Trích nội dung chương
139. There are given in descending order of scope, though the kingdoms of nature are expressions of systemic Beings and not just planetary Beings. 139. Chúng được đưa ra theo thứ tự giảm dần về phạm vi, dù các giới trong thiên nhiên là những biểu hiện của các Đấng hệ thống chứ không chỉ của các Đấng hành tinh.
139. There are given in descending order of scope, though the kingdoms of nature are expressions of systemic Beings and not just planetary Beings.
139. Chúng được đưa ra theo thứ tự giảm dần về phạm vi, dù các giới trong thiên nhiên là những biểu hiện của các Đấng hệ thống chứ không chỉ của các Đấng hành tinh.
140. In any case, various types of forms are used by E/entities as they seek the expansion of their consciousness.
140. Dù sao đi nữa, nhiều loại hình tướng khác nhau được các T/thực thể sử dụng khi chúng tìm kiếm sự mở rộng tâm thức của mình.
It should be remembered that the consciousness He is in process of developing is that of the absolute will and purpose of the solar Logos, as it is the expression of the desire of the cosmic Logos.8
Cần nhớ rằng tâm thức mà Ngài đang trong tiến trình phát triển là tâm thức của ý chí và mục đích tuyệt đối của Thái dương Thượng đế, vì đó là biểu hiện của dục vọng của Thượng đế vũ trụ.8
141. This statement puts things in proportion. The Solar Logos, we learn in other references, is still attempting to achieve cosmic mental polarization but, relative to a Planetary Logos, is a "Lion of Cosmic Will", and demonstrates, relatively, “absolute will”.
141. Phát biểu này đặt mọi sự vào đúng tỉ lệ. Qua những tham chiếu khác, chúng ta biết rằng Thái dương Thượng đế vẫn đang cố gắng đạt đến sự phân cực trí tuệ vũ trụ, nhưng so với một Hành Tinh Thượng Đế, Ngài là một "Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ", và tương đối mà nói, biểu lộ “ý chí tuyệt đối”.
142. What is will for our Solar Logos is desire for our local Cosmic Logos, Whose Will must be something far greater still.
142. Điều là ý chí đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta lại là dục vọng đối với Thượng đế Vũ Trụ cục bộ của chúng ta, mà Ý Chí của Ngài hẳn còn là một điều lớn lao hơn rất nhiều nữa.
143. The strange thing in all these statements is that the meaning of “absolute” is “relative”—relative to the ring-pass-not to which it refers.
143. Điều lạ lùng trong tất cả những phát biểu này là ý nghĩa của “tuyệt đối” lại là “tương đối”—tương đối với vòng-giới-hạn mà nó quy chiếu đến.
Footnote 8:
Chú thích 8:
The four sub-divisions of desire should be studied in the Brahmana of the Sama-veda.
Bốn phân bộ của dục vọng nên được nghiên cứu trong Brahmana của Sama-veda.
144. The fifth ray (of Aryan consciousness) will always produce divisions and sub-divisions. Yet, for all that, the mind is kept organized by such divisions.
144. Cung năm (của tâm thức Arya) sẽ luôn tạo ra các phân chia và phân bộ. Tuy nhiên, dù vậy, trí tuệ vẫn được giữ cho có tổ chức nhờ những sự phân chia ấy.
(1) The desire to know; whence
(1) Dục vọng muốn biết; từ đó có
(2) the desire to possess; thereafter
(2) dục vọng muốn sở hữu; sau đó là
(3) the desire to secure possession, i.e., to take the necessary steps, the action, that will bring possession; and finally
(3) dục vọng muốn bảo đảm sự sở hữu, tức là thực hiện những bước cần thiết, hành động sẽ đem lại sự sở hữu; và cuối cùng là
145. All of these seems to be expressions of Taurean energy. Taurus, of course, is a strong expression of the energy of desire.
145. Tất cả những điều này dường như đều là những biểu hiện của năng lượng Kim Ngưu. Dĩ nhiên, Kim Ngưu là một biểu hiện mạnh mẽ của năng lượng dục vọng.
(4) the attainment—these respectively are the four sub-divisions, cognitive-desire, desire-proper, active-desire and summation-desire.
(4) sự đạt được—tương ứng, đây là bốn phân bộ: dục vọng nhận thức, dục vọng đúng nghĩa, dục vọng hoạt động và dục vọng tổng kết.
146. We see from the term “cognitive-desire” that the mind is involved in the process—not only the desire body. As well, the personality enters with its grasping nature.
146. Chúng ta thấy từ thuật ngữ “dục vọng nhận thức” rằng trí tuệ có tham gia vào tiến trình—không chỉ riêng thể dục vọng. Đồng thời, phàm ngã cũng tham gia với bản chất chộp bắt của nó.
147. Of course there are soul-possessions too.
147. Dĩ nhiên cũng có những sự sở hữu của linh hồn nữo.
148. We see that the "Law of Expansion" is related to the out-reaching of desire.
148. Chúng ta thấy rằng "Định luật Mở Rộng" có liên hệ với sự vươn ra của dục vọng.
149. From another perspective, we see a descent from the mental to the astral to the physical plane. We could even think that phase number three correlates with the etheric body and phase four, “summation-desire” with a final expression upon the physical plane.
149. Từ một góc nhìn khác, chúng ta thấy một sự giáng xuống từ cõi trí đến cõi cảm dục rồi đến cõi hồng trần. Chúng ta thậm chí có thể nghĩ rằng giai đoạn số ba tương ứng với thể dĩ thái và giai đoạn bốn, “tổng hợp-dục vọng”, với một biểu hiện chung cuộc trên cõi hồng trần.
150. Of course, some objects of desire are not physical at all, and so “summation-desire” cannot be considered strictly physical.
150. Dĩ nhiên, một số đối tượng của dục vọng hoàn toàn không mang tính hồng trần, và vì vậy “tổng hợp-dục vọng” không thể được xem là hoàn toàn thuộc hồng trần.
151. Taurus is that sign of the zodiac particularly related to the factor of desire.
151. Kim Ngưu là dấu hiệu hoàng đạo đặc biệt liên hệ với yếu tố dục vọng.
"The ruler of desire is Shiva and his instruction to his sub-hierarchs takes this shape:
"Chủ tinh của dục vọng là Shiva và huấn thị của ông dành cho các huyền giai phụ thuộc của ông mang hình thức này:
152. We pay attention to the word “ruler”, for Shiva is the Lord of Will and will rules desire. Yet Shiva’s emblem is the Trident, the symbol of Neptune, and from one perspective, the astral plane on which desire is focussed.
152. Chúng ta chú ý đến từ “chủ tinh”, vì Shiva là Chúa Tể của Ý Chí và ý chí cai quản dục vọng. Tuy nhiên, biểu tượng của Shiva là Cây Đinh Ba, biểu tượng của Sao Hải Vương, và từ một góc nhìn nào đó, của cõi cảm dục nơi dục vọng được tập trungd.
Behold, our work is the work of destruction. The order and the way thereof are these. This should be destroyed first, this afterwards; and such and such work of the nature of negation should be performed.
Hãy nhìn xem, công việc của chúng ta là công việc hủy diệt. Trật tự và phương cách của nó là như thế này. Điều này phải bị hủy diệt trước, điều kia sau đó; và công việc này công việc nọ thuộc bản chất phủ định phải được thực hiện.
153. Shiva—the ‘Lord of Negation’, the purpose of which is to reveal the reality which has been confined in form.
153. Shiva—‘Chúa Tể của Phủ Định’, mà mục đích là làm lộ ra thực tại đã bị giam hãm trong hình tướng.
First, make enquiry, entertain the 'desire to know,' and thoroughly and fully understand the nature of the I and the This. Then entertain the desire to possess, 'I shall obtain the This and the I.' Having obtained them, you will pass on to the Negation, to the declaration, 'no (I want them no more).'
Trước hết, hãy truy cứu, nuôi dưỡng 'dục vọng muốn biết', và thấu hiểu một cách trọn vẹn và đầy đủ bản chất của Cái Tôi và Cái Này. Rồi hãy nuôi dưỡng dục vọng muốn sở hữu, 'Tôi sẽ đạt được Cái Này và Cái Tôi.' Sau khi đã đạt được chúng, bạn sẽ tiến đến Phủ Định, đến lời tuyên bố, 'không (tôi không còn muốn chúng nữa).'
154. Negation is an aspect of the process which was not discussed above—the idea that negation must necessarily follow consummation. It is the fifth factor.
154. Phủ định là một phương diện của tiến trình đã không được bàn đến ở trên—ý niệm rằng phủ định tất yếu phải theo sau sự hoàn mãn. Đó là yếu tố thứ năm.
In the Negation is the summation, sam-a-hara, 'bringing all together,' and it is the sam-hara also, the 'taking all in,' re-absorption, destruction."—Pranava-Vada, p. 364.
Trong Phủ Định có sự tổnghợp, sam-a-hara, 'mang tất cả lại cùng nhau,' và cũng là sam-hara, 'thu tất cả vào trong,' tái hấp thu, hủy diệt."—Pranava-Vada, tr. 364.
155. This excerpt gives the basis for planetary obscuration, synthesis and reabsorption. No form can be allowed to remain what it is forever. If so, it would become a permanent veil upon reality.
155. Đoạn trích này cung cấp cơ sở cho sự che khuất hành tinh, sự tổng hợp và sự tái hấp thu. Không hình tướng nào có thể được phép mãi mãi giữ nguyên như nó vốn là. Nếu vậy, nó sẽ trở thành một bức màn thường tồn che phủ thực tại.
156. VSK reminds us: “Note that the Pranava Vada is on www.makara.us, thanks to Dr. Guy Pettitt: http://www.makara.us/05ref/01books/pranavavada/pv_toc.htm”
156. VSK nhắc chúng ta: “Lưu ý rằng Pranava Vada có trên www.makara.us, nhờ Dr. Guy Pettitt: http://www.makara.us/05ref/01books/pranavavada/pv_toc.htm”
Therefore, the expansions might be grouped as follows: [Page 1043]
Vì vậy, các sự mở rộng có thể được nhóm lại như sau: [Page 1043]
157. In the statements below, note the interesting use of “desire” and “will”.
157. Trong các phát biểu dưới đây, hãy lưu ý cách dùng thú vị của “dục vọng” và “ý chí”.
1. The solar Logos expands His consciousness to include the desire of the cosmic Logos.
1. Thái dương Thượng đế mở rộng tâm thức của Ngài để bao gồm dục vọng của Thượng đế Vũ Trụ.
158. It is the will of the Solar Logos to include the desire of the Cosmic Logos.
158. Đó là ý chí của Thái dương Thượng đế nhằm bao gồm dục vọng của Thượng đế Vũ Trụ.
159. The ancient saying, so often used ironically in the modern world, here applies: “Your wish is my command!”
159. Câu nói cổ xưa, vốn thường được dùng với ý mỉa mai trong thế giới hiện đại, ở đây lại thích hợp: “Điều bạn mong muốn là mệnh lệnh của tôi!”
160. A being cannot expand into the higher or highest aspect of a greater being, but only into a lower aspect. We rise to the “feet” of the Solar Angel. We do not rise immediately to its heart or head.
160. Một hữu thể không thể mở rộng vào phương diện cao hơn hay cao nhất của một hữu thể lớn hơn, mà chỉ có thể vào một phương diện thấp hơn. Chúng ta vươn lên đến “bàn chân” của Thái dương Thiên Thần. Chúng ta không lập tức vươn lên đến tim hay đầu của Ngài.
2. The planetary Logos expands His consciousness to measure up to the will and purpose of the Solar Logos.
2. Hành Tinh Thượng Đế mở rộng tâm thức của Ngài để vươn tới ý chí và mục đích của Thái dương Thượng đế.
161. Presumably the Planetary Logos is already responding to the desire of the Solar Logos. Presumably the Solar Logos has not yet been able to fulfill even the desire of the Cosmic Logos, let alone the will of that greater Being.
161. Có lẽ Hành Tinh Thượng Đế đã đang đáp ứng với dục vọng của Thái dương Thượng đế. Có lẽ Thái dương Thượng đế vẫn chưa thể hoàn thành ngay cả dục vọng của Thượng đế Vũ Trụ, huống chi là ý chí của Hữu thể vĩ đại hơn ấy.
162. May we presume that a Planetary Logos is much closer in its development to a Solar Logos than a Solar Logos is to a Cosmic Logos (consisting of seven major Solar Logoi and perhaps many other subsidiary Solar Logoi)?
162. Chúng ta có thể giả định rằng một Hành Tinh Thượng Đế gần với Thái dương Thượng đế hơn nhiều trong sự phát triển của Ngài so với mức Thái dương Thượng đế gần với Thượng đế Vũ Trụ hay không (gồm bảy Thái dương Thượng đế chính và có lẽ nhiều Thái dương Thượng đế phụ thuộc khác)?
163. The vehicles for the Planetary Logoi, the planets, are said in The Secret Doctrine to be born along with the Sun, the vehicle of the Solar Logos. (Maritanda and His seven Brothers.)
163. Các vận cụ của các Hành Tinh Thượng Đế, tức các hành tinh, được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm là được sinh ra cùng với Mặt Trời, vận cụ của Thái dương Thượng đế. (Maritanda và bảy Huynh Đệ của Ngài.)
164. As we study the sequence presented here by DK, we see, so far, an alternation—measuring up to desire, to will and again to desire but the sequence is not perfect.
164. Khi nghiên cứu trình tự do Chân sư DK trình bày ở đây, cho đến nay chúng ta thấy một sự luân phiên—vươn tới dục vọng, tới ý chí rồi lại tới dục vọng, nhưng trình tự này không hoàn toàn chuẩn xác.
3. The Lords of the Chains are working at the desire consciousness (the love nature) of the planetary Logos.
3. Các Đấng Giải Thoát của các Dãy đang hoạt động trên tâm thức dụcvọng (bản chất bác ái) của Hành Tinh Thượng Đế.
165. The relation of the Chain-Lord to the Planetary Logos is analogous to the relation of the Solar Logos to His Cosmic Logos.
165. Mối liên hệ của Chúa Tể Dãy với Hành Tinh Thượng Đế tương đồng với mối liên hệ của Thái dương Thượng đế với Thượng đế Vũ Trụ của Ngài.
166. The relation of a Planetary Logos to the Solar Logos is not however analogous to the relation of a Globe-Lord to a Planetary Logos.
166. Tuy nhiên, mối liên hệ của một Hành Tinh Thượng Đế với Thái dương Thượng đế lại không tương đồng với mối liên hệ của một Chúa Tể Bầu Hành Tinh với Hành Tinh Thượng Đế.
4. The informing Lives of the globe in the chain are working at the intelligent consciousness of the planetary Logos.
4. Các Sự Sống phú linh của bầu hành tinh trong dãy đang hoạt động trên tâm thức trí tuệ của Hành Tinh Thượng Đế.
167. The Globe-Lord is at two removes from the Planetary Logos. Perhaps, using analogy, we could say that a Planetary Logos would be working at the intelligent consciousness of a Cosmic Logos?
167. Chúa Tể Bầu Hành Tinh cách Hành Tinh Thượng Đế hai cấp. Có lẽ, dùng phép tương đồng, chúng ta có thể nói rằng một Hành Tinh Thượng Đế sẽ hoạt động trên tâm thức trí tuệ của một Thượng đế Vũ Trụ chăng?
168. One thing of importance—it is again confirmed for us that there are intelligent Lives manifesting through both chains and globes.
168. Một điều quan trọng—ở đây lại được xác nhận cho chúng ta rằng quả thật có những Sự Sống trí tuệ biểu hiện qua cả các dãy lẫn các bầu hành tinh.
169. One wonders about Their developmental position along the Path of the Planetary Logoi.
169. Người ta tự hỏi vị trí phát triển của Các Ngài nằm ở đâu trên Con đường của Hành Tinh Thượng Đếi.
This can be worked out in connection with a globe in a chain (such as our earth-chain) in the following manner.
Điều này có thể được suy ra liên hệ với một bầu hành tinh trong một dãy (chẳng hạn như dãy địa cầu của chúng ta) theo cách sau.
170. DK becomes specific in relation to our globe, chain and Planetary Logos hoping to give us some more practical understanding of the principles He has just stated.
170. Chân sư DK trở nên cụ thể hơn liên hệ với bầu hành tinh, dãy và Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, với hy vọng đem lại cho chúng ta một sự thấu hiểu thực tiễn hơn về các nguyên lý mà Ngài vừa nêu.
The Lord of the world, the planetary Logos,
Đức Chúa Tể Thế Giới, Hành Tinh Thượng Đế,
171. Notice, in this case, the Lord of the World is called the Planetary Logos and not Sanat Kumara.
171. Hãy lưu ý, trong trường hợp này, Đức Chúa Tể Thế Giới được gọi là Hành Tinh Thượng Đế chứ không phải Đức Sanat Kumara.
172. There really is no essential difference between Sanat Kumara and the Planetary Logos. Sanat Kumara, the Lord of the World is the Planetary Logos in a certain type of expression and at a ‘certain depth of immersion’ within the substances of the Earth-scheme.
172. Thật ra không có khác biệt cốt yếu nào giữa Đức Sanat Kumara và Hành Tinh Thượng Đế. Đức Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới, là Hành Tinh Thượng Đế trong một loại biểu hiện nhất định và ở một ‘độ sâu nhập vào’ nhất định trong các chất liệu của hệ hành tinh Địa Cầu.
in physical incarnation, works at His own peculiar problem, the bringing through (into physical manifestation upon the planet) of the purpose or will of the solar Logos in any particular scheme.
đang lâm phàm trên cõi hồng trần, hoạt động trên vấn đề đặc thù của riêng Ngài, là đưa vào (vào biểu hiện hồng trần trên hành tinh) mục đích hay ý chí của Thái dương Thượng đế trong bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào.
173. Our Planetary Logos is responsive to the will or purpose aspect of our Solar Logos which He expresses through His Emanation, Sanat Kumara—expressing especially within the fourth chain and upon our globe, the fourth globe.
173. Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đáp ứng với phương diện ý chí hay mục đích của Thái dương Thượng đế của chúng ta, mà Ngài biểu lộ qua Xuất lộ của Ngài, Đức Sanat Kumara—biểu lộ đặc biệt trong dãy thứ tư và trên bầu hành tinh của chúng ta, bầu hành tinh thứ tư.
This He does through meditation.
Ngài thực hiện điều này qua tham thiền.
174. And, thus, we are given a very strong hint about the manner in which we can impress our will upon a lesser sphere as we attempt to respond to the will and purpose of a greater source.
174. Và như vậy, chúng ta được ban cho một gợi ý rất mạnh về cách thức mà chúng ta có thể gây ấn tượng ý chí của mình lên một khối cầu nhỏ hơn khi cố gắng đáp ứng với ý chí và mục đích của một nguồn lớn hơn.
The totality of Dhyan Chohans of the fifth or spiritual kingdom are occupied with the working out into active manifestation of the will and purpose of the planetary Logos.
Tổng thể các Dhyan Chohan của giới thứ năm hay giới tinh thần đang bận rộn với việc triển khai vào biểu hiện tích cực ý chí và mục đích của Hành Tinh Thượng Đế.
175. Here is the relation between the one and the five—will and purpose work out through the number five. The structure of the Tetraktys reveals this.
175. Ở đây là mối liên hệ giữa số một và số năm—ý chí và mục đích được triển khai qua số năm. Cấu trúc của Tetraktys cho thấy điều này.
176. All those who have taken the first initiation and have, therefore, entered the fifth kingdom, are, to some degree, in process of becoming Dhyan Chohans—a term with much flexibility of application.
176. Tất cả những ai đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất và do đó đã bước vào giới thứ năm, ở một mức độ nào đó, đều đang trong tiến trình trở thành các Dhyan Chohan—một thuật ngữ có phạm vi áp dụng rất linh hoạt.
177. Masters and Arhats are, from this perspective, Dhyan Chohans.
177. Các Chân sư và các A La Hán, từ góc nhìn này, là các Dhyan Chohan.
The human family, or the fourth kingdom, is seeking to make manifest the desire, or love nature, of the planetary Logos.
Gia đình nhân loại, hay giới thứ tư, đang tìm cách biểu lộ dục vọng, hay bản chất bác ái, của Hành Tinh Thượng Đế.
178. This statement has to be compared to the labor or task of a Globe-Lord—which related to the intelligence aspect of the Planetary Logos.
178. Phát biểu này phải được so sánh với lao động hay nhiệm vụ của một Chúa Tể Bầu Hành Tinh—vốn liên hệ đến phương diện trí tuệ của Hành Tinh Thượng Đếs.
179. Is humanity responding to the Planetary Logos on His own plane or to the desire nature of Sanat Kumara—the emanative representative of our Planetary Logos.
179. Nhân loại đang đáp ứng với Hành Tinh Thượng Đế trên chính cõi của Ngài hay với bản chất dục vọng của Đức Sanat Kumara—đại diện xuất lộ của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta?
180. If we follow the possible analogies, we see that the human kingdom has the same relation to the Planetary Logos (or Sanat Kumara) as does the Chain-Lord.
180. Nếu chúng ta theo các phép tương đồng khả dĩ, chúng ta thấy rằng giới nhân loại có cùng mối liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế (hay Đức Sanat Kumara) như Chúa Tể Dãy vậy.
181. We could also say that the human kingdom has the same relationship to the Planetary Logos as the Solar Logos has to the Cosmic Logos!
181. Chúng ta cũng có thể nói rằng giới nhân loại có cùng mối liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế như Thái dương Thượng đế có với Thượng đế Vũ Trụ!
182. We see that the three sub-human kingdoms have the same relation to the Planetary Logos (or Sanat Kumara) as the Globe-Lord has to the Planetary Logos.
182. Chúng ta thấy rằng ba giới dưới nhân loại có cùng mối liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế (hay Đức Sanat Kumara) như Chúa Tể Bầu Hành Tinh có với Hành Tinh Thượng Đế.
183. These analogies are rough and there are scale issues involved. I believe it is most productive to consider the relation of the kingdoms on our globe as relations to the Planetary Logos as He manifests through Sanat Kumara on our globe.
183. Những phép tương đồng này còn thô và có những vấn đề về tỷ lệ liên quan. Tôi tin rằng điều hữu ích nhất là xem xét các mối liên hệ của các giới trên bầu hành tinh của chúng ta như những mối liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế khi Ngài biểu hiện qua Đức Sanat Kumara trên bầu hành tinh của chúng ta.
The three subhuman kingdoms have for objective the [Page 1044] manifesting of the intelligent nature of the planetary Logos.
Ba giới dưới nhân loại có mục tiêu là [Page 1044] biểu lộ bản chất trí tuệ của Hành Tinh Thượng Đế.
184. As stated above. Probably we could divide the three kingdoms according to their relation to the three aspects of the intelligence nature of the Planetary Logos (on our globe).
184. Như đã nói ở trên. Có lẽ chúng ta có thể phân chia ba giới theo mối liên hệ của chúng với ba phương diện của bản chất trí tuệ của Hành Tinh Thượng Đế (trên bầu hành tinh của chúng ta).
185. The analogies given are just the ‘seed of potential discovery’. In the new schools intricate papers could be written on a number of these analogical relationships and many new insights would appear.
185. Những phép tương đồng được đưa ra chỉ là ‘hạt giống của khám phá tiềm năng’. Trong các trường học mới, những khảo luận tinh vi có thể được viết về một số mối liên hệ tương đồng này và nhiều minh triết mới sẽ xuất hiện.
186. Information about the length of time it takes to develop from one atomic stage to another could be inferred.
186. Thông tin về khoảng thời gian cần thiết để phát triển từ một giai đoạn nguyên tử này sang giai đoạn khác có thể được suy ra.
All this done under the Law of Expansion, by the method of spiralling progression, cyclic growth, rotary repetition,
Tất cả điều này được thực hiện dưới Định luật Mở Rộng, bằng phương pháp tiến trình xoắnốc, tăng trưởng theo chu kỳ, lặp lại quay tròn,
187. Notice how in this sentence, DK discriminates the three factors according to their rays: spiraling progression suggests a combination of the first and second rays—being the particular manner in which the first ray can express in a second ray solar system.
187. Hãy lưu ý cách trong câu này, Chân sư DK phân biện ba yếu tố theo các cung của chúng: tiến trình xoắn ốc gợi ý một sự kết hợp của cung một và cung hai—là cách thức đặc thù mà cung một có thể biểu lộ trong một hệ mặt trời cung hai.
188. Cyclic growth is definitely to be correlated with the second ray.
188. Tăng trưởng theo chu kỳ chắc chắn phải được tương liên với cung hai.
189. Rotary repetition is correlated with the third ray.
189. Lặp lại quay tròn được tương liên với cung ba.
190. Perhaps we can differentiate spiralling progression (even though it has its cyclic dimension) from “cyclic growth”, by considering “cyclic growth” as ‘growth through repetition’. It would have less of the truly progressive action in it, less of the driving forward. It would be like saying, “We learn with every repetition.” Thus there is advancement and not strict repetition.
190. Có lẽ chúng ta có thể phân biệt tiến trình xoắn ốc (dù nó có chiều kích chu kỳ của nó) với “tăng trưởng theo chu kỳ”, bằng cách xem “tăng trưởng theo chu kỳ” như là ‘tăng trưởng qua lặp lại’. Nó sẽ có ít hành động thực sự tiến bộ hơn, ít lực thúc đẩy tiến lên hơn. Điều đó giống như nói, “Chúng ta học được điều gì đó qua mỗi lần lặp lại.” Vì vậy có sự tiến bộ chứ không phải sự lặp lại nghiêm ngặn.
191. “Spiralling progression” however, suggests a forced learning process because the cyclic returns are far less similar than in the process of “cyclic growth”.
191. Tuy nhiên, “tiến trình xoắn ốc” gợi ý một tiến trình học tập bị thúc ép, bởi vì những lần quay trở lại theo chu kỳ ít giống nhau hơn nhiều so với trong tiến trình “tăng trưởng theo chu kỳ”.
192. We see we have to make some fine discriminations here. It is not simply a question of naming ray one motion as ‘driving and progressive’; ray two motion as spiral-cyclic; and ray three motion as rotary and repetitive. There are overlaps.
192. Chúng ta thấy rằng ở đây phải thực hiện một số phân biện tinh tế. Đây không đơn giản chỉ là vấn đề gọi chuyển động cung một là ‘thúc đẩy và tiến bộ’; chuyển động cung hai là xoắn ốc-chu kỳ; và chuyển động cung ba là quay tròn và lặp lại. Có những chỗ chồng lấn.
and the summation of each greater spiral is the expansion of the consciousness into that of the sphere which enclosed the lesser ovoid, and the escape of the life imprisoned in the sphere.
và sự tổnghợp của mỗi vòng xoắn lớn hơn là sự mở rộng của tâm thức vào tâm thức của khối cầu đã bao bọc noãn cầu nhỏ hơn, và sự giải thoát của sự sống bị giam cầm trong khối cầu ấy.
193. We are speaking not only of expansion but of a consummating ‘alchemical escape’.
193. Chúng ta đang nói không chỉ về sự mở rộng mà còn về một ‘sự thoát ra mang tính luyện kim’ có tính hoàn mãn.
194. Apparently consciousness expands much more rapidly through “spiralling progression” than through mere cyclic activity however modestly growthful it may be.
194. Rõ ràng tâm thức mở rộng nhanh hơn nhiều qua “tiến trình xoắn ốc” so với qua hoạt động chu kỳ đơn thuần, dù hoạt động ấy có tính tăng trưởng khiêm tốn đến đâu.
195. Expansion comes under the second ray and the escape (necessitating a previous destruction) comes under the first though the Greater Life has exerted a magnetic attractive influence on the escaping essence, thus involving the second ray in the escape process.
195. Sự mở rộng thuộc cung hai và sự thoát ra (đòi hỏi một sự hủy diệt trước đó) thuộc cung một, dù Sự sống Vĩ Đại đã tác động một ảnh hưởng hấp dẫn từ tính lên tinh chất đang thoát ra, do đó lôi kéo cung hai vào tiến trình thoát ra.
196. Another thing DK is saying is that expansion occurs via spirals. One can think of a way that expansion could occur via a widening cyclic activity—widening or less on its own plane.
196. Một điều khác Chân sư DK đang nói là sự mở rộng xảy ra qua các vòng xoắn. Người ta có thể nghĩ đến một cách mà sự mở rộng có thể xảy ra qua một hoạt động chu kỳ mở rộng dần—mở rộng nhiều hay ít trên chính cõi của nó.
197. Perhaps we could refer one aspect of second ray motion to this type of cyclic ‘widening’. It would promote growth but not real progression. It would lack the thrust of the vertical dimension
197. Có lẽ chúng ta có thể quy một phương diện của chuyển động cung hai cho loại ‘mở rộng’ theo chu kỳ này. Nó sẽ thúc đẩy tăng trưởng nhưng không phải tiến bộ thực sự. Nó sẽ thiếu lực đẩy của chiều kích thẳng đứng
198. Are we saying then that to attain the vertical dimension, the influence of the first ray (even if modified and moderated) is needed?
198. Vậy thì chúng ta có đang nói rằng để đạt được chiều kích thẳng đứng, cần có ảnh hưởng của cung một (dù đã được biến đổi và điều hòa) hay không?
It is merged in its greater whole. As the fires of the sphere concerned blaze up, the "fire by friction" which produces rotary motion, and "solar fire," which is the basis of the spiral-cyclic activity, blend and merge.
Nó được hòa nhập vào toàn thể lớn hơn của nó. Khi các ngọn lửa của khối cầu liênhệ bùng lên, "Lửa ma sát" tạo ra chuyển động quay tròn, và "Lửa Thái dương," là nền tảng của hoạt động xoắn ốc-chu kỳ, hòa lẫn và dung hợp.
199. And presumably, as well, they rise.
199. Và có lẽ, đồng thời, chúng cũng vươn lên.
200. The blending and merging of these two fires produces an even more destructive force for liberation.
200. Sự hòa lẫn và dung hợp của hai ngọn lửa này tạo ra một mãnh lực hủy diệt còn lớn hơn nữa để giải thoát.
201. Now here, we have “spiral cyclic” activity as something promoted by “solar fire”.
201. Giờ đây ở đây, chúng ta có hoạt động “xoắn ốc-chu kỳ” như một điều được thúc đẩy bởi “Lửa Thái dương”.
202. Must we then discriminate between “spiralling progression” and “spiral-cyclic motion”?
202. Vậy thì chúng ta có phải phân biện giữa “tiến trình xoắn ốc” và “chuyển động xoắn ốc-chu kỳ” hay không?
203. Can we say that spiral-cyclic activity is produced entirely by the second ray and solar fire and does not have the influence of the first ray driving the cyclic motion forward into a spiral? I think we have to be careful here not to exclude the first ray from spiral-cyclic motion.
203. Chúng ta có thể nói rằng hoạt động xoắn ốc-chu kỳ được tạo ra hoàn toàn bởi cung hai và Lửa Thái dương, và không có ảnh hưởng của cung một thúc đẩy chuyển động chu kỳ tiến lên thành một vòng xoắn hay không? Tôi nghĩ ở đây chúng ta phải cẩn thận để không loại trừ cung một khỏi chuyển động xoắn ốc-chu kỳ.
204. The concept of the widening or expanding rotation to be associated with the second ray is important, I think. It gives growth on a horizontal plane without vertical progression.
204. Khái niệm về sự quay tròn mở rộng hay nở rộng gắn với cung hai, theo tôi, là quan trọng. Nó đem lại tăng trưởng trên một bình diện ngang mà không có sự tiến triển theo chiều dọc.
205. At the conflagration both lunar elementals and Solar Angels of various kinds are liberated. As this happens fire by friction and solar fire blend and merge. For the unit in process of liberation, love and intelligence are fully fused.
205. Trong cuộc đại hỏa hoạn, cả các hành khí thái âm lẫn các Thái dương Thiên Thần thuộc nhiều loại khác nhau đều được giải thoát. Khi điều này xảy ra, Lửa ma sát và Lửa Thái dương hòa lẫn và dung hợp. Đối với đơn vị đang trong tiến trình giải thoát, bác ái và trí tuệ được dung hợp hoàn toàn.
The ring-pass-not of the confining spheroidal wall is negated, and a blaze results.
Vòng-giới-hạn của bức tường hình cầu giam hãm bị phủ định, và một ngọn lửa bùng phát.
206. If there is sufficient expansion from the center, ring-pass-nots are threatened. Pressure is put upon them and they cannot withstand it.
206. Nếu có đủ sự mở rộng từ trung tâm, các vòng-giới-hạn sẽ bị đe dọa. Áp lực được đặt lên chúng và chúng không thể chống đỡ nổi.
The old Commentary expressed this as follows in connection with the planets, and it is equally, though relatively, true, of the atom of substance, or the solar atom:
Cổ Luận diễn tả điều này như sau liên hệ với các hành tinh, và điều đó cũng đúng, dù theo tỷ lệ tương đối, đối với nguyên tử của chất liệu, hay nguyên tử thái dương:
207. So the analogies are ours to make.
207. Vì vậy, những phép tương đồng là điều chúng ta phải tự thực hiện.
1. "The life pulsates, and the pole performs its function. The sphere revolves in many cycles. As it revolves it senses other spheres, and seeks to know their secret.
1. "Sự sống rung động, và cực thực hiện chức năng của nó. Khối cầu quay vòng trong nhiều chu kỳ. Khi quay vòng, nó cảm nhận các khối cầu khác, và tìm cách biết bí mật của chúng.
208. This phase is the one governed initially by rotary motion. It is the individual phase.
208. Đây là giai đoạn ban đầu được chi phối bởi chuyển động quay tròn. Đó là giai đoạn cá nhân.
209. The function of the positive pole is to engage with the negative atoms in the unit, thus causing rotation.
209. Chức năng của cực dương là tham gia với các nguyên tử âm trong đơn vị, nhờ đó gây ra sự quay tròn.
210. We can wonder here whether the word “revolves” do not, in a more technical sense, mean “rotates”.
210. Ở đây chúng ta có thể tự hỏi liệu từ “quay vòng” theo nghĩa kỹ thuật hơn có phải là “tự quay” hay không.
211. The sign Cancer represents the ‘self-contained sphere’. Initially, it produces the self-absorbed consciousness. But there is an interesting mantram which emerges in relation to the developing Cancerian individual: “the unit awakens to that which is around”. If we compare this process to the process indicated by “as it revolves it senses other spheres and seeks to know their secret”, we see a definite analogy. What is indicated is a movement from response to the third aspect of divinity only, to response to both the third aspect and the second aspect—the aspect which relates to others.
211. Cự Giải tượng trưng cho ‘khối cầu tự khép kín’. Ban đầu, nó tạo ra tâm thức tự hấp thu. Nhưng có một mantram thú vị xuất hiện liên hệ với cá nhân Cự Giải đang phát triển: “đơn vị thức tỉnh với điều ở chung quanh”. Nếu chúng ta so sánh tiến trình này với tiến trình được chỉ ra bởi câu “khi quay vòng, nó cảm nhận các khối cầu khác và tìm cách biết bí mật của chúng”, chúng ta thấy một phép tương đồng rõ rệt. Điều được chỉ ra là một sự chuyển động từ đáp ứng chỉ với phương diện thứ ba của thiên tính, sang đáp ứng với cả phương diện thứ ba lẫn phương diện thứ hai—phương diện liên hệ đến những kẻ khác.
2. They meet each other. They seek a greater intimacy or reject with hatred any more approach.
2. Chúng gặp nhau. Chúng tìm kiếm một sự thân mật lớn hơn hoặc khước từ với lòng căm ghét bất kỳ sự tiến gần thêm nào.
212. Now the Law of Attraction and Repulsion comes into effect. The issue of relationship becomes paramount and the quality of that relationship results in attraction, repulsion or, we may safely say, indifference.
212. Giờ đây Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi bắt đầu có hiệu lực. Vấn đề quan hệ trở nên tối quan trọng, và phẩm tính của mối quan hệ ấy dẫn đến hấp dẫn, đẩy lùi hoặc, chúng ta có thể yên tâm nói, điềm nhiên.
Some pass away; others return and marry.
Một số đi qua; những kẻ khác quay lại và kết hôn.
213. Those who “pass away” reject any further contact. Others form unions, marriages, based upon affinity.
213. Những kẻ “đi qua” khước từ mọi tiếp xúc thêm nữa. Những kẻ khác tạo thành các kết hợp, các cuộc hôn phối, dựa trên sự tương hợp.
They know each other.
Chúng biết nhaur.
214. This suggests interpenetration and union. This type of fusion is part of the ‘universal regathering’ under the impulse of desire and then love, and leads eventually to universal reunification.
214. Điều này gợi ý sự xuyên nhập lẫn nhau và sự hợp nhất. Loại dung hợp này là một phần của ‘sự quy tụ lại phổ quát’ dưới xung lực của dục vọng rồi đến bác ái, và cuối cùng dẫn đến sự tái hợp nhất phổ quát.
They spiral through their courses hand in hand.
Chúng xoắn ốc qua các quỹ đạo của mình tay trong tay.
215. Here DK is speaking of the lasting ‘marriages’ which involve not only human beings but also planets, stars and probably even constellations, galaxies and still larger structures.
215. Ở đây Chân sư DK đang nói về những ‘cuộc hôn phối’ bền vững không chỉ liên quan đến con người mà còn cả các hành tinh, các ngôi sao và có lẽ cả các chòm sao, các thiên hà và những cấu trúc còn lớn hơn nữa.
216. The discussion of spiral motion is interesting, because it suggests that in a real, spiritual marriage, both parties ascend—together. The thought is very beautiful
216. Cuộc bàn luận về chuyển động xoắn ốc thật thú vị, vì nó gợi ý rằng trong một cuộc hôn phối tinh thần đích thực, cả hai bên đều thăng lên—cùng nhau. Ý tưởng này rất đẹp
217. As an interesting aside, astronomers note more binary stars than isolated stars. Could these binaries indicate “stellar” marriage relationships!?
217. Nhân tiện, các nhà thiên văn lưu ý rằng có nhiều sao đôi hơn là sao cô lập. Liệu những sao đôi này có chỉ ra các mối quan hệ hôn phối “tinh tú” chăng!?
Through union the fires blaze up, the two become the one, and live again in their Son, who is the Third."
Qua sự hợp nhất, các ngọn lửa bùng lên, hai trở thành một, và lại sống trong Con của mình, Đấng là Thứ Ba."
218. Here we have indicated the consummation of the relationship, presumably in an act of love.
218. Ở đây chúng ta thấy được chỉ ra sự hoàn mãn của mối quan hệ, có lẽ trong một hành vi bác ái.
219. The mode by which lives within the universe progress is here given. The parents live in their child. This is so physically but also in subtler ways.
219. Phương thức mà các sự sống trong vũ trụ tiến bộ được nêu ra ở đây. Cha mẹ sống trong con mình. Điều này đúng về mặt hồng trần nhưng cũng đúng theo những cách tinh tế hơn.
220. But, who is the child?
220. Nhưng, ai là đứa con?
Through the study of these significant words students may learn somewhat concerning "polar affinity," the "Marriage in the Heavens," the transference of the germs of life from the male attractive planet to the negative and receptive one, and finally, at a later period, the absorption of the life of the two planets by a third planet, who is called occultly "the Son."
Qua việc nghiên cứu những lời đầy thâm nghĩa này, các đạo sinh có thể học được phần nào về "sự tương hợp cực tính," "Cuộc Hôn Phối trên Thiên Giới," sự chuyển dịch các mầm sống từ hành tinh trong Thiên Giớnam có tính hấp dẫn sang hành tinh âm và tiếp nhận, và cuối cùng, vào một thời kỳ muộn hơn, sự hấp thu sự sống của hai hành tinh bởi một hành tinh thứ ba, được gọi một cách huyền bí là "Người Con."
221. Much is implied here. Let us tabulate for clarity. We are dealing with--
221. Ở đây hàm chứa rất nhiều điều. Chúng ta hãy lập bảng cho rõ. Chúng ta đang đề cập đến--
a. The subject of “polar affinity”
a. Chủ đề “sự tương hợp cực tính”
b. The “Marriage in the Heavens”
b. “Cuộc Hôn Phối trên Thiên Giới”
c. The transference of the germs of life from male to female
c. Sự chuyển dịch các mầm sống từ nam sang nữ
d. The absorption of the life of two planets by a third—occultly, the “Son”.
d. Sự hấp thu sự sống của hai hành tinh bởi một hành tinh thứ ba—về mặt huyền bí, là “Người Con”.
222. Some points deserve closer consideration.
222. Một số điểm đáng được xem xét kỹ hơn.
223. We are speaking of planets, but we could speak of any types of atoms. Here we find the “male attractive planet”, which may seem an unusual idea. In nature, however, we often find that the male of the species has greater color (and the female is more plain), in order to attract the female. Usually, one would think that the negative pole would be the attractive unit, but here is it put differently. This assignment of attractiveness to the male correlates with the idea that magnetism is associated more with the first ray than with the second.
223. Chúng ta đang nói về các hành tinh, nhưng cũng có thể nói về bất kỳ loại nguyên tử nào. Ở đây chúng ta gặp “hành tinh nam có tính hấp dẫn”, điều này có vẻ là một ý tưởng khác thường. Tuy nhiên, trong thiên nhiên, chúng ta thường thấy con đực của loài có màu sắc nổi bật hơn (và con cái thì đơn giản hơn), để thu hút con cái. Thông thường, người ta sẽ nghĩ rằng cực âm mới là đơn vị hấp dẫn, nhưng ở đây lại được trình bày khác đi. Việc gán tính hấp dẫn cho nam tính này tương liên với ý tưởng rằng từ điện gắn với cung một nhiều hơn là với cung hai.
224. It is interesting that the “Son” absorbs the life of the two planets. This is so during the process of descent, or generation, but during the process of abstraction, the planets which stand for the “Father Aspect” absorb lesser planets. This later type of absorption is the work of synthesis. Yet below, such a synthesising planet is also called “the Son”.
224. Điều thú vị là “Con” hấp thu sự sống của hai hành tinh. Điều này đúng trong tiến trình giáng xuống, hay phát sinh, nhưng trong tiến trình trừu xuất, các hành tinh tượng trưng cho “Phương diện Cha” lại hấp thu các hành tinh nhỏ hơn. Kiểu hấp thu sau này là công việc của sự tổng hợp. Tuy nhiên, ở cấp thấp hơn, một hành tinh như thế cũng được gọi là “Con”.
This refers to the synthesising planet which forms the apex of the solar triangle.
Điều này nói đến hành tinh tổng hợp tạo thành đỉnh của tam giác thái dương.
225. How fascinating to hear the “synthesizing planet” called the “Son” when such a planet is really in the role of the primogenitor. Well—DK stresses that such a planet is “occultly” the “Son”.
225. Thật hấp dẫn khi nghe “hành tinh tổng hợp” được gọi là “Con”, trong khi một hành tinh như thế thực ra giữ vai trò của đấng sinh thành đầu tiên. DK nhấn mạnh rằng một hành tinh như thế, “một cách huyền bí”, là “Con”.
226. Perhaps that which is born between two merging planets is not so much a lesser planet which needs care and ‘upbringing’ as a capacity to be absorbed by a still greater planet. Perhaps we must contrast generation (which does not seem to apply in this case) to ‘re-generation’—the birth of that which is greater and ‘higher’ than either of the parents, or at least the birth of the power to be ‘lifted up’.
226. Có lẽ điều được sinh ra giữa hai hành tinh đang dung nhập không hẳn là một hành tinh nhỏ hơn cần được chăm sóc và “nuôi dưỡng”, mà là một năng lực để được hấp thu bởi một hành tinh còn lớn hơn nữa. Có lẽ chúng ta phải đối chiếu sự phát sinh (dường như không áp dụng trong trường hợp này) với “tái sinh” — sự ra đời của cái gì đó lớn hơn và “cao hơn” cả hai đấng sinh thành, hoặc ít nhất là sự ra đời của quyền năng được “nâng lên”.
227. What seems to be suggested is that if two planets ‘marry’ they will be absorbed the same synthesizing planet. At least this is one possible interpretation.
227. Điều dường như được gợi ý là nếu hai hành tinh “kết hôn” thì chúng sẽ được hấp thu bởi cùng một hành tinh tổng hợp. Ít nhất đây là một cách diễn giải khả dĩ.
228. There are most probably a number of marriages and mergings before the time comes to be merged into one of the synthesizing planets.
228. Rất có thể có một số cuộc hôn phối và sự dung nhập trước khi thời điểm đến để được dung nhập vào một trong các hành tinh tổng hợp.
229. So let us remember—the “Son” may indicate an absorbing, synthesizing planet.
229. Vì vậy, chúng ta hãy nhớ rằng — “Con” có thể chỉ một hành tinh hấp thu, tổng hợp.
In summing up the effect of the union of individual atomic rotary motion and the spiral cyclic activity of all [Page 1045] atomic groups,
Khi tóm lược ảnh hưởng của sự hợp nhất giữa chuyển động quay nguyên tử cá biệt và hoạt động chu kỳ xoắn ốc của mọi [Page 1045] nhóm nguyên tử,
230. We remember from the last commentary that a dual energy produced by the union of the first and second aspects unites with a third energy representing the third aspect.
230. Chúng ta nhớ từ phần bình luận trước rằng một năng lượng nhị nguyên do sự hợp nhất của phương diện thứ nhất và thứ hai tạo ra sẽ kết hợp với một năng lượng thứ ba tượng trưng cho phương diện thứ ba.
it is necessary to point out, therefore, that the following units are affected.
do đó, cần chỉ ra rằng các đơn vị sau đây bị tác động.
The essential individual atom. Its evolutionary progress towards self-determination
Nguyên tử cá biệt cốt yếu. Sự tiến hoá của nó hướng tới sự tự quyết định
231. Does this term mean “individualization”?
231. Thuật ngữ này có nghĩa là “biệt ngã hóa” chăng?
232. This is another difficult philosophical problem based on the assumption of a pyramidal structure to the Universe.
232. Đây là một vấn đề triết học khó khác, dựa trên giả định rằng Vũ trụ có một cấu trúc hình tháp.
is brought about by the effect of its group activity, or the motion of the form modifying its own inherent action.
được mang lại bởi ảnh hưởng của hoạt động nhóm của nó, hay chuyển động của hình tướng làm biến đổi hoạt động cố hữu của chính nó.
233. The life of every atom is modified by the form in which it finds itself imbedded.
233. Sự sống của mỗi nguyên tử đều bị biến đổi bởi hình tướng mà nó thấy mình được cắm vào trong đó.
234. The form pertains to the second aspect. The second aspect (the enveloping aspect as far as any atom is concerned) modifies the third aspect without negating it.
234. Hình tướng thuộc về phương diện thứ hai. Phương diện thứ hai (phương diện bao bọc, xét theo bất kỳ nguyên tử nào) làm biến đổi phương diện thứ ba mà không phủ nhận nó.
235. The group modifies the individual.
235. Nhóm làm biến đổi cá thể.
The atomic form, likewise an atomic unit, rotating on its own axis
Hình tướng nguyên tử, cũng là một đơn vị nguyên tử, quay trên trục riêng của nó
236. Is this the form composed of all similar atoms? Or are we simply speaking of congeries of similar atoms?
236. Đây có phải là hình tướng được cấu thành bởi mọi nguyên tử tương tự không? Hay chúng ta chỉ đang nói đến những tập hợp các nguyên tử tương tự?
237. It would seem that the first possibility is not likely, as DK speaks of an “embracing kingdom”. We know that not all atoms of the same type are embraced by the same kingdom.
237. Dường như khả năng thứ nhất không có vẻ đúng, vì DK nói đến một “giới bao trùm”. Chúng ta biết rằng không phải mọi nguyên tử cùng loại đều được bao trùm bởi cùng một giới.
238. We know at least this—that the “atomic form” is composed of many atoms and it not the individual atom.
238. Ít nhất chúng ta biết điều này — “hình tướng nguyên tử” được cấu thành bởi nhiều nguyên tử và không phải là nguyên tử cá biệt.
and influenced and driven
và bị ảnh hưởng và được thúc đẩy
239. It is the “spiral” aspect of “spiral-cyclic motion” which drives the form towards the center of a higher microcosm. The “spiral” aspect corresponds, in this solar system, with the first ray.
239. Chính phương diện “xoắn ốc” của “chuyển động xoắn ốc-chu kỳ” thúc đẩy hình tướng hướng về trung tâm của một tiểu thiên địa cao hơn. Phương diện “xoắn ốc” tương ứng, trong hệ mặt trời này, với cung một.
towards the centre of force of a higher macrocosm by the activity of its embracing kingdom.
hướng về trung tâm lực của một đại thiên địa cao hơn nhờ hoạt động của giới bao trùm nó.
240. We are speaking of the kingdom in which the atomic form is embraced. Within this kingdom there are series of progressively higher centers towards which the atomic form is “influenced and driven”
240. Chúng ta đang nói đến giới trong đó hình tướng nguyên tử được bao trùm. Trong giới này có những chuỗi trung tâm ngày càng cao hơn mà hình tướng nguyên tử bị “ảnh hưởng và được thúc đẩy” hướng tới.
241. What is important is that the greater embracing life has a propulsive and elevating effect upon the units of life it embraces.
241. Điều quan trọng là sự sống bao trùm lớn hơn có một tác động đẩy tới và nâng cao đối với các đơn vị sự sống mà nó bao trùm.
242. The following Rule from The Rays and the Initiations demonstrates this principle. “Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. This they must bring about through the evocation of the Will”.
242. Quy luật sau đây từ The Rays and the Initiations minh họa nguyên lý này. “Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa đều lắng xuống và các sự sống nhỏ hơn trở về hồ chứa của sự sống. Điều này họ phải mang lại qua sự gợi lên Ý Chí”.
243. We gather that if any unit of life were left simply to itself it would not progress at all rapidly, if at all. Relationship is needed to promote progression.
243. Chúng ta hiểu rằng nếu bất kỳ đơn vị sự sống nào bị để mặc hoàn toàn cho chính nó, nó sẽ không tiến bộ nhanh, nếu có tiến bộ chút nào. Cần có tương quan để thúc đẩy sự tiến triển.
244. We gather that an “atomic form” is found within a specific kingdom, so the “atomic form” cannot signify all atoms of the same type, but perhaps only those that within a given kingdom.
244. Chúng ta hiểu rằng một “hình tướng nguyên tử” được tìm thấy trong một giới nhất định, vì thế “hình tướng nguyên tử” không thể biểu thị tất cả các nguyên tử cùng loại, mà có lẽ chỉ những nguyên tử ở trong một giới nhất định.
245. All these proposals notwithstanding, it is difficult to know precisely what “the atomic form” is.
245. Bất chấp mọi đề nghị này, thật khó biết chính xác “hình tướng nguyên tử” là gì.
The human atom, self-determined and individual, yet driven progressively forward by the influence of its group, or the potent activity of the Heavenly Man in Whose body it is the cell.
Nguyên tử nhân loại, tự quyết định và cá biệt, nhưng vẫn được thúc đẩy tiến lên dần dần bởi ảnh hưởng của nhóm của nó, hay bởi hoạt động mãnh liệt của Đấng Thiên Nhân mà trong thân thể của Ngài nó là một tế bào.
246. The major group of the human unit is collection of lives which constitute the Heavenly Man. The human unit is merely a cell within that larger life. Earlier it was called an “atom” but it seems the term “atom” was being used generically and not with reference to the specific part played within the larger organism.
246. Nhóm lớn của đơn vị nhân loại là tập hợp các sự sống cấu thành Đấng Thiên Nhân. Đơn vị nhân loại chỉ là một tế bào trong sự sống lớn hơn ấy. Trước đó nó được gọi là một “nguyên tử”, nhưng dường như thuật ngữ “nguyên tử” đã được dùng theo nghĩa tổng quát chứ không nhằm chỉ phần vai trò chuyên biệt mà nó đảm nhiệm trong cơ thể lớn hơn.
247. Humanity is also a group which contains the human atom, and has its promotive effect upon that atom.
247. Nhân loại cũng là một nhóm chứa nguyên tử nhân loại, và có tác động thúc đẩy của nó lên nguyên tử ấy.
248. Note the words “driven progressively forward” as they suggest the first ray mode of motion called “progress onward”. The array of group energies and forces which impinge on the unit are stimulative of progress. The major propulsive factor is the will of the life of the great including whole.
248. Hãy lưu ý các từ “được thúc đẩy tiến lên dần dần” vì chúng gợi ý phương thức chuyển động của cung một được gọi là “tiến bước về phía trước”. Toàn bộ các năng lượng và mãnh lực nhóm tác động lên đơn vị đều kích thích sự tiến bộ. Nhân tố đẩy tới chủ yếu là ý chí của sự sống của toàn thể lớn bao gồm đó.
249. DK is approaching the whole quality of group consciousness and group effect from an ‘atomic’ perspective. He is looking at the whole matter from an abstract and technical perspective which reveals more clearly the principle involved.
249. DK đang tiếp cận toàn bộ phẩm tính của tâm thức nhóm và ảnh hưởng nhóm từ một góc nhìn “nguyên tử”. Ngài đang xem xét toàn bộ vấn đề từ một góc nhìn trừu tượng và kỹ thuật, nhờ đó nguyên lý liên hệ được bộc lộ rõ ràng hơn.d
250. We recognize that to speak of the “human atom” is a very impersonal way of dealing with the human being.
250. Chúng ta nhận ra rằng nói về “nguyên tử nhân loại” là một cách rất phi ngã tính khi đề cập đến con người.
The planetary atom, equally self-determined,
Nguyên tử hành tinh, cũng tự quyết định,
251. This term “self determined” or “self determination” is an important descriptor of atomic process. Either an atom tends towards “self-determination”, or already possesses it. This is the Leo dynamic within all atoms.
251. Thuật ngữ “tự quyết định” hay “sự tự quyết định” này là một mô tả quan trọng của tiến trình nguyên tử. Hoặc một nguyên tử hướng tới “sự tự quyết định”, hoặc nó đã sở hữu điều đó. Đây là động lực Sư Tử bên trong mọi nguyên tử.
a composite of all planetary groups, rotating on its own axis, yet conforming to the cyclic-spiralling action, induced by the activity of the greater sphere in which it finds its place.
là một tổng hợp của mọi nhóm hành tinh, quay trên trục riêng của nó, nhưng vẫn tuân theo tác động chu kỳ-xoắn ốc, được gây ra bởi hoạt động của khối cầu lớn hơn trong đó nó tìm thấy vị trí của mình.
252. The Solar Logos is the “greater sphere” in which the planetary atom finds its place. The Solar Logos induces in the planetary atom action of a “cyclic-spiraling” nature. We should remember that the solar system is really spherical and not ‘flat’ as so many diagrams depict it.
252. Thái dương Thượng đế là “khối cầu lớn hơn” trong đó nguyên tử hành tinh tìm thấy vị trí của nó. Thái dương Thượng đế gây ra trong nguyên tử hành tinh một hoạt động có tính chất “chu kỳ-xoắn ốc”. Chúng ta nên nhớ rằng hệ mặt trời thực sự có hình cầu chứ không “phẳng” như rất nhiều sơ đồ mô tả nó.
253. All lives upon our planet are caught up in the spiral-cyclic motion induced by the Solar Logos. In this sense, these lives will progress even if their individually determined efforts are not all that they could be. They will, under normal circumstances, be ‘carried along’ and will experience “cyclic growth”.
253. Mọi sự sống trên hành tinh chúng ta đều bị cuốn vào chuyển động xoắn ốc-chu kỳ do Thái dương Thượng đế gây ra. Theo nghĩa này, các sự sống ấy sẽ tiến bộ ngay cả khi những nỗ lực do cá nhân chúng tự quyết định không được như mức chúng có thể đạt tới. Trong những hoàn cảnh bình thường, chúng sẽ được “mang theo” và sẽ trải qua “sự tăng trưởng chu kỳ”.
254. The principle is: the greater whole, in its progress, will lift all its composite parts.
254. Nguyên lý là: toàn thể lớn hơn, trong sự tiến triển của nó, sẽ nâng tất cả các phần cấu thành của nó lên.
255. Those human atoms who choose the Path of Initiation are adding to this general uplifting tendency of the greater Life in which they are embraced, progressive tendencies which relate to the methods of the next solar system. They have definitely incorporated the first ray into their method of living.
255. Những nguyên tử nhân loại chọn Con Đường Điểm Đạo đang bổ sung vào khuynh hướng nâng lên chung này của Sự sống lớn hơn bao trùm họ những khuynh hướng tiến bộ liên hệ đến các phương pháp của hệ mặt trời kế tiếp. Họ đã dứt khoát kết hợp cung một vào phương pháp sống của mình.
The solar Atom, also an individualised Life, the Son in incarnation,
Nguyên tử thái dương, cũng là một Sự sống đã biệt ngã hóa, Con đang lâm phàm,
256. This means that the “solar Atom” is the soul of the Solar Logos in incarnation.
256. Điều này có nghĩa là “nguyên tử thái dương” là linh hồn của Thái dương Thượng đế đang lâm phàm.
through the medium of the Sun, pursuing its own inherent cycle,
thông qua trung gian của Mặt Trời, theo đuổi chu kỳ cố hữu của chính nó,
257. All distinct atoms pursue their own individual cycle.
257. Mọi nguyên tử phân biệt đều theo đuổi chu kỳ cá biệt của riêng nó.
yet spiralling in cyclic fashion through the heavens, and therefore, progressing through the effect of the extra-cosmic active Lives who either attract or repulse it.
nhưng vẫn xoắn ốc theo cách chu kỳ xuyên qua các cõi trời, và do đó, tiến triển nhờ ảnh hưởng của các Sự sống hoạt động ngoài vũ trụ, những Đấng hoặc hút nó hoặc đẩy lùi nó.
258. These will be constellational lives, the most important of which will be the Life of the Cosmic Logos by whom our Solar Logos and His solar system are embraced. Some have called the system of this Cosmic Logos the “Sirian System”
258. Đó sẽ là các sự sống chòm sao, trong đó quan trọng nhất sẽ là Sự sống của Thượng đế Vũ trụ mà bởi Ngài, Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ mặt trời của Ngài được bao trùm. Một số người đã gọi hệ thống của Thượng đế Vũ trụ này là “Hệ Sirius”.
259. We can see that the mutual attraction and repulsion of atoms occurs even on solar and cosmic levels. The dynamics are too great for us to register though such dynamics ultimately determine the fate of the “One in Whom we live and move and have our being”.
259. Chúng ta có thể thấy rằng sự hút và đẩy lẫn nhau của các nguyên tử xảy ra ngay cả ở các cấp thái dương và vũ trụ. Các động lực ấy quá lớn để chúng ta có thể ghi nhận, dù chính những động lực ấy rốt cuộc quyết định số phận của “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu”.
260. We remind ourselves that spiral-cyclic motion is evoked from any atomic system by a greater system (or systems) extraneous to it. In the example, the “extra-cosmic active Lives” represent such systems.
260. Chúng ta tự nhắc mình rằng chuyển động xoắn ốc-chu kỳ được gợi lên từ bất kỳ hệ thống nguyên tử nào bởi một hệ thống lớn hơn (hay các hệ thống lớn hơn) ở bên ngoài nó. Trong ví dụ này, “các Sự sống hoạt động ngoài vũ trụ” tượng trưng cho những hệ thống như thế.
These are the main sets of atomic groups, but there are many intermediate forms upon which it is not possible as yet to touch.
Đây là những tập hợp chính của các nhóm nguyên tử, nhưng có nhiều hình thức trung gian mà hiện nay chưa thể đề cập.
261. This is always the case. Available time prevents Master DK from going into all the details. We could not absorb them anyway and they might confuse us. But we can well imagine how many intermediate forms there are.
261. Điều này luôn luôn đúng. Thời gian có sẵn ngăn Chân sư DK đi vào mọi chi tiết. Dù sao chúng ta cũng không thể hấp thu chúng, và chúng có thể làm chúng ta rối trí. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể hình dung có bao nhiêu hình thức trung gian.
262. For instance, He frequently speaks of the atom, of man, of the Planetary Logos and the Solar Logos. He could as well speak of the Chain-Lords and Globe-Lords, because they are intermediate Lives working through intermediate forms—but He must preserve simplicity of outline in His presentation of the Teaching.
262. Chẳng hạn, Ngài thường nói về nguyên tử, về con người, về Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế. Ngài cũng có thể nói về các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu Hành Tinh, vì các Ngài là những Sự sống trung gian hoạt động qua những hình thức trung gian — nhưng Ngài phải giữ sự đơn giản của đại cương trong phần trình bày Giáo Huấn của Ngài.
All in nature affects that which it contacts,
Mọi sự trong thiên nhiên đều tác động đến điều mà nó tiếp xúc,
263. All contacts between units affect all units contacted.
263. Mọi tiếp xúc giữa các đơn vị đều tác động đến tất cả các đơn vị được tiếp xúc.
and these effects work either as
và những tác động này vận hành như
264. We have to keep the following dynamics in mind when we think of our human interactions and interplay.
264. Chúng ta phải ghi nhớ các động lực sau đây khi suy nghĩ về những tương tác và giao động qua lại của con người chúng ta.
a. Attractive or repulsive impulses.
a. Những xung lực hút hoặc đẩy.
b. Retarding or accelerating impulses.
b. Những xung lực trì hoãn hoặc gia tốc.
c. Destructive or constructive impulses.
c. Những xung lực phá hoại hoặc xây dựng.
d. Devitalising or stimulating impulses.
d. Những xung lực làm mất sinh lực hoặc kích thích.
e. Energising or disintegrating impulses.
e. Những xung lực tiếp sinh lực hoặc làm tan rã.
265. These categories pretty well cover the gamut of possibilities.
265. Những loại này khá đầy đủ để bao quát toàn bộ phạm vi các khả năng.
266. We also gather a good definition of “right relations”: they are attractive, accelerating, constructive, stimulating and energizing. These effects are largely those of the White Lodge upon humanity.
266. Chúng ta cũng rút ra được một định nghĩa tốt về “những tương quan đúng đắn”: chúng là hút, gia tốc, xây dựng, kích thích và tiếp sinh lực. Những tác động này phần lớn là của Thánh đoàn lên nhân loại.
267. Wrong relations are repulsive, retarding, destructive, devitalizing and disintegrating. These effects are largely those of the Black Lodge upon humanity.
267. Những tương quan sai lầm thì đẩy, trì hoãn, phá hoại, làm mất sinh lực và làm tan rã. Những tác động này phần lớn là của Hắc đoàn lên nhân loại.
268. The matter, of course, is not quite so simple, as careful thought will reveal. The White Lodge can be responsible for effects which are apparently deleterious to the form. The Black Lodge, on the other hand, can be responsible for effects which promote the apparent welfare of the form but which are deleterious to the consciousness within the form. Wise judgment is required to discriminate.
268. Dĩ nhiên, vấn đề không hoàn toàn đơn giản như thế, như sự suy nghĩ cẩn trọng sẽ cho thấy. Thánh đoàn có thể chịu trách nhiệm về những tác động bề ngoài dường như có hại cho hình tướng. Mặt khác, Hắc đoàn có thể chịu trách nhiệm về những tác động thúc đẩy phúc lợi bề ngoài của hình tướng nhưng lại có hại cho tâm thức bên trong hình tướng. Cần có sự phán đoán minh triết để phân biện.
Yet all can be expressed in terms of negative and positive [Page 1046] force, manifesting as rotary or spiral activity.
Tuy nhiên, tất cả đều có thể được diễn tả theo những thuật ngữ của mãnh lực âm và dương, [Page 1046]biểu hiện như hoạt động quay hay xoắn ốc.