← Commentary_S8_925_1078_song ngữ

S8-12 Preamble

Trích nội dung chương

6. A wild speculative thought enters the mind: what will happen when the entire Universe becomes radioactive? Will not the final Universal Pralaya be with us? And, of course, we will be ‘there’. 6. Một ý nghĩ suy đoán táo bạo đi vào trí tuệ: điều gì sẽ xảy ra khi toàn thể Vũ Trụ trở nên phóng xạ? Chẳng phải khi ấy Đại Giai kỳ qui nguyên Vũ trụ cuối cùng sẽ đến với chúng ta sao? Và dĩ nhiên, chúng ta sẽ ‘ở đó’.


6. A wild speculative thought enters the mind: what will happen when the entire Universe becomes radioactive? Will not the final Universal Pralaya be with us? And, of course, we will be ‘there’.

6. Một ý nghĩ suy đoán táo bạo đi vào trí tuệ: điều gì sẽ xảy ra khi toàn thể Vũ Trụ trở nên phóng xạ? Chẳng phải khi ấy Đại Giai kỳ qui nguyên Vũ trụ cuối cùng sẽ đến với chúng ta sao? Và dĩ nhiên, chúng ta sẽ ‘ở đó’.

It marks a specific point of attainment in the evolutionary process, and this is equally true of the atom of substance with which the chemist and physicist deal, when working with the elements, as it is of the forms in the vegetable kingdom, the [Page 1061] forms in the animal kingdom, in the human, and, likewise, in the divine.

Nó đánh dấu một điểm thành tựu đặc thù trong tiến trình tiến hoá, và điều này cũng đúng như nhau đối với nguyên tử của chất liệu mà nhà hóa học và nhà vật lý đề cập đến khi làm việc với các nguyên tố, cũng như đối với các hình tướng trong giới thực vật, các [Trang 1061] hình tướng trong giới động vật, trong giới nhân loại, và tương tự như vậy trong giới thiêng liêng.

7. We are to expect, then, the appearance not only of radioactive atoms, but of radioactive plants, animals, human beings, and many greater Beings.

7. Vậy thì chúng ta phải chờ đợi sự xuất hiện không chỉ của các nguyên tử phóng xạ, mà còn của các thực vật, động vật, con người phóng xạ, và nhiều Đấng vĩ đại hơn nữa.

8. The higher initiates and Masters are, from this perspective, radioactive human beings.

8. Từ góc nhìn này, các điểm đạo đồ cao cấp hơn và các Chân sư là những con người phóng xạ.

9. Radioactivity is always a stage occurring prior to liberation and indicates the onset of the process of liberation.

9. Tính phóng xạ luôn là một giai đoạn xảy ra trước giải thoát và cho thấy sự khởi đầu của tiến trình giải thoát.

From some angles of vision, it might be regarded as the "true form" (which is to be understood occultly as the etheric form of energy)

Từ một số góc độ tầm nhìn, nó có thể được xem là “hình tướng chân thực” (điều này phải được hiểu một cách huyền bí là hình tướng năng lượng dĩ thái)

10. Always this must be emphasized…

10. Điều này luôn phải được nhấn mạnh…

making its presence felt in such a way that it becomes apparent even to the scientist.

đang làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận theo cách khiến nó trở nên hiển nhiên ngay cả đối với nhà khoa học.

11. DK seems to suggest that the “scientist” is presently not too capable of really deep penetration! There are apparently others to whom the revelation will come much more easily but, before long, the it will be necessary that scientists, too, validate that radioactivity has a deeper significance than they had thought.

11. Chân sư DK dường như gợi ý rằng hiện nay “nhà khoa học” chưa thật sự có khả năng thâm nhập sâu! Rõ ràng có những người khác mà sự mặc khải sẽ đến với họ dễ dàng hơn nhiều, nhưng chẳng bao lâu nữa, các nhà khoa học cũng sẽ cần phải xác nhận rằng tính phóng xạ có một ý nghĩa sâu xa hơn điều họ từng nghĩ.

Students should here remember two things:

Các đạo sinh nên nhớ ở đây hai điều:

First, that in all occult conclusions, it is the body of energy which is dealt with and the subjective life back of the form which is recognised as being of supreme importance.

Thứ nhất, rằng trong mọi kết luận huyền bí học, điều được đề cập đến là thể năng lượng và sự sống chủ quan phía sau hình tướng được nhìn nhận là có tầm quan trọng tối thượng.

12. The occultist deals always with causes and not with effects. Relative to the dense physical plane, the etheric plane is considered causal and substantial.

12. Nhà huyền bí học luôn luôn đề cập đến nguyên nhân chứ không phải kết quả. Liên quan đến cõi hồng trần đậm đặc, cõi dĩ thái được xem là có tính nguyên nhân và là chất liệu.

Second, that the dense objective manifestation, as has been reiterated frequently, is not regarded as a principle at all; the occultist deals with principles alone.

Thứ hai, rằng biểu hiện khách quan đậm đặc, như đã nhiều lần được nhắc lại, hoàn toàn không được xem là một nguyên khí; nhà huyền bí học chỉ đề cập đến các nguyên khí mà thôi.

13. If we fail to deal with principles but literally engross ourselves in that which is not a principle, we do not deserve the name “occultists”. Are members of the Black Lodge, then, true “occultists”? For they are deeply engrossed in all that is densely material, though their power in the three lower worlds—etheric, astral and lower mental, is also appreciable.

13. Nếu chúng ta không đề cập đến các nguyên khí mà lại theo nghĩa đen mải mê với điều không phải là nguyên khí, thì chúng ta không xứng đáng với danh xưng “nhà huyền bí học”. Vậy thì các thành viên của Hắc đoàn có phải là những “nhà huyền bí học” chân chính không? Vì họ mải mê sâu đậm với mọi điều thuộc vật chất đậm đặc, dù quyền năng của họ trong ba cõi thấp—dĩ thái, cảm dục và hạ trí—cũng đáng kể.

It might be of value here to remind the student also that three things have to be recognised in all manifestation:

Ở đây cũng có thể hữu ích khi nhắc đạo sinh rằng có ba điều phải được nhìn nhận trong mọi biểu hiện:

First, that the tangible objective exterior, negative, receptive, and occultly unorganised, is without form and usefulness apart from the inner energy.

Thứ nhất, rằng phần bên ngoài khách quan hữu hình, tiêu cực, tiếp nhận, và một cách huyền bí là không được tổ chức, thì không có hình tướng và không có ích dụng nếu tách rời năng lượng bên trong.

14. This level of nature will automatically mould itself according the pattern produced in principled substance.

14. Cấp độ này của bản chất sẽ tự động tự khuôn đúc theo mô hình được tạo ra trong chất liệu có nguyên khí.

15. We cling to that which is densely material, forgetting that it has no real form at all, and no real or lasting value. It is but a means to an end.

15. Chúng ta bám chặt vào điều thuộc vật chất đậm đặc, quên rằng nó thực ra hoàn toàn không có hình tướng thật sự nào, và cũng không có giá trị thật sự hay lâu bền. Nó chỉ là một phương tiện để đạt đến cứu cánh.

Second, that the "true form" or the force-vehicle energises and produces the cohesion of that which is unorganised.

Thứ hai, rằng “hình tướng chân thực” hay vận cụ-mãnh lực tiếp sinh lực và tạo ra sự cố kết của điều không được tổ chức.

16. Principles produce their own form of cohesion. That which is unprincipled has no form of its own.

16. Các nguyên khí tạo ra hình thức cố kết riêng của chúng. Điều không có nguyên khí thì không có hình thức riêng của nó.

17. In this respect, form production at its lowest level demonstrates on the systemic etheric plane.

17. Về phương diện này, sự tạo tác hình tướng ở cấp thấp nhất của nó biểu lộ trên cõi dĩ thái của hệ thống.

Third, that the "volatile essence," or the spiritual essential Life, focuses itself in some one point within the "true form."10 [Page 1062]

Thứ ba, rằng “tinh chất linh động”, hay Sự sống cốt yếu tinh thần, tự tập trung vào một điểm nào đó bên trong “hình tướng chân thực”.10 [Trang 1062]

18. The volatile essence is the Monad itself—or, shall we say, that part or emanation of the Monad which has descended into the five lower worlds.

18. Tinh chất linh động chính là chân thần—hay, chúng ta hãy nói rằng, phần hay sự phát xạ của chân thần đã giáng xuống năm cõi thấp hơns.

19. The monadic vehicle per se should not be included when seeking to understand the essential nature of the volatile essence. It is pure being itself.

19. Chính vận cụ chân thần không nên được bao gồm khi tìm cách thấu hiểu bản chất cốt yếu của tinh chất linh động. Nó là bản thể thuần túy.

Footnote 10:

Chú thích 10:

Form: "The model according to which nature does its external work.—S. D., II, 107; see S. D., I, 619.

Hình tướng: “mô hình theo đó bản chất thực hiện công việc bên ngoài của mình.—S. D., II, 107; xem S. D., I, 619.

20. This has been called in scientific terminology, the “morphogenic field”. “Morpho” suggests “form”, and “genic” suggests ‘the generation of’. In the morphogenic field we have the form-producing field.

20. Trong thuật ngữ khoa học, điều này đã được gọi là “trường hình thái sinh thành”. “Morpho” gợi ý “hình tướng”, và “genic” gợi ý “sự phát sinh”. Trong trường hình thái sinh thành, chúng ta có trường tạo hình tướng.

1. Divine ideation passes from the abstract to the concrete or visible form.

1. Ý niệm thiêng liêng đi từ trừu tượng đến hình tướng cụ thể hay khả kiến.

21. Divine ideas take their origin (as far as man is concerned) within the cosmic ethers. Their true origin is really much higher—the cosmic mental plane and on still higher planes. It is utterly impossible for man to determine the origin of Ideas. Ultimately they would have to be traced to Divine Cosmic Ideation on the very highest possible planes of cosmos or ‘BEYOND’.

21. Các ý tưởng thiêng liêng phát sinh (xét theo con người) bên trong các dĩ thái vũ trụ. Nguồn gốc thật sự của chúng thực ra còn cao hơn nhiều—cõi trí vũ trụ và những cõi còn cao hơn nữa. Con người hoàn toàn không thể xác định được nguồn gốc của các Ý Tưởng. Rốt cuộc, chúng phải được truy nguyên về Ý niệm Vũ trụ Thiêng liêng trên những cõi cao nhất có thể có của vũ trụ hay “VƯỢT NGOÀI”.

a. The objective is an emanation of the subjective.—S. D., I, 407.

a. Cái khách quan là một phát xạ của cái chủ quan.—S. D., I, 407.

22. This, every true occultist knows. That which is objective to him is always an effect of something still more subjective.

22. Mọi nhà huyền bí học chân chính đều biết điều này. Điều gì là khách quan đối với y luôn luôn là kết quả của một điều còn chủ quan hơn nữa.

b. Impulse is Spirit energy causing objectivity.—S. D., I, 349, 683.

b. Xung lực là năng lượng tinh thần gây ra tính khách quan.—S. D., I, 349, 683.

23. We are not speaking of lower impulses to which all human beings are subject. We are speaking of “spiritual impulse” again emanating (as far as man can determine) from within the cosmic ethers.

23. Chúng ta không nói về các xung lực thấp mà mọi con người đều phải chịu. Chúng ta đang nói về “xung lực tinh thần” lại một lần nữa phát ra (theo mức con người có thể xác định) từ bên trong các dĩ thái vũ trụ.

b. The Logos renders objective a concealed thought.—S. D., II, 28.

b. Thượng đế biểu hiện khách quan một tư tưởng ẩn kín.—S. D., II, 28.

c.

c.

24. Here is a beautiful idea. We do not know what lies hidden in the “Mind of God” but we do know that the deepest purposes and intentions are certainly hidden to man. Think of the first Purpose of Sanat Kumara!

24. Đây là một ý tưởng đẹp đẽ. Chúng ta không biết điều gì ẩn kín trong “Trí của Thượng đế”, nhưng chúng ta biết rằng những mục đích và ý định sâu xa nhất chắc chắn bị che giấu đối với con người. Hãy nghĩ đến Mục Đích đầu tiên của Đức Sanat Kumara!

a. The unknown, unseen and unheard purpose of Sanat Kumara. It is the secret of life itself and is known only to Him alone. In its initial phase of this new expression, it works through the Manu and the Master Morya; it is that which veils the central mystery which all esoteric schools—if true to their inaugurating impulse—will eventually reveal. What that is we do not yet know, but it is hinted at in Rule XIII. (R&I 241)

a. Mục đích vô tri, vô hình và vô thanh của Đức Sanat Kumara. Đó là bí mật của chính sự sống và chỉ một mình Ngài biết mà thôi. Trong giai đoạn khởi đầu của biểu hiện mới này, nó hoạt động qua Đức Manu và Chân sư Morya; đó là điều che phủ huyền nhiệm trung tâm mà mọi trường phái huyền bí học—nếu trung thành với xung lực khai sáng của mình—cuối cùng sẽ mặc khải. Điều đó là gì thì chúng ta chưa biết, nhưng được ám chỉ trong Quy luật XIII. (R&I 241)

2. Three things required before any form of energy can become objective:—S. D., I, 89.

2. Có ba điều cần có trước khi bất kỳ dạng năng lượng nào có thể trở nên khách quan:—S. D., I, 89.

1. Privation Separation Initial impulse. Energy. Will.

1. Sự tước bỏ. Sự phân ly. Xung lực ban đầu. Năng lượng. Ý chí.

25. These four all pertain to the first divine aspect.

25. Bốn điều này đều thuộc về phương diện thiêng liêng thứ nhấtt.

26. Privation suggests the absence of any impurity or encumbrance. Privation represents complete abstraction of cause from effect.

26. Sự tước bỏ gợi ý sự vắng mặt của mọi ô nhiễm hay cản ngại. Sự tước bỏ biểu thị sự trừu xuất hoàn toàn nguyên nhân khỏi kết quảt.

2. Form Quality or shape Nature. Love.

2. Hình tướng. Phẩm tính hay hình dạng. Bản chất. Bác ái.

27. These four all pertain to the second aspect of divinity.

27. Bốn điều này đều thuộc về phương diện thứ hai của thiên tính.

3. Matter Objective sphere Intelligent activity.

3. Vật chất. Khối cầu khách quan. Hoạt động thông tuệ.

28. These all pertain to the third aspect of divinity.

28. Tất cả những điều này đều thuộc về phương diện thứ ba của thiên tính.

See S. D., III, 561.

Xem S. D., III, 561.

3. Life precedes form.—S. D., I, 242.

3. Sự sống đi trước hình tướng.—S. D., I, 242.

29. Yet certain strictly physical psychologists think that mind is a by-product of chemical reactions within the brain!

29. Thế nhưng một số nhà tâm lý học thuần hồng trần lại cho rằng trí tuệ là sản phẩm phụ của các phản ứng hóa học trong bộ não!

a. The Thinker ever remains.—S. D., II, 28.

a. Đấng Tư Tưởng vẫn luôn tồn tại.—S. D., II, 28.

30. In this case, the true Thinker is the Monad—certainly not an abstract or passive spirit.

30. Trong trường hợp này, Đấng Tư Tưởng chân thực là chân thần—chắc chắn không phải một tinh thần trừu tượng hay thụ động.

a. Force of life is the transformation into energy of the thought of the Logos.—See S. D., III, 179.

a. Mãnh lực sự sống là sự chuyển đổi thành năng lượng của tư tưởng của Thượng đế.—Xem S. D., III, 179.

31. This is a more abstract statement. In this instance, “energy” represents a lower form of expression than logoic “thought”.

31. Đây là một phát biểu trừu tượng hơn. Trong trường hợp này, “năng lượng” biểu thị một hình thức biểu lộ thấp hơn “tư tưởng” của Thượng đế.

32. We are speaking of the energizing of logoic thought so that it can be manifested.

32. Chúng ta đang nói về việc tiếp sinh lực cho tư tưởng của Thượng đế để nó có thể được biểu hiện.

33. We understand from this statement that thought is energy.

33. Từ phát biểu này, chúng ta hiểu rằng tư tưởng là năng lượng.

4. Spirit evolves through form and out of form.—S. D., I, 680.

4. Tinh thần tiến hoá qua hình tướng và ra khỏi hình tướng.—S. D., I, 680.

34. Spirit does not allow itself to remain forever free of form. Spirit descends through form. Form is its tool, even though it is Spirit’s intention to return to its own “high place” enriched by the gifts conferred by form experience.

34. Tinh thần không để mình mãi mãi tự do khỏi hình tướng. Tinh thần giáng xuống qua hình tướng. Hình tướng là công cụ của nó, dù ý định của Tinh thần là trở về “chốn cao” của chính nó, được làm phong phú bởi những quà tặng do kinh nghiệm trong hình tướng ban cho.

a. Spirit has to acquire full self-consciousness.—S. D., I, 215

a. Tinh thần phải đạt được ngã thức trọn vẹn.—S. D., I, 215

35. This is an enigmatic statement. Full Self-consciousness exists on the highest planes, yet Spirit has deliberately incapacitated itself in its ‘Self-attenuating descent’. It is the attenuated emanation of true Spirit which must acquire full S/self-consciousness—again!—only to realize that it has always had full Self-consciousness.

35. Đây là một phát biểu bí ẩn. Ngã thức trọn vẹn hiện hữu trên các cõi cao nhất, thế nhưng Tinh thần đã cố ý làm suy giảm chính nó trong “sự giáng xuống tự làm mỏng đi”. Chính sự phát xạ đã bị làm mỏng của Tinh thần chân thực phải đạt được ngã thức/Self-consciousness trọn vẹn—một lần nữa!—chỉ để nhận ra rằng nó luôn luôn đã có ngã thức trọn vẹn.

b. Form imprisons Spirit.—S. D., II, 775.

b. Hình tướng giam cầm Tinh thần.—S. D., II, 775.

36. And Spirit will not tolerate this. This imprisonment—really a form of Self-imprisonment, is the root of “divine discontent”. There is none other than Spirit, itself, to cause this imprisonment.

36. Và Tinh thần sẽ không dung chịu điều này. Sự giam cầm này—thực ra là một hình thức tự Ngã-giam cầm—là cội rễ của “sự bất mãn thiêng liêng”. Không có gì khác ngoài chính Tinh thần gây ra sự giam cầm này.

37. This is an interesting term because it shows the Will of Spirit to be rid of all “content”—i.e., of anything other than itself!

37. Đây là một thuật ngữ thú vị vì nó cho thấy Ý Chí của Tinh thần muốn thoát khỏi mọi “nội dung”—nghĩa là khỏi bất cứ điều gì khác ngoài chính nó!

c. The principle of limitation is form.—S. D., III, 561.

c. Nguyên khí của sự giới hạn là hình tướng.—S. D., III, 561.

38. Matter, per se, is not the principle of limitation. Matter, in its pure essence, is as formless as Spirit. (We should ponder this.) But here we are speaking of Mulaprakriti before Fohat has caused its subdivision.

38. Vật chất, chính nó, không phải là nguyên khí của sự giới hạn. Vật chất, trong tinh chất thuần túy của nó, cũng vô tướng như Tinh thần. (Chúng ta nên suy ngẫm điều này.) Nhưng ở đây chúng ta đang nói về Mulaprakriti trước khi Fohat gây ra sự phân chia của nó.

39. Within our spheres of activity, Saturn, the ‘planet of limitation’ is also the ‘planet of form’.

39. Trong các khối cầu hoạt động của chúng ta, Sao Thổ, “hành tinh của sự giới hạn”, cũng là “hành tinh của hình tướng”.

d. Spirit informs all sheaths.—S. D., I, 669, note.

d. Tinh thần thấm nhuần mọi vỏ bọc.—S. D., I, 669, chú thích.

40. There is nothing that is “Spiritless”. This is also true of soul—there is nothing that is “Soul-less”—even “lost souls” have, ultimately, soul if by soul we mean consciousness. Some form of consciousness is always present even in the lowest state of existence.

40. Không có gì là “không có Tinh thần”. Điều này cũng đúng với linh hồn—không có gì là “không có linh hồn”—ngay cả “những linh hồn lạc mất” rốt cuộc cũng có linh hồn nếu bởi linh hồn chúng ta muốn nói là tâm thức. Một dạng tâm thức nào đó luôn luôn hiện diện ngay cả trong trạng thái tồn tại thấp nhất.

b. Spirit passes through the cycle of Being.—S. D., I, 160.

b. Tinh thần đi qua chu kỳ của Bản Thể.—S. D., I, 160.

41. And Spirit determines this cycle. Ultimately, it is the One and Ultimate Spirit which determines all cycles through which emanated aspects of itself pass.

41. Và Tinh thần quyết định chu kỳ này. Rốt cuộc, chính Tinh thần Duy Nhất và Tối Hậu quyết định mọi chu kỳ mà các phương diện phát xạ của chính nó đi qua.

5. The devas are the origin of form.—S. D., I, 488.

5. Các thiên thần là nguồn gốc của hình tướng.—S. D., I, 488.

42. Is Mulaprakriti, then, the greatest or all Devas?

42. Vậy thì Mulaprakriti có phải là vĩ đại nhất trong mọi Devas không?

They exist in two great groups:

Họ hiện hữu trong hai nhóm lớn:

a. The Ahhi are the vehicle of divine thought.—S. D., I, 70.

a. Ahhi là vận cụ của tư tưởng thiêng liêng.—S. D., I, 70.

43. The Ah-hi operate minimally within the cosmic ethers.

43. Ah-hi hoạt động tối thiểu trong các dĩ thái vũ trụ.

44. There are probably Ah-hi which are operative within the super-cosmic ethers—the cosmic buddhic, atmic, monadic and logoic planes.

44. Có lẽ có những Ah-hi hoạt động trong các dĩ thái siêu vũ trụ—các cõi Bồ đề, atma, chân thần và logoic vũ trụ.

45. Are the Ah-hi, the “Sounders of the Word”?

45. Phải chăng Ah-hi là những “Đấng Xướng Linh từ”?

b. The Army of the Voice.—S. D., I, 124.

b. Đạo Quân của Âm Thanh.—S. D., I, 124.

46. These beings are closer to physicality. Their highest representatives are found upon the higher reaches of the cosmic physical plane. There is a higher and a lower Army of the Voice.

46. Các hữu thể này gần với tính hồng trần hơn. Những đại diện cao nhất của họ được tìm thấy trên các tầng cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ. Có một Đạo Quân của Âm Thanh cao hơn và một thấp hơn.

They are the sum-total of the substance of the four higher planes and of the three lower.

Họ là tổng thể của chất liệu của bốn cõi cao hơn và của ba cõi thấp hơn.

47. This is an expanded definition of the Army of the Voice. DK specifies, that they are active only upon the systemic and cosmic etheric planes (excluding for the most part, the logoic plane, whereon they are latent). He seems to omit the systemic astral and mental planes—though I believe He leaves room for some of their activity on those levels.

47. Đây là một định nghĩa mở rộng về Đạo Quân của Âm Thanh. Chân sư DK xác định rằng họ chỉ hoạt động trên các cõi dĩ thái của hệ thống và vũ trụ (phần lớn loại trừ cõi logoic, nơi họ ở trạng thái tiềm ẩn). Dường như Ngài bỏ qua các cõi cảm dục và trí của hệ thống—dù tôi tin rằng Ngài vẫn để chỗ cho một phần hoạt động của họ trên các cấp đó.

These particular devas in "their serried ranks" are the directive agents of the divine energy which implements the purposes of Deity upon the physical plane. They work only on etheric levels—either upon our [systemic physical plane or on the cosmic etheric levels. They are therefore active in the realm of maya, which is the etheric plane as we usually understand it, or upon the planes of the Spiritual Triad. They are not active on the three gross physical levels or upon the astral or mental planes, nor are they active upon the highest or logoic plane. There they are implicit or latent but not active. They are the great "impulsive factors" in manifestation, organising substance, directing the multiplicity of lives and beings who constitute the forms through which God expresses divinity. In a peculiar sense, they are the embodiment of the divine purpose upon the planes of the Monad and of the Triad, just as the aggregate of energies in man's etheric body is the result of his inner direction and the cause of his outer manifestation. To understand more fully the function of the deva forces, a man must arrive at some understanding of the forces in his etheric body which, in their turn, are the consequence of his point of attainment—an attainment demonstrated by his astral (emotional) and mental natures and activities. These indicate his point of development. (R&I 179)

Những thiên thần đặc biệt này trong “hàng ngũ dày đặc” của họ là các tác nhân chỉ đạo của năng lượng thiêng liêng, năng lượng thực thi các mục đích của Thượng đế trên cõi hồng trần. Họ hoạt động chỉ trên các cấp dĩ thái—hoặc trên [cõi hồng trần của hệ thống chúng ta hoặc trên các cấp dĩ thái vũ trụ. Vì vậy họ hoạt động trong lĩnh vực của ảo lực, tức là cõi dĩ thái như chúng ta thường hiểu, hoặc trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. Họ không hoạt động trên ba cấp hồng trần thô nặng, cũng không trên các cõi cảm dục hay trí, và cũng không hoạt động trên cõi cao nhất hay cõi logoic. Tại đó họ ở trạng thái hàm ẩn hay tiềm ẩn chứ không hoạt động. Họ là những “nhân tố xung lực” lớn trong biểu hiện, tổ chức chất liệu, chỉ đạo vô số sự sống và hữu thể cấu thành các hình tướng qua đó Thượng đế biểu lộ thiên tính. Theo một ý nghĩa đặc biệt, họ là hiện thân của mục đích thiêng liêng trên các cõi của chân thần và của Tam nguyên tinh thần, cũng như tổng thể các năng lượng trong thể dĩ thái của con người là kết quả của sự chỉ đạo bên trong của y và là nguyên nhân của biểu hiện bên ngoài của y. Muốn thấu hiểu đầy đủ hơn chức năng của các mãnh lực thiên thần, con người phải đạt đến một mức thấu hiểu nào đó về các mãnh lực trong thể dĩ thái của mình; đến lượt chúng, các mãnh lực này là hệ quả của điểm thành tựu của y—một thành tựu được biểu lộ qua bản chất và hoạt động cảm dục (cảm xúc) và trí tuệ của y. Những điều này cho thấy điểm phát triển của y. (R&I 179)

6. There is a form which combines all forms.—S. D., I, 77, 118.

6. Có một hình tướng kết hợp mọi hình tướng.—S. D., I, 77, 118.

48. Would this not be the form of the Universe?

48. Chẳng phải đó sẽ là hình tướng của Vũ trụ sao?

49. If we think only in terms of that which is the immediately macrocosm for man, that form will be the ‘Solar Atom’.

49. Nếu chúng ta chỉ suy nghĩ theo những gì là đại thiên địa trực tiếp đối với con người, thì hình tướng ấy sẽ là “Nguyên tử Thái dương”.

In studying the subject of radiatory activity, we are dealing with the effect produced by the inner essence

Khi nghiên cứu chủ đề hoạt động bức xạ, chúng ta đang đề cập đến hiệu quả do tinh chất bên trong

50. The volatile essence…

50. Tinh chất linh động…

as it makes its presence felt through the form, when the form has been brought to a stage of such refinement that it becomes possible.

tạo ra khi nó làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận qua hình tướng, khi hình tướng đã được đưa đến một giai đoạn tinh luyện đến mức điều đó trở nên khả hữu.

51. There will be no radioactivity unless the form is a refined form. Thus, purification leads to radioactivity. At this point in our studies, this seems obvious.

51. Sẽ không có tính phóng xạ trừ phi hình tướng là một hình tướng tinh luyện. Vì vậy, sự thanh lọc dẫn đến tính phóng xạ. Ở điểm này trong việc nghiên cứu của chúng ta, điều ấy có vẻ hiển nhiên.

When this realisation is applied to all the forms in all the kingdoms, it will be found possible to bridge the gaps existing between the different forms of life,

Khi sự chứng nghiệm này được áp dụng cho mọi hình tướng trong mọi giới, người ta sẽ thấy có thể bắt cầu những khoảng cách hiện hữu giữa các dạng sự sống khác nhau,

52. Radioactivity occurs in those forms within any kingdom which are on verge of entry into the next and highest kingdom.

52. Tính phóng xạ xuất hiện trong những hình tướng thuộc bất kỳ giới nào đang ở sát ngưỡng bước vào giới kế tiếp và cao hơn.

and the "elements" in every kingdom, and those unifying radiating centres will be found.

và các “nguyên tố” trong mọi giới, cùng những trung tâm bức xạ hợp nhất ấy sẽ được tìm thấy.

53. Unifying radiating centers are those centers which are responsible for the unification of kingdoms. They are the most advanced lives in any kingdom.

53. Các trung tâm bức xạ hợp nhất là những trung tâm chịu trách nhiệm cho sự hợp nhất các giới. Chúng là những sự sống tiến bộ nhất trong bất kỳ giới nào.

54. When dealing with the mineral kingdom we seem to know how to designate the “elements” but we shall have to designate them differently when dealing with kingdoms higher than the mineral.

54. Khi đề cập đến giới kim thạch, dường như chúng ta biết cách gọi tên các “nguyên tố”, nhưng chúng ta sẽ phải gọi chúng theo cách khác khi đề cập đến các giới cao hơn giới kim thạch.

The word "element" is yet confined to the basic substances in what is called essential matter, and the chemist and physicist are busy with such lives;

Từ “nguyên tố” hiện vẫn còn bị giới hạn vào các chất liệu cơ bản trong cái được gọi là vật chất cốt yếu, và nhà hóa học cùng nhà vật lý đang bận rộn với những sự sống như thế;

55. DK seeks to broaden our understanding of the term “element”. Certainly the study of astrology has already done this.

55. Chân sư DK tìm cách mở rộng sự thấu hiểu của chúng ta về thuật ngữ “nguyên tố”. Chắc chắn việc nghiên cứu chiêm tinh học đã làm điều này rồi.

but their correspondence (in the occult sense of the term) is to be found in every kingdom in nature,

nhưng sự tương ứng của chúng (theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ này) được tìm thấy trong mọi giới trong thiên nhiên,

56. We can see that the “elements” in progressively higher kingdoms are progressively more complex.

56. Chúng ta có thể thấy rằng các “nguyên tố” trong những giới ngày càng cao thì ngày càng phức tạp hơn.

57. May we think of them as the essential building blocks of the forms found in every kingdom? In this case the least of the plants (bacteria? Viruses?) and the least of the animals (amoeba?) would be considered elemental to their particular kingdom. What of the least of the human beings?

57. Chúng ta có thể nghĩ về chúng như những khối xây dựng cốt yếu của các hình tướng được tìm thấy trong mọi giới chăng? Trong trường hợp này, loài thực vật thấp nhất (vi khuẩn? virus?) và loài động vật thấp nhất (amip?) sẽ được xem là có tính nguyên tố đối với giới riêng của chúng. Còn loài người thấp nhất thì sao?

and there are forms of life in the vegetable kingdom which are occultly regarded as "radioactive," the eucalyptus tree being one such form.

và có những dạng sự sống trong giới thực vật được xem một cách huyền bí là “phóng xạ”, cây bạch đàn là một dạng như thế.

58. Perhaps the flammability of the eucalyptus and its powerful perfume are indications of its radioactive nature.

58. Có lẽ tính dễ cháy của cây bạch đàn và hương thơm mạnh của nó là những dấu hiệu về bản chất phóng xạ của nó.

There are forms of animal life equally at an analogous stage

Có những dạng sự sống động vật cũng ở một giai đoạn tương tự tương ứng

59. Are these the domesticated animals of the highest kind---the dog, horse, cat, and elephant?

59. Phải chăng đó là những loài vật đã được thuần hóa ở cấp cao nhất—chó, ngựa, mèo và voi?

60. These would be the “unifying radiating centres” of the animal kingdom.

60. Đây sẽ là những “trung tâm bức xạ hợp nhất” của giới động vật.

61. The eucalyptus would be one of the “unifying radiating centres” in the plant kingdom.

61. Cây bạch đàn sẽ là một trong những “trung tâm bức xạ hợp nhất” trong giới thực vật.

and the human unit (as it approaches "liberation") demonstrates a similar phenomenon.

và đơn vị nhân loại (khi tiến gần đến “giải thoát”) biểu lộ một hiện tượng tương tự.

62. The radioactive human being is also to be considered a “unifying radiating center”. Those who are passing through the first three initiations are, then, “unifying radiating centres”. Arhats and Masters are already full members of the kingdom above the human kingdom—the Kingdom of Souls. As for Masters, They are “unifying radiating centres” in relation to the Kingdom of Planetary Lives, which begins with Chohanship.

62. Con người phóng xạ cũng phải được xem là một “trung tâm bức xạ hợp nhất”. Vậy thì những ai đang đi qua ba lần điểm đạo đầu tiên là những “trung tâm bức xạ hợp nhất”. Các A-la-hán và các Chân sư đã là thành viên trọn vẹn của giới ở trên giới nhân loại—Thiên Giới của các linh hồn. Còn đối với các Chân sư, Các Ngài là những “trung tâm bức xạ hợp nhất” trong tương quan với Giới của Các Sự Sống Hành tinh, giới này bắt đầu với địa vị Chohan.

63. But what specifically are the elements in any kingdom?

63. Nhưng cụ thể thì các nguyên tố trong bất kỳ giới nào là gì?

64. Might we find the simplest form of elemental life in any kingdom, and view the other forms within that kingdom as combinations of the most fundamental element? This is true of the chemical elements but will require must patient thought before we discover how it is true of the “elements” of the vegetable kingdom and the animal kingdom, and also the human kingdom. The matter is obscure to our usual trend of thought.

64. Liệu chúng ta có thể tìm ra dạng sự sống nguyên tố đơn giản nhất trong bất kỳ giới nào, và xem các dạng khác trong giới đó như những tổ hợp của nguyên tố căn bản nhất không? Điều này đúng với các nguyên tố hóa học, nhưng sẽ đòi hỏi suy nghĩ hết sức kiên nhẫn trước khi chúng ta khám phá được nó đúng như thế nào đối với các “nguyên tố” của giới thực vật, giới động vật, và cả giới nhân loại. Vấn đề này mờ tối đối với khuynh hướng tư duy thông thường của chúng ta.

Again, as a planetary scheme nears its consummation, it becomes "radioactive," and through radiation transfers its essence to another "absorbent planet," or planets, as is the case with a solar system also.

Một lần nữa, khi một hệ hành tinh tiến gần đến sự viên mãn của nó, nó trở nên “phóng xạ”, và qua bức xạ chuyển dịch tinh chất của nó sang một “hành tinh hấp thụ”, hay các hành tinh, như cũng xảy ra với một hệ mặt trời.

65. Radioactivity precedes synthesis. Is Venus already radioactive? It is approaching synthetic absorption into its destined synthesizing planet—Neptune?

65. Tính phóng xạ đi trước sự tổng hợp. Phải chăng Sao Kim đã có tính phóng xạ? Nó đang tiến gần đến sự hấp thụ tổng hợp vào hành tinh tổng hợp đã được định sẵn của nó—Sao Hải Vương?

66. Something very subtle is here stated—that a planet may be absorbed by more than one planet. This will offer us an entirely new line of thought.

66. Ở đây có một điều rất vi tế được phát biểu—rằng một hành tinh có thể bị hấp thụ bởi nhiều hơn một hành tinh. Điều này sẽ mở ra cho chúng ta một đường suy nghĩ hoàn toàn mớit.

67. Would this absorption occur sequentially or simultaneously? Another important consideration.

67. Sự hấp thụ này sẽ xảy ra tuần tự hay đồng thời? Một điểm cân nhắc quan trọng khác.

68. I have speculated upon this earlier. If for instance, if the radioactive essence of the Earth were to be absorbed into Venus, could it eventually be transferred to Saturn even though Venus is destined to be absorbed by Neptune?

68. Tôi đã suy đoán về điều này trước đây. Chẳng hạn, nếu tinh chất phóng xạ của Trái Đất được hấp thụ vào Sao Kim, liệu cuối cùng nó có thể được chuyển sang Sao Thổ dù Sao Kim được định sẵn sẽ bị hấp thụ vào Sao Hải Vương không?

69. Or if Earth is destined to be absorbed by Saturn, will its essence eventually be transferred to Uranus when Saturn is absorbed by Uranus?

69. Hoặc nếu Trái Đất được định sẵn sẽ bị hấp thụ vào Sao Thổ, liệu tinh chất của nó cuối cùng có được chuyển sang Sao Thiên Vương khi Sao Thổ bị hấp thụ vào Sao Thiên Vương không?

70. Or could Venus and Mercury both be absorbed by Saturn first (as indicated by the configuration on TCF 373) eventually, then, to be absorbed by Neptune and Uranus respectively?

70. Hoặc liệu cả Sao Kim và Sao Thủy trước hết đều có thể bị hấp thụ vào Sao Thổ (như được chỉ ra bởi cấu hình trong TCF 373) rồi cuối cùng lần lượt bị hấp thụ vào Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương chăng?

71. Many are the mysteries.

71. Có biết bao huyền nhiệm.

Its essence, or true Life, is absorbed by a receiving constellation, and the outer "case" returns to its original unorganised condition.

Tinh chất của nó, hay Sự sống chân thực của nó, được hấp thụ bởi một chòm sao tiếp nhận, và “vỏ bọc” bên ngoài trở về trạng thái không được tổ chức nguyên thủy của nó.

72. This is so vitally important. Only the essence of any unit is received by the greater unit which acts to it as a synthesizer.

72. Điều này vô cùng quan trọng. Chỉ tinh chất của bất kỳ đơn vị nào mới được đơn vị lớn hơn tiếp nhận, đơn vị này đóng vai trò là kẻ tổng hợp đối với nó.

73. But what does that essence include? All principled substance? Perhaps?

73. Nhưng tinh chất ấy bao gồm những gì? Toàn bộ chất liệu có nguyên khí chăng? Có lẽ vậy?

74. Certainly the outer “case” or dense physical plane returns to its material and hence unorganized state.

74. Chắc chắn “vỏ bọc” bên ngoài hay cõi hồng trần đậm đặc trở về trạng thái vật chất và do đó không được tổ chức của nó.

S8-12 Preamble

Dear Fellow Students of A Treatise on Cosmic Fire,

Kính gửi các đạo sinh đồng môn của Luận về Lửa Vũ Trụ,

It is the New Moon in Taurus and I am writing you from Mesa Arizona, where we are holding the 23rd annual Conference of the University of the Seven Rays and Seven Ray Institute. We will be thinking of you as a group standing in support of the deepening and spread of the Ageless Wisdom.

Hiện là kỳ Trăng Non trong Kim Ngưu và tôi đang viết cho các bạn từ Mesa, Arizona, nơi chúng tôi đang tổ chức Hội nghị thường niên lần thứ 23rd của University of the Seven Rays và Seven Ray Institute. Chúng tôi sẽ nghĩ đến các bạn như một nhóm đang đứng nâng đỡ cho sự đào sâu và lan rộng của Minh Triết Ngàn Đời.

In the Commentary for this period, Semester 8 Section 6 Part I.2, we are studying the last three Rules of Magic for the mental plane.

Trong phần Bình luận cho giai đoạn này, Học kỳ 8 Phần 6 Mục I.2, chúng ta đang nghiên cứu ba Quy luật Huyền thuật cuối cùng dành cho cõi trí.

We are presented with some fascinating material concerning the use of the will as the magician “drives his thoughtform from him”. Certain petals in the egoic lotus (will petals) are involved in this process, but DK does not specify which one or ones.

Chúng ta được trình bày một số tài liệu rất hấp dẫn liên quan đến việc sử dụng ý chí khi nhà huyền thuật “đẩy hình tư tưởng của mình ra khỏi mình”. Một số cánh hoa trong hoa sen chân ngã (các cánh hoa ý chí) có liên quan đến tiến trình này, nhưng Chân sư DK không nêu rõ là cánh nào hay những cánh nào.

The role of the Ego (egoic will) in the magical process is emphasized. Without the propulsive will of the Ego the white magical process would never occur.

Vai trò của Chân ngã (ý chí chân ngã) trong tiến trình huyền thuật được nhấn mạnh. Nếu không có ý chí thúc đẩy của Chân ngã, tiến trình huyền thuật chánh đạo sẽ không bao giờ xảy ra.

The process of “driving the thoughtform from him” does not constitute its release onto the dense physical plane. In fact, the next phase of the thoughtform’s mission is to enter the astral plane and take to itself matter of that plane. (Matter of the astral plane definitely exists, even though from a certain perspective, we have been thought to consider the astral plane as non-existent.)

Tiến trình “đẩy hình tư tưởng ra khỏi mình” không cấu thành việc giải phóng nó lên cõi hồng trần đậm đặc. Thực ra, giai đoạn kế tiếp trong sứ mạng của hình tư tưởng là đi vào cõi cảm dục và thu hút về mình vật chất của cõi ấy. (Vật chất của cõi cảm dục chắc chắn hiện hữu, dù từ một góc nhìn nào đó, chúng ta đã được dạy xem cõi cảm dục như không hiện hữu.)

DK discusses the reasons why so many magicians fail in their task of driving the thoughtform from them, adding that their failure is fortunate. The modern magician lacks the knowledge of the words or sounds which will make this possible—though under certain circumstance the words or sounds can be recovered from the soul (under intensity of feeling) or are conferred to the magician by those who know. Also without their knowledge or cooperation, thoughtforms created by unwary magicians can be utilized by members of the White Lodge and also the Black Lodge.

Chân sư DK bàn đến những lý do vì sao rất nhiều nhà huyền thuật thất bại trong nhiệm vụ đẩy hình tư tưởng ra khỏi họ, và thêm rằng sự thất bại của họ là điều may mắn. Nhà huyền thuật hiện đại thiếu tri thức về những từ ngữ hay âm thanh sẽ làm cho điều này trở nên khả hữu—dù trong một số hoàn cảnh nhất định, các từ ngữ hay âm thanh ấy có thể được phục hồi từ linh hồn (dưới cường độ cảm xúc) hoặc được những người biết trao cho nhà huyền thuật. Ngoài ra, nếu không có tri thức hay sự hợp tác của họ, các hình tư tưởng do những nhà huyền thuật thiếu thận trọng tạo ra có thể bị các thành viên của Thánh đoàn và cả Hắc đoàn sử dụng.

We must conclude that only the power to meditate strongly and effectively will make it possible to take the first steps towards becoming true white magicians.

Chúng ta phải kết luận rằng chỉ quyền năng tham thiền mạnh mẽ và hữu hiệu mới làm cho việc thực hiện những bước đầu tiên hướng tới việc trở thành các nhà huyền thuật chánh đạo chân chính trở nên khả hữu.

The ‘Age of the Magicians’ is rapidly approaching, and thus we have to become very cognizant of the magical methods which are sanctioned by the Great White Lodge. Additionally, we have to prove ourselves to be trustworthy if we wish to have the ancient formulas communicated to us by a Member of the Great White Lodge. Our moral orientation has much to do with our trustworthiness. DK informs us of the prevailing selfishness of most human beings; hence, at this time, the ancient formulas are for the most part unavailable to them.

“Kỷ nguyên của các Nhà Huyền Thuật” đang nhanh chóng đến gần, và vì vậy chúng ta phải trở nên hết sức ý thức về những phương pháp huyền thuật được Thánh đoàn chuẩn thuận. Ngoài ra, chúng ta phải chứng tỏ mình là đáng tin cậy nếu muốn các công thức cổ xưa được một Thành viên của Thánh đoàn truyền đạt cho mình. Định hướng đạo đức của chúng ta có liên hệ rất nhiều với độ đáng tin cậy của chúng ta. Chân sư DK cho chúng ta biết về tính ích kỷ đang thịnh hành nơi phần lớn nhân loại; do đó, vào lúc này, các công thức cổ xưa phần lớn vẫn không thể tiếp cận đối với họ.

It is very interesting that the Solar Angel knows the words and sounds. When a man is under the influence of his Angel the formulas may come to him. But when not under the Solar Angel’s influence, he cannot retrieve the formulas. This assures that the formulas will be correctly used.

Điều rất thú vị là Thái dương Thiên Thần biết các lời và các âm thanh. Khi một người ở dưới ảnh hưởng của Thiên Thần của y, các công thức có thể đến với y. Nhưng khi không ở dưới ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần, y không thể nhớ lại các công thức ấy. Điều này bảo đảm rằng các công thức sẽ được sử dụng một cách đúng đắn.

The Fifth Rule deals with the safety of the magician as he creates. The alliance of the heart, throat and eye are discussed. Safety is at least partially assured if the magician allows no perversion of the Solar Angel’s original intent to enter his mind and heart. If the thoughtform is not properly released, it will return to the sender and will wreak havoc within his vehicles. The safeguarding of his desire nature is most important for the magician’s safety. It largely determines the “condition of the waters” into which the mentally created thoughtform is sent.

Quy Luật thứ Năm bàn đến sự an toàn của nhà huyền thuật khi y sáng tạo. Sự liên minh của tim, cổ họng và mắt được bàn luận. Sự an toàn ít nhất cũng được bảo đảm phần nào nếu nhà huyền thuật không để cho bất kỳ sự xuyên tạc nào đối với ý định nguyên thủy của Thái dương Thiên Thần đi vào trí tuệ và tim của y. Nếu hình tư tưởng không được phóng thích đúng cách, nó sẽ quay trở lại người gửi và sẽ gây tàn phá trong các hiện thể của y. Việc bảo vệ bản chất dục vọng của y là điều quan trọng bậc nhất đối với sự an toàn của nhà huyền thuật. Điều này phần lớn quyết định “tình trạng của các dòng nước” mà vào đó hình tư tưởng được tạo ra bằng trí tuệ được gửi đi.

Students will find the Tibetan’s commentary very rich. There are imparted many jewel’s of occultism.

Các đạo sinh sẽ thấy phần bình luận của Chân sư Tây Tạng vô cùng phong phú. Nhiều châu ngọc của huyền bí học được truyền đạt trong đó.

The astral devas are considered the most dangerous with which the magician must deal. DK explains why this is the case. The Solar Angel’s protection, available on the lower mental plane, is not to the same degree available on the astral plane. Hence the need for extreme caution!

Các thiên thần cảm dục được xem là nguy hiểm nhất mà nhà huyền thuật phải xử lý. Chân sư DK giải thích vì sao lại như vậy. Sự bảo hộ của Thái dương Thiên Thần, vốn có sẵn trên cõi hạ trí, không có sẵn ở cùng mức độ trên cõi cảm dục. Do đó cần phải hết sức thận trọng!

Protection for the magician working on the astral plane is imparted by one of the petals in the love tier of the egoic lotus. The petals are seen to be active in the magical process and not merely passive recipients of accumulated quality.

Sự bảo vệ dành cho nhà huyền thuật hoạt động trên cõi cảm dục được truyền đạt bởi một trong các cánh hoa thuộc tầng bác ái của Hoa Sen Chân Ngã. Các cánh hoa được thấy là hoạt động trong tiến trình huyền thuật chứ không chỉ đơn thuần là những kẻ tiếp nhận thụ động phẩm tính được tích lũy.

Another interesting subject to be dealt with is the transmutative effect of contemplation—both the contemplation of the Solar Angel and of the magician in deep meditation.

Một chủ đề thú vị khác cần được bàn đến là hiệu quả chuyển hoá của sự chiêm ngưỡng—cả sự chiêm ngưỡng Thái dương Thiên Thần lẫn sự chiêm ngưỡng của nhà huyền thuật trong tham thiền sâu.

Information relating the opening of the third eye to the opening of the sacrifice petals of the egoic lotus is given. This tells us that the opening of the third eye is not an instantaneous happening, but may span many lives—for it takes many lives to fully open the sacrifice tier.

Thông tin liên hệ việc khai mở con mắt thứ ba với việc khai mở các cánh hoa hi sinh của Hoa Sen Chân Ngã được đưa ra. Điều này cho chúng ta biết rằng việc khai mở con mắt thứ ba không phải là một biến cố tức thời, mà có thể kéo dài qua nhiều kiếp sống—vì cần nhiều kiếp sống để khai mở trọn vẹn tầng hi sinh.

Rule VI, the final Rule of the Mental Plane is also discussed briefly. These Rules are far more completely discussed in A Treatise on White Magic, a book which probably should be studied parallel to our present studies in A Treatise on Cosmic Fire.

Quy Luật VI, Quy Luật cuối cùng của Cõi Trí, cũng được bàn đến ngắn gọn. Các Quy Luật này được bàn luận đầy đủ hơn nhiều trong Luận về Chánh Thuật, một quyển sách có lẽ nên được nghiên cứu song song với việc học hiện nay của chúng ta về Luận về Lửa Vũ Trụ.

Rule VI deals with the disempowering of the personality in the magical process. The four personality elementals lose their master; the personality is no longer in control.

Quy Luật VI bàn đến việc làm mất quyền lực của phàm ngã trong tiến trình huyền thuật. Bốn hành khí của phàm ngã mất đi chủ nhân của chúng; phàm ngã không còn kiểm soát nữa.

Read very carefully, pondering deeply, what the Tibetan is saying. He is packing much essential occultism into just a few words. He is unfolding the practical occultism of the future.

Hãy đọc thật cẩn thận, suy ngẫm thật sâu điều Chân sư Tây Tạng đang nói. Ngài đang cô đọng rất nhiều huyền bí học cốt yếu chỉ trong vài lời. Ngài đang khai mở huyền bí học thực tiễn của tương lai.

In Light, Love and Power,

Trong Ánh Sáng, Tình Thương và Quyền Năng,

Michael

Michael

S8S12 Part I

(1063-1070)

(1063-1070)

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích duy trì tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

[Page 1063]

[Trang 1063]

Under our consideration of the law of radiation, we will first of all take up the topic of the cause of radiation.

Trong khi xem xét định luật bức xạ, trước hết chúng ta sẽ đề cập đến chủ đề nguyên nhân của bức xạ.

1. From the last commentary we remember that the Tibetan considered this among the most important of topics.

1. Từ phần bình luận trước, chúng ta nhớ rằng Chân sư Tây Tạng đã xem đây là một trong những chủ đề quan trọng nhất.

a. The Cause of Radiation. The student will only be able to get a true view of this matter if he views the subject in a large way. Two aspects of the matter naturally come before his mental vision,

a. Nguyên Nhân của Bức Xạ. Đạo sinh sẽ chỉ có thể có được một cái nhìn chân thực về vấn đề này nếu y nhìn chủ đề theo một cách rộng lớn. Hai phương diện của vấn đề tự nhiên hiện ra trước linh thị trí tuệ của y,

2. This is a type of vision which is framed by the mind and not merely by the imagination, which, essentially, is an astral activity.

2. Đây là một loại tầm nhìn được khuôn định bởi trí tuệ chứ không chỉ bởi sự tưởng tượng, vốn về bản chất là một hoạt động cảm dục.

both of which must be dealt with if any adequate concept of this subject is to be reached,—a subject which has engrossed philosophers, scientists and alchemists for hundreds of years consciously or unconsciously.

cả hai phương diện ấy đều phải được xử lý nếu muốn đạt đến một quan niệm đầy đủ nào đó về chủ đề này,—một chủ đề đã cuốn hút các triết gia, các nhà khoa học và các nhà luyện kim trong hàng trăm năm, một cách hữu thức hay vô thức.

3. The subject has probably not been framed in terms of “radiation” but has been of moment to different types of thinkers who are interested in the question of liberation.

3. Chủ đề này có lẽ đã không được khuôn định theo thuật ngữ “bức xạ”, nhưng đã có tầm quan trọng đối với những loại tư tưởng gia khác nhau quan tâm đến vấn đề giải thoát.

We must, therefore, consider:

Do đó, chúng ta phải xem xét:

a. That which radiates.

a. Điều phát ra bức xạ.

4. This will be the nucleus of any atom.

4. Đó sẽ là hạt nhân của bất kỳ nguyên tử nào.

b. That which is the subjective cause of radiation.

b. Điều là nguyên nhân chủ quan của bức xạ.

5. These will be higher energy which stimulates the nucleus.

5. Đó sẽ là năng lượng cao hơn kích thích hạt nhân.

6. A refined condition of the form will also be necessitated so that the higher stimulating energies can reach the nucleus which is to rendered radiatory.

6. Một tình trạng tinh luyện của hình tướng cũng sẽ là điều cần thiết để các năng lượng kích thích cao hơn có thể chạm tới hạt nhân vốn sẽ được làm cho có tính bức xạ.

It might be very briefly stated that when any form becomes radioactive, certain conditions have been fulfilled and certain results brought about, which conditions and results might be summed up as follows:

Có thể được phát biểu rất ngắn gọn rằng khi bất kỳ hình tướng nào trở nên có tính phóng xạ, một số điều kiện nhất định đã được hoàn tất và một số kết quả nhất định đã được tạo ra; những điều kiện và kết quả ấy có thể được tóm lược như sau:

The radioactive form is one which has run through its appointed cycles,

Hình tướng phóng xạ là một hình tướng đã trải qua các chu kỳ được chỉ định của nó,

7. These are necessitated, required cycles. They are determined by law.

7. Đó là những chu kỳ cần thiết, bắt buộc. Chúng được quyết định bởi định luật.

through its wheel of life, great or small, which has been turned with adequate frequency,

qua bánh xe sự sống của nó, lớn hay nhỏ, vốn đã được quay với tần số thích đáng,

8. There is no ‘fast path’ to bringing about the state of radiation.

8. Không có “con đường nhanh” nào để đưa đến trạng thái bức xạ.

9. On the human level, this is equivalent to saying that a sufficient number of incarnations must have been experienced through the turning of the “wheel of life” with adequate frequency, and, we might add, ‘for a sufficient duration’.

9. Trên cấp độ con người, điều này tương đương với việc nói rằng phải trải qua một số lượng nhập thể đầy đủ qua sự quay của “bánh xe sự sống” với tần số thích đáng, và chúng ta có thể thêm rằng, “trong một thời lượng đầy đủ”.

so that the volatile life-essence is ready to escape from that form and merge itself in the greater form of which the lesser is but a part.

để cho tinh chất sự sống linh động sẵn sàng thoát ra khỏi hình tướng ấy và hòa nhập chính nó vào hình tướng lớn hơn mà hình tướng nhỏ hơn chỉ là một phần.

10. This is clear. The volatile essence escapes from its present ring-pass-not which bounds its enclosing form which is but part of a larger form. The volatile essence will now take part in the life process of a greater life expressing through that greater form—a form which had included the lesser form from which the volatile essence had escaped.

10. Điều này rõ ràng. Tinh chất linh động thoát ra khỏi vòng-giới-hạn hiện tại của nó, vốn giới hạn hình tướng bao bọc nó mà hình tướng ấy chỉ là một phần của một hình tướng lớn hơn. Tinh chất linh động giờ đây sẽ tham gia vào tiến trình sự sống của một sự sống lớn hơn đang biểu lộ qua hình tướng lớn hơn ấy—một hình tướng đã bao gồm hình tướng nhỏ hơn mà từ đó tinh chất linh động đã thoát ra.

11. When this escape occurs it signifies liberation, however relative that liberation may be.

11. Khi sự thoát ra này xảy ra, nó biểu thị sự giải thoát, dù sự giải thoát ấy có tính tương đối đến đâu đi nữa.

12. The human being, for instance, escapes into the fifth kingdom of nature in such a way as to become a full member of that kingdom, instead of simply an ‘applicant’ to full membership in that kingdom, as had been the case up to the fourth initiation.

12. Chẳng hạn, con người thoát vào giới thứ năm của bản chất theo cách trở thành một thành viên trọn vẹn của giới ấy, thay vì chỉ đơn thuần là một “ứng viên” cho tư cách thành viên trọn vẹn trong giới ấy, như vẫn là trường hợp cho đến lần điểm đạo thứ tư.

13. For the human being at the fourth initiation, it is not the volatile essence in utter purity that escapes. The escaping essence is still encumbered by various identifications or veils, and will be encumbered until the final escape is made into the Universal Ring-Pass-Not. (We have no idea how many trillions of years into the future this final escape may be accomplished—final for this Universe only).

13. Đối với con người ở lần điểm đạo thứ tư, không phải là tinh chất linh động trong sự tinh khiết tuyệt đối thoát ra. Tinh chất thoát ra vẫn còn bị vướng mắc bởi nhiều sự đồng hoá hay các màn che khác nhau, và sẽ còn bị vướng mắc cho đến khi sự thoát ra cuối cùng được thực hiện vào trong vòng-giới-hạn Vũ Trụ. (Chúng ta không biết bao nhiêu ngàn tỉ năm trong tương lai thì sự thoát ra cuối cùng này mới có thể được hoàn thành—cuối cùng chỉ đối với Vũ Trụ này mà thôi).

It must be remembered in this connection that radiation occurs when the etheric or true form becomes responsive to certain types of force.

Cần nhớ trong mối liên hệ này rằng bức xạ xảy ra khi thể dĩ thái hay hình tướng chân thực trở nên đáp ứng với một số loại mãnh lực.

14. We must watch for the way that the etheric body is involved in inducing the process of radiation. There are, after all, many kinds of radiation taking place upon a number of planar levels.

14. Chúng ta phải theo dõi cách thể dĩ thái tham dự vào việc tạo ra tiến trình bức xạ. Rốt cuộc, có nhiều loại bức xạ đang diễn ra trên một số cấp độ cõi giới.

Radiation, as it is occultly understood, does not concern itself with the escape from the physical or dense form, but with that period in the life of any living entity (atomic, human or divine) wherein the etheric or pranic body is in such a state that it can no longer limit or confine the indwelling life.

Bức xạ, như được thấu hiểu một cách huyền bí, không liên quan đến sự thoát ra khỏi hình tướng hồng trần hay đậm đặc, mà liên quan đến giai đoạn trong đời sống của bất kỳ thực thể sống nào (nguyên tử, con người hay thiêng liêng) trong đó thể dĩ thái hay thể prana ở trong một trạng thái đến mức nó không còn có thể giới hạn hay giam giữ sự sống ngự bên trong nữa.

15. DK is speaking of a kind of escape from the etheric field.

15. Chân sư DK đang nói về một loại thoát ra khỏi trường dĩ thái.

16. We note that the etheric body is called the “pranic body”; it is the vehicle which receives prana, contains and circulates it and radiates it.

16. Chúng ta lưu ý rằng thể dĩ thái được gọi là “thể prana”; đó là vận cụ tiếp nhận prana, chứa đựng và lưu chuyển nó, rồi phát xạ nó.

17. We understand that the etheric body can act as an imprisoning field to the volatile essence and its consciousness and that when the field is “loosened” or sufficiently refined, it can no longer imprison this essence.

17. Chúng ta hiểu rằng thể dĩ thái có thể hoạt động như một trường giam giữ đối với tinh chất linh động và tâm thức của nó, và rằng khi trường ấy được “nới lỏng” hay được tinh luyện đầy đủ, nó không còn có thể giam giữ tinh chất này nữa.

18. We must also realize that the causal body is positioned on what might be called the etheric subplanes of the mental plane, and that, in a sense, the escape of the life centralized in the Jewel in the Lotus at the fourth initiation, is an escape from the mental ethers.

18. Chúng ta cũng phải nhận ra rằng thể nguyên nhân được định vị trên cái có thể được gọi là các cõi phụ dĩ thái của cõi trí, và rằng, theo một nghĩa nào đó, sự thoát ra của sự sống được tập trung trong Ngọc Châu trong Hoa Sen ở lần điểm đạo thứ tư là một sự thoát ra khỏi các dĩ thái trí tuệ.

Radiation comes about when the internal, self-sufficient life of any atom is offset by a stronger urge, or pull, emanating from the enveloping greater existence of whose body it may form a part.

Bức xạ xuất hiện khi sự sống nội tại, tự túc của bất kỳ nguyên tử nào được hóa giải bởi một thúc đẩy mạnh hơn, hay một lực hút, phát ra từ sự hiện hữu lớn hơn bao bọc mà thể của nó nguyên tử ấy có thể tạo thành một phần.

19. We see that radiation is induced by the effect of the “greater enveloping existence” upon the nucleus of the existence which is enveloped.

19. Chúng ta thấy rằng bức xạ được gây ra bởi hiệu quả của “sự hiện hữu bao bọc lớn hơn” lên hạt nhân của sự hiện hữu được bao bọc.

20. The third aspect which is the “internal, self-sufficient life” of the atom is overcome by a greater energy which promotes in the atom a more interactive relationship with the larger enveloping sphere. The atom’s ‘limiting integrity’ is destroyed as its animating life escapes to find its place within the enveloping sphere.

20. Phương diện thứ ba, tức “sự sống nội tại, tự túc” của nguyên tử, bị vượt thắng bởi một năng lượng lớn hơn, năng lượng này thúc đẩy trong nguyên tử một mối liên hệ tương tác hơn với khối cầu bao bọc lớn hơn. “Tính toàn vẹn giới hạn” của nguyên tử bị phá hủy khi sự sống linh hoạt của nó thoát ra để tìm vị trí của mình bên trong khối cầu bao bọc ấy.

21. The first force (the “internal, self-sufficient life” seeks to maintain the established ring-pass-not and the second force attempts to destroy it in the interests of liberation and greater unification.

21. Mãnh lực thứ nhất (“sự sống nội tại, tự túc”) tìm cách duy trì vòng-giới-hạn đã được thiết lập, còn mãnh lực thứ hai tìm cách phá hủy nó vì lợi ích của sự giải thoát và sự hợp nhất lớn hơn.

22. That which offsets the lower integrative tendencies has been characterized as a “pull”. This means that the Law of Attraction is involved in engineering the response of the lesser, enveloped life to the greater enveloping Life. Life calls to life and form is destroyed.

22. Điều hóa giải các khuynh hướng tích hợp thấp hơn đã được mô tả như một “lực hút”. Điều này có nghĩa là Định luật Hấp Dẫn có liên quan trong việc tạo ra sự đáp ứng của sự sống nhỏ hơn, được bao bọc, đối với Sự Sống lớn hơn đang bao bọc. Sự sống gọi đến sự sống và hình tướng bị phá hủy.

This is nevertheless only true when it is caused by the pull upon the essential [Page 1064] life by the essential life of the greater form;

Tuy nhiên, điều này chỉ đúng khi nó được gây ra bởi lực hút tác động lên sự sống cốt yếu [Trang 1064] bởi sự sống cốt yếu của hình tướng lớn hơn;

23. As stated above. Life calls to life; life answers Life. We are speaking of the interplay of essences.

23. Như đã nói ở trên. Sự sống gọi đến sự sống; sự sống đáp ứng Sự Sống. Chúng ta đang nói về sự tương tác giữa các tinh chất.

24. Master DK has told us that, ultimately, magnetism is ruled by the first ray.

24. Chân sư DK đã nói với chúng ta rằng, rốt cuộc, từ điện được cai quản bởi cung một.

There is still another point upon which I would like to touch. Owing to the fact that the Law which governs the Hierarchy is the second systemic law, the Law of Attraction, students are apt to think that magnetism is a second ray quality. They are right in so far that all the systemic laws are expressions of the life of God through the medium, at this time, of the second ray, which makes our solar system a second ray system. All other laws and qualities (for a law from the divine angle is the motivating, qualified agent of the divine will, as understood in Shamballa) are related to the second ray as it manifests through our planetary Logos. Nevertheless, magnetic action is more closely allied to first ray functioning than it is to the second ray, and is an aspect or quality of the Law of Synthesis. It was this magnetic power of the first ray to which the Christ referred when He said "I, if I be lifted up (The Ascension Initiation. A.A.B.), will draw all men unto me." He faced then those initiations which would qualify Him to become what is esoterically called "a Shamballa recipient." There is, in magnetic action, more of the element of the will and of an expressing purpose. In explanation it might be said that the radiation of the Hierarchy, which is definitely second ray in nature, and which is projected as attractive radiation, is implemented by the magnetic aspect. This—as the Old Commentary puts it—is "a point of focussed fire, found in the centre of the jewel. [Page 376] It stirs to life the quality of love which permeates the Ashram of the Lord. Radiation then can penetrate to other centres and to other lives, and thus the Lord is served." It is this point of focussed dynamic will at the very heart of the Hierarchy which in reality implements the Plan. (R&I 375-376)

Vẫn còn một điểm khác mà tôi muốn đề cập đến. Do sự kiện rằng Định luật cai quản Thánh Đoàn là định luật hệ thống thứ hai, Định luật Hấp Dẫn, nên các đạo sinh có khuynh hướng nghĩ rằng từ điện là một phẩm tính của cung hai. Họ đúng trong chừng mực mà tất cả các định luật hệ thống đều là những biểu hiện của sự sống của Thượng đế qua trung gian, vào lúc này, của cung hai, điều làm cho hệ mặt trời của chúng ta trở thành một hệ thống cung hai. Mọi định luật và phẩm tính khác (vì một định luật, nhìn từ góc độ thiêng liêng, là tác nhân có động lực, có phẩm tính của ý chí thiêng liêng, như được thấu hiểu trong Shamballa) đều liên hệ với cung hai khi nó biểu lộ qua Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Tuy nhiên, tác động từ tính liên kết mật thiết với hoạt động của cung một hơn là với cung hai, và là một phương diện hay phẩm tính của Định luật Tổng Hợp. Chính quyền năng từ tính của cung một này mà Đức Christ đã nói đến khi Ngài phán: “Ta, nếu được nâng lên cao (Cuộc Điểm Đạo Thăng Thiên. A.A.B.), sẽ kéo mọi người đến cùng ta.” Khi ấy Ngài đang đối diện những điểm đạo sẽ làm cho Ngài đủ tư cách để trở thành điều được gọi một cách huyền bí là “một vị tiếp nhận Shamballa.” Trong tác động từ tính có nhiều hơn yếu tố của ý chí và của một mục đích đang biểu lộ. Để giải thích, có thể nói rằng bức xạ của Thánh Đoàn, vốn rõ rệt có bản chất cung hai, và được phóng chiếu như bức xạ hấp dẫn, được thực hiện nhờ phương diện từ tính. Điều này—như Cổ Luận nói—là “một điểm lửa tập trung, được tìm thấy ở trung tâm của ngọc châu. [Trang 376] Nó khuấy động phẩm tính bác ái đang thấm nhuần ashram của Chúa Tể. Khi ấy bức xạ có thể xuyên thấu đến các trung tâm khác và các sự sống khác, và như thế Chúa Tể được phụng sự.” Chính điểm ý chí năng động tập trung này ở ngay tim của Thánh Đoàn thật sự thực hiện Thiên Cơ. (R&I 375-376)

it is not due to the attractive power of the form aspect of that greater life.

nó không phải do quyền năng hấp dẫn của phương diện hình tướng của sự sống lớn hơn.

25. We have a very important statement here. The form of the greater Life, which enfolds the lesser life and its form, is not the attractive factor. It is the greater Life itself which calls to the lesser life expressing through the lesser form.

25. Ở đây chúng ta có một phát biểu rất quan trọng. Hình tướng của Sự Sống lớn hơn, vốn bao bọc sự sống nhỏ hơn và hình tướng của nó, không phải là yếu tố hấp dẫn. Chính Sự Sống lớn hơn tự thân gọi đến sự sống nhỏ hơn đang biểu lộ qua hình tướng nhỏ hơn.

26. And as well, it is not the form life of the enclosed unit on which the “pull” of the greater life is exerted.

26. Và cũng vậy, không phải là sự sống hình tướng của đơn vị bị bao kín mà “lực hút” của sự sống lớn hơn tác động.

A very definite distinction must here be made. It is the failure to recognise this that has led so many alchemical students and scientific investigators to lose their way, and thus negate the conclusions of years of study. They confuse the impulse of the atom to respond to the vibratory magnetic pull of the more powerful and comprehensive form with the true esoteric attraction which alone produces "occult radiation,"

Ở đây phải tạo ra một sự phân biệt rất rõ ràng. Chính sự thất bại trong việc nhận ra điều này đã khiến rất nhiều đạo sinh luyện kim và các nhà nghiên cứu khoa học lạc lối, và do đó phủ nhận các kết luận của nhiều năm nghiên cứu. Họ nhầm lẫn xung lực của nguyên tử đáp ứng với lực hút từ tính rung động của hình tướng mạnh mẽ hơn và bao quát hơn với sự hấp dẫn huyền bí chân chính, vốn một mình tạo ra “bức xạ huyền bí,”

27. DK differentiates between exoteric attraction (emanating from the form life of the greater, including Being) and “the true esoteric attraction”—the attraction of the greater Life upon the lesser life. Like calls to like.

27. Chân sư DK phân biệt giữa sự hấp dẫn ngoại môn (phát ra từ sự sống hình tướng của Hữu Thể lớn hơn, bao gồm) và “sự hấp dẫn huyền bí chân chính”—sự hấp dẫn của Sự Sống lớn hơn đối với sự sống nhỏ hơn. Cái giống gọi đến cái giống.

—that of the central essential life of the form in which the element under consideration may have place. It is very necessary to make this clear from the start.

—đó là sự hấp dẫn của sự sống cốt yếu trung tâm của hình tướng mà trong đó yếu tố đang được xem xét có thể có chỗ đứng. Điều rất cần thiết là phải làm rõ điều này ngay từ đầu.

28. We notice DK’s use of the word “element”. The lesser form is considered an “element” within a greater form. Certainly, it is a constituent within the greater form.

28. Chúng ta lưu ý cách Chân sư DK dùng từ “nguyên tố”. Hình tướng nhỏ hơn được xem như một “nguyên tố” bên trong một hình tướng lớn hơn. Chắc chắn, nó là một thành phần cấu tạo bên trong hình tướng lớn hơn.

29. Thus, when achieving the fourth initiation, it is not the triadal vehicles or the monadic vehicle (for these do exist) which call to the life confined within the causal body, but the Monad itself—the greater Life. The greater energies of buddhi and atma which are expressions of the monadic Life may also be considered as aspect of the “pull” from essence to essence.

29. Như vậy, khi đạt đến lần điểm đạo thứ tư, không phải các hiện thể tam nguyên hay hiện thể chân thần (vì những hiện thể này quả có tồn tại) gọi đến sự sống bị giam trong thể nguyên nhân, mà là chính Chân thần—Sự Sống lớn hơn. Các năng lượng lớn hơn của Bồ đề và atma, vốn là những biểu hiện của sự sống chân thần, cũng có thể được xem như những phương diện của “lực hút” từ tinh chất đến tinh chất.

Perhaps the whole subject may be clearer if we consider it in the following way.

Có lẽ toàn bộ chủ đề sẽ rõ hơn nếu chúng ta xem xét nó theo cách sau.

The atom in a form revolves upon its own axis, follows its own revolution, and lives its own internal life. This concerns its primary awareness.

Nguyên tử trong một hình tướng quay trên trục của chính nó, theo cuộc tuần hoàn riêng của nó, và sống đời sống nội tại riêng của nó. Điều này liên quan đến ngã thức sơ cấp của nó.

30. The “primary awareness” of any unit of life is awareness of itself. This is the stage which in the human experience corresponds to individualism.

30. “Ngã thức sơ cấp” của bất kỳ đơn vị sự sống nào là ngã thức về chính nó. Đây là giai đoạn trong kinh nghiệm con người tương ứng với chủ nghĩa cá nhânm.

As time progresses it becomes magnetically aware of the attractive nature of that which envelops it on all sides, and becomes conscious of the form which surrounds it.

Khi thời gian trôi qua, nó trở nên có nhận biết từ tính về bản chất hấp dẫn của điều bao bọc nó từ mọi phía, và trở nên hữu thức về hình tướng đang bao quanh nó.

31. This is consciousness of the form which surrounds it, but not necessarily consciousness of the greater Life within the greater form.

31. Đây là tâm thức về hình tướng bao quanh nó, nhưng không nhất thiết là tâm thức về Sự Sống lớn hơn bên trong hình tướng lớn hơn.

This is its secondary awareness but it still concerns what we might, for lack of a better term, call matter.

Đây là ngã thức thứ cấp của nó nhưng vẫn liên quan đến điều mà, vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn, chúng ta có thể gọi là vật chất.

32. Form is composed of matter.

32. Hình tướng được cấu tạo bằng vật chất.

33. The first type of awareness is awareness of its own ring-pass-not. The second type of awareness is awareness of the form of the greater, enfolding Life.

33. Loại ngã thức thứ nhất là ngã thức về vòng-giới-hạn của chính nó. Loại ngã thức thứ hai là ngã thức về hình tướng của Sự Sống lớn hơn đang bao bọc.

The atom, therefore, has an interplay with other atoms.

Do đó, nguyên tử có sự tương tác với các nguyên tử khác.