Trích nội dung chương
82. This is a more abstruse matter. The mineral kingdom, vegetable kingdom and (so we might think) the animal kingdom are all informed by great Lives, high on the ladder of evolution (c.f. TCF 844). However, below, we shall see the human kingdom substituted for the animal kingdom, and we will have to ponder why this might be the case. 82. Đây là một vấn đề khó hiểu hơn. Giới kim thạch, giới thực vật và (như chúng ta có thể nghĩ) giới động vật đều được thấm nhuần bởi các Sự sống vĩ đại, cao trên nấc thang tiến hoá (xem TCF 844). Tuy nhiên, ở dưới, chúng ta sẽ thấy giới nhân loại được thay thế cho giới động vật, và chúng ta sẽ phải suy ngẫm…
81. The incoming seventh ray probably affects these groups strongly.
81. Cung bảy đang đi vào có lẽ tác động mạnh lên các nhóm này.
3. The karma of the informing Life of any kingdom.
3. nghiệp quả của Sự sống thấm nhuần bất kỳ giới nào.
82. This is a more abstruse matter. The mineral kingdom, vegetable kingdom and (so we might think) the animal kingdom are all informed by great Lives, high on the ladder of evolution (c.f. TCF 844). However, below, we shall see the human kingdom substituted for the animal kingdom, and we will have to ponder why this might be the case.
82. Đây là một vấn đề khó hiểu hơn. Giới kim thạch, giới thực vật và (như chúng ta có thể nghĩ) giới động vật đều được thấm nhuần bởi các Sự sống vĩ đại, cao trên nấc thang tiến hoá (xem TCF 844). Tuy nhiên, ở dưới, chúng ta sẽ thấy giới nhân loại được thay thế cho giới động vật, và chúng ta sẽ phải suy ngẫm vì sao điều này có thể là như vậy.
83. The karma of any Life expressing through incarnation is determined by its past. If the great Life is affected, so will be the aspects of that Life—the group soul and its subsidiary aspects.
83. Nghiệp quả của bất kỳ Sự sống nào biểu hiện qua lâm phàm đều được quyết định bởi quá khứ của nó. Nếu Sự sống vĩ đại ấy bị ảnh hưởng, thì các phương diện của Sự sống ấy—hồn nhóm và các phương diện phụ của nó—cũng sẽ bị ảnh hưởng.
The second consideration
Sự xem xét thứ hai
84. Regarding the manifestation of the group souls…
84. Liên quan đến sự biểu hiện của các hồn nhóm…
is the karma and life-history of the planetary entity.
là nghiệp quả và lịch sử sự sống của Thực Thể Hành Tinh.
85. The planetary entity is a great, deeply unconscious Life which will only see fuller development in the next solar system.
85. Thực Thể Hành Tinh là một Sự sống vĩ đại, vô thức sâu xa, chỉ sẽ thấy sự phát triển đầy đủ hơn trong hệ mặt trời kế tiếp.
He sleeps and awakes;
Y ngủ và thức dậy;
86. Cycles for this Life are suggested…
86. Các chu kỳ của Sự sống này được gợi ý…
87. That this entity “awakes” does not suggest that it is self-conscious.
87. Việc thực thể này “thức dậy” không gợi ý rằng nó có ngã thức.
he is the embodiment of tamas,
y là hiện thân của tamas,
88. The vibration of this Life is everything that we recognize as tamasic. It must be a Life strongly influenced by the residual Moon-chain energies and the energies of the previous solar system.
88. Rung động của Sự sống này là tất cả những gì chúng ta nhận ra là tamasic. Hẳn đó là một Sự sống chịu ảnh hưởng mạnh của các năng lượng còn sót lại từ Dãy Mặt Trăng và các năng lượng của hệ mặt trời trước.
and as he progresses and evolves so do the lower kingdoms.
và khi y tiến bộ và tiến hoá thì các giới thấp cũng vậy.
89. The evolution of lesser lives is tied to the evolution of the greater Life in which they “live and move and have their being”.
89. Sự tiến hoá của các sự sống nhỏ hơn gắn liền với sự tiến hoá của Sự sống lớn hơn mà trong đó chúng “sống, chuyển động và hiện hữu”.
The lunar pitris are to the planetary entity what the three major centres are to man or to the Logoi.
Các thái âm tổ phụ đối với Thực Thể Hành Tinh cũng như ba trung tâm chính đối với con người hay đối với Các Thượng đế.
90. This suggests the possibility of forms of life (other than the lunar pitris) which embody or express even lower centers.
90. Điều này gợi ra khả năng có những hình thái sự sống (khác với các thái âm tổ phụ) hiện thân hay biểu lộ những trung tâm còn thấp hơn nữa.
91. In the lunar scale of evolution, the lunar pitris are, thus, relatively high.
91. Vì vậy, trên thang tiến hoá nguyệt tính, các thái âm tổ phụ tương đối là cao.
92. Man expresses his essential nature (monadic nature) through the three major centers and especially through one of them.
92. Con người biểu lộ bản chất cốt yếu của mình (bản chất chân thần) qua ba trung tâm chính và đặc biệt qua một trong số đó.
93. The planetary entity, apparently, expresses its essential nature through the lunar pitris considered as its three higher centers.
93. Thực Thể Hành Tinh, dường như, biểu lộ bản chất cốt yếu của nó qua các thái âm tổ phụ được xem như ba trung tâm cao hơn của nó.
The lunar Pitris who contribute the human form are (to the planetary entity) the correspondence to the head centre.
Các thái âm tổ phụ góp phần tạo nên hình tướng con người là (đối với Thực Thể Hành Tinh) sự tương ứng với trung tâm đầu.
94. Here are some most interesting specifications with respect to the planetary entity.
94. Ở đây có những xác định hết sức thú vị liên quan đến Thực Thể Hành Tinh.
95. We see below that the three major centers are involved—head, heard and throat.
95. Chúng ta sẽ thấy ở dưới rằng ba trung tâm chính được liên hệ—đầu, tim và cổ họng.
96. It the pitris of the mineral kingdom are analogous to the throat center and those of the vegetable kingdom to the heart center, then why are not the pitris associated with the animal kingdom analogous to the head center?
96. Nếu các pitri của giới kim thạch tương tự với trung tâm cổ họng và các pitri của giới thực vật tương tự với trung tâm tim, thì tại sao các pitri liên hệ với giới động vật lại không tương tự với trung tâm đầu?
Those who are the fathers of the vegetable forms correspond to his heart centre, whilst the Pitris of the mineral kingdom are analogous to the throat centre. This is all very obscure but hints of much value lie here.
Những vị là cha của các hình tướng thực vật tương ứng với trung tâm tim của y, trong khi các Pitri của giới kim thạch tương tự với trung tâm cổ họng. Tất cả điều này đều rất mơ hồ nhưng ở đây có những gợi ý rất có giá trị.
97. Yet, in this listing, the animal kingdom is passed over and the pitris associated with the human kingdom are given the role of the head center in the planetary entity.
97. Tuy nhiên, trong sự liệt kê này, giới động vật bị bỏ qua và các pitri liên kết với giới nhân loại được trao vai trò của trung tâm đầu trong Thực Thể Hành Tinh.
98. One of the higher centers, however, is not mentioned—the ajna center, so we must wonder whether the pitris associated with the animal kingdom do not fulfill the role of ajna center in the planetary entity.
98. Một trong các trung tâm cao hơn, tuy vậy, lại không được nhắc đến—trung tâm ajna, vì thế chúng ta phải tự hỏi liệu các pitri liên kết với giới động vật có phải không đảm nhiệm vai trò của trung tâm ajna trong Thực Thể Hành Tinh.
99. One thing may have to be taken into consideration—the very close relationship, in general, between the lunar pitris and the animal kingdom. There is a line of evolution for lunar pitris leading eventually to individualization and it passes through the animal kingdom.
99. Có một điều có lẽ phải được xét đến—mối liên hệ rất mật thiết, nói chung, giữa các thái âm tổ phụ và giới động vật. Có một đường tiến hoá dành cho các thái âm tổ phụ cuối cùng dẫn đến biệt ngã hóa, và nó đi qua giới động vật.
100. The following from the tabulation on TCF, 844, hold many hints:
100. Điều sau đây từ bảng biểu trong Luận về Lửa Vũ Trụ, 844, chứa đựng nhiều gợi ý:
7.
The lunar Pitris
To become men. They will in their higher grades pass directly into the animal evolution of the next cycle and so eventually individualise. Their three higher grades will become animal-men, and the lower four will contribute to the quaternic forms of the men of the next creation.
8.
The animal evolution
Human kingdom.
9.
The vegetable evolution
The animal kingdom.
101. The complexity of these considerations have much to do with the fact that two types of evolution are presently evolving through our Earth-chain—the normal evolution of the fourth chain and the evolution of the third chain (the Moon-chain) transferred from that chain into ours.
101. Tính phức tạp của những điều được xem xét này liên quan rất nhiều đến sự kiện là hiện nay có hai loại tiến hoá đang tiến triển qua Dãy Địa Cầu của chúng ta—sự tiến hoá bình thường của dãy thứ tư và sự tiến hoá của dãy thứ ba (Dãy Mặt Trăng) được chuyển từ dãy ấy sang dãy của chúng ta.
It is not possible to give much further information relative to the periodical appearing of the subhuman forms of life.
Không thể cung cấp thêm nhiều thông tin hơn liên quan đến sự xuất hiện theo chu kỳ của các hình thái sự sống dưới nhân loại.
102. It would seem that all groups of lives appear periodically and that the sub-aspects of these groups also have their own cycles determining periodic appearance within the larger cycles of the group to which they belong.
102. Có vẻ như mọi nhóm sự sống đều xuất hiện theo chu kỳ và các phương diện phụ của những nhóm này cũng có các chu kỳ riêng của chúng, quyết định sự xuất hiện theo chu kỳ bên trong các chu kỳ lớn hơn của nhóm mà chúng thuộc về.
The subject is too obscure, and the detail too vast.
Chủ đề này quá mơ hồ, và chi tiết thì quá bao la.
103. We can certainly realize this to be the case. All this will have to be solved by the scientific occultists of the future. They will have to be specialists to penetrate the obscurity.
103. Chúng ta chắc chắn có thể chứng nghiệm rằng đúng là như vậy. Tất cả điều này sẽ phải được các nhà huyền bí học khoa học của tương lai giải quyết. Họ sẽ phải là những chuyên gia mới có thể xuyên thấu sự mơ hồ ấy.
Until the student has fitted himself to appreciate [Page 1140] the symbolic, or hieroglyphic writings of the adepts,22 it is impossible for him to grasp the matter.
Cho đến khi đạo sinh tự chuẩn bị mình để đánh giá [Page 1140] các văn tự biểu tượng hay tượng hình của các chân sư,22 thì y không thể nắm bắt được vấn đề này.
104. This, in itself, is a hint and encourages us to learn the nature of the Senza Language, study it, and apply it to the interpretation of life.
104. Điều này, tự nó, là một gợi ý và khích lệ chúng ta học bản chất của Ngôn ngữ Senza, nghiên cứu nó, và áp dụng nó vào việc giải thích sự sống.
Footnote 22:
Chú thích 22:
Symbols.
Biểu tượng.
"In a symbol lies concealment or revelation."—Carlyle.
"Trong một biểu tượng có sự che giấu hoặc sự mặc khải."—Carlyle.
1. Symbols are intended for:—
1. Các biểu tượng được dùng cho:—
a. The little evolved. They teach great truths in simple form.
a. Những người ít tiến hoá. Chúng dạy các chân lý lớn dưới hình thức đơn giản.
b. The bulk of humanity. They preserve truth intact and embody cosmic facts.
b. Đại đa số nhân loại. Chúng bảo tồn chân lý nguyên vẹn và thể hiện các sự kiện vũ trụ.
c. The pupils of the Masters. They develop intuition.
c. Các môn sinh của các Chân sư. Chúng phát triển trực giác.
105. We see here a triple function of symbols. For the first two categories of human beings, the symbol may be taken for the reality. Anyone who takes that which is presented to consciousness by the senses as a reality is mistaking a symbol for a reality. The art of spiritual reading is not yet understood.
105. Ở đây chúng ta thấy một chức năng tam phân của các biểu tượng. Đối với hai loại người đầu tiên, biểu tượng có thể bị xem là thực tại. Bất kỳ ai xem điều được các giác quan trình ra cho tâm thức là một thực tại đều đang lầm biểu tượng với thực tại. Nghệ thuật đọc theo tinh thần vẫn chưa được thấu hiểu.
106. The pupils of the Masters know the distinction between rupa and arupa and, thus, use the symbol (as it appears in the rupa worlds) to intuit the nature of the formless reality.
106. Các môn sinh của các Chân sư biết sự phân biệt giữa rupa và arupa và, do đó, dùng biểu tượng (như nó xuất hiện trong các thế giới rupa) để trực giác bản chất của thực tại vô tướng.
2. Symbolic books in the Master's archives used for instruction. These books are interpreted:—
2. Các sách biểu tượng trong văn khố của Chân sư dùng để giảng dạy. Những sách này được giải thích:—
a. By their colour.
a. Bằng màu sắc của chúng.
b. By their position, i.e. above, on and beneath a line.
b. Bằng vị trí của chúng, tức là ở trên, trên, và dưới một đường.
107. The line probably reveals a degree of evolutionary unfoldment and whether the matters dealt with concern energy patterns which have not yet reached the line or those which have transcended it. Such a line could represent individualization itself.
107. Đường này có lẽ tiết lộ một mức độ khai mở tiến hoá và liệu những vấn đề được bàn đến có liên quan đến các mô hình năng lượng chưa đạt đến đường ấy hay những mô hình đã vượt lên trên nó. Một đường như thế có thể tượng trưng cho chính sự biệt ngã hóa.
c. By their connection with each other.
c. Bằng sự liên hệ của chúng với nhau.
108. A book cannot be understood in isolation. The books of symbols to which it is related must be considered.
108. Một cuốn sách không thể được hiểu trong sự cô lập. Phải xét đến các sách biểu tượng mà nó có liên hệ.
d. By their key. One page may be read four ways:—
d. Bằng chìa khóa của chúng. Một trang có thể được đọc theo bốn cách:—
1. From above downwards... involution.
1. Từ trên xuống dưới... giáng hạ tiến hoá.
109. The meaning of this direction for reaching makes perfect sense.
109. Ý nghĩa của hướng đọc này hoàn toàn hợp lý.
110. Certain of the oriental languages are read in this way.
110. Một số ngôn ngữ phương Đông được đọc theo cách này.
2. From beneath upwards... evolution.
2. Từ dưới lên trên... thăng thượng tiến hoá.
111. Again this makes perfect sense.
111. Một lần nữa, điều này hoàn toàn hợp lý.
3. Right to left... greater cycles, etc.
3. Từ phải sang trái... các chu kỳ lớn hơn, v.v.
112. What does this say about those languages which are read from right to left? Yet, they are usually ancient languages relating to conditions long antedating the modern era.
112. Điều này nói gì về những ngôn ngữ được đọc từ phải sang trái? Tuy nhiên, đó thường là những ngôn ngữ cổ xưa liên hệ đến các điều kiện có trước rất lâu thời đại hiện đại.
113. When interpreting the place of, for instance, planetary globes within a chain—for, whether the Venus-globe is the second or the sixth —this method of reading may have application.
113. Khi giải thích vị trí của, chẳng hạn, các bầu hành tinh trong một dãy—vì bầu Sao Kim là thứ hai hay thứ sáu —phương pháp đọc này có thể được áp dụng.
114. Two directions are used and they represent respectively mystical interpretation and occult interpretation. Reading from the right to the left may represent the occult method of interpretation and in that case the Venus-globe would be the second.
114. Có hai hướng được dùng và chúng lần lượt tượng trưng cho cách giải thích thần bí và cách giải thích huyền bí học. Đọc từ phải sang trái có thể tượng trưng cho phương pháp giải thích huyền bí học và trong trường hợp đó bầu Sao Kim sẽ là thứ hai.
115. Reading from the left to the right might represent the mystical way of interpretation and in that case the Venus-globe would be the sixth.
115. Đọc từ trái sang phải có thể tượng trưng cho cách giải thích thần bí và trong trường hợp đó bầu Sao Kim sẽ là thứ sáu.
116. In any case, this footnote offers important hints.
116. Dù sao đi nữa, chú thích này đưa ra những gợi ý quan trọng.
4. Left to right... lesser cycles.
4. Từ trái sang phải... các chu kỳ nhỏ hơn.
117. Are we to abandon our usual interpretation of “from left to right” as forwards? And “from right to left” as backwards? I think there are modes of interpretation in which this abandonment would not be justified.
117. Chúng ta có phải từ bỏ cách giải thích thông thường của mình về “từ trái sang phải” như là tiến tới? Và “từ phải sang trái” như là lùi lại? Tôi nghĩ có những phương thức giải thích mà trong đó sự từ bỏ này không được biện minh.
3. The three keys:—
3. Ba chìa khóa:—
1. Cosmic interpretation. The symbols standing for cosmic facts. i.e., Darkness. Light. The cross. The triangle.
1. Giải thích vũ trụ. Các biểu tượng tượng trưng cho các sự kiện vũ trụ. tức là, Bóng tối. Ánh sáng. Thập giá. Tam giác.
118. The cosmic interpretation will take us outside the realm of our solar system.
118. Cách giải thích vũ trụ sẽ đưa chúng ta ra ngoài phạm vi của hệ mặt trời của chúng ta.
119. The cross and triangle obviously have a cosmic significance. Certainly no man-made religion ‘owns’ either. As for Darkness and Light they are obviously cosmic in their significance.
119. Thập giá và tam giác hiển nhiên có một thâm nghĩa vũ trụ. Chắc chắn không có tôn giáo do con người tạo ra nào “sở hữu” riêng một trong hai biểu tượng ấy. Còn về Bóng tối và Ánh sáng, hiển nhiên chúng mang thâm nghĩa vũ trụ.
120. The same symbols, however, can be applied on lesser levels.
120. Tuy nhiên, cùng những biểu tượng ấy cũng có thể được áp dụng ở các cấp độ thấp hơn.
2. Systemic interpretation. Dealing with evolution of system and all therein.
2. Giải thích hệ thống. Bàn đến sự tiến hoá của hệ thống và mọi thứ trong đó.
121. The triangle, for instance, could represent the Three Persons of the Logoic Trinity.
121. Chẳng hạn, tam giác có thể tượng trưng cho Ba Ngôi của Tam Vị Logoic.
122. The cross, for instance, could represent the crucifixion of the Solar Logos on the Cross of Matter.
122. Chẳng hạn, thập giá có thể tượng trưng cho sự đóng đinh của Thái dương Thượng đế trên Thập Giá của Vật Chất.
123. It could also represent the presence of the Four Maharajas, or Lords of Karma.
123. Nó cũng có thể tượng trưng cho sự hiện diện của Bốn Maharaja, hay các Chúa Tể Nghiệp Quả.
124. The cross, as well, could represent the personality of the Solar Logos.
124. Thập giá cũng có thể tượng trưng cho phàm ngã của Thái dương Thượng đế.
3. Human interpretation. Dealing with man himself. The cross of humanity.
3. Giải thích nhân loại. Bàn đến chính con người. Thập giá của nhân loại.
125. The “cross of humanity” is the fourfold lunar, material nature upon which the consciousness of humanity is bound.
125. “Thập giá của nhân loại” là bản chất vật chất thái âm tứ phân mà tâm thức của nhân loại bị ràng buộc trên đó.
126. As well, man is subject to the cross considered as the four elements of his elemental nature.
126. Ngoài ra, con người còn chịu sự chi phối của thập giá khi được xét như bốn nguyên tố của bản chất hành khí của y.
Seven-branched candlestick.
Chân đèn bảy nhánh.
127. This symbol is similar to the “Saptaparna” –the ‘Seven-Leaved Plant”—the symbol of the seven vehicles or seven principles of man.
127. Biểu tượng này tương tự “Saptaparna” – “Cây Bảy Lá”—biểu tượng của bảy vận cụ hay bảy nguyên khí của con người.
4. Four kinds of symbols:—
4. Bốn loại biểu tượng:—
1. Symbols of extraneous objects …physical plane things.
1. Biểu tượng của các đối tượng ngoại tại … các sự vật cõi hồng trần.
128. From this perspective, all forms upon the physical plane are to be considered as symbolic. The interpretation of all physical plane objects can lead towards an understanding of the subtler patterns which are responsible for their existence.
128. Từ góc độ này, mọi hình tướng trên cõi hồng trần đều phải được xem là có tính biểu tượng. Việc giải thích mọi đối tượng trên cõi hồng trần có thể dẫn đến sự thấu hiểu các mô hình vi tế hơn vốn chịu trách nhiệm cho sự hiện hữu của chúng.
2. Symbols of emotional nature... astral plane things; pictures.
2. Biểu tượng của bản chất cảm xúc... các sự vật cõi cảm dục; các hình ảnh.
129. On the astral plane we find an outpicturing of the forms which are found upon the physical plane. There is a distinct similarity between them.
129. Trên cõi cảm dục chúng ta thấy một sự biểu hiện thành hình của các hình tướng được tìm thấy trên cõi hồng trần. Có một sự tương tự rõ rệt giữa chúng.
130. If a picture reflecting the physical plane is presented to consciousness, we know that picture to belong to the astral plane.
130. Nếu một hình ảnh phản chiếu cõi hồng trần được trình ra cho tâm thức, chúng ta biết hình ảnh ấy thuộc về cõi cảm dục.
3. Numerical symbolism... Lower mental.
3. Biểu tượng số học... cõi hạ trí.
Man used himself to count by.
Con người đã dùng chính mình để đếm.
131. We learn that arithmetic and its numbers belong to the lower mental plane.
131. Chúng ta biết rằng số học và các con số của nó thuộc về cõi hạ trí.
132. We are given hints as to the manner in which man began to enumerate his surroundings—probably with reference to the digits of his hands. Many people still count in this manner—to keep track of their enumeration.
132. Chúng ta được cho những gợi ý về cách con người bắt đầu đếm các sự vật quanh mình—có lẽ bằng cách quy chiếu vào các ngón tay của mình. Nhiều người vẫn còn đếm theo cách này—để theo dõi sự đếm của họ.
4. Geometrical symbolism abstract symbolism, higher mental.
4. Biểu tượng hình học, biểu tượng trừu tượng, cõi thượng trí.
133. Here we have an important distinction. Geometrical symbolism (expressing patterned relationships) pertains to the higher mental plane and numbers, per se, to the lower. Numbers suggest quantity but not relationship in space.
133. Ở đây chúng ta có một sự phân biệt quan trọng. Biểu tượng hình học (biểu đạt các tương quan có mô hình) thuộc về cõi thượng trí còn các con số, chính chúng, thuộc về cõi hạ trí. Các con số gợi ra số lượng nhưng không gợi ra tương quan trong không gian.
134. Numbering seems to come under the rulership of Saturn where as geometrization, under the second ray influence of Jupiter.
134. Việc đánh số dường như nằm dưới quyền cai quản của Sao Thổ, trong khi sự hình học hóa thì dưới ảnh hưởng cung hai của Sao Mộc.
Much of the teaching on this matter is found in records in the department of the Manu, as it concerns primarily the initial stages of form building.
Phần lớn giáo huấn về vấn đề này được tìm thấy trong các hồ sơ thuộc bộ phận của Đức Manu, vì nó chủ yếu liên quan đến các giai đoạn đầu của việc xây dựng hình tướng.
135. This is a fascinating idea., The Manu’s Department is involve not only with the creation of the form of man, but apparently, the creation of the forms found in all the lower kingdoms.
135. Đây là một ý tưởng hấp dẫn. Bộ phận của Đức Manu không chỉ liên quan đến việc tạo ra hình tướng của con người, mà hiển nhiên còn liên quan đến việc tạo ra các hình tướng được tìm thấy trong tất cả các giới thấp.
136. The initial stages of form building involve the following apparently:
136. Các giai đoạn đầu của việc xây dựng hình tướng hiển nhiên bao gồm những điều sau:
a. Picturing or outpicturing—an astral activity
a. Sự tạo hình hay biểu hiện thành hình—một hoạt động cảm dục
b. Numbering—a lower mental activity
b. Sự đánh số—một hoạt động hạ trí
c. Geometrization or arranging items in spatial relationships—a higher mental activity.
c. Sự hình học hóa hay sắp xếp các yếu tố trong các tương quan không gian—một hoạt động thượng trí.
137. We are also led to believe that those in the Manu’s Department must become adept at understanding symbolic or hieroglyphic writing.
137. Chúng ta cũng được dẫn đến chỗ tin rằng những người trong bộ phận của Đức Manu phải trở nên tinh thông trong việc hiểu văn tự biểu tượng hay tượng hình.
It might be said that the appearance of any life in manifestation is due to primary activity on the part of some Entity, which activity is largely the expression of the first Ray.
Có thể nói rằng sự xuất hiện của bất kỳ sự sống nào trong biểu hiện là do hoạt động sơ khởi từ phía một Thực Thể nào đó, mà hoạt động ấy phần lớn là biểu hiện của Cung một.
138. The first ray always controls the factors of appearance or disappearance, which, from the human perspective, we call “life” and “death”—though philosophically we may find reason to reverse them.
138. Cung một luôn luôn kiểm soát các yếu tố của sự xuất hiện hay biến mất, mà từ góc nhìn nhân loại chúng ta gọi là “sự sống” và “cái chết”—dù về mặt triết học chúng ta có thể thấy có lý do để đảo ngược chúng.
139. We are being given important information on the work of the Manu’s Department.
139. Chúng ta đang được cung cấp thông tin quan trọng về công việc của bộ phận Đức Manu.
This concerns the periodical manifestation of the life or lives of any round just as it concerns also the ephemeral existence of a dragon fly;
Điều này liên quan đến sự biểu hiện theo chu kỳ của sự sống hay các sự sống của bất kỳ cuộc tuần hoàn nào cũng như liên quan đến sự tồn tại phù du của một con chuồn chuồn;
140. The emergence or disappearance of any form (great or small) is under the influence of the first ray.
140. Sự xuất hiện hay biến mất của bất kỳ hình tướng nào (lớn hay nhỏ) đều nằm dưới ảnh hưởng của cung một.
it deals with the form through which what we call a race is evolving and concerns itself with the tiny life of an individual in that race.
nó bàn đến hình tướng mà qua đó điều chúng ta gọi là một nhân loại đang tiến hoá và cũng liên quan đến sự sống nhỏ bé của một cá nhân trong nhân loại ấy.
141. All that aggregates must de-aggregate. All that comes together must at length come apart.
141. Mọi cái kết tụ đều phải tan rã. Mọi cái đến với nhau cuối cùng đều phải tách rời.
142. We can see here how the first ray influences the great Law of Attraction, usually considered under the second ray.
142. Ở đây chúng ta có thể thấy cung một ảnh hưởng đến Định luật Hấp Dẫn vĩ đại như thế nào, vốn thường được xét dưới cung hai.
The same laws govern all, though the response to the law may be relative and in degree.
Cùng những định luật ấy chi phối tất cả, dù sự đáp ứng đối với định luật có thể là tương đối và khác nhau về mức độ.
143. This is an important statement because the responses of different forms to the same law differ in scope and extent.
143. Đây là một phát biểu quan trọng vì các đáp ứng của những hình tướng khác nhau đối với cùng một định luật khác nhau về phạm vi và mức độ.
This law has the generic name of the "Law of Cycles," and is expressed in terms of time;
Định luật này có tên gọi chung là "Định luật Chu Kỳ," và được biểu lộ theo thời gian;
144. We are speaking of the law which concerns the appearance or disappearance of any form. Master DK is calling this the “Law of Cycles”.
144. Chúng ta đang nói đến định luật liên quan đến sự xuất hiện hay biến mất của bất kỳ hình tướng nào. Chân sư DK gọi đây là “Định luật Chu Kỳ”.
145. From this perspective, it is a third ray law and relates to Aquarius, Saturn and Uranus.
145. Từ góc độ này, đó là một định luật cung ba và liên hệ với Bảo Bình, Sao Thổ và Sao Thiên Vương.
146. As the first ray and third ray are closely related, there is obviously a first ray component to this law.
146. Vì cung một và cung ba có liên hệ mật thiết, hiển nhiên có một thành phần cung một trong định luật này.
147. And since we are dealing with aggregation and de-aggregation, the second ray Law of Attraction and Repulsion is involved.
147. Và vì chúng ta đang bàn đến sự kết tụ và tan rã, nên Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi của cung hai có liên quan.
[Page 1141] but the secret to the cycles may not as yet be given as it would convey to the intuitive too much dangerous information.
[Page 1141] nhưng bí mật của các chu kỳ thì chưa thể được ban ra vì nó sẽ truyền đạt cho người trực giác quá nhiều thông tin nguy hiểm.
148. Is the “intuitive” here mentioned of good moral character? Perhaps the information would be considered dangerous even if the recipient were an insufficiently developed server of the Great White Lodge.
148. “Người trực giác” được nhắc đến ở đây có phải là người có phẩm hạnh đạo đức tốt không? Có lẽ thông tin ấy sẽ bị xem là nguy hiểm ngay cả khi người tiếp nhận là một người phụng sự chưa phát triển đầy đủ của Thánh đoàn.
149. We note that the concrete mind would not necessarily understand the information conveyed. The intuition would have to be evoked.
149. Chúng ta lưu ý rằng trí cụ thể sẽ không nhất thiết hiểu được thông tin được truyền đạt. Trực giác sẽ phải được gợi lên.
It is the knowledge of this law as it concerns rounds, races, subraces, groups (involutionary and evolutionary) and individuals (human and superhuman) which enables the Lords of Karma, and the Adepts of the good Law, to manipulate force or energy, and so carry all that is, on to its triumphant conclusion.
Chính sự hiểu biết về định luật này khi nó liên quan đến các cuộc tuần hoàn, các nhân loại, các giống dân phụ, các nhóm (giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá) và các cá nhân (nhân loại và siêu nhân loại) giúp các Chúa Tể Nghiệp Quả, và các chân sư của thiện luật, thao tác mãnh lực hay năng lượng, và như thế đưa mọi cái đang hiện hữu đến kết luận khải hoàn của nó.
150. In the description above, we do see the relation of this law to the third ray.
150. Trong phần mô tả trên, chúng ta thực sự thấy mối liên hệ của định luật này với cung ba.
151. As well, the “Law of Cycles” must be related to the highest of the siddhis which DK has ventured to discuss—the siddhi of “All Knowledge”, focused on the third subplane of the atmic plane.
151. Ngoài ra, “Định luật Chu Kỳ” hẳn phải liên hệ với siddhi cao nhất mà DK đã dám bàn đến—siddhi của “Toàn Tri”, tập trung trên cõi phụ thứ ba của cõi atma.
In connection with this, students may get much light on this difficult question of force if they bear in mind that every form in every kingdom on the downward, and the upward arc, is in itself a negative force impelled into activity by a positive force and demonstrating as a combination of the two.
Liên quan đến điều này, các đạo sinh có thể nhận được nhiều ánh sáng về vấn đề khó khăn này của mãnh lực nếu họ ghi nhớ rằng mọi hình tướng trong mọi giới trên cung đi xuống và cung đi lên, tự thân đều là một mãnh lực âm bị một mãnh lực dương thúc đẩy vào hoạt động và biểu lộ như một sự kết hợp của cả hai.
152. This statement holds whether or not the form is found upon the downward or upward arc. There is no such thing as a form which is not impelled into activity by a more positive force than the force embodied in the form.
152. Phát biểu này đúng dù hình tướng được tìm thấy trên cung đi xuống hay cung đi lên. Không có cái gọi là một hình tướng không bị thúc đẩy vào hoạt động bởi một mãnh lực dương hơn mãnh lực được thể hiện trong chính hình tướng ấy.
153. Forms are negative force patterns—relatively.
153. Các hình tướng là những mô hình mãnh lực âm—một cách tương đối.
154. Another way of stating this proposition is that every form consists of both Spirit and matter. The form itself represents the second aspect of divinity which is the aspect of form building. The second aspect is responsible for the magnetic aggregation of matter, itself ruled by the third aspect of divinity.
154. Một cách khác để phát biểu mệnh đề này là mọi hình tướng đều gồm cả tinh thần lẫn vật chất. Bản thân hình tướng tượng trưng cho phương diện thứ hai của thiên tính, là phương diện xây dựng hình tướng. Phương diện thứ hai chịu trách nhiệm về sự kết tụ từ tính của vật chất, mà bản thân vật chất lại được cai quản bởi phương diện thứ ba của thiên tính.
The distinctions are demonstrated in the fact that some forms are negative-positive, others positive-negative, whilst still others are at the point of equilibrium.
Các sự phân biệt được biểu lộ trong sự kiện là một số hình tướng thì âm-dương, những hình tướng khác thì dương-âm, trong khi những hình tướng khác nữa ở tại điểm quân bình.
155. This is clear. For involutionary forms the negative energy predominates over the positive. For superhuman forms, the positive, Spirit aspect, definitely prevails over the negative. The human being is a unit of force in which a point of evolution is reached where equilibrium between the two aspects is demonstrated.
155. Điều này rõ ràng. Đối với các hình tướng giáng hạ tiến hoá, năng lượng âm trội hơn năng lượng dương. Đối với các hình tướng siêu nhân loại, phương diện dương, tinh thần, rõ ràng thắng thế phương diện âm. Con người là một đơn vị mãnh lực trong đó đạt đến một điểm tiến hoá nơi sự quân bình giữa hai phương diện được biểu lộ.
156. From another perspective, the point of equilibrium could be considered the ‘turn’ which distinguishes involutionary forms from evolutionary forms.
156. Từ một góc độ khác, điểm quân bình có thể được xem là “khúc ngoặt” phân biệt các hình tướng giáng hạ tiến hoá với các hình tướng thăng thượng tiến hoá.
This includes all the intermediate stages.
Điều này bao gồm mọi giai đoạn trung gian.
157. The human kingdom, itself, represents an intermediate stage spanning millions of years of process.
157. Chính giới nhân loại tượng trưng cho một giai đoạn trung gian kéo dài hàng triệu năm tiến trình.
The Builders of the cosmos work under cyclic law consciously,
Các Đấng kiến tạo của vũ trụ làm việc dưới định luật chu kỳ một cách hữu thức,
158. We note the word is capitalized—“Builders”. These are greater Lives Who are consciously cooperating with the “Law of Cycles”.
158. Chúng ta lưu ý rằng từ này được viết hoa—“Đấng kiến tạo”. Đây là những Sự sống lớn lao đang hữu thức hợp tác với “Định luật Chu Kỳ”.
and utilise the aggregate of these forces in any kingdom, any group or any unit to bring about the consummation of the plan.
và sử dụng tổng thể các mãnh lực này trong bất kỳ giới nào, bất kỳ nhóm nào hay bất kỳ đơn vị nào để mang lại sự hoàn tất của Thiên Cơ.
159. These “Builders” are wise manipulators of energy and force.
159. Những “Đấng kiến tạo” này là những vị thao tác năng lượng và mãnh lực một cách minh triết.
It would interest men much if they could see and interpret some of the records in the hierarchical records, for in them men and angels, minerals and elements, animals and vegetables, kingdoms and groups, Gods and ants are specified in terms of energy formulas
Điều này sẽ khiến những người nam và nữ rất quan tâm nếu họ có thể thấy và giải thích một số hồ sơ trong các hồ sơ của Thánh đoàn, vì trong đó những người nam và nữ và các thiên thần, khoáng vật và các nguyên tố, động vật và thực vật, các giới và các nhóm, các Thượng đế và loài kiến được xác định theo các công thức năng lượng
160. How very fascinating! Occultism (a scientific pursuit) leads directly to the understanding of such formulas. We are being given an entirely impersonal way of regarding the quality of all manner of E/entities.
160. Thật hấp dẫn biết bao! Huyền bí học (một sự theo đuổi có tính khoa học) dẫn trực tiếp đến sự thấu hiểu những công thức như thế. Chúng ta đang được trao cho một cách hoàn toàn vô ngã để nhìn phẩm tính của mọi loại Thực thể/thực thể.
161. Behind all these formulas stands the One Being Who is the Essence of each. “I mastered energy for I am energy itself. The Master and the mastered are but One.” (EP I 417)
161. Đằng sau tất cả những công thức này là Đấng Duy Nhất, Đấng là Tinh Túy của mỗi hữu thể. “Tôi đã làm chủ năng lượng vì tôi chính là năng lượng. Chân sư và cái được làm chủ chỉ là Một.” (EP I 417)
and by a scrutiny of these records the approximate increase of vibration in any form of any kind can be found out at any time.
và bằng sự khảo sát các hồ sơ này sự gia tăng rung động xấp xỉ trong bất kỳ hình tướng nào thuộc bất kỳ loại nào có thể được tìm ra vào bất cứ lúc nào.
162. Even the Master must study these records carefully.
162. Ngay cả Chân sư cũng phải nghiên cứu cẩn thận những hồ sơ này.
163. There records can be used to ascertain the vibratory differences between various kinds of forms, but, perhaps, as well, the increase of vibration which distinguishes forms of the same general type.
163. Những hồ sơ này có thể được dùng để xác định các khác biệt rung động giữa những loại hình tướng khác nhau, nhưng có lẽ cũng để xác định sự gia tăng rung động phân biệt các hình tướng thuộc cùng một loại tổng quát.
This might be expressed in terms also of the Gunas; it will be found by disciples (when permitted access to the records) that they themselves, along with every other expression of the divine life, are described by a triple formula which conveys to the mind of the initiate the proportions of tamas or inertia, of rajas or activity, and of sattva or rhythm to be found in any form.
Điều này cũng có thể được diễn tả theo các Guna; các đệ tử sẽ thấy (khi được phép tiếp cận các hồ sơ) rằng chính họ, cùng với mọi biểu hiện khác của sự sống thiêng liêng, đều được mô tả bằng một công thức tam phân truyền đạt cho trí tuệ của điểm đạo đồ các tỉ lệ của tamas hay quán tính, của rajas hay hoạt động, và của sattva hay nhịp điệu được tìm thấy trong bất kỳ hình tướng nào.
164. This is comprehensible. Relative to the average human being, the Master would be a sattvic manifestation of Divinity.
164. Điều này có thể hiểu được. So với con người trung bình, Chân sư sẽ là một biểu hiện sattva của Thiên tính.
165. The proportion of the Gunas active in a human being would have a correspondence to the groups of chakras which were more or less active.
165. Tỉ lệ các Guna hoạt động trong một con người sẽ có sự tương ứng với các nhóm luân xa hoạt động nhiều hay ít.
166. In the tamasic period the lower centers would be the most active; in the rajasic period, the middle centers; in the sattvic period, obviously the highest centers.
166. Trong thời kỳ tamas, các trung tâm thấp sẽ hoạt động mạnh nhất; trong thời kỳ rajas, các trung tâm giữa; trong thời kỳ sattva, hiển nhiên là các trung tâm cao nhất.
This, therefore, through correspondences, imparts knowledge as to past achievement, present opportunity and the immediate [Page 1142] future of any unit or embodied life, manifesting under any of the three aspects.
Do đó, điều này, thông qua các tương ứng, truyền đạt tri thức về thành tựu quá khứ, cơ hội hiện tại và tương lai gần [Page 1142] của bất kỳ đơn vị hay sự sống nhập thể nào, biểu hiện dưới bất kỳ phương diện nào trong ba phương diện.
167. The Lords of Karma would find the use of such information indispensable.
167. Các Chúa Tể Nghiệp Quả hẳn sẽ thấy việc sử dụng loại thông tin như thế là không thể thiếu.
168. Presumably, for man at this time, an increase of the sattvic vibration is what is required. Modern man is certainly a rajasic being.
168. Có lẽ, đối với con người vào lúc này, điều cần thiết là sự gia tăng rung động sattva. Con người hiện đại chắc chắn là một hữu thể rajas.
S9S7 Part II
TCF 1142-1146
TCF 1142-1146
Not Yet Proofed
Chưa hiệu đính
Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của Luận về Lửa Vũ Trụ được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary
Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển Luận về Lửa Vũ Trụ ở bên cạnh, vì mục đích liên tục mạch văn. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận
Another series of files in the records give
Một loạt hồ sơ khác trong các văn khố cho biết
169. We must note the remarkable organization and thoroughness of these records, must be not?
169. Chúng ta phải lưu ý đến sự tổ chức đáng kinh ngạc và tính triệt để của những hồ sơ này, phải không?
—under a different formula—information as to what is esoterically called "the heat content" of any unit, "the radiating light" of any form, and the "magnetic force" of every life.
—theo một công thức khác—thông tin về điều được gọi một cách huyền bí là “nhiệt lượng chứa đựng” của bất kỳ đơn vị nào, “ánh sáng bức xạ” của bất kỳ hình tướng nào, và “mãnh lực từ tính” của mọi sự sống.
170. These terms are not equivalent: in this case it is likely that “the heat content” relates to the third aspect; “the radiating light” to the second; and the “magnetic force” to the first. We remember that “magnetism” is esoterically known as a first ray demonstration.
170. Những thuật ngữ này không tương đương nhau: trong trường hợp này có lẽ “nhiệt lượng chứa đựng” liên hệ với phương diện thứ ba; “ánh sáng bức xạ” với phương diện thứ hai; và “mãnh lực từ tính” với phương diện thứ nhất. Chúng ta nhớ rằng “từ điện” được biết một cách huyền bí là một biểu hiện của cung một.
There is still another point upon which I would like to touch. Owing to the fact that the Law which governs the Hierarchy is the second systemic law, the Law of Attraction, students are apt to think that magnetism is a second ray quality. They are right in so far that all the systemic laws are expressions of the life of God through the medium, at this time, of the second ray, which makes our solar system a second ray system. All other laws and qualities (for a law from the divine angle is the motivating, qualified agent of the divine will, as understood in Shamballa) are related to the second ray as it manifests through our planetary Logos. Nevertheless, magnetic action is more closely allied to first ray functioning than it is to the second ray, and is an aspect or quality of the Law of Synthesis. It was this magnetic power of the first ray to which the Christ referred when He said "I, if I be lifted up (The Ascension Initiation. A.A.B.), will draw all men unto me." He faced then those initiations which would qualify Him to become what is esoterically called "a Shamballa recipient." There is, in magnetic action, more of the element of the will and of an expressing purpose. (R&I 375)
Vẫn còn một điểm khác mà tôi muốn đề cập đến. Do sự kiện rằng Định luật chi phối Thánh Đoàn là định luật hệ thống thứ hai, Định luật Hấp Dẫn, nên các đạo sinh dễ nghĩ rằng từ điện là một phẩm tính của cung hai. Họ đúng trong chừng mực mọi định luật hệ thống đều là những biểu hiện của sự sống của Thượng đế qua trung gian, vào lúc này, của cung hai, vốn khiến hệ mặt trời của chúng ta là một hệ thống cung hai. Mọi định luật và phẩm tính khác (vì một định luật, xét từ góc độ thiêng liêng, là tác nhân thúc đẩy và định tính của ý chí thiêng liêng, như được thấu hiểu tại Shamballa) đều liên hệ với cung hai khi nó biểu hiện qua Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Tuy nhiên, hoạt động từ tính liên kết mật thiết với sự vận hành của cung một hơn là với cung hai, và là một phương diện hay phẩm tính của Định luật Tổng Hợp. Chính quyền năng từ tính của cung một này mà Đức Christ đã nói đến khi Ngài phán: "Ta, nếu được nâng lên cao (Cuộc Điểm Đạo Thăng Thiên. A.A.B.), sẽ kéo mọi người đến với ta." Khi ấy Ngài đang đối diện với những lần điểm đạo sẽ làm cho Ngài đủ tư cách để trở thành điều mà huyền bí học gọi là "một vị tiếp nhận Shamballa". Trong hoạt động từ tính có nhiều yếu tố của ý chí và của một mục đích đang biểu lộ hơn. (R&I 375)
3. This Shamballic magnetism not only relates the Ashrams to each other, but it is also the potency which evokes the will or the first ray nature inherent in every man but which is only consciously and definitely unfolded within the periphery of the great Ashram. (R&I 376)
3. Từ điện Shamballa này không những liên kết các ashram với nhau, mà còn là tiềm lực gợi lên ý chí hay bản chất cung một vốn tiềm ẩn trong mỗi người nhưng chỉ được khai mở một cách hữu thức và xác định trong chu vi của đại ashram. (R&I 376)
It is through this knowledge that the Lipikas control the bringing in, and the passing out, of every Life, divine, superhuman, solar and human,
Chính nhờ tri thức này mà các Lipika kiểm soát sự đi vào và sự đi ra của mọi Sự sống, thiêng liêng, siêu nhân, thái dương và nhân loại,
171. The Lipika have control of planetary Lives and, presumably over the Three Persons of the Logoic Trinity. Perhaps, They have control over the coming in and passing out of the Solar Logos, Himself.
171. Các Lipika kiểm soát các Sự Sống Hành tinh và, có lẽ, cả Ba Ngôi của Tam Vị Logoic. Có lẽ Các Ngài còn kiểm soát cả sự đi vào và đi ra của chính Thái dương Thượng đế.
172. We can see that the Lipikas have a definitely first ray function—appearance and disappearance.
172. Chúng ta có thể thấy rằng các Lipika có một chức năng rõ rệt của cung một —xuất hiện và biến mất.
and it is through a consideration of that formula which is the basic formula for a solar system that the physical plane appearance of a solar Logos is controlled, and the length of a cosmic pralaya settled.
và chính qua việc xem xét công thức vốn là công thức căn bản cho một hệ mặt trời mà sự xuất hiện trên cõi hồng trần của một Thái dương Thượng đế được kiểm soát, và độ dài của một Giai kỳ qui nguyên vũ trụ được quyết định.
173. A cosmic pralaya, in this instance, is analogous to the interval between human incarnations. It involves release of the Solar Logos from the cosmic physical plane and focus, successively, upon the cosmic astral plane and the cosmic mental plane.
173. Trong trường hợp này, một Giai kỳ qui nguyên vũ trụ tương tự như khoảng thời gian giữa các lần lâm phàm của con người. Nó bao hàm sự giải thoát Thái dương Thượng đế khỏi cõi hồng trần vũ trụ và sự tập trung, kế tiếp nhau, vào cõi cảm dục vũ trụ rồi cõi trí vũ trụ.
We must not forget that the Lipika Lords of the solar system have Their cosmic prototypes, and that These have Their feeble and groping human reflections in the great astronomical scientists who endeavour to ascertain facts anent the heavenly bodies, being subconsciously aware of the existence of these cosmic formulas conveying information as to the specific gravity, constitution, radiation, magnetic pull, heat and light of any sun, solar system, or constellation.
Chúng ta không được quên rằng các Đấng Lipika của hệ mặt trời có những nguyên mẫu vũ trụ của Các Ngài, và rằng Những Đấng này có những phản ánh nhân loại yếu ớt và dò dẫm của Các Ngài nơi các nhà khoa học thiên văn vĩ đại đang nỗ lực xác định các sự kiện liên quan đến các thiên thể, vì họ một cách tiềm thức nhận biết sự hiện hữu của các công thức vũ trụ này, vốn truyền đạt thông tin về trọng lượng riêng, cấu tạo, bức xạ, lực hút từ tính, nhiệt và ánh sáng của bất kỳ mặt trời, hệ mặt trời hay chòm sao nào.
174. We have a triple analogy between Cosmic Lipika Lords, solar systemic Lipika Lords and human astrophysicists. It is clear that the fifth ray is involved in producing a Lipika Lord.
174. Chúng ta có một sự tương đồng tam phân giữa các Đấng Lipika Vũ Trụ, các Đấng Lipika của hệ mặt trời và các nhà vật lý thiên văn nhân loại. Rõ ràng cung năm có liên quan trong việc tạo ra một Đấng Lipika.
175. The Second Path on the Way of Higher Evolution leads to the cosmic astral plane and is pursued by a number of those who are, monadically, upon the fifth ray. By a process of alchemization they are lifted to the cosmic mental plane, and onto the Path of Absolute Sonship (which is an aspect of training to become a Lipika Lord).
175. Con đường thứ hai trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu dẫn đến cõi cảm dục vũ trụ và được theo đuổi bởi một số vị mà, về mặt chân thần, thuộc cung năm. Qua một tiến trình thuật luyện kim, họ được nâng lên cõi trí vũ trụ, rồi lên Con Đường Tuyệt Đối Tử Hệ (vốn là một phương diện của sự huấn luyện để trở thành một Đấng Lipika).
176. We do note that Lipikas are both of the systemic and cosmic varieties.
176. Chúng ta lưu ý rằng các Lipika thuộc cả loại hệ thống lẫn loại vũ trụ.
177. The formulas under discussion convey various types of information. Let us tabulate them:
177. Các công thức đang được bàn đến truyền đạt nhiều loại thông tin khác nhau. Chúng ta hãy liệt kê chúng:
a. Specific gravity
a. Trọng lượng riêng
b. Constitution
b. Cấu tạo
c. Radiation
c. Bức xạ
d. Magnetic pull
d. Lực hút từ tính
e. Heat
e. Nhiệt
f. Light
f. Ánh sáng
178. I think we can see that even constellations and their Lords are supervised by a type of Lipika Lord.
178. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy rằng ngay cả các chòm sao và các Chúa Tể của chúng cũng được giám sát bởi một loại Đấng Lipika.
Many of them in future and remote ages
Nhiều vị trong số đó, trong những thời đại tương lai và xa xôi,
179. In this case the term “ages” means Mahamanvantaras. It takes many mahamanvantaras for a man (or group of men) to develop into a Lipika Lord.
179. Trong trường hợp này, thuật ngữ “thời đại” có nghĩa là các Đại giai kỳ sinh hóa. Cần nhiều đại giai kỳ sinh hóa để một người (hay một nhóm người) phát triển thành một Đấng Lipika.
will pass to a full comprehension, and will have the formulas committed to their care, thus joining the ranks of the Lipikas. It is a peculiar line, requiring cycles of careful training in divine mathematics.
sẽ đạt đến sự thấu hiểu trọn vẹn, và sẽ được giao phó các công thức để chăm nom, nhờ đó gia nhập hàng ngũ các Lipika. Đây là một tuyến đường đặc biệt, đòi hỏi những chu kỳ huấn luyện cẩn trọng trong toán học thiêng liêng.
180. This is a fascinating statement and one that shows that the mental discipline of mathematics (as humanity understands it) is but the tiny and dim anticipation of a vast, cosmically applicable subject.
180. Đây là một phát biểu hấp dẫn và cho thấy rằng sự rèn luyện trí tuệ của toán học (theo cách nhân loại hiểu) chỉ là sự báo trước nhỏ bé và mờ nhạt của một bộ môn bao la có thể áp dụng ở cấp vũ trụ.
181. The calculations required to ensure an exact working out of karma must be mathematically staggering. If we consider that every human being (or being of any kind) is really an energy formula we can see why karmic adjustments between such formulas must be approached through divine mathematics.
181. Những phép tính cần thiết để bảo đảm sự vận hành chính xác của nghiệp quả hẳn phải gây choáng ngợp về mặt toán học. Nếu chúng ta xét rằng mỗi con người (hay hữu thể thuộc bất kỳ loại nào) thực sự là một công thức năng lượng thì có thể thấy vì sao những điều chỉnh nghiệp quả giữa các công thức như thế phải được tiếp cận qua toán học thiêng liêng.
The Lipika Lords, controlling the periodical manifestation of life are, roughly speaking, divided into the following groups, which it might be of interest to note:
Các Đấng Lipika, kiểm soát sự biểu hiện tuần hoàn của sự sống, nói một cách khái quát, được chia thành các nhóm sau đây, điều mà có lẽ đáng lưu ý:
182. Here we gather some idea of the scope of these great Beings.
182. Ở đây chúng ta có được một ý niệm nào đó về phạm vi của các Đấng vĩ đại này.
1. Three extra-systemic or cosmic Lords of Karma, Who work from a centre in Sirius
1. Ba Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả ngoài-hệ-thống hay vũ trụ, Đấng làm việc từ một trung tâm trong Sirius
183. It is clear that Master DK knows something about the internal structure of Sirius.
183. Rõ ràng Chân sư DK biết điều gì đó về cấu trúc nội tại của Sirius.
184. We have been told of three orders of Lives who live on/in Sirius and now about three “cosmic Lords of Karma” also associated with that great Being.
184. Chúng ta đã được cho biết về ba cấp Sự sống sống trên/trong Sirius và giờ đây lại biết thêm về ba “Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả vũ trụ” cũng liên hệ với Đấng vĩ đại ấy.
through the medium of three representatives.
qua trung gian của ba vị đại diện.
185. The three representatives are active within our solar system.
185. Ba vị đại diện này hoạt động trong hệ mặt trời của chúng ta.
These form a group around the solar Logos, and hold to Him a position analogous to the three Buddhas of Activity Who stand around Sanat Kumara.
Các vị này tạo thành một nhóm quanh Thái dương Thượng đế, và giữ đối với Ngài một vị trí tương tự như ba Đức Phật Hoạt Động đứng quanh Đức Sanat Kumara.
[Page 1143]
[Page 1143]
186. There are at least two groups gathered around our Solar Logos. One group consists of the Three Logoi or Three Persons of the Logoic Trinity. These great Beings also seem to be analogous to the three Buddhas of Activity.
186. Có ít nhất hai nhóm tập hợp quanh Thái dương Thượng đế của chúng ta. Một nhóm gồm Ba Thượng đế hay Ba Ngôi của Tam Vị Logoic. Các Đấng vĩ đại này dường như cũng tương tự với ba Đức Phật Hoạt Động.
187. We cannot say that the three Cosmic Lipika Lords are the same as the Three Logoi or Three Persons.
187. Chúng ta không thể nói rằng ba Đấng Lipika Vũ Trụ là cùng một với Ba Thượng đế hay Ba Ngôi.
188. Perhaps we can solve this if we consider the Three Persons as emanations or aspects of the Solar Logos, Himself.
188. Có lẽ chúng ta có thể giải quyết điều này nếu xem Ba Ngôi như những phát xạ hay phương diện của chính Thái dương Thượng đế.
189. From what we can understand the three Buddhas of Activity are not emanations of Sanat Kumara, but were distinct Planetary Logoi in the previous solar system.
189. Từ những gì chúng ta có thể hiểu, ba Đức Phật Hoạt Động không phải là những phát xạ của Đức Sanat Kumara, mà là những Hành Tinh Thượng Đế riêng biệt trong hệ mặt trời trước.
2. Three Lipika Lords Who are the karmic agents working through the three aspects.
2. Ba Đấng Lipika là các tác nhân nghiệp quả hoạt động qua ba phương diện.
190. We have to determine whether these are three additional Lipika Lords—additional to the one mentioned under Point 1 above, or whether the three representatives of the Three Cosmic Lipika Lords are the very Entities here referenced.
190. Chúng ta phải xác định liệu đây có phải là ba Đấng Lipika bổ sung —bổ sung cho vị được nêu ở Điểm 1 trên đây—hay ba vị đại diện của Ba Đấng Lipika Vũ Trụ chính là những Thực Thể được nói đến ở đây.
191. Given what is stated in Point 3, the three Lipika Lords under Point 2 could be other than the three mentioned in Point 1.
191. Xét theo điều được nêu ở Điểm 3, ba Đấng Lipika ở Điểm 2 có thể là khác với ba vị được nhắc đến ở Điểm 1.
3. Nine Lipikas Who are the sumtotal of the agents for the Law working through what the Qabbalah calls the nine Sephiroth.
3. Chín Lipika là tổng thể các tác nhân của Định luật hoạt động qua điều mà Qabbalah gọi là chín Sephiroth.
192. We note that these nine Lipikas work through the Sephiroth. They are not necessarily equivalent to the Sephiroth.
192. Chúng ta lưu ý rằng chín Lipika này hoạt động qua các Sephiroth. Chúng không nhất thiết tương đương với các Sephiroth.
193. The Sephiroth, from another point of view, are the Planetary Logoi, and what is here said is that these nine Lipikas work through the Planetary Logoi.
193. Các Sephiroth, từ một quan điểm khác, là các Hành Tinh Thượng Đế, và điều được nói ở đây là chín Lipika này hoạt động qua các Hành Tinh Thượng Đế.
194. All in all there are twelve Lipikas mentioned under Points 2 and 3. It is possible, perhaps, to correlate them with the twelve planets which, eventually, will be known to be associated with each of the twelve zodiacal signs.
194. Tính chung lại có mười hai Lipika được nhắc đến ở các Điểm 2 và 3. Có lẽ có thể liên hệ chúng với mười hai hành tinh mà rốt cuộc sẽ được biết là gắn liền với mỗi một trong mười hai dấu hiệu hoàng đạo.
4. Seven presiding agents of karma for each one of the seven schemes.
4. Bảy tác nhân chủ trì của nghiệp quả cho mỗi một trong bảy hệ hành tinh.
195. We must wonder whether there are seven presiding agents, one of the seven for each of the seven major planetary schemes, OR whether each of the seven schemes has seven presiding agents.
195. Chúng ta phải tự hỏi liệu có bảy tác nhân chủ trì, mỗi vị trong bảy vị dành cho mỗi một trong bảy hệ hành tinh chính, HAY mỗi một trong bảy hệ hành tinh đều có bảy tác nhân chủ trì.
196. Only seven planetary schemes are here mentioned, whereas there are really many more. Perhaps the seven sacred schemes in some way include all the others.
196. Ở đây chỉ nhắc đến bảy hệ hành tinh, trong khi thực ra còn nhiều hơn thế. Có lẽ bảy hệ thiêng liêng bằng cách nào đó bao gồm tất cả những hệ khác.
197. If the Sephiroth are really Planetary Logoi then there is at least one major Lipika for each of the nine or twelve planetary schemes. Of a lesser nature than the nine or twelve Lipika (mentioned, collectively, in Points 2 and 3) may be these “seven presiding agents” – presumably seven for each planetary scheme. One wonders whether these seven in some way are associated with each of the seven major chains of any Planetary Logos.
197. Nếu các Sephiroth thực sự là các Hành Tinh Thượng Đế thì có ít nhất một Lipika lớn cho mỗi một trong chín hay mười hai hệ hành tinh. Có bản chất thấp hơn chín hay mười hai Lipika (được nhắc đến tập thể ở các Điểm 2 và 3) có thể là những “bảy tác nhân chủ trì” này – có lẽ là bảy cho mỗi hệ hành tinh. Người ta tự hỏi liệu bảy vị này bằng cách nào đó có liên hệ với mỗi một trong bảy dãy chính của bất kỳ Hành Tinh Thượng Đế nào hay không.
198. In any case, we have received detailed information about extra-systemic or Cosmic Lipika Lords; solar systemic Lipika Lords; planetary Lipika Lords; and intra-planetary Lipika Lords.
198. Dù sao đi nữa, chúng ta đã nhận được thông tin chi tiết về các Đấng Lipika ngoài-hệ-thống hay Vũ Trụ; các Đấng Lipika của hệ mặt trời; các Đấng Lipika hành tinh; và các Đấng Lipika nội hành tinh.
These four groups correspond in manifestation to the Unmanifested, manifesting through the triple Aspects,
Bốn nhóm này tương ứng trong biểu hiện với cái Không Biểu Hiện, biểu lộ qua ba Phương diện,
199. We have four ‘above’ and three ‘below’. This relationship corresponds to the structure of planes in which there are four subplanes of a higher order and three of a lower.
199. Chúng ta có bốn cái “ở trên” và ba cái “ở dưới”. Tương quan này tương ứng với cấu trúc các cõi, trong đó có bốn cõi phụ thuộc một trật tự cao hơn và ba cõi phụ thuộc một trật tự thấp hơn.
200. Relative to physicality, that which is etheric is “unmanifested”.
200. So với tính hồng trần, điều thuộc dĩ thái là “không biểu hiện”.
and under Them work an infinity of lesser agents.
và dưới Các Ngài hoạt động một vô số tác nhân nhỏ hơn.
201. In any case, a very great number, countless from the human perspective.
201. Dù sao đi nữa, đó là một số lượng rất lớn, không thể đếm được từ góc nhìn nhân loại.
These lesser agents
Những tác nhân nhỏ hơn này
202. Though some of these are “lesser agents” they nevertheless, have great scope.
202. Dù một số vị trong số này là “tác nhân nhỏ hơn”, tuy vậy các vị ấy vẫn có phạm vi hoạt động lớn.
might again be somewhat differentiated, each of the following groups being found in every scheme and on every ray-emanation.
lại có thể được biến phân phần nào, mỗi nhóm sau đây đều hiện diện trong mọi hệ hành tinh và trên mọi phát xạ cung.
203. From one perspective, schemes and ray emanations can be considered equivalent.
203. Từ một góc nhìn, các hệ hành tinh và các phát xạ cung có thể được xem là tương đương.
1. The Lipika Lords of a scheme Who, through the manipulation of forces, make it possible for a planetary Logos to incarnate under the Law, and work out His cyclic problem.
1. Các Đấng Lipika của một hệ hành tinh, Đấng, qua sự vận dụng các mãnh lực, làm cho một Hành Tinh Thượng Đế có thể lâm phàm dưới Định luật, và giải quyết vấn đề chu kỳ của Ngài.
204. We have descended to the scheme level. Presumably the Lipika Lords mentioned here are of a lesser order that the “seven presiding agents of karma for each one of the seven schemes”.
204. Chúng ta đã đi xuống cấp độ hệ hành tinh. Có lẽ các Đấng Lipika được nhắc đến ở đây thuộc một cấp thấp hơn “bảy tác nhân chủ trì của nghiệp quả cho mỗi một trong bảy hệ hành tinh”.
2. Those who (under the first group) control the destiny of a chain.
2. Những vị (dưới nhóm thứ nhất) kiểm soát vận mệnh của một Dãy.
205. Are there seven of these Lipika or perhaps ten as at some points in the planetary evolutionary process there are ten planetary chains.
205. Có phải có bảy Lipika loại này hay có lẽ là mười vì tại một số điểm trong tiến trình tiến hoá hành tinh có mười dãy hành tinh.
206. In what way are these controllers of the destiny of a chain different from the “seven presiding agents” listed in Point 4, above?
206. Những vị kiểm soát vận mệnh của một Dãy này khác với “bảy tác nhân chủ trì” được liệt kê ở Điểm 4 trên đây ở phương diện nào?
3. Those who are the energy-directors of a globe.
3. Những vị là các vị chỉ đạo năng lượng của một bầu hành tinh.
207. Of these there must be in any planetary scheme no fewer than forty-nine and probably seventy, if the ten chains with seven globes each are considered.
207. Trong bất kỳ hệ hành tinh nào, số vị này hẳn không dưới bốn mươi chín và có lẽ là bảy mươi, nếu tính mười dãy với mỗi dãy bảy bầu hành tinh.
208. Some books suggest that there may be even twelve chains in a planetary scheme and the number of globes in a chain need not be limited to seven. So we can see that the numbers of Lipika Lords who are energy-directors of the globes in a planetary scheme could be variable.
208. Một số sách gợi ý rằng thậm chí có thể có mười hai dãy trong một hệ hành tinh và số bầu hành tinh trong một dãy không nhất thiết bị giới hạn ở bảy. Vì vậy chúng ta có thể thấy rằng số lượng các Đấng Lipika là những vị chỉ đạo năng lượng của các bầu hành tinh trong một hệ hành tinh có thể thay đổi.
4. Agents of every kind Who are concerned with the karmic adjustments, incident upon the periodical manifestation of such forms as:
4. Các tác nhân thuộc mọi loại, Đấng liên quan đến những điều chỉnh nghiệp quả phát sinh từ sự biểu hiện tuần hoàn của những hình tướng như:
209. The various types of agents are highly organized and have functions which pertain to the various structural elements and cycles of a Planetary Logos functioning through a planetary scheme.
209. Các loại tác nhân khác nhau được tổ chức rất cao và có những chức năng liên quan đến các yếu tố cấu trúc và các chu kỳ khác nhau của một Hành Tinh Thượng Đế đang vận hành qua một hệ hành tinh.
a. A round, seven in all.
a. Một cuộc tuần hoàn, tổng cộng là bảy.
210. We must differentiate between chain rounds and scheme rounds. In any planetary scheme there are probably seven major or scheme rounds, and forty-nine chain rounds—again depending on how many chains there really are in a planetary scheme.
210. Chúng ta phải phân biệt giữa các cuộc tuần hoàn của dãy và các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh. Trong bất kỳ hệ hành tinh nào có lẽ có bảy cuộc tuần hoàn chính hay của hệ hành tinh và bốn mươi chín cuộc tuần hoàn của dãy—một lần nữa còn tùy vào thực sự có bao nhiêu dãy trong một hệ hành tinh.
b. A kingdom in nature, seven in all.
b. Một giới trong thiên nhiên, tổng cộng là bảy.
211. Kingdoms of nature are found throughout the solar system and also in every planetary scheme. DK is telling us that there are agents of Lipika Lords associated with each of the seven kingdoms beginning with the mineral kingdom and ending with the Kingdom of Solar Lives.
211. Các giới trong thiên nhiên hiện diện khắp hệ mặt trời và cũng trong mọi hệ hành tinh. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng có những tác nhân của các Đấng Lipika gắn với mỗi một trong bảy giới, bắt đầu từ giới kim thạch và kết thúc với Giới của các Sự sống Thái Dương.
c. The human kingdom.
c. Giới nhân loại.
212. The human kingdom has seven major divisions or root-races.
212. Giới nhân loại có bảy phân bộ chính hay bảy giống dân gốc.
d. A rootrace, subrace and branch race.
d. Một giống dân gốc, giống dân phụ và giống dân nhánh.
213. Every root-race has seven subraces and each sub-race has seven branch races. There are also lesser divisions probably controlled by the number seven.
213. Mỗi giống dân gốc có bảy giống dân phụ và mỗi giống dân phụ có bảy giống dân nhánh. Cũng có những phân chia nhỏ hơn có lẽ được chi phối bởi số bảy.