← Commentary_S9_1078_1194_song ngữ

S9S1 Part II

Trích nội dung chương

167. OR, could Jupiter as the hypothesized twelve-petalled heart center of the Solar Logos be considered the “twelve-petalled planetary lotus”? 167. HAY, có thể Sao Mộc như trung tâm tim mười hai cánh được giả định của Thái dương Thượng đế được xem là “hoa sen hành tinh mười hai cánh” chăng?


166. It the “twelve petalled planetary lotus” our very own planetary scheme?

166. Có phải “hoa sen hành tinh mười hai cánh” là chính hệ hành tinh của chúng ta không?

167. OR, could Jupiter as the hypothesized twelve-petalled heart center of the Solar Logos be considered the “twelve-petalled planetary lotus”?

167. HAY, có thể Sao Mộc như trung tâm tim mười hai cánh được giả định của Thái dương Thượng đế được xem là “hoa sen hành tinh mười hai cánh” chăng?

168. We may remember that in studying various groups of Egos, the “Lotuses of Brahman” originated on both Venus and Jupiter. (TCF 841)

168. Chúng ta có thể nhớ rằng khi nghiên cứu các nhóm Chân ngã khác nhau, “Các Hoa Sen của Brahman” có nguồn gốc trên cả Sao Kim lẫn Sao Mộc. (TCF 841)

9. The lovers of low vibration,

9. Những kẻ yêu thích rung động thấp,

169. This name indicates, so it seems, a stage of development rather than a point of origin. Perhaps among units of all origins, there are those who love low vibration.

169. Tên gọi này, dường như, chỉ ra một giai đoạn phát triển hơn là một điểm xuất phát. Có lẽ trong các đơn vị thuộc mọi nguồn gốc, có những người yêu thích rung động thấp.

170. One wonders whether a primitive expression of Vulcanian energy could be classified as “low vibration”. But then, perhaps points from the various non-sacred planets could be classified in this way.

170. Người ta tự hỏi liệu một biểu lộ nguyên sơ của năng lượng Vulcan có thể được xếp loại là “rung động thấp” hay không. Nhưng rồi, có lẽ những điểm từ các hành tinh không thiêng liêng khác nhau có thể được xếp loại theo cách này.

10. The rejectors of the eighth scheme,

10. Những kẻ khước từ hệ hành tinh thứ tám,

171. From one perspective, Saturn is the eighth scheme, but from another, Mercury is the planet always associated with the number eight.

171. Từ một góc nhìn, Sao Thổ là hệ hành tinh thứ tám, nhưng từ một góc nhìn khác, Sao Thủy là hành tinh luôn được liên kết với số tám.

172. The following reference may hold a clue about those who reject the third manifested Creative Hierarchy.

172. Quy chiếu sau đây có thể chứa một đầu mối về những người khước từ Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện thứ ba.

Each Hierarchy manifests a triple energy or an aspect of each of the above, and that necessitates a ninefold differentiation, for the two first are triple, as is the third. It is the rejection of the Triadal lives by units in the fourth Hierarchy, that of the human Monads, which precipitates a man eventually into the eighth sphere. He refuses to become a Christ, a Saviour and remains self-centred. (EA 41)

Mỗi Huyền Giai biểu lộ một năng lượng tam phân hay một phương diện của mỗi điều kể trên, và điều đó đòi hỏi một sự biến phân cửu phân, vì hai Huyền Giai đầu là tam phân, cũng như Huyền Giai thứ ba. Chính sự khước từ các sự sống Tam nguyên tinh thần bởi các đơn vị trong Huyền Giai thứ tư, tức Huyền Giai của các chân thần nhân loại, đã kết tủa một con người cuối cùng vào khối cầu thứ tám. Y từ chối trở thành một Đức Christ, một Đấng Cứu Thế và vẫn tập trung vào bản thân. (EA 41)

173. From another perspective, if Saturn is the eighth scheme could its rejection suggest a rejection of the Brahmic aspect? Could this rejection, then, signify a kind of elevation into higher spheres?

173. Từ một góc nhìn khác, nếu Sao Thổ là hệ hành tinh thứ tám thì sự khước từ nó có thể gợi ý sự khước từ phương diện Brahma chăng? Vậy thì sự khước từ này có thể biểu thị một loại nâng lên vào các khối cầu cao hơn chăng?

11. The points of triple resistance,

11. Những điểm của sự kháng cự tam phân,

174. Again, interpretation depends upon what is being resisted. Is it something higher or low? Is the good being resisted in a triple way or is threefold evil similarly resisted?

174. Một lần nữa, sự diễn giải tùy thuộc vào điều gì đang bị kháng cự. Có phải đó là điều gì cao hơn hay thấp hơn? Điều thiện có đang bị kháng cự theo cách tam phân hay điều ác tam phân đang bị kháng cự theo cách tương tự?

12. The followers of the ARHAT,

12. Những người theo ARHAT,

175. Are these the followers of the Buddha? There are certainly many of the “Sons of Men” today and during the course of the last 2500 years who have been followers of the Buddha.

175. Có phải đây là những người theo Đức Phật chăng? Chắc chắn có rất nhiều “những người con của nhân loại” ngày nay và trong suốt 2500 năm qua đã là những người theo Đức Phật.

176. We see that some of these monadic groupings are associated with particular Teachers and also particular locations in our solar system. As such, these groupings do not necessarily indicate evolutionary status, as seemed apparent in the first list of thirteen.

176. Chúng ta thấy rằng một số phân nhóm chân thần này được liên kết với những Huấn sư đặc thù và cả những vị trí đặc thù trong hệ mặt trời của chúng ta. Vì vậy, những sự phân nhóm này không nhất thiết chỉ ra tình trạng tiến hoá, như đã có vẻ rõ trong danh sách đầu tiên gồm mười ba nhóm.

13. The cyclic sons of peace,

13. Những người con chu kỳ của hòa bình,

177. We might presume that this group had a close relation to the planet Venus.

177. Chúng ta có thể giả định rằng nhóm này có liên hệ mật thiết với hành tinh Sao Kim.

178. What is their cycle? How often do they manifest? Are they coming in for the one thousand year ‘binding’ of “Satan” following the “Second Coming”?

178. Chu kỳ của họ là gì? Họ biểu hiện thường xuyên đến mức nào? Có phải họ đang đi vào cho sự “trói buộc” một ngàn năm của “Satan” tiếp sau “Sự Quang Lâm Lần Thứ Hai” chăng?

14. The recurring sons of war,

14. Những người con tái diễn của chiến tranh,

179. Does this group of Monads or Egos have a regular cycle or do they recur whenever conditions make it possible for them to recur.

179. Có phải nhóm chân thần hay Chân ngã này có một chu kỳ đều đặn hay họ tái diễn bất cứ khi nào các điều kiện khiến họ có thể tái diễn.

180. It would seem that their point of origin is Mars, and if not Mars, then, at least, they would seem to be strongly influenced by that planet.

180. Dường như điểm xuất phát của họ là Sao Hỏa, và nếu không phải Sao Hỏa, thì ít nhất họ dường như chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hành tinh ấy.

181. We might inquire whether there exist in active manifestation on our planet and at this time a large grouping of those in this category. We might also inquire if they are related to the sixth ray either in their soul nature or monadic nature.

181. Chúng ta có thể hỏi liệu hiện đang có trong biểu hiện hoạt động trên hành tinh của chúng ta và vào thời điểm này một nhóm lớn những người thuộc phạm trù này hay không. Chúng ta cũng có thể hỏi liệu họ có liên hệ với cung sáu trong bản chất linh hồn hay bản chất chân thần của họ hay không.

15. The specks within the planetary eye,

15. Những đốm nhỏ bên trong con mắt hành tinh,

182. It would seem that this could be an advanced group which was part of the Planetary Logos’ ability to see.

182. Dường như đây có thể là một nhóm tiến hóa cao, là một phần trong khả năng thấy của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

183. In this connection we are told that “The Monad is to the planetary Logos what the third eye is to man, esoterically understood.” (DINA II 310)

183. Trong mối liên hệ này, chúng ta được cho biết rằng “Chân thần đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế cũng như con mắt thứ ba đối với con người, theo nghĩa huyền bí.” (DINA II 310)

184. Specks are like points, and points are lives.

184. Những đốm nhỏ giống như những điểm, và những điểm là các sự sống.

185. This might also be a particular group of Monads associated with the ajna center of the Planetary Logos. We have read that all human Monads find their place in a particular center within the Planetary Logos and the ajna center (associated with the function of seeing) is one of the higher ones.

185. Đây cũng có thể là một nhóm chân thần đặc thù được liên kết với trung tâm ajna của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Chúng ta đã đọc rằng mọi chân thần nhân loại đều tìm thấy vị trí của mình trong một trung tâm đặc thù bên trong Đức Hành Tinh Thượng Đế, và trung tâm ajna (được liên kết với chức năng thấy) là một trong những trung tâm cao hơn.

186. We have also to ask whether, in some way, these specks actually assist the sight of the Planetary Logos or impede it? We remember the reference in the Bible to “motes” and “specks” within the eye.

186. Chúng ta cũng phải hỏi liệu, theo một cách nào đó, những đốm nhỏ này thực sự hỗ trợ thị lực của Đức Hành Tinh Thượng Đế hay cản trở nó? Chúng ta nhớ đến quy chiếu trong Kinh Thánh về “motes” và “specks” bên trong con mắt.

16. The recognised points within the chakras. These naturally exist in ten groups.

16. Những điểm được nhận biết bên trong các luân xa. Những điểm này tự nhiên tồn tại trong mười nhóm.

187. This is a very strong hint that we are to think in terms not of only seven chakras but of ten.

187. Đây là một gợi ý rất mạnh rằng chúng ta phải suy nghĩ không chỉ theo bảy luân xa mà theo mười.

188. The spleen, alta major center, the seven head centers considered as one grouping, the heart-in-the-head center—all of these are possible chakras to be added to the normal enumeration of seven in order to make the requisite ten.

188. Lá lách, trung tâm alta major, bảy trung tâm đầu được xem như một nhóm, trung tâm tim-trong-đầu—tất cả những điều này đều là những luân xa khả dĩ được thêm vào cách liệt kê thông thường là bảy để tạo thành con số mười cần thiết.

189. Now, are we talking about the ten chakras within a Planetary Logos, and thus, perhaps, of His ten chains, as points of origin for various types of Monads currently expressing themselves through our planetary scheme? (DK tells us that, at various times, our Planetary Logos has ten, seven or three chains.)

189. Vậy, có phải chúng ta đang nói về mười luân xa bên trong một Đức Hành Tinh Thượng Đế, và do đó, có lẽ, về mười Dãy của Ngài, như những điểm xuất phát cho các loại chân thần khác nhau hiện đang biểu lộ qua hệ hành tinh của chúng ta chăng? (Chân sư DK cho chúng ta biết rằng, vào những thời điểm khác nhau, Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta có mười, bảy hoặc ba Dãy.)

190. Or are we talking about the chakras of the Solar Logos. The various Planetary Logoi and Their schemes fulfilling the role of chakras within the system of our Solar Logos? DK might be telling us that various types of Monads or Egos come from all the planetary schemes. If we count Vulcan, we have ten such schemes.

190. Hay là chúng ta đang nói về các luân xa của Thái dương Thượng đế? Các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau và các hệ hành tinh của Các Ngài đang đảm nhiệm vai trò các luân xa bên trong hệ thống của Thái dương Thượng đế của chúng ta chăng? Có thể Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng các loại chân thần hay chân ngã khác nhau đến từ mọi hệ hành tinh. Nếu tính cả Vulcan, chúng ta có mười hệ như thế.

Each name conveys to the mind of the initiate some knowledge as to the place in evolution of the Monad concerned, the nature of its incarnations, and its place in cyclic evolution. [Page 1083]

Mỗi danh xưng truyền đạt cho trí tuệ của điểm đạo đồ một số tri thức về vị trí trong tiến hoá của chân thần liên hệ, bản chất các lần lâm phàm của nó, và vị trí của nó trong tiến hoá chu kỳ. [Page 1083]

191. Let us tabulate what the names of these groups conveys to the initiate:

191. Chúng ta hãy lập bảng những gì các danh xưng của các nhóm này truyền đạt cho điểm đạo đồ:

a. The place in evolution of the Monad concerned

a. Vị trí trong tiến hoá của chân thần liên hệ

b. The nature of the Monad’s incarnations.

b. Bản chất các lần lâm phàm của chân thần.

c. The place of the Monad in cyclic evolution

c. Vị trí của chân thần trong tiến hoá chu kỳ

d. We should also add that a number of monadic points of origin are to be found on this tabulation, but not, it seems, in the prior listing.

d. Chúng ta cũng nên thêm rằng một số điểm xuất phát chân thần được tìm thấy trong bảng này, nhưng dường như không có trong danh sách trước đó.

192. We do note that DK has used the word “Monad”, so it is, indeed, of Monads we are speaking, yet, also at time, of the Monad’s expression as an Ego (i.e., as a spiritual triad or as an Ego in a causal body on the higher mental plane). Sometimes when Master DK speaks of “Egos” He is really referencing Monads. Monads do express through an auric “egg” just as Egos do.

192. Chúng ta quả thật lưu ý rằng Chân sư DK đã dùng từ “chân thần”, vì vậy quả thực chúng ta đang nói về các chân thần, nhưng đồng thời đôi khi cũng nói về sự biểu hiện của chân thần như một chân ngã (tức là như một Tam nguyên tinh thần hay như một chân ngã trong thể nguyên nhân trên Cõi thượng trí). Đôi khi khi Chân sư DK nói về “các Chân ngã”, Ngài thực sự đang quy chiếu đến các chân thần. Các chân thần cũng biểu hiện qua một “noãn” hào quang giống như các chân ngã vậy.

The same method of grouping is used in connection with all the kingdoms though only in the case of the fourth and the fifth kingdoms are individual atoms dealt with;

Cùng một phương pháp phân nhóm được dùng liên hệ với mọi giới mặc dù chỉ trong trường hợp của giới thứ tư và giới thứ năm thì các nguyên tử cá biệt mới được đề cập đến;

193. This is interesting. In kingdoms earlier than the fourth and later than the fifth the group expression must obviously be paramount.

193. Điều này thật thú vị. Trong các giới trước giới thứ tư và sau giới thứ năm, sự biểu hiện nhóm hiển nhiên phải là tối quan trọng.

194. Below the fourth kingdom we have unconscious group expression. Beyond the fifth kingdom we have super-conscious group expression.

194. Bên dưới giới thứ tư, chúng ta có sự biểu hiện nhóm vô thức. Vượt quá giới thứ năm, chúng ta có sự biểu hiện nhóm siêu thức.

the tabulations and records for the other kingdoms are concerned with groups. When a group is known, the nature, vibration, and rhythm of the atom within that group is immediately apparent.

các bảng biểu và hồ sơ của các giới khác đều liên quan đến các nhóm. Khi một nhóm được biết đến, bản chất, rung động và nhịp điệu của nguyên tử bên trong nhóm ấy lập tức trở nên hiển nhiên.

195. A very interesting thought—the state of the group reveals the state of the atom. Are the individual atoms within these groups, then, so similar, that the group state would reveal the individual atomic state?

195. Một tư tưởng rất thú vị—trạng thái của nhóm tiết lộ trạng thái của nguyên tử. Vậy thì các nguyên tử cá biệt bên trong các nhóm này có giống nhau đến mức trạng thái của nhóm sẽ tiết lộ trạng thái nguyên tử cá nhân hay không?

196. We also see that in the fifth kingdom of nature, the Kingdom of Souls, the factor of individuality is still very important. This has definite implications for man’s development. We certainly do not lose our individuality when we enter the fifth kingdom. If anything, it is intensified, though the relationship of that individuality to various groups is also increasingly emphasized.

196. Chúng ta cũng thấy rằng trong giới thứ năm của thiên nhiên, Thiên Giới, yếu tố cá thể tính vẫn còn rất quan trọng. Điều này có những hàm ý rõ rệt đối với sự phát triển của con người. Chắc chắn chúng ta không đánh mất cá thể tính của mình khi bước vào giới thứ năm. Nếu có gì, thì nó còn được tăng cường, mặc dù mối liên hệ của cá thể tính ấy với các nhóm khác nhau cũng ngày càng được nhấn mạnh hơn.

S9S1 Part II

TCF - 1083--1087

TCF - 1083--1087

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

IV. THE TURNING OF THE WHEEL 12

IV. SỰ XOAY CHUYỂN CỦA BÁNH XE 12

Footnote:

Chú thích:

Man must understand the nature of the wheel in which he is turned, called in Sanskrit the wheel of Samsara.

Con người phải thấu hiểu bản chất của bánh xe trong đó y bị xoay chuyển, được gọi trong tiếng Phạn là bánh xe Luân hồi.

1. This is the wheel which turns through the World of Illusion, bringing successive rebirths.

1. Đây là bánh xe quay xuyên qua Thế Giới Đang Trở Thành, mang đến những lần tái sinh kế tiếp nhau.

This latter word derived from the root Sru, to move, indicates a motion wheel or the great wheel of changing life in which the human entities have been called upon to work

Từ sau này, phát sinh từ gốc Sru, nghĩa là chuyển động, chỉ một bánh xe chuyển động hay bánh xe lớn của đời sống đổi thay trong đó các thực thể nhân loại đã được kêu gọi phải hoạt động

2. The operative word is “work”. This is the world which functions under the aegis of Saturn, Lord of the lower worlds and especially of the systemic physical plane.

2. Từ tác động ở đây là “hoạt động”. Đây là thế giới vận hành dưới sự bảo trợ của Sao Thổ, chúa tể của các cõi thấp và đặc biệt là cõi hồng trần hệ thống.

and which must never be abandoned out of compassion for man and in obedience to the law of oneness which connects the many, in the opinion of all true yogees and Sri Krishna.

và thế giới ấy không bao giờ được từ bỏ vì lòng từ bi đối với con người và vì sự tuân phục định luật nhất thể nối kết số nhiều, theo quan điểm của mọi yogi chân chính và của Sri Krishna.

3. According to the Pledge of the Bodhisattva, one will return to this lower world voluntarily for the sake of the salvation of all sentient beings.

3. Theo Lời Nguyện của Đức Bồ Tát, người ta sẽ tự nguyện trở lại thế giới thấp này vì sự cứu độ của mọi chúng sinh hữu tình.

4. Even though, after a certain point of development, we need not return, we do so because we feel ourselves at one with all those who have not liberated themselves from the wheel.

4. Dù rằng, sau một điểm phát triển nào đó, chúng ta không cần trở lại, chúng ta vẫn làm như vậy vì cảm thấy mình là một với tất cả những ai chưa tự giải thoát khỏi bánh xe.

The Teacher gives the nature of the samsaric wheel in a certain peculiar way which deserves to be thought over by you all. He says "all bhootas spring up from food and food from Parjanya or rain. Rain comes out of yagna and yagna out of Karma.

Huấn sư trình bày bản chất của bánh xe luân hồi theo một cách đặc biệt nào đó đáng để tất cả các bạn suy ngẫm. Ngài nói: "mọi bhoota phát sinh từ thức ăn và thức ăn từ Parjanya hay mưa. Mưa phát sinh từ yagna và yagna từ Karma.

5. The chain of causation is as follows:

5. Chuỗi nhân quả như sau:

a. From food, bhootas

a. Từ thức ăn, bhoota

b. From Parjanya or rain, food

b. Từ Parjanya hay mưa, thức ăn

c. From yagna, rain

c. Từ yagna, mưa

d. From Karma, yagna (a ritual of sacrifice)

d. Từ Karma, yagna (một nghi lễ hi sinh)

e. From the Veda, Karma

e. Từ Veda, Karma

f. From the Eternal, Karma

f. Từ Đấng Vĩnh Cửu, Karma

6. The seven involved are: bhootas, food, rain, yagna, Karma, Veda, the Eternal

6. Bảy yếu tố liên hệ là: bhoota, thức ăn, mưa, yagna, Karma, Veda, Đấng Vĩnh Cửu

Karma is out of the Veda and Veda is of the Eternal." Here you see a Septenary gamut is given with the bhoota (or manifested form) at one end and the eternal substance unmanifested to us at the other end.

Karma phát sinh từ Veda và Veda thuộc về Đấng Vĩnh Cửu." Ở đây bạn thấy một âm giai thất phân được đưa ra với bhoota (hay hình tướng biểu hiện) ở một đầu và chất liệu vĩnh cửu không biểu hiện đối với chúng ta ở đầu kia.

7. Spirit is matter and matter is Spirit.

7. Tinh thần là vật chất và vật chất là tinh thần.

If we divide this seven according to the theosophical plane of a lower four dominated over by a higher triad, we get form, food, rain and yagna as the lower four and karma, Veda and eternal substance as the higher triad.

Nếu chúng ta chia bảy yếu tố này theo bình diện Thông Thiên Học về một bộ bốn thấp bị chi phối bởi một tam nguyên cao hơn, chúng ta có hình tướng, thức ăn, mưa và yagna là bốn thấp, còn karma, Veda và chất liệu vĩnh cửu là tam nguyên cao hơn.

8. We note that “Veda” finds its place correlated with the second aspect. It is the great “Teaching”

8. Chúng ta lưu ý rằng “Veda” tìm thấy vị trí của nó tương quan với phương diện thứ hai. Đó là “Giáo Huấn” vĩ đại

The eternal substance that pervades all space, worked on by the world song and giving rise to all the laws of karma that govern the development of the world, develops a lower four and this four is started by yagna—the spirit of evolution that connects the higher and lower or in Puranic fashion, the spirit that seeks to add to the harmony of the unmanifested by giving it a field of disharmony to work upon and establish its own greatness.

Chất liệu vĩnh cửu thấm khắp không gian, được bài ca thế gian tác động lên và làm phát sinh mọi định luật nghiệp quả chi phối sự phát triển của thế giới, phát triển thành một bộ bốn thấp và bộ bốn này được khởi động bởi yagna—tinh thần của tiến hoá nối kết cao và thấp, hay theo lối Purana, tinh thần tìm cách bổ sung vào sự hài hoà của cái không biểu hiện bằng cách ban cho nó một trường bất hoà để tác động lên và thiết lập sự vĩ đại riêng của nó.

9. This philosophical explanation is very interesting. Yagna finds itself in the fourth place and thus correlates with the fourth ray and possesses a linking function. Yagna is defined here as “the spirit of evolution”.

9. Lời giải thích triết học này rất thú vị. Yagna ở vào vị trí thứ tư và do đó tương quan với cung bốn và sở hữu một chức năng nối kết. Yagna ở đây được định nghĩa là “tinh thần của tiến hoá”.

This spirit of yagna in its way to produce the manifested form gives rise to the Parjanya or rain. The word Parjanya is applied to rain and often times to a spirit whose function is to produce rain.

Tinh thần yagna này trên đường tạo ra hình tướng biểu hiện làm phát sinh Parjanya hay mưa. Từ Parjanya được áp dụng cho mưa và nhiều khi cho một tinh thần có chức năng tạo ra mưa.

10. We can interpret this as signifying that the “spirit of evolution” working upon the inharmoniously related substance results in a precipitation symbolized by “rain”.

10. Chúng ta có thể diễn giải điều này như hàm ý rằng “tinh thần của tiến hoá” tác động lên chất liệu được liên hệ một cách bất hài hoà sẽ dẫn đến một sự ngưng tụ được biểu tượng bằng “mưa”.

—Some Thoughts on the Gita, p. 127.

—Vài Suy Tưởng về Gita, tr. 127.

We come now to the consideration of another point, and one of very real moment; it emerges out of what we have been saying anent cycles and is the basis of all periodic phenomena.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét một điểm khác, và là một điểm thật sự quan trọng; nó xuất hiện từ những gì chúng ta đã nói liên quan đến các chu kỳ và là nền tảng của mọi hiện tượng tuần hoàn.

One of the most elementary of scientific truths is that the earth revolves upon its axis, and that it travels around the sun.

Một trong những chân lý khoa học sơ đẳng nhất là Trái Đất quay trên trục của nó, và nó chuyển động quanh mặt trời.

11. In the modern world, it took a long time to establish this reality.

11. Trong thế giới hiện đại, phải mất một thời gian dài mới xác lập được thực tại này.

One of the truths less recognised, yet withal of equal importance,

Một trong những chân lý ít được công nhận hơn, nhưng đồng thời cũng quan trọng ngang bằng,

12. This, from the Tibetan’s greatly expanded perspective…

12. Điều này, từ viễn tượng được mở rộng rất lớn của Chân sư Tây Tạng…

is that the entire solar system equally revolves upon its axis but in a cycle so vast as to be beyond the powers of ordinary man to comprehend, and which necessitates mathematical formulae [Page 1084] of great intricacy.

là toàn bộ hệ mặt trời cũng quay trên trục của nó nhưng trong một chu kỳ rộng lớn đến mức vượt ngoài khả năng lĩnh hội của con người bình thường, và điều này đòi hỏi những công thức toán học [Page 1084] cực kỳ phức tạp.

13. Not just one formula but many…

13. Không chỉ một công thức mà là nhiều công thức…

14. Technically, the phrase should be “rotates upon its axis”. We are not speaking of the rotation of the Sun upon its axis—a motion which takes 25.38 Earth days at the solar equator, and about 27 days if sunspots are used as the reference points.

14. Về mặt kỹ thuật, cụm từ đúng phải là “xoay trên trục của nó”. Chúng ta không nói về sự quay của Mặt Trời trên trục của nó—một chuyển động mất 25,38 ngày Trái Đất tại xích đạo mặt trời, và khoảng 27 ngày nếu dùng các vết đen mặt trời làm điểm quy chiếu.

15. From the Wikipedia we read:

15. Từ Wikipedia chúng ta đọc được:

There is no fixed rate of rotation of the Sun (Solar), on its own axis. However, at the equator, the Sun's rotation period is 25.38 days. This slows considerably as latitude increases.

Không có tốc độ quay cố định nào của Mặt Trời (Solar) trên trục của chính nó. Tuy nhiên, tại xích đạo, chu kỳ quay của Mặt Trời là 25,38 ngày. Tốc độ này chậm đi đáng kể khi vĩ độ tăng lên.

The orbital path of the solar system in the heavens around its cosmic centre is now being sensed,

Quỹ đạo của hệ mặt trời trên thiên giới quanh trung tâm vũ trụ của nó hiện đang được cảm nhận,

16. In this case the term “solar system” (probably, but not exclusively) means precisely our one-Sun solar system.

16. Trong trường hợp này, thuật ngữ “hệ mặt trời” (có lẽ, nhưng không chỉ) có nghĩa chính xác là hệ mặt trời một-mặt-trời của chúng ta.

17. We have to be careful with the term “solar system” as any system of stars (thus a constellation) can be considered a ‘solar system’. In this manner the term “solar system” can be used for occult blinding.

17. Chúng ta phải cẩn thận với thuật ngữ “hệ mặt trời” vì bất kỳ hệ sao nào (do đó là một chòm sao) cũng có thể được xem là một ‘hệ mặt trời’. Theo cách này, thuật ngữ “hệ mặt trời” có thể được dùng cho sự che mờ huyền bí.

18. We must also ask “By whom is this orbital path being sensed?”—apparently there are few astronomers who think of this type of revolution as possible.

18. Chúng ta cũng phải hỏi “Ai đang cảm nhận quỹ đạo này?”—rõ ràng có rất ít nhà thiên văn nghĩ rằng loại chuyển động quay này là khả hữu.

and the general drift also of our constellation is being taken into consideration as a welcome hypothesis.

và xu hướng chung của chòm sao của chúng ta cũng đang được xét đến như một giả thuyết đáng hoan nghênh.

19. In this case we have no assurance that the term “constellation” means our one-Sun solar system. It may or it may not. The term “our constellation” could also mean the stars of the Constellational Logos of which our one-Sun solar system is hypothetically a part. This Constellational Logos has been hypothesized as the Lord of the "Seven Solar Systems of Which Ours is One"—a cosmic structure which DK mentions with some frequency.

19. Trong trường hợp này chúng ta không có gì bảo đảm rằng thuật ngữ “chòm sao” có nghĩa là hệ mặt trời một-mặt-trời của chúng ta. Nó có thể là như vậy hoặc không. Thuật ngữ “chòm sao của chúng ta” cũng có thể có nghĩa là các ngôi sao của Chòm Sao Thượng đế mà hệ mặt trời một-mặt-trời của chúng ta theo giả thuyết là một phần trong đó. Chòm Sao Thượng đế này đã được giả thuyết là Chúa Tể của "Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một"—một cấu trúc vũ trụ mà Chân sư DK nhắc đến khá thường xuyên.

20. But if DK means that “our solar system” is identical with “our constellation”, He has named our solar system in two different ways within the confines of one sentence. This should awaken out attention. We should be alert to the thought that we may be in the middle of a process of ‘occult blinding’—the deliberate veiling of certain information which He is conveying “between the lines” as it were.

20. Nhưng nếu Chân sư DK muốn nói rằng “hệ mặt trời của chúng ta” đồng nhất với “chòm sao của chúng ta”, thì Ngài đã gọi hệ mặt trời của chúng ta bằng hai cách khác nhau trong phạm vi một câu. Điều này nên đánh thức sự chú ý của chúng ta. Chúng ta nên tỉnh táo trước ý nghĩ rằng có thể mình đang ở giữa một tiến trình ‘che mờ huyền bí’—sự che phủ có chủ ý một số thông tin mà Ngài đang truyền đạt “giữa các dòng chữ”, có thể nói như vậy.

21. There is speculation by some deeper students of cosmology that our solar system may not be only a one-Sun solar system, but should be considered a “constellation”, because (as the theory goes—gathered to an extent from The Secret Doctrine ), Mars was once a sun. Jupiter, so the theory goes, may one day become a sun—perhaps in the next solar system. As well, all the planets, including our Sun began as comets. This we have from The Secret Doctrine in the discussion of Maritanda (our Sun) and His “Seven Brothers”.

21. Có sự suy đoán của một số đạo sinh sâu sắc hơn về vũ trụ học rằng hệ mặt trời của chúng ta có thể không chỉ là một hệ mặt trời một-mặt-trời, mà nên được xem là một “chòm sao”, bởi vì (theo giả thuyết ấy—được rút ra phần nào từ Giáo Lý Bí Nhiệm), Sao Hỏa đã từng là một mặt trời. Sao Mộc, theo giả thuyết ấy, một ngày nào đó có thể trở thành một mặt trời—có lẽ trong hệ mặt trời kế tiếp. Hơn nữa, mọi hành tinh, kể cả Mặt Trời của chúng ta, đều bắt đầu như những sao chổi. Điều này chúng ta có được từ Giáo Lý Bí Nhiệm trong phần bàn về Maritanda (Mặt Trời của chúng ta) và “Bảy Huynh Đệ” của Ngài.

Scientists have not yet admitted into their calculations the fact that our solar system is revolving around a cosmic centre along with six other constellations of even greater magnitude in the majority of cases than ours, only one being approximately of the same magnitude as our solar system.

Các nhà khoa học vẫn chưa thừa nhận trong các phép tính của họ sự kiện rằng hệ mặt trời của chúng ta đang quay quanh một trung tâm vũ trụ cùng với sáu chòm sao khác có độ lớn trong đa số trường hợp còn lớn hơnhệ của chúng ta, chỉ có một chòm sao xấp xỉcùng độ lớn với hệ mặt trời của chúng ta.

22. The terms “solar system” and “constellations” are, it seems, deliberately mixed. The implication could be:

22. Các thuật ngữ “hệ mặt trời” và “các chòm sao” dường như được cố ý trộn lẫn. Hàm ý có thể là:

a. That our solar system is really a constellation and is revolving with six other constellations around a cosmic centre.

a. Rằng hệ mặt trời của chúng ta thực sự là một chòm sao và đang quay cùng với sáu chòm sao khác quanh một trung tâm vũ trụ.

b. That our solar system is simply a conventional solar system but is linked with six other constellations which together are revolving around the same cosmic centre.

b. Rằng hệ mặt trời của chúng ta chỉ đơn giản là một hệ mặt trời theo nghĩa thông thường nhưng được liên kết với sáu chòm sao khác mà cùng nhau đang quay quanh cùng một trung tâm vũ trụ.

c. That the our solar system is a one-sun solar system which, along with several other mostly one-sun (or perhaps two-sun) solar systems in the "Seven Solar Systems of Which Ours is One", is revolving around a common cosmic centre, taking either the literal or symbolical 250,000 years to do so together.

c. Rằng hệ mặt trời của chúng ta là một hệ mặt trời một-mặt-trời, cùng với một số hệ mặt trời khác phần lớn cũng là một-mặt-trời (hoặc có lẽ hai-mặt-trời) trong "Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một", đang quay quanh một trung tâm vũ trụ chung, mất 250.000 năm theo nghĩa đen hoặc biểu tượng để cùng làm như vậy.

23. In the matter of magnitude, only Alpha Centauri (A and B) at 1.5 and.5 solar luminosities respectively are of approximately the same magnitude as our Sun. All the other stars hypothesized as grouped with Sol in His “cosmic group” have significantly higher solar luminosities.

23. Về vấn đề độ lớn, chỉ Alpha Centauri (A và B) với độ sáng mặt trời lần lượt là 1,5 và 0,5 mới xấp xỉ cùng độ lớn với Mặt Trời của chúng ta. Tất cả các sao khác được giả thuyết là được nhóm với Sol trong “nhóm vũ trụ” của Ngài đều có độ sáng mặt trời cao hơn đáng kể.

24. If we start considering that six other true (i.e., conventional) constellations revolve around a common cosmic centre (constellations such as the Great Bear, Draco, Orion, Antares, etc.—which ever we choose), then the Tibetan has made a huge understatement when speaking of these constellations as being “of even greater magnitude in the majority of cases than ours”. The statement is disproportional, as, if we consider the combined magnitudes of all the stars in those constellations relative to Sol, they are thousands and even hundreds of thousands of times more luminous than Sol. In this case, only Sirius (at approximately 25 solar luminosities and if considered as a “constellation”) would be very loosely ‘approximately’ of the same magnitude as Sol, and that is a great stretch. The phrase “of even greater magnitude” is a modest statement more fitting for the comparison of Procyon (7.73 L ☉), Altair (10.6 [ L ☉) Vega (37 ± 3 L ☉), Sirius (25.4 (A) /

24. Nếu chúng ta bắt đầu xét rằng sáu chòm sao thực sự khác (tức là các chòm sao theo nghĩa thông thường) quay quanh một trung tâm vũ trụ chung (những chòm sao như Đại Hùng, Draco, Orion, Antares, v.v.—bất cứ chòm nào chúng ta chọn), thì Chân sư Tây Tạng đã nói giảm đi rất nhiều khi nói về các chòm sao này là “có độ lớn còn lớn hơn trong đa số trường hợp so với hệ của chúng ta”. Phát biểu ấy thiếu cân xứng, vì nếu chúng ta xét tổng độ lớn của mọi sao trong các chòm sao ấy so với Sol, chúng sáng hơn Sol hàng nghìn và thậm chí hàng trăm nghìn lần. Trong trường hợp này, chỉ Sirius (với khoảng 25 độ sáng mặt trời và nếu được xem là một “chòm sao”) mới rất lỏng lẻo là ‘xấp xỉ’ cùng độ lớn với Sol, và đó cũng là một sự kéo giãn rất lớn. Cụm từ “có độ lớn còn lớn hơn” là một phát biểu khiêm tốn phù hợp hơn cho sự so sánh giữa Procyon (7.73 L ☉), Altair (10.6 [ L ☉) Vega (37 ± 3 L ☉), Sirius (25.4 (A) /

0.026 (B) L ☉), etc. with our Sun.”

0.026 (B) L ☉), v.v. với Mặt Trời của chúng ta.”

25. I consider it is a perilous assumption to take this statement by the Tibetan (the one concerning revolving constellations accompanied by our revolving solar system) literally until we check out those astronomical facts available to us. I suspect that when we do so, we will have demonstrated to us the literal impossibility of such concurrent constellational revolutions. I suggest that the revolution of seven associated suns (not “constellations”—as that term us conventionally understood) will not be shown to be impossible.

25. Tôi cho rằng thật nguy hiểm nếu hiểu phát biểu này của Chân sư Tây Tạng (phát biểu liên quan đến các chòm sao quay cùng với hệ mặt trời đang quay của chúng ta) theo nghĩa đen trước khi chúng ta kiểm tra những dữ kiện thiên văn hiện có. Tôi ngờ rằng khi làm như vậy, chúng ta sẽ thấy được sự bất khả hữu theo nghĩa đen của những cuộc quay đồng thời mang tính chòm sao như thế. Tôi gợi ý rằng sự quay của bảy mặt trời liên hệ (không phải “các chòm sao”—theo cách thuật ngữ ấy thường được hiểu) sẽ không bị chứng minh là bất khả hữu.

26. In occultism, the “cosmic centre” around which our solar system (or “our constellation”) and also the six other constellations, is considered to revolve is the Pleiades and especially Alcyone as the leading star of the Pleiades.

26. Trong huyền bí học, “trung tâm vũ trụ” mà quanh đó hệ mặt trời của chúng ta (hay “chòm sao của chúng ta”) và cả sáu chòm sao khác được xem là quay quanh chính là Pleiades và đặc biệt là Alcyone như ngôi sao dẫn đầu của Pleiades.

This cosmic centre in turn forms part of a great wheel

Trung tâm vũ trụ này đến lượt nó tạo thành một phần của một bánh xe lớn

27. This could be our galaxy, or it could be a much lesser cosmic structure, for we may infer with reason that there are ever-larger wheels on the way to the galactic wheel, (which of course is probably involved in its own type of revolution around a still greater center, etc.)

27. Đây có thể là thiên hà của chúng ta, hoặc có thể là một cấu trúc vũ trụ nhỏ hơn nhiều, vì chúng ta có thể suy ra một cách hợp lý rằng luôn có những bánh xe ngày càng lớn hơn trên đường đi đến bánh xe thiên hà, (dĩ nhiên bản thân bánh xe thiên hà có lẽ cũng tham dự vào loại chuyển động quay riêng của nó quanh một trung tâm còn lớn hơn nữa, v.v.)

28. There are many ever more inclusive “wheels” in our galaxy, until at last the galaxy as a cosmic wheel is considered.

28. Có nhiều “bánh xe” ngày càng bao gồm hơn trong thiên hà của chúng ta, cho đến cuối cùng thiên hà như một bánh xe vũ trụ được xét đến.

29. We are dealing with chakra systems of ever-increasing scope.

29. Chúng ta đang đề cập đến các hệ thống luân xa có phạm vi ngày càng tăng.

till—to the eye of the illumined seer—the entire vault of Heaven

cho đến khi—đối với con mắt của nhà thông nhãn được soi sáng—toàn bộ vòm Trời

30. Presumably, this “vault” is not only the externally visible vault, but the ‘subjective vault’ and also the vault as expanded by all our instruments of observations—telescopes and sensing devices of all kinds.

30. Có lẽ “vòm” này không chỉ là vòm bên ngoài có thể thấy được, mà còn là ‘vòm chủ quan’, và cả vòm được mở rộng bởi mọi dụng cụ quan sát của chúng ta—kính thiên văn và các thiết bị cảm nhận đủ loại.

is seen to be in motion.

được thấy là đang chuyển động.

31. The stars within the “vault of heaven” are certainly not fixed stars.

31. Các ngôi sao bên trong “vòm trời” chắc chắn không phải là những ngôi sao cố định.

All the constellations, viewing them as a whole, are impelled in one direction.

Tất cả các chòm sao, khi nhìn chúng như một toàn thể, đều bị thúc đẩy theo một hướng.

32. We could possibly be within the galactic frame of reference, speaking of all constellations included within our galaxy, all revolving (whether clockwise or counter-clockwise) in the same direction around the center of the galaxy.

32. Chúng ta có thể đang ở trong hệ quy chiếu thiên hà, nói về mọi chòm sao được bao gồm trong thiên hà của chúng ta, tất cả đều quay (dù theo chiều kim đồng hồ hay ngược chiều kim đồng hồ) theo cùng một hướng quanh trung tâm thiên hà.

33. We could also be in a maximally large context, with DK positing that the entire Universe is the ‘Greatest of All Possible Wheels”, and that all constellations revolve together around the ‘common center’ of this Wheel—whatever that might be. I do not think we should resist the analogy.

33. Chúng ta cũng có thể đang ở trong một bối cảnh lớn tối đa, với việc Chân sư DK giả định rằng toàn thể Vũ Trụ là ‘Bánh Xe Lớn Nhất trong Mọi Bánh Xe Có Thể Có’, và rằng mọi chòm sao cùng quay quanh ‘trung tâm chung’ của Bánh Xe này—dù đó là gì đi nữa. Tôi không nghĩ rằng chúng ta nên kháng cự phép loại suy ấy.

34. In any case, it seems that there is no contrary movement of some constellations when compared to others. All are moving together and probably, we can assume, revolving together around a common center.

34. Dù sao đi nữa, dường như không có chuyển động ngược chiều của một số chòm sao khi so với những chòm sao khác. Tất cả đều đang cùng chuyển động và có lẽ, chúng ta có thể giả định, cùng quay quanh một trung tâm chung.

35. When we look carefully at the word “constellations” and attempt to define it in a general sense, we realize that it means ‘an organized gathering of related items’. Planets can be constellated together: Suns can be constellated; what we normally call constellations of stars can be constellated so that we have constellations of our customary constellations; and on and on, until we have constellations of galaxies and of super-galaxies, etc. The term “constellation” is a generic term suggested systematic, organic relationship. Therefore, this statement about “all the constellations” could refer to all manner of ‘constellations’ in the entire Universe.

35. Khi chúng ta xem xét cẩn thận từ “chòm sao” và cố gắng định nghĩa nó theo nghĩa tổng quát, chúng ta nhận ra rằng nó có nghĩa là ‘một tập hợp có tổ chức của những yếu tố liên hệ’. Các hành tinh có thể được kết thành chòm; các mặt trời có thể được kết thành chòm; những gì chúng ta thường gọi là các chòm sao có thể được kết thành chòm để chúng ta có các chòm sao của những chòm sao quen thuộc; và cứ thế mãi, cho đến khi chúng ta có các chòm sao của các thiên hà và của các siêu thiên hà, v.v. Thuật ngữ “chòm sao” là một thuật ngữ tổng quát gợi ý một mối liên hệ có hệ thống, hữu cơ. Vì vậy, phát biểu này về “mọi chòm sao” có thể quy chiếu đến mọi loại ‘chòm sao’ trong toàn thể Vũ Trụ.

36. Occult blinding occurs through a shifting of the meaning of terms. The reader is blinded because, as the shifting occurs, the reader’s attention is not drawn to the shifting. Thus, confusion will result unless the prepared and perceptive reader knows of deeper structures, relationship and dynamics than are referenced in the blinded text.

36. Sự che mờ huyền bí xảy ra qua sự chuyển đổi ý nghĩa của các thuật ngữ. Người đọc bị che mờ vì, khi sự chuyển đổi xảy ra, sự chú ý của người đọc không được hướng đến sự chuyển đổi ấy. Do đó, sự lẫn lộn sẽ phát sinh trừ phi người đọc đã chuẩn bị và có tri giác biết đến những cấu trúc, mối liên hệ và động lực sâu hơn những gì được quy chiếu trong văn bản bị che mờ.

37. We do not know whether DK has taken the picture that far (i.e., as far as the one and only Ultimate Universal System of all cosmic systems or constellations), but we must be alert to the possibility of ‘level blinds’, by means of which DK speaks of several levels simultaneously or may switch levels suddenly without alerting the reader.

37. Chúng ta không biết liệu Chân sư DK có đưa bức tranh đi xa đến thế hay không (tức là xa đến mức chỉ còn một Hệ Vũ Trụ Tối Hậu duy nhất của mọi hệ hay chòm sao vũ trụ), nhưng chúng ta phải tỉnh táo trước khả năng có những ‘sự che mờ cấp độ’, nhờ đó Chân sư DK nói về nhiều cấp độ đồng thời hoặc có thể đột ngột chuyển cấp độ mà không báo cho người đọc biết.

38. We find this ‘level blinding’ in The Secret Doctrine when discussing our tiny solar system and the entire Universe “in the same breath”. Who, after all, is The Eternal Parent, and yet hints are being given about the birth of our solar system at the same time.

38. Chúng ta thấy kiểu ‘che mờ cấp độ’ này trong Giáo Lý Bí Nhiệm khi bàn về hệ mặt trời nhỏ bé của chúng ta và toàn thể Vũ Trụ “trong cùng một hơi nói”. Rốt cuộc, Đấng Song Thân Vĩnh Cửu là ai, và tuy vậy đồng thời vẫn có những gợi ý được đưa ra về sự sinh ra của hệ mặt trời chúng ta.

The old Commentary expresses this obscure truth as follows:

Cổ Luận diễn tả chân lý mơ hồ này như sau:

“The one wheel turns. One turn alone is made, and every sphere, and suns of all degrees, follow its course. The night of time is lost in it, and kalpas measure less than seconds in the little day of man.

“Bánh xe duy nhất quay. Chỉ một vòng quay được thực hiện, và mọi khối cầu, cùng các mặt trời ở mọi cấp độ, đều theo tiến trình của nó. Đêm của thời gian tan biến trong đó, và các đại kiếp đo lường còn ít hơn giây phút trong ngày nhỏ bé của con người.

39. While we could be speaking of a galaxy, it is not certain that we are, given the time scales below. We have estimates that our Sun orbits our galaxy in a period of from 200 million to 250 million years, but we do not know how long it takes the galaxy to turn on itself. If our solar atom has a rotational period of about 100,000 years according to DK, then the rotation of the galactic atom (if of the same nature as the rotation of the solar atom) could endure for an immense period—much longer of course than the supposed total age of the universe as projected by contemporary science!

39. Dù chúng ta có thể đang nói về một thiên hà, điều đó không chắc chắn, xét theo các thang thời gian dưới đây. Chúng ta có những ước tính rằng Mặt Trời của chúng ta quay quanh thiên hà trong một chu kỳ từ 200 triệu đến 250 triệu năm, nhưng chúng ta không biết thiên hà mất bao lâu để tự quay trên chính nó. Nếu nguyên tử mặt trời của chúng ta có chu kỳ quay khoảng 100.000 năm theo Chân sư DK, thì sự quay của nguyên tử thiên hà (nếu có cùng bản chất với sự quay của nguyên tử mặt trời) có thể kéo dài trong một thời kỳ mênh mông—dĩ nhiên lâu hơn rất nhiều so với tổng tuổi giả định của vũ trụ như khoa học đương đại phóng chiếu!

40. The “one wheel” could, of course, be the ‘One and Only Universal Wheel’. Can it be thought that this ‘Greatest of All Wheels’ turns but once? It is conceivable, but if it must turn faster with the appearance of every ‘new’ universe, then, since every universe has been preceded by an infinitude of universes, the 'Universal Wheel' would always be turning at ‘infinite speed’ which is an impossibility.

40. Dĩ nhiên, “bánh xe duy nhất” có thể là ‘Bánh Xe Vũ Trụ Duy Nhất’. Có thể nghĩ rằng ‘Bánh Xe Lớn Nhất trong Mọi Bánh Xe’ này chỉ quay một lần chăng? Điều đó có thể hình dung được, nhưng nếu nó phải quay nhanh hơn với sự xuất hiện của mỗi vũ trụ ‘mới’, thì vì mỗi vũ trụ đều đã được đi trước bởi vô số vô hạn các vũ trụ, ‘Bánh Xe Vũ Trụ’ sẽ luôn luôn quay với ‘tốc độ vô hạn’, điều này là bất khả hữu.

Ten million million kalpas pass, and twice ten million million Brahmic cycles and yet one hour of cosmic time is not completed.

Mười triệu triệu đại kiếp trôi qua, và hai lần mười triệu triệu chu kỳ Brahma nữa, vậy mà một giờ của thời gian vũ trụ vẫn chưa hoàn tất.

41. A kalpa, according to H.P.B. has the duration of 4,320,000,000 Earth years. If we add the kalpic night we get 8,640,000,000 Earth years.

41. Theo H.P.B., một đại kiếp có thời lượng 4.320.000.000 năm Trái Đất. Nếu cộng thêm đêm đại kiếp, chúng ta có 8.640.000.000 năm Trái Đất.

42. One “Brahmic cycle” (if by this we mean an “Occult Century”, is 311,040,000,000,000 years. But if a Brahmic cycle is smaller—such as a “Day of Brahma”, then the overall ‘Age of the Universe’ would be much greater.

42. Một “chu kỳ Brahma” (nếu bởi đó chúng ta muốn nói một “Thế Kỷ Huyền Bí”) là 311.040.000.000.000 năm. Nhưng nếu một chu kỳ Brahma nhỏ hơn—chẳng hạn như một “Ngày của Brahma”, thì toàn bộ ‘Tuổi của Vũ Trụ’ sẽ lớn hơn rất nhiều.

43. I did a fanciful calculation some years ago for the number of Earth years involved in this somewhat poetic description by DK It was a figure with a great number of zeros—something like—5,501,980,800,000,000,000,000,000,000 –this is something like 5 octillion years. So, if the H.P.B. record on time (TCF 39) is substantial, as some of us think it is, and if the Tibetan’s quotation from the Old Commentary is not simply poetry, we are dealing with a simply huge figure which would far transcend the one turn of a galactic wheel—whatever that really means anyway. We could look at this figure as the Duration of our Universe occultly considered.

43. Tôi đã thực hiện một phép tính đầy tưởng tượng vài năm trước về số năm Trái Đất liên hệ trong mô tả phần nào thi vị này của Chân sư DK. Đó là một con số với rất nhiều số không—đại loại như—5,501,980,800,000,000,000,000,000,000 –tức khoảng 5 octillion năm. Vì vậy, nếu ghi chép của H.P.B. về thời gian (TCF 39) là đáng kể, như một số chúng ta nghĩ, và nếu trích dẫn của Chân sư Tây Tạng từ Cổ Luận không chỉ đơn thuần là thi ca, thì chúng ta đang đối diện với một con số khổng lồ sẽ vượt xa một vòng quay của bánh xe thiên hà—dù điều đó thực sự có nghĩa gì đi nữa. Chúng ta có thể xem con số này như Thời Lượng của Vũ Trụ của chúng ta khi được xét theo huyền bí học.

44. Let us suppose that a Brahmic cycle is but a “Day of Brahma”. Then we would have to multiply the huge figure above by 360 x 100 or by 36,000 and the speculative ‘Age of the Universe’ would be: 1.98071308832. Another three zeros or so would be added to the 5 octillion figure. By USA and “Modern British” figures we would have a figure above 200 nonillion Earth years.

44. Giả sử rằng một chu kỳ Brahma chỉ là một “Ngày của Brahma”. Khi đó chúng ta sẽ phải nhân con số khổng lồ trên với 360 x 100 hay với 36.000 và ‘Tuổi của Vũ Trụ’ theo suy đoán sẽ là: 1.98071308832. Thêm khoảng ba số không nữa sẽ được cộng vào con số 5 octillion. Theo cách tính của Hoa Kỳ và “Anh hiện đại”, chúng ta sẽ có một con số trên 200 nonillion năm Trái Đất.

45. Of course, such calculations are ridiculously fanciful, but they may give a clue concerning the huge number of Earth-years which the universe may endure. This would certainly involve subjective endurance as well. Relatively, the number of years which an entity spends in strictly objective existence is short compared with the total span of spiritual, subjective and objective endurance.

45. Dĩ nhiên, những phép tính như thế là đầy tưởng tượng đến mức phi lý, nhưng chúng có thể cho một đầu mối liên quan đến số năm Trái Đất khổng lồ mà vũ trụ có thể tồn tại. Điều này chắc chắn cũng sẽ bao gồm sự tồn tại chủ quan. Tương đối mà nói, số năm mà một thực thể trải qua trong sự tồn tại hoàn toàn khách quan là ngắn so với toàn bộ khoảng thời gian tồn tại tinh thần, chủ quan và khách quan.

Within the wheel,

Bên trong bánh xe,

46. We are speaking either of the 'Greatest of All Wheels' or of the ‘Galactic Wheel’.

46. Chúng ta đang nói hoặc về 'Bánh Xe Lớn Nhất trong Mọi Bánh Xe' hoặc về ‘Bánh Xe Thiên Hà’.

forming that wheel, are all the lesser wheels from the first to the tenth dimension.

tạo thành bánh xe ấy, là tất cả những bánh xe nhỏ hơn từ chiều thứ nhất đến chiều thứ mười.

47. We must bear in mind that the Tibetan and other writers on deep occult matters, frequently switch the scope of their perspective without telling us they have done so. The vastest of all universal perspectives may be considered side-by-side with a much smaller perspective, and no warning given that different contexts which are being discussed.

47. Chúng ta phải ghi nhớ rằng Chân sư Tây Tạng và các tác giả khác viết về những vấn đề huyền bí sâu xa thường xuyên chuyển đổi phạm vi viễn tượng của họ mà không cho chúng ta biết họ đã làm như vậy. Viễn tượng vũ trụ rộng lớn nhất có thể được đặt cạnh một viễn tượng nhỏ hơn nhiều, và không có cảnh báo nào rằng các bối cảnh đang được bàn đến là khác nhau.

48. The entire Universe may have ten dimensions. This will mean that when we draw representations of systemic planes, cosmic planes, super-cosmic planes, we will have to determine how far to go.

48. Toàn thể Vũ Trụ có thể có mười chiều. Điều này sẽ có nghĩa rằng khi chúng ta vẽ các biểu đồ về các cõi hệ thống, các cõi vũ trụ, các cõi siêu vũ trụ, chúng ta sẽ phải xác định nên đi xa đến đâu.

49. On this scale of ten dimensions, where would a galaxy fit? If we could determine this, we would have a marker. Is the atom of substance representative the first dimension? Is man representative of the second? Is a Planetary Logos representative of the third? Is a Solar Logos representative of the fourth?

49. Trên thang mười chiều này, một thiên hà sẽ phù hợp ở đâu? Nếu chúng ta có thể xác định điều này, chúng ta sẽ có một dấu mốc. Nguyên tử của chất liệu có đại diện cho chiều thứ nhất không? Con người có đại diện cho chiều thứ hai không? Một Hành Tinh Thượng Đế có đại diện cho chiều thứ ba không? Một Thái dương Thượng đế có đại diện cho chiều thứ tư không?

50. Or should the dimensions be considered strictly in relation to planes? Would we begin with a sub-sub-plane and from that level begin increasing sizes to a subplane, a systemic plane, a cosmic plane, a super-cosmic plane, etc., or would we begin simply with a systemic plane? These are questions which we are in no position to answer at this time.

50. Hay các chiều nên được xét hoàn toàn trong tương quan với các cõi? Chúng ta sẽ bắt đầu với một cõi phụ-phụ và từ cấp độ đó bắt đầu tăng dần kích thước lên một cõi phụ, một cõi hệ thống, một cõi vũ trụ, một cõi siêu vũ trụ, v.v., hay chúng ta sẽ bắt đầu đơn giản với một cõi hệ thống? Đây là những câu hỏi mà hiện nay chúng ta không ở vị thế để trả lời.

51. Of course, within any system (holographically considered) there could also be ten dimensions—representative of the Tree of Life. So there may be concrete applications of this ten-dimension idea as well as the ultimate universal application.

51. Dĩ nhiên, bên trong bất kỳ hệ thống nào (được xét theo toàn ảnh), cũng có thể có mười chiều—đại diện cho Cây Sự Sống. Vì vậy có thể có những ứng dụng cụ thể của ý tưởng mười chiều này cũng như ứng dụng vũ trụ tối hậu.

These in their cyclic turn hold in their spheres of force other and lesser wheels.

Đến lượt mình, những bánh xe này trong vòng quay chu kỳ của chúng giữ trong các khối cầu mãnh lực của chúng những bánh xe khác và nhỏ hơn.

52. It seems that wheels of the major ten dimensions have within themselves lesser wheels which might be called ‘sub-dimensional wheels’.

52. Dường như các bánh xe của mười chiều lớn tự chúng chứa những bánh xe nhỏ hơn có thể được gọi là ‘các bánh xe dưới-chiều’.

53. Therefore, only certain wheels are considered representative of the ten dimensions of cosmos. Yet there are many other wheels. Who knows how many lesser wheels may be contained in each of the major dimensions of cosmos?

53. Vì vậy, chỉ một số bánh xe nhất định mới được xem là đại diện cho mười chiều của vũ trụ. Tuy nhiên còn có nhiều bánh xe khác. Ai biết được có bao nhiêu bánh xe nhỏ hơn có thể được chứa trong mỗi chiều lớn của vũ trụ?

Yet many suns compose the cosmic One.

Tuy vậy nhiều mặt trời hợp thành Đấng Duy Nhất vũ trụ.

54. Notice here the use of the term “cosmic One”. This establishes that the term “cosmic” is entirely flexible, for we are far, far beyond anything we might name as the conventional "One About Whom Naught May Be Said"—considering Him (as I think there is a tendency to do mistakenly, as the only Being to which the term “Cosmic Logos” must apply). Of course, as I have stated, philosophically, the "One About Whom Naught May Be Said" could be a Galactic Logos, OR, ultimately, it could be, with greatest philosophical accuracy, the ABSOLUTE, the ABSOLUTE INFINITUDE, the NAMELESS ONE, about WHOM, literally, naught can be said!

54. Hãy lưu ý ở đây việc dùng thuật ngữ “Đấng Duy Nhất vũ trụ”. Điều này xác lập rằng thuật ngữ “vũ trụ” hoàn toàn linh hoạt, vì chúng ta đang ở rất, rất xa vượt ngoài bất cứ điều gì chúng ta có thể gọi là thông thường "Đấng Bất Khả Tư Nghị"—nếu xét Ngài (như tôi nghĩ có một khuynh hướng sai lầm là làm như vậy) như Hữu thể duy nhất mà thuật ngữ “Vũ Trụ Thượng đế” phải áp dụng. Dĩ nhiên, như tôi đã nói, về mặt triết học, "Đấng Bất Khả Tư Nghị" có thể là một Thiên Hà Thượng đế, HOẶC, rốt ráo hơn, với độ chính xác triết học lớn nhất, có thể là TUYỆT ĐỐI, VÔ HẠN TUYỆT ĐỐI, ĐẤNG VÔ DANH, về ĐẤNG ấy, theo nghĩa đen, không điều gì có thể được nói ra!

55. So when we speak of a “Cosmic Logos” it does not seem justified to me to attach that name solely to what we conventionally think of as a "One About Whom Naught May Be Said"—i.e., a Super-Cosmic Logos. The word “cosmic” is utterly flexible. Even our Planetary Logoi are considered cosmic Beings and so is our Solar Logos. I suggest that we do not become too concrete or fixed about the term “cosmic”.

55. Vì vậy khi chúng ta nói về một “Vũ Trụ Thượng đế”, đối với tôi dường như không chính đáng khi gắn danh xưng ấy chỉ riêng cho điều mà chúng ta thường nghĩ là một "Đấng Bất Khả Tư Nghị"—tức là một Siêu Vũ Trụ Thượng đế. Từ “vũ trụ” hoàn toàn linh hoạt. Ngay cả các Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta cũng được xem là các Hữu thể vũ trụ và Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng vậy. Tôi gợi ý rằng chúng ta đừng trở nên quá cụ thể hay cố định về thuật ngữ “vũ trụ”.

Wheels within wheels, spheres within spheres. Each pursues his course and attracts or rejects his brother, and yet cannot escape from the encircling arms of the mother.

Những bánh xe trong các bánh xe, những khối cầu trong các khối cầu. Mỗi cái theo đuổi lộ trình của mình và hút hoặc đẩy huynh đệ của mình, nhưng vẫn không thể thoát khỏi vòng tay bao bọc của người mẹ.

56. By the “mother” in this case, for me, the ‘universally diversified Mulaprakriti’ is suggested. We are dealing with the Law of Attraction universally applied.

56. Với tôi, “người mẹ” trong trường hợp này gợi ý ‘Mulaprakriti được biến phân một cách phổ quát’. Chúng ta đang đề cập đến Định luật Hấp Dẫn được áp dụng một cách phổ quát.

57. The “Mother” embraces all B/beings of any kinds except for the Universal Spirit, Itself.

57. “Người Mẹ” ôm trọn mọi hữu thể thuộc bất kỳ loại nào ngoại trừ chính Tinh thần Vũ Trụ.

When the wheels of the fourth dimension, of which our sun is one

Khi những bánh xe của chiều thứ tư, mà mặt trời của chúng ta là một trong số đó

58. Now, suddenly, the whole scenario is collapsed down to intra-galactic matters. We have just made a huge level-leap. We can investigate this, but I do not think that only six more types of aggregations exist between our solar wheel, and the ‘Ultimate Universal Wheel’. We need some astronomy here to discuss varieties of Sub-Universal Wheels leading progressively and sequentially to the ‘Ultimate Universal Wheel’—i.e., varieties for which there presently exists evidence.

58. Giờ đây, đột nhiên, toàn bộ bối cảnh được thu gọn xuống các vấn đề nội thiên hà. Chúng ta vừa thực hiện một bước nhảy cấp độ rất lớn. Chúng ta có thể khảo sát điều này, nhưng tôi không nghĩ rằng chỉ có thêm sáu loại tập hợp nữa tồn tại giữa bánh xe mặt trời của chúng ta và ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’. Chúng ta cần một ít thiên văn học ở đây để bàn về các loại Bánh Xe Dưới-Vũ Trụ dẫn dần dần và tuần tự đến ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’—tức là những loại mà hiện nay đã có bằng chứng tồn tại.

59. The addition of Constellational Wheels, Super-Constellational Wheels (of which the "One About Whom Naught May Be Said" could be one)—would take us already to a sixth dimension, and so I think it can be clearly seen, that if we proceed in this manner we will not even go beyond our galaxy before the 10th dimension (calculated in this manner) is reached.

59. Việc cộng thêm các Bánh Xe Chòm Sao, các Bánh Xe Siêu-Chòm Sao (trong đó “Đấng Bất Khả Tư Nghị” có thể là một)—đã đưa chúng ta đến chiều thứ sáu, và vì vậy tôi nghĩ có thể thấy rõ rằng, nếu chúng ta tiếp tục theo cách này thì chúng ta thậm chí sẽ chưa vượt ra ngoài thiên hà của mình trước khi đạt đến chiều thứ 10th (được tính theo cách này).

60. This being the case, it seems clear that a dimensional model of cosmos relating categories of planes to the ten dimensions is the best model. With this type of model, only a few of the very many types of wheels will be considered representative of the ten major dimensions.

60. Vì là như vậy, dường như rõ ràng rằng một mô hình chiều kích của vũ trụ liên hệ các phạm trù cõi với mười chiều là mô hình tốt nhất. Với loại mô hình này, chỉ một vài trong rất nhiều loại bánh xe sẽ được xem là đại diện cho mười chiều chính.

61. The major representative of any dimension will always have as a plane of expression the atomic subplane of a series of seven subplanes.

61. Đại diện chính của bất kỳ chiều nào cũng sẽ luôn có cõi biểu hiện là cõi phụ nguyên tử của một chuỗi bảy cõi phụ.

62. It behooves us to be humble in the face of these huge aggregations or ‘constellations’ (generically considered). We have to remember that there are Beings (not necessarily the greatest ‘Archetypal Universal Beings’—such as the Universal Twelve, or the Universal Seven) in relation to which our Solar Logos is simply as a “crystal” or a “cell”. We cannot pontificate about the nature of the Universe. If DK tells us that it is “wasted energy” to speculate about the (conventional) "One About Whom Naught May Be Said" (a Being, great to us but tiny on the universal scale), then it would be quite ridiculous to think that we could know anything about Occult Universal Structure of those Great ‘Constellations’ in relation to which our entire galaxy could be considered but a ‘cell’.

62. Chúng ta cần phải khiêm tốn trước những tập hợp hay “chòm sao” khổng lồ này (xét một cách tổng quát). Chúng ta phải nhớ rằng có những Đấng (không nhất thiết là những ‘Đấng Vũ Trụ Nguyên Mẫu’ vĩ đại nhất—như Bộ Mười Hai Vũ Trụ, hay Bộ Bảy Vũ Trụ) mà trong tương quan với Các Ngài, Thái dương Thượng đế của chúng ta chỉ đơn giản như một “tinh thể” hay một “tế bào”. Chúng ta không thể lớn tiếng phán định về bản chất của Vũ Trụ. Nếu Chân sư DK bảo chúng ta rằng việc suy đoán về “Đấng Bất Khả Tư Nghị” (theo nghĩa quy ước) là “năng lượng bị lãng phí” (một Đấng vĩ đại đối với chúng ta nhưng nhỏ bé trên quy mô vũ trụ), thì quả thật hết sức lố bịch nếu nghĩ rằng chúng ta có thể biết điều gì đó về Cấu Trúc Vũ Trụ Huyền Bí của những ‘Chòm Sao’ vĩ đại ấy, mà trong tương quan với chúng, toàn bộ thiên hà của chúng ta chỉ có thể được xem như một ‘tế bào’.

63. The danger is that the mind can go anywhere and feel very good about itself, and yet we have not even controlled our astral bodies! Nor filled our minds with love! Nor become soul-infused! So—we are in the midst of a huge joke (albeit an irresistible one) if we really think we can talk about these subjects with occult or scientific accuracy. Yet we persist, as the flea yearns to know something about the purposes of the Solar Logos.

63. Điều nguy hiểm là trí tuệ có thể đi đến bất cứ đâu và cảm thấy rất hài lòng về chính nó, thế mà chúng ta thậm chí còn chưa kiểm soát được các thể cảm dục của mình! Cũng chưa làm cho trí tuệ mình tràn đầy bác ái! Cũng chưa trở nên được linh hồn thấm nhuần! Vì vậy—chúng ta đang ở giữa một trò đùa lớn lao (dù là một trò đùa không thể cưỡng lại) nếu thật sự nghĩ rằng mình có thể nói về những chủ đề này với sự chính xác huyền bí hay khoa học. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cứ tiếp tục, như con bọ chét khao khát biết điều gì đó về các mục đích của Thái dương Thượng đế.

and all that is of lesser force and higher number, such as the eighth and ninth degrees,

và tất cả những gì có mãnh lực nhỏ hơn và số lượng cao hơn, như các cấp độ thứ tám và thứ chín,

64. A very interesting hint about numbers used to classify potency. For instance, Betelgeuse is a Solar Logos of the second order and Sol of the fourth.

64. Một gợi ý rất thú vị về các con số được dùng để phân loại mức độ mãnh lực. Chẳng hạn, Betelgeuse là một Thái dương Thượng đế thuộc bậc thứ hai và Sol thuộc bậc thứ tư.

65. From this perspective, the higher the order number, the lesser the force of the Being involved.

65. Từ góc nhìn này, số bậc càng cao thì mãnh lực của Đấng liên hệ càng nhỏ hơn.

66. It might be advisable to think that if our Sun is of the fourth order and is to be considered a wheel of the fourth dimension, we have to ask, “Within what type of system of dimensions is our Sun a representative of the fourth dimension?” Is such a system galactic, super-galactic, etc., or is it the ‘Ultimate System?

66. Có lẽ nên nghĩ rằng nếu Mặt Trời của chúng ta thuộc bậc thứ tư và được xem là một bánh xe của chiều thứ tư, thì chúng ta phải hỏi: “Trong loại hệ thống chiều kích nào Mặt Trời của chúng ta là đại diện cho chiều thứ tư?” Hệ thống ấy là thiên hà, siêu thiên hà, v.v., hay là ‘Hệ Tối Hậu’?

67. It may be the case that within every major dimensional wheel, there are ten subsidiary wheels. We are asking then, “Within what type of Wheel is our Sun a representative of the fourth dimension?” This is no small question.

67. Có thể là trong mỗi bánh xe chiều kích chính đều có mười bánh xe phụ. Khi ấy chúng ta đang hỏi: “Trong loại Bánh Xe nào Mặt Trời của chúng ta là đại diện cho chiều thứ tư?” Đây không phải là một câu hỏi nhỏ.

68. The words “eighth and ninth degrees” are problematic. Usually as the number or the “degree” rises, the power of the Being concerned rises.

68. Các từ “cấp độ thứ tám và thứ chín” là điều có vấn đề. Thông thường, khi con số hay “cấp độ” tăng lên, quyền năng của Đấng liên hệ cũng tăng lên.

69. Perhaps, then, we will have to focus on the meaning of “lesser force”. Can it suggest that Beings of the eighth or ninth degrees have lesser force within the lower worlds but much greater energy within the higher worlds?

69. Có lẽ, vậy thì, chúng ta sẽ phải tập trung vào ý nghĩa của “mãnh lực nhỏ hơn”. Liệu điều đó có thể gợi ý rằng các Đấng ở cấp độ thứ tám hay thứ chín có mãnh lực nhỏ hơn trong các cõi thấp nhưng lại có năng lượng lớn hơn rất nhiều trong các cõi cao chăng?

turn upon themselves, devour each other, and turn and rend their mother, then will the cosmic wheel be ready for a faster revolution.”

quay vào chính mình, nuốt chửng lẫn nhau, rồi quay lại xé nát mẹ mình, khi ấy bánh xe vũ trụ sẽ sẵn sàng cho một cuộc xoay chuyển nhanh hơn.”

70. In this case, the Cosmic Wheel could be the galaxy. It is hard to conceive that the ‘Ultimate Universal Wheel’ turns more than once. As we have just been told:

70. Trong trường hợp này, Bánh Xe Vũ Trụ có thể là thiên hà. Thật khó hình dung rằng ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’ lại quay nhiều hơn một lần. Như chúng ta vừa được cho biết:

"The one wheel turns. One turn alone is made…

"Bánh xe duy nhất quay. Chỉ một vòng quay được thực hiện…

71. The process of devouring each other is related to the stages of obscuration, synthesis and absorption.

71. Tiến trình nuốt chửng lẫn nhau có liên hệ với các giai đoạn mờ khuất, tổng hợp và hấp thụ.

72. Each B/being has a “mother” which is but an aspect of the ‘One Universal Mother’. To ‘rend the mother’ signifies the destruction of the form which encapsulates the subtle principles and the volatile essence, and the subsequent escape of those subtle principles and that volatile essence into a greater, synthesizing sphere.

72. Mỗi Đ/đấng đều có một “người mẹ”, mà chỉ là một phương diện của ‘Người Mẹ Vũ Trụ Duy Nhất’. “Xé nát người mẹ” biểu thị sự hủy diệt hình tướng bao bọc các nguyên khí vi tế và tinh chất dễ bay hơi, cùng sự thoát ra sau đó của các nguyên khí vi tế ấy và tinh chất dễ bay hơi ấy vào một khối cầu tổng hợp lớn hơn.

73. We must be aware that DK or the writer of the Old Commentary in this case, slides between levels, just as H.P.B. seems to do in The Secret Doctrine. The student must be very alert to see when the level discussed is changed.

73. Chúng ta phải ý thức rằng Chân sư DK hay tác giả của Cổ Luận trong trường hợp này chuyển trượt giữa các cấp độ, cũng như H.P.B. dường như làm trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Đạo sinh phải hết sức tỉnh táo để nhận ra khi nào cấp độ đang được bàn đến đã thay đổi.

74. He did this when He began to talk of the “wheel of the fourth dimension”. Suddenly we were out of the context of the ‘Ultimate Universal Wheel’.

74. Ngài đã làm điều này khi Ngài bắt đầu nói về “bánh xe của chiều thứ tư”. Đột nhiên chúng ta đã ra khỏi ngữ cảnh của ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’.

It will, therefore, be apparent that the power of man to conceive of these whirling constellations,

Do đó, sẽ rõ ràng rằng năng lực của con người trong việc hình dung các chòm sao xoay chuyển này,

75. DK seems to pointing to the rotational and revolutionary movements of constellations of all kinds.

75. Chân sư DK dường như đang chỉ đến các chuyển động quay tròn và tuần hoàn của mọi loại chòm sao.

to measure their interaction, and to realise their essential unity is not as yet great enough.

đo lường sự tương tác của chúng, và chứng nghiệm sự hợp nhất cốt yếu của chúng vẫn chưa đủ lớn.

76. Again, a magnificent understatement!

76. Lại thêm một cách nói giảm tuyệt vời!

77. Perhaps, even in the case of the Masters, the ability to measure such interaction is “not yet great enough”.

77. Có lẽ, ngay cả trong trường hợp các Chân sư, khả năng đo lường sự tương tác như thế cũng “chưa đủ lớn”.

We are told that even to the [Page 1085] liberated Dhyan Chohan the mystery of that which lies beyond his own solar Ring-Pass-Not is hid.

Chúng ta được bảo rằng ngay cả đối với vị [Page 1085] Dhyan Chohan đã được giải thoát, huyền nhiệm của điều nằm vượt quá vòng-giới-hạn thái dương của chính ngài vẫn bị che giấu.

78. Shall we pause for a moment of humility, or shall we debate strenuously over what is hidden to “liberated Dhyan Chohans”? Who are these “liberated Dhyan Chohans”? Initiates of the sixth degree?; of the seventh?; initiates beyond? We are not They, and so any pontificating about that which lies beyond our “solar Ring Pass-Not” is pure folly, though fascinating to contemplate.

78. Chúng ta sẽ dừng lại một lúc trong sự khiêm tốn, hay sẽ tranh luận quyết liệt về điều bị che giấu đối với “các Dhyan Chohan đã được giải thoát”? Những “Dhyan Chohan đã được giải thoát” này là ai? Các điểm đạo đồ cấp sáu chăng?; cấp bảy chăng?; hay các điểm đạo đồ vượt cao hơn? Chúng ta không phải là Các Ngài, và vì vậy mọi sự lớn tiếng phán định về điều nằm vượt quá “vòng-giới-hạn thái dương” của chúng ta đều là sự điên rồ thuần túy, dù rất hấp dẫn để chiêm ngưỡng.

Certain influences indicate to Him

Một số ảnh hưởng chỉ cho Ngài biết

79. It seems that Master DK is speaking of the perceptions of a liberated Dhyan Chohan.

79. Dường như Chân sư DK đang nói về các tri giác của một Dhyan Chohan đã được giải thoát.

80. We notice that Master DK is capitalizing the word “Him”, indicating a Being of very great stature, and the limitations of knowledge to which such a Being is subject.

80. Chúng ta nhận thấy Chân sư DK viết hoa từ “Ngài”, cho thấy một Đấng có tầm vóc rất lớn, và những giới hạn của tri thức mà một Đấng như vậy vẫn phải chịu.

and certain lines of force demonstrate to Him the fact that some constellations are knit with His system

và một số đường mãnh lực chứng minh cho Ngài sự kiện rằng một số chòm sao được kết dệt với hệ thống của Ngài

81. Remember the generic quality of the word “system”. It is like the word “constellation”—utterly protean, and the sooner we get used to the uncomfortable idea that we are dealing with slippery terms, the less foolishly rigid we will become. Can you imagine how the experts in Hierarchy look at our calculations when DK implored us not to make any calculations at all because too little is known?

81. Hãy nhớ phẩm tính tổng quát của từ “hệ thống”. Nó giống như từ “chòm sao”—hoàn toàn biến hóa, và chúng ta càng sớm quen với ý tưởng không mấy dễ chịu rằng mình đang xử lý những thuật ngữ trơn tuột, thì chúng ta sẽ càng bớt cứng nhắc một cách ngớ ngẩn. Các bạn có thể hình dung các chuyên gia trong Thánh Đoàn nhìn các phép tính của chúng ta như thế nào khi Chân sư DK đã khẩn khoản bảo chúng ta đừng thực hiện bất kỳ phép tính nào cả vì biết quá ít chăng?

I would conjure students here to refrain from attempting (in years to come) to form cyclic computations of any kind, for as yet the many constellations which exist only in physical matter of an etheric nature are unknown and unseen. Yet they are potent in influence and until etheric vision is developed, all calculations will be full of error. It suffices for man as yet to master his own dharma, to fulfil group karma, and to dominate what is called "his stars." (TCF 1058)

Tôi muốn khẩn thiết yêu cầu các đạo sinh ở đây đừng cố gắng (trong những năm sắp tới) hình thành các phép tính chu kỳ dưới bất kỳ hình thức nào, vì hiện nay nhiều chòm sao chỉ tồn tại trong vật chất hồng trần có bản chất dĩ thái vẫn chưa được biết đến và chưa được thấy. Tuy nhiên, chúng có ảnh hưởng mạnh mẽ, và cho đến khi linh thị dĩ thái được phát triển, mọi phép tính đều sẽ đầy sai lầm. Hiện nay, đối với con người, chỉ cần làm chủ chính dharma của mình, hoàn thành nghiệp quả nhóm, và chế ngự điều được gọi là "các ngôi sao của mình"." (TCF 1058)

82. Yet, we persist, as we seem fated to do—to calculate and compute. But let us not think we have spoken the last word on the greater universal structures and the dynamics of those structures.

82. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cứ tiếp tục, dường như do số phận thúc đẩy—tính toán và đo đếm. Nhưng đừng nghĩ rằng chúng ta đã nói lời cuối cùng về các cấu trúc vũ trụ lớn hơn và động lực học của những cấu trúc ấy.

in a close and corporate union. We know that the Great Bear, the Pleiades, Draco or the Dragon are in some way associated with the solar system but as yet He knows not their function nor the nature of the other constellations.

trong một sự hợp nhất chặt chẽ và tập thể. Chúng ta biết rằng Đại Hùng Tinh, Pleiades, Draco hay Rồng bằng cách nào đó có liên hệ với hệ mặt trời nhưng hiện nay Ngài chưa biết chức năng của chúng cũng như bản chất của các chòm sao khác.

83. We are speaking of the limitations of knowledge which characterize a liberated Dhyan Chohan.

83. Chúng ta đang nói về những giới hạn tri thức vốn đặc trưng cho một Dhyan Chohan đã được giải thoát.

84. These are the constellations familiar to us when we think about the ‘Members’ (as chakras and principles) of our local "One About Whom Naught May Be Said". In this case the term “solar system” can mean exactly that—a one-Sun solar system, or it could include the system of the Cosmic Logos (of the first order—and such exist, TCF 292-293) in which our one-Sun solar system is but a part—a seventh part of its major structure.

84. Đây là những chòm sao quen thuộc với chúng ta khi nghĩ về các ‘Thành Viên’ (như các luân xa và các nguyên khí) của “Đấng Bất Khả Tư Nghị” cục bộ của chúng ta. Trong trường hợp này, thuật ngữ “hệ mặt trời” có thể mang đúng nghĩa đó—một hệ mặt trời một Mặt Trời, hoặc nó có thể bao gồm hệ thống của Đấng Vũ Trụ Thượng đế (thuộc bậc thứ nhất—và những Đấng như vậy có tồn tại, TCF 292-293) mà trong đó hệ mặt trời một Mặt Trời của chúng ta chỉ là một phần—một phần bảy của cấu trúc chính của Ngài.

85. DK seems to be telling us that even the liberated Dhyan Chohan does not know the function of the Great Bear, the Pleiades, and Draco. (Do we, then, think we do?)

85. Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng ngay cả Dhyan Chohan đã được giải thoát cũng không biết chức năng của Đại Hùng Tinh, Pleiades và Draco. (Vậy thì chúng ta có nghĩ mình biết không?)

86. He is also saying that other constellations are associated with our “solar system”, but that the liberated Dhyan Chohan does not know which constellations. Do we think we do?

86. Ngài cũng đang nói rằng các chòm sao khác có liên hệ với “hệ mặt trời” của chúng ta, nhưng Dhyan Chohan đã được giải thoát không biết đó là những chòm sao nào. Chúng ta có nghĩ rằng mình biết không?

It must also be remembered that the turning of our tiny systemic wheel,

Cũng phải nhớ rằng sự quay của bánh xe hệ thống nhỏ bé của chúng ta,

87. The “systemic wheel”, in this instance, is probably the wheel of our one-Sun solar system.

87. “Bánh xe hệ thống”, trong trường hợp này, có lẽ là bánh xe của hệ mặt trời một Mặt Trời của chúng ta.

and the revolution of a cosmic wheel

và cuộc tuần hoàn của một bánh xe vũ trụ

88. A “cosmic wheel” in this instance is probably wheel of a Cosmic Logos—a Being which has for its major chakras seven Solar Logoi.

88. Một “bánh xe vũ trụ” trong trường hợp này có lẽ là bánh xe của một Đấng Vũ Trụ Thượng đế—một Đấng có bảy Thái dương Thượng đế làm các luân xa chính của Ngài.

can be hastened, or retarded, by influences emanating from unknown or unrealised constellations whose association with a systemic or a cosmic Logos is as mysterious relatively as the effect individuals have upon each other in the human family.

có thể được thúc nhanh, hoặc bị trì hoãn, bởi các ảnh hưởng phát ra từ những chòm sao chưa biết hoặc chưa được chứng nghiệm, mà sự liên hệ của chúng với một Thượng đế hệ thống hay một Đấng Vũ Trụ Thượng đế cũng huyền nhiệm một cách tương đối như ảnh hưởng mà các cá nhân tác động lên nhau trong gia đình nhân loại.

89. Here we are saying that a systemic wheel can be affected by other known and unknown systemic wheels and by cosmic wheels (or even greater wheels). We are also suggesting that cosmic wheels can be affected by other known and unknown cosmic wheels (and even greater wheels). As well, it is possible that cosmic wheels can be affected by systemic wheels which are lesser in scope than cosmic wheels.

89. Ở đây chúng ta đang nói rằng một bánh xe hệ thống có thể bị ảnh hưởng bởi các bánh xe hệ thống khác đã biết và chưa biết, và bởi các bánh xe vũ trụ (hay thậm chí các bánh xe lớn hơn nữa). Chúng ta cũng đang gợi ý rằng các bánh xe vũ trụ có thể bị ảnh hưởng bởi các bánh xe vũ trụ khác đã biết và chưa biết (và cả những bánh xe lớn hơn nữa). Đồng thời, cũng có thể các bánh xe vũ trụ bị ảnh hưởng bởi các bánh xe hệ thống có phạm vi nhỏ hơn bánh xe vũ trụ.

90. Even the greatest Intelligences on Earth do not know all of these various causal relationships.

90. Ngay cả những Trí Tuệ vĩ đại nhất trên Trái Đất cũng không biết tất cả những quan hệ nhân quả đa dạng này.

This effect is hidden in logoic karma and is beyond the ken of man.

Hiệu ứng này được che giấu trong nghiệp quả logoi và vượt ngoài tầm hiểu biết của con người.

91. We read the words, “beyond the ken of man”. In this case we are probably not speaking of the influences of the ‘Ultimate Universal Wheel’, but maximally of a galaxy and probably of lesser “cosmic wheels”—yes, all of them cosmic wheels, existing beyond our solar system—“cosmic” in that sense.

91. Chúng ta đọc những lời, “vượt ngoài tầm hiểu biết của con người”. Trong trường hợp này, có lẽ chúng ta không nói về các ảnh hưởng của ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’, mà tối đa là của một thiên hà và có lẽ của những “bánh xe vũ trụ” nhỏ hơn—đúng vậy, tất cả chúng đều là bánh xe vũ trụ, tồn tại vượt ra ngoài hệ mặt trời của chúng ta—“vũ trụ” theo nghĩa đó.

92. DK is suggesting that our little systemic wheel (much smaller than the Systemic Wheels listed a little way down the page) can be influenced by Beings much greater than Cosmic Logoi (however we choose to conceive of Cosmic Logoi).

92. Chân sư DK đang gợi ý rằng bánh xe hệ thống nhỏ bé của chúng ta (nhỏ hơn rất nhiều so với các Bánh Xe Hệ Thống được liệt kê ở phía dưới trang một chút) có thể bị ảnh hưởng bởi những Đấng lớn hơn rất nhiều so với các Đấng Vũ Trụ Thượng đế (dù chúng ta chọn hình dung các Đấng Vũ Trụ Thượng đế như thế nào).

93. I maintain here that the term “cosmic” applies to multiple kinds of extra-systemic wheels. Our Solar Logos is not a Cosmic Logos, and the chakras of a Cosmic Logos consist of solar systems. I believe we must proceed incrementally with no gaps if possible. Thus my sequential and incremental treatment of the Tabulation on TCF 293 (well prepared by DK’s discussion on TCF 292)

93. Ở đây tôi khẳng định rằng thuật ngữ “vũ trụ” áp dụng cho nhiều loại bánh xe ngoài-hệ-thống. Thái dương Thượng đế của chúng ta không phải là một Đấng Vũ Trụ Thượng đế, và các luân xa của một Đấng Vũ Trụ Thượng đế gồm các hệ mặt trời. Tôi tin rằng chúng ta phải tiến hành từng bước, nếu có thể thì không để khoảng trống nào. Vì thế mới có cách tôi xử lý tuần tự và tăng tiến Bảng Tổng Kết ở TCF 293 (được chuẩn bị kỹ bởi phần thảo luận của Chân sư DK ở TCF 292)

The wheels in order of their importance might be enumerated as follows:

Các bánh xe theo thứ tự quan trọng của chúng có thể được liệt kê như sau:

The wheel of the universe, or the sumtotal of all stars and starry systems.

Bánh xe của vũ trụ, hay tổng thể của mọi ngôi sao và các hệ sao.

94. I call this the ‘Ultimate Universal Wheel. BUT, let us be careful because sometimes the term “universe” or “universal” can apply even to a solar system.

94. Tôi gọi đây là ‘Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu’. NHƯNG, hãy cẩn thận vì đôi khi thuật ngữ “vũ trụ” hay “phổ quát” có thể áp dụng ngay cả cho một hệ mặt trời.

“When our solar universe came into being, we are told in the allegorical language of the ancient scriptures, there "was war in Heaven"; "the sun and his seven brothers" did not function with true unanimity; hence (and herein lies a hint) our Earth is not one of the seven sacred planets. (EP I 394)

“Khi vũ trụ thái dương của chúng ta đi vào hiện hữu, như chúng ta được kể bằng ngôn ngữ ngụ ngôn của các thánh thư cổ xưa, đã có "chiến tranh trên Thiên Đàng"; "mặt trời và bảy huynh đệ của nó" đã không vận hành trong sự nhất trí chân thực; vì thế (và chính trong đây có một gợi ý) Trái Đất của chúng ta không phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng. (EP I 394)

“This "fall of the angels" was a tremendous event in the history of our planet, but was nevertheless only a passing and interesting phenomenon in the history of the solar system, and a trifling incident in the affairs of the seven constellations, of which our solar system is but one. Pause and consider this statement for a moment, and so readjust your sense of values. The standard of happenings varies in importance according to the angle of vision, and what (from the angle of our Earth's unfoldment in consciousness) may be a factor of prime importance and of determining value may (from the angle of the universe) be of trifling moment. (EP I 395)

“Sự "sa ngã của các thiên thần" này là một biến cố to lớn trong lịch sử hành tinh của chúng ta, nhưng tuy vậy chỉ là một hiện tượng thoáng qua và thú vị trong lịch sử của hệ mặt trời, và là một sự cố nhỏ nhặt trong công việc của bảy chòm sao, mà hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một trong số đó. Hãy dừng lại và suy xét phát biểu này trong chốc lát, rồi điều chỉnh lại ý thức về giá trị của bạn. Chuẩn mực của các biến cố thay đổi về tầm quan trọng tùy theo góc độ tầm nhìn, và điều gì (xét từ góc độ sự khai mở tâm thức của Trái Đất chúng ta) có thể là một yếu tố quan trọng hàng đầu và có giá trị quyết định, thì lại có thể (xét từ góc độ của vũ trụ) chỉ là điều nhỏ nhặt. (EP I 395)

95. The mutability of the term “solar system” is evident above. In my view, DK can easily call “solar systems” as “constellations” because a constellation is a system of solar stars, and He can easily call “constellations” “solar systems”, because in a solar system, a number of heavenly bodies are ‘constellated’ together.

95. Tính biến đổi của thuật ngữ “hệ mặt trời” hiển nhiên trong đoạn trên. Theo quan điểm của tôi, Chân sư DK hoàn toàn có thể gọi “các hệ mặt trời” là “các chòm sao” vì một chòm sao là một hệ thống các sao thái dương, và Ngài cũng có thể dễ dàng gọi “các chòm sao” là “các hệ mặt trời”, vì trong một hệ mặt trời, một số thiên thể được ‘kết chòm’ lại với nhau.

96. This means that the term “our solar system” can mean precisely our one-Sun solar system, or it can also mean the ‘system of seven solar systems which together form the constellation of a Cosmic Logos’. I know this is a disputed point, but anyone who thinks that DK is rigid in His terminology has not carefully compared a sufficient number of references using the same or similar terms.

96. Điều này có nghĩa là thuật ngữ “hệ mặt trời của chúng ta” có thể chỉ chính xác hệ mặt trời một Mặt Trời của chúng ta, hoặc cũng có thể chỉ ‘hệ thống gồm bảy hệ mặt trời cùng nhau tạo thành chòm sao của một Đấng Vũ Trụ Thượng đế’. Tôi biết đây là một điểm còn tranh cãi, nhưng bất cứ ai nghĩ rằng Chân sư DK cứng nhắc trong thuật ngữ của Ngài thì chưa đối chiếu cẩn thận đủ số lượng các tham chiếu dùng cùng hay những thuật ngữ tương tự.

97. It behooves us to contemplate the term, the "Wheel of the Universe". It is far more than the wheel of a solar system. In fact, it is the largest of all possible wheels.

97. Chúng ta cần chiêm ngưỡng thuật ngữ “Bánh Xe của Vũ Trụ”. Nó lớn hơn rất nhiều so với bánh xe của một hệ mặt trời. Thật vậy, đó là bánh xe lớn nhất trong mọi bánh xe có thể có.

98. If by the "Wheel of the Universe" means only our ‘Galactic Wheel’, then a very huge occult blind is in effect.

98. Nếu “Bánh Xe của Vũ Trụ” chỉ có nghĩa là ‘Bánh Xe Thiên Hà’ của chúng ta, thì một màn che huyền bí rất lớn đang có hiệu lực.

A cosmic wheel, or a group of seven constellations. These are grouped according to:

Một bánh xe vũ trụ, hay một nhóm bảy chòm sao. Chúng được nhóm lại theo:

99. If we are not to jump from the Ultimate Universal Wheel to a relatively tiny wheel of a "One About Whom Naught May Be Said" in our galaxy (skipping the galactic level altogether), then this “cosmic wheel” is minimally a galactic wheel, and I would not be surprised if it is not a still larger structure, because galaxies, themselves are members of “families” and other still greater groups. The Logoi manifesting through these huge galactic aggregations or ‘constellations’ should not be skipped.

99. Nếu chúng ta không nhảy từ Bánh Xe Vũ Trụ Tối Hậu xuống một bánh xe tương đối nhỏ bé của một “Đấng Bất Khả Tư Nghị” trong thiên hà của chúng ta (bỏ qua hẳn cấp độ thiên hà), thì “bánh xe vũ trụ” này ít nhất là một bánh xe thiên hà, và tôi sẽ không ngạc nhiên nếu nó không phải là một cấu trúc còn lớn hơn nữa, vì bản thân các thiên hà cũng là thành viên của các “gia đình” và những nhóm còn lớn hơn nữa. Các Thượng đế biểu hiện qua những tập hợp thiên hà hay ‘chòm sao’ khổng lồ này không nên bị bỏ qua.

100. So we see the ambiguity of the term “cosmic wheel”. In one respect, and most often, it means the wheel of a Cosmic Logos (a Being with either seven suns as its major chakras, or in some instances, seven seven-sunned constellations as its chakras). BUT, the term “cosmic wheel” can also indicate a far greater structure—even a super-galactic structure.

100. Vì vậy chúng ta thấy tính mơ hồ của thuật ngữ “bánh xe vũ trụ”. Ở một phương diện, và thường là như vậy, nó có nghĩa là bánh xe của một Đấng Vũ Trụ Thượng đế (một Đấng có hoặc bảy mặt trời làm các luân xa chính của mình, hoặc trong một số trường hợp là bảy chòm sao bảy-mặt-trời làm các luân xa). NHƯNG, thuật ngữ “bánh xe vũ trụ” cũng có thể chỉ một cấu trúc lớn hơn rất nhiều—thậm chí là một cấu trúc siêu thiên hà.

101. Usually a “cosmic wheel” (being the vehicle of a Cosmic Logos) is well within a galaxy. I am suggesting, however, that the term “cosmic wheel” could indicate the wheel of a Galactic Logos or the wheel of a Being even greater.

101. Thông thường một “bánh xe vũ trụ” (là vận cụ của một Đấng Vũ Trụ Thượng đế) nằm hoàn toàn trong một thiên hà. Tuy nhiên, tôi đang gợi ý rằng thuật ngữ “bánh xe vũ trụ” có thể chỉ bánh xe của một Thiên Hà Thượng đế hay bánh xe của một Đấng còn lớn hơn nữa.

102. This point of view could, I know, be disputed by some, but I think it is logical in this context.

102. Tôi biết quan điểm này có thể bị một số người tranh luận, nhưng tôi nghĩ nó hợp lý trong ngữ cảnh này.

103. The “constellations” in which a “cosmic wheel” is divided, must be immense structures—whether intra-galactic, galactic or super-galactic (‘level’ of these seven constellations will depend upon our determination of the nature of a “cosmic wheel”).

103. Các “chòm sao” mà một “bánh xe vũ trụ” được phân chia thành phải là những cấu trúc mênh mông—dù là nội thiên hà, thiên hà hay siêu thiên hà (‘cấp độ’ của bảy chòm sao này sẽ tùy thuộc vào việc chúng ta xác định bản chất của một “bánh xe vũ trụ”).

a. Their magnitude,

a. Độ lớn của chúng,

b. Their vibration,

b. Rung động của chúng,

c. Their colour,

c. Màu sắc của chúng,

d. Their influence upon each other.

d. Ảnh hưởng của chúng lên nhau.

104. Minimally DK is, in my view, speaking of the magnitude, vibration, color and mutual influence of the systems of Galactic Logoi—and he could be referencing even greater Logoi and Their super-galactic systems. But we cannot know this.

104. Theo quan điểm của tôi, ít nhất Chân sư DK đang nói về độ lớn, rung động, màu sắc và ảnh hưởng hỗ tương của các hệ thống của các Thiên Hà Thượng đế—và Ngài thậm chí có thể đang ám chỉ những Thượng đế còn lớn hơn nữa cùng các hệ thống siêu thiên hà của Các Ngài. Nhưng chúng ta không thể biết điều này.

105. Let us pause to consider that these stupendous Logoi can be classified by the descriptors above.

105. Hãy dừng lại để suy xét rằng những Thượng đế kỳ vĩ này có thể được phân loại theo các mô tả trên.

106. This means, bring the matter as close to ‘home’ as possible, that the Logos of our Milky Way Galaxy has a certain galactic magnitude, a certain vibration to be compared with the vibrations of other Galactic Logoi, a certain colour and an influence upon other Galactic Logoi just as They influence Him.

106. Điều này có nghĩa là, đưa vấn đề đến gần ‘nhà’ nhất có thể, rằng Thượng đế của Thiên Hà Ngân Hà của chúng ta có một độ lớn thiên hà nhất định, một rung động nhất định để so sánh với các rung động của những Thiên Hà Thượng đế khác, một màu sắc nhất định và một ảnh hưởng lên các Thiên Hà Thượng đế khác cũng như Các Ngài ảnh hưởng lên Ngài.

107. In the case of our Milky Way Galaxy and the galaxy called Andromeda, we know they are rapidly approaching each other and can certainly be considered ‘interactive’ on the galactic level.

107. Trong trường hợp Thiên Hà Ngân Hà của chúng ta và thiên hà được gọi là Andromeda, chúng ta biết rằng chúng đang nhanh chóng tiến lại gần nhau và chắc chắn có thể được xem là ‘tương tác’ ở cấp độ thiên hà.

These cosmic wheels, according to the esoteric books, are divided into forty-nine groups, each comprising millions of septenary constellations.

Những bánh xe vũ trụnày, theo các sách huyền bí, được phân chia thành bốn mươi chín nhóm, mỗi nhóm gồm hàng triệu chòm sao thất phân.

108. “Divided into” can mean the following:

108. “Phân chia thành” có thể có nghĩa như sau:

a. Subdivision: in this case, an original unit is definitely subdivided into lesser units.

a. Phân chia nhỏ: trong trường hợp này, một đơn vị ban đầu rõ ràng được phân chia thành các đơn vị nhỏ hơn.

b. Classification: Because used the plural “cosmic wheels” instead of the singular, “cosmic wheel”, there is a possibility that the term “divided into” means “classified into”. In other words, instead of one cosmic wheel being subdivided into forty-nine lesser groups, cosmic wheels themselves can be classified as of forty-nine types.

b. Phân loại: Vì dùng số nhiều “những bánh xe vũ trụ” thay vì số ít “bánh xe vũ trụ”, nên có khả năng thuật ngữ “phân chia thành” có nghĩa là “được phân loại thành”. Nói cách khác, thay vì một bánh xe vũ trụ được phân chia thành bốn mươi chín nhóm nhỏ hơn, thì chính các bánh xe vũ trụ có thể được phân loại thành bốn mươi chín loại.

c. The ambiguity arising from these two possibilities makes it difficult for us to pin-point the scope and status of a “cosmic wheel”.

c. Sự mơ hồ phát sinh từ hai khả năng này khiến chúng ta khó xác định chính xác phạm vi và địa vị của một “bánh xe vũ trụ”.