← Commentary_S9_1078_1194_song ngữ

S9S9 Part I

Trích nội dung chương

Thứ hai. Một tam giác hệ thống sau cùng sẽ được hình thành, và nó sẽ là một tam giác có mãnh lực tối thượng, 20. Because this triangle is a “systemic triangle” we can see that it must occur within the solar system.


19. The one and the three are everywhere connected.

19. Một và ba ở khắp nơi đều liên kết với nhau.

Second. A final systemic triangle will be formed which will be one of supreme force,

Thứ hai. Một tam giác hệ thống sau cùng sẽ được hình thành, và nó sẽ là một tam giác có mãnh lực tối thượng,

20. Because this triangle is a “systemic triangle” we can see that it must occur within the solar system.

20. Bởi vì tam giác này là một “tam giác hệ thống”, chúng ta có thể thấy rằng nó hẳn phải xuất hiện bên trong hệ mặt trời.

21. This triangle “of supreme force” might well be the triangle of synthesizing planets—Saturn, Neptune and Uranus.

21. Tam giác “có mãnh lực tối thượng” này rất có thể là tam giác của các hành tinh tổng hợp—Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương.

22. The triangle between the Three Persons of the Logoic Trinity could be considered super-systemic. Such a triangle might or might not have planetary expression.

22. Tam giác giữa Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế có thể được xem là siêu-hệ thống. Một tam giác như thế có thể có hoặc không có biểu hiện hành tinh.

for it will be utilised by the abstracted essence and energies of the septenate of schemes

vì nó sẽ được sử dụng bởi tinh túy và các năng lượng đã được trừu xuất của bộ bảy các hệ hành tinh

23. Does Master DK mean the seven schemes appearing in Chart VI, in TCF? Or is does the septenate consist only of the sacred planetary schemes?

23. Phải chăng Chân sư DK muốn nói đến bảy hệ hành tinh xuất hiện trong Biểu đồ VI, trong Luận về Lửa Vũ Trụ? Hay bộ bảy này chỉ gồm các hệ hành tinh thiêng liêng?

as the negative basis for the reception of positive electric energy.

như nền tảng âm để tiếp nhận năng lượng điện dương.

24. This is a deeply occult statement and there is no certainty that we will be able to interpret it accurately.

24. Đây là một phát biểu huyền bí học sâu xa và không có gì chắc chắn rằng chúng ta sẽ có thể diễn giải nó một cách chính xác.

25. We must question whether this triangle will exist between planetary schemes as they exist now (i.e., materially), or between the abstracted essences of planetary schemes.

25. Chúng ta phải đặt câu hỏi liệu tam giác này sẽ tồn tại giữa các hệ hành tinh như chúng hiện đang tồn tại (tức là, về mặt vật chất), hay giữa các tinh túy đã được trừu xuất của các hệ hành tinh.

26. On the other hand, this triangle may not consist of the three synthesizing planets at all, but may be a lower type of triangle which acts as the “negative basis” for higher planetary energies already abstracted which may have merged with the higher two synthesizing schemes.

26. Mặt khác, tam giác này có thể hoàn toàn không gồm ba hành tinh tổng hợp, mà có thể là một loại tam giác thấp hơn, hoạt động như “nền tảng âm” cho các năng lượng hành tinh cao hơn đã được trừu xuất và có thể đã hòa nhập với hai hệ tổng hợp cao hơn.

27. In this case we could have:

27. Trong trường hợp này, chúng ta có thể có:

a. The source of the positive electrical energy—perhaps the energies of Uranus and Neptune

a. Nguồn của năng lượng điện dương—có lẽ là các năng lượng của Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương

b. The abstracted essence of the seven planetary schemes (including Saturn), together acting as intermediaries between positive and negative

b. Tinh túy đã được trừu xuất của bảy hệ hành tinh (bao gồm Sao Thổ), cùng nhau hoạt động như các trung gian giữa dương và âm

c. The triangle in question acting as a negative basis or pole for the positive energies.

c. Tam giác đang được nói đến hoạt động như một nền tảng hay cực âm cho các năng lượng dương.

28. Or, Uranus could be the point of positive electrical energy; Neptune a planet of meditation; and Saturn and six surrounding planets (once in a state of abstracted essence) serving as “the negative basis for the reception of positive electric energy”. All triangles must have three points and so, in this case, an intermediary point would be needed—Neptune perhaps serving as that point.

28. Hoặc, Sao Thiên Vương có thể là điểm của năng lượng điện dương; Sao Hải Vương là một hành tinh của tham thiền; và Sao Thổ cùng sáu hành tinh bao quanh (một khi ở trong trạng thái tinh túy đã được trừu xuất) phục vụ như “nền tảng âm để tiếp nhận năng lượng điện dương”. Mọi tam giác đều phải có ba điểm, và vì vậy, trong trường hợp này sẽ cần một điểm trung gian—có lẽ Sao Hải Vương phục vụ như điểm đó.

29. If the triangle in question is a “negative basis” it is hard to conceive of it as the triangle of the three synthesizing planets.

29. Nếu tam giác đang được nói đến là một “nền tảng âm” thì thật khó hình dung nó là tam giác của ba hành tinh tổng hợp.

30. Of importance to realize is that many events and relations occurring in the later days of our solar system will occur between the abstracted essences and energies of the formerly fully embodied planetary schemes.

30. Điều quan trọng cần chứng nghiệm là nhiều biến cố và mối liên hệ xảy ra trong những ngày sau cùng của hệ mặt trời chúng ta sẽ xảy ra giữa các tinh túy và năng lượng đã được trừu xuất của các hệ hành tinh trước đây từng được nhập thể đầy đủ.

This electric energy is able to circulate through the schemes owing to the bringing about of a cosmic alignment.

Năng lượng điện này có thể lưu chuyển qua các hệ hành tinh nhờ việc tạo ra một sự chỉnh hợp vũ trụ.

31. We need to gather that circulation is always dependent upon the quality of alignment.

31. Chúng ta cần hiểu rằng sự lưu chuyển luôn luôn tùy thuộc vào phẩm tính của sự chỉnh hợp.

32. The source or positive energy of which we are speaking seems to be cosmic in nature rather than systemic.

32. Nguồn hay năng lượng dương mà chúng ta đang nói đến dường như có bản chất vũ trụ hơn là hệ thống.

It is the bringing in of this terrific spiritual force during the final stages of manifestation which results in the blazing forth of the seven suns.23

Chính việc đưa mãnh lực tinh thần khủng khiếp này vào trong các giai đoạn cuối của biểu hiện đã dẫn đến sự bùng cháy rực rỡ của bảy mặt trời.23

33. What analogy can we draw from what we know about the conflagration of the human causal body at the fourth initiation? The "Jewel in the Lotus" is sevenfold and may display as seven jewels in the blazing forth of the causal body.

33. Chúng ta có thể rút ra sự tương đồng nào từ điều mình biết về sự bốc cháy của thể nguyên nhân con người trong lần điểm đạo thứ tư? “Viên Ngọc trong Hoa Sen” là thất phân và có thể biểu lộ như bảy viên ngọc trong sự bùng cháy rực rỡ của thể nguyên nhân.

34. The “seven suns” however, are probably cosmic etheric in nature rather than demonstrations upon the higher levels of the cosmic mental plane where the solar "Jewel in the Lotus" is found.

34. Tuy nhiên, “bảy mặt trời” có lẽ mang bản chất dĩ thái vũ trụ hơn là những biểu hiện trên các cấp cao của cõi trí vũ trụ, nơi “Viên Ngọc trong Hoa Sen” của thái dương được tìm thấy.

35. We must question whether there is an etheric reflection of the causal blazing forth at the time of the fourth initiation.

35. Chúng ta phải đặt câu hỏi liệu có một phản ánh dĩ thái của sự bùng cháy nguyên nhân vào lúc lần điểm đạo thứ tư hay không.

36. The destruction of the logoic causal body will, we suspect, occur towards the end of this present solar system, even though another solar system is to follow, for our Solar Logos is to take His fourth or fifth cosmic initiation in this solar system!

36. Sự hủy diệt thể nguyên nhân của Thượng đế sẽ, theo chúng tôi suy đoán, xảy ra vào gần cuối hệ mặt trời hiện tại này, mặc dù một hệ mặt trời khác sẽ tiếp nối, vì Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm của Ngài trong hệ mặt trời này!

37. This means that our next solar system might be more in the nature of a mayavirupa—a will-created body, just as is the case for the manifesting human being following the fourth initiation.

37. Điều này có nghĩa là hệ mặt trời kế tiếp của chúng ta có thể mang bản chất của một mayavirupa hơn—một thể do ý chí tạo ra, cũng như trường hợp của con người biểu hiện sau lần điểm đạo thứ tư.

38. Will the cosmic source of the energy which will cause the disintegration of the solar system have an analogy to the human Monad, for some of the force which destroys the human causal body is drawn from the human Monad.

38. Liệu nguồn vũ trụ của năng lượng sẽ gây ra sự tan rã của hệ mặt trời có một sự tương đồng với chân thần con người hay không, vì một phần mãnh lực hủy diệt thể nguyên nhân con người được rút ra từ chân thần con người.

39. Some idea of the process may be gathered from the following, though it refers Planetary Logoi rather than to the Solar Logos:

39. Một vài ý niệm về tiến trình có thể được rút ra từ đoạn sau đây, dù nó nói đến các Hành Tinh Thượng Đế hơn là Thái dương Thượng đế:

Again the Kumaras are embodied principles, but in this connection we must remember that this means that the force and energy of one of the principles of the Logos are pouring through Them via that which—to Them—corresponds to the Monad. Through Them, during Their period of incarnation and voluntary sacrifice, the great Prototype of the planetary Logos begins to make His Presence felt, and force from the constellation of the Great Bear faintly vibrates on earth. (TCF 752)

Lại nữa, các Kumara là những nguyên khí nhập thể, nhưng trong mối liên hệ này chúng ta phải nhớ rằng điều này có nghĩa là mãnh lực và năng lượng của một trong các nguyên khí của Thượng đế đang tuôn đổ qua Các Ngài thông qua điều mà—đối với Các Ngài—tương ứng với chân thần. Qua Các Ngài, trong thời kỳ lâm phàm và hi sinh tự nguyện của Các Ngài, Nguyên Mẫu vĩ đại của Hành Tinh Thượng Đế bắt đầu làm cho Sự Hiện Diện của Ngài được cảm nhận, và mãnh lực từ chòm sao Đại Hùng Tinh rung động mờ nhạt trên địa cầu. (TCF 752)

Footnote 23:

Cước chú 23:

The rising and setting of the Sun symbolises manifestation and obscuration.—S. D., II, 72.

Sự mọc và lặn của Mặt Trời tượng trưng cho biểu hiện và sự che khuất.—Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 72.

40. This is one of the great symbols of the universal process.

40. Đây là một trong những biểu tượng lớn của tiến trình vũ trụ.

Pralaya is of different kinds:—

Giai kỳ qui nguyên có nhiều loại khác nhau:—

1. Cosmic pralaya....The obscuration of the three suns, or of three solar systems.

1. Giai kỳ qui nguyên vũ trụ....Sự che khuất của ba mặt trời, hay của ba hệ mặt trời.

41. We assume there is a very lengthy period which occurs after the major three solar systems have run their course.

41. Chúng ta giả định rằng có một thời kỳ rất dài xảy ra sau khi ba hệ mặt trời chính đã hoàn tất tiến trình của chúng.

42. Generally, in the old chronologies, periods of pralaya are equivalent to periods of manifestation. Thus, the pralaya would last as long as the duration of the three solar systems, IF those solar systems are sequential as seems to be the case.

42. Nói chung, trong các niên đại học cổ xưa, các thời kỳ giai kỳ qui nguyên tương đương với các thời kỳ biểu hiện. Vì vậy, giai kỳ qui nguyên sẽ kéo dài bằng thời lượng của ba hệ mặt trời, NẾU các hệ mặt trời ấy tuần tự nối tiếp nhau như dường như là vậy.

43. Additionally, such a Cosmic Pralaya might include a period as long as three solar systems and the pralayas of those solar systems!

43. Ngoài ra, một Giai kỳ qui nguyên Vũ trụ như thế có thể bao gồm một thời kỳ dài bằng ba hệ mặt trời và các giai kỳ qui nguyên của những hệ mặt trời ấy nữa!

2. Solar pralaya....The obscuration of a system at the end of one hundred years of Brahma. Period between solar systems.

2. Giai kỳ qui nguyên thái dương....Sự che khuất của một hệ thống vào cuối một trăm năm Brahma. Thời kỳ giữa các hệ mặt trời.

44. This, of course, is a period of immense duration. We can read the numbers but they cannot mean much to us because (if the Hindu Chronology is correct) we are speaking of trillions of Earth-years.

44. Dĩ nhiên, đây là một thời kỳ có độ dài vô cùng to lớn. Chúng ta có thể đọc các con số nhưng chúng không thể có nhiều ý nghĩa đối với chúng ta vì (nếu niên đại học Ấn Độ giáo là đúng) chúng ta đang nói đến hàng ngàn tỉ năm Trái Đất.

45. We should bear in mind that pralayas of far greater duration than the ones here listed are also part of the entirety of the Great Cosmos, the Universe in its totality. Pondering on these durations should put our little incarnations into perspective.

45. Chúng ta nên ghi nhớ rằng những giai kỳ qui nguyên có thời lượng lớn hơn rất nhiều so với những loại được liệt kê ở đây cũng là một phần của toàn thể Đại Vũ Trụ, tức Vũ Trụ trong tính toàn vẹn của nó. Việc suy ngẫm về những thời lượng này sẽ đặt các lần lâm phàm nhỏ bé của chúng ta vào đúng tỉ lệ.

3. Incidental pralaya....The obscuration of a scheme. Period between manvantaras.

3. Giai kỳ qui nguyên ngẫu phát....Sự che khuất của một hệ hành tinh. Thời kỳ giữa các giai kỳ sinh hóa.

46. The term “manvantara” is deeply blinded. We do not know whether we are speaking of the duration of a planetary scheme, a planetary chain or the duration of planetary globes. The term “manvantaras” can also indicate a chain round.

46. Thuật ngữ “giai kỳ sinh hóa” bị che giấu rất sâu. Chúng ta không biết liệu mình đang nói đến thời lượng của một hệ hành tinh, một dãy hành tinh hay thời lượng của các bầu hành tinh. Thuật ngữ “các giai kỳ sinh hóa” cũng có thể chỉ một cuộc tuần hoàn của dãy.

47. There are also what we might call ‘systemic rounds’ during which the solar life-impulse moves from planetary scheme to planetary scheme. Such great rounds would account for periods of planetary activity and relative latency.

47. Cũng có những gì mà chúng ta có thể gọi là các “cuộc tuần hoàn hệ thống”, trong đó xung lực sự sống thái dương di chuyển từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác. Những cuộc tuần hoàn lớn lao như thế sẽ giải thích các thời kỳ hoạt động hành tinh và tiềm ẩn tương đối.

48. We can judge that there are many kinds of manvantaras.

48. Chúng ta có thể phán đoán rằng có nhiều loại giai kỳ sinh hóa.

49. How many incarnations does a Planetary Logos undergo in a single solar system. There is sound reason to think—only one, for the Planetary Logoi are as chakras to the Solar Logos Who has but one incarnation, and chakras cannot ‘come and go’ in any coherent energy system though they can go through periods of activity and latency.

49. Một Hành Tinh Thượng Đế trải qua bao nhiêu lần lâm phàm trong một hệ mặt trời duy nhất? Có lý do vững chắc để nghĩ rằng—chỉ một, vì các Hành Tinh Thượng Đế là như các luân xa đối với Thái dương Thượng đế, Đấng chỉ có một lần lâm phàm, và các luân xa không thể “đến rồi đi” trong bất kỳ hệ thống năng lượng mạch lạc nào, dù chúng có thể trải qua những thời kỳ hoạt động và tiềm ẩn.

50. But the different parts of a planetary scheme may undergo obscurations and pralayas. Still there will be laws to be followed for they, too, are chakras and a certain number of chakras are necessary if the life of any system is to be sustained.

50. Nhưng các phần khác nhau của một hệ hành tinh có thể trải qua các sự che khuất và các giai kỳ qui nguyên. Tuy nhiên, vẫn sẽ có những định luật phải được tuân theo vì chúng cũng là các luân xa, và một số lượng luân xa nhất định là cần thiết nếu sự sống của bất kỳ hệ thống nào muốn được duy trì.

51. If “manvantaras” mean “rounds” then we are taking about periods of activation within a planetary scheme and periods of quiescence or pralaya. This is understandable.

51. Nếu “các giai kỳ sinh hóa” có nghĩa là “các cuộc tuần hoàn” thì chúng ta đang nói đến những thời kỳ hoạt hóa bên trong một hệ hành tinh và những thời kỳ tĩnh lặng hay giai kỳ qui nguyên. Điều này có thể hiểu được.

Man repeats this at seventh, fifth initiations and at each rebirth in three worlds.

Con người lặp lại điều này ở lần điểm đạo thứ bảy, thứ năm và ở mỗi lần tái sinh trong ba cõi giới.

52. This is a fascinating piece of occult information. We are told of a long interval (a kind of pralaya) which may follow the fifth initiation. Of course we may wonder whether the changes which have occurred in hierarchical procedure have not affected this process. Much that was once undertaken at the fifth initiation has been deferred until the sixth initiation. Choosing one of the Seven Paths used to occur after the fifth initiation; now it occurs at the sixth.

52. Đây là một mẩu thông tin huyền bí học hấp dẫn. Chúng ta được cho biết về một khoảng thời gian dài (một loại giai kỳ qui nguyên) có thể tiếp theo sau lần điểm đạo thứ năm. Dĩ nhiên chúng ta có thể tự hỏi liệu những thay đổi đã xảy ra trong thủ tục của Thánh Đoàn có ảnh hưởng đến tiến trình này hay không. Nhiều điều trước kia từng được thực hiện ở lần điểm đạo thứ năm nay đã được dời sang lần điểm đạo thứ sáu. Việc chọn một trong Bảy Con Đường trước đây diễn ra sau lần điểm đạo thứ năm; nay nó diễn ra ở lần điểm đạo thứ sáu.

53. We are to expect, probably, an even longer pralaya after the seventh initiation. What could be the duration of such a pralaya? Would it last as long as the time taken to reach the seventh initiation from the time a human being passed through individualization? Are the Buddha and the Christ (now in process of completing the seventh initiation) due to experience such a pralaya?

53. Có lẽ chúng ta phải chờ đợi một giai kỳ qui nguyên còn dài hơn nữa sau lần điểm đạo thứ bảy. Thời lượng của một giai kỳ qui nguyên như thế có thể là bao lâu? Liệu nó có kéo dài bằng thời gian cần để đạt đến lần điểm đạo thứ bảy kể từ lúc một con người đi qua biệt ngã hóa không? Đức Phật và Đức Christ (nay đang trong tiến trình hoàn tất lần điểm đạo thứ bảy) có phải sẽ trải qua một giai kỳ qui nguyên như thế không?

54. We know, on a smaller scale, that each human incarnation is followed by a kind of pralaya on the subtle planes and later within the causal body before renewing approach to incarnation.

54. Ở một quy mô nhỏ hơn, chúng ta biết rằng mỗi lần lâm phàm của con người đều được tiếp theo bởi một loại giai kỳ qui nguyên trên các cõi vi tế và về sau bên trong thể nguyên nhân trước khi lại tiến gần đến sự lâm phàm.

55. Clearly, there is so much about the Science of Cycles which is unknown to us and without which no true interpretation of the timing in the development of man can be determined. The Masters know the “times and seasons” and thus their judgment of time is far wiser than ours. They know the periods in which tasks must be completed. Additional opportunities to complete may be a long time in coming.

55. Rõ ràng, có quá nhiều điều về Khoa Học Chu Kỳ mà chúng ta chưa biết, và nếu thiếu chúng thì không thể xác định được bất kỳ sự diễn giải chân chính nào về thời điểm trong sự phát triển của con người. Các Chân sư biết “thời và kỳ”, và vì vậy sự phán đoán của Các Ngài về thời gian minh triết hơn chúng ta rất nhiều. Các Ngài biết những thời kỳ trong đó các nhiệm vụ phải được hoàn tất. Những cơ hội bổ sung để hoàn tất có thể rất lâu mới đến.

The Pleiades are the centre around which our solar system revolves.—S. D., II, 251, 581, 582.

Thất Nữ Tinh Đoàn là trung tâm mà quanh đó hệ mặt trời của chúng ta xoay chuyển.—Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 251, 581, 582.

56. This is one of those amazing statement with which present day astronomers will take great exception. They do not think it is possible, based upon the laws of physics as presently understood.

56. Đây là một trong những phát biểu đáng kinh ngạc mà các nhà thiên văn học ngày nay sẽ cực lực phản đối. Họ không nghĩ điều đó là có thể, dựa trên các định luật vật lý như hiện nay được hiểu.

57. Yet, this assertion is frequently repeated in our literature and, if true, represents a stupendous statement. Of course it is true— but there still remain important questions about whether the statement is to be interpreted literally on the dense physical plane, or whether it represents a deeper, inner truth—or whether both are true.

57. Tuy vậy, khẳng định này thường xuyên được lặp lại trong văn liệu của chúng ta và, nếu đúng, thì là một phát biểu vô cùng trọng đại. Dĩ nhiên nó là đúng— nhưng vẫn còn những câu hỏi quan trọng về việc liệu phát biểu này phải được diễn giải theo nghĩa đen trên cõi hồng trần đậm đặc, hay liệu nó tượng trưng cho một chân lý sâu xa, bên trong hơn—hay cả hai đều đúng.

58. We do know that the Pleiades are hugely important to our solar system, our zodiacal constellations and to the various constellations in our local cosmosystem. In fact, the Pleiades may be the “Hub of the Wheel” as far as that cosmic system is concerned.

58. Chúng ta quả thật biết rằng Thất Nữ Tinh Đoàn có tầm quan trọng vô cùng lớn đối với hệ mặt trời của chúng ta, các chòm sao hoàng đạo của chúng ta và các chòm sao khác nhau trong hệ vũ trụ địa phương của chúng ta. Thật vậy, Thất Nữ Tinh Đoàn có thể là “Trục của Bánh Xe” xét theo hệ vũ trụ ấy.

The Sun is the kernel and matrix of all in the solar system.—S. D., I, 309, 310, 590, 591.

Mặt Trời là hạt nhân và khuôn mẫu của mọi sự trong hệ mặt trời.—Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 309, 310, 590, 591.

59. These words are not used arbitrarily. We are speaking of centrality and etheric extension. The solar system is underlay by the etheric body of the Solar Logos.

59. Những từ này không được dùng một cách tùy tiện. Chúng ta đang nói về tính trung tâm và sự mở rộng dĩ thái. Hệ mặt trời được nâng đỡ bên dưới bởi thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế.

Kernel comes from the same word as corn.

Kernel bắt nguồn từ cùng một từ như corn.

Compare the words in Bible:—

So sánh những lời trong Kinh Thánh:—

"Except a corn of wheat fall into the ground and die it abideth alone, but if it die it bringeth forth much fruit."

"Nếu hạt lúa mì không rơi xuống đất và chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chết đi, nó sinh ra nhiều hoa trái."

60. Through this Biblical saying, we are being taught something about the Solar Logos’ relation to sacrifice. The will of the Solar Logos is to sacrifice for all B/beings contained within His ring-pass-not.

60. Qua lời dạy trong Kinh Thánh này, chúng ta được dạy điều gì đó về mối liên hệ của Thái dương Thượng đế với sự hi sinh. Ý chí của Thái dương Thượng đế là hi sinh cho mọi hữu thể được chứa trong vòng-giới-hạn của Ngài.

61. We have a similar though far lesser destiny which we will discover when we identify with the nature of solar energies within our energy system.

61. Chúng ta cũng có một định mệnh tương tự, dù nhỏ bé hơn rất nhiều, mà chúng ta sẽ khám phá khi đồng hoá với bản chất của các năng lượng thái dương bên trong hệ thống năng lượng của mình.

The Sun is governed by the same laws as all other atoms.—S. D., I, 168, 667.

Mặt Trời được cai quản bởi cùng những định luật như mọi nguyên tử khác.—Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 168, 667.

62. The Sun is an atom. Through the Law of Analogy, if we know the laws according to which the Sun expresses its nature, we will know the same for the tiny atom of substance. Likewise, knowledge of the nature of the atom of substance will throw light upon the nature of the Sun.

62. Mặt Trời là một nguyên tử. Qua định luật tương đồng, nếu chúng ta biết các định luật theo đó Mặt Trời biểu lộ bản chất của nó, chúng ta sẽ biết điều tương tự đối với nguyên tử nhỏ bé của chất liệu. Tương tự như vậy, tri thức về bản chất của nguyên tử chất liệu sẽ soi sáng bản chất của Mặt Trời.

Though the seven have become the three, this is only in [Page 1154]connection with the dense physical planets.

Dù bảy đã trở thành ba, điều này chỉ là liên quan đến [Page 1154]các hành tinh hồng trần đậm đặc.

63. We have much to learn about the nature of synthesis, obscuration, absorption and pralaya at the end of a solar system. The processes described such as the blazing forth of the “Seven Suns” are etheric in nature.

63. Chúng ta còn nhiều điều phải học về bản chất của sự tổng hợp, sự che khuất, sự hấp thụ và giai kỳ qui nguyên vào cuối một hệ mặt trời. Những tiến trình được mô tả, chẳng hạn như sự bùng cháy rực rỡ của “Bảy Mặt Trời”, mang bản chất dĩ thái.

64. It can be expected that as the solar system moves towards its pralaya, fewer and fewer dense physical planets will exist, but what of the planets which have dropped their dense physical shell? They may exist in their etheric bodies. Later those etheric bodies may be absorbed into the etheric bodies of greater planets.

64. Có thể chờ đợi rằng khi hệ mặt trời tiến về giai kỳ qui nguyên của nó, sẽ có ngày càng ít hành tinh hồng trần đậm đặc tồn tại; nhưng còn những hành tinh đã từ bỏ lớp vỏ hồng trần đậm đặc của chúng thì sao? Chúng có thể tồn tại trong các thể dĩ thái của mình. Về sau, những thể dĩ thái ấy có thể được hấp thụ vào các thể dĩ thái của những hành tinh lớn hơn.

The blazing forth spoken of in the occult books and in the Secret Doctrine is in etheric matter;

Sự bùng cháy rực rỡ được nói đến trong các sách huyền bí học và trong Giáo Lý Bí Nhiệm là trong vật chất dĩ thái;

65. This is the statement on which to focus. We are not speaking of a final dense physical conflagration.

65. Đây là phát biểu cần được tập trung vào. Chúng ta không nói về một cuộc đại hỏa hoạn hồng trần đậm đặc sau cùng.

it is this etheric fiery energy which brings to a consummation (and so destroys) the remaining three major schemes.

chính năng lượng lửa dĩ thái này đưa ba hệ hành tinh chính còn lại đến chỗ hoàn tất (và do đó hủy diệt chúng).

66. This destruction, we may suspect, is not simultaneous but sequential.

66. Sự hủy diệt này, như chúng ta có thể suy đoán, không phải là đồng thời mà là tuần tự.

67. Is DK telling us that the blazing forth of the “Seven Suns” is instrumental in destroying the remaining planetary schemes

67. Phải chăng DK đang cho chúng ta biết rằng sự bùng cháy rực rỡ của “Bảy Mặt Trời” là công cụ trong việc hủy diệt các hệ hành tinh còn lại

68. As is said in Esoteric Healing when describing the processes of the fourth initiation, “the form then severs the connection”

68. Như đã nói trong Trị Liệu Huyền Môn khi mô tả các tiến trình của lần điểm đạo thứ tư, “khi ấy hình tướng cắt đứt mối liên kết”

69. DK’s statement above leads us to wonder how the earlier schemes (no longer existent physically) were destroyed. Is the destruction of the final three a special type of destruction compared to the destruction of the other planetary schemes?

69. Phát biểu trên của DK khiến chúng ta tự hỏi các hệ hành tinh trước đó (không còn tồn tại về mặt hồng trần) đã bị hủy diệt như thế nào. Phải chăng sự hủy diệt của ba hệ cuối cùng là một loại hủy diệt đặc biệt so với sự hủy diệt của các hệ hành tinh khác?

70. We note the phrase “the remaining three major schemes”. Could there also be minor schemes remaining (three perhaps) providing the negative basis for positive electrical energy as discussed above?

70. Chúng ta lưu ý cụm từ “ba hệ hành tinh chính còn lại”. Liệu cũng có thể có những hệ hành tinh phụ còn lại (có lẽ là ba) cung cấp nền tảng âm cho năng lượng điện dương như đã bàn ở trên chăng?

71. To know these things is not of immediate practical value except to suggest the beauty of the Divine Plan. We also must learn something of value concerning our own chakra system during the final days of necessary expression through the human kingdom.

71. Biết những điều này không có giá trị thực tiễn tức thời, ngoại trừ ở chỗ gợi ra vẻ đẹp của Thiên Cơ. Chúng ta cũng phải học điều gì đó có giá trị liên quan đến hệ thống luân xa của chính mình trong những ngày cuối cùng của sự biểu lộ cần thiết qua giới nhân loại.

In this we have a correspondence to the burning of the causal body at the fourth Initiation through the merging of the three fires. It is only a correspondence, and the details must not be pushed too far.

Trong điều này chúng ta có một sự tương ứng với sự thiêu hủy thể nguyên nhân ở lần điểm đạo thứ tư qua sự hợp nhất của ba ngọn lửa. Đây chỉ là một sự tương ứng, và các chi tiết không được đẩy đi quá xa.

72. We can see that Master DK is sounding a cautionary note.

72. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK đang cất lên một lời cảnh báo.

73. The analogy to the three major schemes (as found in humanity) can be understood in various ways. Perhaps this is one way: Saturn represents the three atomic units in the atomic triangle; Neptune represents the nine petals in the egoic lotus or perhaps even twelve petals; Uranus could represent the "Jewel in the Lotus" or the "Jewel in the Lotus" and the synthesis petals.

73. Sự tương đồng với ba hệ hành tinh chính (như được tìm thấy trong nhân loại) có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Có lẽ đây là một cách: Sao Thổ tượng trưng cho ba đơn vị nguyên tử trong tam giác nguyên tử; Sao Hải Vương tượng trưng cho chín cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã hay có lẽ thậm chí mười hai cánh hoa; Sao Thiên Vương có thể tượng trưng cho “Viên Ngọc trong Hoa Sen” hay “Viên Ngọc trong Hoa Sen” và các cánh hoa tổng hợp.

74. There are many possible correspondences. For man at the fourth initiation, we can also expect an etheric “blazing forth”. Additionally, for man, we find a blazing forth upon the plane of higher mind whereon the causal body is focused.

74. Có nhiều sự tương ứng khả hữu. Đối với con người ở lần điểm đạo thứ tư, chúng ta cũng có thể chờ đợi một sự “bùng cháy rực rỡ” dĩ thái. Ngoài ra, đối với con người, chúng ta thấy một sự bùng cháy rực rỡ trên cõi thượng trí, nơi thể nguyên nhân được tập trung.

The Saturn scheme is esoterically regarded as having absorbed the "frictional fires of systemic space"; Neptune is looked upon as the repository of the "solar flames," and Uranus as the home of "fire electric."

Hệ Sao Thổ được xem một cách huyền bí là đã hấp thụ “các lửa ma sát của không gian hệ thống”; Sao Hải Vương được nhìn nhận như nơi chứa đựng “các ngọn lửa thái dương”, và Sao Thiên Vương như nơi cư ngụ của “lửa điện”.

75. Here we have another occult statement of profound value. The “frictional fires of systemic space” concern the personality natures of perhaps all planets, but certainly the non-sacred planets and lesser sacred planets.

75. Ở đây chúng ta có một phát biểu huyền bí học khác có giá trị sâu sắc. “Các lửa ma sát của không gian hệ thống” liên quan đến các bản chất phàm ngã của có lẽ mọi hành tinh, nhưng chắc chắn là các hành tinh không thiêng liêng và các hành tinh thiêng liêng thấp hơn.

76. Neptune has a correlation with the Heart of the Sun and no doubt expresses the energy of that “Heart” within the solar system. It is in the Heart of the Sun (upon the higher cosmic mental plane) that the “solar flames” reside.

76. Sao Hải Vương có một tương quan với Trái Tim của Mặt Trời và hẳn nhiên biểu lộ năng lượng của “Trái Tim” ấy trong hệ mặt trời. Chính trong Trái Tim của Mặt Trời (trên cõi trí vũ trụ cao hơn) mà “các ngọn lửa thái dương” cư ngụ.

77. A connection of Neptune with the petals of the solar Egoic Lotus can certainly be reasoned, for Neptune is ultimately the planet of love and the petals of any type of egoic lotus express love.

77. Một mối liên hệ của Sao Hải Vương với các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã thái dương chắc chắn có thể được suy luận, vì Sao Hải Vương rốt cuộc là hành tinh của tình thương và các cánh hoa của bất kỳ loại hoa sen chân ngã nào cũng biểu lộ tình thương.

78. The Monad of Uranus is on the first ray (EP I 420) and so its association with the electric fire of the "Jewel in the Lotus" is not farfetched.

78. Chân thần của Sao Thiên Vương thuộc cung một (EP I 420), và vì vậy sự liên kết của nó với lửa điện của “Viên Ngọc trong Hoa Sen” không phải là điều gượng ép.

79. We can be quite sure that Saturn, Neptune and Uranus are the last three dense physical planets to remain in our solar system. By that time all the other planets will have lost their dense physical bodies and will be in an etheric state—a state perhaps initially independent of the synthesizing planets or later absorbed into the etheric nature of those synthesizing planets.

79. Chúng ta có thể hoàn toàn chắc chắn rằng Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương là ba hành tinh hồng trần đậm đặc cuối cùng còn lại trong hệ mặt trời của chúng ta. Vào lúc đó, mọi hành tinh khác sẽ đã mất các thể hồng trần đậm đặc của chúng và sẽ ở trong trạng thái dĩ thái—một trạng thái có lẽ ban đầu độc lập với các hành tinh tổng hợp hoặc về sau được hấp thụ vào bản chất dĩ thái của các hành tinh tổng hợp ấy.

When, through extra-systemic activity based upon three causes:

Khi, qua hoạt động ngoài-hệ thống dựa trên ba nguyên nhân:

1. Logoic alignment,

1. Sự chỉnh hợp của Thượng đế,

80. Presumably between the systemic body and the causal body of the Solar Logos.

80. Có lẽ là giữa thể hệ thống và thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế.

2. The taking of a logoic Initiation,

2. Việc nhận một lần Điểm đạo của Thượng đế,

81. Presumably the fourth initiation of the Solar Logos.

81. Có lẽ là lần điểm đạo thứ tư của Thái dương Thượng đế.

3. The action of the "ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID,"

3. Tác động của “ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ”,

82. This is cosmic stimulation and is analogous to the manner in which the human Monad participates in the destruction of the human causal body and dense physical body (and personality) at the time of the fourth initiation.

82. Đây là sự kích thích vũ trụ và tương tự với cách mà chân thần con người tham gia vào sự hủy diệt thể nguyên nhân con người và thể hồng trần đậm đặc (và phàm ngã) vào lúc lần điểm đạo thứ tư.

these three schemes are simultaneously stimulated and the fires pass from one to another in a triangular manner, they then too pass into obscuration.

ba hệ hành tinh này được kích thích đồng thời và các ngọn lửa truyền từ hệ này sang hệ khác theo cách tam giác, khi ấy chúng cũng đi vào sự che khuất.

83. The obscuration of the dense physical planets is, we see, based upon three grand requirements: alignment, initiation and superior, extraneous action.

83. Như chúng ta thấy, sự che khuất của các hành tinh hồng trần đậm đặc dựa trên ba đòi hỏi lớn lao: chỉnh hợp, điểm đạo và tác động cao hơn từ bên ngoài.

84. Might we not say that the activation of the various triangles within our own energy system would be based upon the same three factors? We align; we take initiation; the Solar Angel or our Monad takes action.

84. Chẳng phải chúng ta có thể nói rằng sự hoạt hóa các tam giác khác nhau trong hệ thống năng lượng của chính mình cũng sẽ dựa trên cùng ba yếu tố ấy sao? Chúng ta chỉnh hợp; chúng ta nhận điểm đạo; Thái dương Thiên Thần hay chân thần của chúng ta hành động.

Naught is left save the blazing etheric suns and these—through very intensity of burning—dissipate with great rapidity. [Page 1155]

Không còn gì sót lại ngoài những mặt trời dĩ thái rực cháy và những mặt trời này—do cường độ cháy quá mãnh liệt—tan biến với tốc độ rất nhanh. [Page 1155]

85. DK presents a vision of fiery consummation—etheric consummation. The destiny of incarnational life (whether human, planetary, systemic or cosmic) is cessation through fire.

85. DK trình bày một linh ảnh về sự hoàn tất bằng lửa—sự hoàn tất dĩ thái. Định mệnh của sự sống lâm phàm (dù là con người, hành tinh, hệ thống hay vũ trụ) là sự chấm dứt qua lửa.

86. We are on our way to this fiery consummation, and once it is completed, countless such consummations lie before us.

86. Chúng ta đang trên đường đi đến sự hoàn tất bằng lửa này, và một khi nó hoàn tất, vô số những sự hoàn tất như thế còn ở phía trước chúng ta.

87. The following from A Treatise on Cosmic Fire may shed light upon the process from the microcosmic angle:

87. Đoạn sau đây từ Luận về Lửa Vũ Trụ có thể soi sáng tiến trình này từ góc độ tiểu thiên địa:

“The centres, therefore, when functioning properly, form the "body of fire" which eventually is all that is left, first to man in the three worlds, and later to the Monad. This body of fire is "the body incorruptible"72 or indestructible, spoken of by St. Paul, and is the product of evolution, of the perfect blending of the three fires, which ultimately destroy the form. When the form is destroyed there is left this intangible spiritual body of fire, one pure flame, distinguished by seven brilliant centres of intenser burning. This electric fire is the result of the bringing together of the two poles and demonstrates at the moment of complete at-one-ment, the occult truth of the words "Our God is a consuming Fire."73 (TCF 166-167)

Vì vậy, các trung tâm, khi hoạt động đúng đắn, tạo thành “thể lửa”, là điều rốt cuộc còn lại duy nhất, trước hết đối với con người trong ba cõi giới, và về sau đối với chân thần. Thể lửa này là “thể bất hoại”72 hay bất khả hủy diệt, được Thánh Paul nói đến, và là sản phẩm của tiến hoá, của sự hòa trộn hoàn hảo của ba ngọn lửa, vốn rốt cuộc hủy diệt hình tướng. Khi hình tướng bị hủy diệt, còn lại thể lửa tinh thần vô hình này, một ngọn lửa thuần nhất, được phân biệt bởi bảy trung tâm rực sáng với cường độ cháy mãnh liệt hơn. Lửa điện này là kết quả của việc đưa hai cực lại với nhau và chứng minh, vào lúc hợp nhất hoàn toàn, chân lý huyền bí của lời nói: “Thượng đế của chúng ta là một Ngọn Lửa thiêu đốt.”73 (TCF 166-167)

S9S9 Part I

TCF 1156-1160

TCF 1155-1160

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớnvăn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCFđược đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì lợi ích của tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

4. Relation between the Throat, Alta Major and Mental Centres.

4. Mối liên hệ giữa các trung tâm cổ họng, alta major và trí tuệ.

1. DK now takes up a subject of great practical interest.

1. Giờ đây Chân sư DK đề cập đến một chủ đề có mối quan tâm thực tiễn lớn.

2. We note that he will be speaking of the “mental centers” about which practically nothing is said in His voluminous Teaching. They are, however, illustrated in TCF, Chart VIII, p. 817.

2. Chúng ta lưu ý rằng Ngài sẽ nói về các “trung tâm trí tuệ”, về chúng hầu như không có gì được nói đến trong Giáo Huấn đồ sộ của Ngài. Tuy nhiên, chúng được minh họa trong TCF, Biểu đồ VIII, tr. 817.

3. We can judge by their association that the alta major center is related to the mental centers. There are four mental centers (on the lower mental plane) and the alta major center is the synthesizers of four head centers.

3. Chúng ta có thể phán đoán qua sự liên kết của chúng rằng trung tâm alta major có liên hệ với các trung tâm trí tuệ. Có bốn trung tâm trí tuệ (trên cõi hạ trí) và trung tâm alta major là trung tâm tổng hợp của bốn trung tâm đầu.

4. We already know that the throat center is related to the mental body and to mentality in general, and, thus, it would be related to the mental centers.

4. Chúng ta đã biết rằng trung tâm cổ họng có liên hệ với thể trí và với trí tuệ nói chung, và do đó, nó sẽ có liên hệ với các trung tâm trí tuệ.

The question of the centres has always had a great deal of interest for men, and much harm has been done through the directing of attention upon the physical centres.

Vấn đề các trung tâm luôn luôn có rất nhiều sức hấp dẫn đối với những người nam và nữ, và nhiều tổn hại đã được gây ra do việc hướng sự chú ý vào các trung tâm hồng trần.

5. Human beings are still very concrete in their thinking and can relate to concretions (such as the centers, especially the physical centers) much more easily.

5. Con người vẫn còn rất cụ thể trong tư duy của mình và có thể liên hệ với những sự vật cụ thể hóa (như các trung tâm, đặc biệt là các trung tâm hồng trần) dễ dàng hơn nhiều.

6. By “physical centers” DK could mean one of two things: either the precipitations of the etheric centers, i.e., the glands; or the etheric centers, themselves, since that which is etheric is really physical.

6. Bởi “các trung tâm hồng trần”, Chân sư DK có thể muốn nói một trong hai điều: hoặc là các sự ngưng tụ của các trung tâm dĩ thái, tức là các tuyến; hoặc chính các trung tâm dĩ thái, bởi vì điều gì là dĩ thái thì thực sự là hồng trần.

Unfortunately, names have been given to the centres which have their counterparts in the physical form, and with the usual aptitude of man to identify himself with that which is tangible and physical,

Đáng tiếc thay, các tên gọi đã được đặt cho các trung tâm vốn có các đối phần của chúng trong hình thể hồng trần, và với khuynh hướng thường thấy của con người là đồng hoá mình với điều gì hữu hình và hồng trần,

7. Here, DK names the problem exactly. He seems to refer to centers (glands) in dense physical matter. Later, His use of the term “physical” is related to the etheric body.

7. Ở đây, Chân sư DK nêu đích xác vấn đề. Dường như Ngài đang nói đến các trung tâm (các tuyến) trong vật chất hồng trần đậm đặc. Về sau, cách Ngài dùng thuật ngữ “hồng trần” lại có liên hệ với thể dĩ thái.

a mass of data has accumulated which is based (not on spiritual knowledge) but on a study of the effects produced through meditation on the physical centres.

một khối lượng dữ kiện đã tích lũy, dựa không phải trên tri thức tinh thần mà trên sự nghiên cứu những hiệu quả được tạo ra qua việc tham thiền trên các trung tâm hồng trần.

8. DK is attempting to help man remove his attention from the dense and physical, i.e., from a materialistic consciousness.

8. Chân sư DK đang cố giúp con người rút sự chú ý của mình khỏi cái đậm đặc và hồng trần, tức là khỏi một tâm thức duy vật.

9. We are attempting to learn to live in the world of causes and not the world of effects. The dense physical plane is strictly a world of effects.

9. Chúng ta đang cố học cách sống trong thế giới của các nguyên nhân chứ không phải thế giới của các hiệu quả. Cõi hồng trần đậm đặc hoàn toàn là một thế giới của các hiệu quả.

Such meditation is only safely undertaken when a man is no longer polarised in the lower personal self but views all things from the standpoint of the Ego with whom he is completely identified.

Việc tham thiền như thế chỉ có thể được thực hiện một cách an toàn khi con người không còn phân cực trong phàm ngã thấp nữa mà nhìn mọi sự từ quan điểm của chân ngã mà y đã hoàn toàn đồng hoá với.

10. We see our objective and the attainments which are necessary if we are to safely work with the centers.

10. Chúng ta thấy mục tiêu của mình và những thành tựu cần thiết nếu chúng ta muốn làm việc với các trung tâm một cách an toàn.

11. This type of identification is much discussed but rarely achieved among the ranks of the disciples.

11. Kiểu đồng hoá này được bàn đến rất nhiều nhưng hiếm khi đạt được trong hàng ngũ các đệ tử.

12. Imagine— complete identification with the Ego!

12. Hãy hình dung— sự đồng hoá hoàn toàn với chân ngã!

When this is the case, the centres in physical matter are recognised as being simply focal points of energy located in the etheric body, and having a definite use.

Khi điều này xảy ra, các trung tâm trong vật chất hồng trần được nhận biết là chỉ đơn giản là những điểm hội tụ của năng lượng nằm trong thể dĩ thái, và có một công dụng xác định.

13. Here DK specifies that by “physical centres” He does mean etheric centers. As we have studied the last few sections of text, we have found two indications: one in which the centers are considered to be densely physical; the other in which the centers have been considered as etheric focal points.

13. Ở đây Chân sư DK xác định rằng bởi “các trung tâm hồng trần” Ngài thực sự muốn nói đến các trung tâm dĩ thái. Khi chúng ta nghiên cứu vài phần văn bản cuối cùng, chúng ta đã thấy hai dấu hiệu: một dấu hiệu trong đó các trung tâm được xem là hồng trần đậm đặc; dấu hiệu kia trong đó các trung tâm được xem là các điểm hội tụ dĩ thái.

14. Attention will be given to the etheric body during the New Age and it will be considered the true physical body. Yet, overall, the Lemurians focused their consciousnesses on the etheric-physical plane and the type of yoga they were taught focused on the uniting of these two aspects (dense and etheric) of their physical nature. Our consciousness is to be focussed much higher—preferably, before long, on the higher mental plane, and the centers in the etheric body are meant to become merely distributors of the higher energies. Our consciousness is not meant to be fixated on the physical plane—whether dense physical or etheric though there will soon arise far greater awareness of the etheric plane and its centers.

14. Trong Kỷ Nguyên Mới, sự chú ý sẽ được dành cho thể dĩ thái và nó sẽ được xem là thể hồng trần đích thực. Tuy nhiên, xét tổng quát, người Lemuria đã tập trung tâm thức của họ trên cõi dĩ thái-hồng trần và loại yoga được dạy cho họ tập trung vào việc hợp nhất hai phương diện này (đậm đặc và dĩ thái) của bản chất hồng trần của họ. Tâm thức của chúng ta phải được tập trung cao hơn nhiều—tốt nhất là chẳng bao lâu nữa, trên Cõi thượng trí, và các trung tâm trong thể dĩ thái chỉ nhằm trở thành những bộ phân phối các năng lượng cao hơn. Tâm thức của chúng ta không nhằm bị cố định trên cõi hồng trần—dù là hồng trần đậm đặc hay dĩ thái—mặc dù chẳng bao lâu nữa sẽ xuất hiện sự nhận biết lớn hơn nhiều về cõi dĩ thái và các trung tâm của nó.

This use is to act as transmitters of certain forms of energy consciously directed by the Ego or Self, with the intent of driving the physical body (which is not a principle) to fulfil egoic purpose.

Công dụng này là hoạt động như những bộ truyền dẫn của một số dạng năng lượng nhất định được chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu điều khiển một cách hữu thức, với ý định thúc đẩy thể xác (vốn không phải là một nguyên khí) hoàn thành mục đích chân ngã.

15. Here the intended process is clearly described. We are to regard the centers in the etheric body merely as transmitters of higher energies. Our consciousness, as souls in incarnation, is to be with the energies transmitted and with the source of those energies and not with the vehicle of transmission.

15. Ở đây tiến trình được dự định đã được mô tả rõ ràng. Chúng ta phải xem các trung tâm trong thể dĩ thái chỉ đơn thuần là những bộ truyền dẫn các năng lượng cao hơn. Tâm thức của chúng ta, với tư cách các linh hồn đang nhập thể, phải ở cùng các năng lượng được truyền dẫn và cùng nguồn của các năng lượng ấy chứ không phải với vận cụ truyền dẫn.

16. In other words, we, fully identified with or as the Ego on the higher mental plane, are to use the etheric centers as means of transmission of the energies which we direct.

16. Nói cách khác, chúng ta, hoàn toàn đồng hoá với hay như chân ngã trên Cõi thượng trí, phải sử dụng các trung tâm dĩ thái như những phương tiện truyền dẫn các năng lượng mà chúng ta điều khiển.

To do this the Ego has to follow certain rules, to conform to law, and to have attained not only conscious control of the physical body, but a knowledge of the laws of energy, and of the constitution of the etheric body, and its relation to the physical.

Để làm điều này, chân ngã phải tuân theo một số quy luật, phù hợp với định luật, và phải đạt được không chỉ sự kiểm soát hữu thức đối với thể xác, mà còn cả tri thức về các định luật năng lượng, về cấu tạo của thể dĩ thái, và mối liên hệ của nó với thể hồng trần.

17. In this instance, the Ego is the ‘higher man’. We could not be speaking of necessity of the Solar Angel to follow certain rules and to conform to law, etc. The Solar Angel long ago accomplished these things.

17. Trong trường hợp này, chân ngã là “con người cao hơn”. Chúng ta không thể nói về sự cần thiết để Thái dương Thiên Thần phải tuân theo một số quy luật và phù hợp với định luật, v.v. Thái dương Thiên Thần từ lâu đã hoàn thành những điều này.

18. In this context, the term “Ego” can mean two things. The soul-in-incarnation is the Ego within the fields of the personality. This is an important realization.

18. Trong ngữ cảnh này, thuật ngữ “chân ngã” có thể mang hai nghĩa. Linh hồn đang nhập thể là chân ngã trong các trường của phàm ngã. Đây là một sự chứng nghiệm quan trọng.

19. The Ego on its own plane is the man (the ‘extension’ of the Monad) on the higher mental plane.

19. Chân ngã trên cõi riêng của nó là con người (“sự mở rộng” của chân thần) trên Cõi thượng trí.

20. We, the man, must learn to identify as the Ego and not as the personality. First we recognize ourselves as the soul-in-incarnation and, eventually, as that soul-in-incarnation disidentifies with the personality fields in which it is immersed, we, the soul-in-incarnation, learn to identify as the Ego on its own plane.

20. Chúng ta, con người, phải học cách đồng hoá như chân ngã chứ không phải như phàm ngã. Trước hết chúng ta nhận ra mình là linh hồn đang nhập thể và, cuối cùng, khi linh hồn đang nhập thể ấy tách rời khỏi các trường phàm ngã mà nó đang chìm đắm trong đó, chúng ta, linh hồn đang nhập thể, học cách đồng hoá như chân ngã trên cõi riêng của nó.

The attention of students must be called to certain fundamental facts anent the centres and thus supplement, correlate, and summarise that already given in this Treatise.

Sự chú ý của các đạo sinh phải được hướng đến một số sự kiện căn bản liên quan đến các trung tâm và nhờ đó bổ sung, tương liên và tóm lược điều đã được trình bày trong Luận này.

21. This is the requirement so that we, the man-as-Ego, can learn to control and express through our energy system.

21. Đây là yêu cầu để chúng ta, con người-như-chân ngã, có thể học cách kiểm soát và biểu lộ qua hệ thống năng lượng của mình.

That a certain amount of repetition will be necessary is of value, and the information here given and the correspondences indicated, should provide all followers of raja yoga with a basis for sane consideration, wise meditation and a fuller comprehension of the truths involved.

Việc cần có một mức độ lặp lại nhất định là điều có giá trị, và thông tin được đưa ra ở đây cùng các tương ứng được chỉ ra sẽ cung cấp cho tất cả những người theo raja yoga một nền tảng cho sự xem xét lành mạnh, sự tham thiền minh triết và sự thấu hiểu đầy đủ hơn về các chân lý liên hệ.

22. Certain additional details can be given to the practitioners of Raja Yoga to facilitate their practice.

22. Một số chi tiết bổ sung có thể được trao cho những người thực hành Raja Yoga để tạo thuận lợi cho việc thực hành của họ.

23. DK does not here mention Agni Yoga. Later in His Teaching He does. The information here imparted on the centers will also be of value in that still more advanced and inclusive form of yoga.

23. Ở đây Chân sư DK không nhắc đến Agni Yoga. Về sau trong Giáo Huấn của Ngài, Ngài có nhắc đến. Thông tin được truyền đạt ở đây về các trung tâm cũng sẽ có giá trị trong hình thức yoga còn tiến bộ và bao gồm hơn ấy.

Owing to the rapid development of the race, and the future [Page 1156] quick unfoldment of etheric vision,

Do sự phát triển nhanh chóng của nhân loại, và sự [Page 1156] khai mở nhanh chóng trong tương lai của linh thị dĩ thái,

24. DK predicted that etheric vision would unfold significantly by the end of the twentieth century and into the twenty-first.

24. Chân sư DK đã tiên đoán rằng linh thị dĩ thái sẽ khai mở đáng kể vào cuối thế kỷ hai mươi và sang thế kỷ hai mươi mốt.

the gain will be very real if occult students have at least a theoretical concept of the nature of that which will be seen relatively so soon.

lợi ích sẽ rất thực tế nếu các đạo sinh huyền bí học có ít nhất một khái niệm lý thuyết về bản chất của điều sẽ được thấy trong một thời gian tương đối gần.

25. This book was written in the early to middle 1920’s. A theoretical basis for understanding newly emerging energies is always of value if those energies are to be handled wisely.

25. Quyển sách này được viết vào đầu đến giữa thập niên 1920. Một nền tảng lý thuyết để hiểu các năng lượng mới xuất hiện luôn có giá trị nếu các năng lượng ấy phải được xử lý một cách minh triết.

26. Of course, by the time He had reached the final pages of TCF, DK had already said a great deal about the centers, so we may assume that what He is about to say here is not entirely repetition.

26. Dĩ nhiên, vào lúc Ngài đi đến những trang cuối của TCF, Chân sư DK đã nói khá nhiều về các trung tâm, vì vậy chúng ta có thể giả định rằng điều Ngài sắp nói ở đây không phải là sự lặp lại hoàn toàn.

The centres, as we know, are seven in number and are formed in matter of the etheric subplanes of the physical plane.

Các trung tâm, như chúng ta biết, có số lượng là bảy và được hình thành trong vật chất của các cõi phụ dĩ thái của cõi hồng trần.

27. DK is now speaking of the “physical centers”—really the etheric centers.

27. Giờ đây Chân sư DK đang nói về “các trung tâm hồng trần”—thực ra là các trung tâm dĩ thái.

As we have been told, there are literally ten, but the lower three are not considered as subjects for the direction of egoic energy.

Như chúng ta đã được cho biết, thực sự có mười, nhưng ba trung tâm thấp hơn không được xem là đối tượng cho sự điều hướng của năng lượng chân ngã.

28. Here DK tells us of ten centers, just as He tells us of ten planetary schemes, and ten chains. The tens probably extend far more widely through cosmos than this.

28. Ở đây Chân sư DK cho chúng ta biết về mười trung tâm, cũng như Ngài cho chúng ta biết về mười hệ hành tinh, và mười dãy. Các số mười này có lẽ còn mở rộng khắp vũ trụ rộng lớn hơn nhiều so với thế.

29. We may presume that the seven centers are found above the diaphragm. Perhaps the solar plexus is included, and the base of the spine center, the sacral center and the spleen dis-included. However, can we really ever dis-include the base of the spine center when it plays so prominent a place in the fifth initiation of man and presumably, in the fifth initiation of far greater beings?

29. Chúng ta có thể giả định rằng bảy trung tâm được tìm thấy phía trên cơ hoành. Có lẽ tùng thái dương được bao gồm, còn trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng và luân xa lá lách thì bị loại ra. Tuy nhiên, liệu chúng ta có thực sự có thể loại trừ trung tâm đáy cột sống khi nó giữ một vị trí nổi bật như vậy trong lần điểm đạo thứ năm của con người và có lẽ cả trong lần điểm đạo thứ năm của những hữu thể còn vĩ đại hơn nhiều?

30. There are a number of lesser centers, some found in the lower area of the etheric body, but is Master DK including such rarely mentioned centers? The likelihood is that He is not.

30. Có một số trung tâm nhỏ hơn, một số nằm ở vùng thấp của thể dĩ thái, nhưng liệu Chân sư DK có bao gồm những trung tâm hiếm khi được nhắc đến như thế không? Khả năng là không.

31. We cannot be certain how to enumerate the higher seven. There are many centers in and surrounding the head and we cannot be sure if DK is counting these centers or, if so, the manner in which He is counting.

31. Chúng ta không thể chắc chắn phải liệt kê bảy trung tâm cao hơn như thế nào. Có nhiều trung tâm trong và quanh đầu, và chúng ta không thể chắc liệu Chân sư DK có đang tính các trung tâm này hay không, hoặc nếu có, Ngài tính theo cách nào.

32. If we number from the solar plexus upwards, we could have: the solar plexus, the heart, the throat center, the alta major center, the ajna center, the head center, the heart-in-the-head center.

32. Nếu chúng ta đếm từ tùng thái dương trở lên, chúng ta có thể có: tùng thái dương, tim, trung tâm cổ họng, trung tâm alta major, trung tâm ajna, trung tâm đầu, trung tâm tim-trong-đầu.

33. There is also the possibility that a very occult and rarely mentioned ‘mental center’ or “manasic center” in the vicinity of the lungs could be included, in which case the two aspects of the highest head center would be considered as one.

33. Cũng có khả năng rằng một “trung tâm trí tuệ” hay “trung tâm manas” rất huyền bí và hiếm khi được nhắc đến ở vùng lân cận phổi có thể được bao gồm, trong trường hợp đó hai phương diện của trung tâm đầu cao nhất sẽ được xem là một.

34. Perhaps we shall learn more immediately ahead.

34. Có lẽ ngay phía trước chúng ta sẽ học được thêm.

They relate to the perpetuation of the physical form

Chúng liên hệ đến sự duy trì hình thể hồng trần

35. Without the presence and activation of the centers, the physical plane will not be vitalized; it will not live.

35. Không có sự hiện diện và hoạt hóa của các trung tâm, cõi hồng trần sẽ không được tiếp sinh lực; nó sẽ không sống.

36. Here we are speaking specifically of the lower three centers mentioned above. These three are the most active in the perpetuation of the physical form. From this perspective, the base of the spine center must certainly be involved, as must the sacral center and spleen.

36. Ở đây chúng ta đang nói riêng về ba trung tâm thấp hơn đã được nhắc đến ở trên. Ba trung tâm này hoạt động mạnh nhất trong việc duy trì hình thể hồng trần. Từ góc độ này, trung tâm đáy cột sống chắc chắn phải được bao gồm, cũng như trung tâm xương cùng và lá lách.

and have a close connection with:

và có mối liên hệ mật thiết với:

a. The three lower kingdoms in nature.

a. ba giới thấp trong thiên nhiên.

37. These are the sub-human kingdoms; mineral, vegetable and animal.

37. Đây là các giới dưới nhân loại; giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật.

b. The three lower subplanes of the physical plane.

b. Ba cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần.

38. By this we man the dense physical subplane, the liquid subplane and the gaseous subplane.

38. Bởi điều này chúng ta muốn nói đến cõi phụ hồng trần đậm đặc, cõi phụ lỏng và cõi phụ khí.

c. The third solar system, from the logoic standpoint.

c. Hệ mặt trời thứ ba, từ quan điểm logoic.

39. This is a curious statement. Does DK actually mean the solar system which is to come? Or does He mean the solar system preceding this one? From the correspondential angle, one would think He is referring to the rather material solar system which preceded ours.

39. Đây là một phát biểu kỳ lạ. Liệu Chân sư DK thực sự muốn nói đến hệ mặt trời sẽ đến? Hay Ngài muốn nói đến hệ mặt trời đi trước hệ này? Từ góc độ tương ứng, người ta sẽ nghĩ rằng Ngài đang nói đến hệ mặt trời khá vật chất đã đi trước hệ của chúng ta.

It must be borne in mind that though the three solar systems (the past, the present and that which is to come) are differentiated in time and space where the consciousness of man is concerned, from the point of view of the Logos they represent more accurately, highest, intermediate and lowest, and the three form but one expression.

Cần ghi nhớ rằng mặc dù ba hệ mặt trời (quá khứ, hiện tại và hệ sẽ đến) được phân biệt trong thời gian và không gian xét theo tâm thức của con người, nhưng từ quan điểm của Thượng đế, chúng biểu hiện chính xác hơn là cao nhất, trung gian và thấp nhất, và cả ba chỉ tạo thành một biểu hiện duy nhất.

40. The consciousness of the Solar Logos is not subject to the time-space limitations afflicting our consciousness.

40. Tâm thức của Thái dương Thượng đế không chịu những giới hạn thời-không đang gây khổ cho tâm thức của chúng ta.

41. DK seems to be telling us that the three solar systems are both consecutive and simultaneous—depending on the nature of the perceiving consciousness.

41. Dường như Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng ba hệ mặt trời vừa liên tiếp vừa đồng thời—tùy theo bản chất của tâm thức đang tri giác.

42. Another way of saying this is that the consciousness of the previous solar system is still very much with us within the second solar system; during the next or coming solar system, the consciousness of the first and second solar systems may be evident even though the emphasis will be on the first aspect of divinity, the will.

42. Một cách khác để nói điều này là tâm thức của hệ mặt trời trước vẫn còn hiện diện rất mạnh nơi chúng ta trong hệ mặt trời thứ hai; trong hệ mặt trời kế tiếp hay sắp đến, tâm thức của hệ mặt trời thứ nhất và thứ hai có thể vẫn hiển lộ mặc dù trọng tâm sẽ đặt trên phương diện thứ nhất của thiên tính, tức ý chí.

The past system, therefore, is deemed esoterically the third, being the lowest and being related to the dense and negative matter.

Vì vậy, hệ quá khứ được xem một cách huyền bí là hệ thứ ba, vì là thấp nhất và có liên hệ với vật chất đậm đặc và âm tính.

43. Thus, DK answer the question which I posed. The first (or previous) solar system is qualitatively the third because it is related to the third aspect of divinity.

43. Như vậy, Chân sư DK trả lời câu hỏi mà tôi đã nêu ra. Hệ mặt trời thứ nhất (hay trước đó) về phẩm tính là hệ thứ ba vì nó có liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.

It will be apparent that the past solar system has consequently a close relation to the third or animal kingdom, and this, man has presumably transcended.

Rõ ràng là hệ mặt trời quá khứ do đó có mối liên hệ mật thiết với giới thứ ba hay giới động vật, và điều này con người hẳn đã vượt qua.

44. This is because the animal kingdom is the third kingdom and the human kingdom is the fourth.

44. Điều này là vì giới động vật là giới thứ ba và giới nhân loại là giới thứ tư.

45. It is intended that man must and will transcend the influence of the previous solar system, which here, DK deems the “third”.

45. Mục đích là con người phải và sẽ vượt qua ảnh hưởng của hệ mặt trời trước, mà ở đây Chân sư DK xem là hệ “thứ ba”.

The seven centres with which man is concerned are themselves found to exist in two groups:

Bảy trung tâm mà con người quan tâm đến tự chúng được thấy là tồn tại trong hai nhóm:

46. It does seem that man is concerned with all the seven centers as usually enumerated. This would include the base of the spine center, the sacral center and the solar plexus. The splenic center is also of considerable importance to him.

46. Quả thực dường như con người có liên hệ với cả bảy trung tâm như thường được liệt kê. Điều này sẽ bao gồm trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng và tùng thái dương. Trung tâm lá lách cũng có tầm quan trọng đáng kể đối với y.

a lower four, which are related to the four Rays of Attributes, or the four minor rays, and are, therefore, closely connected with the quaternary, both microcosmic and macrocosmic, and a higher three which are transmitters for the three rays of aspect.

một nhóm bốn thấp hơn, có liên hệ với bốn Các Cung Thuộc Tính, hay bốn cung phụ, và vì vậy có liên hệ mật thiết với bộ tứ, cả trong tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa, và một nhóm ba cao hơn là những bộ truyền dẫn cho ba Các Cung Trạng Thái.

47. If we keep the number ten too firmly in mind we shall have trouble with this enumeration.

47. Nếu chúng ta giữ con số mười quá chặt trong tâm trí, chúng ta sẽ gặp khó khăn với cách liệt kê này.

48. Which, really, are the lower four centers? Is the spleen to be included, along with the solar plexus, the sacral center and the base of the spine center?

48. Thực sự, bốn trung tâm thấp hơn là những trung tâm nào? Liệu lá lách có được bao gồm cùng với tùng thái dương, trung tâm xương cùng và trung tâm đáy cột sống không?

49. And if so, there are then four higher centers remaining and not just three: heart center, throat center, ajna center and head center.

49. Và nếu vậy, khi đó còn lại bốn trung tâm cao hơn chứ không chỉ ba: trung tâm tim, trung tâm cổ họng, trung tâm ajna và trung tâm đầu.

50. The three higher centers are usually considered throat center, heart center, and head center and these three are the transmitters of the three Rays of Aspect.

50. Ba trung tâm cao hơn thường được xem là trung tâm cổ họng, trung tâm tim và trung tâm đầu, và ba trung tâm này là những bộ truyền dẫn của ba Các Cung Trạng Thái.

51. There persistently arises the question of whether the heart center is to be included in the lower quaternary. It can be reasoned in both the affirmative and in the negative. It is interesting that even when man is controlled from the astral plane, the heart center is one point in the controlling triangle of centers.

51. Câu hỏi vẫn liên tục nảy sinh là liệu trung tâm tim có nên được bao gồm trong bộ tứ thấp hơn hay không. Có thể lập luận theo cả khẳng định lẫn phủ định. Điều thú vị là ngay cả khi con người bị kiểm soát từ cõi cảm dục, trung tâm tim vẫn là một điểm trong tam giác kiểm soát của các trung tâm.

These energy centres are transmitters of energy from [Page 1157] many and varied sources which might be briefly enumerated as follows:

Các trung tâm năng lượng này là những bộ truyền dẫn năng lượng từ [Page 1157] nhiều nguồn đa dạng khác nhau có thể được liệt kê vắn tắt như sau:

52. These and other sources are sources of transmission through the centers.

52. Những nguồn này và các nguồn khác là các nguồn truyền dẫn qua các trung tâm.

a. From the seven Rays, via the seven subrays of any specific monadic ray.

a. Từ bảy cung, qua bảy cung phụ của bất kỳ cung chân thần đặc thù nào.

53. The sources of the seven rays are usually thought to be the seven major stars of the Great Bear.

53. Các nguồn của bảy cung thường được cho là bảy ngôi sao lớn của Đại Hùng Tinh.

54. What, exactly, are the seven subrays of any “specific monadic ray”. There are several options:

54. Chính xác thì bảy cung phụ của bất kỳ “cung chân thần đặc thù” nào là gì? Có một số khả năng:

a. The seven types of soul rays considered as subrays of any particular monadic ray.

a. Bảy loại cung linh hồn được xem như các cung phụ của bất kỳ cung chân thần riêng biệt nào.

b. The seven sub -monadic rays found on the monadic plane (cf. TCF 176)

b. Bảy cung phụ -chân thần được tìm thấy trên cõi chân thần (xem TCF 176)

c. The seven ray types of Monads on the monadic plane, considering these seven monadic types actually to be subtypes of the three types of ‘true Monad’, which three types are found on the logoic plane. (cf. TCF Chart V, 344)

c. Bảy loại cung của các chân thần trên cõi chân thần, xem bảy loại chân thần này thực ra là các loại phụ của ba loại “Chân Thần đích thực”, mà ba loại này được tìm thấy trên cõi logoic. (xem Biểu đồ V của TCF, 344)

55. In any case there are higher septenates on egoic and monadic levels, the energies of which pour through the seven types of chakras here being discussed.

55. Dù sao đi nữa, vẫn có những bộ bảy cao hơn trên các cấp độ chân ngã và chân thần, mà các năng lượng của chúng tuôn qua bảy loại luân xa đang được bàn đến ở đây.

b. From the triple aspects of the planetary Logos as He manifests through a scheme.

b. Từ các phương diện tam phân của Hành Tinh Thượng Đế khi Ngài biểu lộ qua một hệ hành tinh.

56. Presumably we have the Rays of Aspect connected with our Planetary Logos manifesting through the chakras keyed to them, and through those other chakras which are in resonance with these keyed three. The three aspects of the Planetary Logos demonstrate both above and below the diaphragm.

56. Có lẽ chúng ta có Các Cung Trạng Thái nối kết với Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta biểu lộ qua các luân xa được chỉnh hợp với chúng, và qua những luân xa khác cộng hưởng với bộ ba được chỉnh hợp này. Ba phương diện của Hành Tinh Thượng Đế biểu lộ cả phía trên lẫn phía dưới cơ hoành.

57. We note that the source given in point “b.” is a higher source than that given in point “a.”

57. Chúng ta lưu ý rằng nguồn được nêu ở điểm “b.” là một nguồn cao hơn nguồn được nêu ở điểm “a.”

c. From what are called "the sevenfold divisions of the logoic Heart," or the sun in its sevenfold essential nature, as it is seen lying esoterically behind the outer physical solar form.

c. Từ điều được gọi là “những phân chia thất phân của Tim logoic”, hay mặt trời trong bản chất cốt yếu thất phân của nó, như nó được thấy một cách huyền bí nằm phía sau hình thể thái dương hồng trần bên ngoài.

58. This is a still higher source.

58. Đây là một nguồn còn cao hơn nữa.

59. Here we are not so much speaking of the Heart of the Sun on the higher levels of the cosmic mental plane, but of the logoic etheric heart center presumably to be found upon the cosmic etheric planes—perhaps on its second level (correlated with the origin of the human Monads).

59. Ở đây chúng ta không nói nhiều đến Trái Tim Mặt Trời trên các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ, mà nói đến trung tâm tim dĩ thái logoic, có lẽ được tìm thấy trên các cõi dĩ thái vũ trụ—có thể ở cấp độ thứ hai của nó (tương ứng với nguồn gốc của các chân thần nhân loại).

60. It is the etheric aspect of the Solar Logos which lies “behind the outer physical solar form”.

60. Chính phương diện dĩ thái của Thái dương Thượng đế nằm “phía sau hình thể thái dương hồng trần bên ngoài”.

61. The Heart of the Sun substands not only the vehicles of the Logos on the cosmic physical plane but also on the cosmic astral plane and lower cosmic mental plane.

61. Trái Tim Mặt Trời không chỉ nâng đỡ các vận cụ của Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ mà còn cả trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi hạ trí vũ trụ.

62. Heart centers are usually considered twelvefold, but there is a way of deriving the twelve from the seven. This way is given in a footnote in A Treatise on Cosmic Fire.

62. Các trung tâm tim thường được xem là thập nhị phân, nhưng có một cách để rút ra số mười hai từ số bảy. Cách này được nêu trong một chú thích cuối trang của Luận về Lửa Vũ Trụ.