← Commentary_S9_1078_1194_song ngữ

S9S7 Part I

Trích nội dung chương

144. Such a moment of sattva is probably found in the human kingdom just before the fourth initiation when the full development of the causal body is achieved. 144. Một khoảnh khắc sattva như thế có lẽ được tìm thấy trong giới nhân loại ngay trước lần điểm đạo thứ tư khi sự phát triển trọn vẹn của thể nguyên nhân được hoàn tất.


144. Such a moment of sattva is probably found in the human kingdom just before the fourth initiation when the full development of the causal body is achieved.

144. Một khoảnh khắc sattva như thế có lẽ được tìm thấy trong giới nhân loại ngay trước lần điểm đạo thứ tư khi sự phát triển trọn vẹn của thể nguyên nhân được hoàn tất.

145. Could we say that the entire period of initiation before the fourth initiation is one of intense rajas and really signals a transition between kingdoms—the human kingdom and the Kingdom of Souls?

145. Chúng ta có thể nói rằng toàn bộ giai đoạn điểm đạo trước lần điểm đạo thứ tư là một giai đoạn rajas mãnh liệt và thực sự báo hiệu một sự chuyển tiếp giữa các giới—giới nhân loại và Thiên Giới của các linh hồn—hay không?

In the animal kingdom the same is seen in the animals which individualise, passing out of the group soul into separated identity.

Trong giới động vật cũng thấy điều tương tự nơi những con vật biệt ngã hóa, đi ra khỏi hồn nhóm để vào bản sắc tách biệt.

146. Is there, then, a bridging form of life between the animal and the human? Is this what is sometimes meant by “animal man”?

146. Vậy thì có một hình thức sự sống bắt cầu giữa động vật và con người chăng? Đây có phải là điều đôi khi được hàm ý bởi “người thú” không?

147. Is the sattvic moment that actual moment of merging wherein the animal in process of transition from the animal kingdom to the human kingdom, actually enters the human kingdom?

147. Phải chăng khoảnh khắc sattva là chính khoảnh khắc hòa nhập thực sự, trong đó con vật đang trong tiến trình chuyển tiếp từ giới động vật sang giới nhân loại thực sự đi vào giới nhân loại?

These types of activity must be regarded as constituting for the mineral, physical activity, for the vegetable, sentient activity, and for the animal, rudimentary mental activity.

Những loại hoạt động này phải được xem là cấu thành, đối với giới kim thạch, hoạt động hồng trần; đối với giới thực vật, hoạt động cảm ứng; và đối với giới động vật, hoạt động trí tuệ sơ khai.

148. We see three kinds of activity which are added to the lower kingdom as it makes its transition into the higher. The immobile mineral becomes physically active. The relatively insentient vegetable becomes sentiently responsive. (Recent experiments have proven some degree of sentient response in the vegetable kingdom.) To the unthinking animal is added rudimentary mental activity. Each transition adds to the scope of the units rising into a higher kingdom.

148. Chúng ta thấy ba loại hoạt động được thêm vào giới thấp khi nó thực hiện sự chuyển tiếp vào giới cao. Khoáng vật bất động trở nên hoạt động về mặt hồng trần. Thực vật tương đối vô cảm trở nên đáp ứng có cảm giác. (Những thí nghiệm gần đây đã chứng minh một mức độ đáp ứng có cảm giác nào đó trong giới thực vật.) Vào con vật không biết suy nghĩ được thêm vào hoạt động trí tuệ sơ khai. Mỗi sự chuyển tiếp đều mở rộng phạm vi của các đơn vị đang vươn lên một giới cao hơn.

When this triple activity is achieved it might be noted that the dense physical body of the solar or planetary Logos is fully developed, and conscious contact can then [Page 1136] be made with the etheric or vital body. It is this contact which produces man, for Spirit (as man understands the term) is after all but the energy, vitality, or essential life of the solar, or planetary Logos. Its correspondence in man is prana.

Khi hoạt động tam phân này được hoàn tất cần lưu ý rằng thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng Đế được phát triển đầy đủ, và khi đó sự tiếp xúc có ý thức có thể [Page 1136] được thiết lập với thể dĩ thái hay thể sinh lực. Chính sự tiếp xúc này tạo ra con người, vì Tinh thần (theo cách con người hiểu thuật ngữ này) rốt cuộc chỉ là năng lượng, sinh lực, hay sự sống cốt yếu của Thái dương Thượng đế hoặc Hành Tinh Thượng Đế. Đối phần của nó nơi con người là prana.

149. Is Master DK saying that all three kinds of transitions must be in process if the human kingdom is to come into existence? Does the upreaching of the animal consciousness into the human require support from lower transitions of the mineral into the vegetable and the vegetable into the animal?

149. Có phải Chân sư DK đang nói rằng cả ba loại chuyển tiếp đều phải đang diễn ra nếu giới nhân loại muốn xuất hiện? Sự vươn lên của tâm thức động vật vào nhân loại có cần được nâng đỡ bởi các chuyển tiếp thấp hơn từ giới kim thạch sang giới thực vật và từ giới thực vật sang giới động vật không?

150. The Spirit/Monad of man (and not only the Solar Angel) is involved in the creation of the individualized animal we call the human being. We are reminded that the Spirit/Monad is an aspect of cosmic vitality and has it ‘location’ within the cosmic ethers.

150. Tinh thần/chân thần của con người (chứ không chỉ Thái dương Thiên Thần) có liên quan trong việc tạo ra con vật đã được biệt ngã hóa mà chúng ta gọi là con người. Chúng ta được nhắc rằng Tinh thần/chân thần là một phương diện của sinh lực vũ trụ và có ‘vị trí’ của nó trong các dĩ thái vũ trụ.

151. We find that the cosmic ethers are involved in the individualization process. The "Jewel in the Lotus" is conducted through the cosmic ethers as an expression of the Monad on its own plane, and the three synthesis petals are a results of buddhic downflow. The impulse which produces the ordinary nine petals seems to emanate from the higher mental plane, and probably from the manasic permanent atom of the higher mental plane. (Again, see EP I 168-169)

151. Chúng ta thấy rằng các dĩ thái vũ trụ có liên quan đến tiến trình biệt ngã hóa. "Viên Ngọc trong Hoa Sen" được dẫn truyền qua các dĩ thái vũ trụ như một biểu hiện của chân thần trên cõi riêng của nó, và ba cánh hoa tổng hợp là kết quả của sự tuôn đổ từ Bồ đề. Xung lực tạo ra chín cánh hoa thông thường dường như phát xuất từ cõi thượng trí, và có lẽ từ nguyên tử trường tồn manas của cõi thượng trí. (Xin xem lại EP I 168-169)

152. We are learning that the appearance of man, the self-conscious human being, results from a process of bridging into the cosmic ethers. Man is the vehicle for the sustainment of this bridge between the two aspects of the physical body of the Solar Logos or Planetary Logos—the etheric portion and the dense physical portion.

152. Chúng ta đang học rằng sự xuất hiện của con người, tức con người tự ý thức, là kết quả của một tiến trình bắt cầu vào các dĩ thái vũ trụ. Con người là vận cụ để duy trì cây cầu này giữa hai phương diện của thể xác của Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng Đế—phần dĩ thái và phần thể xác đậm đặc.

153. It is interesting that only when that part of the Solar Logos which exists in the three lower worlds is prepared, can man be ‘created’.

153. Thật thú vị khi chỉ khi phần đó của Thái dương Thượng đế hiện hữu trong ba cõi thấp được chuẩn bị xong, con người mới có thể được ‘tạo ra’.

154. How interesting that man’s Spirit/Monad is to the Solar Logos as prana is to man.

154. Thật thú vị biết bao khi Tinh thần/chân thần của con người đối với Thái dương Thượng đế cũng như prana đối với con người.

A comprehension of this will be brought about if man realises that all the planes of our solar system are but the seven subplanes of the cosmic physical plane.

Sự thấu hiểu điều này sẽ đạt được nếu con người chứng nghiệm rằng mọi cõi của hệ mặt trời chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

155. We are ever reminded of this point for good purpose.

155. Chúng ta luôn được nhắc nhở về điểm này vì một mục đích tốt đẹp.

It is the realisation of this which will eventually unite science and religion, for what the scientist calls energy, the religious man calls God,

Chính sự chứng nghiệm điều này rốt cuộc sẽ hợp nhất khoa học và tôn giáo, vì điều mà nhà khoa học gọi là năng lượng, thì người có tôn giáo gọi là Thượng đế,

156. Here is an utterly simple statement with profound implications If this conceptual gap (the gap separating the understanding of “God” and “energy”) can be bridged we shall witness entirely new possibilities of cooperation between religion and science.

156. Đây là một phát biểu hoàn toàn đơn giản nhưng có những hàm ý sâu xa. Nếu khoảng cách khái niệm này (khoảng cách phân cách sự hiểu biết về “Thượng đế” và “năng lượng”) có thể được bắt cầu, chúng ta sẽ chứng kiến những khả năng hợp tác hoàn toàn mới giữa tôn giáo và khoa học.

and yet the two are one, being but the manifested purpose, in physical matter, of a great extra-systemic Identity.

và tuy thế cả hai là một, vì chỉ là mục đích biểu hiện, trong vật chất hồng trần, của một Bản Sắc vĩ đại ngoài-hệ-thống.

157. This “extra-systemic Identity”, who is both “God” and “Energy” is probably the "One About Whom Naught May Be Said". Of course “God” and “Energy” extend far beyond this unfathomable Being—unfathomable to us. Ultimately, “God” and “Energy” are the One Universal Logos.

157. “Bản Sắc ngoài-hệ-thống” này, Đấng vừa là “Thượng đế” vừa là “Năng lượng”, có lẽ là "Đấng Bất Khả Tư Nghị". Dĩ nhiên “Thượng đế” và “Năng lượng” còn vượt xa Hữu thể khôn dò này—khôn dò đối với chúng ta. Rốt ráo, “Thượng đế” và “Năng lượng” là Thượng đế Vũ Trụ Duy Nhất.

Nature is the appearance of the physical body of the Logos, and the laws of nature are the laws governing the natural processes of that body.

Thiên nhiên là sắc tướng của thể xác của Thượng đế, và các định luật của thiên nhiên là những định luật chi phối các tiến trình tự nhiên của thể ấy.

158. The physical body of the Solar Logos includes both its etheric and dense physical aspects.

158. Thể xác của Thái dương Thượng đế bao gồm cả hai phương diện dĩ thái và hồng trần đậm đặc của nó.

159. Can it be said that the “laws of nature” extend into the cosmic etheric body of the Solar Logos? We seem to be told this by the text above, yet in other parts of the Teaching, the cosmic etheric body of the Solar Logos seem to belong to the realm of ‘super-nature’.

159. Có thể nói rằng các “định luật của thiên nhiên” mở rộng vào thể dĩ thái vũ trụ của Thái dương Thượng đế không? Dường như văn bản trên cho chúng ta biết như vậy, tuy nhiên ở những phần khác của Giáo Huấn, thể dĩ thái vũ trụ của Thái dương Thượng đế dường như thuộc về lĩnh vực của ‘siêu nhiên’.

160. We must be alert to those occasions in which discussion of the physical body of the Solar Logos indicate both His etheric body and His dense physical body, and those occasions when it means only the dense physical body.

160. Chúng ta phải tỉnh táo trước những trường hợp trong đó việc bàn đến thể xác của Thái dương Thượng đế bao hàm cả thể dĩ thái của Ngài lẫn thể xác đậm đặc của Ngài, và những trường hợp khi nó chỉ có nghĩa là chỉ thể xác đậm đặc.

161. Also, while the physical body of the Logos might be both His etheric body and dense physical body, the “appearance” of that physical body might be confined only to His dense physical body.

161. Ngoài ra, tuy thể xác của Thượng đế có thể là cả thể dĩ thái lẫn thể xác đậm đặc của Ngài, nhưng “sắc tướng” của thể xác ấy có thể chỉ giới hạn nơi thể xác đậm đặc của Ngài mà thôi.

The Life of God, His energy, and vitality, are found in every manifested atom; His essence indwells all forms.

Sự Sống của Thượng đế, năng lượng và sinh lực của Ngài, được tìm thấy trong mọi nguyên tử biểu hiện; tinh túy của Ngài ngự bên trong mọi hình tướng.

162. In this context, the “Life of God” are the energies of His cosmic etheric nature.

162. Trong ngữ cảnh này, “Sự Sống của Thượng đế” là các năng lượng của bản chất dĩ thái vũ trụ của Ngài.

163. Is a “manifested atom” only the kind which appears within the lowest part of the very densest subplane of the cosmic physical plane, or are all atoms found upon/within the cosmic physical plane to be considered “manifested” atoms?

163. Một “nguyên tử biểu hiện” có phải chỉ là loại xuất hiện trong phần thấp nhất của cõi phụ đậm đặc nhất của cõi hồng trần vũ trụ, hay mọi nguyên tử được tìm thấy trên/trong cõi hồng trần vũ trụ đều phải được xem là những “nguyên tử biểu hiện”?

164. We have learned that all subplanes of the cosmic physical plane (and all sub-subplanes as well) are atomic in nature.

164. Chúng ta đã học rằng mọi cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ (và cả mọi cõi phụ-phụ nữa) đều có bản chất nguyên tử.

This we call Spirit,

Đây là điều chúng ta gọi là Tinh thần,

165. “Spirit” is the Life of God, His Energy and vitality.

165. “Tinh thần” là Sự Sống của Thượng đế, Năng lượng và sinh lực của Ngài.

yet He Himself is other than those forms, just as man knows himself to be other than his bodies.

nhưng chính Ngài lại khác với những hình tướng ấy, cũng như con người biết mình khác với các thể của mình.

166. DK is speaking of the inner and higher principles of the Planetary Logos or Solar Logos found outside Their dense physical body.

166. DK đang nói về các nguyên khí bên trong và cao hơn của Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế, được tìm thấy bên ngoài thể xác đậm đặc của Các Ngài.

He knows himself to be a will, and a purpose,

Ngài biết mình là một ý chí và một mục đích,

167. Here we are speaking of the monadic nature of both the Solar Logos and Planetary Logos. The center of energy from which this will and purpose arise is found on the cosmic monadic plane.

167. Ở đây chúng ta đang nói về bản chất chân thần của cả Thái dương Thượng đế lẫn Hành Tinh Thượng Đế. Trung tâm năng lượng từ đó ý chí và mục đích này phát sinh được tìm thấy trên cõi chân thần vũ trụ.

and as he progresses in evolution that purpose and will become to him ever more consciously defined.

và khi y tiến hoá, mục đích và ý chí ấy ngày càng trở nên được xác định một cách hữu thức hơn đối với y.

168. As we come to understand our interior nature more fully, we discover that its expression is our purpose and that the degree of power with which it expresses itself is the strength of our higher will.

168. Khi chúng ta đi đến chỗ thấu hiểu đầy đủ hơn bản chất nội tại của mình, chúng ta khám phá rằng sự biểu lộ của nó là mục đích của chúng ta và mức độ quyền năng mà nó biểu lộ chính là sức mạnh của ý chí cao hơn của chúng ta.

So with the planetary Logos and solar Logos. They dwell within, yet are found without, the planetary scheme or solar system.

Đối với Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế cũng vậy. Các Ngài ngự bên trong, nhưng cũng được tìm thấy bên ngoài, hệ hành tinh hay hệ mặt trời.

169. The analogy to man is exact. The Planetary Logos expresses through a planetary scheme and yet has His higher principles and their vehicles “without” (thus dimensionally beyond) the planetary scheme. The Solar Logos expresses through a solar system and yet has His higher principles and their vehicles “without” (thus dimensionally beyond) the solar system.

169. Sự tương đồng với con người là chính xác. Hành Tinh Thượng Đế biểu lộ qua một hệ hành tinh nhưng vẫn có các nguyên khí cao hơn của Ngài và các vận cụ của chúng ở “bên ngoài” (do đó vượt ra ngoài về mặt chiều kích) hệ hành tinh. Thái dương Thượng đế biểu lộ qua một hệ mặt trời nhưng vẫn có các nguyên khí cao hơn của Ngài và các vận cụ của chúng ở “bên ngoài” (do đó vượt ra ngoài về mặt chiều kích) hệ mặt trời.

170. As Master DK usually considers the solar system, it consists of the etheric-physical body of the Solar Logos. His cosmic astral body and cosmic mental body are not included nor is His cosmic egoic lotus.

170. Theo cách Chân sư DK thường xét hệ mặt trời, nó gồm thể dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế. Thể cảm dục vũ trụ và thể trí vũ trụ của Ngài không được bao gồm, và Hoa Sen Chân Ngã vũ trụ của Ngài cũng vậy.

It is useful to remember that in the three lower kingdoms, manifestation, or appearance on the physical plane, is ever group manifestation and not the appearance of separated units.

Thật hữu ích khi nhớ rằng trong ba giới thấp, sự biểu hiện, hay sắc tướng trên cõi hồng trần, luôn luôn là sự biểu hiện nhóm chứ không phải sự xuất hiện của các đơn vị tách biệt.

171. The appearance of separated units appears only with individualization.

171. Sự xuất hiện của các đơn vị tách biệt chỉ xuất hiện cùng với biệt ngã hóa.

172. However separated the apparent units of the lower kingdoms may appear to be, each one of them is part of a group appearance. The question remains: “What is the size of these groupings?” Also, “what higher beings do these groups express?”

172. Dù các đơn vị biểu kiến của các giới thấp có vẻ tách biệt đến đâu, mỗi đơn vị trong số đó vẫn là một phần của một sắc tướng nhóm. Câu hỏi vẫn còn đó: “Kích thước của các nhóm này là bao nhiêu?” Và nữa, “những hữu thể cao hơn nào biểu lộ qua các nhóm này?”

Each group soul, as it is called, is divided into seven parts whichappear in each of the seven races of a world period, and there is an interesting distinction between them and the units of the human kingdom.

Mỗi hồn nhóm, như nó được gọi, được chia thành bảy phần màxuất hiện trong mỗi một trong bảy nhân loại của một thời kỳ thế giới, và có một sự phân biệt thú vị giữa chúng với các đơn vị của giới nhân loại.

173. We are being told that group souls connected with the mineral kingdom, the vegetable kingdom and animal kingdom are all divided into seven parts.

173. Chúng ta đang được cho biết rằng các hồn nhóm liên hệ với giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật đều được chia thành bảy phần.

174. Apparently the seven parts of a group soul correspond to the “seven races of a world period”. Presumably, these “seven races” are forms assumed by the entities which soon will be human (proto-humans) or are human.

174. Rõ ràng bảy phần của một hồn nhóm tương ứng với “bảy nhân loại của một thời kỳ thế giới”. Có lẽ những “bảy nhân loại” này là những hình tướng được đảm nhận bởi các thực thể sắp trở thành con người (tiền-nhân loại) hoặc là con người.

175. Are we being told that each of the seven races of the human kingdom (including the proto-human types) has its own flora and fauna? Given the long duration of the root-races, this would be a distinct possibility.

175. Có phải chúng ta đang được cho biết rằng mỗi một trong bảy nhân loại của giới nhân loại (bao gồm cả các loại tiền-nhân loại) đều có hệ động thực vật riêng của nó không? Xét đến thời lượng dài của các giống dân gốc, đây hẳn là một khả năng rõ rệt.

176. We also appear to be told that all seven parts of a group soul appear in each of the seven human root-races of a world period. Though the seven parts may be the same from root-race to root-race, the appearance of each part in a root-race may be in contrast with such an appearance in the next root-race.

176. Chúng ta dường như cũng được cho biết rằng cả bảy phần của một hồn nhóm đều xuất hiện trong mỗi một trong bảy giống dân gốc của nhân loại trong một thời kỳ thế giới. Dù bảy phần có thể giống nhau từ giống dân gốc này sang giống dân gốc khác, sự xuất hiện của mỗi phần trong một giống dân gốc có thể tương phản với sự xuất hiện như thế trong giống dân gốc kế tiếp.

When portions of the group soul in one of its seven parts are out of incarnation they are to be found on the astral plane, even though the Mothergroup soul is found on the mental plane.

Khi những phần của hồn nhóm trong một trong bảy phần của nó ở ngoài lâm phàm thì chúng được tìm thấy trên cõi cảm dục, mặc dù hồn nhóm Mẹ được tìm thấy trên cõi trí.

177. Here we have some very important information speaking of the distribution of the parts of the group soul as found on one or other of the three lower planes.

177. Ở đây chúng ta có một số thông tin rất quan trọng nói về sự phân bố các phần của hồn nhóm như được tìm thấy trên cõi này hay cõi khác trong ba cõi thấp.

178. If the “Mother group soul” is found upon the mental plane, is it the lower mental plane? Perhaps since the “Mother group soul” is a group soul for units in the lower kingdoms, this is likely to be the case.

178. Nếu “hồn nhóm Mẹ” được tìm thấy trên cõi trí, thì đó có phải là cõi hạ trí không? Có lẽ vì “hồn nhóm Mẹ” là một hồn nhóm dành cho các đơn vị trong các giới thấp, nên điều này rất có thể là như vậy.

179. DK is almost certainly saying that parts of a group soul are not simultaneously in incarnation or that the appearance in incarnation of the various parts are all controlled by certain cyclic laws.

179. DK gần như chắc chắn đang nói rằng các phần của một hồn nhóm không đồng thời lâm phàm, hoặc rằng sự xuất hiện trong lâm phàm của các phần khác nhau đều được kiểm soát bởi những định luật chu kỳ nhất định.

Human units of the fourth kingdom when out of incarnation pass through the astral to the mental and descend again to incarnation from mental levels.[Page 1137]

Các đơn vị nhân loại của giới thứ tư khi ra khỏi lâm phàm đi qua cõi cảm dục đến cõi trí và lại giáng xuống lâm phàm từ các cấp độ trí tuệ.[Page 1137]

180. Mental levels, as discussed in relation to units of the fourth kingdom, are higher mental levels. Man takes incarnation from the higher mental plane.

180. Các cấp độ trí tuệ, như được bàn đến liên hệ với các đơn vị của giới thứ tư, là các cấp độ trí tuệ cao hơn. Con người lâm phàm từ cõi thượng trí.

181. We are presuming this is not the case for the parts of the group souls within the lower kingdoms.

181. Chúng ta giả định rằng điều này không đúng đối với các phần của các hồn nhóm trong các giới thấp.

Each group soul,

Mỗi hồn nhóm,

182. Presumably, one for each of the three lower kingdoms…

182. Có lẽ là một cho mỗi một trong ba giới thấp…

therefore, subjectively forms a triangle of force with one point (the highest) to be found on the mental plane, the lowest on the etheric levels of the physical plane, and another on the astral plane.

do đó, về mặt chủ quan tạo thành một tam giác mãnh lực với một điểm (cao nhất) được tìm thấy trên cõi trí, điểm thấp nhất trên các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, và một điểm khác trên cõi cảm dục.

183. It must be the lower mental plane that is referenced when the lower three kingdoms are discussed.

183. Hẳn phải là cõi trí thấp hơn được nói đến khi ba giới thấp được bàn tới.

184. DK is giving us important information on the planar focus of different kinds of group souls. I have not seen this information given elsewhere.

184. DK đang cho chúng ta thông tin quan trọng về tiêu điểm cõi giới của các loại hồn nhóm khác nhau. Tôi chưa thấy thông tin này được đưa ra ở nơi nào khác.

The third point for the mineral group-soul is found on the second subplane of the astral, the vegetable on the third, and the animal on the fourth.

Điểm thứ ba đối với hồn nhóm khoáng vật được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai của cõi cảm dục, thực vật trên cõi phụ thứ ba, và động vật trên cõi phụ thứ tư.

185. Fascinating information, showing that even the mineral kingdom has a point of subjective astral focus!

185. Thông tin thật hấp dẫn, cho thấy ngay cả giới kim thạch cũng có một điểm tiêu điểm cảm dục chủ quan!

186. Presumably, DK is counting from below upwards.

186. Có lẽ DK đang đếm từ dưới lên trên.

187. We have been told that no unit in the lower kingdoms (since none of them is yet self-conscious) can have permanent atoms—at least this is what we are told in one reference. Now we read of “points” of force within a group soul focussed on various subplanes. Elsewhere we have been told of permanent atoms associated with the three lower kingdoms (but we are not sure whether these permanent atoms should be associated with the higher lives manifested through the kingdoms and group souls, or with the unself-conscious units within those kingdoms. The former is probably correct.

187. Chúng ta đã được cho biết rằng không một đơn vị nào trong các giới thấp (vì chưa đơn vị nào trong số đó tự ý thức) có thể có nguyên tử trường tồn—ít nhất đó là điều chúng ta được nói trong một chỗ tham chiếu. Giờ đây chúng ta đọc thấy các “điểm” mãnh lực trong một hồn nhóm được tập trung trên các cõi phụ khác nhau. Ở nơi khác chúng ta đã được cho biết về các nguyên tử trường tồn liên hệ với ba giới thấp (nhưng chúng ta không chắc liệu những nguyên tử trường tồn này nên được liên hệ với các sự sống cao hơn biểu hiện qua các giới và các hồn nhóm, hay với các đơn vị chưa tự ý thức trong những giới ấy. Khả năng trước có lẽ là đúng.

It is owing to the fact that a centre of force for the animal group soul is found on the fourth subplane of the astral plane that it is possible for transference eventually to be made out of that kingdom into the fourth.

Chính do sự kiện rằng một trung tâm mãnh lực cho hồn nhóm động vật được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục mà rốt cuộc có thể thực hiện sự chuyển dịch ra khỏi giới ấy vào giới thứ tư.

188. Numerology (indicating numerical resonance) is involved in this transference. The animal group has a center of focus on the fourth subplane of the astral plane and can therefore participate in producing the fourth kingdom.

188. Số học (chỉ ra sự cộng hưởng số) có liên quan đến sự chuyển dịch này. Nhóm động vật có một trung tâm tập trung trên cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục và do đó có thể tham gia vào việc tạo ra giới thứ tư.

189. Are there analogies here? The vegetable kingdom having a point of focus on the third subplane of the astral plane and therefore able to make a transition into the third kingdom? The mineral kingdom having a focus on the second subplane of the astral plane and, therefore, able to make a transition into the second or vegetable kingdom?

189. Có những sự tương đồng ở đây chăng? Giới thực vật có một điểm tập trung trên cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục và do đó có thể thực hiện sự chuyển tiếp vào giới thứ ba? Giới kim thạch có một tiêu điểm trên cõi phụ thứ hai của cõi cảm dục và do đó có thể thực hiện sự chuyển tiếp vào giới thứ hai hay giới thực vật?

190. Also, we must consider that the mental unit is focused on the fourth subplane of the mental plane suggesting an imminent shift into the causal body.

190. Ngoài ra, chúng ta phải xét đến việc đơn vị hạ trí được tập trung trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, gợi ý một sự chuyển dịch sắp xảy ra vào thể nguyên nhân.

191. What of man and his transition into the fifth kingdom? From what type of fifth subplane is this transition made—from a fifth (from below) subplane on the astral plane or on the mental plane? May we say that, for man, a focus on the fifth (from below) subplane of the astral corresponds with the causal body’s lowest focus on the fifth (from below) subplane of the mental plane? The appearance of that causal body on that causal body signals the appearance of man.

191. Còn con người và sự chuyển tiếp của y vào giới thứ năm thì sao? Sự chuyển tiếp này được thực hiện từ loại cõi phụ thứ năm nào—từ cõi phụ thứ năm (tính từ dưới lên) trên cõi cảm dục hay trên cõi trí? Chúng ta có thể nói rằng, đối với con người, một tiêu điểm trên cõi phụ thứ năm (tính từ dưới lên) của cõi cảm dục tương ứng với tiêu điểm thấp nhất của thể nguyên nhân trên cõi phụ thứ năm (tính từ dưới lên) của cõi trí không? Sự xuất hiện của thể nguyên nhân đó trên thể nguyên nhân đó báo hiệu sự xuất hiện của con người.

192. In any case, we learn to pay close attention to numerical links because they indicate lines of relationship and progression.

192. Dù sao đi nữa, chúng ta học cách chú ý sát sao đến các liên kết số vì chúng chỉ ra những đường liên hệ và tiến triển.

S9S7 Part I

TCF 1138-1142

TCF 1137-1142

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ những trang khác của TCFđược trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

Certain laws govern the appearance periodically of the three kingdoms of nature, which are the laws of involution, the laws of the elemental kingdoms, and the laws of the three great groups which hold the germs and seeds of all manifested forms.

Một số định luật nhất định chi phối sự xuất hiện theo chu kỳ của ba giới trong thiên nhiên, đó là các định luật của giáng hạ tiến hoá, các định luật của các giới hành khí, và các định luật của ba nhóm lớn nắm giữ các mầm và hạt giống của mọi hình tướng biểu hiện.

1. We are entering a discussion of certain laws which are rather obscure. Let us tabulate them for ease of registration:

1. Chúng ta đang đi vào một cuộc bàn luận về một số định luật khá mơ hồ. Hãy lập bảng chúng để dễ ghi nhận:

a. The laws of involution

a. Các định luật của giáng hạ tiến hoá

b. The laws of the elemental kingdoms

b. Các định luật của các giới hành khí

c. The laws of the three great groups

c. Các định luật của ba nhóm lớn

We have in logoic manifestation the following seven groups for consideration:

Chúng ta có trong biểu hiện logoic bảy nhóm sau đây để xem xét:

2. We are speaking of manifestation within the body of the Solar Logos.

2. Chúng ta đang nói về sự biểu hiện bên trong thân thể của Thái dương Thượng đế.

1. 2. 3. Three groups of superhuman existence:

1. 2. 3. Ba nhóm hiện hữu siêu nhân loại:

3. We note that even the great Existences appear as groups.

3. Chúng ta lưu ý rằng ngay cả các Hiện Hữu vĩ đại cũng xuất hiện như những nhóm.

a. The group forming the Father aspect of which little can here be predicated.

a. Nhóm tạo thành phương diện Cha mà ở đây ít điều có thể được nói về nó.

4. Presumably, included amongst this group are the Three Persons of the Logoic Trinity—the First Logos, the Second Logos and the Third—the solar systemic Shiva, Vishnu and Brahma.

4. Có lẽ trong nhóm này bao gồm Ba Ngôi của Tam Vị Logoic—Đệ Nhất Logos, Đệ Nhị Logos và Đệ Tam—Shiva, Vishnu và Brahma của hệ mặt trời.

5. These Three Persons have Their major focus on the logoic plane of the cosmic physical plane. (cf. Chart V TCF 344)

5. Ba Ngôi này có tiêu điểm chính của Các Ngài trên cõi logoic của cõi hồng trần vũ trụ. (xem Biểu đồ V TCF 344)

b. The group of seven planetary Logoi.

b. Nhóm bảy Hành Tinh Thượng Đế.

6. Presumably, these are the Planetary Logoi of the seven sacred planets.

6. Có lẽ đây là các Hành Tinh Thượng Đế của bảy hành tinh thiêng liêng.

7. The other Planetary Logoi must be considered as included within the major seven.

7. Các Hành Tinh Thượng Đế khác phải được xem là bao hàm trong bảy vị chính yếu.

8. The Planetary Logos are Dragons of Wisdom and therefore are more related to the “Son” aspect than to the “Father” aspect.

8. Các Hành Tinh Thượng Đế là những Rồng Minh Triết và do đó liên hệ nhiều hơn với phương diện “Con” hơn là với phương diện “Cha”.

c. The group of seven raja devas, or the life of each of the physical planes.

c. Nhóm bảy raja deva, hay sự sống của mỗi cõi hồng trần.

9. We note their high status. They represent the Brahma aspect of divinity. They have an initiatory status equivalent to the seventh degree. The Deva Lords Who rule the subplanes of the seven solar planes have an initiatory status equivalent to the sixth degree.

9. Chúng ta lưu ý địa vị cao của các vị này. Các vị ấy biểu trưng phương diện Brahma của thiên tính. Các vị ấy có địa vị điểm đạo tương đương bậc thứ bảy. Các Chúa Tể Deva cai quản các cõi phụ của bảy cõi thái dương có địa vị điểm đạo tương đương bậc thứ sáu.

The devas are on the evolutionary path, on the upward way. They are, as you know, the Builders of the system, working in graded and serried ranks. Devas are to be found of the same rank as the Planetary Logoi, and the Rulers of the five planes of human evolution hold rank equal to that of a Master of the seventh Initiation. Others are equal in development (along their own line) to a Master of the fifth Initiation, and they work consciously and willingly with the Masters of the Occult Hierarchy. They can be found on all the lesser grades down to the little building devas who work practically unconsciously in their groups, building the many forms necessitated by the evolving life. (LOM 174)

Các thiên thần ở trên con đường tiến hoá, trên đường đi lên. Như các bạn biết, họ là các Đấng kiến tạo của hệ thống, hoạt động trong những hàng ngũ có cấp bậc và chỉnh tề. Có thể tìm thấy các thiên thần cùng cấp với các Hành Tinh Thượng Đế, và các Đấng Cai Quản năm cõi của sự tiến hoá nhân loại giữ cấp bậc ngang với một Chân sư của lần điểm đạo thứ bảy. Những vị khác tương đương về phát triển (theo đường lối riêng của họ) với một Chân sư của lần điểm đạo thứ năm, và họ làm việc một cách hữu thức và tự nguyện với các Chân sư của Thánh Đoàn Huyền Bí. Có thể tìm thấy họ ở mọi cấp bậc thấp hơn cho đến các thiên thần kiến tạo nhỏ bé làm việc gần như vô thức trong các nhóm của họ, xây dựng nhiều hình tướng cần thiết cho sự sống đang tiến hoá. (LOM 174)

4. A group of solar lives who are the manasaputras or man.

4. Một nhóm các sự sống thái dương là các manasaputra hay con người.

10. These are the Solar Angels and they are definitely “solar” lives.

10. Đây là các Thái dương Thiên Thần và rõ ràng là những sự sống “thái dương”.

11. We note that their status is lower than that of the Raja Deva Lords Who rule the seven solar planes.

11. Chúng ta lưu ý rằng địa vị của các vị này thấp hơn địa vị của các Chúa Tể Raja Deva cai quản bảy cõi thái dương.

12. Interestingly they are mentioned fourth in order. They are also associated with the fourth systemic law—the Law of Magnetic Control.

12. Điều thú vị là họ được nhắc đến ở vị trí thứ tư theo thứ tự. Họ cũng liên hệ với định luật hệ thống thứ tư—Định luật Kiểm Soát Từ Tính.

13. We wish to note the phrase “manasaputras or man”. This conjunction tells us that man is being considered a “solar” life and a manasaputra, and yet we realize that there is a significant distinction between the human Monad and the Solar Angels who are “returning Nivanis from a previous mahamanvantara”.

13. Chúng ta muốn lưu ý cụm từ “manasaputras hay con người”. Liên từ này cho chúng ta biết rằng con người đang được xem là một sự sống “thái dương” và một manasaputra, tuy nhiên chúng ta nhận ra rằng có một sự phân biệt đáng kể giữa chân thần nhân loại và các Thái dương Thiên Thần là “những Nirvani trở về từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước đó”.

14. This equivalence between man and the Solar Angel must be pondered. In our particular chain of the Earth-scheme, man would not have come to be without the Solar Angels and yet, following the return of the Solar Angels to the Heart of the Sun and Central Spiritual Sun, man continues to exist, and he is not yet a Solar Angel.

14. Sự tương đương này giữa con người và Thái dương Thiên Thần phải được suy ngẫm. Trong dãy đặc biệt của chúng ta thuộc hệ hành tinh Địa Cầu, con người đã không thể trở thành nếu không có các Thái dương Thiên Thần, tuy nhiên sau khi các Thái dương Thiên Thần trở về Tâm của Mặt Trời và Mặt trời Tinh thần Trung Ương, con người vẫn tiếp tục hiện hữu, và y vẫn chưa phải là một Thái dương Thiên Thần.

15. Because the human Monad is “that which finds its home within the sun” (IHS 195), it is, indeed, a solar life as is the Solar Angel. In this tabulation, interestingly, the two types of beings, man and Solar Angel, are considered as one.

15. Bởi vì Chân thần nhân loại là “điều tìm thấy ngôi nhà của nó bên trong mặt trời” (IHS 195), nên quả thật nó là một sự sống thái dương cũng như Thái dương Thiên Thần. Trong bảng liệt kê này, thật thú vị, hai loại hữu thể, con người và Thái dương Thiên Thần, được xem là một.

5. 6. 7. Three groups of elemental lives, who form the three involutionary elemental kingdoms.

5. 6. 7. Ba nhóm sự sống hành khí, tạo thành ba giới hành khí giáng hạ tiến hoá.

16. These groups are the lunar lords of three varieties—mental, astral and physical elementals.

16. Các nhóm này là các nguyệt tinh quân thuộc ba loại—hành khí trí tuệ, hành khí cảm dục và hành khí thể xác.

These three lower groups achieve concretion, and enter the upward arc, through the medium of the three lower kingdoms.

Ba nhóm thấp này đạt đến sự kết tụ cụ thể, và đi vào cung đi lên, thông qua trung gian của ba giới thấp.

17. This is a fascinating statement. The three lower kingdoms are already on the upward arc; they are evolutionary kingdoms.

17. Đây là một phát biểu đầy hấp dẫn. Ba giới thấp đã ở trên cung đi lên; chúng là các giới tiến hoá.

18. The members of the elemental kingdom have not yet entered upon the upward arc and are, thus, not yet evolutionary lives whereas the members of the mineral, vegetable and animal kingdom are.

18. Các thành viên của giới hành khí vẫn chưa bước vào cung đi lên và vì thế, chưa phải là các sự sống tiến hoá, trong khi các thành viên của giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật thì có.

19. The nature of these three elemental groups needs careful study. In what ways are they involutionary? In what ways do they participate in the evolution of the three lower kingdoms?

19. Bản chất của ba nhóm hành khí này cần được nghiên cứu cẩn thận. Chúng giáng hạ tiến hoá theo những cách nào? Chúng tham dự vào sự tiến hoá của ba giới thấp theo những cách nào?

20. Of course, we must ask a tantalizing question—whether the members of the mineral, vegetable and animal kingdoms are not really expressions of the Monads of the Fourth Creative Hierarchy? This seems a strange thought, but the human Monad does pass through what has been called its “inmineralization”, its “invegetalization” and its “in-zoonation”. As we look at the three lower kingdoms we may, indeed, be looking at a non-individualized expression of the human Monad. From this perspective, the Fourth Creative Hierarchy can be considered the macrocosm of the lower kingdoms and the lower Creative Hierarchies (with the exception of at least part of the Fifth Creative Hierarchy.

20. Dĩ nhiên, chúng ta phải đặt ra một câu hỏi đầy gợi mở—liệu các thành viên của giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật có thực sự không phải là những biểu hiện của các Chân thần thuộc Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư hay sao? Đây dường như là một ý nghĩ lạ lùng, nhưng Chân thần nhân loại quả có đi qua điều từng được gọi là “sự khoáng vật hóa” của nó, “sự thực vật hóa” của nó và “sự động vật hóa” của nó. Khi chúng ta nhìn vào ba giới thấp, quả thật chúng ta có thể đang nhìn vào một biểu hiện chưa biệt ngã hóa của Chân thần nhân loại. Từ góc nhìn này, Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư có thể được xem là đại thiên địa của các giới thấp và của các Huyền Giai Sáng Tạo thấp hơn (ngoại trừ ít nhất một phần của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm.

The fourth group is the most important in some ways during the present cycle for it borrows from all the other six groups and is therefore the synthesis of energies taken from each and manifested.

Nhóm thứ tư là nhóm quan trọng nhất theo một số phương diện trong chu kỳ hiện tại, vì nó vay mượn từ cả sáu nhóm kia và do đó là sự tổng hợp các năng lượng được lấy từ mỗi nhóm và được biểu hiện ra.

21. In this case Master DK is speaking about man as a manasaputra. Man is the meeting place for the higher and lower kingdoms and the higher and lower forms of life. The Solar Angel helps to make man what he is.

21. Trong trường hợp này Chân sư DK đang nói về con người như một manasaputra. Con người là nơi gặp gỡ của các giới cao và thấp cùng các hình thái sự sống cao và thấp. Thái dương Thiên Thần giúp làm cho con người trở thành điều mà y là.

22. Man is definitely a synthesis of a number of groups and Creative Hierarchies, which provide him with his lower and higher vehicles.

22. Con người rõ ràng là một tổng hợp của nhiều nhóm và Huyền Giai Sáng Tạo, những nhóm và Huyền Giai này cung cấp cho y các vận cụ thấp và cao của mình.

The higher three groups are closely allied, and until a man has passed out of the period of existence wherein he is controlled by [Page 1138] that which he has borrowed from the three lower kingdoms, he cannot comprehend the nature and purpose of the three higher.

Ba nhóm cao có liên hệ mật thiết với nhau, và cho đến khi một người đã vượt ra khỏi giai đoạn tồn tại trong đó y bị kiểm soát bởi [Page 1138] điều mà y đã vay mượn từ ba giới thấp, thì y không thể hiểu được bản chất và mục đích của ba nhóm cao hơn.

23. Any control of man by the lunar lords, the lunar elementals, disqualifies him from comprehension of the greater Lives. While thus hampered, he cannot respond to their energies.

23. Bất kỳ sự kiểm soát nào của con người bởi các nguyệt tinh quân, các hành khí nguyệt tính, đều làm cho y không đủ điều kiện để hiểu các Sự sống lớn lao hơn. Khi còn bị cản trở như vậy, y không thể đáp ứng với các năng lượng của các Đấng ấy.

24. That phase of human evolution in which the soul-in-incarnation cultivates awareness of the soul on its own plane, is a period in which the human being can begin to comprehend the nature and purpose of the three higher groups.

24. Giai đoạn tiến hoá nhân loại trong đó linh hồn đang nhập thể vun bồi sự nhận biết về linh hồn trên cõi riêng của nó, là một thời kỳ trong đó con người có thể bắt đầu hiểu được bản chất và mục đích của ba nhóm cao hơn.

We might express the matter as follows:

Chúng ta có thể diễn đạt vấn đề như sau:

The three higher groups are sattvic.

Ba nhóm cao là sattvic.

The three lower groups are tamasic.

Ba nhóm thấp là tamasic.

The fourth group, or human, is rajasic.

Nhóm thứ tư, hay nhân loại, là rajasic.

25. Man as a manasaputra is considered rajasic. From this point of view, the Solar Angel may be considered more rajasic that sattvic. Viewing B/beings in relation to the gunas is a relative matter. It all depends on the perspective of the viewer.

25. Con người như một manasaputra được xem là rajasic. Từ quan điểm này, Thái dương Thiên Thần có thể được xem là rajasic hơn là sattvic. Việc nhìn các hữu thể trong liên hệ với các guna là một vấn đề tương đối. Tất cả đều tùy thuộc vào góc nhìn của người quan sát.

26. A manasaputra is a “mind-born son”. If man, the Jiva, is considered an emanation of the Monad (and not a being created through the conjunction of male and female) then, indeed, he is a mind-born son.

26. Một manasaputra là một “người con sinh ra từ trí tuệ”. Nếu con người, Jiva, được xem là một phát xạ của Chân thần (chứ không phải một hữu thể được tạo ra qua sự kết hợp của nam và nữ) thì quả thật, y là một người con sinh ra từ trí tuệ.

27. The Lives forming the Father Aspect (i.e., the Three Persons of the Logoic Trinity and associated Spirits of Darkness), Planetary Logoi (related to the Seven Ray Lives) and Raja Deva Lords (related to the forty-nine Sons of Fohat) are considered sattvic. The lunar elementals are considered tamasic.

27. Các Sự sống tạo thành Phương diện Cha (tức Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế Logoic và các Tinh thần Bóng tối liên hệ), các Hành Tinh Thượng Đế (liên hệ với Bảy Sự sống Cung) và các Chúa Tể Raja Deva (liên hệ với bốn mươi chín Con của Fohat) được xem là sattvic. Các hành khí nguyệt tính được xem là tamasic.

Again, the three higher groups are energised by three streams of force which enter along the line of the three spirillae of the logoic permanent atom.

Một lần nữa, ba nhóm cao được tiếp năng lượng bởi ba dòng mãnh lực đi vào theo đường của ba loa tuyến của nguyên tử trường tồn logoic.

28. The Solar Logos has a number of permanent atoms, but only one on the cosmic physical plane and it is probably to this permanent atom that the text refers.

28. Thái dương Thượng đế có một số nguyên tử trường tồn, nhưng chỉ có một trên cõi hồng trần vũ trụ, và có lẽ chính nguyên tử trường tồn này là điều mà bản văn đang nói đến.

29. We are not generally speaking of the higher aspects of the great Lives—those aspects found upon the cosmic astral plane and the cosmic mental plane.

29. Nói chung, chúng ta không đang nói về các phương diện cao hơn của các Sự sống vĩ đại—những phương diện được tìm thấy trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ.

30. Since the spirillae of the logoic permanent atoms are, in fact, planes, DK is telling us that the logoic, monadic and atmic planes are involved in the energizing of the three higher groups of Lives.

30. Vì các loa tuyến của các nguyên tử trường tồn logoic thực ra là các cõi, nên Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng các cõi logoic, chân thần và atma có liên quan đến việc tiếp năng lượng cho ba nhóm Sự sống cao hơn.

The three lower groups are energised by energy entering by the three lowest spirillae (which we call the three lowest planes)

Ba nhóm thấp được tiếp năng lượng bởi năng lượng đi vào qua ba loa tuyến thấp nhất (mà chúng ta gọi là ba cõi thấp nhất)

31. With regard to the Solar Logos, the planes of His solar system are “spirillae”. Here we have a statement which is a confirmation of this thought.

31. Đối với Thái dương Thượng đế, các cõi của hệ mặt trời của Ngài là các “loa tuyến”. Ở đây chúng ta có một phát biểu xác nhận ý nghĩ này.

32. It is not only permanent atoms which are energizers but planes as well (or, rather, energies found upon the solar planes).

32. Không chỉ các nguyên tử trường tồn mới là những tác nhân tiếp năng lượng mà các cõi cũng vậy (hay đúng hơn là các năng lượng được tìm thấy trên các cõi thái dương).

and these spirillae energise the logoic dense body, were vitalised in the previous solar system, and are no longer in any way controlling factors in logoic existence.

và các loa tuyến này tiếp năng lượng cho thể đậm đặc logoic, đã được tiếp sinh lực trong hệ mặt trời trước, và không còn theo bất kỳ cách nào là những yếu tố kiểm soát trong sự tồn tại logoic nữa.

33. The three lower spirillae are an aspect of logoic existence but, in this solar system, no longer controlling factors as they were in the previous solar system.

33. Ba loa tuyến thấp là một phương diện của sự tồn tại logoic nhưng, trong hệ mặt trời này, không còn là những yếu tố kiểm soát như chúng đã từng là trong hệ mặt trời trước.

34. We may hypothesize that the previous solar system was given to the development of the logoic personality (perhaps as an entirety). Compared to this solar system, it was a ‘material’ solar system.

34. Chúng ta có thể giả thuyết rằng hệ mặt trời trước đã được dành cho sự phát triển của phàm ngã logoic (có lẽ như một toàn thể). So với hệ mặt trời này, đó là một hệ mặt trời “vật chất”.

35. We are being told that the three elemental groups (the lower three of the seven) are to be associated with the three lowest spirillae of the logoic physical permanent atom.

35. Chúng ta đang được cho biết rằng ba nhóm hành khí (ba nhóm thấp trong bảy nhóm) phải được liên kết với ba loa tuyến thấp nhất của nguyên tử trường tồn hồng trần logoic.

36. If we follow an evident analogy, we would ask when the lowest spirillae in the human physical permanent atom were energized and what if any effect they have upon the human being at this time?

36. Nếu chúng ta theo một phép loại suy hiển nhiên, chúng ta sẽ hỏi khi nào các loa tuyến thấp nhất trong nguyên tử trường tồn hồng trần nhân loại được tiếp năng lượng và hiện nay chúng có tác động gì, nếu có, lên con người?

37. Would we associate such lower spirillae (in the physical permanent atom of the human being) with the gaseous, liquid and dense subplanes of the systemic etheric-physical plane?

37. Liệu chúng ta có liên kết các loa tuyến thấp như thế (trong nguyên tử trường tồn hồng trần của con người) với các cõi phụ khí, lỏng và đậm đặc của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống hay không?

38. If the spirillae of the physical permanent atom of the Solar Logos are each associated with one of the systemic or solar planes, we would think that the third spirilla must still be active in relation to man—a mental being.

38. Nếu các loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế mỗi loa tuyến đều liên kết với một trong các cõi hệ thống hay cõi thái dương, thì chúng ta sẽ nghĩ rằng loa tuyến thứ ba hẳn vẫn còn hoạt động trong liên hệ với con người—một hữu thể trí tuệ.

The fourth group, the human, is energised by the force of the fourth spirilla, to which we give the name of buddhic energy,

Nhóm thứ tư, nhóm nhân loại, được tiếp năng lượng bởi mãnh lực của loa tuyến thứ tư, mà chúng ta gọi là năng lượng Bồ đề,

39. How interesting that without the intervention of buddhi, and its contact with the highest specimens of the animal kingdom, the human kingdom, the fourth, would not have been created.

39. Thật thú vị biết bao khi nếu không có sự can thiệp của Bồ đề, và sự tiếp xúc của nó với những mẫu mực cao nhất của giới động vật, thì giới nhân loại, giới thứ tư, đã không được tạo ra.

40. Buddhi is the sixth principle of man but is to be associated with the fourth plane (the buddhic plane). There is, therefore, a close association between the energy of the fourth plane and the founding and sustainment of the fourth kingdom, the human.

40. Bồ đề là nguyên khí thứ sáu của con người nhưng lại phải được liên kết với cõi thứ tư (cõi Bồ đề). Vì vậy, có một mối liên hệ chặt chẽ giữa năng lượng của cõi thứ tư với việc thiết lập và duy trì giới thứ tư, tức giới nhân loại.

41. Is this idea suggesting that the Solar Angels which are so essential to the formation of man in this solar system and in this planetary chain are really buddhi beings?

41. Phải chăng ý tưởng này gợi rằng các Thái dương Thiên Thần vốn thiết yếu đến thế đối với sự hình thành con người trong hệ mặt trời này và trong dãy hành tinh này thực sự là các hữu thể Bồ đề hay sao?

and this fourth group has, therefore, the problem of bringing about conditions whereby the buddhic vibrations may dominate the other, and lower, three.

và do đó nhóm thứ tư này có vấn đề là phải tạo ra những điều kiện nhờ đó các rung động Bồ đề có thể chi phối ba rung động kia thấp hơn.

42. The destiny of man is here described in a few words. The purpose of the many millions of years of human evolution is to bring the buddhic vibration into full expression so that it dominates the lower three elemental expressions—the expressions of three types of involutionary lives.

42. Định mệnh của con người ở đây được mô tả trong vài lời. Mục đích của nhiều triệu năm tiến hoá nhân loại là đưa rung động Bồ đề vào biểu hiện trọn vẹn để nó chi phối ba biểu hiện hành khí thấp hơn—những biểu hiện của ba loại sự sống giáng hạ tiến hoá.

43. In doing this the buddhic vibration dominates the mental, astral and etheric-physical vibrations.

43. Khi làm như vậy, rung động Bồ đề chi phối các rung động trí tuệ, cảm dục và dĩ thái-hồng trần.

44. We see that there is a very good reason for the fact that the Fourth Creative Hierarchy finds its field of intended expression upon the buddhic plane, as the Table of Creative Hierarchies on EA 35 illustrates.

44. Chúng ta thấy rằng có một lý do rất xác đáng cho sự kiện Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư tìm thấy lĩnh vực biểu hiện được dự định của nó trên cõi Bồ đề, như Bảng các Huyền Giai Sáng Tạo trong EA 35 minh họa.

It is this imposition which eventually releases the human units, and permits of their passing into the higher group.

Chính sự áp đặt này cuối cùng giải thoát các đơn vị nhân loại, và cho phép họ đi vào nhóm cao hơn.

45. DK is telling us that the imposition of buddhi into the life of human units prepares conditions for their release—probably at the fourth initiation.

45. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng sự áp đặt của Bồ đề vào đời sống của các đơn vị nhân loại chuẩn bị các điều kiện cho sự giải thoát của họ—có lẽ vào lần điểm đạo thứ tư.

46. Into which group is this? Seven groups are discussed. There would be ten if the three lower kingdoms were numbered among the seven, but for some reason they are not listed (unless these three kingdoms are all to be considered as expressions of the human Monad).

46. Đó là nhóm nào? Có bảy nhóm được bàn đến. Sẽ là mười nếu ba giới thấp được tính vào trong bảy nhóm, nhưng vì một lý do nào đó chúng không được liệt kê ra (trừ phi cả ba giới này đều phải được xem là những biểu hiện của Chân thần nhân loại).

47. A group into which the majority of human beings normally passes (eventually) is the group of Solar Angels (via the Path to Sirius), but in the enumeration used in this section of text, the manasadevas (Solar Angels) and men are seen as equivalent.

47. Một nhóm mà đa số con người bình thường sẽ đi vào (cuối cùng) là nhóm các Thái dương Thiên Thần (qua Con Đường đến Sirius), nhưng trong cách liệt kê được dùng trong phần bản văn này, các manasadeva (Thái dương Thiên Thần) và con người được xem là tương đương.

48. Another higher group, however, could be considered the Fifth Kingdom (the Kingdom of Souls), which is still within the Fourth Creative Hierarchy of human Monads.

48. Tuy nhiên, một nhóm cao hơn khác có thể được xem là giới thứ năm (Thiên Giới của các linh hồn), vẫn còn nằm trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư của các Chân thần nhân loại.

The elemental group souls find correspondences in the higher—first, in the human kingdom in the three main groups of Egos,

Các hồn nhóm hành khí tìm thấy những tương ứng ở các cấp cao hơn—trước hết, trong giới nhân loại nơi ba nhóm chính của các chân ngã,

49. There are three elemental group souls working through the three lower kingdoms.

49. Có ba hồn nhóm hành khí hoạt động thông qua ba giới thấp.

50. The three main groups of Egos can be considered those characterized by the three major rays; also the Egos who are in the Department of the Manu, the Bodhisattva and Mahachohan, respectively.

50. Ba nhóm chính của các chân ngã có thể được xem là những nhóm được đặc trưng bởi ba cung chính; đồng thời cũng là các chân ngã thuộc các Ban của Đức Manu, Đức Bồ Tát và Đức Mahachohan, theo thứ tự.

in whom the three types of energy predominate;

trong các chân ngã ấy ba loại năng lượng chiếm ưu thế;

51. These are presumably the energies of the seven rays. All seven are really expression of the three major rays.

51. Có lẽ đây là các năng lượng của bảy cung. Cả bảy cung thực sự đều là những biểu hiện của ba cung chính.

52. It seems that these human groups are distinguished by differences in energy expression rather than differences in degree of unfoldment. It would be somewhat difficult to divide the human family into three parts based upon different degrees of unfoldment. In one way it could be done: the Hall of Ignorance; the Hall of Learning; and the Hall of Wisdom.

52. Dường như các nhóm nhân loại này được phân biệt bởi những khác biệt trong biểu hiện năng lượng hơn là những khác biệt về mức độ khai mở. Sẽ có phần khó khăn nếu chia gia đình nhân loại thành ba phần dựa trên những mức độ khai mở khác nhau. Theo một cách thì có thể làm được điều đó: Phòng Vô Minh; Phòng Học Hỏi; và Phòng Minh triết.

again in the three main or major planetary groups,

rồi lại trong ba nhóm hành tinh chính hay lớn,

53. The three main or planetary groups can be considered as the major Planetary Logoi on the Rays of Aspect.

53. Ba nhóm chính hay nhóm hành tinh có thể được xem là các Hành Tinh Thượng Đế lớn trên Các Cung Trạng Thái.

54. One way of understanding this is to look at Chart VI, TCF, 373. Here we find three major planetary groupings: Uranus, Neptune and the many Planetary Logoi gathered around the planet Saturn and within ‘Greater Saturn’—comprising them all.

54. Một cách để hiểu điều này là nhìn vào Biểu đồ VI, TCF, 373. Ở đó chúng ta thấy ba nhóm hành tinh lớn: Uranus, Neptune và nhiều Hành Tinh Thượng Đế được tập hợp quanh hành tinh Saturn và bên trong “Đại Saturn”—bao gồm tất cả các vị ấy.

and finally in the three aspects.

và cuối cùng trong ba phương diện.

55. The “three aspects” are a still higher Triplicity: the Three Persons of the Logoic Trinity.

55. “Ba phương diện” là một Bộ ba còn cao hơn nữa: Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế Logoic.

56. Of course the third aspect of divinity are universal and extend far, far beyond our solar system.

56. Dĩ nhiên phương diện thứ ba của thiên tính là phổ quát và mở rộng rất, rất xa vượt ngoài hệ mặt trời của chúng ta.

Elemental group animal kingdom Sattvic... Solar Logos

Hồn nhóm hành khí giới động vật Sattvic... Thái dương Thượng đế

Uranus. Father aspect.

Uranus. Phương diện Cha.

57. This group corresponds to the Three Persons of the Logoic Trinity. Uranus is a more ancient ‘Father’ than even Saturn.

57. Nhóm này tương ứng với Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế Logoic. Uranus là một “Người Cha” cổ xưa hơn Saturn nữa.

58. Uranus is, in many ways, the ruler of individuality and individualization. It creates the sense of uniqueness (eventually) in the animal consciousness.

58. Uranus, theo nhiều phương diện, là chủ tinh của cá thể tính và sự biệt ngã hóa. Cuối cùng nó tạo ra cảm thức về tính độc đáo trong tâm thức động vật.

Elemental group vegetable... Rajasic… Planetary Logoi

Hồn nhóm hành khí giới thực vật... Rajasic… Các Hành Tinh Thượng Đế

Neptune. Son aspect

Neptune. Phương diện Con

59. This group corresponds to the Planetary Logoi.

59. Nhóm này tương ứng với các Hành Tinh Thượng Đế.

Elemental group mineral kingdom. Tamasic... Plane devas

Hồn nhóm hành khí giới kim thạch. Tamasic... Các thiên thần cõi

Saturn. Mother, Brahma aspect.

Saturn. Mẹ, phương diện Brahma.

[Page 1139]

[Page 1139]

60. This group corresponds to the Raja Deva Lords

60. Nhóm này tương ứng với các Chúa Tể Raja Deva

61. It is interesting that Saturn is associated with both the Father and the Mother (as found in the Kabala).

61. Thật thú vị khi Saturn được liên kết với cả Cha lẫn Mẹ (như được thấy trong Kabala).

62. It is curious to see (when considering lower correspondences in the lower three kingdoms) that the animal kingdom (so relatively Martian and rajasic) is considered sattvic and the vegetable kingdom, rajasic. That the mineral kingdom is assigned the guna of sattva comes as no surprise.

62. Thật lạ khi thấy (khi xét các tương ứng thấp hơn trong ba giới thấp) rằng giới động vật (vốn tương đối mang tính Sao Hỏa và rajasic) lại được xem là sattvic và giới thực vật là rajasic. Việc giới kim thạch được gán guna sattva thì không có gì đáng ngạc nhiên.

The fourth or human group, unites all three lives.

Nhóm thứ tư hay nhóm nhân loại hợp nhất cả ba sự sống.

63. Humanity is the macrocosm not only for the lower three kingdoms, but for the groups of elemental lives working through those kingdoms.

63. Nhân loại là đại thiên địa không chỉ đối với ba giới thấp, mà còn đối với các nhóm sự sống hành khí hoạt động thông qua các giới ấy.

64. One of the mysteries to be clarified is the relationship between the three groups of elemental lives and the three lower kingdoms.

64. Một trong những huyền nhiệm cần được làm sáng tỏ là mối liên hệ giữa ba nhóm sự sống hành khí và ba giới thấp.

The periodic manifestation of the three elemental groups (through the medium of the three lower kingdoms)

Sự biểu hiện chu kỳ của ba nhóm hành khí (thông qua trung gian của ba giới thấp)

65. Again we find this formulation—“through the three lower kingdoms”. These lower kingdoms are definitely on the evolutionary path, but the three elemental groups apparently are not. Theirs, therefore, is a mysterious relationship. How can involutionary elemental groups express through evolutionary kingdoms? Unless, the elemental groups are not really involutionary. Perhaps only the building essences related to the three lower planes are truly involutionary.

65. Một lần nữa chúng ta gặp công thức này—“thông qua ba giới thấp”. Các giới thấp này rõ ràng ở trên con đường tiến hoá, nhưng ba nhóm hành khí thì dường như không phải vậy. Vì thế, mối liên hệ của chúng là một điều huyền bí. Làm sao các nhóm hành khí giáng hạ tiến hoá có thể biểu hiện thông qua các giới tiến hoá? Trừ phi các nhóm hành khí ấy thực ra không phải là giáng hạ tiến hoá. Có lẽ chỉ những tinh chất kiến tạo liên hệ với ba cõi thấp mới thực sự là giáng hạ tiến hoá.

66. We take note that the three elemental groups manifest periodically. There are cyclic laws which determine this type of manifestation.

66. Chúng ta lưu ý rằng ba nhóm hành khí biểu hiện theo chu kỳ. Có những định luật chu kỳ quyết định loại biểu hiện này.

is, therefore, governed by factors hidden in the nature of that great vibration which we call tamasic, or heavy rhythm.

vì thế được chi phối bởi những yếu tố ẩn giấu trong bản chất của rung động lớn lao mà chúng ta gọi là tamasic, hay nhịp điệu nặng nề.

67. Tamas is a “great vibration” including many kinds of lives related to the lunar energy and to the energy of the previous solar system.

67. Tamas là một “rung động lớn lao” bao gồm nhiều loại sự sống liên hệ với năng lượng nguyệt tính và với năng lượng của hệ mặt trời trước.

68. Although the Elemental Groups are each assigned one of the gunas, when considered as a whole, they are tamasic.

68. Mặc dù mỗi Nhóm Hành Khí được gán cho một trong các guna, nhưng khi được xét như một toàn thể, chúng là tamasic.

It is the vibration of Brahma, the third aspect, the mother or matter aspect.

Đó là rung động của Brahma, phương diện thứ ba, phương diện mẹ hay phương diện vật chất.

69. We can certainly judge that Brahma had much more to do with the previous solar system than with our own, although it is foundational to our present solar system.

69. Chúng ta chắc chắn có thể phán đoán rằng Brahma có liên hệ với hệ mặt trời trước nhiều hơn với hệ mặt trời của chúng ta, mặc dù Ngài là nền tảng cho hệ mặt trời hiện tại của chúng ta.

70. The “Primordial Ray” (the third ray) provides the “vibration of Brahma”.

70. “Cung Nguyên Sơ” (cung ba) cung cấp “rung động của Brahma”.

Their appearance,

Sự xuất hiện của chúng,

71. The appearance of the “three elemental groups”…

71. Sự xuất hiện của “ba nhóm hành khí”…

therefore, is one of a very slow manifestation,

vì thế, là một sự biểu hiện rất chậm,

72. Presumably with the group soul informing the mineral kingdom appearing first, because the mineral kingdom is the first of the three lower kingdoms to appear; the group soul informing the vegetable kingdom second; and lastly the group soul informing the animal kingdom.

72. Có lẽ hồn nhóm thấm nhuần giới kim thạch xuất hiện trước, bởi vì giới kim thạch là giới đầu tiên trong ba giới thấp xuất hiện; hồn nhóm thấm nhuần giới thực vật xuất hiện thứ hai; và cuối cùng là hồn nhóm thấm nhuần giới động vật.

the seven subsidiary vibrations bringing in one or other of the seven groups of each group soul in a very slow alternation.

bảy rung động phụ đưa vào một hay nhóm kia trong bảy nhóm của mỗi hồn nhóm trong một sự luân phiên rất chậm.

73. It is vibrations of certain kinds which bring the group souls into incarnation. Seven subsidiary vibrations bring the seven parts of each group soul into incarnation according to certain established cycles.

73. Chính các rung động thuộc những loại nhất định đưa các hồn nhóm vào lâm phàm. Bảy rung động phụ đưa bảy phần của mỗi hồn nhóm vào lâm phàm theo những chu kỳ đã được thiết lập nhất định.

74. Obviously, the Tibetan is not telling us what these cycles are. He does use the word “alternation”. Does this mean that these seven subsidiary groups come in one at a time, or is the manner of their appearance more complex?

74. Hiển nhiên, Chân sư Tây Tạng không cho chúng ta biết những chu kỳ này là gì. Ngài có dùng từ “luân phiên”. Điều này có nghĩa là bảy nhóm phụ này đi vào từng nhóm một, hay cách thức xuất hiện của chúng phức tạp hơn?

75. We see from this account that there must be twenty-one subsidiary vibrations and twenty-one subsidiary groups in all the three group souls combined.

75. Từ trình thuật này chúng ta thấy rằng hẳn phải có hai mươi mốt rung động phụ và hai mươi mốt nhóm phụ trong toàn bộ ba hồn nhóm kết hợp lại.

The cycles cannot be given;

Không thể đưa ra các chu kỳ;

76. As stated. We are spared the particulars because we would not know how to do anything constructive with them.

76. Như đã nói. Chúng ta được miễn khỏi các chi tiết vì chúng ta sẽ không biết cách làm gì có tính xây dựng với chúng.

two things only can be said: the appearance of these groups

chỉ có thể nói hai điều: sự xuất hiện của các nhóm này

77. Groups and seven subsidiary groups in each group soul.

77. Các nhóm và bảy nhóm phụ trong mỗi hồn nhóm.

as units in manifestation

như những đơn vị trong biểu hiện

78. We note that each group is considered as a “unit”.

78. Chúng ta lưu ý rằng mỗi nhóm được xem như một “đơn vị”.

is controlled by three factors:

được kiểm soát bởi ba yếu tố:

1. The moon, for these are the many lunar fathers.

1. Mặt Trăng, vì đây là nhiều người cha nguyệt tính.

79. The word “pitri” means “father”. These elemental lives are directly associated with the former chain in the Earth-scheme—the Moon-chain. They still respond, from habit, to the cycles of the Moon, even though the Moon, we are told, has no “radiation” per se.

79. Từ “pitri” có nghĩa là “cha”. Các sự sống hành khí này liên hệ trực tiếp với dãy trước trong hệ hành tinh Địa Cầu—Dãy Mặt Trăng. Chúng vẫn còn đáp ứng, do thói quen, với các chu kỳ của Mặt Trăng, dù như chúng ta được cho biết, Mặt Trăng không có “bức xạ” chính nó.

2. The ray in manifestation at any time.

2. cung đang biểu hiện vào bất kỳ thời điểm nào.

80. We can assume that the seven groups within every group soul are each keyed to the seven rays.

80. Chúng ta có thể giả định rằng bảy nhóm trong mỗi hồn nhóm đều được điều chỉnh theo bảy cung.