Trích nội dung chương
35. Chúng ta phải tập trung cẩn thận vào các loại hữu thể/Hữu thể được hàm ý trong cuộc bàn luận này. 36. From one perspective, we could interpret the “incarnating Sons of Mind” as human beings who had individualized in the previous solar system. Those who escaped via the bridge could be the Solar Angels who are presently helping humanity evolve. Perhaps they, especially, help those who had ancient ties to the Mother (the previous solar system).
35. We must focus carefully on the types of B/beings implicated in this discussion.
35. Chúng ta phải tập trung cẩn thận vào các loại hữu thể/Hữu thể được hàm ý trong cuộc bàn luận này.
36. From one perspective, we could interpret the “incarnating Sons of Mind” as human beings who had individualized in the previous solar system. Those who escaped via the bridge could be the Solar Angels who are presently helping humanity evolve. Perhaps they, especially, help those who had ancient ties to the Mother (the previous solar system).
36. Từ một góc nhìn, chúng ta có thể diễn giải những “Con của Trí Tuệ đang lâm phàm” là những con người đã biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước. Những vị đã thoát ra qua cây cầu có thể là các Thái dương Thiên Thần hiện đang giúp nhân loại tiến hoá. Có lẽ chính các vị ấy đặc biệt giúp đỡ những ai đã có những mối liên hệ cổ xưa với Mẹ (hệ mặt trời trước).
37. We do feel our Solar Angel trying to wean us away from tendencies prominent during the previous solar system and, later, during the Moon-chain.
37. Chúng ta thật sự cảm thấy Thái dương Thiên Thần của mình đang cố cai sữa chúng ta khỏi những khuynh hướng nổi trội trong hệ mặt trời trước và, về sau, trong Dãy Mặt Trăng.
38. The “great gulf” was that which existed between the previous and present solar system.
38. “Vực thẳm lớn” là cái đã tồn tại giữa hệ mặt trời trước và hệ mặt trời hiện tại.
39. The “lesser” gulf exists between the dense physical body of the Planetary Logos (His cosmically unprincipled subplanes) and the three subplanes of the higher mental plane. Another but higher “lesser” gulf exists between the lower twenty subplanes (including the two lower subplanes of the higher mental plane) and the atomic level of the higher mental plane—the lowest point of the spiritual triad.
39. “Vực thẳm nhỏ hơn” tồn tại giữa thể xác hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế (các cõi phụ không có nguyên khí của Ngài về mặt vũ trụ) và ba cõi phụ của cõi thượng trí. Một “vực thẳm nhỏ hơn” khác nhưng cao hơn tồn tại giữa hai mươi cõi phụ thấp hơn (bao gồm hai cõi phụ thấp hơn của cõi thượng trí) và cấp độ nguyên tử của cõi thượng trí—điểm thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần.
The energy transmitted from the manasic permanent atom of each incarnating jiva,
Năng lượng được truyền từ nguyên tử trường tồn manas của mỗi jiva đang lâm phàm,
40. The incarnating jiva can be considered triple even though, essentially, it is the Monad pure and simple.
40. Jiva đang lâm phàm có thể được xem là tam phân mặc dù, về bản chất, nó chỉ đơn giản là chân thần thuần túy.
41. From one perspective, it almost seems as if the “incarnating jiva” is the spiritual triad—in extension. Certainly the spiritual triad is part of each incarnating jiva or the jiva could not have a manasic permanent atom.
41. Từ một góc nhìn, gần như có vẻ “jiva đang lâm phàm” là Tam Nguyên Tinh Thần—trong sự mở rộng. Chắc chắn Tam Nguyên Tinh Thần là một phần của mỗi jiva đang lâm phàm, nếu không jiva đã không thể có nguyên tử trường tồn manas.
its union with its reflection, the energy of the mental unit,
sự hợp nhất của nó với phản chiếu của nó, năng lượng của đơn vị hạ trí,
42. Are we here saying that the mental unit is the reflection of the manasic permanent atom? It seems reasonable.
42. Ở đây có phải chúng ta đang nói rằng đơn vị hạ trí là phản chiếu của nguyên tử trường tồn manas không? Điều đó có vẻ hợp lý.
and the triple stream of force thus created on the mental plane,
và dòng mãnh lực tam phân do đó được tạo ra trên cõi trí,
43. It appears that when the manasic permanent atom is united to the mental unit a triple stream of force is created on the mental plane. We can think of this triple stream as consisting of the antahkarana, the sutratma and the creative thread.
43. Dường như khi nguyên tử trường tồn manas được hợp nhất với đơn vị hạ trí thì một dòng mãnh lực tam phân được tạo ra trên cõi trí. Chúng ta có thể nghĩ về dòng tam phân này như gồm antahkarana, sutratma và sợi dây sáng tạo.
44. We might also consider that the triple stream represents the personality, the soul and the Monad. In one way, the sutratma representatives the Monad; the antahkarana represents the soul; and the creative thread, the personality.
44. Chúng ta cũng có thể xem rằng dòng tam phân ấy tượng trưng cho phàm ngã, linh hồn và chân thần. Theo một cách nào đó, sutratma tượng trưng cho chân thần; antahkarana tượng trưng cho linh hồn; và sợi dây sáng tạo, cho phàm ngã.
45. The mental unit, then, is to be considered the “reflection” of the manasic permanent atom. The manasic permanent atom has three spirillae and the mental unit has four. We have, however, to determine in exactly what manner the mental unit is considered the reflection of the manasic permanent atom.
45. Vậy thì đơn vị hạ trí phải được xem là “phản chiếu” của nguyên tử trường tồn manas. Nguyên tử trường tồn manas có ba loa tuyến và đơn vị hạ trí có bốn. Tuy nhiên, chúng ta phải xác định chính xác theo cách nào đơn vị hạ trí được xem là phản chiếu của nguyên tử trường tồn manas.
46. Another triple stream of force can be considered the manasic permanent atom, the mental unit and the “Son of Mind”.
46. Một dòng mãnh lực tam phân khác có thể được xem là nguyên tử trường tồn manas, đơn vị hạ trí và “Con của Trí Tuệ”.
47. If from a larger perspective, Venus represents the manasic permanent atom and Earth the mental unit, we have to determine in what manner Earth is or is intended to be the reflection of Venus.
47. Nếu từ một góc nhìn lớn hơn, Sao Kim tượng trưng cho nguyên tử trường tồn manas và Trái Đất tượng trưng cho đơn vị hạ trí, thì chúng ta phải xác định theo cách nào Trái Đất là hay được dự định là phản chiếu của Sao Kim.
has its planetary reflection in the relation of Saturn to another planetary scheme, and the three rings which are energy rings, and symbols of an inner verity.
có phản chiếu hành tinh của nó trong mối liên hệ của Sao Thổ với một hệ hành tinh khác, và ba vành đai là những vành đai năng lượng, và là những biểu tượng của một chân lý nội tại.
48. From a certain perspective, Saturn can be considered the symbol of the manasic permanent atom; Venus the symbol of the Ego manifesting through the egoic lotus; and the Earth as the symbol of the mental unit.
48. Từ một góc nhìn nào đó, Sao Thổ có thể được xem là biểu tượng của nguyên tử trường tồn manas; Sao Kim là biểu tượng của chân ngã biểu lộ qua Hoa Sen Chân Ngã; và Trái Đất là biểu tượng của đơn vị hạ trí.
49. The other planetary scheme here mentioned could be none other than the Earth as the symbol of the mental unit. (We know of the close relation between Saturn and the Earth—Saturn as the mental body and Earth, the physical body of a great Third Ray Entity.) Sometimes Venus is said to represent the manasic permanent atom and Earth the mental unit.
49. Hệ hành tinh khác được nhắc đến ở đây có thể không gì khác hơn là Trái Đất như biểu tượng của đơn vị hạ trí. (Chúng ta biết mối liên hệ mật thiết giữa Sao Thổ và Trái Đất—Sao Thổ như thể trí và Trái Đất như thể xác của một Thực Thể cung ba vĩ đại.) Đôi khi người ta nói Sao Kim tượng trưng cho nguyên tử trường tồn manas và Trái Đất tượng trưng cho đơn vị hạ trí.
50. The “inner verity” is an inner structural truth. The antahkarana is a inner structural truth, and it is threefold.
50. “Chân lý nội tại” là một chân lý cấu trúc bên trong. Antahkarana là một chân lý cấu trúc bên trong, và nó là tam phân.
51. DK seems to be likening the rings of Saturn to the threefold nature of the antahkarana. He specifies most potently that the rings are “energy rings”, just as the antahkarana is to be considered a bridge of energy —a threefold bridge.
51. Chân sư DK dường như đang ví các vành đai của Sao Thổ với bản chất tam phân của antahkarana. Ngài nhấn mạnh rất mạnh rằng các vành đai là những “vành đai năng lượng”, cũng như antahkarana phải được xem là một cây cầu của năng lượng—một cây cầu tam phân.
52. We could make a comparison as follows:
52. Chúng ta có thể đưa ra một sự so sánh như sau:
Saturn
Manasic permanent atom
Rings of Saturn
Antahkarana
Earth
Mental unit
53. We are now discussing a number of energy-streams which impact the knowledge petals of the egoic lotus.
53. Hiện nay chúng ta đang bàn đến một số dòng năng lượng tác động lên các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã.
a. Energy also pours in upon the knowledge petals from the egoic group,
a. Năng lượng cũng tuôn vào các cánh hoa tri thức từ nhóm chân ngã,
54. We have earlier read of how energy from the three lower worlds influences the knowledge petals. Now we read of a much higher form of influence upon them—the influence arising from the members of any Ego’s egoic group.
54. Trước đây chúng ta đã đọc về cách năng lượng từ ba cõi thấp ảnh hưởng đến các cánh hoa tri thức. Giờ đây chúng ta đọc về một hình thức ảnh hưởng cao hơn nhiều lên chúng—ảnh hưởng phát sinh từ các thành viên của nhóm chân ngã của bất kỳ chân ngã nào.
or from the aggregated knowledge petals of all the other lotuses in the group affiliated with any particular solar Angel.
hoặc từ tổng hợp các cánh hoa tri thức của tất cả những hoa sen khác trong nhóm liên kết với bất kỳ Thái dương Thiên Thần đặc thù nào.
55. It would seem that that knowledge content of one egoic group influences the knowledge content of any particular Ego or Solar Angel within that group.
55. Dường như nội dung tri thức của một nhóm chân ngã ảnh hưởng đến nội dung tri thức của bất kỳ chân ngã hay Thái dương Thiên Thần đặc thù nào trong nhóm ấy.
These groups have been earlier dealt with.
Những nhóm này đã được bàn đến trước đây.
56. Increasingly, and on the physical plane, it becomes possible to meet and interact with those who are part of the content of one’s egoic group.
56. Ngày càng nhiều hơn, và trên cõi hồng trần, việc gặp gỡ và tương tác với những người là một phần trong nội dung của nhóm chân ngã của mình trở nên có thể.
b. Energy is transmitted also to the petals [the knowledge petals] via the groups and emanations from those planetary schemes and streams of force which form the outer petals of that great centre which is our solar system, and which we are told is seen from the higher planes as a twelve-petalled lotus.
b. Năng lượng cũng được truyền đến các cánh hoa [các cánh hoa tri thức] qua các nhóm và các phát xạ từ những hệ hành tinh và các dòng mãnh lực tạo thành các cánh hoa bên ngoài của trung tâm vĩ đại là hệ mặt trời của chúng ta, và như chúng ta được bảo, từ các cõi cao hơn nó được thấy như một hoa sen mười hai cánh.
57. We are speaking of the energy transmitted from various sources to the knowledge petals of the egoic lotus.
57. Chúng ta đang nói về năng lượng được truyền từ nhiều nguồn khác nhau đến các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã.
58. We have read of transmission to these petals from the personality level and also from the knowledge petals of other Egos in an egoic group related to the soul/Solar Angel/egoic lotus in question. Now we read of transmission from certain “planetary schemes” which form the outer petals of the great lotus of our solar system. Some planetary schemes are more closely allied with the knowledge nature of the Solar Logos than with His love or will nature, and it is of these planetary schemes we are speaking.
58. Chúng ta đã đọc về sự truyền đến các cánh hoa này từ cấp độ phàm ngã và cũng từ các cánh hoa tri thức của những chân ngã khác trong một nhóm chân ngã có liên hệ với linh hồn/Thái dương Thiên Thần/Hoa Sen Chân Ngã đang được xét. Giờ đây chúng ta đọc về sự truyền từ một số “hệ hành tinh” tạo thành các cánh hoa bên ngoài của hoa sen vĩ đại là hệ mặt trời của chúng ta. Một số hệ hành tinh liên minh mật thiết hơn với bản chất tri thức của Thái dương Thượng đế hơn là với bản chất bác ái hay ý chí của Ngài, và chính về những hệ hành tinh này mà chúng ta đang nói đến.
59. We can imagine, that Mars and Pluto are numbered among such schemes. Probably the schemes which we are discussing are not sacred schemes.
59. Chúng ta có thể hình dung rằng Sao Hỏa và Sao Diêm Vương được kể vào số những hệ như thế. Có lẽ các hệ mà chúng ta đang bàn đến không phải là những hệ thiêng liêng.
60. It is important to note that our solar system is perceived from higher planes as a “twelve-petalled lotus”. This confirms the nature of our solar system as a heart center.
60. Điều quan trọng cần lưu ý là hệ mặt trời của chúng ta được nhận biết từ các cõi cao hơn như một “hoa sen mười hai cánh”. Điều này xác nhận bản chất của hệ mặt trời chúng ta như một trung tâm tim.
61. We may ask, “In which greater Being is our Solar Logos a heart center.” The Teaching tells us it is the "One About Whom Naught May Be Said", but again, we must ask which "One About Whom Naught May Be Said" and what is the scope of such a Being—a 'Constellational Logos' or a 'Super-Constellational Logos'?
61. Chúng ta có thể hỏi: “Trong Hữu thể lớn hơn nào mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trung tâm tim?” Giáo Huấn cho biết đó là "Đấng Bất Khả Tư Nghị", nhưng một lần nữa, chúng ta phải hỏi Đấng "Đấng Bất Khả Tư Nghị" nào và phạm vi của một Hữu thể như thế là gì—một 'Thượng đế Chòm Sao' hay một 'Thượng đế Siêu Chòm Sao'?
These streams [Page 1114] do not emanate from the seven sacred planets but from other planetary bodies within the solar Ring-Pass-Not.
Những dòng này [Page 1114] không phát ra từ bảy hành tinh thiêng liêng mà từ những thiên thể hành tinh khác bên trong vòng-giới-hạn mặt trời.
62. The idea suggested above is confirmed. The rays of the sacred planets do not focally stimulate the knowledge petals of the human egoic lotus.
62. Ý tưởng được gợi ra ở trên được xác nhận. Các cung của những hành tinh thiêng liêng không kích thích một cách tiêu điểm các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã nhân loại.
63. We must remember that there are many planetary bodies within our solar ring-pass-not and through only a relatively few is a sacred Planetary Logos in process of expressing.
63. Chúng ta phải nhớ rằng có nhiều thiên thể hành tinh bên trong vòng-giới-hạn mặt trời của chúng ta, và chỉ qua một số tương đối ít trong đó mà một Hành Tinh Thượng Đế thiêng liêng đang trong tiến trình biểu lộ.
Streams of force from the Sacred Planets play upon the central tier of petals.
Các dòng mãnh lực từ các Hành Tinh Thiêng Liêng tác động lên hàng cánh hoa trung tâm.
64. Sacred planets have achieved a developed soul consciousness and thus, correspondingly, they affect the petals of the egoic lotus which most fully represent the nature and quality of the Ego/soul manifesting through egoic lotus.
64. Các hành tinh thiêng liêng đã đạt được một tâm thức linh hồn phát triển và vì thế, theo định luật tương ứng, chúng ảnh hưởng đến những cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã vốn biểu hiện đầy đủ nhất bản chất và phẩm tính của chân ngã/linh hồn đang biểu lộ qua Hoa Sen Chân Ngã.
65. It would seem impossible that at least some influence of sacred planets would not play upon the knowledge petals, as well, because some influence of such planets is necessarily involved in the types of experiences through which all human beings must pass when, for millions of years, they are involved in the unfoldment of the knowledge petals. Also, all human beings are born in or under all signs of the zodiac during that very length period and are thus influenced by such sacred Logoi as those manifesting through the planets Vulcan, Jupiter, Saturn, Mercury, Venus, Neptune and Uranus.
65. Dường như không thể có chuyện ít nhất một số ảnh hưởng của các hành tinh thiêng liêng lại không tác động lên cả các cánh hoa tri thức nữa, bởi vì một số ảnh hưởng của những hành tinh như thế ắt hẳn có liên quan đến các loại kinh nghiệm mà mọi con người đều phải trải qua khi, trong hàng triệu năm, họ tham dự vào sự khai mở của các cánh hoa tri thức. Ngoài ra, mọi con người đều sinh ra trong hay dưới mọi dấu hiệu hoàng đạo trong suốt khoảng thời gian rất dài ấy và do đó chịu ảnh hưởng của những Hành Tinh Thượng Đế thiêng liêng như các vị biểu lộ qua các hành tinh Vulcan, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thủy, Sao Kim, Sao Hải Vương và Uranus.
66. What I am trying to say is that human beings pass through perhaps twenty million years of experience that relates to the development of their three personality vehicles and, eventually, to the development of the personality itself. It is inconceivable that the seven sacred planets would not be influential during such a lengthy process, even though the human being’s response to such sacred planets would, for the vast majority of that time, be a non-sacred response.
66. Điều tôi đang cố nói là con người trải qua có lẽ hai mươi triệu năm kinh nghiệm liên hệ đến sự phát triển của ba vận cụ phàm ngã của họ và cuối cùng là đến sự phát triển của chính phàm ngã. Thật không thể tưởng tượng nổi rằng bảy hành tinh thiêng liêng lại không có ảnh hưởng trong một tiến trình dài lâu như thế, dù rằng sự đáp ứng của con người đối với những hành tinh thiêng liêng ấy, trong phần lớn tuyệt đại đa số thời gian đó, sẽ là một sự đáp ứng không thiêng liêng.
67. Probably the unfoldment of the central tier, however, is especially dependent upon streams of force directed from the sacred planets.
67. Tuy nhiên, có lẽ sự khai mở của tầng trung tâm đặc biệt tùy thuộc vào các dòng mãnh lực được hướng đến từ các hành tinh thiêng liêng.
68. In general, we must agree that even sacred planets can have non-sacred effects. Vulcan, for instance, rules so many of the force patterns associated with the instinctual nature; Venus can indicate primitive magnetism between forms; Mercury can indicate the growth of early mentality; Jupiter may represent simply the urge to incorporate and to grow thereby; and certainly the hard effects of Saturn are present in the very hard karmic experiences through which primitive man must pass.
68. Nói chung, chúng ta phải đồng ý rằng ngay cả các hành tinh thiêng liêng cũng có thể có những tác động không thiêng liêng. Chẳng hạn, Vulcan cai quản rất nhiều mô hình mãnh lực gắn liền với bản chất bản năng; Sao Kim có thể biểu thị từ điện nguyên sơ giữa các hình tướng; Sao Thủy có thể biểu thị sự tăng trưởng của trí tuệ sơ khai; Sao Mộc có thể chỉ đơn giản tượng trưng cho sự thôi thúc đồng hoá và nhờ đó mà tăng trưởng; và chắc chắn những tác động khắc nghiệt của Sao Thổ hiện diện trong các kinh nghiệm nghiệp quả rất khắc nghiệt mà con người nguyên thủy phải trải qua.
69. The first twenty million years, of so, are, on the average, concerned with the development of the outer tier—the knowledge petals.
69. Hai mươi triệu năm đầu tiên, hoặc khoảng như vậy, trung bình liên quan đến sự phát triển của tầng bên ngoài—các cánh hoa tri thức.
Herein lies a hint to the wise student, and a clue to the nature of the lower aspect of the solar Angel.
Chính trong đây có một gợi ý cho đạo sinh minh triết, và một đầu mối về bản chất của phương diện thấp của Thái dương Thiên Thần.
70. In this text, the Solar Angel is closely associated with the petals of the egoic lotus. We must remember, however, that the Solar Angel remains even after its vehicle of manifestation on the higher mental plane is destroyed.
70. Trong đoạn này, Thái dương Thiên Thần được liên kết chặt chẽ với các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Thái dương Thiên Thần vẫn còn tồn tại ngay cả sau khi vận cụ biểu hiện của nó trên Cõi thượng trí đã bị hủy diệt.
71. If we look at the egoic lotus as the embodiment of the Solar Angel, then the knowledge petals represent the “lower aspect of the solar Angel”.
71. Nếu chúng ta xem Hoa Sen Chân Ngã như hiện thân của Thái dương Thiên Thần, thì các cánh hoa tri thức tượng trưng cho “phương diện thấp của Thái dương Thiên Thần”.
72. It becomes clear that the lower nature of the Solar Angel (manifesting through the egoic lotus) is to be associated primarily with non-sacred planets. Another way of saying this is that the knowledge petals are particularly stimulated by the non-sacred planets.
72. Rõ ràng là bản chất thấp của Thái dương Thiên Thần (biểu hiện qua Hoa Sen Chân Ngã) chủ yếu phải được liên kết với các hành tinh không thiêng liêng. Một cách khác để nói điều này là các cánh hoa tri thức đặc biệt được kích thích bởi các hành tinh không thiêng liêng.
73. We could take Earth, Mars and Pluto and trace their role in the development of the knowledge petals. There are other non-sacred planets which are also involved—for instance, the ones veiled by the Sun and the Moon.
73. Chúng ta có thể lấy Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương rồi truy xét vai trò của chúng trong sự phát triển của các cánh hoa tri thức. Cũng có những hành tinh không thiêng liêng khác có liên quan—chẳng hạn, những hành tinh được Mặt Trời và Mặt Trăng che phủ.
74. It is difficult to give a one-to-one assignment of these three non-sacred planets to the first three petals and all of them are involved in the processes of all petals.
74. Thật khó đưa ra một sự phân định một-một giữa ba hành tinh không thiêng liêng này với ba cánh hoa đầu tiên, và tất cả chúng đều tham dự vào các tiến trình của mọi cánh hoa.
75. Two possible sequences could be: Mars, Earth, Pluto or Earth, Mars, Pluto.
75. Hai chuỗi khả dĩ có thể là: Sao Hỏa, Trái Đất, Sao Diêm Vương hoặc Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Diêm Vương.
The Love Wisdom Petals.
Các Cánh Hoa Bác Ái – Minh Triết.
76. We note that what are usually called the “Love Petals” are here called the“Love Wisdom Petals”. This is significant.
76. Chúng ta lưu ý rằng điều thường được gọi là “các Cánh hoa Bác ái” ở đây lại được gọi là các“Cánh hoa Bác Ái – Minh Triết”. Điều này có ý nghĩa.
The streams of energy playing upon and through this second tier of petals closely resemble those already dealt with, but originate in differing groups of lives (lunar and solar).
Các dòng năng lượng tác động lên và xuyên qua tầng cánh hoa thứ hai này rất giống với những dòng đã được bàn đến, nhưng phát sinh từ những nhóm sự sống khác nhau (thái âm và thái dương).
77. We are searching for the original of certain energy streams playing through the three tiers of the egoic lotus.
77. Chúng ta đang tìm kiếm nguồn gốc của một số dòng năng lượng vận hành xuyên qua ba tầng của Hoa Sen Chân Ngã.
78. We have an interesting statement above: the origin of some of these streams affecting the central tier of petals are lunar as well as solar. May we say that the astral body of the personality is connected to the love-wisdom petals? Sometimes these petals are called the “Petals of Love for the Astral Plane”.
78. Ở trên chúng ta có một phát biểu thú vị: nguồn gốc của một số dòng ảnh hưởng đến tầng cánh hoa trung tâm là thái âm cũng như thái dương. Chúng ta có thể nói rằng thể cảm dục của phàm ngã được nối kết với các cánh hoa bác ái – minh triết chăng? Đôi khi các cánh hoa này được gọi là “Các Cánh hoa Bác ái đối với Cõi cảm dục”.
a. The lowest form of energy, reaching this circle, emanates from the lower self, via the astral permanent atom, and the second petal of the outer tier.
a. Hình thức năng lượng thấp nhất, đạt đến vòng này, phát ra từ phàm ngã, qua nguyên tử trường tồn cảm dục, và cánh hoa thứ hai của tầng bên ngoài.
79. Here we are given an important energy stream of influence, ascending, as it were, from ‘below’:
79. Ở đây chúng ta được cho biết một dòng năng lượng ảnh hưởng quan trọng, như thể đi lên từ “bên dưới”:
a. From the astral permanent atom
a. Từ nguyên tử trường tồn cảm dục
b. To the love petal in the knowledge tier
b. Đến cánh hoa bác ái trong tầng tri thức
c. To the second tier of petals as a whole
c. Đến toàn bộ tầng cánh hoa thứ hai
It is transmuted astral energy;
Đó là năng lượng cảm dục đã được chuyển hoá;
80. We have the energy of the second tier of petals—the love-wisdom petals—called “transmuted astral energy”.
80. Chúng ta có năng lượng của tầng cánh hoa thứ hai—các cánh hoa bác ái – minh triết—được gọi là “năng lượng cảm dục đã được chuyển hoá”.
81. Only transmuted astral energy can find its way into the egoic lotus.
81. Chỉ có năng lượng cảm dục đã được chuyển hoá mới có thể tìm được đường đi vào Hoa Sen Chân Ngã.
82. We can infer that along the stream of energy connecting the astral plane with the buddhic plane, the energies of the second tier are to be found in an intermediate position.
82. Chúng ta có thể suy ra rằng dọc theo dòng năng lượng nối cõi cảm dục với cõi Bồ đề, các năng lượng của tầng thứ hai được tìm thấy ở một vị trí trung gian.
it is more powerful than its correspondence in the first tier,
nó mạnh hơn sự tương ứng của nó trong tầng thứ nhất,
83. Since the astral plane is the most coherent and powerful plane in our astral-buddhic solar system, the tier of petals fed by the astral plane is correspondingly the most powerful in the egoic lotus. We are being told here that it is more powerful than the knowledge tier.
83. Vì cõi cảm dục là cõi cố kết và mạnh mẽ nhất trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta, nên tầng cánh hoa được nuôi dưỡng bởi cõi cảm dục tương ứng cũng là tầng mạnh nhất trong Hoa Sen Chân Ngã. Ở đây chúng ta được cho biết rằng nó mạnh hơn tầng tri thức.
owing to the inherent nature of the astral body, and the fact that it is augmented by the energy of the outer tier itself.
do bản chất cố hữu của thể cảm dục, và do sự kiện rằng nó được tăng cường bởi năng lượng của chính tầng bên ngoài.
84. Not only does the astral body feed the love tier, but the knowledge tier does so as well (especially one petal of the knowledge tier)—thus greatly augmenting the strength of the love tier.
84. Không những thể cảm dục nuôi dưỡng tầng bác ái, mà tầng tri thức cũng làm như vậy (đặc biệt là một cánh hoa của tầng tri thức)—do đó làm tăng cường rất lớn sức mạnh của tầng bác ái.
This is one of the factors which brings about the more rapid progress made towards the close of the evolutionary period.
Đây là một trong những yếu tố đem lại sự tiến bộ nhanh hơn vào lúc gần cuối thời kỳ tiến hoá.
85. We are being told that knowledge feeds love-wisdom. This type of dynamic can be associated with the planet Venus.
85. Chúng ta được cho biết rằng tri thức nuôi dưỡng bác ái – minh triết. Loại động lực này có thể được liên kết với hành tinh Sao Kim.
86. Towards the close of the evolutionary period, aspiration must be very keen and propulsive of the evolutionary process.
86. Vào lúc gần cuối thời kỳ tiến hoá, khát vọng hẳn phải rất mãnh liệt và thúc đẩy tiến trình tiến hoá.
There are certain streams of force in the evolution of the Monad which might be regarded as embodying for it the line of least resistance and they are specifically beginning at the lowest:
Có những dòng mãnh lực nhất định trong sự tiến hoá của chân thần có thể được xem như hiện thân cho con đường ít trở ngại nhất đối với nó, và chúng được nêu ra một cách chuyên biệt bắt đầu từ mức thấp nhất:
87. In the following we are looking for the line of least resistance for monadic influence—regardless of the ray of the Monad.
87. Trong phần sau, chúng ta đang tìm kiếm con đường ít trở ngại nhất cho ảnh hưởng chân thần—bất kể cung của chân thần là gì.
a. Emanations from the vegetable kingdom.
a. Các phát xạ từ giới thực vật.
88. The Monad is ‘located’ on the second subplane (from ‘above’) of the cosmic physical plane and the vegetable kingdom is the second kingdom—hence the resonance and the communicating lines of influence.
88. Chân thần được “định vị” trên cõi phụ thứ hai (tính từ “trên xuống”) của cõi hồng trần vũ trụ, và giới thực vật là giới thứ hai—do đó có sự cộng hưởng và các đường truyền ảnh hưởng.
b. Astral energy.
b. Năng lượng cảm dục.
89. Astral energy is focussed on the second subplane of the cosmic physical plane (counting from ‘below’). The Monad is focused on the second subplane of the cosmic physical plane counting from ‘above’.
89. Năng lượng cảm dục được tập trung trên cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ (tính từ “dưới lên”). Chân thần được tập trung trên cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ tính từ “trên xuống”.
c. The energy of the second circle of petals.
c. Năng lượng của vòng cánh hoa thứ hai.
90. Again, the resonance occurs through the number two.
90. Một lần nữa, sự cộng hưởng xảy ra qua con số hai.
d. Buddhic force.
d. Mãnh lực Bồ đề.
91. Buddhi is the sixth principle and the Monad is focused on the sixth subplane of the cosmic physical plane counting from ‘below’.
91. Bồ đề là nguyên khí thứ sáu và chân thần được tập trung trên cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ tính từ “dưới lên”.
92. Jupiter, a planet expressing the second ray through its soul nature, is one of the rules of the buddhic plane. It is also the principal ruler of the monadic plane—hence a line of communication is established.
92. Sao Mộc, một hành tinh biểu lộ cung hai qua bản chất linh hồn của nó, là một trong những chủ tinh của cõi Bồ đề. Nó cũng là chủ tinh chính của cõi chân thần—do đó một đường truyền thông được thiết lập.
e. The activity of the second Logos, planetary or solar.
e. Hoạt động của Logos thứ hai, hành tinh hay thái dương.
93. The “second Logos” of our solar system is Vishnu, the expression of the second aspect of solar logoic Divinity. The second Planetary Logos may well be considered Venus, the monadic ray of which is both the sixth (the sub-monadic ray) and the second.
93. “Logos thứ hai” của hệ mặt trời chúng ta là Vishnu, biểu hiện của phương diện thứ hai của thiên tính logoi thái dương. Logos Hành Tinh thứ hai rất có thể được xem là Sao Kim, mà cung chân thần của nó vừa là cung sáu (cung dưới chân thần) vừa là cung hai.
This is, of course, only true of this solar system, being the system of regenerative love.
Dĩ nhiên, điều này chỉ đúng đối với hệ mặt trời này, vì đây là hệ thống của bác ái tái sinh.
94. We are given an important name for our solar system—the “system of regenerative love”. We can imagine that Pluto plays its role in this regeneration through its relationship with Venus. The second ray soul of the Planetary Logos of Earth is also deeply involved.
94. Chúng ta được cho một tên gọi quan trọng của hệ mặt trời chúng ta—“hệ thống của bác ái tái sinh”. Chúng ta có thể hình dung rằng Sao Diêm Vương đóng vai trò của nó trong sự tái sinh này qua mối liên hệ với Sao Kim. Linh hồn cung hai của Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất cũng can dự sâu xa vào đây.
95. Note that both Earth and Pluto (which are related in various other ways) are planets of regeneration.
95. Lưu ý rằng cả Trái Đất lẫn Sao Diêm Vương (vốn liên hệ với nhau theo nhiều cách khác) đều là những hành tinh của sự tái sinh.
b. Another form of influencing energy originates in the inner circle of petals, which is the focal point [Page 1115] of force for the Monad, considered as atma.
b. Một hình thức năng lượng ảnh hưởng khác phát sinh từ vòng cánh hoa bên trong, là tiêu điểm [Page 1115] của mãnh lực đối với chân thần, được xét như atma.
96. We continue to speak of the influences which impact the central tier of petals—the love-wisdom petals.
96. Chúng ta tiếp tục nói về các ảnh hưởng tác động lên tầng cánh hoa trung tâm—các cánh hoa bác ái – minh triết.
97. Influences from the sacrifice petals, thus, influence the second tier.
97. Như vậy, các ảnh hưởng từ các cánh hoa hi sinh tác động đến tầng thứ hai.
98. The sacrifice petals focalize monadic influence as that influence is represented by atma. The force of the Monad can, we see, be considered as “atma”—spiritual will.
98. Các cánh hoa hi sinh tiêu điểm hóa ảnh hưởng chân thần khi ảnh hưởng ấy được biểu hiện như atma. Như chúng ta thấy, mãnh lực của chân thần có thể được xem là “atma”—ý chí tinh thần.
It must be pointed out that the streams of force which form the "petals of will" have a dynamic activity and (when in action) produce very rapid unfoldment.
Cần chỉ ra rằng các dòng mãnh lực tạo thành "các cánh hoa ý chí" có một hoạt động năng động và (khi hoạt động) tạo ra sự khai mở rất nhanh chóng.
99. Not only does the human being influenced by the will petals evolve rapidly, but the petals themselves unfold far more rapidly than any of the other petals in the two lower tiers.
99. Không những con người chịu ảnh hưởng của các cánh hoa ý chí tiến hoá nhanh chóng, mà chính các cánh hoa ấy cũng khai mở nhanh hơn rất nhiều so với bất kỳ cánh hoa nào khác trong hai tầng thấp hơn.
100. The first aspect of divinity is dynamic. We are dealing here with the type of energy which is released during the period when the human being is undergoing initiation. We realize that there is much first ray in the process of initiation.
100. Phương diện thứ nhất của thiên tính là năng động. Ở đây chúng ta đang bàn đến loại năng lượng được giải phóng trong giai đoạn khi con người đang trải qua điểm đạo. Chúng ta nhận ra rằng có rất nhiều cung một trong tiến trình điểm đạo.
101. The streams of energy which influence the petals of will might be considered particularly atmic and are thus related to the Monad. Atma is the principle of man most closely related to the Monad.
101. Các dòng năng lượng ảnh hưởng đến các cánh hoa ý chí có thể được xem là đặc biệt atma và do đó liên hệ với chân thần. Atma là nguyên khí của con người liên hệ mật thiết nhất với chân thần.
It is the inner of the two types of force;
Đó là loại bên trong của hai loại mãnh lực;
102. DK seems to be speaking of the force of the love-wisdom petals and the force of the sacrifice petals. In this case the sacrifice petals are the inner of two types of forces.
102. Chân sư DK dường như đang nói về mãnh lực của các cánh hoa bác ái – minh triết và mãnh lực của các cánh hoa hi sinh. Trong trường hợp này, các cánh hoa hi sinh là loại bên trong của hai loại mãnh lực.
their mutual interplay provides the necessary stimulus, and results in the opening of the bud and the revelation of the Jewel.
sự tương tác hỗ tương của chúng cung cấp kích thích cần thiết, và đưa đến việc mở nụ và sự mặc khải của Bảo Châu.
103. When love-wisdom and sacrifice interplay, an energy is produced which leads to the opening of the inner bud of three synthesis petals and to the revelation of the "Jewel in the Lotus".
103. Khi bác ái – minh triết và hi sinh tương tác, một năng lượng được tạo ra dẫn đến việc mở nụ bên trong gồm ba cánh hoa tổng hợp và sự mặc khải của "Bảo Châu trong Hoa Sen".
104. We have been told that each of the synthesis petals opens to a degree at one of the first three initiations. We are learning that love-wisdom and will open the synthesis petals. The synthesis petals, themselves, are also to be considered energy centers. Their radiation becomes most effective in the life of the man who has taken the third initiation.
104. Chúng ta đã được cho biết rằng mỗi cánh hoa tổng hợp mở ra ở một mức độ nào đó tại một trong ba lần điểm đạo đầu tiên. Chúng ta đang học rằng bác ái – minh triết và ý chí mở các cánh hoa tổng hợp. Bản thân các cánh hoa tổng hợp cũng phải được xem là các trung tâm năng lượng. Sự bức xạ của chúng trở nên hữu hiệu nhất trong đời sống của người đã trải qua lần điểm đạo thứ ba.
The other types of energy [inclusive of triadal energies] find their correspondence with those already enumerated
Các loại năng lượng khác [bao gồm các năng lượng tam nguyên tinh thần] tìm thấy sự tương ứng của chúng với những loại đã được liệt kê
105. One of the interpretations of this sentence is that in each tier of petals there is a correspondence to one of the three complete tiers.
105. Một trong những cách giải thích câu này là trong mỗi tầng cánh hoa đều có một sự tương ứng với một trong ba tầng hoàn chỉnh.
106. From another perspective, each of the three major energies of the spiritual triad finds its particular correspondence in one of the three tiers of petals of the egoic lotus and in one of the petals of each tier.
106. Từ một góc nhìn khác, mỗi một trong ba năng lượng chính của Tam Nguyên Tinh Thần tìm thấy sự tương ứng đặc thù của nó trong một trong ba tầng cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã và trong một cánh hoa của mỗi tầng.
but I seek only to mention one of them,—that one [type of energy] which reaches the second tier of love petals, via the buddhic permanent atom.
nhưng tôi chỉ tìm cách đề cập đến một trong số đó,—loại ấy [loại năng lượng] đạt đến tầng thứ hai của các cánh hoa bác ái, qua nguyên tử trường tồn Bồ đề.
107. This is a very important connection. Love from ‘above’ (buddhic) and love from ‘below’ (astral), and both contribute to the unfoldment of these central petals.
107. Đây là một sự nối kết rất quan trọng. Bác ái từ “bên trên” (Bồ đề) và bác ái từ “bên dưới” (cảm dục), và cả hai đều góp phần vào sự khai mở của các cánh hoa trung tâm này.
The energy thus originating is of a peculiarly interesting kind being the basic energy of all manifestation, and the sum total of the forces which form the sevenfold heart of the physical sun, and which are located within its sheltering luminosity.
Năng lượng phát sinh như vậy thuộc một loại đặc biệt thú vị vì là năng lượng căn bản của mọi biểu hiện, và là tổng số các mãnh lực tạo thành trái tim thất phân của mặt trời hồng trần, và được định vị trong quang huy che chở của nó.
108. Again, a profoundly occult statement.
108. Một lần nữa, đây là một phát biểu huyền bí học hết sức sâu xa.
109. Since buddhic energy emanates from the fourth cosmic ether it is responsible for all that manifests in the three lower worlds. This is because a number of chakras of the Solar Logos and Planetary Logos (lower chakras, and vortices which represent higher chakras) are found on this fourth cosmic physical subplane. We have the analogy in the manner in which the chakras found upon the fourth systemic ether are responsible for manifestation as it occurs within the three densest of the systemic subplanes.
109. Vì năng lượng Bồ đề phát ra từ dĩ thái vũ trụ thứ tư, nên nó chịu trách nhiệm cho mọi điều biểu hiện trong ba cõi thấp. Điều này là vì một số luân xa của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng Đế (các luân xa thấp hơn, và các xoáy lực tượng trưng cho các luân xa cao hơn) được tìm thấy trên cõi phụ hồng trần vũ trụ thứ tư này. Chúng ta có sự tương đồng trong cách mà các luân xa được tìm thấy trên dĩ thái hệ thống thứ tư chịu trách nhiệm cho biểu hiện như nó xảy ra trong ba cõi phụ đậm đặc nhất của hệ thống.
110. Note, however, that we are not dealing here with the Heart of the Sun per se, but with the sevenfold heart of the physical sun.
110. Tuy nhiên, lưu ý rằng ở đây chúng ta không bàn đến chính Trái Tim Mặt Trời, mà là trái tim thất phân của mặt trời hồng trần.
111. Where is the etheric heart center of the Solar Logos to be found? Is it on the buddhic plane or on the monadic plane (which seems analogically necessary if one studies the positioning of the chakras of man on TCF Chart VIII)?
111. Trung tâm tim dĩ thái của Thái dương Thượng đế được tìm thấy ở đâu? Nó ở trên cõi Bồ đề hay trên cõi chân thần (điều dường như cần thiết theo định luật tương đồng nếu người ta nghiên cứu vị trí các luân xa của con người trên Biểu đồ VIII của TCF)?
112. Where is the heart center of the physical sun? It would have to be a physical location would it not—at least from the solar logoic point of view? If physical, it would have to be located within the physical body of the Solar Logos which is comprised of the three lowest subplanes of the cosmic physical plane, including the higher mental plane on which all tiers of petals are located.
112. Trung tâm tim của mặt trời hồng trần ở đâu? Hẳn nó phải là một vị trí hồng trần, phải vậy không—ít nhất là từ quan điểm của Thái dương Thượng đế? Nếu là hồng trần, nó hẳn phải được định vị trong thể hồng trần của Thái dương Thượng đế, vốn bao gồm ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ, kể cả Cõi thượng trí nơi mọi tầng cánh hoa đều tọa lạc.
113. So we must ask whether DK in this section of text is discussing only the energies of the fourth cosmic ether or whether the energies of the higher mental plane (those energies resonantly related to the buddhic plane) are also and pointedly being discussed.
113. Vì vậy, chúng ta phải hỏi liệu Chân sư DK trong phần văn bản này chỉ đang bàn đến các năng lượng của dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay các năng lượng của Cõi thượng trí (những năng lượng có liên hệ cộng hưởng với cõi Bồ đề) cũng và một cách rõ rệt đang được bàn đến.
114. We also seek to know the degree to which the planet Vulcan is related to the “sevenfold heart of the physical sun”. It would seem that Vulcan is very much located within its (the physical sun’s) sheltering luminosity.
114. Chúng ta cũng tìm cách biết mức độ mà hành tinh Vulcan có liên hệ với “trái tim thất phân của mặt trời hồng trần”. Có vẻ như Vulcan rất nhiều được định vị trong quang huy che chở của nó (của mặt trời hồng trần).
They [probably energies from the love petals and the energy from the buddhic permanent atom] in their turn are transmitters of the life-impulses from the heart of the central Spiritual Sun,
Chúng [có lẽ là các năng lượng từ các cánh hoa bác ái và năng lượng từ nguyên tử trường tồn Bồ đề] đến lượt mình là những tác nhân truyền dẫn các xung lực sự sống từ trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương,
115. If the Central Spiritual Sun is the Monad of the Solar Logos, then the “heart of the central Spiritual Sun” is the Heart of the Sun on the cosmic mental plane—the soul nature of the Solar Logos.
115. Nếu Mặt trời Tinh thần Trung Ương là chân thần của Thái dương Thượng đế, thì “trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương” là Trái Tim Mặt Trời trên cõi trí vũ trụ—bản chất linh hồn của Thái dương Thượng đế.
116. If, however, the Central Spiritual Sun is considered the point in the heavens around which our solar system revolves, then we are dealing with a Source far more remote, and the heart of such a Central Spiritual Sun would be far greater than the Heart of the Sun as usually considered.
116. Tuy nhiên, nếu Mặt trời Tinh thần Trung Ương được xem là điểm trên thiên giới mà quanh đó hệ mặt trời chúng ta quay, thì chúng ta đang bàn đến một Nguồn xa xôi hơn rất nhiều, và trái tim của một Mặt trời Tinh thần Trung Ương như thế sẽ lớn lao hơn nhiều so với Trái Tim Mặt Trời như thường được quan niệm.
117. The greater probability is the first option, with the energy of the Heart of the Sun transmitting to the buddhic plane and thence of the love-wisdom tier of the egoic lotus.
117. Khả năng lớn hơn là phương án thứ nhất, với năng lượng của Trái Tim Mặt Trời truyền đến cõi Bồ đề và từ đó đến tầng bác ái – minh triết của Hoa Sen Chân Ngã.
so that we have a direct graded chain of transmitting energies.
để chúng ta có một chuỗi phân cấp trực tiếp của các năng lượng truyền dẫn.
a. The Heart of the central Spiritual Sun.
a. Trái Tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương.
118. Although the heart of the true Central Spiritual Sun (either the Pleiades or Alcyone as the representative of the Pleiades) is probably involved in this chain of transmission—ultimately—it is probable that the “Heart of the central Spiritual Sun” (here referenced) is the Heart of the Sun on the cosmic mental plane and not a still more remote or higher Source.
118. Mặc dù trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương đích thực (hoặc là Pleiades hoặc Alcyone như đại diện của Pleiades) có lẽ rốt ráo vẫn can dự vào chuỗi truyền dẫn này, nhưng có khả năng rằng “Trái Tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương” (được nhắc đến ở đây) là Trái Tim Mặt Trời trên cõi trí vũ trụ chứ không phải một Nguồn còn xa hơn hay cao hơn nữa.
b. The sevenfold heart of the physical Sun.
b. Trái tim thất phân của Mặt Trời hồng trần.
119. Much depends on whether the term “physical” includes the cosmic ethers. If the term means simply densely physical, the “sevenfold heart of the physical Sun” must be located within the lowest twenty-one systemic subplanes.
119. Nhiều điều tùy thuộc vào việc thuật ngữ “hồng trần” có bao gồm các dĩ thái vũ trụ hay không. Nếu thuật ngữ ấy chỉ có nghĩa là hồng trần đậm đặc, thì “trái tim thất phân của Mặt Trời hồng trần” hẳn phải được định vị trong hai mươi mốt cõi phụ hệ thống thấp nhất.
c. The buddhic devas
c. Các thiên thần Bồ đề
120. Notice that DK refers here to the “buddhic devas” (the Agnisuryans) and not to the buddhic permanent atom.
120. Lưu ý rằng ở đây Chân sư DK nói đến “các thiên thần Bồ đề” (các Agnisuryan) chứ không nói đến nguyên tử trường tồn Bồ đề.
121. It would seem very probable that the Christ would have in His retinue many buddhic devas.
121. Có vẻ rất có khả năng rằng Đức Christ sẽ có trong đoàn tùy tùng của Ngài nhiều thiên thần Bồ đề.
122. The three sources just mentioned are all ‘above’ the dense physical vehicle of the Solar Logos.
122. Ba nguồn vừa được nhắc đến đều ở “bên trên” vận cụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế.
to
đến
d. The central circle of petals.
d. Vòng cánh hoa trung tâm.
e. The astral permanent atom.
e. Nguyên tử trường tồn cảm dục.
f. The heart centre within the Head.
f. Trung tâm tim bên trong đầu.
123. By this center we probably mean the major heart center within the head center.
123. Bởi trung tâm này, có lẽ chúng ta muốn nói đến trung tâm tim chính yếu bên trong trung tâm đầu.
124. These three sources are all within the dense physical vehicle of the Solar Logos.
124. Ba nguồn này đều ở bên trong vận cụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế.
g. The heart centre.
g. Trung tâm tim.
125. We have been given a sevenfold transmission of great value and should commit it to memory. There may be some points missing from the transmission. One such point might be that one of the seven lesser head centers which corresponds to the heart center between the shoulder blades.
125. Chúng ta đã được trao cho một sự truyền dẫn thất phân có giá trị lớn và nên ghi nhớ nó. Có thể có một vài điểm còn thiếu trong sự truyền dẫn này. Một điểm như thế có thể là một trong bảy trung tâm đầu nhỏ tương ứng với trung tâm tim giữa hai bả vai.
126. Learning the resonant lines of energy transmission will be of great value for inducing the energy-flows concerned through the use of the creative imagination.
126. Việc học các đường cộng hưởng của sự truyền dẫn năng lượng sẽ có giá trị lớn trong việc tạo ra các dòng năng lượng liên hệ qua việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo.
This buddhic energy is the sumtotal of the life force of Vishnu or the Son, Who is the transmitter and representative of a still greater cosmic Deity.
Năng lượng Bồ đề này là tổng số lực sự sống của Vishnu hay Con, Đấng là tác nhân truyền dẫn và đại diện của một Thượng đế vũ trụ còn vĩ đại hơn nữa.
127. There is a way in which our entire Solar Logos can be considered as Vishnu, and not just the Second Person of the logoic Trinity.
127. Có một cách mà toàn bộ Thái dương Thượng đế của chúng ta có thể được xem là Vishnu, chứ không chỉ là Ngôi Thứ Hai của Tam Vị logoi.
128. This “still greater cosmic Deity” is probably along the Sirian line—either the Logos Who expresses through the star Sirius, or through the threefold constellation Sirius (Sirius A, Sirius B and Sirius C), or through the "Seven Solar Systems of Which Ours is One" which may, from a certain perspective, be considered the ‘ Sirian System’.
128. “Thượng đế vũ trụ còn vĩ đại hơn nữa” này có lẽ thuộc tuyến Sirian—hoặc là Logos biểu hiện qua sao Sirius, hoặc qua chòm sao Sirius tam phân (Sirius A, Sirius B và Sirius C), hoặc qua "Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một" mà từ một góc nhìn nào đó có thể được xem là Hệ thống ‘ Sirian’.
129. It is clear that we are speaking of a second ray transmission.
129. Rõ ràng là chúng ta đang nói về một sự truyền dẫn cung hai.
All the above serves to demonstrate the oneness of the tiniest unit with the one great informing Life, and shows the integral beauty of the scheme.
Tất cả những điều trên đều nhằm chứng minh tính nhất thể của đơn vị nhỏ bé nhất với Sự sống vĩ đại duy nhất đang thấm nhuần, và cho thấy vẻ đẹp toàn vẹn của hệ hành tinh.
130. No unit can be permanently excommunicated from the Whole.
130. Không một đơn vị nào có thể bị tuyệt thông vĩnh viễn khỏi Toàn Thể.
The life of the greatest cosmic Lord of Love
Sự sống của vị Chúa Tể Bác ái vũ trụ vĩ đại nhất
131. And Who is that Lord? Is it the Logos of Orion, or the Lord of the "Seven Solar Systems of Which Ours is One"? The word “greatest” has been used and one might infer that this use could justifiably raise our speculation to the galactic level as we search for the identity of the “greatest cosmic Lord of Love”.
131. Và Đấng ấy là ai? Có phải là Logos của Orion, hay Chúa Tể của "Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một"? Từ “vĩ đại nhất” đã được dùng, và người ta có thể suy ra rằng cách dùng ấy có thể chính đáng nâng sự suy đoán của chúng ta lên cấp độ thiên hà khi chúng ta tìm kiếm căn tính của “vị Chúa Tể Bác ái vũ trụ vĩ đại nhất”.
pulsates in infinitesimal degree [1116] in the heart of His tiniest reflection,
đập nhịp ở mức độ vô cùng nhỏ bé [Page 1116] trong trái tim của phản chiếu nhỏ bé nhất của Ngài,
132. A holographic universe is suggest. We are dealing principally with the buddhic energy—and its still higher Source. We are told that buddhi lies at the heart of the tiniest atom of substance.
132. Một vũ trụ toàn ảnh được gợi ra. Chúng ta chủ yếu đang bàn đến năng lượng Bồ đề—và Nguồn còn cao hơn của nó. Chúng ta được cho biết rằng Bồ đề nằm ở trung tâm của nguyên tử chất liệu nhỏ bé nhất.
“They are, therefore, one and all an expression of His love nature, and it is for this reason that buddhi is found at the heart of the tiniest atom, or what we call in this system, electric fire. For the positive central life of every form is but an expression of cosmic buddhi, and the downpouring of a love which has its source in the Heart of the Solar Logos; this is itself an emanating principle from the ONE ABOVE OUR LOGOS, HE OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID”. (TCF 1225-1226)
“Do đó, tất cả chúng đều là biểu hiện của bản chất bác ái của Ngài, và chính vì lý do này mà Bồ đề được tìm thấy ở trung tâm của nguyên tử nhỏ bé nhất, hay điều mà chúng ta gọi trong hệ thống này là Lửa Điện. Vì sự sống trung tâm dương tính của mọi hình tướng chỉ là một biểu hiện của Bồ đề vũ trụ, và của sự tuôn đổ của một tình thương có nguồn cội trong Trái Tim của Thái dương Thượng đế; bản thân điều này là một nguyên khí phát xạ từ Đấng Duy Nhất Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA, Đấng Bất Khả Tư Nghị”. (TCF 1225-1226)
133. We note above the identicality of buddhi and electric fire—at least in this second ray solar system. Is there then no pure electric fire within our system? Probably not.
133. Ở trên, chúng ta lưu ý sự đồng nhất giữa Bồ đề và Lửa Điện—ít nhất là trong hệ mặt trời cung hai này. Vậy thì trong hệ của chúng ta không có thuần Lửa Điện chăng? Có lẽ là không.
134. The tiniest particle may be the tiniest reflection of the greatest Lord of Love. The galaxy may be reflected in the tiniest particle.
134. Hạt nhỏ bé nhất có thể là sự phản chiếu nhỏ bé nhất của Đấng Chúa Tể Vĩ Đại nhất của Bác ái. Thiên hà có thể được phản chiếu trong hạt nhỏ bé nhất.
and for this reason the atom man can likewise say "I too am God; His Life is mine."
và vì lý do này, con người nguyên tử cũng có thể nói: "Tôi cũng là Thượng đế; Sự Sống của Ngài là của tôi."
135. It becomes clear that one of our prime objectives is attainment of buddhic awareness so that we may know our identicality with the Great Logoi in Whom we live and move and have our being.
135. Rõ ràng là một trong những mục tiêu chính yếu của chúng ta là đạt được nhận biết Bồ đề để chúng ta có thể biết sự đồng nhất của mình với các Thượng đế Vĩ Đại, trong Các Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu.
S9S4 Part III
TCF 1116-1119
TCF 1116-1119
Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCFđược trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary
Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận
The Sacrifice Petals. The energies or forces flowing through, and thus producing activity in the inner tier of petals, the Sacrifice Petals, are again similar in nature to those already enumerated, plus a definite stimulation of power in two directions.
Các cánh hoa hi sinh. Các năng lượng hay mãnh lực chảy qua, và do đó tạo ra hoạt động trong vòng cánh hoa bên trong, các cánh hoa hi sinh, lại một lần nữa tương tự về bản chất với những gì đã được liệt kê, cộng thêm một sự kích thích quyền năng rõ rệt theo hai hướng.
1. We have been dealing with the various influences which impact the three tiers of petals.
1. Chúng ta đã bàn đến các ảnh hưởng khác nhau tác động lên ba vòng cánh hoa.
2. The sacrifice petals are called the inner tier or circle of petals but not the inmost circle.
2. Các cánh hoa hi sinh được gọi là vòng hay chu vi cánh hoa bên trong nhưng không phải là vòng trong cùng.
3. All petals in every tier of petals have a certain similarity. They are all most strongly conditioned by the second aspect of divinity no matter how much they may be secondarily influence by other higher or lower sources.
3. Mọi cánh hoa trong mỗi vòng cánh hoa đều có một sự tương đồng nhất định. Tất cả đều được phương diện thứ hai của thiên tính tác động mạnh mẽ nhất, bất kể chúng có thể chịu ảnh hưởng thứ yếu đến mức nào từ các nguồn cao hơn hay thấp hơn khác.
4. The sacrifice petals are petals of power.
4. Các cánh hoa hi sinh là những cánh hoa của quyền năng.
One stimulating influence comes from the Will Aspect of the Monad, and thus (through transmission) from the first Aspect of the planetary Logos, and the other emanates from the "Sacred Bud which veils the Jewel."
Một ảnh hưởng kích thích đến từ Phương diện Ý Chí của Chân thần, và do đó (qua sự truyền dẫn) từ Phương diện thứ nhất của Hành Tinh Thượng Đế, còn ảnh hưởng kia phát ra từ "Nụ Thiêng che phủ Viên Ngọc."
5. We are considering the sources of stimulation of the sacrifice petals:
5. Chúng ta đang xem xét các nguồn kích thích của các cánh hoa hi sinh:
a. One source is the will aspect of the Monad. Note that the Monad also has a wisdom aspect and an activity aspect which probably stimulated the second and third tiers respectively.
a. Một nguồn là phương diện ý chí của Chân thần. Lưu ý rằng Chân thần cũng có một phương diện minh triết và một phương diện hoạt động mà có lẽ đã kích thích lần lượt vòng thứ hai và thứ ba.
b. We are learning that that the first aspect of the Planetary Logos stimulates the first aspect of the Monad—the will aspect.
b. Chúng ta đang học rằng phương diện thứ nhất của Hành Tinh Thượng Đế kích thích phương diện thứ nhất của Chân thần—phương diện ý chí.
c. The second source is apparently from the synthesis petals considered as a “Sacred Bud” veiling the "Jewel in the Lotus". We are not sure whether DK is considering the "Jewel" per se as a source of stimulation for the sacrifice petals. Usually the “bud” is considered as one unit including the "Jewel in the Lotus".
c. Nguồn thứ hai dường như đến từ các cánh hoa tổng hợp được xem như một “Nụ Thiêng” che phủ "Viên Ngọc trong Hoa Sen". Chúng ta không chắc liệu Chân sư DK có đang xem chính "Viên Ngọc" như một nguồn kích thích cho các cánh hoa hi sinh hay không. Thông thường “nụ” được xem là một đơn vị bao gồm cả "Viên Ngọc trong Hoa Sen".
This is a particularly strong vibration because, when the inner circle is unfolded, the jewel is revealed,
Đây là một rung động đặc biệt mạnh vì khi vòng bên trong được khai mở, viên ngọc được hiển lộ,
6. The “Jewel” is at least partially revealed. The inner circle is completely unfolded by the time the third initiation is taken, but the “Jewel” is not then fully revealed—at least according to what Master DK has stated elsewhere about the continuing revelation of the “Jewel” leading up to the fourth initiation.
6. “Viên Ngọc” ít nhất được hiển lộ một phần. Vòng bên trong được khai mở hoàn toàn vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, nhưng khi ấy “Viên Ngọc” vẫn chưa được hiển lộ trọn vẹn —ít nhất theo điều Chân sư DK đã nói ở nơi khác về sự hiển lộ tiếp diễn của “Viên Ngọc” dẫn đến lần điểm đạo thứ tư.
and the three "veils" or "sacred petals" open successively when the three tiers unfold.
và ba "màn che" hay "các cánh hoa thiêng" mở ra tuần tự khi ba vòng được khai mở.
7. We have some important synonyms here for the synthesis petals.
7. Ở đây chúng ta có một số từ đồng nghĩa quan trọng cho các cánh hoa tổng hợp.
8. They are called “veils” because they veil the “Jewel”. They are called “sacred petals” because they have been formed by a downflow of buddhic energy.
8. Chúng được gọi là “màn che” vì chúng che phủ “Viên Ngọc”. Chúng được gọi là “các cánh hoa thiêng” vì chúng đã được hình thành bởi một dòng năng lượng Bồ đề tuôn xuống.
9. The sacred petals open successively at each of the first three initiations—the knowledge-synthesis petal continuing to open during initiations two and three and the love-wisdom-synthesis petal opening at the second initiation continues to open as the third initiation is taken. Yet full opening so as to disclose the "Jewel in the Lotus" does not occur until the fourth initiation.
9. Các cánh hoa thiêng mở ra tuần tự ở mỗi một trong ba lần điểm đạo đầu tiên—cánh hoa tổng hợp tri thức tiếp tục mở trong các lần điểm đạo thứ hai và thứ ba, và cánh hoa tổng hợp bác ái–minh triết mở ra ở lần điểm đạo thứ hai tiếp tục mở khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận. Tuy nhiên, sự mở ra trọn vẹn để làm lộ "Viên Ngọc trong Hoa Sen" không xảy ra cho đến lần điểm đạo thứ tư.
It is thus apparent what numerous energising agencies are responsible for the "motion," occultly understood, of the egoic lotus.
Do đó rõ ràng là có rất nhiều tác nhân tiếp sinh lực chịu trách nhiệm cho "chuyển động", được hiểu theo huyền bí học, của hoa sen chân ngã.
10. This has been the whole point of our discussion—motion on the plane of mind and especially on the plane of higher mind.
10. Đó chính là toàn bộ trọng điểm của cuộc thảo luận của chúng ta—chuyển động trên cõi trí và đặc biệt trên cõi thượng trí.
11. Streams of energy are motion and induce motion.
11. Các dòng năng lượng là chuyển động và gây ra chuyển động.
12. We are now listing several agencies which energize the egoic lotus.
12. Hiện nay chúng ta đang liệt kê một số tác nhân tiếp sinh lực cho hoa sen chân ngã.
There is the inherent life of the atomic units forming each petal,
Có sự sống cố hữu của các đơn vị nguyên tử tạo thành mỗi cánh hoa,