← Commentary_S8_925_1078_song ngữ

269. DK is helping us understand the universal process in terms of the fundamental dynamics of motion. We are being given the common denominators of all living processes.

Trích nội dung chương

269. DK is helping us understand the universal process in terms of the fundamental dynamics of motion. We are being given the common denominators of all living processes. 269. DK đang giúp chúng ta hiểu tiến trình phổ quát theo những động lực căn bản của chuyển động. Chúng ta đang được trao cho những mẫu số chung của mọi tiến trình sống.


269. DK is helping us understand the universal process in terms of the fundamental dynamics of motion. We are being given the common denominators of all living processes.

269. DK đang giúp chúng ta hiểu tiến trình phổ quát theo những động lực căn bản của chuyển động. Chúng ta đang được trao cho những mẫu số chung của mọi tiến trình sống.

The lesser cycle can, from certain angles of vision, be regarded as appertaining to the rotary activity of certain atomic forms, and the greater cycles, which are so much more difficult for man to follow, as relating to the spiral action of the enclosing Life of the greater sphere.

Chu kỳ nhỏ hơn, từ một số góc độ tầm nhìn nào đó, có thể được xem là thuộc về hoạt động quay của một số hình tướng nguyên tử nhất định, còn các chu kỳ lớn hơn, vốn khó hơn rất nhiều để con người theo dõi, thì liên hệ đến hoạt động xoắn ốc của Sự sống bao bọc của khối cầu lớn hơn.

270. Is this why it is so much easier to understand astrological dynamics than it is to understand ray dynamics? The first is objective and concrete compared to the second.

270. Có phải vì thế mà việc hiểu các động lực chiêm tinh lại dễ hơn nhiều so với việc hiểu các động lực cung? Điều thứ nhất thì khách quan và cụ thể hơn điều thứ hai.

271. One cannot dogmatize on these matters, but astrology, as we understand it, relates to rotary motion and rayology to spiral-cyclic motion.

271. Không thể giáo điều về những vấn đề này, nhưng chiêm tinh học, theo cách chúng ta hiểu, liên hệ đến chuyển động quay còn khoa học về cung thì liên hệ đến chuyển động xoắn ốc-chu kỳ.

272. Our perspective is so confined that we have little notion of the activities within the “enclosing Life of the greater sphere”. We have been told generally of the purposes and processes of our Solar Logos, but cannot observe these for ourselves. This is even true in relation to the lesser macrocosm, our Planetary Logos. In fact, it is true of the full extent of the human microcosm—the monadic auric egg!

272. Góc nhìn của chúng ta bị giới hạn đến mức chúng ta hầu như không có khái niệm gì về các hoạt động bên trong “Sự sống bao bọc của khối cầu lớn hơn”. Chúng ta đã được nói một cách tổng quát về các mục đích và tiến trình của Thái dương Thượng đế của chúng ta, nhưng không thể tự mình quan sát chúng. Điều này thậm chí còn đúng trong liên hệ với đại thiên địa nhỏ hơn, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Thật ra, điều đó đúng với toàn bộ phạm vi của tiểu thiên địa nhân loại — noãn hào quang chân thần!

273. As we study esotericism in earnest, we must learn to respond to the requirement that we enlarge our perspective and the grasp of our mind.

273. Khi nghiên cứu huyền bí học một cách nghiêm túc, chúng ta phải học cách đáp ứng đòi hỏi phải mở rộng góc nhìn và tầm nắm bắt của trí tuệ chúng ta.

Every atom is part of a greater whole, even the solar atom is not a separated Life but a fragment of an immensity of Existence beyond the ken of man, and which is but dimly cognised by the most advanced Dhyan Chohan.

Mọi nguyên tử đều là một phần của một toàn thể lớn hơn; ngay cả nguyên tử thái dương cũng không phải là một Sự sống tách biệt mà là một mảnh đoạn của một Sự Hiện Hữu bao la vượt ngoài tầm hiểu biết của con người, và chỉ được nhận biết một cách mờ nhạt bởi vị Dhyan Chohan tiến hóa nhất.

274. DK could here be speaking of our local Cosmic Logos in which our Solar Logos and His system play a small but significant part. Or, He could be speaking of the "One About Whom Naught May Be Said"—a far mightier Logos in whom our Solar Logos plays a very small part.

274. Ở đây DK có thể đang nói về Thượng đế Vũ trụ cục bộ của chúng ta, trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ thống của Ngài giữ một phần nhỏ nhưng có ý nghĩa. Hoặc, Ngài có thể đang nói về "Đấng Bất Khả Tư Nghị" — một Thượng đế hùng mạnh hơn rất nhiều, trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta giữ một phần rất nhỏ.

275. Or could this “immensity of Existence” be the Galactic Logos in Whom our Solar Logos would, indeed, be merely a “fragment”? Within the Cosmic Logos our Solar Logos is a significant center of force. Within the Super-Cosmic Logos (the "One About Whom Naught May Be Said") our Solar Logos is a more minor center of force. But in what type of Being would our Solar Logos be simply a “fragment”?

275. Hay “Sự Hiện Hữu bao la” này có thể là Thượng đế Ngân Hà, trong Đấng ấy Thái dương Thượng đế của chúng ta quả thực chỉ là một “mảnh đoạn”? Trong Thượng đế Vũ trụ, Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trung tâm lực có ý nghĩa. Trong Thượng đế Siêu Vũ trụ ("Đấng Bất Khả Tư Nghị"), Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trung tâm lực nhỏ hơn. Nhưng trong loại Hữu thể nào thì Thái dương Thượng đế của chúng ta chỉ đơn thuần là một “mảnh đoạn”?

276. Who is the “most advanced Dhyan Chohan”? A Solar Angel is a Dhyan Chohan. Even a Planetary Logos can be considered a Dhyan Chohan. Perhaps DK means that such an “immensity of Existence” is beyond any type of Dhyan Chohan found on our planet.

276. Ai là “vị Dhyan Chohan tiến hóa nhất”? Một Thái dương Thiên Thần là một Dhyan Chohan. Ngay cả một Hành Tinh Thượng Đế cũng có thể được xem là một Dhyan Chohan. Có lẽ DK muốn nói rằng một “Sự Hiện Hữu bao la” như thế vượt ngoài bất kỳ loại Dhyan Chohan nào được tìm thấy trên hành tinh chúng ta.

277. One of the definitions most useful to us is to consider a Dhyan Chohan as a radiant Solar Angel.

277. Một trong những định nghĩa hữu ích nhất đối với chúng ta là xem một Dhyan Chohan như một Thái dương Thiên Thần rạng ngời.

The goal for a man is initiation, or to become a conscious Dhyan Chohan, and in some distant cycle to do for the humanity of that age what the solar Pitris have done for him, and make their self-conscious expression a possibility. The goal for a solar Pitri is, as said earlier, to become a logoic Ray. (TCF 836)

Mục tiêu của con người là điểm đạo, hay trở thành một Dhyan Chohan hữu thức, và trong một chu kỳ xa xôi nào đó làm cho nhân loại của thời đại ấy điều mà các thái dương tổ phụ đã làm cho y, và khiến sự biểu lộ ngã thức của họ trở thành một khả thể. Mục tiêu của một thái dương tổ phụ là, như đã nói trước đây, trở thành một cung logoic. (TCF 836)

2. The Law of Monadic Return.

2. Định luật Trở Về của Chân Thần.

278. We are definitely engaged in first ray studies—those which pertain to the Spirit of man and to the expansion of the consciousness of that Spirit (the second ray part of the equation).

278. Chúng ta chắc chắn đang tham gia vào những nghiên cứu cung một — những nghiên cứu liên hệ đến tinh thần của con người và đến sự mở rộng tâm thức của tinh thần ấy (phần cung hai của phương trình).

Here it is possible to study the Monad from the cyclic and energetic standpoint, and divorce our minds temporarily from that aspect of manifestation we call the human, or man.

Ở đây có thể nghiên cứu chân thần từ quan điểm chu kỳ và năng lượng, và tạm thời tách trí tuệ chúng ta khỏi phương diện biểu lộ mà chúng ta gọi là con người, hay nhân loại.getic standpoint, and divorce our minds temporarily from that aspect of manifestation we call the human, or man.

279. There is far more to the Monad than that tiny unit, man, who is nothing but His “shadow”. Of the soul man is the “reflection”.

279. Chân thần còn nhiều hơn rất nhiều so với đơn vị nhỏ bé là con người, kẻ không là gì khác ngoài “cái bóng” của Ngài. Đối với linh hồn, con người là “sự phản chiếu”.

In considering the "Divine Pilgrim"

Khi xem xét "Người Hành Hương Thiêng Liêng"

280. The Monad is the “Divine Pilgrim”. The Jiva Who goes forth from the Monad is even moreso. The Monad remains “at home” yet, in the form of the Jiva, “goes forth” on a pilgrimage. This is a paradox but solvable by one who understands the dynamics of emanation.

280. Chân thần là “Người Hành Hương Thiêng Liêng”. Jiva xuất phát từ chân thần còn đúng là như vậy hơn nữa. Chân thần vẫn “ở nhà”, nhưng dưới hình thức Jiva, lại “ra đi” trên một cuộc hành hương. Đây là một nghịch lý, nhưng có thể giải được đối với ai thấu hiểu các động lực của sự phát xạ.

we can study him [the “Divine Pilgrim”] as demonstrating in the form of:

chúng ta có thể nghiên cứu y [“Người Hành Hương Thiêng Liêng”] như biểu lộ trong hình thức của:

a. Three focal points of energy or force.

a. Ba tiêu điểm của năng lượng hay mãnh lực.

281. These are Will, Wisdom and Activity—the constituent energies of the Monad, and their reflections in the three periodical vehicles.

281. Đó là Ý Chí, Minh triết và Hoạt động — các năng lượng cấu thành của chân thần, và các phản chiếu của chúng trong ba vận cụ chu kỳ.

282. One can also consider the three periodical vehicles as the Monad demonstrating through “free focal points of energy or force”.

282. Người ta cũng có thể xem ba vận cụ chu kỳ như chân thần đang biểu lộ qua “ba tiêu điểm tự do của năng lượng hay mãnh lực”.

b. Three fires, each producing a definite effect, and each in turn producing effects upon each other.

b. Ba ngọn lửa, mỗi ngọn tạo ra một tác động xác định, và mỗi ngọn lần lượt tạo ra tác động lên nhau.

283. The three fires are fire by friction, solar fire and electric fire; they are interactive.

283. Ba ngọn lửa là Lửa ma sát, Lửa Thái dương và Lửa Điện; chúng tương tác với nhau.

284. The Monad does not manifest alone through electric fire, but through all three fires.

284. Chân thần không biểu lộ chỉ qua Lửa Điện, mà qua cả ba ngọn lửa.

285. Within the monadic system, the three fires can also be considered the Monad itself, the Ego on the higher mental plane, and the personality in the lower three worlds.

285. Trong hệ thống chân thần, ba ngọn lửa cũng có thể được xem là chính chân thần, chân ngã trên Cõi thượng trí, và phàm ngã trong ba cõi thấp.

In relation to a solar system, these three fires on the cosmic planes are called:9 [Page 1047]

Trong liên hệ với một hệ mặt trời, ba ngọn lửa này trên các cõi vũ trụ được gọi là:9 [Page 1047]

286. See Chart V, TCF 344.

286. Xem Biểu đồ V, TCF 344.

1. The central spiritual sun (essential).

1. Mặt trời Tinh thần Trung Ương (cốt yếu).

287. We can consider the Central Spiritual Sun as the monadic nature of the Solar Logos. The ‘home’ of the Central Spiritual Sun is upon the cosmic monadic plane.

287. Chúng ta có thể xem Mặt trời Tinh thần Trung Ương như bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế. “Quê nhà” của Mặt trời Tinh thần Trung Ương nằm trên cõi chân thần vũ trụ.

2. The sun (subjective), called 'the heart of the sun.'

2. Mặt trời (chủ quan), được gọi là 'trái tim của mặt trời.'

288. The subjective sun, in this context, is the egoic nature of the Solar Logos, also called the Heart of the Sun.

288. Mặt trời chủ quan, trong ngữ cảnh này, là bản chất chân ngã của Thái dương Thượng đế, cũng được gọi là Trái Tim của Mặt Trời.

289. Sometimes but rarely, the term “subjective sun” suggests the astral nature of the Solar Logos.

289. Đôi khi, nhưng hiếm, thuật ngữ “mặt trời chủ quan” gợi ý bản chất cảm dục của Thái dương Thượng đế.

3. The physical sun (objective).

3. Mặt trời hồng trần (khách quan).

290. The physical sun may represent only the etheric sphere of the Solar Logos (which is His true physical body), but the personality nature of the Solar Logos must also be taken into consideration.

290. Mặt trời hồng trần có thể chỉ tượng trưng cho khối cầu dĩ thái của Thái dương Thượng đế (vốn là thể xác đích thực của Ngài), nhưng bản chất phàm ngã của Thái dương Thượng đế cũng phải được lưu ý đến.

291. Is this personality nature to be considered as part of the “subjective sun” or is the term “physical sun” to include the subtle but still cosmically material aspects of the Solar Logos—His astral body and concrete mind as well as his etheric nature?

291. Bản chất phàm ngã này có nên được xem là một phần của “mặt trời chủ quan” hay thuật ngữ “mặt trời hồng trần” phải bao gồm cả những phương diện vi tế nhưng vẫn là vật chất theo nghĩa vũ trụ của Thái dương Thượng đế — thể cảm dục và trí cụ thể của Ngài cũng như bản chất dĩ thái của Ngài?

and the same thought can be carried through the monadic manifestation.

và cùng một tư tưởng ấy có thể được triển khai xuyên suốt biểu lộ chân thần.

292. The Monad is the Central Spiritual Sun of his tiny system.

292. Chân thần là Mặt trời Tinh thần Trung Ương của hệ thống nhỏ bé của y.

293. The Ego on the higher mental plane is to the Monad as the “Heart of the Sun” is to the Solar Logos.

293. Chân ngã trên Cõi thượng trí đối với chân thần cũng như “Trái Tim của Mặt Trời” đối với Thái dương Thượng đế.

294. The personality manifestation of the Monad is the correspondence to the physical sun.

294. Biểu lộ phàm ngã của chân thần là sự tương ứng với mặt trời hồng trần.

Footnote 9:

Chú thích 9:

1. The Names of the Sun mentioned in the Secret Doctrine are:

1. Các Danh xưng của Mặt Trời được nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm là:

a. Maritanda.—S. D., I, 61, 126-129, 483; II, 221.

a. Maritanda.—S. D., I, 61, 126-129, 483; II, 221.

295. Maritanda has “seven Brothers”—the seven sacred Planetary Logoi. In The Secret Doctrine it is suggested that Earth is one of the seven Brothers, but one can see the contradiction for the Earth is not one of the fundamental seven planets. Perhaps the Earth was not created at the same time as when the Sun and the other Planetary Logoi took form from Their original ‘cometoid’ state. And yet The Secret Doctrine seems to suggest that it is so.

295. Maritanda có “bảy Huynh đệ” — bảy Hành Tinh Thượng Đế thiêng liêng. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm người ta gợi ý rằng Trái Đất là một trong bảy Huynh đệ, nhưng người ta có thể thấy mâu thuẫn vì Trái Đất không phải là một trong bảy hành tinh căn bản. Có lẽ Trái Đất đã không được tạo ra cùng lúc khi Mặt Trời và các Hành Tinh Thượng Đế khác mang hình tướng từ trạng thái ‘cometoid’ nguyên thủy của Các Ngài. Tuy nhiên Giáo Lý Bí Nhiệm dường như lại gợi ý rằng đúng là như thế.

b. Agni.—S. D., II, 60, 400.

b. Agni.—S. D., II, 60, 400.

296. This is the occult name given to the personality of the Solar Logos.

296. Đây là danh xưng huyền bí được ban cho phàm ngã của Thái dương Thượng đế.

c. Surya.—S. D., I, 127, 643.

c. Surya.—S. D., I, 127, 643.

297. This is a name suggesting the Sun in its spiritual nature--the Solar Logos. It emphasizes His “Sonship”—His second aspect. Yet, of course, the name can also suggest the literal Sun.

297. Đây là một danh xưng gợi ý về Mặt Trời trong bản chất tinh thần của nó—Thái dương Thượng đế. Nó nhấn mạnh “Tính Con” của Ngài—phương diện thứ hai của Ngài. Tuy nhiên, dĩ nhiên, danh xưng này cũng có thể gợi đến Mặt Trời theo nghĩa đen.

d. Helios.—S. D., II, 47.

d. Helios.—S. D., II, 47.

298. This is a Greek name for the Sun/Solar Logos representing His God-like qualities. Helios drove the “Chariot of the Sun” We are told that Helios became increasingly identified with Apollo considered as the “god of light”.

298. Đây là tên Hy Lạp của Mặt Trời/Thái dương Thượng đế, biểu thị các phẩm tính giống Thượng đế của Ngài. Helios điều khiển “Cỗ Xe của Mặt Trời”. Chúng ta được cho biết rằng Helios ngày càng được đồng nhất với Apollo, được xem là “thần ánh sáng”.

e. Apollo.—S. D., II, 6, 129.

e. Apollo.—S. D., II, 6, 129.

299. This name emphasizes the Sun/Solar Logos as Creator, using the seven energies which are symbolized in the seven-stringed Lyre of Apollo.

299. Danh xưng này nhấn mạnh Mặt Trời/Thái dương Thượng đế như Đấng Sáng Tạo, sử dụng bảy năng lượng được biểu tượng hóa trong cây đàn Lia bảy dây của Apollo.

2. The Sun in the S. D. is used in the three following connotations:

2. Mặt Trời trong S. D. được dùng theo ba hàm nghĩa sau đây:

a. The Central Spiritual Sun.—S. D., I, 519, 520, 700, 736; S. D., II,—120, 249, 251.

a. Mặt trời Tinh thần Trung Ương.—S. D., I, 519, 520, 700, 736; S. D., II,—120, 249, 251.

300. The monadic nature of the Solar Logos…

300. Bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế…

b. The visible physical Sun.—S. D., I, 628.

b. Mặt Trời hồng trần khả kiến.—S. D., I, 628.

301. The most exoteric representation of the sun.

301. Biểu tượng ngoại môn nhất của mặt trời.

c. The three secondary Suns.—As above.

c. Ba Mặt Trời thứ yếu.—Như trên.

302. Each of the periodical vehicles is as a sun—the Monad and its vehicle; the Ego and its vehicle; the personality and its vehicle.

302. Mỗi vận cụ tuần hoàn đều như một mặt trời—Chân thần và vận cụ của nó; chân ngã và vận cụ của nó; phàm ngã và vận cụ của nó.

303. From another perspective which warrants consideration, we have the three Logoi subsidiary to the Sun—the First, Second and Third Logos. They are well depicted in close relationship to the Solar Logos in the chart found on TCF 1238.

303. Từ một góc nhìn khác đáng được xem xét, chúng ta có ba Thượng đế phụ thuộc vào Mặt Trời—Thượng đế thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Các Ngài được mô tả rất rõ trong mối liên hệ mật thiết với Thái dương Thượng đế trong biểu đồ ở TCF 1238.

304. From yet another perspective, we have the those planets which are identified with the three lower permanent atoms of the Solar Logos. Of these Saturn is one. If Saturn is one, are Uranus and Neptune the others or in some way symbolic of the others? (cf. TCF 406)

304. Từ một góc nhìn khác nữa, chúng ta có những hành tinh được đồng nhất với ba nguyên tử trường tồn thấp của Thái dương Thượng đế. Trong số đó có Sao Thổ. Nếu Sao Thổ là một, thì Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương có phải là hai hành tinh kia hay theo cách nào đó là biểu tượng của chúng chăng? (xem TCF 406)

Consider the Microcosm, manifesting through the causal body, which contains the three permanent atoms, the centres of force for the three bodies, the mental, astral and physical.

Hãy xét Tiểu thiên địa, biểu hiện qua thể nguyên nhân, thể này chứa ba nguyên tử trường tồn, các trung tâm mãnh lực cho ba thể: thể trí, thể cảm dục và thể xác.

305. Each of the members of the atomic triangle is as a tiny “sun”. These are certainly “secondary suns” within the constitution of man.

305. Mỗi thành phần của tam giác nguyên tử đều như một “mặt trời” nhỏ bé. Chắc chắn đây là những “mặt trời thứ yếu” trong cấu tạo của con người.

3. Consider the following three statements.—S. D. I., 574.

3. Hãy xét ba phát biểu sau đây.—S. D. I., 574.

a. In the Kosmos...The Sun is the kama-rupa, or desire body of Akasha (the second aspect of Brahma).

a. Trong Kosmos... Mặt Trời là kama-rupa, hay thể dục vọng của Akasha (phương diện thứ hai của Brahma).

306. Our Solar Logos is still emotionally polarized. We can think of the association of the Sun with the solar plexus.

306. Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn còn phân cực cảm xúc. Chúng ta có thể nghĩ đến sự liên hệ của Mặt Trời với tùng thái dương.

307. If we look at Brahma as the Life of the entire cosmic physical plane, then the akashic plane is the second or monadic plane, which is deeply connected to the Sun. The monadic plane and the astral plane both share the numbers six and two.

307. Nếu chúng ta xem Brahma là Sự sống của toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ, thì cõi akasha là cõi thứ hai hay cõi chân thần, vốn liên hệ sâu xa với Mặt Trời. Cõi chân thần và cõi cảm dục cùng chia sẻ các con số sáu và hai.

308. The term “Sun” is here being used in a symbolic manner.

308. Ở đây thuật ngữ “Mặt Trời” đang được dùng theo cách biểu tượng.

Compare 'Son of necessity.'—S. D., I, 74.

So sánh với 'Con của tất yếu'.—S. D., I, 74.

309. It is the desire body which creates the “necessity”. Desire at a certain point of intensity leads necessarily to manifestation.

309. Chính thể dục vọng tạo ra “sự tất yếu”. Dục vọng ở một mức độ mãnh liệt nào đó tất yếu dẫn đến biểu hiện.

b. In the system...The Sun is the sixth principle, buddhi, and its vehicle. (The Dragons of Wisdom taking form on the fourth cosmic ether, our buddhic plane).

b. Trong hệ thống... Mặt Trời là nguyên khí thứ sáu, Bồ đề, và vận cụ của nó. (Các Rồng Minh triết mang hình tướng trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề của chúng ta).

310. This is a meaningful correspondence. We live in an astral-buddhic solar system. One touches the true nature of the Heart of the Sun for the first time when focussed within the buddhic energy.

310. Đây là một tương ứng đầy ý nghĩa. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề. Người ta chạm đến bản chất đích thực của Trái Tim Mặt Trời lần đầu tiên khi được tập trung trong năng lượng Bồ đề.

311. The Dragons of Wisdom are the Planetary Logoi and at least one part of their etheric body takes form upon the buddhic plane or fourth cosmic ether.

311. Các Rồng Minh triết là các Hành Tinh Thượng Đế, và ít nhất một phần của thể dĩ thái của Các Ngài mang hình tướng trên cõi Bồ đề hay dĩ thái vũ trụ thứ tư.

312. We might consider the buddhic plane as the lowest of the true planes of form. The lower three systemic planes are not really planes of form, but planes on which form becomes objective.

312. Chúng ta có thể xem cõi Bồ đề là cõi thấp nhất trong các cõi hình tướng chân thực. Ba cõi hệ thống thấp hơn thực ra không phải là các cõi hình tướng, mà là các cõi trên đó hình tướng trở nên khách quan.

c. As an entity...The Sun is the seventh principle of Brahma or the aspect of active intelligent matter.

c. Như một thực thể... Mặt Trời là nguyên khí thứ bảy của Brahma hay phương diện của vật chất thông tuệ hoạt động.

313. Here we are speaking of the Sun in its systemic etheric manifestation. Active intelligent matter can be considered ether. Brahma, we remember, is the Lord of the cosmic physical plane. Then, we might ask, Who is the Raja Deva Lord of the third or atmic plane?

313. Ở đây chúng ta đang nói về Mặt Trời trong biểu hiện dĩ thái hệ thống của nó. Vật chất thông tuệ hoạt động có thể được xem là dĩ thái. Như chúng ta nhớ, Brahma là Chúa Tể của cõi hồng trần vũ trụ. Vậy thì, chúng ta có thể hỏi: Ai là Raja Deva Lord của cõi thứ ba hay cõi atma?

314. If we look at this in a reverse manner, we will identify the Sun with the “Sea of Fire” found upon the logoic systemic plane. The "Sea of Fire" can be considered the essence of “active intelligent matter” found upon the cosmic physical plane. Systemic ethers are its lowest reflection on the cosmic physical plane.

314. Nếu nhìn điều này theo cách ngược lại, chúng ta sẽ đồng nhất Mặt Trời với “Biển Lửa” được tìm thấy trên cõi logoic hệ thống. “Biển Lửa” có thể được xem là tinh túy của “vật chất thông tuệ hoạt động” hiện diện trên cõi hồng trần vũ trụ. Các dĩ thái hệ thống là phản chiếu thấp nhất của nó trên cõi hồng trần vũ trụ.

Hence 'rejection' as it is called ensues because consciousness or the development of the Ego (logoic or human) is the goal of evolution, and not the matter aspect.

Do đó “sự khước từ”, như nó được gọi, xảy ra bởi vì tâm thức hay sự phát triển của chân ngã (logoic hay nhân loại) là mục tiêu của tiến hoá, chứ không phải phương diện vật chất.

315. Here we are dealing with the Law of Repulse, which is an aspect of the Law of Love. Association with matter is rejected so that the development of consciousness or higher Ego may be enhanced.

315. Ở đây chúng ta đang bàn đến Định luật Đẩy Lùi, vốn là một phương diện của Định luật Bác ái. Sự liên kết với vật chất bị khước từ để sự phát triển của tâm thức hay chân ngã cao hơn có thể được tăng cường.

"The Primordial Ray is only the vehicle of the Divine Ray."—S. D.

"Cung Nguyên Sơ chỉ là vận cụ của Cung Thiêng Liêng."—S. D.

316. The “Primordial Ray” is the third ray. The “Divine Ray” is the second. This statement defines one of the important relationships between the second and third rays.

316. “Cung Nguyên Sơ” là cung ba. “Cung Thiêng Liêng” là cung hai. Phát biểu này xác định một trong những mối liên hệ quan trọng giữa cung hai và cung ba.

The three monadic centres are distinguished by different types of energy:

Ba trung tâm chân thần được phân biệt bởi các loại năng lượng khác nhau:

1. Monadic— dynamic energy electric impulse pure fire.

1. Chân thần— năng lượng năng động xung lực điện lửa thuần khiết.

317. We understand that solar fire is not “pure fire”. There is still in it some attachment to subtle form.

317. Chúng ta hiểu rằng lửa thái dương không phải là “lửa thuần khiết”. Trong nó vẫn còn một sự gắn bó nào đó với hình tướng vi tế.

318. Dynamic energy is that which allows strong and willful movement.

318. Năng lượng năng động là năng lượng cho phép chuyển động mạnh mẽ và đầy ý chí.

319. Electric impulse is ultimately attractive—just as we read that the masculine planet provided the attractive energy.

319. Xung lực điện rốt cuộc có tính hấp dẫn—cũng như chúng ta đọc thấy rằng hành tinh nam tính cung cấp năng lượng hấp dẫn.

2. Egoic— magnetic energy radiatory impulse solar fire.

2. Chân ngã— năng lượng từ tính xung lực bức xạ lửa thái dương.

320. Interestingly, both the terms “magnetic” and “radiatory” have been associated with the first ray (and with the second!). True magnetism, we are told, arises in connection with the first ray. As well, that aspect of healing which is called “radiatory” is more related to the first ray than the second. And yet the Second Ray Lord is called “The Radiance in the Form”.

320. Điều thú vị là cả hai thuật ngữ “từ tính” và “bức xạ” đều đã được liên kết với cung một (và cả cung hai nữa!). Chúng ta được cho biết rằng từ điện chân thực phát sinh trong liên hệ với cung một. Đồng thời, phương diện trị liệu được gọi là “bức xạ” cũng liên hệ với cung một nhiều hơn cung hai. Tuy vậy, Đấng Chúa Tể Cung hai lại được gọi là “Sự Rạng Ngời trong Hình Tướng”.

321. We sense, however, the ‘roundness’ associated with these terms, “magnetic” and “radiatory”. Rays unless polarized go forth spherically.

321. Tuy nhiên, chúng ta cảm nhận được tính “tròn đầy” gắn với các thuật ngữ này, “từ tính” và “bức xạ”. Các cung, trừ khi được phân cực, phát ra theo hình cầu.

3. Personal— individual energy rotary impulse fire by friction.

3. Cá nhân— năng lượng cá biệt xung lực quay tròn Lửa ma sát.

322. We hear of certain people whose entire life “revolves around themselves”. This is a good example of personalism, individualism—the opposite of group consciousness.

322. Chúng ta nghe nói về một số người mà toàn bộ đời sống của họ “xoay quanh chính họ”. Đây là một ví dụ điển hình về tính cá nhân chủ nghĩa, tính biệt lập—đối nghịch với tâm thức nhóm.

The first produces light, the second heat, and the third moisture or concretion.

Loại thứ nhất tạo ra ánh sáng, loại thứ hai tạo ra nhiệt, và loại thứ ba tạo ra độ ẩm hay sự đông đặc.

323. This is a fascinating occult statement. The terms “light”, “heat” and “moisture” have a variety of meanings and are associated with varying aspects of divinity.

323. Đây là một phát biểu huyền bí học đầy hấp dẫn. Các thuật ngữ “ánh sáng”, “nhiệt” và “độ ẩm” có nhiều ý nghĩa khác nhau và được liên kết với những phương diện khác nhau của thiên tính.

324. We have often been told of the role which electric fire plays in the production of light. Its relationship with the opposite pole is required, however.

324. Chúng ta thường được cho biết về vai trò mà Lửa Điện giữ trong việc tạo ra ánh sáng. Tuy nhiên, mối liên hệ của nó với cực đối nghịch là điều cần thiết.

325. “Heat” has a meaning in relation to the form but also in relation to the Ego or higher Triad where it is defined as “spiritual energy”.

325. “Nhiệt” có một ý nghĩa liên hệ với hình tướng, nhưng cũng liên hệ với chân ngã hay Tam nguyên tinh thần cao hơn, nơi nó được định nghĩa là “năng lượng tinh thần”.

In these words you have the key to group initiation. The light of the higher initiations can stream in when it is evoked by the group love. That light is clear and cold, but produces the needed "heat," which is a symbolic word used in many of the world Scriptures to express living, spiritual energy. I said "spiritual energy" and not soul force, and herein lies a distinction which you will some day have to grasp. (R&I 32)

Trong những lời này bạn có chìa khóa của điểm đạo nhóm. Ánh sáng của các lần điểm đạo cao hơn có thể tuôn vào khi được gợi lên bởi bác ái nhóm. Ánh sáng ấy trong sáng và lạnh, nhưng tạo ra “nhiệt” cần thiết, là một từ biểu tượng được dùng trong nhiều Kinh điển thế giới để diễn tả năng lượng tinh thần sống động. Tôi đã nói “năng lượng tinh thần” chứ không phải mãnh lực linh hồn, và chính trong đó có một sự phân biệt mà một ngày nào đó bạn sẽ phải nắm bắt. (R&I 32)

By the interplay of the three types of force which constitute the three monadic aspects,

Bởi sự tương tác của ba loại mãnh lực cấu thành ba phương diện chân thần,

326. Will, Wisdom and Activity and their reflections electric fire, solar fire and fire by friction respectively…

326. Ý chí, Minh triết và Hoạt động cùng các phản chiếu của chúng là Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát tương ứng…

a rhythm is set up

một nhịp điệu được thiết lập

327. Interplay sustained produces a rhythm…

327. Sự tương tác được duy trì tạo ra một nhịp điệu…

which eventuates in the formation of:

và cuối cùng dẫn đến sự hình thành của:

328. All fires interplay to produce the formation of the causal body. Animal man aspired: this represents the up-reaching of fire by friction. The Spirit or Monad responded: thus electric fire enters the interplay. It may have even have instigated the aspiration of animal-man. Then the Solar Angels are invoked, providing solar fire.

328. Mọi lửa tương tác để tạo nên sự hình thành của thể nguyên nhân. Người thú đã khát vọng: điều này biểu thị sự vươn lên của Lửa ma sát. Tinh thần hay Chân thần đáp ứng: do đó Lửa Điện đi vào sự tương tác. Thậm chí nó có thể đã khởi phát khát vọng của người-thú. Rồi các Thái dương Thiên Thần được khẩn cầu, cung cấp Lửa Thái dương.

329. The presence of the Monad on the higher mental plane is, itself, an aspect of solar fire.

329. Sự hiện diện của Chân thần trên Cõi thượng trí, tự nó, là một phương diện của Lửa Thái dương.

330. The Monad contains within itself all three fires, manifesting on the higher mental plane as solar fire and in the three lower worlds as fire by friction.

330. Chân thần chứa trong chính nó cả ba loại lửa, biểu hiện trên Cõi thượng trí như Lửa Thái dương và trong ba cõi thấp như Lửa ma sát.

A ring-pass-not, or ovoidal sphere, wherein the pilgrim is confined,

Một vòng-giới-hạn, hay một khối cầu hình trứng, trong đó người hành hương bị giới hạn,

331. The rhythm set up between the three monadic factors leads to the formation of “a ring-pass-not”.,

331. Nhịp điệu được thiết lập giữa ba yếu tố chân thần dẫn đến sự hình thành của “một vòng-giới-hạn”.

332. The Monad retains its “home” on the monadic plane, but the aspect of itself that “goes forth” is “confined” on the higher mental plane in the causal ovoid.

332. Chân thần vẫn giữ “nhà” của nó trên cõi chân thần, nhưng phương diện của chính nó “đi ra” thì bị “giới hạn” trên Cõi thượng trí trong noãn thể nguyên nhân.

333. The “pilgrim” at this level is the “central fire” of the causal body or the Jewel in the Lotus.

333. “Người hành hương” ở cấp độ này là “ngọn lửa trung tâm” của thể nguyên nhân hay Bảo Châu trong Hoa Sen.

and which contains within itself three major centres of force, corresponding to

và tự nó chứa ba trung tâm mãnh lực chính, tương ứng với

334. The causal body/egoic lotus is triune in its nature and reflects higher triplicities as found in the spiritual triad and the Monad.

334. Thể nguyên nhân/Hoa Sen Chân Ngã có bản chất tam phân và phản chiếu các bộ ba cao hơn như được tìm thấy trong tam nguyên tinh thần và Chân thần.

a. The three major logoic centres when the subjective or force side of existence is contemplated.

a. Ba trung tâm logoic chính khi phương diện chủ quan hay phương diện mãnh lực của sự tồn tại được chiêm ngưỡng.

335. These are the Central Spiritual Sun (the solar logoic monadic nature); the Heart of the Sun, the solar logoic soul nature; the “physical sun” or the solar logoic personality nature.

335. Đó là Mặt trời Tinh thần Trung Ương (bản chất chân thần logoic thái dương); Trái Tim Mặt Trời, bản chất linh hồn logoic thái dương; và “mặt trời hồng trần” hay bản chất phàm ngã logoic thái dương.

336. Within the ovoid and, eventually, fully within the egoic lotus, are the Jewel in the Lotus corresponding to the Central Spiritual Sun; the petals themselves corresponding to the Heart of the Sun; the units in the atomic triangle corresponding to the physical sun.

336. Bên trong noãn thể và cuối cùng hoàn toàn bên trong Hoa Sen Chân Ngã, có Bảo Châu trong Hoa Sen tương ứng với Mặt trời Tinh thần Trung Ương; chính các cánh hoa tương ứng với Trái Tim Mặt Trời; các đơn vị trong tam giác nguyên tử tương ứng với mặt trời hồng trần.

337. If we confine ourselves to structures found on the higher mental plane, we have the Jewel in the Lotus, the central three petals, and the nine ordinary petals, representing the three aspects respectively.

337. Nếu chúng ta chỉ giới hạn vào các cấu trúc được tìm thấy trên Cõi thượng trí, thì chúng ta có Bảo Châu trong Hoa Sen, ba cánh hoa trung tâm, và chín cánh hoa thông thường, lần lượt biểu thị ba phương diện.

b. The three permanent atoms if the purely objective side is in question.

b. Ba nguyên tử trường tồn nếu phương diện thuần túy khách quan được đặt thành vấn đề.

338. As usual we will remark that in the atomic triangle we do not really have "three permanent atoms" because the mental unit is not a permanent atom.”

338. Như thường lệ, chúng ta sẽ nhận xét rằng trong tam giác nguyên tử, thực ra chúng ta không có “ba nguyên tử trường tồn ” bởi vì đơn vị hạ trí không phải là một nguyên tử trường tồn.”

339. The mental unit corresponds to the will aspect, the Jewel in the Lotus and the Central Spiritual Sun. It also corresponds to the Will aspect within the Monad.

339. Đơn vị hạ trí tương ứng với phương diện ý chí, Bảo Châu trong Hoa Sen và Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Nó cũng tương ứng với phương diện Ý chí bên trong Chân thần.

340. The astral permanent atom corresponds to the three central petals and to the egoic lotus in general. It corresponds to the Heart of the Sun and also to the Wisdom aspect within the monadic triangle.

340. Nguyên tử trường tồn cảm dục tương ứng với ba cánh hoa trung tâm và với Hoa Sen Chân Ngã nói chung. Nó tương ứng với Trái Tim Mặt Trời và cũng với phương diện Minh triết bên trong tam giác chân thần.

341. The physical permanent atom corresponds to the atomic triangle in general, and to the personality nature. It corresponds to the physical Sun and to the activity aspect within the monadic triangle.

341. Nguyên tử trường tồn hồng trần tương ứng với tam giác nguyên tử nói chung, và với bản chất phàm ngã. Nó tương ứng với Mặt Trời hồng trần và với phương diện hoạt động bên trong tam giác chân thần.

342. There are a number of correspondences which we could work on using these factors.

342. Có một số tương ứng mà chúng ta có thể nghiên cứu bằng cách dùng các yếu tố này.

A cyclic pulsation, which is the cause of every evolutionary impulse. [Page 1048]

Một sự rung động tuần hoàn, là nguyên nhân của mọi xung lực tiến hoá. [Page 1048]

343. The rhythm set up between the three monadic factors leads to the formation of “a cyclic pulsation”.

343. Nhịp điệu được thiết lập giữa ba yếu tố chân thần dẫn đến sự hình thành của “một sự rung động tuần hoàn”.

344. Such pulsations correspond to the energy of the first ray. “The Power that touches and then withdraws”—this is a pulsation.

344. Những rung động như thế tương ứng với năng lượng của cung một. “Quyền Năng chạm vào rồi rút lui”—đó là một sự rung động tuần hoàn.

These evolutionary impulses may be regarded as three in number for a solar system, or for a Monad:

Những xung lực tiến hoá này có thể được xem là ba về số lượng đối với một hệ mặt trời, hay đối với một Chân thần:

345. In other words, we are speaking of the Three Outpourings.

345. Nói cách khác, chúng ta đang nói về Ba lần tuôn đổ.

346. DK will also look at the pulsations in another context.

346. Chân sư DK cũng sẽ xem xét các rung động tuần hoàn trong một bối cảnh khác.

There is the impulse which drives every atom to self-determination, and is the secret of the phenomenon called individualisation. It is largely the force called Brahma.

Có xung lực thúc đẩy mọi nguyên tử đến sự tự quyết định, và đó là bí mật của hiện tượng được gọi là biệt ngã hóa. Nó phần lớn là mãnh lực được gọi là Brahma.

347. Largely, though not entirely, we may presume…

347. Phần lớn, dù không hoàn toàn, chúng ta có thể giả định như vậy…

348. A Brahmic impulse drives atoms to self-determination. Saturn is involved.

348. Một xung lực Brahmic thúc đẩy các nguyên tử đến sự tự quyết định. Sao Thổ có liên quan.

349. Note the term “drives”. It suggests a first ray motion. “Forces” is the same.

349. Hãy lưu ý thuật ngữ “thúc đẩy”. Nó gợi ý một chuyển động của cung một. “Ép buộc” cũng vậy.

There is the impulse which forces the individual atom towards group determination, and is the secret of the phenomenon termed "Initiation,"

Có xung lực ép buộc nguyên tử cá biệt hướng tới sự quyết định theo nhóm, và đó là bí mật của hiện tượng được gọi là "điểm đạo",

350. Initiation is a group phenomenon. Unless group consciousness has developed in the human individual, there will be no initiation.

350. Điểm đạo là một hiện tượng nhóm. Trừ phi tâm thức nhóm đã phát triển trong cá nhân nhân loại, sẽ không có điểm đạo.

351. We may suppose that this is largely the force called Vishnu just as the force driving towards self-determination is largely the force called Brahma.

351. Chúng ta có thể giả định rằng đây phần lớn là mãnh lực được gọi là Vishnu, cũng như mãnh lực thúc đẩy đến sự tự quyết định phần lớn là mãnh lực được gọi là Brahma.

or the process of passing out of the human or self-determined individualised Life into the higher kingdom.

hay tiến trình đi ra khỏi Sự sống cá biệt hóa tự quyết định của nhân loại để đi vào giới cao hơn.

352. Individualism is related to the human kingdom; group consciousness to the Kingdom of Souls.

352. Chủ nghĩa cá nhân liên hệ với giới nhân loại; tâm thức nhóm liên hệ với Thiên Giới của các linh hồn.

It is the sum total of the force of Vishnu,

Đó là tổng số của mãnh lực Vishnu,

353. How many forces are contained within the Vishnu Force?

353. Có bao nhiêu mãnh lực được chứa trong Mãnh lực Vishnu?

the second aspect, and produces the higher states of consciousness.

phương diện thứ hai, và tạo ra các trạng thái tâm thức cao hơn.

354. This is the process in which we, as disciples and students of A Treatise on Cosmic Fire are engaged—passing out of the human kingdom into the fifth kingdom, the Kingdom of Souls. This is done in group formation.

354. Đây là tiến trình mà chúng ta, với tư cách các đệ tử và đạo sinh của Luận về Lửa Vũ Trụ, đang tham dự—đi ra khỏi giới nhân loại để vào giới thứ năm, Thiên Giới của các linh hồn. Điều này được thực hiện trong đội hình nhóm.

There is finally the impulse which forces the planetary groups,

Cuối cùng có xung lực ép buộc các nhóm hành tinh,

355. Again a ‘driving’ word—the word “forces!

355. Lại là một từ ngữ “thúc đẩy”—từ “ép buộc”!

the sum total of all atoms and forms, to a conscious realisation of the nature of the all-enclosing group, the solar atom.

là tổng số của mọi nguyên tử và hình tướng, đến một sự chứng nghiệm có ý thức về bản chất của nhóm bao trùm tất cả, nguyên tử thái dương.

356. This third type of ‘driving’ occurs along the line of the first ray and is undertaken through the motion of “progress onward”

356. Loại “thúc đẩy” thứ ba này xảy ra theo đường của cung một và được thực hiện qua chuyển động “tiến lên phía trước”

357. The first ray force leads, eventually, to an appreciation of the entirety of the “solar atom”.

357. Mãnh lực cung một cuối cùng dẫn đến sự nhận thức về toàn thể của “nguyên tử thái dương”.

358. Under this influence we are led from group consciousness to consciousness of “the One” (Who is the Solar Logos as far as we are concerned).

358. Dưới ảnh hưởng này, chúng ta được dẫn từ tâm thức nhóm đến tâm thức về “Đấng Duy Nhất” (Đấng, đối với chúng ta, là Thái dương Thượng đế).

The Monad, acted upon by the Heavenly Man, intelligently forms his ring-pass-not.

Chân thần, được Đấng Thiên Nhân tác động, một cách thông tuệ hình thành vòng-giới-hạn.

359. In the following sentences we are dealing with occurrences which take place within the monadic ring-pass-not.

359. Trong các câu sau, chúng ta đang bàn đến những diễn biến xảy ra bên trong vòng-giới-hạn chân thần.

360. Here we are speaking of the formation of the monadic vehicle. It seems to occur before the outpourings begin.

360. Ở đây chúng ta đang nói về sự hình thành vận cụ chân thần. Dường như điều này xảy ra trước khi các lần tuôn đổ bắt đầu.

361. Note that the Monad certainly has intelligence. One cannot consider the Spirit as a passive essence, as sometimes seemed to be the case in H.P.B.’s estimation.

361. Hãy lưu ý rằng Chân thần chắc chắn có trí tuệ. Người ta không thể xem Tinh thần như một tinh chất thụ động, như đôi khi dường như là trường hợp trong sự đánh giá của H.P.B.

362. The ring-pass-not will include all aspects of his being. The egoic lotus will be included within it as well as that reflection of the Ego, the monadic shadow—the personality.

362. Vòng-giới-hạn sẽ bao gồm mọi phương diện của hữu thể của nó. Hoa Sen Chân Ngã sẽ được bao gồm trong đó, cũng như phản chiếu của chân ngã ấy, cái bóng chân thần—phàm ngã.

There his work ceases from the purely monadic standpoint; the inherent life of the atomic matter thus constituted produces the later phenomena.

Tại đó công việc của nó chấm dứt từ quan điểm thuần túy chân thần; sự sống cố hữu của vật chất nguyên tử được cấu thành như thế tạo ra các hiện tượng về sau.

363. This is an enigmatic statement. Let us see how DK elaborates it.

363. Đây là một phát biểu bí ẩn. Hãy xem Chân sư DK khai triển nó như thế nào.

364. This statement casts the Monad in the role of ‘the One who waits’. After certain initial impulsions, the Monad bides its time for active engagement until the “Third Outpouring”. It is, however, somewhat involved in the first stages of the "Second Outpouring".

364. Phát biểu này đặt Chân thần vào vai trò của ‘Đấng chờ đợi’. Sau một số xung lực ban đầu, Chân thần chờ thời để tham gia tích cực cho đến “Lần Tuôn Đổ Thứ Ba”. Tuy nhiên, nó cũng phần nào dự phần trong các giai đoạn đầu của "Lần Tuôn Đổ Thứ Hai".

The rotary life of the atoms, and their interplay, modified by the Life of the planetary group, or Heavenly Man,

Sự sống quay tròn của các nguyên tử, và sự tương tác của chúng, được điều chỉnh bởi Sự sống của nhóm hành tinh, hay Đấng Thiên Nhân,

365. The Heavenly Man is to be considered as a ‘group Being’.

365. Đấng Thiên Nhân phải được xem như một ‘Hữu thể nhóm’.

pursued through long aeons, causes the phenomena of the various involutionary stages

được tiếp tục qua những đại kiếp lâu dài, gây ra các hiện tượng của những giai đoạn giáng hạ tiến hoá khác nhau

366. The Monad (which comes forth in power during the "Third Outpouring" and at the behest or the Third Logos), is not per se, directly involved in causing the phenomena of the various involutionary states. Energies set in motion (the Life of the Third Logos and to an extent the Life of the Second Logos) are sufficient for such developments.

366. Chân thần (xuất hiện đầy quyền năng trong "Lần Tuôn Đổ Thứ Ba" và theo mệnh lệnh của Thượng đế thứ ba), không trực tiếp tham gia vào việc gây ra các hiện tượng của những trạng thái giáng hạ tiến hoá khác nhau. Các năng lượng đã được khởi động (Sự sống của Thượng đế thứ ba và ở một mức độ nào đó là Sự sống của Thượng đế thứ hai) là đủ cho những phát triển như thế.

up to the point where certain of the atoms have evolved [together?] to the consciousness of animal-man.

cho đến điểm mà một số nguyên tử nào đó đã tiến hoá [together?] đến tâm thức của người-thú.

367. Is this literally true? We have to examine. Will the single atom of substance, singly, have evolved to the consciousness of animal man or will they do this together in groups and rising as groups through the various kingdoms?

367. Điều này có đúng theo nghĩa đen không? Chúng ta phải khảo sát. Liệu nguyên tử đơn lẻ của chất liệu, một mình nó, sẽ tiến hoá đến tâm thức của người thú, hay chúng sẽ làm điều này cùng nhau trong các nhóm và vươn lên như những nhóm qua các giới khác nhau?

368. DK’s statement is ambiguous, but for various reasons it is more than unlikely that a tiny atomic unit will, in and of itself, reach the stage of individualization.

368. Phát biểu của Chân sư DK mơ hồ, nhưng vì nhiều lý do, điều vượt quá mức khó có thể xảy ra là một đơn vị nguyên tử nhỏ bé, tự nó, đạt đến giai đoạn biệt ngã hóa.

369. The subject we are studying here demands an examination of the relationship existing between the Monad and the group soul.

369. Chủ đề chúng ta đang nghiên cứu ở đây đòi hỏi phải khảo sát mối liên hệ hiện hữu giữa Chân thần và Hồn nhóm.

All through this inconceivable period (that is, in connection with our earth sphere)

Trong suốt giai đoạn không thể nghĩ bàn này (nghĩa là, liên hệ với khối cầu địa cầu của chúng ta)

370. We are speaking of the outpourings specifically as they affect the “earth sphere” and not as they affect the entire solar system.

370. Chúng ta đang nói về các lần tuôn đổ một cách chuyên biệt theo như chúng tác động đến “khối cầu địa cầu”, chứ không phải theo như chúng tác động đến toàn bộ hệ mặt trời.

the milliards of atomic lives have pursued their courses, energised by the Life of the Monad, as it pulsates through the medium of the monadic heart on the spiritual plane; and equally they have responded to the larger rhythm of the Heavenly Man.

hàng tỷ sự sống nguyên tử đã theo đuổi tiến trình của chúng, được tiếp sinh lực bởi Sự sống của Chân thần, khi nó rung động qua trung gian của trái tim chân thần trên cõi tinh thần; và đồng thời chúng cũng đã đáp ứng với nhịp điệu lớn hơn của Đấng Thiên Nhân.

371. Some have thought that the Monad has no effect on the tiny atomic lives which are pursuing their destiny within its large ring-pass-not, but this statement indicates otherwise. All of these milliards are energized by the life of the Monad—but as well by “the larger rhythm of the Heavenly Man.”

371. Một số người đã nghĩ rằng Chân thần không có ảnh hưởng nào lên những sự sống nguyên tử nhỏ bé đang theo đuổi định mệnh của chúng bên trong vòng-giới-hạn lớn của nó, nhưng phát biểu này cho thấy điều ngược lại. Tất cả những hàng tỷ ấy đều được tiếp sinh lực bởi sự sống của Chân thần—nhưng đồng thời cũng bởi “nhịp điệu lớn hơn của Đấng Thiên Nhân”.

372. We must note the two forces influencing the milliards of atoms—the pulsations of the Life of the Monad through the monadic heart and the rhythm of the Heavenly Man.

372. Chúng ta phải lưu ý hai mãnh lực ảnh hưởng đến hàng tỷ nguyên tử—những rung động của Sự sống Chân thần qua trái tim chân thần và nhịp điệu của Đấng Thiên Nhân.

373. The work of the Monad during the second part of the "Second Outpouring" is mysterious, but without its energy atomic life would not rise through the lower kingdoms towards individualization.

373. Công việc của Chân thần trong phần thứ hai của "Lần Tuôn Đổ Thứ Hai" là điều huyền nhiệm, nhưng nếu không có năng lượng của nó, sự sống nguyên tử sẽ không vươn lên qua các giới thấp hướng đến biệt ngã hóa.

374. The Monad is the Life behind the forces which gather atoms into group souls, raising them to ever higher levels of formal perfection, until animal man is produced. But the Monad on its own high plane works through its ‘representatives’ in the lower worlds—the permanent atoms it has selected as the beginning of the "Second Outpouring".

374. Chân thần là Sự sống đứng sau các mãnh lực tập hợp các nguyên tử thành các hồn nhóm, nâng chúng lên những cấp độ ngày càng cao của sự hoàn thiện về hình tướng, cho đến khi người thú được tạo ra. Nhưng Chân thần trên cõi cao riêng của nó hoạt động qua các ‘đại diện’ của nó trong các cõi thấp—các nguyên tử trường tồn mà nó đã chọn như sự khởi đầu của "Lần Tuôn Đổ Thứ Hai".

375. We tiny human beings, also, in comparison with some great Being—perhaps a Cosmic Logos or Super-Cosmic Logos, are as atomic lives energized by that inconceivable Monad.

375. Chúng ta, những con người nhỏ bé, cũng vậy, khi so với một Hữu thể vĩ đại nào đó—có lẽ là một Thượng đế Vũ trụ hay Thượng đế Siêu Vũ trụ—cũng như những sự sống nguyên tử được tiếp sinh lực bởi Chân thần không thể nghĩ bàn ấy.

376. We note that the “monadic heart” is on the “spiritual plane”. We should not gloss over this word “spiritual” because it may represent a cosmic etheric ‘location’ and may not mean the egoic lotus on the higher mental plane. Usually the “spiritual plane” is the atmic plane, but it is far more likely that the monadic heart would be found on the buddhic plane. In other references the Ego working through the egoic lotus is considered the monadic heart.

376. Chúng ta lưu ý rằng “trái tim chân thần” ở trên “cõi tinh thần”. Chúng ta không nên lướt qua từ “tinh thần” này, vì nó có thể biểu thị một ‘vị trí’ dĩ thái vũ trụ và có thể không có nghĩa là hoa sen chân ngã trên cõi thượng trí. Thông thường, “cõi tinh thần” là cõi atma, nhưng rất có thể trái tim chân thần được tìm thấy trên cõi Bồ đề. Trong những tham chiếu khác, Chân ngã hoạt động qua hoa sen chân ngã được xem là trái tim chân thần.

This it is [the pulsating Life of the Monad and the larger rhythm of the Heavenly Man] which has produced graded concretion, and brought animal-man to the stage where the upward pull of the Monad itself began to be felt.

Đây chính là điều [sự Sống rung động của Chân thần và nhịp điệu lớn hơn của Đấng Thiên Nhân] đã tạo ra sự kết tụ theo cấp độ, và đưa người thú đến giai đoạn mà lực kéo đi lên của chính Chân thần bắt đầu được cảm nhận.

377. We note here the predisposing cause of individualization. Animal man began to respond to the upward pull of the Monad and thus the causal body was formed

377. Ở đây chúng ta lưu ý nguyên nhân tiền định của sự biệt ngã hóa. Người thú bắt đầu đáp ứng với lực kéo đi lên của Chân thần và do đó thể nguyên nhân được hình thành

378. The creation of that being called animal man (by means of the ascent of various groups of atoms upward through the lower kingdoms) results from the process of “graded concretion”.

378. Sự tạo thành hữu thể được gọi là người thú (bằng phương tiện sự đi lên của nhiều nhóm nguyên tử qua các giới thấp hơn) là kết quả của tiến trình “sự kết tụ theo cấp độ”.

379. DK is outlining the role of the Monad at various phases of its long pilgrimage.

379. Chân sư DK đang phác họa vai trò của Chân thần trong nhiều giai đoạn của cuộc hành hương dài lâu của nó.

380. The full work of the Monad does not begin, however, until the "Third Outpouring" and its descent into the center of a causal ovoid. The Monad has remained within the center of its own ovoid and has worked through the higher and lower permanent atoms, but it has not yet created (with the help of the Solar Angels) an egoic lotus. At the time of the "Third Outpouring", it does so.

380. Tuy nhiên, công việc trọn vẹn của Chân thần chỉ bắt đầu khi có "Lần Tuôn Đổ Thứ Ba" và sự giáng xuống của nó vào trung tâm của một noãn thể nguyên nhân. Chân thần đã ở trong trung tâm của noãn thể riêng của nó và đã hoạt động qua các nguyên tử trường tồn cao và thấp, nhưng nó vẫn chưa tạo ra (với sự trợ giúp của các Thái dương Thiên Thần) một hoa sen chân ngã. Vào thời điểm của "Lần Tuôn Đổ Thứ Ba", nó làm điều đó.

At the same time, the Monad on its [Page 1049] own plane

Đồng thời, Chân thần trên [Page 1049] cõi riêng của nó

381. This is a force center different from the Jiva and yet emanatively connected to the Jiva. The Jiva is the ‘Monad-in-extension.

381. Đây là một trung tâm mãnh lực khác với Jiva nhưng vẫn được nối kết với Jiva bằng phát xạ. Jiva là ‘Chân Thần-trong-sự-mở-rộng’.

382. We always have to think of the ‘Monad-in-extension’ (the Jiva) and the ‘Monad-at-Home’—the Monad remaining on the second cosmic ether for the duration of its aeonial pilgrimage through the five lower planes.

382. Chúng ta luôn phải nghĩ đến ‘Chân Thần-trong-sự-mở-rộng’ (Jiva) và ‘Chân Thần-tại-Nhà’—Chân thần vẫn ở lại trên dĩ thái vũ trụ thứ hai trong suốt cuộc hành hương kéo dài qua các đại kiếp của nó xuyên qua năm cõi thấp hơn.

began to respond to the self-engendered energy of the lower form, the two rhythms contacted, individualisation occurred and the pilgrim manifested in his true nature.

bắt đầu đáp ứng với năng lượng tự phát sinh của hình tướng thấp hơn, hai nhịp điệu tiếp xúc nhau, sự biệt ngã hóa xảy ra và người hành hương biểu lộ trong bản chất chân thực của y.

383. The “true nature” of the pilgrim emerges on the higher mental plane with the creation of the causal body.

383. “Bản chất chân thực” của người hành hương xuất hiện trên cõi thượng trí cùng với sự tạo thành thể nguyên nhân.

384. We are leaning that individualization is produced by rhythmic interplay. Are we speaking of the interplay of energy cycles? Of contact between the high and low occurring when their respective cycles coincide?

384. Chúng ta đang nghiêng về nhận định rằng sự biệt ngã hóa được tạo ra bởi sự tương tác nhịp điệu. Chúng ta có đang nói về sự tương tác của các chu kỳ năng lượng không? Về sự tiếp xúc giữa cao và thấp xảy ra khi các chu kỳ tương ứng của chúng trùng hợp chăng?

385. When we speak of the higher rhythm, we must have in mind what we might call ‘monadic pulsations’. When monadic pulsations meet the aspirations of animal-man, then individualization takes place—with the help of the Solar Angels.

385. Khi nói đến nhịp điệu cao hơn, chúng ta phải ghi nhớ điều có thể gọi là ‘những nhịp đập chân thần’. Khi những nhịp đập chân thần gặp các khát vọng của người thú, thì sự biệt ngã hóa diễn ra—với sự trợ giúp của các Thái dương Thiên Thần.

386. The Pilgrim, in a way, takes up his ‘location’ within the central fire later revealed as the Jewel in the Lotus. This is a kind of ‘throne’ from which the Jiva reigns.

386. Theo một cách nào đó, Người Hành Hương chiếm lấy ‘vị trí’ của mình trong ngọn lửa trung tâm, về sau được mặc khải là Bảo Châu trong Hoa Sen. Đây là một loại ‘ngai’ mà từ đó Jiva cai quản.

Then—as far as concerns the Monad—progressive life forward begins.

Khi ấy—xét theo phương diện Chân thần—sự sống tiến triển hướng về phía trước bắt đầus.

387. The “progressive life forward” of the Monad begins at individualization. Even then, the Monad is directly involved—at least on the level of the Ego, but unnoticed by the ‘shadow man’ until the period of the third initiation.

387. “Sự sống tiến triển hướng về phía trước” của Chân thần bắt đầu từ lúc biệt ngã hóa. Ngay cả khi ấy, Chân thần vẫn trực tiếp can dự—ít nhất ở cấp độ của Chân ngã, nhưng không được ‘con người bóng tối’ nhận biết cho đến giai đoạn của lần điểm đạo thứ ba.

388. Note the phrase “progressive life forward”. It carries the first ray connotation of “progress onward”.

388. Hãy lưu ý cụm từ “sự sống tiến triển hướng về phía trước”. Nó mang hàm ý của cung một là “tiến bước không ngừng”.

389. When the "Third Outpouring" begins the Monad can begin its true “progressive life forward”. Until that time it has been, as it were, ‘sponsoring’ and sustaining building processes in the lower three worlds.

389. Khi "Lần Tuôn Đổ Thứ Ba" bắt đầu, Chân thần có thể khởi sự “sự sống tiến triển hướng về phía trước” thực sự của nó. Cho đến lúc ấy, có thể nói rằng nó đã ‘bảo trợ’ và duy trì các tiến trình kiến tạo trong ba cõi thấp hơn.

It is truly cyclic, repetitive and spiralling.

Nó thực sự có tính chu kỳ, lặp lại và xoắn ốc.

390. This “progressive life forward” contains all the other motions. Spiralling motion pertains to the first ray; cyclic motion to the second; repetitive motion to the third.

390. “Sự sống tiến triển hướng về phía trước” này bao hàm mọi chuyển động khác. Chuyển động xoắn ốc thuộc về cung một; chuyển động chu kỳ thuộc về cung hai; chuyển động lặp lại thuộc về cung ba.

391. The development of the human being is “truly cyclic, repetitive and spiralling”. It is a form of rapid development when compared to the very slow progress as the monadic life-in-extension rose through the lower kingdoms.

391. Sự phát triển của con người “thực sự có tính chu kỳ, lặp lại và xoắn ốc”. Đó là một hình thức phát triển nhanh chóng khi so với sự tiến bộ rất chậm lúc sự sống chân thần-trong-sự-mở-rộng đi lên qua các giới thấp hơn.

392. In the paragraph below, we are speaking of action taking place once individualization has occurred.

392. Trong đoạn dưới đây, chúng ta đang nói đến hành động diễn ra sau khi sự biệt ngã hóa đã xảy ra.

At first the action, or the interplay between the rotary lower atomic form [in the three lower worlds], and the influence of the Monad, is lethargic, slow and heavy, and the form retards the action of the Monad, and its heavy vibration tends to offset the higher.

Thoạt đầu, hành động, hay sự tương tác giữa hình thức nguyên tử thấp hơn có chuyển động quay [trong ba cõi thấp], và ảnh hưởng của Chân thần, thì trì trệ, chậm chạp và nặng nề, và hình tướng làm chậm tác động của Chân thần, còn rung động nặng nề của nó có khuynh hướng hóa giải rung động cao hơn.

393. We see that the Monad, functioning through the egoic lotus, is truly interacting with the lower man in that which is to become, one day, a self-conscious personality.

393. Chúng ta thấy rằng Chân thần, hoạt động qua hoa sen chân ngã, thực sự đang tương tác với phàm nhân trong điều mà một ngày kia sẽ trở thành một phàm ngã có ngã thức.

394. In what form is the Monad present within the lower form of man. We have to conclude that the slowly awakening consciousness within the lower form is nothing other than monadic consciousness in a greatly veiled or attenuated state.

394. Chân thần hiện diện dưới hình thức nào trong hình tướng thấp hơn của con người? Chúng ta phải kết luận rằng tâm thức đang chậm chạp thức tỉnh bên trong hình tướng thấp hơn không là gì khác ngoài tâm thức chân thần trong một trạng thái bị che phủ hoặc làm mỏng đi rất nhiều.

395. Even if still within the state of personal consciousness, it is correct to respond, when asked who we are—“I am the Monad”.

395. Ngay cả khi vẫn còn ở trong trạng thái tâm thức cá nhân, thì khi được hỏi chúng ta là ai, đáp lại rằng—“Tôi là Chân thần”—vẫn là đúng.

Gradually, as the sweeping spirals play their part,

Dần dần, khi các đường xoắn ốc quét mạnh thực hiện phần việc của chúng,

396. Herein is an important first ray term---“sweeping spirals”! The term “sweeping” suggests moving along rapidly, as the first ray tends to do.

396. Chính trong đây có một thuật ngữ quan trọng của cung một—“đường xoắn ốc quét mạnh”! Từ “quét mạnh” gợi ý sự chuyển động nhanh dọc theo một hướng, như cung một có khuynh hướng thực hiện.

397. When one is “swept” a greater will than one’s own takes one to a destination which would not be easily (or so rapidly) reached otherwise.

397. Khi một người bị “cuốn đi”, một ý chí lớn hơn ý chí của chính mình sẽ đưa người ấy đến một đích đến mà nếu không thì sẽ không dễ dàng đạt tới (hoặc không đạt tới nhanh như vậy).

the higher vibration makes itself felt, and the activity, or motion, is more balanced, but lighter.

rung động cao hơn tự làm cho mình được cảm nhận, và hoạt động, hay chuyển động, trở nên cân bằng hơn, nhưng nhẹ hơn.

398. The tamasic quality is reduced. The monadic energy makes its way through. A lower aspect of sattva begins to appear.

398. Phẩm tính tamas được giảm bớt. Năng lượng chân thần mở đường xuyên qua. Một phương diện thấp hơn của sattva bắt đầu xuất hiện.

399. We must note that DK is definitely speaking of the Monad and its influence. He is not speaking in terms of egoic influence, though the Ego must certainly be the representative of the Monad.

399. Chúng ta phải lưu ý rằng Chân sư DK rõ ràng đang nói về Chân thần và ảnh hưởng của nó. Ngài không nói theo thuật ngữ ảnh hưởng chân ngã, mặc dù Chân ngã chắc chắn phải là đại diện của Chân thần.

400. This section of text makes the Monad sound very present in various lower phases of development.

400. Phần văn bản này khiến Chân thần có vẻ hiện diện rất rõ trong nhiều giai đoạn phát triển thấp hơn.

Thus the cycles run until the higher rhythm or vibration is so dominant that the influence of the form is negated, and leads to its eventual discarding.

Do đó các chu kỳ tiếp diễn cho đến khi nhịp điệu hay rung động cao hơn trở nên áp đảo đến mức ảnh hưởng của hình tướng bị phủ nhận, và dẫn đến việc cuối cùng nó bị loại bỏ.

401. This process takes us beyond the third initiation to the time of the Great Renunciation when the power of the Monad (among other forces) impulses the discarding of two levels of form—the personality (with its elemental lives) and the egoic body (with its solar angelic lives).

401. Tiến trình này đưa chúng ta vượt quá lần điểm đạo thứ ba đến thời kỳ của Sự Từ Bỏ Vĩ Đại, khi quyền năng của Chân thần (cùng với những mãnh lực khác) thúc đẩy việc loại bỏ hai cấp độ hình tướng—phàm ngã (cùng các sự sống hành khí của nó) và thể chân ngã (cùng các sự sống thiên thần thái dương của nó).

402. The process described in a few sentences takes millions of years to complete.

402. Tiến trình được mô tả trong vài câu này phải mất hàng triệu năm mới hoàn tất.

Simultaneously with this, the highest rhythm of all makes itself felt,

Đồng thời với điều này, nhịp điệu cao nhất trong tất cả cũng tự làm cho mình được cảm nhận,

403. This is the monadic rhythm as that rhythm exists on the monadic plane.

403. Đây là nhịp điệu chân thần như nhịp điệu ấy tồn tại trên cõi chân thần.

leading to increased activity upon the highest planes, and producing in time a negation of the sheath life of the Ego.

dẫn đến hoạt động gia tăng trên các cõi cao nhất, và theo thời gian tạo ra sự phủ nhận sự sống của vỏ bọc của Chân ngã.

404. Here we speak of the discarding not only of the lower form (the personality) but of an intermediate form, the Ego.

404. Ở đây chúng ta nói đến việc loại bỏ không chỉ hình tướng thấp hơn (phàm ngã) mà còn cả một hình tướng trung gian, Chân ngã.

405. The manner of expression is very important and interesting. It is obvious that the Ego is not that which manifests on the higher mental plane as the egoic lotus. The Ego is something higher, and the fourth degree only brings about the end or negation of its “sheath life”, but not of the Ego per se.

405. Cách diễn đạt này rất quan trọng và thú vị. Rõ ràng Chân ngã không phải là cái biểu lộ trên cõi thượng trí như hoa sen chân ngã. Chân ngã là một cái gì cao hơn, và cấp độ thứ tư chỉ mang lại sự chấm dứt hay phủ nhận “sự sống của vỏ bọc” của nó, chứ không phải của chính Chân ngã.

406. The causal body is nothing but the “sheath” of the true Ego and the true planes of the Ego are the cosmic etheric planes—the buddhic and the atmic planes.

406. Thể nguyên nhân không là gì khác ngoài “vỏ bọc” của Chân ngã đích thực, và các cõi đích thực của Chân ngã là các cõi dĩ thái vũ trụ—cõi Bồ đề và cõi atma.

407. Thus the soul, per se, is never destroyed. Man’s true soul is the Ego on the planes of the spiritual triad. Only the sheath of the Ego is negated, and thus the Ego is liberated into higher realms.

407. Do đó, chính linh hồn không bao giờ bị hủy diệt. Linh hồn đích thực của con người là Chân ngã trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. Chỉ có vỏ bọc của Chân ngã bị phủ nhận, và do đó Chân ngã được giải thoát vào các lĩnh vực cao hơn.

As the old Commentary again says:

Như Cổ Luận lại nói:

"The drops of moisture grow heavier. They break as rain upon the lowest plane. They sink into the clay and cause it to blossom. Thus do the waters cover the earth and all the cycles.

"Những giọt ẩm khí trở nên nặng hơn. Chúng vỡ ra thành mưa trên cõi thấp nhất. Chúng chìm vào đất sét và khiến nó nở hoa. Như thế nước phủ kín mặt đất và mọi chu kỳ.

408. Here we have a reference to moisture in relation to the highest plane within the present constitution of man.

408. Ở đây chúng ta có một tham chiếu đến ẩm khí liên hệ với cõi cao nhất trong cấu tạo hiện tại của con người.

409. The clay is the matter of the lower three worlds.

409. Đất sét là vật chất của ba cõi thấp hơn.