← Commentary_S9_1078_1194_song ngữ

S9S8 Part I

Trích nội dung chương

214. We note that the term “family” seems to be of larger scope than the term “group”. The families here references must be very extended families—almost “tribes”. 214. Chúng ta lưu ý rằng thuật ngữ “gia tộc” dường như có phạm vi lớn hơn thuật ngữ “nhóm”. Những gia tộc được nói đến ở đây hẳn phải là những gia tộc rất mở rộng—gần như “bộ lạc”.


e. A nation, a family, a group, and their correspondences in all the kingdoms.

e. Một quốc gia, một gia tộc, một nhóm, và các tương ứng của chúng trong mọi giới.

214. We note that the term “family” seems to be of larger scope than the term “group”. The families here references must be very extended families—almost “tribes”.

214. Chúng ta lưu ý rằng thuật ngữ “gia tộc” dường như có phạm vi lớn hơn thuật ngữ “nhóm”. Những gia tộc được nói đến ở đây hẳn phải là những gia tộc rất mở rộng—gần như “bộ lạc”.

f. A plane.

f. Một cõi.

215. Planes and subplanes will naturally have their karmic rulers.

215. Các cõi và cõi phụ dĩ nhiên sẽ có những vị cai quản nghiệp quả của chúng.

g. The reptile and insect world.

g. Thế giới loài bò sát và côn trùng.

216. There must be a reason why these are mentioned together.

216. Hẳn phải có một lý do vì sao chúng được nhắc đến cùng nhau.

217. Why are the animal kingdom and the vegetable kingdom not mentioned in this enumeration.

217. Vì sao giới động vật và giới thực vật không được nhắc đến trong sự liệt kê này.

h. The bird evolution.

h. Sự tiến hoá của loài chim.

218. We note how the “bird evolution” is separated from that of the reptile. In some descriptions of evolutionary process, the bird evolution is said to arise from that of the reptile, but occultism sees things differently.

218. Chúng ta lưu ý cách “sự tiến hoá của loài chim” được tách riêng khỏi loài bò sát. Trong một số mô tả về tiến trình tiến hoá, sự tiến hoá của loài chim được nói là phát sinh từ loài bò sát, nhưng huyền bí học nhìn sự việc khác đi.

i. The devas.

i. Các thiên thần.

219. It is interesting that the many types of devas are managed by various agents of the Lipika Lords. Presumably, the devas here referenced are the unconscious ones.

219. Thật thú vị khi nhiều loại thiên thần được quản lý bởi các tác nhân khác nhau của các Đấng Lipika. Có lẽ các thiên thần được nói đến ở đây là những vị vô thức.

j. Human units, egoic groups, monadic lives, [Page 1144] and myriads of other forms, objective and subjective, planetary and interplanetary, in connection with the Sun, and in connection with the planetoids.

j. Các đơn vị nhân loại, các nhóm chân ngã, các sự sống chân thần, [Page 1144] và vô số hình tướng khác, khách quan và chủ quan, hành tinh và liên hành tinh, liên hệ với Mặt Trời, và liên hệ với các tiểu hành tinh.

220. DK does not use the phrase “in connection with the planets”, because He has already given much information about the relation of Lipika Lords and Their agents in relation to the planets.

220. Chân sư DK không dùng cụm từ “liên hệ với các hành tinh”, vì Ngài đã cung cấp nhiều thông tin về mối liên hệ của các Đấng Lipika và các tác nhân của Các Ngài đối với các hành tinh.

221. Notice the use of the terms “units”, “groups” and “lives” applied to the three levels of man. Each of them contains a hint. “Lives” certainly break through barriers which still operative in “groups”.

221. Hãy lưu ý việc dùng các thuật ngữ “đơn vị”, “nhóm” và “sự sống” áp dụng cho ba cấp độ của con người. Mỗi thuật ngữ đều hàm chứa một gợi ý. “Sự sống” chắc chắn vượt qua những rào cản vẫn còn hoạt động trong “nhóm”.

222. I think we can gather that all manner of lives are under karmic regulation.

222. Tôi nghĩ chúng ta có thể suy ra rằng mọi loại sự sống đều nằm dưới sự điều chỉnh của nghiệp quả.

All

Tất cả

223. Agents…

223. Các tác nhân…

work with energy emanations, and with force units under cyclic law, and all have the same objective,—the producing of perfected activity, intensification of heat, and of radiant magnetic light as an expression of the will or purpose of each embodied life.

đều làm việc với các phát xạ năng lượng, và với các đơn vị lực dưới định luật chu kỳ, và tất cả đều có cùng một mục tiêu,—tạo ra hoạt động hoàn hảo, sự tăng cường nhiệt, và ánh sáng từ tính rạng ngời như một biểu hiện của ý chí hay mục đích của mỗi sự sống nhập thể.

224. Here we are faced again, with a triplicity: heat, light and will. Somewhat above in this text we encountered heat, light and magnetism.

224. Ở đây chúng ta lại đối diện với một bộ ba: nhiệt, ánh sáng và ý chí. Ở phần trên của đoạn văn này, chúng ta đã gặp nhiệt, ánh sáng và từ điện.

225. We should note then that light is magnetic and that the will is a demonstration of magnetism of a different kind.

225. Vậy chúng ta nên lưu ý rằng ánh sáng có tính từ tính và ý chí là một biểu hiện của từ điện thuộc một loại khác.

Periodicity of manifestation is the cyclic appearance of certain forms of specified energy, and this is true whether a man is speaking of a solar system, of a Ray, of the appearance of a planet in space, or of the phenomenon of human birth.

Tính chu kỳ của biểu hiện là sự xuất hiện theo chu kỳ của những hình tướng nhất định của năng lượng được xác định, và điều này đúng dù một người đang nói về một hệ mặt trời, một cung, sự xuất hiện của một hành tinh trong không gian, hay hiện tượng sinh ra của con người.

226. This is an excellent definition of periodicity. We are speaking scientifically of the “cyclic appearance of certain forms of specified energy” and not about the appearance of certain B/beings—though this, too, is true.

226. Đây là một định nghĩa rất xuất sắc về tính chu kỳ. Chúng ta đang nói một cách khoa học về “sự xuất hiện theo chu kỳ của những hình tướng nhất định của năng lượng được xác định” chứ không phải về sự xuất hiện của những H/hữu thể nhất định—dù điều này cũng đúng.

227. Energy patterns appear and disappear cyclically and all this is controlled by the Law of Periodicity which certainly is related to the Law of Cycles.

227. Các mô hình năng lượng xuất hiện và biến mất theo chu kỳ và tất cả điều này được kiểm soát bởi Định luật Chu kỳ, vốn chắc chắn có liên hệ với Định luật các Chu kỳ.

Certain factors extraneous to any energy unit under consideration, will inevitably affect its appearance, and act as deflecting or directing agents.

Một số yếu tố ở bên ngoài bất kỳ đơn vị năng lượng nào đang được xem xét chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sự xuất hiện của nó, và hoạt động như những tác nhân làm lệch hướng hay định hướng.

228. These “deflecting or directing agents” involve themselves with any energy unit under cyclic law.

228. Những “tác nhân làm lệch hướng hay định hướng” này can dự vào bất kỳ đơn vị năng lượng nào dưới định luật chu kỳ.

The Law of Cycles has ever been regarded as one of the most difficult for a man to master, and it has been truly said that when a man has mastered its technicalities, and can understand its methods of time computation, he has attained initiation.

Định luật các Chu kỳ từ lâu vẫn được xem là một trong những định luật khó nhất để con người làm chủ, và người ta đã nói rất đúng rằng khi một người đã làm chủ các chi tiết kỹ thuật của nó, và có thể hiểu các phương pháp tính thời gian của nó, y đã đạt đến điểm đạo.

229. No third degree initiate has mastered the Law of Cycles. We are speaking of a mastery which pertains to the third subplane of the atmic plane. The initiation referenced here is probably the fifth, which gives the initiate certain abilities upon the atmic plane.

229. Không một điểm đạo đồ cấp ba nào đã làm chủ Định luật các Chu kỳ. Chúng ta đang nói đến một sự làm chủ thuộc về cõi phụ thứ ba của cõi atma. Lần điểm đạo được nói đến ở đây có lẽ là lần thứ năm, vốn ban cho điểm đạo đồ một số năng lực nhất định trên cõi atma.

Its intricacies are so numerous and so bound up with the still greater law, that of cause and effect,

Những phức tạp của nó nhiều đến mức và gắn chặt với định luật còn lớn hơn nữa, tức định luật nhân quả,

230. I.e., the Law of Karma…

230. Tức là, Định luật Nghiệp quả…

that practically the whole range of possible knowledge is thereby surmounted.

đến nỗi trên thực tế toàn bộ phạm vi của tri thức khả hữu nhờ đó được vượt qua.

231. Thus the mastery of the Law of Cycles is connected with the atmic siddhi called “All Knowledge”.

231. Như vậy sự làm chủ Định luật các Chu kỳ gắn liền với siddhi atma được gọi là “Toàn Tri”.

232. The term “surmounted” makes one wonder about the function of a kind of atmic ‘causal body’ found, perhaps, on the second and third subplane of the atmic plane. If this is the case, one must watch every work suggested by the Master as He may be hinting at unsuspected associations.

232. Thuật ngữ “được vượt qua” khiến người ta tự hỏi về chức năng của một loại “thể nguyên nhân” atma, có lẽ được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai và thứ ba của cõi atma. Nếu đúng như vậy, người ta phải chú ý đến mọi tác phẩm do Chân sư gợi ý vì có thể Ngài đang ám chỉ những liên hệ chưa từng được ngờ tới.

To comprehend this law involves ability to:

Để thấu hiểu định luật này cần có khả năng:

a. Deal with the higher mathematical formulas of the solar system.

a. Xử lý các công thức toán học cao hơn của hệ mặt trời.

233. DK has already told us that to calculate the approximately 100,000 year rotation of the solar systemic “atom” involves a type of solar mathematics far beyond human ken.

233. Chân sư DK đã nói với chúng ta rằng việc tính toán sự quay khoảng 100.000 năm của “nguyên tử” hệ mặt trời đòi hỏi một loại toán học thái dương vượt xa sự hiểu biết của con người.

b. Compute the relationship between a unit of any degree and the greater whole upon whose vibration that unit is swept into periodic display.

b. Tính toán mối liên hệ giữa một đơn vị ở bất kỳ cấp độ nào với toàn thể lớn hơn mà trên rung động của nó đơn vị ấy bị cuốn vào sự biểu lộ tuần hoàn.

234. We can consider this computation as part of the mathematics which obtains between the whole and any one of its parts. What energy effect, exactly, does the whole have on the part?

234. Chúng ta có thể xem phép tính này như một phần của toán học tồn tại giữa toàn thể và bất kỳ phần nào của nó. Chính xác thì toàn thể có tác động năng lượng nào lên phần ấy?

235. We should note the meaning of the term “compute”, suggesting that we are looking for a number or formula which will describe the effect.

235. Chúng ta nên lưu ý ý nghĩa của thuật ngữ “tính toán”, gợi rằng chúng ta đang tìm một con số hay công thức mô tả tác động đó.

c. Read the akashic records of a planetary system.

c. Đọc các hồ sơ akasha của một hệ hành tinh.

236. This will put in the hands of one who masters the Law of Cycles the record of the past. Seeing how various cycles worked out in the past, the master of this law will be able to anticipate how such cycles might work out in the present or in the future.

236. Điều này sẽ đặt vào tay người làm chủ Định luật các Chu kỳ hồ sơ của quá khứ. Khi thấy các chu kỳ khác nhau đã vận hành ra sao trong quá khứ, vị làm chủ định luật này sẽ có thể dự đoán các chu kỳ ấy có thể vận hành ra sao trong hiện tại hay tương lai.

d. Judge of karmic effects in time and space.

d. Phán đoán các hiệu quả nghiệp quả trong thời gian và không gian.

237. How else can one plan intelligently within a karmic context?

237. Nếu không thì làm sao người ta có thể hoạch định một cách thông minh trong một bối cảnh nghiệp quả?

e. Differentiate between the four streams of karmic effects as they concern the four kingdoms of nature.

e. Phân biệt giữa bốn dòng chính của các hiệu quả nghiệp quả khi chúng liên quan đến bốn giới trong thiên nhiên.

238. Presumably, DK is speaking of the three lower kingdoms and the human kingdom.

238. Có lẽ Chân sư DK đang nói đến ba giới thấp và giới nhân loại.

239. Having master of the Law of Cycles makes one a master at least of the three lower worlds. A Master of the Wisdom is one Who has mastered the three lower worlds.

239. Làm chủ Định luật các Chu kỳ khiến một người trở thành bậc làm chủ ít nhất đối với ba cõi thấp. Một Chân sư Minh Triết là Đấng đã làm chủ ba cõi thấp.

240. It seems quite probable that only a Master of the Wisdom can have the kind of master of the Law of Cycles here discussed, and even such mastery is only the beginning. There are cycles, it is obvious, that even a Master of the Wisdom cannot understand.

240. Có vẻ khá có thể là chỉ một Chân sư Minh Triết mới có thể có loại sự làm chủ Định luật các Chu kỳ được bàn đến ở đây, và ngay cả sự làm chủ như thế cũng chỉ là khởi đầu. Hiển nhiên có những chu kỳ mà ngay cả một Chân sư Minh Triết cũng không thể thấu hiểu.

f. Distinguish between the three main streams of energy [Page 1145] —the units of inertia, mobility and rhythm — and note the key of each unit, and its place in the great group of transitional points.

f. Phân biệt giữa ba dòng năng lượng chính [Page 1145]—các đơn vị của quán tính, tính động và nhịp điệu—và ghi nhận chủ âm của mỗi đơn vị, cùng vị trí của nó trong đại nhóm các điểm chuyển tiếp.

241. How interesting that energy streams are called “units”. Well, “units” are energy patterns.

241. Thật thú vị khi các dòng năng lượng được gọi là “đơn vị”. Vâng, “đơn vị” là các mô hình năng lượng.

242. We are dealing here with a very obscure sentence.

242. Ở đây chúng ta đang xử lý một câu rất tối nghĩa.

243. Probably each energy-stream has its own keynote, and each unit within any of the energy-streams has a keynote as well.

243. Có lẽ mỗi dòng năng lượng đều có chủ âm riêng của nó, và mỗi đơn vị bên trong bất kỳ dòng năng lượng nào cũng có một chủ âm riêng.

244. We read earlier of “transitional points” or those forms of lives which bridged between kingdoms. This could be one meaning of this term.

244. Trước đó chúng ta đã đọc về các “điểm chuyển tiếp” hay những dạng sự sống làm cầu nối giữa các giới. Đây có thể là một ý nghĩa của thuật ngữ này.

245. Another meaning could relate to the flow of circumstances and those points in that flow when transition to a higher or lower state of vibration is a likely outcome.

245. Một ý nghĩa khác có thể liên hệ đến dòng chảy của các hoàn cảnh và những điểm trong dòng chảy ấy khi sự chuyển tiếp sang một trạng thái rung động cao hơn hoặc thấp hơn là một kết quả có khả năng xảy ra.

These latter units are those who are on the crest of one of the three waves, and ready, therefore, to be transferred into a wave of a higher vibratory capacity.

Những đơn vị thuộc loại sau này là những đơn vị đang ở trên đỉnh của một trong ba làn sóng, và vì vậy sẵn sàng được chuyển dịch vào một làn sóng có năng lực rung động cao hơn.

246. Here it is explained. The transitional points are, indeed, those at which transference from one Guna to another is possible—for instance, from Tamas to Rajas, or from Rajas to Sattva.

246. Ở đây điều đó được giải thích. Quả thật, các điểm chuyển tiếp là những điểm tại đó sự chuyển dịch từ Guna này sang Guna khác là có thể xảy ra—thí dụ, từ Tamas sang Rajas, hoặc từ Rajas sang Sattva.

247. It is very interesting that the Gunas are referred to as energy-streams or as “waves”. We should think of them in energic terms.

247. Điều rất thú vị là các Guna được nói đến như những dòng năng lượng hay như các “làn sóng”. Chúng ta nên nghĩ về chúng theo các thuật ngữ năng lượng.

g. Enter the Hall of Records and there read a peculiar group of documents dealing with planetary manifestation in a fourfold manner.

g. Hãy đi vào Phòng Hồ Sơ và ở đó đọc một nhóm tài liệu đặc biệt bàn về sự biểu hiện hành tinh theo cách tứ phân.

248. We remember from a footnote above the fourfold way of reading a page of symbols.

248. Chúng ta nhớ từ một chú thích ở trên về cách đọc một trang biểu tượng theo lối tứ phân.

249. The libraries of the Masters must be incredibly interesting. One day, when we have earned the right and can use wisely the kind of information there to be found, we will have right of entry.

249. Các thư viện của các Chân sư hẳn phải vô cùng lý thú. Một ngày nào đó, khi chúng ta đã xứng đáng với quyền ấy và có thể sử dụng một cách minh triết loại thông tin được tìm thấy ở đó, chúng ta sẽ có quyền bước vào.

It concerns the planetary Logos, and deals with the transference of energy from the moon chain. It concerns the transmission of energy to another planetary scheme, and concerns the interaction between the human Hierarchy (the fourth Kingdom) and the great informing Life of the animal kingdom.

Điều đó liên quan đến Hành Tinh Thượng Đế, và bàn về sự chuyển dịch năng lượng từ Dãy Mặt Trăng. Điều đó liên quan đến sự truyền dẫn năng lượng sang một hệ hành tinh khác, và liên quan đến sự tương tác giữa Thánh Đoàn nhân loại (giới thứ tư) và Sự sống phú linh vĩ đại của giới động vật.

250. What is said here is of great interest.

250. Điều được nói ở đây hết sức đáng quan tâm.

251. What may be this other planetary scheme? Probably Mars or Venus. The “great informing Life of the animal kingdom” is far more closely related to Mars than to Venus.

251. Hệ hành tinh khác này có thể là gì? Có lẽ là Sao Hỏa hoặc Sao Kim. “Sự sống phú linh vĩ đại của giới động vật” liên hệ với Sao Hỏa chặt chẽ hơn nhiều so với Sao Kim.

When a man can do all these things and has earned the right to know that which produces the phenomenon of manifestation, he has earned the right to enter into the councils of the planetary Hierarchy,

Khi con người có thể làm được tất cả những điều này và đã xứng đáng với quyền biết điều tạo ra hiện tượng biểu hiện, y đã xứng đáng với quyền bước vào các hội đồng của Thánh Đoàn hành tinh,

252. This may be another way of calling the man a Master of the Wisdom.

252. Đây có thể là một cách khác để gọi con người ấy là một Chân sư Minh triết.

and himself to direct streams of energy upon, through and out of the planet.

và chính y điều khiển các dòng năng lượng tác động lên, xuyên qua và phát ra khỏi hành tinh.

253. When the Law of Cycles is mastered the Master becomes not only a knower of all pertinent cycles but a director of the same. We understand that the atmic plane is both a plane of knowledge and a plane of will.

253. Khi Định luật Chu Kỳ được làm chủ, Chân sư không chỉ trở thành một thức giả về mọi chu kỳ thích đáng mà còn là một đấng điều khiển các chu kỳ ấy. Chúng ta hiểu rằng cõi atma vừa là một cõi của tri thức vừa là một cõi của ý chí.

Some idea of the complexity governing the periodical manifestation of a human being may be gathered by a consideration of the forces which bring human units into manifestation, which produce individualisation;

Một vài ý niệm về sự phức tạp chi phối sự biểu hiện theo chu kỳ của một con người có thể được rút ra bằng cách xem xét các mãnh lực đưa các đơn vị nhân loại vào biểu hiện, tạo ra sự biệt ngã hóa;

254. DK attempts to preserve the subject from a superficial estimation of its factors.

254. Chân sư DK cố gắng giữ cho chủ đề này không bị đánh giá hời hợt về các yếu tố của nó.

this is, after all, the appearing of a third stream of energy in conjunction with two others.

rốt cuộc, đây là sự xuất hiện của một dòng năng lượng thứ ba kết hợp với hai dòng khác.

255. The third stream of energy is specially the human. The two other streams are monadic/angelic and the animal stream.

255. Dòng năng lượng thứ ba đặc biệt là dòng nhân loại. Hai dòng kia là dòng chân thần/thiên thần và dòng động vật.

A man is the meeting ground of three streams of force, one or other preponderating according to his peculiar type.

Con người là điểm gặp gỡ của ba dòng mãnh lực, trong đó dòng này hay dòng kia trội hơn tùy theo loại hình đặc thù của y.

256. The three types of forces are the force of Spirit, the force of soul and the forces of matter—i.e., of the lunar elementals.

256. Ba loại mãnh lực ấy là mãnh lực của tinh thần, mãnh lực của linh hồn và các mãnh lực của vật chất—tức là của các hành khí thái âm.

Let us briefly enumerate these factors and thus get some idea as to the complexity of the matter:

Hãy liệt kê vắn tắt các yếu tố này để nhờ đó có được một vài ý niệm về sự phức tạp của vấn đề:

257. DK does not do this to confuse us, but to encourage in us an attitude of patient approach to a vitally important though complex matter.

257. Chân sư DK không làm điều này để gây rối cho chúng ta, mà để khuyến khích nơi chúng ta một thái độ tiếp cận kiên nhẫn đối với một vấn đề cực kỳ quan trọng tuy phức tạp.

The first and paramount factor is the ray upon which a particular human unit is found. This means, that there are seven specialised force streams, each with its peculiar quality, type and rhythm.

Yếu tố đầu tiên và tối quan trọng là cung mà trên đó một đơn vị nhân loại đặc thù được tìm thấy. Điều này có nghĩa là có bảy dòng mãnh lực chuyên biệt, mỗi dòng có phẩm tính, loại hình và nhịp điệu riêng của nó.

258. This informs us that there are seven monadic streams of force. The question sometimes arises whether there are three or seven types of Monads. When considering the monadic plane, there are seven. When considering the life of the Monad upon the logoic plane, there are, in all likelihood, three.

258. Điều này cho chúng ta biết rằng có bảy dòng mãnh lực chân thần. Đôi khi nảy sinh câu hỏi liệu có ba hay bảy loại Chân thần. Khi xét cõi chân thần, có bảy. Khi xét sự sống của chân thần trên cõi logoic, rất có thể chỉ có ba.

The matter is further complicated by the fact that though the Ray of the Monad is its [Page 1146] main qualifying factor,

Vấn đề còn phức tạp thêm bởi sự kiện rằng tuy Cung của Chân thần là yếu tố quy định chính [Page 1146] của nó,

259. We should not this. Although apparently remote, the ray of the Monad is the most important when considering the periodical manifestation of the human being.

259. Chúng ta không nên bỏ qua điều này. Dù có vẻ xa xôi, cung của chân thần vẫn là điều quan trọng nhất khi xét đến sự biểu hiện theo chu kỳ của con người.

260. It is above all the Monad which bring the human being into manifestation—i.e., which produces individualization.

260. Trên hết, chính chân thần là cái đưa con người vào biểu hiện—tức là cái tạo ra sự biệt ngã hóa.

yet two subsidiary Rays, those of the Ego and of the personality, have likewise to be considered.

tuy nhiên hai Cung phụ thuộc, tức cung của chân ngã và của phàm ngã, cũng phải được xét đến.

261. If we are talking about the Monad’s influence in the individualization process, it is very interesting to consider that the personality ray is also involved. At the beginning of human evolution and during its early days, this ray must be latent, unexpressed, yet present.

261. Nếu chúng ta đang nói về ảnh hưởng của chân thần trong tiến trình biệt ngã hóa, thì thật rất thú vị khi xét rằng cung phàm ngã cũng có liên quan. Vào lúc khởi đầu của tiến hóa nhân loại và trong những ngày đầu của nó, cung này hẳn còn tiềm ẩn, chưa biểu lộ, nhưng vẫn hiện diện.

262. What this means is that the emergence of the egoic ray and the personality ray within the lower worlds is not the same as their existence. They can exist and yet not emerge. We know this to be true of the egoic ray, of course, but what we learn here is that it is also true of the personality ray.

262. Điều này có nghĩa là sự xuất hiện của cung chân ngã và cung phàm ngã trong các cõi thấp không đồng nghĩa với sự hiện hữu của chúng. Chúng có thể hiện hữu mà vẫn chưa xuất hiện. Dĩ nhiên, chúng ta biết điều này là đúng đối với cung chân ngã, nhưng điều chúng ta học được ở đây là nó cũng đúng đối với cung phàm ngã.

Secondly, it must be borne in mind that the human units now upon this planet fall naturally into two great groups—those who reached individualisation, or became "units of self-directing energy," upon the moon, and those who attained self-consciousness upon the earth.

Thứ hai, cần ghi nhớ rằng các đơn vị nhân loại hiện nay trên hành tinh này tự nhiên rơi vào hai nhóm lớn—những đơn vị đã đạt đến sự biệt ngã hóa, hay trở thành "những đơn vị năng lượng tự định hướng," trên Mặt Trăng, và những đơn vị đã đạt ngã thức trên Trái Đất.

263. We see how the factor of will is involved in the individualization process. It is impossible to become self-directing without some representation of the will.

263. Chúng ta thấy yếu tố ý chí có liên quan như thế nào trong tiến trình biệt ngã hóa. Không thể trở nên tự định hướng nếu không có một biểu hiện nào đó của ý chí.

264. These are, among all divisions, the major ones.

264. Trong mọi sự phân chia, đây là những phân chia chính yếu.

There are important distinctions between these two groups, for the units of the moon chain are distinguished, not only by a more advanced development, owing to the longer period of their evolution, but also bythe quality of great and intelligent activity, for (as might be expected) on the third or moon chain, the third Ray was a dominant factor.

Có những khác biệt quan trọng giữa hai nhóm này, vì các đơn vị của Dãy Mặt Trăng được phân biệt không chỉ bởi một sự phát triển cao hơn, do thời kỳ tiến hoá dài hơn của họ, mà còn bởiphẩm tính của hoạt động lớn lao và thông tuệ, vì (như có thể chờ đợi) trên dãy thứ ba hay Dãy Mặt Trăng, cung ba là một yếu tố chi phối.

265. Here we have important correspondences associating Moon-chain humanity with the qualities of the number three.

265. Ở đây chúng ta có những tương ứng quan trọng liên kết nhân loại Dãy Mặt Trăng với các phẩm tính của con số ba.

In this fourth chain, the quaternary dominates,

Trong dãy thứ tư này, bộ tứ chi phối,

266. The quaternary in this context is to be understood as the four aspects of the personality.

266. Bộ tứ trong ngữ cảnh này cần được hiểu là bốn phương diện của phàm ngã.

267. One can wonder whether on the Moon-chain whether the three personality vehicles were commonly synthesized into the integrated personality. Yet, it must have been so for a number of human beings, as it was possible to reach the third degree initiate and even the fourth on that chain.

267. Người ta có thể tự hỏi liệu trên Dãy Mặt Trăng, ba vận cụ phàm ngã có thường được tổng hợp thành Phàm ngã tích hợp hay không. Tuy nhiên, điều đó hẳn đã xảy ra đối với một số con người, vì trên dãy ấy có thể đạt đến điểm đạo đồ cấp ba và thậm chí cấp bốn.

or the synthesis of the three so as to produce a fourth,

hoặc sự tổng hợp của ba để tạo ra một cái thứ tư,

268. DK seems to be telling us that this fourth chain is the chain of the integrated personality.

268. Chân sư DK dường như đang cho chúng ta biết rằng dãy thứ tư này là dãy của Phàm ngã tích hợp.

and this is one reason for the intensely material nature of those who entered the human kingdom on this planet.

và đây là một lý do cho bản chất vật chất mãnh liệt của những người đã đi vào giới nhân loại trên hành tinh này.

269. Materialism is, therefore, a greater problem amongst Earth-humanity than it is for Moon-chain humanity.

269. Vì vậy, chủ nghĩa duy vật là một vấn đề lớn hơn nơi nhân loại Trái Đất so với nhân loại Dãy Mặt Trăng.

270. The fourth factor is the factor of matter to which Earth-chain humanity is related.

270. Yếu tố thứ tư là yếu tố vật chất mà nhân loại Dãy Địa Cầu có liên hệ.

The distinctions between the two groups are very great, and one of the mysteries lying behind the main divisions of humanity—rulers and the ruled, capitalists and labourers, the governed and those who govern—is found right here.

Những khác biệt giữa hai nhóm là rất lớn, và một trong những huyền nhiệm nằm sau các phân chia chính của nhân loại—những người cai quản và những người bị cai quản, các nhà tư bản và người lao động, những người bị trị và những người cai trị—được tìm thấy ngay tại đây.

271. The root of many of the problems of humanity is found in the disparity between these two types of humanity.

271. Cội rễ của nhiều vấn đề của nhân loại được tìm thấy trong sự chênh lệch giữa hai loại nhân loại này.

272. It is not easy for the average disciple to discern whether an individual individualized on the Moon-chain or on the Earth-chain, but there are probably certain guidelines to follow. Not only the degree of intelligence but the quality of intelligence should be noted as well as the development of the throat center.

272. Đối với đệ tử trung bình, không dễ để phân biện một cá nhân đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng hay trên Dãy Địa Cầu, nhưng có lẽ có một số chỉ dẫn để theo đó mà nhận biết. Không chỉ mức độ thông minh mà cả phẩm tính của trí tuệ cũng cần được lưu ý, cùng với sự phát triển của trung tâm cổ họng.

No system of sociological reform will be successfully worked out without a due consideration of this important fact.

Không một hệ thống cải cách xã hội học nào có thể được triển khai thành công nếu không lưu tâm đúng mức đến sự kiện quan trọng này.

273. This distinction is not common knowledge amongst reformers. It is important that some of the main ideas of occultism reach those in governing positions.

273. Sự phân biệt này không phải là tri thức phổ biến trong giới cải cách. Điều quan trọng là một số ý tưởng chính của huyền bí học phải đến được với những người đang ở vị trí cai quản.

Other distinguishing features might be enumerated but would only serve at this stage to complicate the matter.

Có thể liệt kê thêm những đặc điểm phân biệt khác, nhưng ở giai đoạn này điều đó chỉ làm cho vấn đề thêm phức tạp.

274. Yet they must be of great fascination. This is a period, however, when perception of the unity of humanity is a desirable objective. It might not, therefore, be advisable to offer too many ways of discriminating one type of humanity from another.

274. Tuy vậy, chúng hẳn rất hấp dẫn. Tuy nhiên, đây là một thời kỳ mà sự nhận thức về tính hợp nhất của nhân loại là một mục tiêu đáng mong muốn. Vì vậy, có lẽ không nên đưa ra quá nhiều cách để phân biện loại nhân loại này với loại nhân loại khác.

S9S8 Part I

TCF 1147-1152

TCF 1146-1152

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

A third factor differentiating the groups of human units who reached self-consciousness on our planet is hidden in the methods employed by the Lords of the Flame at that time. They, we are told, employed three methods.

Một yếu tố thứ ba phân biệt các nhóm đơn vị nhân loại đã đạt ngã thức trên hành tinh chúng ta được ẩn giấu trong các phương pháp được các Đấng Chúa Tể của Lửa sử dụng vào thời đó. Chúng ta được cho biết rằng Các Ngài đã dùng ba phương pháp.

1. We have been looking at the manner in which groups of human units are differentiated.

1. Chúng ta đã xem xét cách thức mà các nhóm đơn vị nhân loại được phân biệt.

2. We now begin an important study which differentiates the methods used by the Lords of the Flame at the time when animal-men of this chain were being individualized.

2. Giờ đây chúng ta bắt đầu một nghiên cứu quan trọng phân biệt các phương pháp được các Đấng Chúa Tể của Lửa sử dụng vào thời kỳ những người-thú của dãy này đang được biệt ngã hóa.

First, They themselves took bodies and thus energised certain of the higher forms of the animal kingdom, so that they appeared as man,

Trước hết, Chính Các Ngài đã nhận lấy các thể và nhờ đó tiếp sinh lực cho một số hình tướng cao hơn của giới động vật, để chúng xuất hiện như con người,

3. The Solar Angels appeared as men but were obviously much higher. This was, we can imagine, a great sacrifice on the part of the Solar Angels who engaged in this process.

3. Các Thái dương Thiên Thần xuất hiện như những con người nhưng hiển nhiên cao hơn rất nhiều. Như chúng ta có thể hình dung, đây là một sự hi sinh lớn lao về phía các Thái dương Thiên Thần đã tham gia vào tiến trình này.

4. The Monad involved was the solar angelic Monad; the vehicle was the human vehicle.

4. Chân thần liên hệ là chân thần thái dương thiên thần; vận cụ là vận cụ nhân loại.

and thus initiated a particular group.

và nhờ đó điểm đạo cho một nhóm đặc thù.

5. Probably it was a group consisting of the very highest type of animal-men of the period. Probably certain Solar Angels ‘entered’ in the midst of such a group and their influence moulded the outer vehicular forms of that group. Outwardly they would have appeared rather the same as the human Monads who continued to use the type of vehicle which the Solar Angels entered. Inwardly, they would have been greatly more advanced. They would have been the God-Kings of that early period. In time, the effect of their presence and psyche upon the vehicles they used would be noted. The outer forms of the vehicles would change.

5. Có lẽ đó là một nhóm gồm loại người-thú cao nhất của thời kỳ ấy. Có lẽ một số Thái dương Thiên Thần đã “đi vào” giữa một nhóm như thế và ảnh hưởng của các Ngài đã nhào nặn các hình thể vận cụ bên ngoài của nhóm ấy. Bề ngoài, họ hẳn xuất hiện khá giống với các chân thần nhân loại tiếp tục sử dụng loại vận cụ mà các Thái dương Thiên Thần đã đi vào. Bên trong, họ hẳn tiến hóa cao hơn rất nhiều. Họ hẳn là những Vua-Thần của thời kỳ sơ khai ấy. Theo thời gian, hiệu quả của sự hiện diện và tâm lý của họ trên các vận cụ mà họ sử dụng sẽ được nhận thấy. Các hình tướng bên ngoài của các vận cụ sẽ thay đổi.

Their descendants can be seen in the highest [Page 1147] specimens of the earth humanity now on earth.

Hậu duệ của họ có thể được thấy nơi những mẫu người cao nhất [Page 1147] của nhân loại Trái Đất hiện đang ở trên địa cầu.

6. This is a fascinating thought. Who are these human beings? Can they be distinguished readily from those who individualized on the Moon-chain? DK does not specify.

6. Đây là một ý tưởng thật hấp dẫn. Những con người này là ai? Có thể dễ dàng phân biệt họ với những người đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng không? Chân sư DK không nói rõ.

7. Note DK’s rather objective perspectives, speaking of groups of human beings as “specimens”.

7. Hãy lưu ý quan điểm khá khách quan của Chân sư DK khi nói về các nhóm người như những “mẫu vật”.

They are not even now, however, as far advanced as the groups of units from the moon chain who came in in Atlantean days.

Tuy nhiên, ngay cả hiện nay họ vẫn chưa tiến xa bằng các nhóm đơn vị từ Dãy Mặt Trăng đã đi vào trong thời Atlantis.

8. We wish to know how close they are in their development to Moon-chain humanity.

8. Chúng ta muốn biết họ gần với nhân loại Dãy Mặt Trăng đến mức nào về mặt phát triển.

Their heredity is peculiar.

Di truyền của họ là đặc biệt.

9. DK says no more about their nature, but one would expect a certain kind of refinement. We must remember that there are some members of Earth-humanity already are part of the Spiritual Hierarchy of our planet—some, perhaps, who are Masters of the Wisdom. The Christ is the foremost among these.

9. Chân sư DK không nói thêm gì về bản chất của họ, nhưng người ta có thể chờ đợi một loại tinh luyện nào đó. Chúng ta phải nhớ rằng đã có một số thành viên của nhân loại Trái Đất là thành phần của Thánh đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta—một số, có lẽ, là các Chân sư Minh triết. Đức Christ là Đấng đứng đầu trong số này.

10. In the particular group under discussion, we might expect a relative absence of the third ray, which was the predominating ray (monadically) of Moon-chain humanity. 25% of Earth-chain humanity had the third ray Monad.

10. Trong nhóm đặc thù đang được bàn đến, chúng ta có thể chờ đợi sự vắng mặt tương đối của cung ba, vốn là cung trội hơn (về mặt chân thần) của nhân loại Dãy Mặt Trăng. 25% nhân loại Dãy Địa Cầu có chân thần cung ba.

11. We realize that the presence of the Solar Angels within the vehicles of early man must have had a tremendous conditioning effect upon those vehicles. Such ‘conditioned’ vehicles then became available for the members of the human race and, because of the conditioning, provided them with additional evolutionary opportunities.

11. Chúng ta nhận ra rằng sự hiện diện của các Thái dương Thiên Thần bên trong các vận cụ của con người sơ khai hẳn đã có một tác động định hình to lớn lên các vận cụ ấy. Những vận cụ đã được “tác động” như thế sau đó trở nên sẵn có cho các thành viên của nhân loại và, do sự tác động ấy, cung cấp cho họ thêm những cơ hội tiến hóa.

They implanted a germ of mind in the secondary group of animal-men who were ready for individualisation.

Các Ngài đã cấy vào một mầm trí tuệ trong nhóm thứ cấp những người-thú đã sẵn sàng cho sự biệt ngã hóa.

12. We note that this method involves direct implantation.

12. Chúng ta lưu ý rằng phương pháp này bao hàm sự cấy trực tiếp.

13. We understand that this could only happen for animal-men who had reached a sufficient degree of development or refinement.

13. Chúng ta hiểu rằng điều này chỉ có thể xảy ra đối với những người-thú đã đạt đến một mức phát triển hay tinh luyện đầy đủ.

14. DK does not give the requirements for those who could receive this implantation, but we know that such requirements must have existed.

14. Chân sư DK không nêu ra các điều kiện đối với những ai có thể tiếp nhận sự cấy này, nhưng chúng ta biết rằng hẳn phải có những điều kiện như thế.

This group, for a long time, was unable to express itself,

Nhóm này, trong một thời gian dài, không thể tự biểu lộ,

15. This probably means that the developing causal body was unable to find expression through the vehicle—and largely the physical vehicle, as we are speaking of developments in Lemurian times.

15. Điều này có lẽ có nghĩa là thể nguyên nhân đang phát triển không thể tìm được sự biểu lộ qua vận cụ—và phần lớn là qua vận cụ hồng trần, vì chúng ta đang nói về những phát triển trong thời Lemuria.

16. DK seems to be telling us that the developing human qualities (inwardly ‘stored’) probably were not easily expressed upon the physical plane.

16. Chân sư DK dường như đang cho chúng ta biết rằng các phẩm tính nhân loại đang phát triển (được “cất giữ” bên trong) có lẽ không dễ biểu lộ trên cõi hồng trần.

and was most carefully nurtured by the Lords of Flame,

và đã được các Đấng Chúa Tể của Lửa nuôi dưỡng hết sức cẩn trọng,

17. We can see that these early stages of development must have demanded close solar angelic supervision. We must compare this thought with the thought that the Solar Angel usually does not interest itself in the developing human being until the fifth petal of the egoic lotus is being organized and beginning to unfold.

17. Chúng ta có thể thấy rằng các giai đoạn phát triển ban đầu này hẳn đã đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ của các Thái dương Thiên Thần. Chúng ta phải so sánh ý tưởng này với ý tưởng cho rằng Thái dương Thiên Thần thường không quan tâm đến con người đang phát triển cho đến khi cánh hoa thứ năm của Hoa Sen Chân Ngã đang được tổ chức và bắt đầu khai mở.

nearly proving a failure.

suýt nữa đã chứng tỏ là một thất bại.

18. We see that experiments exist even for beings far in advance of the present-day human being. We understand nothing of the risks and obstacles which may have rendered this great experiment a failure.

18. Chúng ta thấy rằng ngay cả đối với những hữu thể vượt xa con người ngày nay, các cuộc thử nghiệm vẫn tồn tại. Chúng ta không hiểu gì về những rủi ro và chướng ngại có thể đã khiến cuộc thử nghiệm lớn lao này trở thành một thất bại.

19. What would it here again have meant for the group to have become a “failure”? Perhaps that the spark of mind might not have germinated sufficiently to become the directing power of the life? That, therefore, the lower elemental life would have remained completely in control, overwhelming the developing human consciousness? Perhaps that no true recognition of individuality might have developed?

19. Ở đây, việc nhóm ấy trở thành một “thất bại” một lần nữa có thể đã có nghĩa là gì? Có lẽ là tia lửa trí tuệ đã không nảy mầm đủ để trở thành quyền năng chỉ đạo của sự sống? Và vì vậy, sự sống hành khí thấp hơn sẽ vẫn hoàn toàn kiểm soát, áp đảo tâm thức nhân loại đang phát triển? Có lẽ là không có sự nhận biết chân thực nào về cá tính có thể phát triển?

By the time, however, that the last subrace of the Lemurian root race was at its height

Tuy nhiên, vào lúc mà giống dân phụ cuối cùng của giống dân gốc Lemuria đạt đến đỉnh cao

20. The seventh sub-race of the Lemurian root-race…

20. Giống dân phụ thứ bảy của giống dân gốc Lemuria…

21. Would this have occurred in early Atlantean times as there is always an overlapping of one root-race with the following root-race? I believe there is merit to this thought.

21. Điều này có xảy ra vào đầu thời Atlantis không, vì luôn có sự chồng lấn của một giống dân gốc với giống dân gốc kế tiếp? Tôi tin rằng ý tưởng này có giá trị.

it suddenly came into the forefront of the then civilisation, and justified hierarchical effort.

nó đột nhiên tiến lên hàng đầu của nền văn minh lúc bấy giờ, và biện minh cho nỗ lực của Thánh Đoàn.

22. What types of human beings comprised the “then civilisation”? Did it consist of those who were the descendants of the Solar Angels who actually embodied the forms of early animal-man? Were there also lesser humans for whom the mental unit had been “fanned” but the spark of mind not implanted?

22. Những loại người nào đã cấu thành nền văn minh “lúc bấy giờ”? Nó có gồm những người là hậu duệ của các Thái dương Thiên Thần đã thực sự nhập thể vào các hình thể của người-thú sơ khai không? Có phải cũng có những con người thấp hơn mà đơn vị hạ trí đã được “quạt lên” nhưng tia lửa trí tuệ chưa được cấy vào không?

23. Were there, possibly, individuals who had come in from the Moon-chain? This latter possibility may be unlikely because we are told that Moon-chain humanity came in during the early fourth root-race, specifically the third sub-race of the fourth root-race.

23. Có thể chăng đã có những cá nhân đi vào từ Dãy Mặt Trăng? Khả năng sau này có lẽ không cao vì chúng ta được cho biết rằng nhân loại Dãy Mặt Trăng đã đi vào trong thời đầu của giống dân gốc thứ tư, cụ thể là giống dân phụ thứ ba của giống dân gốc thứ tư.

24. However, if there was an overlap between the Lemurian and Atlantean civilizations (as very likely there would have been) then the Atlantean group could have begun coming in when the Lemurian root-race reached the fourth sub-race of the third root race. In that case, some Moon-chain humanity could certainly have comprised some of the membership of the seventh sub-race of the third root race.

24. Tuy nhiên, nếu có sự chồng lấn giữa các nền văn minh Lemuria và Atlantis (như rất có thể đã có) thì nhóm Atlantis có thể đã bắt đầu đi vào khi giống dân gốc Lemuria đạt đến giống dân phụ thứ tư của giống dân gốc thứ ba. Trong trường hợp đó, một số nhân loại Dãy Mặt Trăng chắc chắn có thể đã cấu thành một phần thành viên của giống dân phụ thứ bảy của giống dân gốc thứ ba.

25. Yet, it is hard to imagine (were the Moon-chainers part of that later Lemurian civilization) how those in whom the spark of mind was implanted might have “come to the fore”. One would presume that they would be still far behind the Moon-chainers.

25. Tuy vậy, thật khó hình dung rằng (nếu những người từ Dãy Mặt Trăng là một phần của nền văn minh Lemuria muộn ấy) thì những người mà tia lửa trí tuệ đã được cấy vào lại có thể đã “nổi lên hàng đầu” như thế nào. Người ta sẽ cho rằng họ vẫn còn ở rất xa phía sau những người từ Dãy Mặt Trăng.

26. We can see how important it will be to have accurate knowledge of the Science of Cycles.

26. Chúng ta có thể thấy việc có được tri thức chính xác về Khoa Học Chu Kỳ sẽ quan trọng đến mức nào.

Thirdly, They fostered the germ of instinct in certain groups of animal-men until it flowered into mind.

Thứ ba, Các Ngài đã nuôi dưỡng mầm bản năng trong một số nhóm người-thú cho đến khi nó nở hoa thành trí tuệ.

27. The mental unit itself grew out of “instinct”. This process can be understood as “fanning” the germ of mind provided by instinct, but not as direct implantation.

27. Chính đơn vị hạ trí đã phát triển ra từ “bản năng”. Tiến trình này có thể được hiểu là “quạt lên” mầm trí tuệ do bản năng cung cấp, chứ không phải là sự cấy trực tiếp.

28. The mental unit would naturally have developed (and unfolded) under the pressure of ‘rising’ instinct, but nowhere nearly as rapidly without the intervention of the Solar Angels.

28. Đơn vị hạ trí tự nhiên hẳn đã phát triển (và khai mở) dưới áp lực của bản năng đang “dâng lên”, nhưng sẽ không thể nhanh gần đến thế nếu không có sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần.

29. In each case the Solar Angels did what they could, given the caliber of the diverse types of animal-men of the period.

29. Trong mỗi trường hợp, các Thái dương Thiên Thần đã làm điều các Ngài có thể làm, tùy theo phẩm cấp của các loại người-thú khác nhau trong thời kỳ ấy.

It must never be forgotten that men have within themselves (apart from any extraneous fostering)

Không bao giờ được quên rằng con người có bên trong chính mình (không kể bất kỳ sự nuôi dưỡng ngoại lai nào)

30. The fostering power of the Solar Angels..

30. Quyền năng nuôi dưỡng của các Thái dương Thiên Thần..

the ability to arrive, and to achieve full self-consciousness.

khả năng đi đến đích, và đạt được ngã thức trọn vẹn.

31. Yes, these types would have arrived at individualization and self-consciousness even without the Solar Angels, but how many millions of years might it have taken?

31. Đúng vậy, các loại này hẳn đã đi đến sự biệt ngã hóa và ngã thức ngay cả không có các Thái dương Thiên Thần, nhưng điều đó có thể đã mất bao nhiêu triệu năm?

32. The ability to achieve full self-consciousness (without extraneous intervention) was demonstrated on the Moon-chain. We do not know the manner of individualization as it occurred in the previous solar system, but perhaps the Moon-chain method was a reflection of that far earlier method.

32. Khả năng đạt đến ngã thức trọn vẹn (không có sự can thiệp từ bên ngoài) đã được chứng minh trên Dãy Mặt Trăng. Chúng ta không biết cách thức biệt ngã hóa như đã xảy ra trong hệ mặt trời trước, nhưng có lẽ phương pháp của Dãy Mặt Trăng là một phản ánh của phương pháp xa xưa hơn nhiều ấy.

These three methods bring us to the fourth factor which must be remembered, that of the three modes of motion which powerfully affect the incarnating jivas.

Ba phương pháp này đưa chúng ta đến yếu tố thứ tư cần phải được ghi nhớ, đó là ba phương thức chuyển động tác động mạnh mẽ đến các jiva đang lâm phàm.

33. Here Master DK will speak of the three Gunas in relation to the individualization process.

33. Ở đây Chân sư DK sẽ nói về ba Guna trong liên hệ với tiến trình biệt ngã hóa.

The Sons of Mind are distinguished by the three qualities of matter as has been earlier brought out, and they have been generically called:

Các Con của Trí Tuệ được phân biệt bởi ba phẩm tính của vật chất như đã được nêu ra trước đây, và một cách tổng quát đã được gọi là:

1. The Sons of sattvic rhythm,

1. Các Con của nhịp điệu sattva,

34. These are the most advanced human beings. We could call them initiates. This group can be associated with the Hall of Wisdom.

34. Đây là những con người tiến hóa nhất. Chúng ta có thể gọi họ là các điểm đạo đồ. Nhóm này có thể được liên kết với Phòng Minh triết.

2. The Sons of mobility,

2. Các Con của tính động,

35. These are intelligent and awakening human beings.

35. Đây là những con người thông minh và đang thức tỉnh.

36. This group can be associated with the Hall of Learning.

36. Nhóm này có thể được liên kết với Phòng Hiểu Biết.

3. The Sons of inertia.

3. Các Con của quán tính.

37. These are the least awakened human beings.

37. Đây là những con người ít thức tỉnh nhất.

38. This group can be associated with the Hall of Ignorance.

38. Nhóm này có thể được liên kết với Phòng Vô Minh.

These qualities are the characteristics of the three major Rays, and of the three Persons of the Godhead;

Những phẩm tính này là các đặc trưng của ba Cung chính, và của ba Ngôi của Thượng đế;

39. This association is not exactly straightforward. Tamas can represent the inertia of unresponsive matter but also the changelessness of Spirit. Rajas can represent a life of material desire but also the life of ceaseless spiritual aspiration. Sattva generally has the connotation of balance. It can represent the balance between consciousness and activity achieved in states of high soul development. There is also an early state before the balance is preserved and true development in matter begins.

39. Sự liên kết này không hoàn toàn trực tiếp. Tamas có thể biểu thị quán tính của vật chất không đáp ứng nhưng cũng có thể biểu thị tính bất biến của tinh thần. Rajas có thể biểu thị đời sống ham muốn vật chất nhưng cũng có thể biểu thị đời sống khát vọng tinh thần không ngừng. Sattva nói chung mang hàm ý quân bình. Nó có thể biểu thị sự quân bình giữa tâm thức và hoạt động đạt được trong các trạng thái phát triển linh hồn cao. Cũng có một trạng thái ban đầu trước khi sự quân bình được duy trì và sự phát triển chân chính trong vật chất bắt đầu.

they are the qualities of consciousness—material, intelligent, and divine.

chúng là các phẩm tính của tâm thức—vật chất, thông tuệ và thiêng liêng.

40. If we look at the three words: “material”, “intelligent” and “divine”, they (as usually understood) correlate with tamas, rajas and sattva respectively.

40. Nếu chúng ta nhìn vào ba từ: “vật chất”, “thông tuệ” và “thiêng liêng”, thì chúng (theo cách hiểu thông thường) tương ứng với tamas, rajas và sattva theo thứ tự.

They are the predominating characteristics of the chains of which our earth is one.

Chúng là những đặc tính trội hơn của các dãy mà Trái Đất chúng ta là một trong số đó.

41. There is always a question about how to interpret the term “earth”, as it may signify our dense physical globe (not really entirely dense) or, perhaps, the entire Earth-scheme.

41. Luôn luôn có một câu hỏi về cách diễn giải thuật ngữ “Trái Đất”, vì nó có thể chỉ bầu hành tinh hồng trần đậm đặc của chúng ta (thật ra không hoàn toàn đậm đặc), hoặc có lẽ là toàn bộ hệ hành tinh Địa Cầu.

42. How shall we consider the meaning of this statements. Sometimes the Earth-scheme is called, accurately, a “scheme” but in the older theosophical literature, a “chain”.

42. Chúng ta nên hiểu ý nghĩa của phát biểu này như thế nào? Đôi khi hệ hành tinh Địa Cầu được gọi một cách chính xác là một “hệ hành tinh”, nhưng trong văn liệu Thông Thiên Học cổ hơn, nó được gọi là một “Dãy”.

43. I think we can agree that (at their present stages of unfoldment) some of these chains (really schemes) are presently tamasic, some of them are presently rajasic and some are presently sattvic. Whether they are tamasic, rajasic or sattvic (from one perspective) can depend not so much on the inherent spiritual status of the Planetary Logos in question, but on the degree of unfoldment of that Logos through its various vehicles.

43. Tôi nghĩ chúng ta có thể đồng ý rằng (ở các giai đoạn khai mở hiện nay của chúng) một số dãy này (thật ra là các hệ hành tinh) hiện nay mang tính tamas, một số hiện nay mang tính rajas và một số hiện nay mang tính sattva. Việc chúng là tamas, rajas hay sattva (xét từ một góc nhìn) có thể không phụ thuộc nhiều vào địa vị tinh thần cố hữu của Đức Hành Tinh Thượng Đế đang được xét, mà phụ thuộc vào mức độ khai mở của Thượng đế ấy qua các vận cụ khác nhau của Ngài.

44. On the other hand, it is possible that the terms “tamasic”, “rajasic” and “tamasic” could refer to the actual degree of spiritual status, with the non-sacred planets deemed to be “tamasic” and the highest of the planetary Deities (the Logoi of the synthesizing planets for instance) deemed as “sattvic”.

44. Mặt khác, cũng có thể là các thuật ngữ “tamasic”, “rajasic” và “tamasic” có thể chỉ địa vị tinh thần thực sự, trong đó các hành tinh không thiêng liêng được xem là “tamasic” và các Thượng đế hành tinh cao nhất (chẳng hạn các Logoi của những hành tinh tổng hợp) được xem là “sattvic”.

45. If we look at this sentence in the context of the chains of the Earth-scheme, then “our earth” is probably considered to be the Earth-chain. Clearly there is an etheric plane, an astral plane, a mental plane etc. associated with “our earth” so I do not think that DK is referring only to the physical crust of our planet.

45. Nếu chúng ta nhìn câu này trong bối cảnh các dãy của hệ hành tinh Địa Cầu, thì “địa cầu của chúng ta” có lẽ được xem là Dãy Địa Cầu. Rõ ràng có một cõi dĩ thái, một cõi cảm dục, một cõi trí v.v. gắn liền với “địa cầu của chúng ta”, vì vậy tôi không nghĩ rằng Chân sư DK chỉ nói đến lớp vỏ hồng trần của hành tinh chúng ta mà thôi.

46. The chains are really both independent and interdependent spheres of planetary activity. Knowledge of what occurs within them is sketchy at this time.

46. Các dãy thật ra vừa là những khối cầu độc lập vừa là những khối cầu tương thuộc của hoạt động hành tinh. Hiểu biết về những gì xảy ra trong đó hiện nay còn sơ lược.

47. In the tabulation below we are considering whether the various chains of the Earth-scheme are tamasic, rajasic or sattvic. We can see that one begins with the chain located on the highest planes and ends with a corresponding chain on an equally high level of development.

47. Trong bảng dưới đây, chúng ta đang xét xem các dãy khác nhau của hệ hành tinh Địa Cầu là tamasic, rajasic hay sattvic. Chúng ta có thể thấy rằng người ta bắt đầu với dãy nằm trên các cõi cao nhất và kết thúc với một dãy tương ứng ở một cấp độ phát triển cao tương đương.

Earth Planetary Scheme

Hệ Hành Tinh Địa Cầu

First Chain............ Archetypal.

Dãy Thứ Nhất............ Nguyên mẫu.

Second Chain........ Sattvic Rhythm. [1148]

Dãy Thứ Hai........ Nhịp điệu sattvic. [Page 1148]

Third Chain........... Mobility.

Dãy Thứ Ba........... Tính động.

Fourth Chain......... Inertia.

Dãy Thứ Tư......... Quán tính.

Fifth Chain............ Mobility.

Dãy Thứ Năm............ Tính động.

Sixth Chain............ Sattvic Rhythm.

Dãy Thứ Sáu............ Nhịp điệu sattvic.

Seventh Chain....... Perfection.

Dãy Thứ Bảy....... Sự toàn thiện.

48. By the time the process on the Seventh Chain is fulfilled, that which is archetypal in the first chain has been manifested or realized. The seventh chain sees the embodiment of first chain archetypes.

48. Vào lúc tiến trình trên Dãy Thứ Bảy được hoàn tất, điều vốn là nguyên mẫu trong dãy thứ nhất đã được biểu hiện hay được chứng nghiệm. Dãy thứ bảy chứng kiến sự hiện thân của các nguyên mẫu thuộc dãy thứ nhất.

49. The chains most associated with the third and fifth rays (and thus with mentality) are the third and fifth chains.

49. Các dãy gắn liền nhiều nhất với cung ba và cung năm (và do đó với trí tuệ) là dãy thứ ba và dãy thứ năm.

50. We can expect that a condition of harmony prevails or prevailed upon the second chain, but that if would be a more passive harmony. By the time the sixth chain is reached and many planetary processes undergone, the harmony is amongst the embodied expressions of divinity. That which intelligence has produced is harmonized.

50. Chúng ta có thể chờ đợi rằng một trạng thái hài hòa đang hoặc đã chi phối dãy thứ hai, nhưng đó sẽ là một sự hài hòa thụ động hơn. Khi đạt đến dãy thứ sáu và đã trải qua nhiều tiến trình hành tinh, sự hài hòa hiện hữu giữa các biểu hiện đã hiện thân của thiên tính. Điều mà trí tuệ đã tạo ra được hài hòa hóa.

51. There would also probably be a method of applying the general structure of the tabulation to the planetary schemes, but their ‘location’ of the various planes does not exactly parallel the method of distribution of the planetary chains within a planetary scheme. In making application to the planetary schemes we would also have to consider Planetary Logoi whose schemes are in process of ‘descent’ and those whose schemes are in process of ‘abstraction’. These are sciences of the future.

51. Có lẽ cũng sẽ có một phương pháp áp dụng cấu trúc tổng quát của bảng này vào các hệ hành tinh schemes, nhưng “vị trí” của các cõi khác nhau trong đó không hoàn toàn song hành với phương pháp phân bố các dãy hành tinh trong một hệ hành tinh. Khi áp dụng vào các hệ hành tinh, chúng ta cũng sẽ phải xét đến các Đức Hành Tinh Thượng Đế có hệ hành tinh đang trong tiến trình “giáng xuống” và những vị có hệ hành tinh đang trong tiến trình “trừu xuất”. Đây là những khoa học của tương lai.

The factors which we have considered as affecting the different incarnating units have a vital effect on their cyclic evolution, and the ray and the three main types produce varying periodic appearance.

Những yếu tố mà chúng ta đã xét như tác động đến các đơn vị đang lâm phàm khác nhau có ảnh hưởng thiết yếu lên sự tiến hoá theo chu kỳ của chúng, và cung cùng ba loại chính tạo ra những lần sắc tướng theo chu kỳ khác nhau.

52. The cycles of “appearance” and “disappearance” of human units depend upon the rays of those units and also whether they are tamasic, rajasic or sattvic units. Certain units appear when their ray (i.e., soul ray) is in incarnation and may be held in abstraction when that ray is temporarily out of expression. There are also cycles of ‘entry’ and ‘exit’ which depend upon whether the human unit is expressing in terms of inertia, mobility or rhythm.

52. Các chu kỳ “xuất hiện” và “biến mất” của các đơn vị nhân loại tùy thuộc vào các cung của những đơn vị ấy và cũng tùy thuộc việc chúng là những đơn vị tamasic, rajasic hay sattvic. Một số đơn vị xuất hiện khi cung của chúng (tức cung linh hồn) đang lâm phàm và có thể bị giữ trong trạng thái trừu xuất khi cung ấy tạm thời không biểu lộ. Cũng có những chu kỳ “đi vào” và “đi ra” tùy thuộc việc đơn vị nhân loại đang biểu lộ theo quán tính, tính động hay nhịp điệu.

Certain statements have been made in occult books as to the length of time varying between incarnations. Such statements are in the maininaccurate, for they make no allowance for Ray difference, and permit of no calculations as to whether the human unit involved is a unit of inertia, a sattvic point, or a rajasic entity.

Một số phát biểu đã được nêu trong các sách huyền bí về độ dài thời gian khác nhau giữa các lần nhập thể. Những phát biểu như thế phần lớn làkhông chính xác, vì chúng không tính đến sự khác biệt về cung, và không cho phép tính toán xem đơn vị nhân loại liên hệ là một đơn vị quán tính, một điểm sattvic, hay một thực thể rajasic.

53. The statements made have come mostly from the works of C.W. Leadbeater, whom the Tibetan regards as a disciple of considerable attainment. But the matter is intricate and the many ray distinctions and one or other of the gunas which characterize human units, must be factored in. We can see that only a Master or high initiate would be able to do this, though perhaps some general principles can be laid down.

53. Những phát biểu ấy phần nhiều xuất phát từ các tác phẩm của C.W. Leadbeater, người mà Chân sư Tây Tạng xem là một đệ tử có thành tựu đáng kể. Nhưng vấn đề này rất phức tạp, và nhiều phân biệt về cung cùng guna này hay guna kia đặc trưng cho các đơn vị nhân loại đều phải được tính đến. Chúng ta có thể thấy rằng chỉ một Chân sư hay một điểm đạo đồ cao cấp mới có thể làm được điều này, dù có lẽ một số nguyên tắc tổng quát có thể được nêu ra.

54. For instance, a very primitive human being does not have much upon which to ‘work’ while in the subtle worlds and so will probably return rapidly for the accumulation of earthly experience, which, eventually, will become a developed sentient and mental nature requiring ‘work’ following abstraction from the physical plane.

54. Chẳng hạn, một con người rất nguyên thủy không có nhiều điều để “xử lý” khi ở trong các cõi vi tế, và vì vậy có lẽ sẽ nhanh chóng quay lại để tích lũy kinh nghiệm trần thế; kinh nghiệm này rốt cuộc sẽ trở thành một bản chất cảm giác và trí tuệ phát triển, đòi hỏi phải được “xử lý” sau khi trừu xuất khỏi cõi hồng trần.

No hard and fast rule can be laid down at this time for the general public,though such rules exist, and are governed by seven different formulas for the three main types.

Hiện nay không thể đặt ra một quy luật cứng nhắc cho công chúng nói chung,dù những quy luật như thế có tồn tại, và được chi phối bởi bảy công thức khác nhau cho ba loại chính.

55. We have some really intriguing statements here.

55. Ở đây chúng ta có một số phát biểu thật sự rất gợi suy nghĩ.

56. When we know more about ray cycles we will be in a position to better assess the duration of the discarnate states.

56. Khi chúng ta biết nhiều hơn về các chu kỳ cung, chúng ta sẽ ở vào vị thế đánh giá tốt hơn thời lượng của các trạng thái không nhập thể.

57. It is probable that by “the three main types” DK is referring to whether the unit concerned is tamasic, rajasic or sattvic in nature.

57. Có lẽ khi nói “ba loại chính”, Chân sư DK đang chỉ việc đơn vị liên hệ có bản chất tamasic, rajasic hay sattvic.

58. In each of the three groups determined by one of three gunas seven ray types are to be found—at least in principle. We must remember, however, that the undeveloped human being is not possessed of a soul on the first, second or third ray and must make transition to one of these three Rays of Aspect at some later point in his long pilgrimage.

58. Trong mỗi một trong ba nhóm được xác định bởi một trong ba guna, đều có thể tìm thấy bảy loại cung—ít nhất là trên nguyên tắc. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng con người chưa phát triển không sở hữu một linh hồn thuộc cung một, cung hai hay cung ba, và phải chuyển tiếp sang một trong ba Các Cung Trạng Thái này ở một thời điểm nào đó về sau trong cuộc hành hương dài lâu của y.

59. DK is telling us there are, in fact, rules relating to the cycle of incarnation and discarnate cycles, but that they are not for the general public.

59. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng quả thật có những quy luật liên hệ đến chu kỳ nhập thể và các chu kỳ không nhập thể, nhưng chúng không dành cho công chúng nói chung.

60. The trends stated by early theosophists opened the door to thought about the matter. The real science of the discarnate state must, however, be slowly and accurately revealed.

60. Những khuynh hướng do các nhà Thông Thiên Học thời kỳ đầu nêu ra đã mở cánh cửa cho tư tưởng về vấn đề này. Tuy nhiên, khoa học đích thực về trạng thái không nhập thể phải được mặc khải dần dần và chính xác.

Within this sevenfold differentiation, exist many lesser,

Trong sự biến phân thất phân này, có nhiều yếu tố nhỏ hơn,

61. We can see that the matter of determining the duration of ‘dis-carnation’ depends on a number of factors additional to ray type and guna type.

61. Chúng ta có thể thấy rằng vấn đề xác định thời lượng của trạng thái “không nhập thể” phụ thuộc vào một số yếu tố bổ sung ngoài loại cung và loại guna.

62. In which stage do any of us find ourselves? Can we say that we have reached the sattvic stage?

62. Mỗi người trong chúng ta đang ở giai đoạn nào? Chúng ta có thể nói rằng mình đã đạt đến giai đoạn sattvic chưa?

and the wise student refrains from dogmatic assertion on this most peculiar and difficult subject.

và đạo sinh khôn ngoan tránh đưa ra những khẳng định giáo điều về chủ đề hết sức đặc biệt và khó khăn này.

63. It may be less satisfying to be forced to restrain our curiosity about this very interesting matter, but is only the part of wisdom—the subject being “most peculiar and difficult”.

63. Có thể việc bị buộc phải kiềm chế tính tò mò của mình về vấn đề rất thú vị này kém thỏa mãn hơn, nhưng đó mới chính là phần của minh triết—vì chủ đề này “hết sức đặc biệt và khó khăn”.

64. All of this is complicated by the fact that the usual interim period between incarnations can be relinquished by the prepared soul-in-incarnation for the sake of service.

64. Tất cả điều này còn phức tạp hơn bởi sự kiện rằng giai đoạn trung gian thông thường giữa các lần nhập thể có thể được linh hồn đang nhập thể đã chuẩn bị từ bỏ vì mục đích phụng sự.

The fringe of the matter has but been touched upon here. It should be remembered that in the earlier stages of incarnation, the unit is governed mainly by group appearance, and comes into incarnation with his group.

Ở đây mới chỉ chạm đến phần rìa của vấn đề mà thôi. Cần nhớ rằng trong các giai đoạn đầu của nhập thể, đơn vị chủ yếu bị chi phối bởi sự xuất hiện theo nhóm, và đi vào nhập thể cùng với nhóm của y.

65. It is likely that there are three stages: group appearance in the early states; individual appearance during the stage of intelligent, individualistic man; again, group appearance for those who are governed by their soul ray and are becoming affiliated with an Ashram over time. The members of the Ashram are, of course, group conscious.

65. Có lẽ có ba giai đoạn: xuất hiện theo nhóm trong các trạng thái đầu; xuất hiện cá nhân trong giai đoạn của con người thông minh, cá nhân chủ nghĩa; rồi lại xuất hiện theo nhóm đối với những ai bị cung linh hồn của mình chi phối và đang dần dần liên kết với một ashram. Các thành viên của ashram dĩ nhiên là có tâm thức nhóm.

As time progresses and his own will or purpose becomes more distinctive, he will at times force himself into manifestation independently of his group, as will other group units,

Khi thời gian trôi qua và ý chí hay mục đích riêng của y trở nên rõ nét hơn, đôi khi y sẽ tự buộc mình đi vào biểu hiện một cách độc lập với nhóm của mình, cũng như các đơn vị khác trong nhóm sẽ làm như vậy,

66. Presumably the supervising Solar Angels have something to say about whether this is possible. But, apparently, the choice of ‘man-the-Ego’ is a strong part of the determination.

66. Có lẽ các Thái dương Thiên Thần giám sát có tiếng nói nào đó về việc điều này có khả thi hay không. Nhưng rõ ràng sự chọn lựa của “con người-chân ngã” là một phần quan trọng trong sự quyết định ấy.

67. We gather that this breaking out of the group rhythm is an act of will. This stage may be correlated with activity in the fifth, correlated with Leo, the sign of the individual.

67. Chúng ta hiểu rằng sự bứt ra khỏi nhịp điệu nhóm này là một hành vi của ý chí. Giai đoạn này có thể được tương quan với hoạt động trong cánh hoa thứ năm, tương ứng với Leo, dấu hiệu của cá nhân.