work “in unison” the resultant form is the sphere.

96. Chúng ta được cho biết rằng khi phương diện thứ ba của thiên tính và phương diện thứ hai của thiên tính vận hành “đồng nhất”, hình tướng kết quả là khối cầu.

97. Form production is largely under the second ray which ray, particularly, tends towards the creation of sphericity.

97. Việc tạo ra hình tướng phần lớn nằm dưới cung hai, cung này đặc biệt có khuynh hướng tạo ra tính cầu thể.

98. To be factored in with this idea is the thought presented earlier that the positive charge acting upon the negative charge causes rotary motion.

98. Điều cần được đưa vào cùng với ý tưởng này là tư tưởng đã được trình bày trước đó rằng điện tích dương tác động lên điện tích âm gây ra chuyển động quay.

99. There are so many layers of hints in this text. We can see how the scientist of the future will receive many progressive hints from A Treatise on Cosmic Fire.

99. Có quá nhiều tầng lớp gợi ý trong bản văn này. Chúng ta có thể thấy nhà khoa học của tương lai sẽ nhận được nhiều gợi ý tiến bộ từ Luận về Lửa Vũ Trụ.

It requires the two types of force—rotary and spiral-cyclic—to produce this.

Cần đến hai loại mãnh lực—quay và xoắn ốc-chu kỳ—để tạo ra điều này.

100. We remember from the previous commentary that cyclic force has been associated with the second ray and spiral activity with the first ray. Together they produce spiral-cyclic motion, which seems to be the manner in which the first ray can make its impact in the present solar system—always, at this time, through the medium of the second ray.

100. Chúng ta nhớ từ phần bình luận trước rằng mãnh lực chu kỳ đã được liên kết với cung hai và hoạt động xoắn ốc với cung một. Cùng nhau chúng tạo ra chuyển động xoắn ốc-chu kỳ, dường như là cách mà cung một có thể tạo tác động của nó trong hệ mặt trời hiện tại—luôn luôn, vào lúc này, thông qua trung gian của cung hai.

101. Thus, in a way, all three aspects of divinity are involved in producing the spherical form: the rotary motion which represents the third ray and the spiral-cyclic motion which is a union of the first and second rays, though it is largely identified with the second ray when that type of motion is contrasted with the motion of “progress onward” or “driving forward through space”.

101. Vì vậy, theo một cách nào đó, cả ba phương diện của thiên tính đều tham gia vào việc tạo ra hình tướng cầu thể: chuyển động quay tượng trưng cho cung ba và chuyển động xoắn ốc-chu kỳ là sự hợp nhất của cung một và cung hai, dù nó phần lớn được đồng nhất với cung hai khi loại chuyển động đó được đối chiếu với chuyển động “tiến lên phía trước” hay “lao tới xuyên qua không gian”.

Scientists are beginning to recognise this more or less, and to realise that it is the Law of Relativity, or the relation between all atoms, which produces that which is called Light, and which, in its aggregated phenomena, forms that composite sphere, a solar system.

Các nhà khoa học đang bắt đầu nhận ra điều này ít nhiều, và chứng nghiệm rằng đó là Định luật Tương đối, hay mối liên hệ giữa mọi nguyên tử, điều tạo ra cái được gọi là Ánh sáng, và điều mà, trong các hiện tượng tổng hợp của nó, hình thành nên khối cầu tổng hợp ấy, một hệ mặt trời.

102. This may seem an obvious statement, but there is much in it which is not obvious and which points the way ahead for advanced students of physics.

102. Điều này có thể có vẻ là một phát biểu hiển nhiên, nhưng trong đó có nhiều điều không hiển nhiên và chỉ ra con đường phía trước cho những đạo sinh cao cấp của ngành vật lý.

103. DK is defining the Law of Relativity in a manner different from the way the usual scientist would define the “Theory of Relativity”.

103. Chân sư DK đang định nghĩa Định luật Tương đối theo một cách khác với cách mà nhà khoa học thông thường sẽ định nghĩa “Thuyết Tương đối”.

104. Are atoms light or is it the relationship between them which produces light. The Kabala tells us that all matter is light.

104. Phải chăng các nguyên tử là ánh sáng hay chính mối quan hệ giữa chúng tạo ra ánh sáng? Kabala cho chúng ta biết rằng mọi vật chất đều là ánh sáng.

105. We note also that the solar system is a sphere. In many diagrams we are used to consider it somewhat planar, yet there are advanced astrologers who posit bodies within that solar system which revolve around the Sun in a manner perpendicular to the plane of the ecliptic.

105. Chúng ta cũng lưu ý rằng hệ mặt trời là một khối cầu. Trong nhiều sơ đồ, chúng ta quen xem nó như có phần phẳng, tuy nhiên có những nhà chiêm tinh học cao cấp cho rằng trong hệ mặt trời ấy có những thiên thể quay quanh Mặt Trời theo cách vuông góc với mặt phẳng hoàng đạo.

106. We note that it is not just the atoms which compose the composite sphere called the solar system, but the “aggregated phenomena” associated with such atoms. This deepens the question.

106. Chúng ta lưu ý rằng không chỉ các nguyên tử cấu thành khối cầu tổng hợp gọi là hệ mặt trời, mà còn cả những “hiện tượng tổng hợp” gắn liền với các nguyên tử ấy. Điều này làm cho vấn đề trở nên sâu sắc hơn.

107. One sees that revealing the mysteries contained in the "Garment of God" will be a very “piece-by-piece” process. The veil of ignorance is still very thick though much unveiling, relatively, has been accomplished.

107. Người ta thấy rằng việc vén mở các huyền nhiệm chứa trong "Y Phục của Thượng đế" sẽ là một tiến trình rất “từng mảnh một”. Bức màn vô minh vẫn còn rất dày dù tương đối mà nói, nhiều sự vén mở đã được hoàn thành.

The motion of the constellations external to the solar sphere is responsible for its form in conjunction with its own rotary motion in space.

Chuyển động của các chòm sao ở bên ngoài khối cầu mặt trời chịu trách nhiệm về hình dạng của nó kết hợp với chuyển động quay riêng của nó trong không gian.

108. DK has extended the atomic analogy to the cosmic sphere. The solar system, in this context, is analogized to the atom and the constellations external to the solar system are as other atoms or greater congeries of atoms.

108. Chân sư DK đã mở rộng phép loại suy nguyên tử sang khối cầu vũ trụ. Trong bối cảnh này, hệ mặt trời được ví như nguyên tử và các chòm sao ở bên ngoài hệ mặt trời giống như những nguyên tử khác hay những tập hợp nguyên tử lớn hơn.

109. We may correlate the motion of these external constellations with the second aspect of divinity, The rotary motion of our own solar system is correlated, naturally, to the third aspect.

109. Chúng ta có thể liên hệ chuyển động của các chòm sao bên ngoài này với phương diện thứ hai của thiên tính. Chuyển động quay của chính hệ mặt trời chúng ta dĩ nhiên được liên hệ với phương diện thứ ba.

110. It seems that the interplay of various atoms, greater and smaller, induces in the smaller atoms the shape of the sphere. Perhaps rotary motion inclines towards sphericity and the motion of external atoms inclines towards the sustainment of that sphericity.

110. Dường như sự tương tác của nhiều nguyên tử khác nhau, lớn và nhỏ, gây ra trong các nguyên tử nhỏ hơn hình dạng khối cầu. Có lẽ chuyển động quay nghiêng về tính cầu thể và chuyển động của các nguyên tử bên ngoài nghiêng về việc duy trì tính cầu thể ấy.

111. Both external constellations and our solar system, itself, are responsible for the appearance of the spherical form of our solar system.

111. Cả các chòm sao bên ngoài lẫn chính hệ mặt trời của chúng ta đều chịu trách nhiệm về sự xuất hiện của hình tướng cầu thể của hệ mặt trời chúng ta.

As the wave lengths of the light from the constellations, and their relation to the sun are better understood,

Khi các bước sóng của ánh sáng từ các chòm sao, và mối liên hệ của chúng với mặt trời được hiểu rõ hơn,

112. We may assume that these wave lengths do not occur only on the systemic etheric-physical plane…

112. Chúng ta có thể giả định rằng các bước sóng này không chỉ xuất hiện trên cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống…

and as the effect of those wave lengths or light vibrations (which are either attractive to, or repulsive to, the sun) are understood, much will be revealed.

và khi hiệu quả của những bước sóng hay rung động ánh sáng ấy (vốn hoặc hấp dẫn đối với, hoặc đẩy lùi đối với, mặt trời) được hiểu rõ, nhiều điều sẽ được mặc khải.

113. DK is speaking of the subtle dynamics of cosmic interplay. He is also speaking of what we might call the ‘Law of Affinity' and, presumably, the ‘Law of Dis-affinity’.

113. Chân sư DK đang nói về động lực học vi tế của sự tương tác vũ trụ. Ngài cũng đang nói về điều mà chúng ta có thể gọi là ‘Định luật Tương Hợp’ và có lẽ là ‘Định luật Bất Tương Hợp’.

114. At this stage of cosmic evolution, both harmony and disharmony exist between our Solar Logos and other Solar Logoi and Constellational Logoi.

114. Ở giai đoạn tiến hoá vũ trụ này, cả hài hòa lẫn bất hài hòa đều tồn tại giữa Thái dương Thượng đế của chúng ta với các Thái dương Thượng đế khác và các Thượng đế Chòm Sao.

115. And understanding of the dynamics of attraction and repulsion will lead to a deeper understanding of the function of our Solar Logos and His solar system within the local cosmosystem.

115. Và sự thấu hiểu về động lực của hấp dẫn và đẩy lùi sẽ dẫn đến sự thấu hiểu sâu sắc hơn về chức năng của Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ mặt trời của Ngài trong hệ vũ trụ cục bộ.

Little has as yet been grasped as to the effect [Page 1042] those constellations in the heavens (which are antagonistic to the solar system), have upon it,

Cho đến nay người ta vẫn còn hiểu rất ít về ảnh hưởng mà [Page 1042] những chòm sao trên trời ấy (vốn đối kháng với hệ mặt trời) tác động lên nó,

116. It seems that ‘war’ still rages in the heavens. It is not confined to the sphere of humanity.

116. Dường như ‘chiến tranh’ vẫn còn hoành hành trên các cõi trời. Nó không chỉ giới hạn trong phạm vi nhân loại.

117. Yet all apparent antagonisms on the cosmic scale must be intended to work towards an inconceivable ‘Cosmic Good’. The greater Loves can make evil serve the Good (as is the case with our Solar Logos relative to the machination of the Black Lodge in our solar system). These greater Lives can also adapt lesser, temporarily antagonistic energies for the greater Purpose They intend. Can they adapt antagonistic energies from Entities equal to Themselves or still greater? That is another question. Perhaps repulsion is the only possibility.

117. Tuy nhiên, mọi đối kháng biểu kiến trên quy mô vũ trụ hẳn đều nhằm vận hành hướng tới một ‘Thiện Hảo Vũ Trụ’ không thể nghĩ bàn. Những Đấng Tình Thương lớn hơn có thể khiến điều ác phụng sự điều Thiện (như trường hợp Thái dương Thượng đế của chúng ta đối với mưu đồ của Hắc đoàn trong hệ mặt trời của chúng ta). Những Sự sống lớn hơn này cũng có thể thích ứng những năng lượng thấp hơn, tạm thời đối kháng, cho Mục Đích lớn hơn mà Các Ngài dự định. Liệu Các Ngài có thể thích ứng những năng lượng đối kháng từ các Thực Thể ngang hàng với Các Ngài hay còn lớn hơn nữa không? Đó là một câu hỏi khác. Có lẽ đẩy lùi là khả năng duy nhất.

118. But these matters are beyond us. We have still to bring the members of the human family into a state of purpose-compliant harmony, and we have a long way to go.

118. Nhưng những vấn đề này vượt ngoài tầm chúng ta. Chúng ta vẫn còn phải đưa các thành viên của gia đình nhân loại vào một trạng thái hài hòa phù hợp với mục đích, và chúng ta còn một chặng đường rất dài phải đi.

and whose wave lengths it will not transmit, whose rays of light do not pierce (if it might be expressed in so unscientific a manner) through the solar periphery.

và những bước sóng nào nó sẽ không truyền dẫn, những tia sáng nào không xuyên thấu (nếu có thể diễn đạt theo một cách thiếu khoa học như vậy) qua chu vi mặt trời.

119. We can see that our Solar Logos deflects certain rays from certain stellar and constellational sources. The factor of repulsion is operative and probably necessary if the Solar Logos is maintain His integrity and fulfill His Purpose.

119. Chúng ta có thể thấy rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta làm lệch hướng một số tia từ một số nguồn sao và chòm sao nhất định. Yếu tố đẩy lùi đang hoạt động và có lẽ là cần thiết nếu Thái dương Thượng đế muốn duy trì tính toàn vẹn của Ngài và hoàn thành Mục Đích của Ngài.

120. Some references discuss the idea that our solar system will not presently accept the full penetration of the first ray, considered cosmically.

120. Một số tài liệu tham chiếu bàn đến ý tưởng rằng hệ mặt trời của chúng ta hiện nay sẽ không chấp nhận sự xuyên nhập trọn vẹn của cung một, xét theo nghĩa vũ trụ.

121. We can bring the analogy into the human sphere when we discuss our response to the energy of various human individuals. We ‘let in’ the energy of some and deflect the energy of others.

121. Chúng ta có thể đưa phép loại suy này vào phạm vi con người khi bàn đến đáp ứng của chúng ta đối với năng lượng của những cá nhân khác nhau. Chúng ta ‘đón nhận’ năng lượng của một số người và làm lệch hướng năng lượng của những người khác.

We are told in the Secret Doctrine that "the seven solar Rays dilate to seven suns and set fire to the whole cosmos."7 [S.D., II, 72]

Chúng ta được cho biết trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng "bảy tia Thái dương nở rộng thành bảy mặt trời và đốt cháy toàn thể vũ trụ."7 [S.D., II, 72]

122. This is either a statement referring to the vastness of the entire Universe or it relates to our own solar system—which is more likely.

122. Đây hoặc là một phát biểu nói đến sự bao la của toàn thể Vũ trụ, hoặc liên hệ đến chính hệ mặt trời của chúng ta—điều này có vẻ đúng hơn.

123. The term “cosmos” does not always mean the entirety of the Universe nor does the term “universe” always mean the ‘Universal Entirety’. Sometimes, in the Teaching, the term “universe” simply means “solar system”.

123. Thuật ngữ “vũ trụ” không phải lúc nào cũng có nghĩa là toàn thể Vũ trụ, và thuật ngữ “universe” cũng không phải lúc nào cũng có nghĩa là ‘Toàn Thể Vũ Trụ’. Đôi khi, trong Giáo Huấn, thuật ngữ “universe” đơn giản chỉ có nghĩa là “hệ mặt trời”.

This it is which produces that final burning which ushers in the great pralaya, and brings to an end the logoic incarnation.

Chính điều này tạo ra sự bốc cháy cuối cùng ấy, mở đầu đại giai kỳ qui nguyên, và chấm dứt sự lâm phàm của Thượng đế.

124. Yes, DK is definitely speaking of our solar system, though the same could be applied to each atom in a vast progression of ever-larger ‘atoms’.

124. Đúng vậy, Chân sư DK chắc chắn đang nói về hệ mặt trời của chúng ta, dù điều tương tự cũng có thể được áp dụng cho mỗi nguyên tử trong một chuỗi tiến triển rộng lớn gồm những ‘nguyên tử’ ngày càng lớn hơn.

125. As logoic pralaya is about to occur, the one Sun becomes seven Suns.

125. Khi giai kỳ qui nguyên của Thượng đế sắp xảy ra, một Mặt Trời trở thành bảy Mặt Trời.

126. Perhaps there is an analogy to the conclusion of a human incarnation.

126. Có lẽ có một phép loại suy với sự kết thúc của một lần lâm phàm của con người.

127. The Solar Logos will reincarnate again in the next major solar system, but will so, apparently, without the participation of a causal body which should have been destroyed in this solar system, IF the Solar Logos achieves the fourth initiation as it is said He should. In fact, there are places in the teaching where we are told that He could achieve the fifth degree.

127. Thái dương Thượng đế sẽ tái lâm phàm lần nữa trong hệ mặt trời lớn kế tiếp, nhưng dường như sẽ làm như vậy mà không có sự tham gia của một thể nguyên nhân, vốn lẽ ra phải bị hủy diệt trong hệ mặt trời này, NẾU Thái dương Thượng đế đạt được lần điểm đạo thứ tư như người ta nói Ngài phải đạt. Thật ra, có những chỗ trong giáo huấn cho chúng ta biết rằng Ngài có thể đạt đến cấp độ thứ năm.

These seven Heavenly Men, in Whose bodies each human Monad and each deva finds his place, form the seven centres in the body of the Logos. He, in His turn, forms the Heart centre (for God is Love) of a still greater Entity. The consummation of all for this solar system will be when the Logos takes His fifth initiation. When all the sons of men attain the fifth initiation, He achieves. This is a great mystery and incomprehensible to us. (IHS 99)

Bảy Đấng Thiên Nhân này, trong các thể của Các Ngài mỗi chân thần nhân loại và mỗi thiên thần đều tìm thấy vị trí của mình, tạo thành bảy trung tâm trong thân thể của Thượng đế. Đến lượt Ngài, Ngài tạo thành trung tâm Tim (vì Thượng đế là Tình thương) của một Thực Thể còn lớn hơn nữa. Sự viên mãn của tất cả đối với hệ mặt trời này sẽ là khi Thượng đế đạt lần điểm đạo thứ năm của Ngài. Khi tất cả những người con của nhân loại đạt lần điểm đạo thứ năm, Ngài đạt được. Đây là một huyền nhiệm lớn lao và không thể hiểu nổi đối với chúng ta. (IHS 99)

128. What kind of incarnation is taken without the aid of causal body? Is it a ‘mayavirupic’ incarnation? Will the entire next solar system be more in the form of a mayavirupa than the present one? Will it be a “will-created” solar system?

128. Đó là loại lâm phàm nào được thực hiện mà không có sự trợ giúp của thể nguyên nhân? Có phải đó là một lần lâm phàm ‘mayavirupic’ không? Toàn bộ hệ mặt trời kế tiếp sẽ mang hình thức của một mayavirupa nhiều hơn hệ hiện tại chăng? Nó sẽ là một hệ mặt trời “được tạo ra bởi ý chí” chăng?

It is produced under this Law of Expansion,

Nó được tạo ra dưới Định luật Mở Rộng này,

129. The final sevenfold display is produced under the Law of Expansion.

129. Sự biểu lộ thất phân cuối cùng được tạo ra dưới Định luật Mở Rộng.

130. When the one becomes the seven, it is a sign that synthesis has been achieved. Perhaps we can consider this phenomenon a symbol of the perfecting of all seven planes.

130. Khi cái một trở thành cái bảy, đó là dấu hiệu cho thấy tổng hợp đã được thành tựu. Có lẽ chúng ta có thể xem hiện tượng này là một biểu tượng của sự hoàn thiện của cả bảy cõi.

and causes that eventual merging and blending of the seven sacred planetary schemes

và gây ra sự hòa nhập và dung hợp sau cùng của bảy hệ hành tinh thiêng liêng ấy

131. Note this, as the non-sacred planetary schemes, if such still exist by that point of merging, will have merged with appropriate sacred planet well before the great merging towards the end of the objective solar system.

131. Hãy lưu ý điều này, vì các hệ hành tinh không thiêng liêng, nếu đến thời điểm hòa nhập ấy chúng vẫn còn tồn tại, sẽ đã hòa nhập với những hành tinh thiêng liêng thích hợp từ rất lâu trước cuộc đại hòa nhập vào cuối hệ mặt trời khách quan.

which marks the achievement of the goal, and their eventual perfection.

điều đánh dấu việc đạt được mục tiêu, và sự hoàn thiện sau cùng của chúng.

132. It becomes clear that towards the end of the solar systemic process, only seven sacred planetary schemes will remain, even though a number of additional planets, like the Earth, will be sacred before long. Still, its seems, their fate is to be absorbed before the greater merging.

132. Rõ ràng là về cuối tiến trình hệ mặt trời, chỉ còn lại bảy hệ hành tinh thiêng liêng, dù một số hành tinh bổ sung, như Trái Đất, chẳng bao lâu nữa sẽ trở nên thiêng liêng. Tuy nhiên, dường như số phận của chúng là bị hấp thu trước cuộc đại hòa nhập lớn hơn.

In occult literature this term "Law of Expansion" is limited to the discussion of the seven Rays, and to the subject of the planetary initiations. When dealing with the expansions of consciousness of the human being, and his initiations, we group them under the second "Law of Monadic Return."

Trong văn liệu huyền bí, thuật ngữ "Định luật Mở Rộng" này được giới hạn vào việc bàn về bảy cung, và về chủ đề các điểm đạo hành tinh. Khi đề cập đến những sự mở rộng tâm thức của con người, và các điểm đạo của y, chúng ta xếp chúng dưới “Định luật Trở Về của Chân Thần” thứ hai.

133. We are being given an important comparison. The "Law of Expansion" is analogous to the "Law of Monadic Return".

133. Chúng ta đang được trao cho một sự so sánh quan trọng. "Định luật Mở Rộng" tương tự với "Định luật Trở Về của Chân Thần".

134. The “seven Rays”, in this instance, are the seven Ray Lords, or seven Planetary Logoi.

134. “Bảy cung”, trong trường hợp này, là bảy Đấng Chúa Tể Cung, hay bảy Hành Tinh Thượng Đế.

135. We seem to be speaking of the expansion of the solar sphere and of the expansion of the planetary spheres within the solar sphere. More importantly, we are speaking of the expansion of consciousness for the Beings Who ensoul these spheres.

135. Dường như chúng ta đang nói về sự mở rộng của khối cầu mặt trời và sự mở rộng của các khối cầu hành tinh bên trong khối cầu mặt trời. Quan trọng hơn, chúng ta đang nói về sự mở rộng của tâm thức đối với các Đấng phú linh cho những khối cầu này.

136. Under the "Law of Monadic Return" the Monad, we may assume, ‘expands’ its consciousness within the context of its Planetary Logos and perhaps within the wider sphere in which it will seek evolution as it treads the Way of Higher Evolution.

136. Dưới "Định luật Trở Về của Chân Thần", chúng ta có thể giả định rằng chân thần ‘mở rộng’ tâm thức của nó trong bối cảnh Hành Tinh Thượng Đế của nó và có lẽ trong khối cầu rộng lớn hơn, nơi nó sẽ tìm kiếm tiến hoá khi bước đi trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

137. We should remember that the “Law of Expansion” relates primarily to consciousness and secondarily to the production of spherical form which embodies that consciousness and through which that consciousness must express.

137. Chúng ta nên nhớ rằng “Định luật Mở Rộng” chủ yếu liên hệ đến tâm thức và thứ yếu liên hệ đến việc tạo ra hình tướng cầu thể hiện thân cho tâm thức ấy và qua đó tâm thức ấy phải biểu lộ.

Students should here remember that we are dealing with the expansions of consciousness

Các đạo sinh ở đây nên nhớ rằng chúng ta đang đề cập đến những sự mở rộng tâm thức

138. We are speaking of expansions of consciousness. We are not speaking of material or substantial expansions. DK sees fit to reiterate the idea because of our tendency to materialize concepts.

138. Chúng ta đang nói về những sự mở rộng của tâm thức. Chúng ta không nói về những sự mở rộng vật chất hay chất liệu. Chân sư DK thấy cần nhắc lại ý tưởng này vì khuynh hướng hiện hình các khái niệm của chúng ta.

of a planetary Logos through the medium of:

của một Hành Tinh Thượng Đế thông qua:

a. The chains.

a. Các Dãy.

b. The rounds.

b. Các cuộc tuần hoàn.

c. The kingdoms of nature.

c. Các giới trong thiên nhiên.

d. The root races.

d. Các giống dân gốc.