← Commentary_S9_1078_1194_song ngữ

S9S4 Part II

Trích nội dung chương

lưu chuyển trong một dòng tam phân (sự phản chiếu trong phàm ngã của Con Đường tam phân đến Thượng đế) 31. The threefold Path to God must be the Manasic Path, the Path of Love and the Path of Will as these Paths are exemplified within the spiritual triad.


The stream of force engendered in the lower self

Dòng mãnh lực được tạo ra trong phàm ngã

30. Presumably from the members of the atomic triangle….

30. Có lẽ từ các thành phần của tam giác nguyên tử….

circulates in a triple stream (the reflection in the lower self of the threefold Path to God)

lưu chuyển trong một dòng tam phân (sự phản chiếu trong phàm ngã của Con Đường tam phân đến Thượng đế)

31. The threefold Path to God must be the Manasic Path, the Path of Love and the Path of Will as these Paths are exemplified within the spiritual triad.

31. Con Đường tam phân đến Thượng đế hẳn phải là Con Đường Manas, Con Đường Bác Ái và Con Đường Ý Chí như những Con Đường này được biểu hiện trong Tam nguyên tinh thần.

32. Presumably the stream is threefold. DK does not appear to be speaking a circulation which occurs three times. Perhaps the triple stream circulates with great rapidity numerous time.

32. Có lẽ dòng này là tam phân. Chân sư DK dường như không nói về một sự lưu chuyển xảy ra ba lần. Có lẽ dòng tam phân lưu chuyển với tốc độ rất lớn nhiều lần.

around the atomic triangle at the base of the egoic lotus.

xung quanh tam giác nguyên tử ở đáy của Hoa Sen Chân Ngã.

33. The position of this triangle is of real importance and Master DK repeats the location several times. All movements are orderly and occur according to law. The further we go into occultism, the more these movements will be revealed.

33. Vị trí của tam giác này thực sự quan trọng và Chân sư DK lặp lại vị trí ấy nhiều lần. Mọi chuyển động đều có trật tự và xảy ra theo quy luật. Chúng ta càng đi sâu vào huyền bí học, những chuyển động này càng được mặc khải.

When of sufficient strength and [Page 1111] purity, it affects the outer row of petals.

Khi đủ mạnh và [Page 1111] thanh khiết, nó tác động đến hàng cánh hoa bên ngoài.

34. Shall we say that the circulation of the lower stream must achieve sufficient ‘spiritual momentum’ before the knowledge petals can be affected.

34. Chúng ta có thể nói rằng sự lưu chuyển của dòng thấp phải đạt được đủ “động lượng tinh thần” trước khi các cánh hoa tri thức có thể bị tác động chăng.

35. It is as if this circulation of energies occurs well before the circulation can affect the outer row of petals.

35. Dường như sự lưu chuyển các năng lượng này xảy ra rất lâu trước khi sự lưu chuyển ấy có thể tác động đến hàng cánh hoa bên ngoài.

36. Perhaps we are dealing with issues of resonance. Perhaps when the lower stream becomes resonant to the higher vibrations of the knowledge petals, their effect can be felt within those petals.

36. Có lẽ chúng ta đang đề cập đến những vấn đề cộng hưởng. Có lẽ khi dòng thấp trở nên cộng hưởng với những rung động cao hơn của các cánh hoa tri thức, hiệu quả của chúng có thể được cảm nhận trong những cánh hoa ấy.

This begins to be felt during the third period of man's evolution when he is an average intelligent unit or atom.

Điều này bắt đầu được cảm nhận trong thời kỳ thứ ba của tiến hoá con người khi y là một đơn vị hay nguyên tử trí tuệ trung bình.

37. First man becomes the average instinctual man; then man becomes the average emotional man and finally the “average intelligent unit or atom” of which DK speaks in this context.

37. Trước hết con người trở thành con người bản năng trung bình; rồi con người trở thành con người cảm xúc trung bình; và cuối cùng là “đơn vị hay nguyên tử trí tuệ trung bình” mà Chân sư DK nói đến trong bối cảnh này.

38. It is at such a point that the third ray can become the personality ray. We may remember that personalities are initially found only on the fourth, fifth, sixth and seventh rays.

38. Chính tại một điểm như thế mà cung ba có thể trở thành cung phàm ngã. Chúng ta có thể nhớ rằng các phàm ngã ban đầu chỉ được tìm thấy trên các cung bốn, năm, sáu và bảy.

This energy, when it blends with the inherent life of the atomic lives which form the petals, produces eventually that intimate fusing of soul and body which makes man a living soul.

Năng lượng này, khi hòa trộn với sự sống cố hữu của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa, cuối cùng tạo ra sự dung hợp mật thiết giữa linh hồn và thể khiến con người trở thành một linh hồn sống động.

39. The stream which we might call the ‘body stream’ comes from the lower permanent atoms, i.e., the members of the atomic triangle. When this stream blends with petal substance (which, in a way, is ‘soul substance’) we have the fusing of soul and body.

39. Dòng mà chúng ta có thể gọi là ‘dòng của thể’ đến từ các nguyên tử trường tồn thấp, tức các thành phần của tam giác nguyên tử. Khi dòng này hòa trộn với chất liệu cánh hoa (mà theo một nghĩa nào đó là ‘chất liệu linh hồn’) thì chúng ta có sự dung hợp của linh hồn và thân thể.

40. We see that to make a man a “living soul” some very specific occult energies are needed. We are given some of the important dynamics of the process producing soul-infusion.

40. Chúng ta thấy rằng để làm cho một con người trở thành một “linh hồn sống động” thì cần những năng lượng huyền bí rất chuyên biệt. Chúng ta được cho biết một số động lực học quan trọng của tiến trình tạo ra sự được linh hồn thấm nhuần.

41. We also see that the creation of the soul-infused human being is dependent upon personality energies. Without this energy-stream from ‘below’ soul infusion could not occur.

41. Chúng ta cũng thấy rằng việc tạo ra con người được linh hồn thấm nhuần phụ thuộc vào các năng lượng phàm ngã. Không có dòng năng lượng này từ ‘bên dưới’ thì sự thấm nhuần của linh hồn không thể xảy ra.

b. Another stream of energy emanates in time from the second tier of petals when in activity;

b. Một dòng khác năng lượng theo thời gian phát ra từ tầng cánh hoa thứ hai khi tầng này hoạt động;

42. We are still speaking of the knowledge petals and the three streams of energy-force which animate them.

42. Chúng ta vẫn đang nói về các cánh hoa tri thức và ba dòng năng lượng-mãnh lực làm sinh động chúng.

43. It is a long time (perhaps millions of years) before there appears a stream of energy emanating from the second tier of petals—especially considering the second tier as a whole.

43. Phải mất một thời gian rất dài (có lẽ hàng triệu năm) trước khi xuất hiện một dòng năng lượng phát ra từ tầng cánh hoa thứ hai—đặc biệt khi xét tầng thứ hai như một toàn thể.

this second tier is peculiarly instinctive with the life and quality of the Manasaputra in manifestation.

tầng thứ hai này đặc biệt mang tính bản năng với sự sống và phẩm tính của Manasaputra trong biểu hiện.

44. Here we have a very interesting statement. It is through the study of the second tier of petals, especially, that the nature of the Manasaputra (or Solar Angel) associated with the man can be determined.

44. Ở đây chúng ta có một phát biểu rất thú vị. Chính qua việc nghiên cứu tầng cánh hoa thứ hai, đặc biệt là như vậy, mà bản chất của Manasaputra (hay Thái dương Thiên Thần) liên hệ với con người có thể được xác định.

45. Would we say that by such a study, we can determine the ray life of the Manasaputra?

45. Chúng ta có thể nói rằng qua một nghiên cứu như thế, chúng ta có thể xác định sự sống cung của Manasaputra chăng?

46. We seem still to be speaking of the influences which affect the knowledge petals. So far we have:

46. Dường như chúng ta vẫn đang nói về những ảnh hưởng tác động đến các cánh hoa tri thức. Cho đến nay chúng ta có:

a. Forces from the "three permanent atoms" considered as a threefold energy stream

a. Các mãnh lực từ "ba nguyên tử trường tồn" được xem như một dòng năng lượng tam phân

b. Energies arising from the second tier of petals.

b. Các năng lượng phát sinh từ tầng cánh hoa thứ hai.

The second tier of petals in any egoic lotus is the one that gives us the key to the nature of the solar Angel,

Tầng cánh hoa thứ hai trong bất kỳ Hoa Sen Chân Ngã nào là tầng cho chúng ta chìa khóa về bản chất của Thái dương Thiên Thần,

47. By “the nature of the solar Angel” is meant, apparently, the ray nature.

47. Theo nghĩa của “bản chất của Thái dương Thiên Thần” thì dường như đó là bản chất cung.

48. Apparently Solar Angels/souls on all the seven rays are revealed through the dynamics and qualities of the second tier of petals.

48. Dường như các Thái dương Thiên Thần/linh hồn trên cả bảy cung đều được bộc lộ qua động lực học và phẩm tính của tầng cánh hoa thứ hai.

49. As well, the relative status of the Solar Angel involved may be revealed. The next portion of the sentence seems to hint at this possibility.

49. Ngoài ra, địa vị tương đối của Thái dương Thiên Thần liên hệ cũng có thể được tiết lộ. Phần kế tiếp của câu dường như gợi ý khả năng này.

just as the outer tier is—to the inner vision of the Adept—a clue to the point in evolution of the personality.

cũng như vòng ngoài là—đối với linh thị bên trong của chân sư—một đầu mối về điểm tiến hoá của phàm ngã.

50. This statement could certainly be pondered with profit.

50. Mệnh đề này chắc chắn có thể được suy ngẫm một cách hữu ích.

51. We may infer that just as the condition of the outer tier gives a clue to the point of evolution of the personality, so that middle tier tells us something about the point of evolution of the particular Solar Angel Who is informing the egoic lotus.

51. Chúng ta có thể suy ra rằng cũng như tình trạng của vòng ngoài cho một đầu mối về điểm tiến hoá của phàm ngã, thì vòng giữa cho chúng ta biết điều gì đó về điểm tiến hoá của Thái dương Thiên Thần đặc thù đang thấm nhuần hoa sen chân ngã.

52. When considering the three outer petals, probably each of them is directly associated with one of the personality vehicles.

52. Khi xem xét ba cánh hoa ngoài, có lẽ mỗi cánh trong số đó được liên kết trực tiếp với một trong các vận cụ của phàm ngã.

53. Solar Angels are of various kinds. Some emanate from the Heart of the Sun. Others emanate from the Central Spiritual Sun (considered as the truly “divine nature” of the Solar Logos.) There may well be a different in their status. We may infer that just as there are nine strata of consciousness in the Fourth Creative Hierarchy, so there may well be nine strata in the Fifth Creative Hierarchy.

53. Các Thái dương Thiên Thần thuộc nhiều loại khác nhau. Một số xuất lộ từ Trái Tim Mặt Trời. Những vị khác xuất lộ từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương (được xem là “bản chất thiêng liêng” đích thực của Thái dương Thượng đế.) Rất có thể có sự khác biệt về địa vị của các vị ấy. Chúng ta có thể suy ra rằng cũng như có chín tầng tâm thức trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, thì rất có thể cũng có chín tầng trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm.

54. Perhaps, as well, there are various planetary streams on which the Solar Angels enter our planet.

54. Có lẽ, ngoài ra, còn có nhiều dòng hành tinh khác nhau mà theo đó các Thái dương Thiên Thần đi vào hành tinh chúng ta.

55. Just as there is a definite inequality of rank among the Sons of Men, why should we not presume that the same is true of Solar Angels?

55. Cũng như có một sự bất bình đẳng rõ rệt về cấp bậc giữa những người con của nhân loại, tại sao chúng ta lại không giả định rằng điều tương tự cũng đúng với các Thái dương Thiên Thần?

By looking at the egoic lotus, the seer can tell the nature of the:

Bằng cách nhìn vào hoa sen chân ngã, nhà thông nhãn có thể biết được bản chất của:

Personal self through the condition of the atomic triangle, and the outer tier of petals.

phàm ngã qua tình trạng của tam giác nguyên tử, và vòng cánh hoa ngoài.

56. The word “nature”, of course, is ambiguous. We could be dealing with either status, ray quality or something else.

56. Dĩ nhiên, từ “bản chất” là mơ hồ. Chúng ta có thể đang đề cập đến địa vị, phẩm tính cung hay điều gì khác.

57. All these six factors (six petal energies—three of them strongly influenced by the forces of the atomic triangle) are involved in the presentation of the personal self. These six factors might be considered the personal aspects of the egoic lotus.

57. Tất cả sáu yếu tố này (sáu năng lượng cánh hoa—ba trong số đó chịu ảnh hưởng mạnh của các mãnh lực từ tam giác nguyên tử) đều tham dự vào sự biểu hiện của phàm ngã. Sáu yếu tố này có thể được xem là các phương diện cá nhân của hoa sen chân ngã.

Higher Self, through the colour and arrangement of the central tier of petals.

Bản Ngã Cao Siêu, qua màu sắc và sự sắp xếp của vòng cánh hoa trung tâm.

58. Master DK hints at deep mysteries. Colour reveals quality. What can he mean by “arrangement”? Is it the interior organization of colour within each petal that is referenced?

58. Chân sư DK gợi ra những huyền nhiệm sâu xa. Màu sắc tiết lộ phẩm tính. Ngài có thể muốn nói gì qua từ “sự sắp xếp”? Có phải đó là tổ chức nội tại của màu sắc bên trong mỗi cánh hoa được nhắc đến chăng?

This tier gives the "family" of the solar Angel through the arrangement of atomic lives which form the petals, and the circulation of the streams of forces in those petals.

Vòng này cho biết “gia đình” của Thái dương Thiên Thần qua sự sắp xếp của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa, và sự lưu chuyển của các dòng mãnh lực trong những cánh hoa ấy.

59. Again, very potent hints focusing on:

59. Một lần nữa, đây là những gợi ý rất mạnh, tập trung vào:

a. The “family of solar Angels

a. “gia đình” của các Thái dương Thiên Thần

b. The particular arrangement of the atomic lives which form the petals. This arrangement is one of the factors revealing the “family”. We apparently are speaking of certain mysteries of Divine Geometry.

b. Sự sắp xếp đặc thù của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa. Sự sắp xếp này là một trong những yếu tố tiết lộ “gia đình”. Rõ ràng chúng ta đang nói đến những huyền nhiệm nhất định của Hình học Thiêng liêng.

c. The particular type of circulation of the streams of force in those petals. Apparently different flow patterns are possible.

c. Loại hình lưu chuyển đặc thù của các dòng mãnh lực trong những cánh hoa ấy. Rõ ràng có thể có những mô hình lưu động khác nhau.

60. We know very little about the manner in which Solar Angels are divided into different groups. Here, DK uses the words “family” to indicate such distinctions. Perhaps Solar Angel can be differentiated according to ray, according to maturity or level of initiation, according to the period in which individualization occurred; according to its source of emanation from the Sun; according to other planets from which it may have ventured before taking up its task on Earth, etc.

60. Chúng ta biết rất ít về cách thức các Thái dương Thiên Thần được phân chia thành những nhóm khác nhau. Ở đây, DK dùng từ “gia đình” để chỉ những phân biệt như thế. Có lẽ Thái dương Thiên Thần có thể được biến phân theo cung, theo mức trưởng thành hay cấp độ điểm đạo, theo thời kỳ mà sự biệt ngã hóa xảy ra; theo nguồn xuất lộ của nó từ Mặt Trời; theo những hành tinh khác mà nó có thể đã từng phiêu lưu qua trước khi đảm nhận nhiệm vụ trên Trái Đất, v.v.

61. Manner of division can depend on:

61. Cách thức phân chia có thể tùy thuộc vào:

a. Origin

a. Nguồn gốc

b. Status

b. Địa vị

c. Quality

c. Phẩm tính

d. Time of immersion on the higher mental plane

d. Thời điểm nhập vào Cõi thượng trí

e. Etc.

e. V.v.

62. The Solar Angels belong to a Creative Hierarchy as do human beings. If human beings can be differentiated, according to many evolutionary criteria, there is no reason to think that Solar Angels could not be. This possibility of differentiation is, it would seem, true of the members of all Creative Hierarchies.

62. Các Thái dương Thiên Thần thuộc về một Huyền Giai Sáng Tạo cũng như con người. Nếu con người có thể được biến phân theo nhiều tiêu chuẩn tiến hoá, thì không có lý do gì để nghĩ rằng các Thái dương Thiên Thần lại không thể như vậy. Khả năng biến phân này, dường như, là đúng đối với các thành viên của mọi Huyền Giai Sáng Tạo.

Monad, through the inner circle of petals; its stage of lower awareness is revealed in a similar way.

chân thần, qua vòng trong của các cánh hoa; giai đoạn nhận biết thấp của nó được tiết lộ theo cách tương tự.

63. Each circle of petals can be studied for a particular type of revelation.

63. Mỗi vòng cánh hoa có thể được nghiên cứu để có một loại mặc khải đặc thù.

64. Just as the quality and condition of the second tier were directly related to the nature of the Solar Angel, so the quality and condition of the third tier are direction related to the nature of the Monad.

64. Cũng như phẩm tính và tình trạng của vòng thứ hai liên hệ trực tiếp với bản chất của Thái dương Thiên Thần, thì phẩm tính và tình trạng của vòng thứ ba cũng liên hệ trực tiếp với bản chất của chân thần.

65. We know that the monadic ray is closely related to the mental vehicle and the three “mental petals” must be as well.

65. Chúng ta biết rằng cung chân thần liên hệ chặt chẽ với vận cụ trí tuệ và ba “cánh hoa trí tuệ” hẳn cũng như vậy.

The Monadic Ray influences the mental body, after integration of the personality has been brought about. It causes the mind nature to achieve that clear vision which finds its consummation at the fourth initiation, and releases the man from the limitations of form. There is an analogy to this triplicity and an interesting symbolic relation in the three Initiators. (EP I 406)

Cung chân thần ảnh hưởng đến thể trí, sau khi sự tích hợp của phàm ngã đã được thực hiện. Nó khiến bản chất trí tuệ đạt được linh thị minh bạch, điều đạt đến sự viên mãn ở lần điểm đạo thứ tư, và giải thoát con người khỏi những giới hạn của hình tướng. Có một sự tương đồng với bộ ba này và một mối liên hệ biểu tượng thú vị trong ba Đấng Điểm đạo. (EP I 406)

66. Perhaps the ray of the Monad can be determined particularly through a study of the sacrifice petals, related as they are to the mental vehicle.

66. Có lẽ cung của chân thần có thể được xác định đặc biệt qua việc nghiên cứu các cánh hoa hi sinh, vì chúng liên hệ với vận cụ trí tuệ.

67. It is suggested that there is a “lower awareness” of the Monad and, we may presume, a ‘higher awareness’.

67. Có ý kiến cho rằng có một “nhận biết thấp” của chân thần và, chúng ta có thể giả định, một ‘nhận biết cao’.

68. The sacrificial nature of the Monad (a “Lord of ceaseless persevering devotion”) is revealed through the sacrifice petals.

68. Bản chất hi sinh của chân thần (một “Chúa Tể của sự tận tụy kiên trì không ngừng”) được tiết lộ qua các cánh hoa hi sinh.

69. It would be of value to understand the particular manner in which the individual undertakes sacrifice. Probably there are three modes of so doing according to the three major monadic rays.

69. Sẽ rất có giá trị nếu hiểu được cách thức đặc thù mà cá nhân đảm nhận sự hi sinh. Có lẽ có ba phương thức làm như vậy tùy theo ba cung chân thần chính.

The number of the Ray concerned is known through the quality of the "light" of the concealed jewel.

Số của cung liên hệ được biết qua phẩm tính của “ánh sáng” của viên ngọc ẩn kín.

70. Here we are speaking of the light which radiates eventually through the "Jewel in the Lotus". The color of the monadic ray will thus be revealed.

70. Ở đây chúng ta đang nói về ánh sáng cuối cùng bức xạ qua “Viên Ngọc trong Hoa Sen”. Như vậy màu sắc của cung chân thần sẽ được tiết lộ.

71. Could an imaginative evaluation of the light emanating from the "Jewel in the Lotus" be a method of helping to determine the monadic ray?

71. Liệu một sự đánh giá bằng tưởng tượng về ánh sáng phát ra từ “Viên Ngọc trong Hoa Sen” có thể là một phương pháp giúp xác định cung chân thần chăng?

In all these petals, groups of lives, solar and otherwise,

Trong tất cả những cánh hoa này, các nhóm sự sống, thái dương và những loại khác,

72. DK could be saying that some lives on the higher mental plane are “otherwise” than solar. Many of these essences are (we must remember) in the dense physical body of the Solar Logos.

72. DK có thể đang nói rằng một số sự sống trên Cõi thượng trí là những loại “khác” chứ không phải thái dương. Chúng ta phải nhớ rằng nhiều tinh chất trong số này ở trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

73. The atomic lives which compose the petals are ‘other’ than solar. In fact, they are what we call elemental essence, and some of them, “monadic essence”. They are really “lunar” in their nature, belonging as they do to the dense physical body of the Solar Logos.

73. Các sự sống nguyên tử cấu thành các cánh hoa là những sự sống ‘khác’ chứ không phải thái dương. Thực ra, chúng là điều chúng ta gọi là Tinh chất hành khí, và một số trong đó là “tinh chất chân thần”. Chúng thực sự có bản chất “thái âm”, vì chúng thuộc về thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế.

are concerned, and streams of energy from them focus through the petals.

đều có liên quan, và các dòng năng lượng từ chúng hội tụ xuyên qua các cánh hoa.

74. Both solar and “lunar” lives are concerned.

74. Cả các sự sống thái dương lẫn “thái âm” đều có liên quan.

75. The petals, we see, are a meeting place for energies from the various lesser Solar Angels (those who control individual petals or entire tiers) and lunar lives concerned with the energies-forces of the atomic triangle.

75. Như chúng ta thấy, các cánh hoa là nơi gặp gỡ của các năng lượng từ nhiều Thái dương Thiên Thần nhỏ hơn khác nhau (những vị kiểm soát từng cánh hoa riêng lẻ hay toàn bộ các vòng) và các sự sống thái âm liên hệ với các năng lượng-mãnh lực của tam giác nguyên tử.

This is apparent to the man who has the key.

Điều này hiển nhiên đối với người có chìa khóa.

76. One must unlock the mystery of the "Jewel in the Lotus" and all the many streams of energies which express through it. The sources of these energies must be revealed and it may be presumed that the monadic nature of the "Jewel in the Lotus" holds the key to identifying the energies-forces concerned.

76. Người ta phải mở khóa huyền nhiệm của “Viên Ngọc trong Hoa Sen” và tất cả nhiều dòng năng lượng biểu lộ qua nó. Các nguồn của những năng lượng này phải được tiết lộ, và có thể giả định rằng bản chất chân thần của “Viên Ngọc trong Hoa Sen” nắm giữ chìa khóa để nhận diện các năng lượng-mãnh lực liên hệ.

77. DK could also be telling us of “keynotes” related to that colour of light which emanates from the "Jewel in the Lotus".

77. DK cũng có thể đang nói với chúng ta về những “chủ âm” liên hệ với màu sắc ánh sáng phát ra từ “Viên Ngọc trong Hoa Sen”.

78. We may infer that the note of the "Jewel in the Lotus" is the keynote for the entire egoic lotus and all its parts.

78. Chúng ta có thể suy ra rằng âm điệu của “Viên Ngọc trong Hoa Sen” là chủ âm cho toàn bộ hoa sen chân ngã và mọi phần của nó.

79. Yet as DK now describes, we are not only dealing with sound (when we read the word “key” we must think of sound) but with symbol.

79. Tuy nhiên, như DK nay mô tả, chúng ta không chỉ đề cập đến âm thanh (khi đọc từ “key”, chúng ta phải nghĩ đến âm thanh) mà còn đến biểu tượng.

It is a curious fact that the streams of force which form the petals and [Page 1112] which are in constant flux produce apparently "key symbols" within the periphery of the egoic wheel, and thus reveal themselves through their activity.

Đó là một sự kiện kỳ lạ rằng các dòng mãnh lực tạo thành các cánh hoa và [Page 1112] đang trong trạng thái lưu biến không ngừng rõ ràng tạo ra những “biểu tượng chìa khóa” bên trong chu vi của bánh xe chân ngã, và do đó tự tiết lộ qua hoạt động của chúng.

80. We are speaking of the revelations of the ‘Book of Nature’.

80. Chúng ta đang nói về những mặc khải của ‘Cuốn Sách của Bản Chất’.

81. We often see such symbols drawn in Sanskrit within representations of the chakras. Such symbols, then, are not simply signs but are true embodiments of the energy streams they symbolize.

81. Chúng ta thường thấy những biểu tượng như thế được vẽ bằng tiếng Phạn trong các hình biểu hiện của các luân xa. Như vậy, những biểu tượng ấy không chỉ đơn thuần là dấu hiệu mà là những hiện thân đích thực của các dòng năng lượng mà chúng tượng trưng.

82. We are constantly in the midst of flowing energy streams. These streams must be recognized and mastered.

82. Chúng ta luôn luôn ở giữa những dòng năng lượng đang lưu động. Những dòng này phải được nhận biết và làm chủ.

83. Now we are in a position to learn more about the following:

83. Giờ đây chúng ta ở vào vị thế có thể học thêm về điều sau đây:

This tier gives the "family" of the solar Angel through the arrangement of atomic lives which form the petals, and the circulation of the streams of forces in those petals.

Vòng này cho biết “gia đình” của Thái dương Thiên Thần qua sự sắp xếp của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa, và sự lưu chuyển của các dòng mãnh lực trong những cánh hoa ấy.

84. We learning that the circulation of the streams and forces in the petals produces certain symbols and that these symbols are what we might call ‘key-symbols’ which reveal the nature of the various parts of the egoic lotus and the various type of beings who express through the egoic lotus.

84. Chúng ta đang học rằng sự lưu chuyển của các dòng và mãnh lực trong các cánh hoa tạo ra những biểu tượng nhất định, và những biểu tượng này là điều chúng ta có thể gọi là ‘biểu tượng chìa khóa’, tiết lộ bản chất của các phần khác nhau của hoa sen chân ngã và các loại hữu thể khác nhau biểu lộ qua hoa sen chân ngã.

85. We see that the Master need not guess at the nature of the Solar Angel and Monad Who are informing or working through the egoic lotus. He can simply see their natures through the revelations afforded him by ‘key-symbols’.

85. Chúng ta thấy rằng Chân sư không cần phải phỏng đoán về bản chất của Thái dương Thiên Thần và chân thần đang thấm nhuần hay hoạt động qua hoa sen chân ngã. Ngài chỉ cần thấy bản chất của các vị ấy qua những mặc khải mà ‘các biểu tượng chìa khóa’ đem lại cho Ngài.

c. A third type of energy

c. Một loại năng lượng thứ ba

86. We are now speaking of a third stream of energy following upon the threefold stream from the atomic triangle and the stream from the second tier of petals.

86. Giờ đây chúng ta đang nói đến một dòng năng lượng thứ ba tiếp theo sau dòng tam phân từ tam giác nguyên tử và dòng từ vòng cánh hoa thứ hai.

is that which—at the close of evolution—makes itself felt through the inner circle of petals, and which is the result of an inflow of monadic force, or atma.

là loại năng lượng—vào lúc kết thúc tiến hoá—tự làm cho mình được cảm nhận qua vòng trong của các cánh hoa, và là kết quả của một sự tuôn vào của mãnh lực chân thần, hay atma.

87. We must be cautious regarding the interpretation of the term “inner circle”. Sometimes it can mean the sacrifice petals and sometimes the synthesis petals.

87. Chúng ta phải thận trọng khi diễn giải thuật ngữ “vòng trong”. Đôi khi nó có thể có nghĩa là các cánh hoa hi sinh và đôi khi là các cánh hoa tổng hợp.

88. Perhaps it would be better if the term ‘inmost circle of petals’ were used to indicate the synthesis petals.

88. Có lẽ sẽ tốt hơn nếu dùng thuật ngữ ‘vòng cánh hoa trong cùng’ để chỉ các cánh hoa tổng hợp.

89. We see three possible types of revelation of the Monad. It Monad reveals itself through the sacrifice petals, through the light of the Jewel and, now as well (if we are justified in saying so), through the synthesis petals—the “inner circle of petals” considered to be intimately related to the "Jewel in the Lotus".

89. Chúng ta thấy ba loại mặc khải khả dĩ của chân thần. Chân thần tự tiết lộ qua các cánh hoa hi sinh, qua ánh sáng của Viên Ngọc, và giờ đây thêm nữa (nếu chúng ta có cơ sở để nói như vậy), qua các cánh hoa tổng hợp—“vòng cánh hoa trong” được xem là liên hệ mật thiết với “Viên Ngọc trong Hoa Sen”.

90. Is the Tibetan referring, however, to the unfoldment of the synthesis petals surrounding the "Jewel in the Lotus" or is He still dealing with the sacrifice petals as the “inner circle” of petals? One could read it either ways, except that point “d.” seems to indicate that He is still confining Himself to the three sacrifice petals.

90. Tuy nhiên, Chân sư Tây Tạng đang nói đến sự khai mở của các cánh hoa tổng hợp bao quanh “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, hay Ngài vẫn đang đề cập đến các cánh hoa hi sinh như là “vòng trong” của các cánh hoa? Người ta có thể đọc theo cả hai cách, ngoại trừ điểm “d.” dường như cho thấy rằng Ngài vẫn còn giới hạn chính mình vào ba cánh hoa hi sinh.

91. If this is the case, may we think that it is the third aspect of the Monad which is principally concerned with expression through the sacrifice petals.

91. Nếu đúng như vậy, liệu chúng ta có thể nghĩ rằng chính phương diện thứ ba của chân thần là phương diện chủ yếu liên hệ với sự biểu lộ qua các cánh hoa hi sinh hay không.

92. There are also two monadic rays—a major ray and a subray on the monadic plane. Through which aspects of the egoic lotus do these two rays express?

92. Ngoài ra còn có hai cung chân thần—một cung chính và một cung phụ trên cõi chân thần. Hai cung này biểu lộ qua những phương diện nào của hoa sen chân ngã?

93. Is it possible that the activity aspect of the Monad expresses through the sacrifice petals; that the wisdom aspect through the synthesis petals and that the will aspect of the Monad through the "Jewel in the Lotus" itself?

93. Có thể nào phương diện hoạt động của chân thần biểu lộ qua các cánh hoa hi sinh; phương diện minh triết qua các cánh hoa tổng hợp; và phương diện ý chí của chân thần qua chính “Viên Ngọc trong Hoa Sen” hay không?

94. It is interesting to hear monadic force called “atma”. Atma is surely an aspect of monadic force but we might say that buddhi is as well and manas also.

94. Thật thú vị khi nghe mãnh lực chân thần được gọi là “atma”. Atma chắc chắn là một phương diện của mãnh lực chân thần, nhưng chúng ta cũng có thể nói rằng Bồ đề cũng vậy và manas cũng vậy.

95. It would seem that the innermost group of petals is particularly associated with buddhi and the "Jewel in the Lotus", particularly with atma.

95. Dường như nhóm cánh hoa trong cùng đặc biệt liên hệ với Bồ đề và “Viên Ngọc trong Hoa Sen” đặc biệt liên hệ với atma.

96. From another perspective, however, atma may related to the sacrifice petals; the energies of the monadic plane to the synthesis petals; and the core of the Monad (which we might consider a resident of the logoic plane) to the "Jewel in the Lotus".

96. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, atma có thể liên hệ với các cánh hoa hi sinh; các năng lượng của cõi chân thần với các cánh hoa tổng hợp; và cốt lõi của chân thần (mà chúng ta có thể xem là một cư dân của cõi logoic) với “Viên Ngọc trong Hoa Sen”.

d. Finally, therefore, when the petals are unfolded they are therefore transmitters of life or energy from three sources:

d. Cuối cùng, do đó, khi các cánh hoa được khai mở, chúng trở thành những bộ truyền dẫn sự sống hay năng lượng từ ba nguồn:

1. The lower self … Lunar Pitri Knowledge petals.

1. phàm ngã … thái âm tổ phụ các cánh hoa tri thức.

2. Ego................. Solar Angel Love petals.

2. Chân ngã................. Thái dương Thiên Thần các cánh hoa bác ái.

3. Monad.......... Father in Heaven Sacrifice petals.

3. chân thần.......... Cha trên Trời các cánh hoa hi sinh.

97. One wonders, since a distinct devic being (i.e., a “lunar pitri” and a “Solar Angel”) is associated with the lower self and the Ego, whether another type of devic Being might not also associated with the monadic level. Perhaps such a Being might be drawn from the Creative Hierarchy of Divine Builders (the “Burning Sons of Desire”) focusing on the monadic plane.

97. Người ta tự hỏi, vì một hữu thể thiên thần riêng biệt (tức là một “thái âm tổ phụ” và một “Thái dương Thiên Thần”) được liên kết với phàm ngã và Chân ngã, liệu một loại Hữu thể thiên thần khác cũng có thể được liên kết với cấp độ chân thần hay không. Có lẽ một Hữu thể như thế có thể được rút ra từ Huyền Giai Sáng Tạo của các Đấng Kiến Tạo Thiêng liêng (các “Người Con Rực Cháy của Dục Vọng”) hội tụ trên cõi chân thần.

98. Such a hypothesis would suggest that a Solar Angel would find its truer home on triadal levels.

98. Giả thuyết như vậy sẽ gợi ý rằng một Thái dương Thiên Thần sẽ tìm thấy quê hương chân thực hơn của mình trên các cấp độ tam nguyên tinh thần.

It then becomes possible for a still higher form of energy to be felt, that which is the energy of the centre of the body of the Heavenly Man or planetary Logos, and which uses the "Jewel in the Lotus" as its focal point.

Khi đó, một hình thức năng lượng còn cao hơn nữa trở nên có thể được cảm nhận, đó là năng lượng của trung tâm trong thân thể của Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng Đế, và sử dụng “Viên Ngọc trong Hoa Sen” như điểm hội tụ của nó.

99. We have a really amazing statement here, shedding light upon an unsuspected function of the "Jewel in the Lotus"—it serves as a focal point for energy from one of the centres in the body of the Heavenly Man.

99. Ở đây chúng ta có một mệnh đề thật sự đáng kinh ngạc, soi sáng một chức năng chưa từng được ngờ tới của “Viên Ngọc trong Hoa Sen”—nó phục vụ như một điểm hội tụ cho năng lượng từ một trong các trung tâm trong thân thể của Đấng Thiên Nhân.

100. Some such source centers might be purely cosmic etheric and found upon the systemic manasic, buddhic and atmic planes, but in a higher sense, some such centers could in fact be monadic—seven of them found upon the monadic plane. After all, what are the centers within a Planetary Logos? Are there not many of them and found on all planes of the cosmic physical plane?

100. Một số trung tâm nguồn như thế có thể thuần túy là dĩ thái vũ trụ và được tìm thấy trên các cõi manas, Bồ đề và atma của hệ thống, nhưng theo một ý nghĩa cao hơn, một số trung tâm như thế thực ra có thể là chân thần—bảy trung tâm trong số đó được tìm thấy trên cõi chân thần. Rốt cuộc, các trung tâm bên trong một Hành Tinh Thượng Đế là gì? Chẳng phải có rất nhiều trung tâm như thế và được tìm thấy trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ hay sao?

101. From this perspective, the "Jewel in the Lotus", through the quality of its light, could be expressing energy from a monadic centre within the Heavenly Man.

101. Từ góc nhìn này, “Viên Ngọc trong Hoa Sen”, qua phẩm tính ánh sáng của nó, có thể đang biểu lộ năng lượng từ một trung tâm chân thần bên trong Đấng Thiên Nhân.

102. We could infer then that human beings on a given monadic ray would belong to a particular center in a Heavenly Man.

102. Khi đó, chúng ta có thể suy ra rằng những con người thuộc một cung chân thần nhất định sẽ thuộc về một trung tâm đặc thù trong một Đấng Thiên Nhân.

103. However, membership in such a center might depend not only on the monadic ray but on the degree of evolution of the Monad in question.

103. Tuy nhiên, tư cách thành viên trong một trung tâm như thế có thể không chỉ tùy thuộc vào cung chân thần mà còn vào mức độ tiến hoá của chân thần đang được xét.

In this summation, we have dealt with the main types of energy manifesting in the egoic or causal body.

Trong phần tổng kết này, chúng ta đã đề cập đến các loại năng lượng chính biểu hiện trong thể chân ngã hay thể nguyên nhân.

104. These types of energy come from the atomic triangle, from the level of the Ego itself, and from the Monad situation on planes higher than the egoic subplanes.

104. Những loại năng lượng này đến từ tam giác nguyên tử, từ cấp độ của chính Chân ngã, và từ chân thần ở trên các cõi phụ chân ngã.

105. The egoic lotus is certainly not simply an impervious, self-contained unit of energy. It is ‘fed’ from many sources, and when these sources are understood, the simulation can be augmented.

105. Hoa sen chân ngã chắc chắn không chỉ đơn giản là một đơn vị năng lượng khép kín, không thấm nhập. Nó được ‘nuôi dưỡng’ từ nhiều nguồn, và khi những nguồn này được hiểu rõ, sự mô phỏng có thể được tăng cường.

Certain other influences must likewise be considered in connection with the outer tier of petals.

Một số ảnh hưởng khác cũng phải được xem xét liên hệ với vòng cánh hoa ngoài.

106. DK tries to give us as complete a picture as possible of “energy streams”.

106. DK cố gắng đem đến cho chúng ta một bức tranh đầy đủ nhất có thể về “các dòng năng lượng”.

107. If we think of those words—“energy streams”—we will have in mind a very important picture of the reality underlying the outer form.

107. Nếu chúng ta nghĩ đến những từ ấy—“các dòng năng lượng”—chúng ta sẽ có trong tâm trí một hình ảnh rất quan trọng về thực tại nằm bên dưới hình tướng bên ngoài.

108. We began this discussion by speaking of sources of energy which influenced the outer tier of petals. During the process of discussion, however, DK seemed to focus on sources of energy working not only through the outer tier, but through the middle and inner tiers.

108. Chúng ta đã bắt đầu cuộc thảo luận này bằng cách nói về các nguồn năng lượng ảnh hưởng đến vòng cánh hoa ngoài. Tuy nhiên, trong tiến trình thảo luận, DK dường như tập trung vào các nguồn năng lượng hoạt động không chỉ qua vòng ngoài mà còn qua các vòng giữa và trong.

e. There is the energy reaching directly to the knowledge petals from the manasic permanent atom.

e. Có năng lượng đi trực tiếp đến các cánh hoa tri thức từ nguyên tử trường tồn manas.

109. DK has discussed three sources in relation to the knowledge petals (but also in relation to the love and sacrifice petals)—the threefold energy-stream from the atomic triangle; the energy stream manifesting through the second or love tier; the energy-stream emanating from the Monad.

109. DK đã bàn đến ba nguồn liên hệ với các cánh hoa tri thức (nhưng cũng liên hệ với các cánh hoa bác ái và hi sinh)—dòng năng lượng tam phân từ tam giác nguyên tử; dòng năng lượng biểu hiện qua vòng thứ hai hay vòng bác ái; dòng năng lượng phát ra từ chân thần.

110. DK focussed the two higher energy-streams through the second and inner tier respectively, but still seems to be suggesting that these higher energy-streams still have a relation to the outer of knowledge tier.

110. DK đã hội tụ hai dòng năng lượng cao hơn qua vòng thứ hai và vòng trong tương ứng, nhưng dường như vẫn đang gợi ý rằng những dòng năng lượng cao hơn này vẫn có liên hệ với vòng ngoài hay vòng tri thức.

111. Now He speaks of the spiritual triad as source of energy-streams. Charts VIII and IX in TCF reveal this relationship.

111. Giờ đây Ngài nói đến Tam Nguyên Tinh Thần như là nguồn của các dòng năng lượng. Biểu đồ VIII và IX trong Luận về Lửa Vũ Trụ cho thấy mối liên hệ này.

The permanent atoms of the Spiritual Triad, as well as the bodies which are built around them,

Các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần, cũng như các thể được xây dựng quanh chúng,

112. From what point in the evolution process are such bodies actually built. Do they exist from the outset or are they built only later. Certainly they are “coordinated” only later.

112. Từ điểm nào trong tiến trình tiến hoá mà những thể như thế thực sự được xây dựng? Chúng có tồn tại ngay từ đầu hay chỉ được xây dựng về sau? Chắc chắn chúng chỉ được “phối hợp” về sau mà thôi.

bring in certain groups of deva lives which have not as yet been much considered.

đưa vào một số nhóm sự sống thiên thần nhất định mà cho đến nay chưa được xem xét nhiều.

113. One can, therefore, presume that the higher permanent atoms are an important source of energy streams into the egoic lotus.

113. Do đó, người ta có thể giả định rằng các nguyên tử trường tồn cao là một nguồn quan trọng của các dòng năng lượng đi vào hoa sen chân ngã.

114. Of what nature are the deva lives here mentioned and how are they related to the Creative Hierarchies which express upon the buddhic and atmic planes.

114. Các sự sống thiên thần được nhắc đến ở đây có bản chất gì, và chúng liên hệ thế nào với các Huyền Giai Sáng Tạo biểu lộ trên các cõi Bồ đề và atma.

115. We will continue this exploration in the next commentary.

115. Chúng ta sẽ tiếp tục cuộc khảo sát này trong phần bình luận kế tiếp.

S9S4 Part II

TCF 1112-1116

TCF 1112-1116

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục mạch văn. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

The permanent atoms of the Spiritual Triad, as well as the bodies which are built around them,

Các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần, cũng như các thể được xây dựng quanh chúng,

1. From what point in the evolutionary process are such bodies actually built? Do they exist from the outset when the permanent atoms around which they are organized are chosen by the Monad, or are they built only later? Certainly they are “coordinated” only later.

1. Từ điểm nào trong tiến trình tiến hoá mà những thể như thế thực sự được xây dựng? Chúng có tồn tại ngay từ đầu, khi các nguyên tử trường tồn mà quanh đó chúng được tổ chức được chân thần chọn lựa, hay chúng chỉ được xây dựng về sau? Chắc chắn chúng chỉ được “phối hợp” về sau mà thôi.

bring in certain groups of deva lives which have not as yet been much considered.

đưa vào một số nhóm sự sống thiên thần nhất định mà cho đến nay chưa được xem xét nhiều.

2. One can, therefore, presume that the higher permanent atoms are an important source of energy streams into the egoic lotus.

2. Do đó, người ta có thể giả định rằng các nguyên tử trường tồn cao là một nguồn quan trọng của các dòng năng lượng đi vào hoa sen chân ngã.

3. Of what nature are the deva lives here mentioned and how are they related to the Creative Hierarchies which express upon the buddhic and atmic planes?

3. Các sự sống thiên thần được nhắc đến ở đây có bản chất gì, và chúng liên hệ thế nào với các Huyền Giai Sáng Tạo biểu lộ trên các cõi Bồ đề và atma?

4. We will continue the exploration we began in the previous commentary.

4. Chúng ta sẽ tiếp tục cuộc khảo sát mà chúng ta đã bắt đầu trong phần bình luận trước.

They are not the lunar pitris, as that term is commonly understood, but have a direct connection with what is called "the cosmic moon" or to that dying solar system which has the same relation to our system as the moon has to the earth chain.

Chúng không phải là các thái âm tổ phụ, theo cách thuật ngữ đó thường được hiểu, mà có một liên hệ trực tiếp với điều được gọi là “mặt trăng vũ trụ” hay với hệ mặt trời đang chết có cùng mối liên hệ với hệ thống chúng ta như Mặt Trăng có với Dãy Địa Cầu.

5. We are into some fascinating occultism here. The high substantial lives upon triadal levels are not lunar pitris but do carry a vibration analogous to the ‘lunar’ vibration. They are related to a dying solar system or “cosmic moon”. DK draws the analogy to our Moon which is apparently part of the Earth-scheme.

5. Ở đây chúng ta đang đi vào một số huyền bí học thật hấp dẫn. Các sự sống chất liệu cao trên các cấp độ tam nguyên tinh thần không phải là thái âm tổ phụ, nhưng quả thật mang một rung động tương tự với rung động “thái âm”. Chúng có liên hệ với một hệ mặt trời đang chết hay “mặt trăng vũ trụ”. Chân sư DK nêu phép loại suy với Mặt Trăng của chúng ta, vốn dường như là một phần của hệ hành tinh Trái Đất.

6. From one perspective, we can wonder whether this “cosmic moon” is a type of burnt-out Sun, the vestige of that which served as a Sun in the previous solar system.

6. Từ một góc nhìn, chúng ta có thể tự hỏi liệu “mặt trăng vũ trụ” này có phải là một loại Mặt Trời đã tắt lịm, là di tích của cái đã từng phục vụ như một Mặt Trời trong hệ mặt trời trước hay không.

7. If the cosmic moon under discussion has the same relation to our present solar system as our Moon has to the Earth-scheme, then it is a deleterious, retrogressive influence.

7. Nếu mặt trăng vũ trụ đang được bàn đến có cùng mối liên hệ với hệ mặt trời hiện tại của chúng ta như Mặt Trăng của chúng ta có với hệ hành tinh Trái Đất, thì nó là một ảnh hưởng có hại và thoái hóa.

8. We have to determine to what extent this previous solar system is dying. Apparently there are some residual lives still living within it.

8. Chúng ta phải xác định xem hệ mặt trời trước này đang chết đến mức nào. Dường như vẫn còn một số sự sống dư tồn đang sống bên trong nó.

9. Perhaps the Monad did not play a very important part in the previous solar system. Perhaps the triadal lives represented the heights of attainment.

9. Có lẽ chân thần đã không đóng một vai trò thật quan trọng trong hệ mặt trời trước. Có lẽ các sự sống tam nguyên tinh thần tượng trưng cho những đỉnh cao thành tựu.

10. In any case, because these deva lives are located on triadal levels, they cannot be considered as primitive as the lunar lives who express within the lower three worlds.

10. Dù sao đi nữa, vì các sự sống thiên thần này tọa lạc trên các cấp độ tam nguyên tinh thần, chúng không thể bị xem là nguyên thủy như các sự sống thái âm, vốn biểu lộ trong ba cõi thấp.

This "cosmic [Page 1113] moon" transmits its energy to the manasic atomic subplane, via the planet Saturn.

Mặt trăng vũ trụ [Page 1113] này” truyền năng lượng của nó đến cõi phụ nguyên tử manas, qua hành tinh Sao Thổ.

11. This is so incredibly important. The “cosmic moon” still has energy, it seems, and is still active. Our own Moon has no true radiation of its own, we are told, but this does not seem to be the case for the “cosmic moon”.

11. Điều này vô cùng quan trọng. Có vẻ như “mặt trăng vũ trụ” vẫn còn năng lượng và vẫn còn hoạt động. Chúng ta được bảo rằng chính Mặt Trăng của chúng ta không có bức xạ đích thực nào của riêng nó, nhưng dường như điều này không đúng đối với “mặt trăng vũ trụ”.

“Another point which should here be noted is that the influence of the moon is purely symbolic in nature and in effect and is simply the result of ancient thought and teaching (descended to us from Lemurian times) and is not based upon any true radiation or influence. In those far off times, antedating even Lemuria and constituting in Lemurian days simply an ancient tradition, the moon appeared to be a living vital entity. But I would have you bear definitely in mind that today the moon is nothing more than a dead form. It has no emanation and no radiation of any kind and, therefore, has no effect of any kind. The moon, from the angle of the esoteric knower, is simply an obstruction in space—an undesirable form which must some day disappear. In esoteric astrology, the effect of the moon is noted as a thought effect and as the result of a powerful and most ancient thoughtform; nevertheless, the moon has no quality of her own and can transmit nothing to the Earth. Let me reiterate: The moon is a dead form; it has no emanation at all. That is why the moon is spoken of in the ancient teaching as "veiling either Vulcan or Uranus." This hint or inference has always been here and astrologers would do well to experiment with this suggestion I have made anent the moon and (instead of working with the moon) let them work with Vulcan when dealing with the undeveloped or average man and with Uranus when considering the highly developed man. They would find some interesting and convincing results eventuate”. (EA 13)

“Một điểm khác cần được lưu ý ở đây là ảnh hưởng của mặt trăng thuần túy có tính biểu tượng về bản chất và về hiệu quả, và chỉ đơn giản là kết quả của tư tưởng và giáo huấn cổ xưa (truyền lại cho chúng ta từ thời Lemuria), chứ không dựa trên bất kỳ bức xạ hay ảnh hưởng thực sự nào. Trong những thời kỳ xa xưa ấy, còn trước cả Lemuria và trong thời Lemuria chỉ cấu thành một truyền thống cổ xưa, mặt trăng dường như là một thực thể sống đầy sinh lực. Nhưng tôi muốn các bạn ghi nhớ dứt khoát rằng ngày nay mặt trăng không là gì khác hơn một hình tướng chết. Nó không có phát xạ và không có bức xạ dưới bất kỳ loại nào, và vì thế không có bất kỳ hiệu quả nào. Mặt trăng, xét từ góc độ của thức giả huyền bí, chỉ đơn giản là một chướng ngại trong không gian—một hình tướng không mong muốn mà một ngày nào đó phải biến mất. Trong chiêm tinh học nội môn, hiệu quả của mặt trăng được ghi nhận như một hiệu quả tư tưởng và như kết quả của một hình tư tưởng rất mạnh mẽ và cực kỳ cổ xưa; tuy nhiên, mặt trăng không có phẩm tính nào của riêng nó và không thể truyền gì đến Trái Đất. Hãy để tôi nhắc lại: Mặt trăng là một hình tướng chết; nó hoàn toàn không có phát xạ. Đó là lý do vì sao trong giáo huấn cổ xưa người ta nói rằng mặt trăng “che giấu hoặc Vulcan hoặc Uranus”. Gợi ý hay hàm ý này luôn luôn hiện diện ở đây, và các nhà chiêm tinh sẽ làm tốt nếu thử nghiệm với gợi ý tôi đã đưa ra liên quan đến mặt trăng và (thay vì làm việc với mặt trăng) hãy để họ làm việc với Vulcan khi đề cập đến con người chưa phát triển hay trung bình và với Uranus khi xem xét con người phát triển cao. Họ sẽ thấy xuất hiện một số kết quả thú vị và đầy sức thuyết phục”. (EA 13)

12. The influences under discussion are not negligible in the life of man because the first (higher) anchor of the antahkarana (the manasic permanent atom) is under stimulation from both the “cosmic moon” and Saturn.

12. Các ảnh hưởng đang được bàn đến không thể xem nhẹ trong đời sống con người, bởi vì điểm neo đầu tiên (cao hơn) của antahkarana (nguyên tử trường tồn manas) đang chịu sự kích thích từ cả “mặt trăng vũ trụ” lẫn Sao Thổ.

13. When thinking of the manasic permanent atom we must always think of its connection to the planet Saturn. As well, Saturn has a connection to the atmic plane and to the atmic permanent atom.

13. Khi nghĩ đến nguyên tử trường tồn manas, chúng ta phải luôn nghĩ đến mối liên hệ của nó với hành tinh Sao Thổ. Ngoài ra, Sao Thổ cũng có một liên hệ với cõi atma và với nguyên tử trường tồn atma.

14. When considering Saturn and Uranus, it is always difficult to determine whether Uranus or Saturn should be related to the manasic permanent atom or the atmic permanent atom. It would seem that, to an extent, it is right to relate both planets to each of these permanent atoms.

14. Khi xem xét Sao Thổ và Uranus, luôn luôn khó xác định liệu Uranus hay Sao Thổ nên được liên hệ với nguyên tử trường tồn manas hay nguyên tử trường tồn atma. Dường như, ở một mức độ nào đó, việc liên hệ cả hai hành tinh với mỗi nguyên tử trường tồn này là đúng.

It is a triple energy and there is an esoteric connection between this triple energy, and Saturn's rings.

Đó là một năng lượng tam phân và có một mối liên hệ huyền bí giữa năng lượng tam phân này và các vành đai của Sao Thổ.

15. Saturn receives a triple energy from the “cosmic moon”. The rings of Saturn, considered the symbol of limitation, are related to this triple ancient energy. Saturn, too, is a planet always deeply associated with the number three— and its monadic ray (as well perhaps as its soul ray) is the third.

15. Sao Thổ tiếp nhận một năng lượng tam phân từ “mặt trăng vũ trụ”. Các vành đai của Sao Thổ, được xem là biểu tượng của sự giới hạn, có liên hệ với năng lượng cổ xưa tam phân này. Sao Thổ cũng là một hành tinh luôn gắn bó sâu sắc với con số ba—và cung chân thần của nó (cũng như có lẽ cả cung linh hồn của nó) là cung ba.

16. We might consider the influence of the “cosmic moon” as one of the channels for the third ray into our solar system.

16. Chúng ta có thể xem ảnh hưởng của “mặt trăng vũ trụ” như một trong những kênh dẫn của cung ba đi vào hệ mặt trời của chúng ta.

17. It is interesting that astronomy may be in the process of discovering more than three rings to Saturn.

17. Điều thú vị là thiên văn học có thể đang trong tiến trình khám phá nhiều hơn ba vành đai quanh Sao Thổ.

Saturn is best known for its elaborate ring system. They're made of icy particles orbiting the planet. The rings have distinct divisions, and astronomers have separate designations for each of Saturn's rings. But how many rings does Saturn have?

Sao Thổ được biết đến nhiều nhất nhờ hệ thống vành đai phức tạp của nó. Chúng được tạo thành từ các hạt băng quay quanh hành tinh. Các vành đai có những sự phân chia rõ rệt, và các nhà thiên văn có những ký hiệu riêng cho từng vành đai của Sao Thổ. Nhưng Sao Thổ có bao nhiêu vành đai?

The question is actually impossible to answer. Saturn has more than a dozen rings and gaps within the rings – and more are being discovered by spacecraft like NASA's Cassini. But the planet does have several major ring systems and gaps within them.

Câu hỏi này thật ra không thể trả lời dứt khoát. Sao Thổ có hơn một tá vành đai và các khoảng trống bên trong các vành đai—và còn nhiều cái nữa đang được các phi thuyền như Cassini của NASA khám phá. Nhưng hành tinh này quả thật có một số hệ vành đai chính và các khoảng trống bên trong chúng.

The two densest parts of the rings are the A and B rings, separated by the Cassini Division, and then the C Ring. So, is that 3 rings, or 4? Whatever the case, these comprise Saturn's main rings.

Hai phần dày đặc nhất của các vành đai là vành A và vành B, được ngăn cách bởi Khe Cassini, rồi đến vành C. Vậy đó là 3 vành đai hay 4? Dù thế nào đi nữa, chúng cấu thành các vành đai chính của Sao Thổ.

After the 3 main rings, you have the smaller, dusty rings: the D Ring, G Ring, E Ring, and others beyond that. There's also the F Ring, which is just outside the A Ring.

Sau 3 vành đai chính, bạn có các vành đai nhỏ hơn, đầy bụi: vành D, vành G, vành E, và những vành khác nữa ở xa hơn. Cũng có vành F, nằm ngay bên ngoài vành A.

That's 3 main rings and 5 dusty rings for a total of 8 rings, 9 if you count the Cassini Division.

Như vậy là 3 vành đai chính và 5 vành đai bụi, tổng cộng là 8 vành đai, hoặc 9 nếu tính cả Khe Cassini.

But there are even more rings around Saturn. There's the Janus Ring, the Methone Ring Arc, the Anthe Ring Arc and the Pallene Ring, as well as the Roche Division. 4 more rings and another division.

Nhưng quanh Sao Thổ còn có nhiều vành đai hơn nữa. Có vành Janus, Cung Vành Methone, Cung Vành Anthe và vành Pallene, cũng như Phân khu Roche. Thêm 4 vành đai nữa và một phân khu nữa.

That brings us to 12 rings and 2 divisions.

Như vậy tổng cộng là 12 vành đai và 2 phân khu.

But then there are also smaller divisions and gaps within the various rings that would bring the total to more than 30 (the Encke Gap, the Huygens Gap, the Dawes Gap, and many more).

Nhưng rồi cũng còn có những phân khu và khoảng trống nhỏ hơn bên trong các vành đai khác nhau, khiến tổng số tăng lên hơn 30 (Khe Encke, Khe Huygens, Khe Dawes, và nhiều nữa).

To answer the question, how many rings does Saturn have, you really need to find out how closely you're looking. From what you might be able to see, there are 3 rings. With powerful telescopes, you can make out 8 rings. And with spacecraft like Cassini orbiting Saturn, that total rises above 30.

Để trả lời câu hỏi Sao Thổ có bao nhiêu vành đai, bạn thật sự cần biết mình đang quan sát kỹ đến mức nào. Theo những gì bạn có thể thấy, có 3 vành đai. Với những kính thiên văn mạnh, bạn có thể phân biệt được 8 vành đai. Và với các phi thuyền như Cassini quay quanh Sao Thổ, tổng số ấy tăng lên trên 30.

Written by Fraser Cain

Viết bởi Fraser Cain

18. The connection here discussed is, however, “esoteric”. Perhaps we will not be incorrect if we imagine that the principle of limitation which Saturn often represents is related to this ancient energy and its rings.

18. Tuy nhiên, mối liên hệ được bàn đến ở đây là “huyền bí”. Có lẽ chúng ta sẽ không sai nếu hình dung rằng nguyên lý giới hạn mà Sao Thổ thường tượng trưng có liên hệ với năng lượng cổ xưa này và các vành đai của nó.

19. We must ask, however, whether the triple energy of this ancient “cosmic moon” is related to the planet Saturn per se, or to the perhaps more ancient material gathered around the planet in the form of rings.

19. Tuy nhiên, chúng ta phải hỏi liệu năng lượng tam phân của “mặt trăng vũ trụ” cổ xưa này có liên hệ với chính hành tinh Sao Thổ, hay với chất liệu có lẽ còn cổ xưa hơn đang tụ tập quanh hành tinh dưới hình thức các vành đai.

The old Commentary expresses this truth about an interesting group of sons of manas as follows:

Cổ Luận diễn tả chân lý này về một nhóm những con của manas thú vị như sau:

"These Sons of mind clung to the old and dying form, and refused to leave their Mother.

"Những Con của Trí Tuệ này bám chặt vào hình tướng cũ đang chết, và từ chối rời bỏ Mẹ của mình.

20. Who are these “Sons of mind”? It is far from entirely clear. If they are “brothers” of Saturn (as we will later see), they could well be Planetary Logoi of a lesser kind. Or they could be lesser forms of life such a human beings.

20. Những “Con của Trí Tuệ” này là ai? Điều đó hoàn toàn không rõ ràng. Nếu họ là những “huynh đệ” của Sao Thổ (như chúng ta sẽ thấy về sau), họ rất có thể là các Hành Tinh Thượng Đế thuộc loại thấp hơn. Hoặc họ có thể là những hình thức sự sống thấp hơn như con người.

21. From the Old Commentary, we consider the immediately previous solar system to be a “Mother” system. Through its third ray, Saturn is closely related to the “Mother aspect” but through its first ray, to the “Father aspect”.

21. Từ Cổ Luận, chúng ta xem hệ mặt trời ngay trước đó là một hệ “Mẹ”. Qua cung ba của mình, Sao Thổ có liên hệ mật thiết với “phương diện Mẹ”, nhưng qua cung một của nó, với “phương diện Cha”.

They chose to pass into dissolution with her

Họ đã chọn đi vào sự tan rã cùng với Mẹ.

22. Because they “chose” these “Sons of Mind” or “brothers” of Saturn were certainly self-conscious.

22. Bởi vì họ “đã chọn”, những “Con của Trí Tuệ” hay những “huynh đệ” của Sao Thổ này chắc chắn là có ngã thức.

23. Such a choice would have represented a major solar systemic retrogression.

23. Một sự lựa chọn như thế hẳn đã tượng trưng cho một sự thoái hóa lớn của hệ mặt trời.

24. Could such “brothers” be those minor Planetary Logoi that ensoul the minor non-sacred planets (or planetoids) within our solar system? Could these Beings have ensouled those orbs we now call the moons of Saturn, Jupiter and Uranus etc., or those very minor planets associated with Pluto and beyond the orbit of Pluto? Are the asteroids related to these “brothers” who had thought to pass into dissolution with the Mother?

24. Liệu những “huynh đệ” như thế có thể là những Hành Tinh Thượng Đế nhỏ đang phú linh cho các hành tinh nhỏ không thiêng liêng (hay các tiểu hành tinh) trong hệ mặt trời của chúng ta chăng? Liệu các Đấng này có thể đã phú linh cho những thiên thể mà nay chúng ta gọi là các mặt trăng của Sao Thổ, Sao Mộc và Uranus v.v., hay những hành tinh rất nhỏ liên hệ với Sao Diêm Vương và vượt ra ngoài quỹ đạo Sao Diêm Vương chăng? Các tiểu hành tinh có liên hệ với những “huynh đệ” này, những vị đã nghĩ đến việc đi vào sự tan rã cùng với Mẹ, chăng?

25. Such a retrogressive attitude, we may infer, is as unhealthy for great Beings as it is for the human being.

25. Chúng ta có thể suy ra rằng một thái độ thoái hóa như thế cũng không lành mạnh đối với các Đấng vĩ đại như đối với con người.

but a younger son (Saturn) sought to rescue his brothers, and to this end he built a triple bridge between the old and new.

nhưng một người con trẻ hơn (Sao Thổ) đã tìm cách cứu các huynh đệ của mình, và vì mục đích ấy y đã xây một cây cầu tam phân giữa cái cũ và cái mới.

26. One wonders whether the three triadal principles of man could have been transferred into this solar system via this bridge. These three principles are still to be found within the realm of solar systemic Brahma. Thus are not found ‘above’ the atmic plane.

26. Người ta tự hỏi liệu ba nguyên khí tam nguyên tinh thần của con người có thể đã được chuyển sang hệ mặt trời này qua cây cầu ấy hay không. Ba nguyên khí này vẫn còn được tìm thấy trong phạm vi của Brahma hệ mặt trời. Vì thế chúng không được tìm thấy ‘ở trên’ cõi atma.

27. We remember that Saturn is associated with the first part of the antahkarana. We understand, from the “triple bridge” it created, Saturn’s relationship to the antahkarana process.

27. Chúng ta nhớ rằng Sao Thổ được liên kết với phần đầu tiên của antahkarana. Từ “cây cầu tam phân” mà nó đã tạo ra, chúng ta hiểu mối liên hệ của Sao Thổ với tiến trình antahkarana.

28. It may be useful to realize that three energy “threads” unite in man, connecting the lower man to his highest principles. These threads are the sutratma, the antahkarana and the creative thread.

28. Có thể hữu ích khi nhận ra rằng ba “sợi dây” năng lượng hợp nhất trong con người, nối phàm nhân với các nguyên khí cao nhất của y. Những sợi dây này là sutratma, antahkarana và sợi dây sáng tạo.

29. To whom or to what is Saturn as a “son”? Could we say that He is a younger “son” to the Solar Logos? This does seem to be the case.

29. Sao Thổ là “con” của ai hay của cái gì? Chúng ta có thể nói rằng Ngài là một “người con” trẻ hơn của Thái dương Thượng đế chăng? Điều này dường như đúng là như vậy.

30. When we think of the “brothers” of Saturn, must we think of them as His peers, or can we think of them as much younger “brothers”—even as human Monads? It is possible, after all, that without the agency of Saturn, not only minor Planetary Logoi, but human Monads of a certain kind could have been trapped within the confines of the previous solar system.

30. Khi nghĩ đến những “huynh đệ” của Sao Thổ, chúng ta phải nghĩ đến họ như những vị ngang hàng với Ngài, hay có thể nghĩ đến họ như những “huynh đệ” trẻ hơn rất nhiều—thậm chí như các chân thần nhân loại? Rốt cuộc, có thể là nếu không có tác động của Sao Thổ, không chỉ các Hành Tinh Thượng Đế nhỏ, mà cả các chân thần nhân loại thuộc một loại nào đó cũng có thể đã bị mắc kẹt trong những giới hạn của hệ mặt trời trước.

This bridge persists, and forms a path whereon escape is possible.

Cây cầu này vẫn tồn tại, và tạo thành một con đường trên đó sự thoát ra là có thể.

31. Is DK telling us that even now the “bridge persists? Have not all lives who could make their escape, already made their escape?

31. Phải chăng Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng ngay cả bây giờ cây cầu ấy “vẫn tồn tại”? Chẳng phải mọi sự sống nào có thể thoát ra đều đã thoát rồi sao?

32. When DK tells us that escape is still possible, it is hard to believe that human Monads are among those who can still make their escape. Whether such Monads are still making their escape can be debated, but it would seem that lesser forms of life still composing the matter/substance of that decaying solar system also have the opportunity to make escape, and may still need to make such an escape, even though such escape may be unconscious. We must remember that in the chronology of Trans-Himalayan Occultism, the previous solar system ended many trillions of years ago.

32. Khi Chân sư DK bảo chúng ta rằng sự thoát ra vẫn còn có thể, thật khó tin rằng các chân thần nhân loại nằm trong số những vị vẫn còn có thể thoát ra. Việc những chân thần như thế có vẫn đang thoát ra hay không có thể còn tranh luận, nhưng dường như những hình thức sự sống thấp hơn vẫn còn cấu thành vật chất/chất liệu của hệ mặt trời đang suy tàn ấy cũng có cơ hội thoát ra, và có thể vẫn cần thực hiện sự thoát ra như thế, dù sự thoát ra ấy có thể là vô thức. Chúng ta phải nhớ rằng trong niên đại học của Huyền Bí Học Xuyên Hy Mã Lạp Sơn, hệ mặt trời trước đã chấm dứt từ nhiều ngàn tỉ năm trước.

33. We can see Saturn’s function as a kind of antahkarana between dense physical planes, which cosmically, are not principled, and those levels which (from a cosmic perspective) are. Saturn then serves as a kind of bridge between cosmic density and cosmic ether. From the cosmic planetary perspective (i.e., considering our Planetary Logos as a cosmic Being), the higher mental plane can be considered a kind of fourth ether. Saturn acts as a bridge to the systemic higher mental plane where Venus presides.

33. Chúng ta có thể thấy chức năng của Sao Thổ như một loại antahkarana giữa các cõi hồng trần đậm đặc, mà về mặt vũ trụ không có nguyên khí, và những cấp độ mà (từ một góc nhìn vũ trụ) thì có. Khi ấy Sao Thổ phục vụ như một loại cầu nối giữa sự đậm đặc vũ trụ và dĩ thái vũ trụ. Từ góc nhìn hành tinh vũ trụ (tức là xét Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta như một Hữu thể vũ trụ), cõi thượng trí có thể được xem như một loại dĩ thái thứ tư. Sao Thổ hoạt động như một cây cầu đến cõi thượng trí hệ thống nơi Sao Kim chủ trì.

34. And certainly the reflection of this bridge persists today within our solar system.

34. Và chắc chắn sự phản chiếu của cây cầu này vẫn tồn tại ngày nay trong hệ mặt trời của chúng ta.

Some escaped and came to the help of the incarnating Sons of Mind who had left the Mother for the Father. The greater gulf was bridged. The lesser gulf persisted, and must be bridged by the living Sons of Mind themselves."

Một số đã thoát ra và đến giúp đỡ những Con của Trí Tuệ đang lâm phàm, những vị đã rời Mẹ để đến với Cha. Vực thẳm lớn hơn đã được bắt cầu. Vực thẳm nhỏ hơn vẫn tồn tại, và phải được chính những Con của Trí Tuệ đang sống bắt cầu."

(This latter clause, refers to the building of the antaskarana.)

(Mệnh đề sau cùng này nói đến việc xây dựng antahkarana.)