← Commentary_S9_1078_1194_song ngữ

chapter 001 21

Trích nội dung chương

31: The Twelve Creative Hierarchies. Students are often puzzled in trying to account for the "twelves" in the cosmos. A correspondent sends the following suggestion: In a Study in Consciousness, the three, by an arrangement of internal groupings, show seven groups; these may be represented as ABC, ACB, BCA BAC, CAB, CBA, and a seventh, a synthesis in which the three are equal. A second six would be represented by (AB) C, C (AB), A (BC), (BC) A, (CA) B, B (AC), the two bracketed being equal and the third stronger or weaker. The two groups of six, and the group in which the three are equal, would make thirteen. "This thirteen may be arranged…


31: The Twelve Creative Hierarchies. Students are often puzzled in trying to account for the "twelves" in the cosmos. A correspondent sends the following suggestion: In a Study in Consciousness, the three, by an arrangement of internal groupings, show seven groups; these may be represented as ABC, ACB, BCA BAC, CAB, CBA, and a seventh, a synthesis in which the three are equal. A second six would be represented by (AB) C, C (AB), A (BC), (BC) A, (CA) B, B (AC), the two bracketed being equal and the third stronger or weaker. The two groups of six, and the group in which the three are equal, would make thirteen. "This thirteen may be arranged as a circle of twelve, with one in the centre. The central one will be synthetic, and will be that class in which all three are equal. The physical correspondence of this will be the twelve signs of the Zodiac with the Sun at the centre, synthesising all of them. The spiritual correspondence will be the twelve Creative Orders with the Logos at the centre, synthesising all." The arrangement is quite legitimate.—The Theosophist, Vol. XXIX, p. 100. (TCF 1195)

31: Mười Hai Huyền Giai Sáng Tạo. Các đạo sinh thường bối rối khi cố giải thích các “bộ mười hai” trong vũ trụ. Một người trao đổi thư từ gửi đến gợi ý sau đây: Trong A Study in Consciousness, bộ ba, bằng một sự sắp xếp các nhóm nội tại, cho thấy bảy nhóm; chúng có thể được biểu diễn là ABC, ACB, BCA BAC, CAB, CBA, và một nhóm thứ bảy, là một tổng hợp trong đó cả ba bằng nhau. Một nhóm sáu thứ hai sẽ được biểu diễn bằng (AB) C, C (AB), A (BC), (BC) A, (CA) B, B (AC), trong đó hai yếu tố trong ngoặc bằng nhau và yếu tố thứ ba mạnh hơn hay yếu hơn. Hai nhóm sáu, và nhóm trong đó cả ba bằng nhau, sẽ tạo thành mười ba. “Mười ba này có thể được sắp xếp thành một vòng tròn mười hai, với một ở trung tâm. Điểm trung tâm sẽ có tính tổng hợp, và sẽ là loại trong đó cả ba bằng nhau. Tương ứng hồng trần của điều này sẽ là mười hai dấu hiệu hoàng đạo với Mặt Trời ở trung tâm, tổng hợp tất cả chúng. Tương ứng tinh thần sẽ là mười hai Huyền Giai Sáng Tạo với Thượng đế ở trung tâm, tổng hợp tất cả.” Sự sắp xếp này hoàn toàn hợp lý.—The Theosophist, Tập XXIX, tr. 100. (TCF 1195)

63. The egoic lotus of the Solar Logos is also considered twenty-one-fold (twenty-one being the number of its petals). It is possible that these petals may appear in seven groups of three each.

63. Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế cũng được xem là nhị thập nhất phân (hai mươi mốt là số cánh hoa của nó). Có thể những cánh hoa này xuất hiện trong bảy nhóm, mỗi nhóm ba cánh.

d. From the seven Rishis of the Great Bear; this pours in via the Monad and is transmitted downward, merging on the higher levels of the mental plane with seven streams of energy from the Pleiades which come in as the psychical force demonstrating through the solar Angel.

d. Từ bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh; điều này tuôn vào qua chân thần và được truyền xuống dưới, hòa nhập trên các cấp độ cao hơn của cõi trí với bảy dòng năng lượng từ Thất Nữ Tinh đi vào như mãnh lực thông linh biểu lộ qua Thái dương Thiên Thần.

64. We continue the sources of energies which pour through the seven chakras.

64. Chúng ta tiếp tục các nguồn năng lượng tuôn qua bảy luân xa.

65. This is a most occult statement for several reason.

65. Đây là một phát biểu hết sức huyền bí vì nhiều lý do.

a. The link between the Rishis of the Great Bear and the human Monad. We would assume that the seven monadic demonstrations on the monadic plane are linked by the intra -planetary Lords of the Seven Rays with the seven types of Monads. The planetary Ray Lords may also be part of this linking as the Planetary Logoi are all connected with the Seven Rishis.

a. Mối liên kết giữa các Rishi của Đại Hùng Tinh và chân thần con người. Chúng ta có thể giả định rằng bảy biểu hiện chân thần trên cõi chân thần được nối kết bởi các Chúa Tể nội-hành-tinh của Bảy Cung với bảy loại chân thần. Các Chúa Tể Cung hành tinh cũng có thể là một phần của sự nối kết này vì các Hành Tinh Thượng Đế đều được liên kết với Bảy Rishi.nội -hành-tinh của Bảy Cung với bảy loại chân thần. Các Chúa Tể Cung hành tinh cũng có thể là một phần của sự nối kết này vì các Hành Tinh Thượng Đế đều được liên kết với Bảy Rishi.

b. The link between the Pleiades and the higher mental plane.

b. Mối liên kết giữa Thất Tinh và cõi thượng trí.

c. The unusual linking of the Pleiades with the Solar Angels! This is an important reference. We see from this linking that that which is transmitted via the Pleiades is more than manasic force. It is also related to soul and consciousness and is thus called “psychical force” and must be considered sentient in nature. The Pleiades are qualified by the third ray, yes, but also by the second and some have suggested the first ray as well as the Pleiades may be reasoned to represent the “Hub of the Wheel” of the "One About Whom Naught May Be Said".

c. Mối liên kết khác thường giữa Thất Tinh với các Thái dương Thiên Thần! Đây là một quy chiếu quan trọng. Từ mối liên kết này, chúng ta thấy rằng điều được truyền qua Thất Tinh là nhiều hơn mãnh lực manas. Nó cũng liên hệ với linh hồn và tâm thức, và vì thế được gọi là “mãnh lực thông linh”, và phải được xem là có bản chất cảm tri. Thất Tinh được điều kiện hóa bởi cung ba, đúng vậy, nhưng cũng bởi cung hai, và một số người còn gợi ý cả cung một nữa, vì có thể lập luận rằng Thất Tinh tượng trưng cho “Trục của Bánh Xe” của "Đấng Bất Khả Tư Nghị".

All these various streams of energy are passed through certain groups or centres, becoming more active and demonstrating with a freer flow as the course of evolution is pursued.

Tất cả các dòng năng lượng khác nhau này đều được chuyển qua những nhóm hay trung tâm nhất định, trở nên hoạt động hơn và biểu hiện với một dòng chảy tự do hơn khi tiến trình tiến hoá được tiếp tục.

66. Some of the highest sources send their energies through chakras which are super-human altogether. Each Sun is a chakra. Each planet is a chakra.

66. Một số nguồn cao nhất truyền năng lượng của chúng qua các luân xa hoàn toàn siêu nhân loại. Mỗi Mặt Trời là một luân xa. Mỗi hành tinh là một luân xa.

67. We have a large number of sources. Some of the higher sources are probably passed through groupings on triadal levels and also through egoic groupings on the higher mental plane before reaching the human chakric system.

67. Chúng ta có một số lượng lớn các nguồn. Một số nguồn cao hơn có lẽ được chuyển qua các tập hợp ở các cấp độ tam nguyên tinh thần và cũng qua các tập hợp chân ngã trên cõi thượng trí trước khi đến hệ thống luân xa của con người.

68. We realize that the transmission is not now flowing as freely as later it will when humanity is more highly evolved.

68. Chúng ta nhận ra rằng sự truyền dẫn hiện nay chưa chảy tự do như về sau nó sẽ chảy khi nhân loại tiến hoá cao hơn.

As far as man is concerned at present, this energy all converges, and seeks to energise his physical body, and direct his action via the seven etheric centres.

Xét theo phương diện con người hiện nay, toàn bộ năng lượng này đều hội tụ lại, và tìm cách tiếp sinh lực cho thể xác của y, đồng thời điều khiển hành động của y qua bảy trung tâm dĩ thái.

69. DK may be speaking of average man. We know that for more highly evolved human beings, the centers in the astral body and those on the lower mental plane are also stimulated

69. Chân sư DK có thể đang nói về con người trung bình. Chúng ta biết rằng đối với những con người tiến hoá cao hơn, các trung tâm trong thể cảm dục và những trung tâm trên cõi hạ trí cũng được kích thích

70. When we look for structures in the human energy system which these energy flows may stimulate, we should also include the stimulation of the tiers and petals of the egoic lotus.

70. Khi chúng ta tìm kiếm những cấu trúc trong hệ thống năng lượng con người mà các dòng năng lượng này có thể kích thích, chúng ta cũng nên bao gồm sự kích thích các tầng và các cánh hoa của hoa sen chân ngã.

71. Finally, however, even if the energies do pass through the tiers and petals of the egoic lotus and through the mental and astral chakras, they do energize the etheric chakras and finally the dense physical body.

71. Tuy nhiên, sau cùng, ngay cả nếu các năng lượng ấy có đi qua các tầng và các cánh hoa của hoa sen chân ngã và qua các luân xa trí tuệ và cảm dục, thì chúng quả thực tiếp sinh lực cho các luân xa dĩ thái và cuối cùng cho thể xác đậm đặc.

72. We are probably not yet at the stage where we can detect the flow of these various type of energies through our etheric chakras through we do note the stimulation.

72. Có lẽ chúng ta vẫn chưa ở giai đoạn có thể phát hiện dòng chảy của các loại năng lượng khác nhau này qua các luân xa dĩ thái của mình, dù chúng ta có ghi nhận sự kích thích.

These centres receive the force in a threefold manner:

Các trung tâm này tiếp nhận mãnh lực theo cách tam phân:

73. Now we are becoming quite specific. We are speaking of the receptivity of the seven etheric chakras.

73. Giờ đây chúng ta đang trở nên khá cụ thể. Chúng ta đang nói về khả năng tiếp nhận của bảy luân xa dĩ thái.

a. Force from the Heavenly Man and, therefore, from the seven Rishis of the Great Bear via the Monad.

a. Mãnh lực từ Đấng Thiên Nhân và, do đó, từ bảy Rishi của Đại Hùng Tinh qua chân thần.

74. There is an alignment between the seven Rishis of the Great Bear, the Heavenly Man, the Monad (which is a cell within the Heavenly Man) and (via various descending septenates) to the seven etheric chakras.

74. Có một sự chỉnh hợp giữa bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, Đấng Thiên Nhân, chân thần (vốn là một tế bào bên trong Đấng Thiên Nhân) và (qua nhiều bộ bảy giáng hạ khác nhau) đến bảy luân xa dĩ thái.

b. Force from the Pleiades, via the solar Angel or Ego.

b. Mãnh lực từ Thất Tinh, qua Thái dương Thiên Thần hay chân ngã.

75. There is an alignment from the Pleiades to the Solar Angel or Ego and thence to the chakric system, including, one supposes, the lower mental and astral chakras.

75. Có một sự chỉnh hợp từ Thất Tinh đến Thái dương Thiên Thần hay chân ngã, và từ đó đến hệ thống luân xa, bao gồm, như người ta có thể giả định, cả các luân xa hạ trí và cảm dục.

76. We also are aware of the alignment from the Pleiades to the Heavenly Men—a largely manasic alignment.

76. Chúng ta cũng nhận biết sự chỉnh hợp từ Thất Tinh đến các Đấng Thiên Nhân—một sự chỉnh hợp phần lớn mang tính manas.

77. We can wonder, given the implications of alignment “b.”, whether the Pleiades have a connection with the Heart of the Sun to which the Solar Angels are so closely related. We usually think of Sirius as having such an alignment.

77. Xét theo những hàm ý của sự chỉnh hợp “b.”, chúng ta có thể tự hỏi liệu Thất Tinh có một liên hệ nào với Trái Tim của Mặt Trời, nơi các Thái dương Thiên Thần gắn bó mật thiết đến thế hay không. Chúng ta thường nghĩ Sirius có một sự chỉnh hợp như vậy.

c. Force from the planes, from the Raja Devas of a plane, or fohatic energy, via the spirillae of a permanent atom.

c. Mãnh lực từ các cõi, từ các Raja Deva của một cõi, hay năng lượng fohat, qua các loa tuyến của một nguyên tử trường tồn.

78. This is an alignment from solar planes and Solar Plane Lords (considered in their broader solar systemic context) to the Raja Deva Lords of whom the planetary planes are an embodiment, through to the planes and via these spirillae (for planes are spirillae) to the various etheric chakras. We might ask, “To what extent to the systemic planes and subplanes (considered as spirillae) feed the chakras of the human energy system?”

78. Đây là một sự chỉnh hợp từ các cõi thái dương và các Chúa Tể Cõi Thái Dương (được xét trong bối cảnh hệ mặt trời rộng lớn hơn của các Ngài) đến các Chúa Tể Raja Deva mà các cõi hành tinh là hiện thân, rồi đến các cõi và qua các loa tuyến này (vì các cõi là các loa tuyến) đến các luân xa dĩ thái khác nhau. Chúng ta có thể hỏi: “Các cõi và cõi phụ của hệ thống (được xem như các loa tuyến) nuôi dưỡng các luân xa của hệ thống năng lượng con người đến mức độ nào?”nuôi dưỡng các luân xa của hệ thống năng lượng con người đến mức độ nào?”

The permanent atom of a human being sustains an entire vehicle in which the seven chakras make their appearance. Without the permanent atom, the seven chakras would have no medium in which to appear.

Nguyên tử trường tồn của một con người duy trì toàn bộ một vận cụ trong đó bảy luân xa xuất hiện. Không có nguyên tử trường tồn, bảy luân xa sẽ không có môi trường để xuất hiện.

79. We wonder what might be the stellar source of this third type of energy. At first one might think it to be the Pleiades, but the Pleiades in this context have been assigned to the second aspect of divinity.

79. Chúng ta tự hỏi nguồn sao nào có thể là nguồn của loại năng lượng thứ ba này. Lúc đầu người ta có thể nghĩ đó là Thất Tinh, nhưng trong bối cảnh này Thất Tinh đã được gán cho phương diện thứ hai của thiên tính.

80. Both Sirius and the Pleiades demonstrate both the second and third aspects and it behooves us to notice the contexts in which one or the other aspect is being discussed in relation to either one.

80. Cả Sirius lẫn Thất Tinh đều biểu hiện cả phương diện thứ hai lẫn thứ ba, và điều cần thiết đối với chúng ta là lưu ý những bối cảnh trong đó phương diện này hay phương diện kia đang được bàn đến trong liên hệ với một trong hai.

It is this fact which accounts for the gradual growth and development of a man.

Chính sự kiện này giải thích cho sự tăng trưởng và phát triển dần dần của con người.

81. All these energies pouring through the various chakras account for the gradual growth and development of a man. The energies do not flow in a manner completed unimpeded or with full force. Thus the growth and development of man is “gradual”.

81. Tất cả những năng lượng này tuôn qua các luân xa khác nhau giải thích cho sự tăng trưởng và phát triển dần dần của con người. Các năng lượng không chảy theo cách hoàn toàn không bị cản trở hay với toàn bộ mãnh lực. Vì vậy sự tăng trưởng và phát triển của con người là “dần dần”.

At first it is the force of the plane substance, which directs him, causing him to identify [Page 1158] himself with the grosser substance and to consider himself a man, a member of the fourth Kingdom, and to be convinced, therefore, that he is the Not-Self.

Thoạt đầu, chính mãnh lực của chất liệu cõi giới điều khiển y, khiến y đồng hoá với [Page 1158]chất liệu thô nặng hơn và xem mình là một con người, một thành viên của giới thứ tư, và do đó tin chắc rằng mình là Phi-Ngã.

82. When the man is solidly a member of the fourth kingdom of nature, he is entirely identified with planar substance. There are four divisions to be considered:

82. Khi con người đã vững chắc là một thành viên của giới thứ tư trong thiên nhiên, y hoàn toàn đồng hoá với chất liệu cõi giới. Có bốn phân bộ cần được xét đến:

a. The dense physical level

a. Cấp độ hồng trần đậm đặc

b. The etheric level

b. Cấp độ dĩ thái

c. The astral level

c. Cấp độ cảm dục

d. The lower mental level

d. Cấp độ hạ trí

83. At this stage, he does not consider himself to be a soul. He has no experience to reveal to him what it would mean to be a soul.

83. Ở giai đoạn này, y không xem mình là một linh hồn. Y không có kinh nghiệm nào để mặc khải cho y biết làm một linh hồn sẽ có nghĩa là gì.

84. He is under the sway of the Raja Deva Lords and their many subsidiary representatives—conscious and unconscious. The permanent atoms are more important than the chakras.

84. Y ở dưới sự chi phối của các Chúa Tể Raja Deva và nhiều đại diện phụ thuộc của các vị ấy—hữu thức và vô thức. Các nguyên tử trường tồn quan trọng hơn các luân xa.

Later as force from the Ego pours in, his psychical evolution proceeds (I use the word "psychical" here in its higher connotation)

Về sau, khi mãnh lực từ chân ngã tuôn vào, sự tiến hoá thông linh của y tiếp diễn (ở đây tôi dùng từ "thông linh" theo hàm nghĩa cao hơn của nó)

85. When considering the term “psychical” as it is used in relation to the Pleiades, we must consider that it does not have to do with lower psychism but with soul consciousness.

85. Khi xét thuật ngữ “thông linh” như được dùng trong liên hệ với Thất Tinh, chúng ta phải hiểu rằng nó không liên quan đến thông linh thấp mà đến tâm thức linh hồn.

86. This section of text confirms that DK is speaking of the second aspect of divinity when referencing “psychical force” and the Pleiades.

86. Phần văn bản này xác nhận rằng Chân sư DK đang nói về phương diện thứ hai của thiên tính khi quy chiếu đến “mãnh lực thông linh” và Thất Tinh.

and he begins to consider himself as the Ego, the Thinker, the One who uses the form.

và y bắt đầu xem mình là chân ngã, Đấng Tư Tưởng, Đấng sử dụng hình tướng.

87. From the sections of text above we have learned that the Pleiades (the source of a certain type of “psychical” energy) are involved in helping the man to consider himself as the Ego, the Thinker, the One who uses the form. This should be remembered alongside the many references which refer the Pleiades as bestowers of manas.

87. Từ các phần văn bản trên, chúng ta đã học được rằng Thất Tinh (nguồn của một loại năng lượng “thông linh” nào đó) có liên quan đến việc giúp con người xem mình là chân ngã, Đấng Tư Tưởng, Đấng sử dụng hình tướng. Điều này cần được ghi nhớ cùng với nhiều quy chiếu nói đến Thất Tinh như những đấng ban phát manas.

88. Under the influence, the man, the man dissociates himself from devic influence and identification, and becomes increasingly the ‘Spiritual Observer’. He no longer thinks of himself as devic matter and form.

88. Dưới ảnh hưởng ấy, con người tự tách mình ra khỏi ảnh hưởng và sự đồng hoá với deva, và ngày càng trở thành ‘Nhà Quan Sát Tinh Thần’. Y không còn nghĩ mình là vật chất và hình tướng deva nữa.

Finally, energy from the Monad begins to be responded to and he knows himself to be neither the man nor the angel, but a divine essence or Spirit.

Sau cùng, năng lượng từ chân thần bắt đầu được đáp ứng và y biết mình không phải là con người cũng không phải là thiên thần, mà là một tinh chất thiêng liêng hay tinh thần.

89. This is the third step and is the objective of all those who approach the third and later initiations. Man must find himself as a Monad, as Spirit, and Essence, a Being.

89. Đây là bước thứ ba và là mục tiêu của tất cả những ai tiến gần đến lần điểm đạo thứ ba và các lần sau đó. Con người phải tìm thấy chính mình như một chân thần, như tinh thần, và tinh chất, một Bản Thể.

These three types of energy demonstrate during manifestation as Spirit, Soul, and Body,

Ba loại năng lượng này biểu hiện trong thời kỳ biểu hiện như Tinh thần, Linh hồn và Thể,

90. How do they demonstrate outside of manifestation? Obviously the three source energies which manifest as “Spirit, Soul and Body” exist even when body and soul no longer exist.

90. Chúng biểu hiện như thế nào bên ngoài sự biểu hiện? Hiển nhiên ba năng lượng nguồn biểu hiện thành “Tinh thần, Linh hồn và Thể” vẫn tồn tại ngay cả khi thân thể và linh hồn không còn hiện hữu nữa.

and through them the three aspects of the Godhead meet and converge in man, and lie latent in every atom.

và qua chúng, ba phương diện của Thượng đế gặp nhau và hội tụ trong con người, và tiềm ẩn trong mỗi nguyên tử.

91. Man is a reflection of the “Godhead”. We notice that the word “head” is incorporated in the word “Godhead”, suggesting that the “head” is the occult, first ray source of energy. Shamballa is the “Head Center” of our Planetary Logos as He manifests on the cosmic physical plane.

91. Con người là một phản chiếu của “Thượng đế tính”. Chúng ta lưu ý rằng từ “đầu” được bao hàm trong từ “Thượng đế tính”, gợi ý rằng “đầu” là nguồn năng lượng huyền bí, cung một. Shamballa là “Trung tâm Đầu” của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta khi Ngài biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ.

92. The usual constellational sources corresponding to the three aspects of the Godhead are the Great Bear, Sirius/Little Bear and the Pleiades, but in the sections of text under discussion, the Pleiades are given the place usually occupied by Sirius.

92. Các nguồn chòm sao thông thường tương ứng với ba phương diện của Thượng đế tính là Đại Hùng Tinh, Sirius/Tiểu Hùng Tinh và Thất Tinh, nhưng trong các phần văn bản đang được bàn đến, Thất Tinh được đặt vào vị trí thường do Sirius chiếm giữ.

The sevenfold energy of the planes, and therefore of substance, finds its consummation when the four lower centres are fully active.

Năng lượng thất phân của các cõi, và do đó của chất liệu, đạt đến sự viên mãn khi bốn trung tâm thấp hoàn toàn hoạt động.

93. Presumably, we must include the splenic center which is sub-diaphragmatic and, so, related to the third aspect of divinity.

93. Có lẽ chúng ta phải bao gồm trung tâm lá lách, vốn ở dưới cơ hoành và vì thế liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính.

94. The planar energy, the devic energy is, thus, related to the lower quaternary.

94. Do đó, năng lượng cõi giới, năng lượng deva, liên hệ với bộ tứ thấp.

95. We remember that personality cycles manifest in fours and in sevens. The numbers, at least, are linked.

95. Chúng ta nhớ rằng các chu kỳ phàm ngã biểu hiện theo bộ bốn và bộ bảy. Ít nhất, các con số ấy có liên hệ với nhau.

96. The devas create the “square”.

96. Các deva tạo ra “hình vuông”.

The sevenfold energy of the psyche, the consciousness aspect, demonstrates when the three higher in the three worlds are vibrating with accuracy.

Năng lượng thất phân của tâm thể, phương diện tâm thức, biểu hiện khi ba trung tâm cao hơn trong ba cõi giới rung động một cách chính xác.

97. The psyche has a sevenfold energy.

97. Tâm thể có một năng lượng thất phân.

98. We remember that soul cycles manifest in sevens and in threes. The numbers are linked.

98. Chúng ta nhớ rằng các chu kỳ linh hồn biểu hiện theo bộ bảy và bộ ba. Các con số ấy có liên hệ với nhau.

99. By the “three higher” is probably meant the three higher centers as they appear on the three planes—the etheric plane, the ‘etheric’ levels of the astral body and the higher mental plane (which are, except for the fourth subplane) the ‘etheric’ levels of the mental plane.

99. “Ba trung tâm cao hơn” có lẽ có nghĩa là ba trung tâm cao hơn như chúng xuất hiện trên ba cõi—cõi dĩ thái, các cấp độ ‘dĩ thái’ của thể cảm dục, và cõi thượng trí (vốn, ngoại trừ cõi phụ thứ tư, là các cấp độ ‘dĩ thái’ của cõi trí).

100. The psyche is the consciousness aspect which is related to the Seven Ways of Light. Rayology is related to the second ray just as astrology is related to the third.

100. Tâm thể là phương diện tâm thức liên hệ với Bảy Con Đường Ánh Sáng. Cung học liên hệ với cung hai cũng như chiêm tinh học liên hệ với cung ba.

101. On the soul level the seven rays represent seven aspects of consciousness.

101. Ở cấp độ linh hồn, bảy cung tượng trưng cho bảy phương diện của tâm thức.

102. DK seems to be talking about an alignment between the head, heart and throat centers as found on the etheric plane and the astral plane, and the three tiers of petals as found on the higher mental plane. (Note that only four chakras, the lower ones, are found on the lower four subplanes of the mental plane.)

102. Chân sư DK dường như đang nói về một sự chỉnh hợp giữa các trung tâm đầu, tim và cổ họng như được tìm thấy trên cõi dĩ thái và cõi cảm dục, và ba tầng cánh hoa như được tìm thấy trên cõi thượng trí. (Lưu ý rằng chỉ có bốn luân xa, tức các luân xa thấp hơn, được tìm thấy trên bốn cõi phụ thấp của cõi trí.)

103. We can wonder whether the ajna center is to be included as a separate center or whether it is to be considered as an aspect of the head center—as if all the many centers in and above the head are really one center.

103. Chúng ta có thể tự hỏi liệu trung tâm ajna có được bao gồm như một trung tâm riêng biệt hay không, hay nó phải được xem như một phương diện của trung tâm đầu—như thể tất cả nhiều trung tâm trong và trên đầu thực sự là một trung tâm.

The sevenfold activity of spirit

Hoạt động thất phân của tinh thần

104. It is interesting and important that Spirit is considered not only threefold but sevenfold. There are “Seven Spirits of Darkness” and seven types of Monads.

104. Thật thú vị và quan trọng khi Tinh thần được xem không chỉ là tam phân mà còn thất phân. Có “Bảy Thánh Linh của Bóng Tối” và bảy loại chân thần.

makes itself felt when each of these seven centres is not only fully active but is rotating as "wheels turning upon themselves," when they are fourth dimensional

tự làm cho mình được cảm nhận khi mỗi một trong bảy trung tâm này không những hoàn toàn hoạt động mà còn đang quay như "những bánh xe tự quay trên chính mình," khi chúng có tính bốn chiều

105. This happens sequentially at each of the initiations—the fourth dimensionality of the etheric centers occurring at the first initiation; the fourth dimensionality of the astral centers occurring at the second and, for the mental centers, at the third.

105. Điều này xảy ra tuần tự ở mỗi lần điểm đạo—tính bốn chiều của các trung tâm dĩ thái xảy ra ở lần điểm đạo thứ nhất; tính bốn chiều của các trung tâm cảm dục xảy ra ở lần điểm đạo thứ hai; và đối với các trung tâm trí tuệ, ở lần điểm đạo thứ ba.

106. What is here said suggests that the sevenfold Spirit is involved even in the earlier phases of the initiatory process. We do know that from the time of the first initiation, the Monad makes a contact with the soul on the higher mental plane though the personality does not register this contact.

106. Điều được nói ở đây gợi ý rằng Tinh thần thất phân có liên quan ngay cả trong những giai đoạn sớm hơn của tiến trình điểm đạo. Chúng ta biết rằng từ thời điểm lần điểm đạo thứ nhất, chân thần tạo một tiếp xúc với linh hồn trên cõi thượng trí dù phàm ngã không ghi nhận tiếp xúc này.

107. The manner in which the Spirit is sevenfold must be pondered just as the sevenfold psyche must be pondered.

107. Cách thức mà Tinh thần là thất phân phải được suy gẫm cũng như tâm thể thất phân phải được suy gẫm.

108. In one sense, Spirit is sevenfold because it expresses through seven principles.

108. Theo một nghĩa nào đó, Tinh thần là thất phân vì nó biểu hiện qua bảy nguyên khí.

and are not only individually alive but are all linked up with the sevenfold head centre.

và không những sống động một cách riêng lẻ mà còn đều được nối kết với trung tâm đầu thất phân.

109. Which of the head centers is sevenfold, or is DK speaking of what are called the “greater seven”—the higher correspondences to most of the normal chakric system.

109. Trung tâm đầu nào là thất phân, hay Chân sư DK đang nói về cái được gọi là “bảy lớn hơn”—những đối phần cao hơn của phần lớn hệ thống luân xa thông thường.

110. We are given a picture in which each of the chakras in the etheric body is turning on itself, rotating fourth dimensionally and is linked up with one aspect of the sevenfold head center, presumably with one of the “greater seven”.

110. Chúng ta được trao cho một bức tranh trong đó mỗi luân xa trong thể dĩ thái đều tự quay trên chính nó, quay theo chiều thứ tư và được nối kết với một phương diện của trung tâm đầu thất phân, có lẽ là với một trong “bảy lớn hơn”.

111. We know that there are seven superior head centers which stand as the “greater seven” to the “lesser seven”. What is not clear at this point is whether these seven are to be considered as within the head or above the head.

111. Chúng ta biết rằng có bảy trung tâm đầu cao hơn đứng như “bảy lớn hơn” đối với “bảy nhỏ hơn”. Điều chưa rõ ở điểm này là liệu bảy trung tâm ấy phải được xem là ở trong đầu hay trên đầu.

112. This leads to the question of whether the entire crown chakra can, in some sense, be considered sevenfold?

112. Điều này dẫn đến câu hỏi liệu toàn bộ luân xa vương miện có thể, theo một nghĩa nào đó, được xem là thất phân hay không?

A man is then seen as he is truly—a network of fire with flaming focal points, transmitting and circulating fiery energy.

Con người khi ấy được thấy đúng như y thật sự là—một mạng lưới lửa với những tiêu điểm rực cháy, truyền dẫn và lưu chuyển năng lượng lửa.

113. Some modern spiritual artists have given us this image in a very compelling way.

113. Một số nghệ sĩ tinh thần hiện đại đã trao cho chúng ta hình ảnh này theo một cách rất mạnh mẽ.

114. Our usual conception of the human form recedes into the background and man is seen as a dynamic pattern of energy-flows or streams.

114. Quan niệm thông thường của chúng ta về hình thể con người lùi vào hậu cảnh và con người được thấy như một mô hình động của các dòng hay luồng năng lượng.

115. It behooves us to think of man in these terms. This would help to dispel the habitual materialism of our consciousness.

115. Chúng ta cần nghĩ về con người theo những thuật ngữ này. Điều đó sẽ giúp làm tiêu tan chủ nghĩa duy vật quen thuộc trong tâm thức của chúng ta.

These centres not only receive the energy through the top of the head, orthrough a point slightly above the top of the head, to be more accurate, but pass it out through the head centre likewise, that which is being passed out being seen as differing in colour, being brighter and vibrating more rapidly than that which is being received.

Các trung tâm này không những tiếp nhận năng lượng qua đỉnh đầu, hayqua một điểm hơi ở trên đỉnh đầu, nói cho chính xác hơn, mà cũng truyền nó ra qua trung tâm đầu theo cùng cách ấy, điều được truyền ra được thấy là khác về màu sắc, sáng hơn và rung động nhanh hơn điều đang được tiếp nhận.

116. Here again we have an important piece of occultism. DK is identifying a point which some call the “soul star”. It is a point of energy reception and transmission.

116. Ở đây một lần nữa chúng ta có một mẩu huyền bí học quan trọng. Chân sư DK đang xác định một điểm mà một số người gọi là “sao linh hồn”. Đó là một điểm tiếp nhận năng lượng và truyền dẫn.

117. We see that circulation through the centers of man intensifies the energy received from the point slightly above the top of the head.

117. Chúng ta thấy rằng sự lưu chuyển qua các trung tâm của con người làm tăng cường năng lượng tiếp nhận từ điểm hơi ở trên đỉnh đầu.

118. What will be this color difference. Will the color passed out carry the color of the ray of the personality? Will the color received reflect the color of the Spirit or that of the soul or both? We are in a section of text which is dealing with the sevenfold activity of Spirit.

118. Sự khác biệt màu sắc này sẽ là gì? Màu được truyền ra có mang màu của cung phàm ngã không? Màu được tiếp nhận có phản ánh màu của Tinh thần hay của linh hồn hay cả hai? Chúng ta đang ở trong một phần văn bản bàn về hoạt động thất phân của Tinh thần.

The etheric body is formed of a negative aspect of fire, and is the recipient of a positive fire.

Thể dĩ thái được tạo thành từ một phương diện âm của lửa, và là kẻ tiếp nhận một lửa dương.

119. The etheric body is a receptacle. We can consider that prana, per se, is positive to the aspect of fire of which the etheric body is constructed.

119. Thể dĩ thái là một vật chứa. Chúng ta có thể xem rằng prana, chính nó, là dương đối với phương diện lửa mà từ đó thể dĩ thái được cấu tạo.

As the various types of fire blend, merge, and circulate, they gain therebyand produce definite effects in the fires of the microcosmic system. [Page1159]

Khi các loại lửa khác nhau dung hợp, hòa trộn và lưu chuyển, nhờ đó chúng tăng thêmvà tạo ra những hiệu quả xác định trong các ngọn lửa của hệ thống tiểu thiên địa. [Page1159]

120. Various kinds of fire circulate through the vessel of the etheric body formed of a negative aspect of fire.

120. Các loại lửa khác nhau lưu chuyển qua bình chứa của thể dĩ thái được tạo thành từ một phương diện âm của lửa.

The centre at the base of the spine (the lowest with which man has consciously to deal)

Trung tâm ở đáy cột sống (trung tâm thấp nhất mà con người phải đề cập đến một cách hữu thức)

121. So there may be still lower centers with which man is in touch only unconsciously?

121. Vậy có thể còn những trung tâm thấp hơn nữa mà con người chỉ tiếp xúc với chúng một cách vô thức chăng?

is one of a peculiar interest, owing to its being the originating centre for three long streams of energy which pass up and down the spinal column.

là một trung tâm đặc biệt đáng quan tâm, do nó là trung tâm khởi nguyên cho ba dòng năng lượng dài đi lên và đi xuống cột sống.

122. We are given a further piece of information about the kundalini energy. One wonders whether these three streams of energy can be long before the purification process has occurred.

122. Chúng ta được cung cấp thêm một mẩu thông tin về năng lượng kundalini. Người ta tự hỏi liệu ba dòng năng lượng này có thể dài trước khi tiến trình thanh lọc xảy ra hay không.

This triple stream of force has most interesting correspondences which can be worked out by the intuitive student.

Dòng mãnh lực tam phân nàydòng mãnh lực tam phân có những tương ứng rất thú vị mà đạo sinh trực giác có thể khai triển.

123. Presumably those correspondences involve the three energy threads which traverse the mental plane and unite the lower triad to the higher triad.

123. Có lẽ những tương ứng ấy liên quan đến ba sợi dây năng lượng đi xuyên cõi trí và hợp nhất tam nguyên thấp với tam nguyên cao.

124. We note that DK calls it a “triple stream of force” and not a triple stream of energy.

124. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK gọi đó là một “dòng mãnh lực tam phân” chứ không phải một dòng năng lượng tam phân.

Some hints may here be given. This channel of threefold energy has itself three points of supreme interest, which (to word it so as to convey sense to the interested) may be regarded as:

Ở đây có thể đưa ra vài gợi ý. Kênh năng lượng tam phân này tự nó có ba điểm đáng quan tâm tối thượng, mà (nói theo cách để truyền đạt ý nghĩa cho người quan tâm) có thể được xem là:

1. The basic centre at the extreme lowest point of the spine.

1. Trung tâm căn bản ở điểm thấp tận cùng của cột sống.

2. The alta major centre at the top of the spine.

2. Trung tâm alta major ở đỉnh cột sống.

3. The supreme head centre.

3. Trung tâm đầu tối thượng.

125. DK seems to be telling us that the triple stream either originates from, passes through or terminates in one or other of these three centers.

125. Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng dòng tam phân ấy hoặc khởi nguồn từ, hoặc đi qua, hoặc chấm dứt ở một trong ba trung tâm này.

126. We note that DK says of the alta major center that it is at the “top of the spine” and not at the ‘bottom of the skull’. Yet for all that, it can be considered as a center found in relation to the head.

126. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói về trung tâm alta major rằng nó ở “đỉnh cột sống” chứ không ở ‘đáy hộp sọ’. Tuy vậy, nó vẫn có thể được xem là một trung tâm được tìm thấy trong liên hệ với đầu.

127. When DK uses the term supreme head center He is hinting that there are centers other than the alta major center which are not supreme. Perhaps there are many. The head is the macrocosm of the remainder of the body and can be expected to have one center found within it or in its vicinity correlated with each of the other centers.

127. Khi Chân sư DK dùng thuật ngữ trung tâm đầu tối thượng Ngài đang gợi ý rằng có những trung tâm khác ngoài trung tâm alta major mà không phải là tối thượng. Có lẽ có nhiều trung tâm như thế. Đầu là đại thiên địa của phần còn lại của thể và có thể được kỳ vọng có một trung tâm nằm trong nó hay gần nó tương quan với mỗi trung tâm khác.

128. One wonders if there is a hint in the word “supreme” indicating the acme of the highest of all centers. We note that the word “supreme” is used twice in the section of text above.

128. Người ta tự hỏi liệu có một gợi ý nào trong từ “tối thượng” chỉ đỉnh cao của trung tâm cao nhất trong mọi trung tâm hay không. Chúng ta lưu ý rằng từ “tối thượng” được dùng hai lần trong phần văn bản trên.

129. One further wonders why the terms “extreme” and “supreme” are featured in this paragraph.

129. Người ta còn tự hỏi thêm vì sao các từ “tận cùng” và “tối thượng” lại được nhấn mạnh trong đoạn này.

It is, therefore, a miniature picture of the whole evolution of spirit and matter for,

Do đó, nó là một bức tranh thu nhỏ của toàn bộ sự tiến hoá của tinh thần và vật chất vì,

1. The lowest centre corresponds to the personality,

1. Trung tâm thấp nhất tương ứng với phàm ngã,

2. The middle centre to the Ego, or the Thinker,

2. Trung tâm giữa tương ứng với chân ngã, hay Đấng Tư Tưởng,

3. The supreme head centre to the Monad.

3. Trung tâm đầu tối thượng tương ứng với chân thần.

130. So the base of the spine center with its four petals corresponds to the fourfold personality. The alta major center (and this is interesting) corresponds to the Ego or Thinker. Usually, it has a third aspect association. The “supreme head centre” predictably corresponds to the Monad.

130. Vậy trung tâm đáy cột sống với bốn cánh hoa của nó tương ứng với phàm ngã tứ phân. Trung tâm alta major (và điều này thật thú vị) tương ứng với chân ngã hay Đấng Tư Tưởng. Thông thường, nó có một liên hệ với phương diện thứ ba. “Trung tâm đầu tối thượng” như có thể dự đoán tương ứng với chân thần.

131. We have noticed that the ajna center has, at various points of evolution, a correspondence with the first, second and third rays. We now note that the alta major center has a correspondence with at least the third and second aspects.

131. Chúng ta đã lưu ý rằng trung tâm ajna, ở những điểm tiến hoá khác nhau, có một tương ứng với cung một, cung hai và cung ba. Giờ đây chúng ta lưu ý rằng trung tâm alta major có một tương ứng với ít nhất phương diện thứ ba và thứ hai.

In the evolution of the fires of the spine, we have a correspondence to the sutratma with its three points of interest, the monadic auric egg, its emitting point, the egoic auric egg, the medial point, and the body or gross form, its lowest point.

Trong sự tiến hoá của các ngọn lửa nơi cột sống, chúng ta có một tương ứng với sutratma với ba điểm đáng quan tâm của nó, noãn hào quang chân thần, điểm phát xạ của nó, noãn hào quang chân ngã, điểm trung gian, và thể hay hình tướng thô nặng, điểm thấp nhất của nó.

132. Here is another fitting correspondence—three fires of the spine are a correspondence to the sutratma (or life thread, which could be conceived as containing the two other threads—the creative thread and the consciousness thread).

132. Đây là một tương ứng thích hợp khác—ba ngọn lửa của cột sống là một tương ứng với sutratma (hay sợi dây sự sống, có thể được quan niệm là chứa hai sợi dây kia—sợi dây sáng tạo và sợi dây tâm thức).

133. We learn, that for practical purposes, the monadic auric egg is considered the “emitting point” of the sutratma. The sutratma passes through the egoic auric egg as a medial point and, fittingly, the body or gross form is the lowest point.

133. Chúng ta học được rằng, cho các mục đích thực tiễn, noãn hào quang chân thần được xem là “điểm phát xạ” của sutratma. Sutratma đi qua noãn hào quang chân ngã như một điểm trung gian, và một cách thích hợp, thể hay hình tướng thô nặng là điểm thấp nhất.

134. Of course, from a superhuman perspective, there is much more to the sutratma than its origin within the monadic auric egg; the Universal Sutratma connects all living B/beings in cosmos.

134. Dĩ nhiên, từ một viễn tượng siêu nhân loại, sutratma còn nhiều hơn rất nhiều so với nguồn gốc của nó bên trong noãn hào quang chân thần; Sutratma Vũ Trụ nối kết mọi B/bản thể sống trong vũ trụ.

Another hint of interest lies in the fact that there exist between these spinal centres, certain gaps (if I may so express it) which have (in the course of evolution) to be bridged by the energetic action of the rapidly growing vibration of the force unit.

Một gợi ý thú vị khác nằm ở sự kiện rằng giữa các trung tâm cột sống này có những khoảng trống nhất định (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy), mà (trong tiến trình tiến hoá) phải được bắt cầu bằng tác động năng động của rung động đang tăng trưởng nhanh chóng của đơn vị lực.

135. These “gaps” are an example of hermetic sealing. They prevent the premature mixing and blending of energies.

135. Những “khoảng trống” này là một ví dụ về sự niêm phong huyền môn. Chúng ngăn cản sự pha trộn và dung hợp các năng lượng một cách non sớm.

136. The entire integrative process, humanly considered, is intended to overcome various gaps between energies and gaps between aspects of consciousness. Premature mixing will lead to confusion, disorganization and disintegration.

136. Toàn bộ tiến trình tích hợp, xét theo phương diện con người, nhằm vượt qua các khoảng trống khác nhau giữa các năng lượng và các khoảng trống giữa các phương diện của tâm thức. Sự pha trộn non sớm sẽ dẫn đến hỗn loạn, vô tổ chức và tan rã.

Between the triple energy of the spinal column and the alta major centre, there is a hiatus,

Giữa năng lượng tam phân của cột sống và trung tâm alta major có một khoảng gián cách,

137. The alta major center may be at the top of the spinal column, but this reference seems to locate it at the base of the skull towards which the energy rising in the spinal column must reach.

137. Trung tâm alta major có thể ở đỉnh cột sống, nhưng chỗ nói này dường như đặt nó ở đáy sọ, là nơi mà năng lượng dâng lên trong cột sống phải vươn tới.

just as there exists that which must be bridged between the triple lower man and the egoic body,

cũng như có một điều phải được bắt cầu giữa phàm ngã tam phân và thể chân ngã,

138. This is a hiatus which is not so often considered as the one existing between the mental unit and the manasic permanent atom.

138. Đây là một khoảng gián cách không thường được xét đến bằng khoảng gián cách hiện hữu giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas.

139. This hiatus (between the lower man and the egoic body) is represented on charts by the dotted line separating the lower and higher mental planes.

139. Khoảng gián cách này (giữa phàm nhân và thể chân ngã) được biểu thị trên các biểu đồ bằng đường chấm phân cách cõi hạ trí và Cõi thượng trí.

140. The presence of this hiatus accounts for the fact that the aspiring man cannot (immediately) achieve soul consciousness by desiring and willing to do so.

140. Sự hiện diện của khoảng gián cách này giải thích vì sao người chí nguyện không thể (ngay lập tức) đạt được tâm thức linh hồn chỉ bằng cách mong muốn và quyết chí làm như vậy.

or between the mental unit on the fourth subplane of the mental plane and the solar Angel on the third subplane.

hoặc giữa đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí và Thái dương Thiên Thần trên cõi phụ thứ ba.

141. This is another way of expressing the same “gap”. The mental unit is part of man’s personality and is the center around which he integrates his personality. The Solar Angel focuses either on the third subplane or the second and these two spheres of activity (lower mental and higher mental) are, at first, not interpenetrating. At least we should say that the lower man cannot with facility embrace the sphere of activity of the Solar Angel, though the Solar Angel has already, long ago, stimulated the mental unit and can be aware of the content of mind of the lower man.

141. Đây là một cách khác để diễn đạt cùng một “khoảng trống”. Đơn vị hạ trí là một phần của phàm ngã con người và là trung tâm quanh đó y tích hợp phàm ngã của mình. Thái dương Thiên Thần tập trung hoặc trên cõi phụ thứ ba hoặc thứ hai, và hai khối cầu hoạt động này (hạ trí và thượng trí) lúc đầu không xuyên nhập lẫn nhau. Ít nhất chúng ta nên nói rằng phàm nhân không thể dễ dàng bao quát khối cầu hoạt động của Thái dương Thiên Thần, mặc dù Thái dương Thiên Thần từ lâu đã kích thích đơn vị hạ trí và có thể nhận biết nội dung trí tuệ của phàm nhân.

Though we are told that the permanent atomic triad is enclosed in the [Page 1160] causal periphery, nevertheless, from the standpoint of consciousness there is that which must be bridged.

Mặc dù chúng ta được cho biết rằng tam nguyên nguyên tử trường tồn được bao bọc trong [Page 1160] chu vi nhân thể, tuy nhiên, từ quan điểm của tâm thức vẫn có điều phải được bắt cầu.

142. It is important to realize that the “permanent atomic triad” is, indeed, enclosed within the causal periphery. This is an energic fact— though it is not initially a fact in consciousness for the man focussed in his personality consciousness.

142. Điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng “tam nguyên nguyên tử trường tồn” quả thực được bao bọc bên trong chu vi nhân thể. Đây là một sự kiện— xét về năng lượng, dù ban đầu nó không phải là một sự kiện trong tâm thức đối với người tập trung trong tâm thức phàm ngã của mình.

143. Thus we see that the fact of enclosure does not guarantee facile communication between that which is enclosed and that which has enclosed it.

143. Như vậy chúng ta thấy rằng sự kiện được bao bọc không bảo đảm sự giao thông dễ dàng giữa cái được bao bọc và cái đã bao bọc nó.

Again, between the alta major centre and the supreme head centre, exists another gulf—a correspondence to the gulf found between the plane of the Ego and the lowest point of the Triad, the manasic permanent atom.

Một lần nữa, giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao lại có một vực ngăn khác—một tương ứng với vực ngăn được tìm thấy giữa cõi của chân ngã và điểm thấp nhất của Tam nguyên tinh thần, tức nguyên tử trường tồn manas.

144. This is a most important statement. We now see why the circulation between the three major centers related to the head is not readily accomplished. The gap between the alta major center and the supreme head center is like the gap existing between humanity and Shamballa.

144. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Giờ đây chúng ta thấy vì sao sự tuần hoàn giữa ba trung tâm chính liên hệ với đầu không dễ dàng được hoàn thành. Khoảng trống giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao giống như khoảng trống hiện hữu giữa nhân loại và Shamballa.

145. One wonders then—if the alta major center is to be associated with the Ego (as here and heretofore stated), then is the fourfold ajna center to be associated with the fourfold mental unit? The numbering is correct. Usually within this triangle associated with the head, the ajna center represents the second aspect of divinity and the alta major center the third aspect, but there seems to be a reversal in this presentation.

145. Khi ấy người ta tự hỏi—nếu trung tâm alta major được liên kết với chân ngã (như ở đây và trước đó đã nói), thì trung tâm ajna tứ phân có được liên kết với đơn vị hạ trí tứ phân chăng? Cách đánh số là đúng. Thông thường trong tam giác liên hệ với đầu này, trung tâm ajna biểu thị phương diện thứ hai của thiên tính và trung tâm alta major biểu thị phương diện thứ ba, nhưng dường như có một sự đảo ngược trong cách trình bày này.

146. In TCF, Chart IX, 823, we see that the antahkarana is threefold. There is a relationship existing between the mental unit and the egoic lotus; there is a relationship existing between the mental unit and the manasic permanent atom; there is also another relationship existing between the egoic lotus and the manasic permanent atom. This last relationship is the one we are discussing in the section of text immediately above.

146. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, Biểu đồ IX, trang 823, chúng ta thấy antahkarana là tam phân. Có một mối liên hệ hiện hữu giữa đơn vị hạ trí và Hoa Sen Chân Ngã; có một mối liên hệ hiện hữu giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas; cũng có một mối liên hệ khác hiện hữu giữa Hoa Sen Chân Ngã và nguyên tử trường tồn manas. Mối liên hệ sau cùng này là điều chúng ta đang bàn đến trong phần văn bản ngay bên trên.

147. There is no question but that the gulf between the Ego and the manasic permanent atom must be bridged and when it is, the gulf, in the head, between the alta major center and the supreme head center will also be bridged. To bridge the gulf between the Ego and the manasic permanent atom is to bridge the gulf between the Ego on the higher mental plane and the spiritual triad.

147. Không còn nghi ngờ gì rằng vực ngăn giữa chân ngã và nguyên tử trường tồn manas phải được bắt cầu, và khi điều đó xảy ra, vực ngăn trong đầu, giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao, cũng sẽ được bắt cầu. Bắt cầu vực ngăn giữa chân ngã và nguyên tử trường tồn manas là bắt cầu vực ngăn giữa chân ngã trên Cõi thượng trí và Tam Nguyên Tinh Thần.

148. The threefold antahkarana as shown on TCF, 823, will be completed in satisfactory measure at the third initiation.

148. Antahkarana tam phân như được trình bày trong Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 823, sẽ được hoàn tất ở mức thỏa đáng vào lần điểm đạo thứ ba.

149. Note this piece of information because it is indispensable for understanding the circulation of energy within the major triangle associated with the head.

149. Hãy lưu ý mẩu thông tin này vì nó không thể thiếu để hiểu sự tuần hoàn năng lượng bên trong tam giác chính liên hệ với đầu.

When man has constructed the antaskarana (which he does during the final stages of his evolution in the three worlds) that gulf is bridged and the Monad and the Ego are closely linked.

Khi con người đã xây dựng antaskarana (điều mà y thực hiện trong các giai đoạn cuối của tiến hoá của mình trong ba cõi giới), thì vực ngăn ấy được bắt cầu và chân thần cùng chân ngã được liên kết chặt chẽ.

150. The Monad is linked to the Ego via the spiritual triad but also directly from the “Monadic Jewel" to the "Jewel in the Lotus" within the Ego.

150. Chân thần được liên kết với chân ngã qua Tam Nguyên Tinh Thần, nhưng cũng trực tiếp từ “Bảo Châu Chân Thần” đến “Bảo Châu trong Hoa Sen” bên trong chân ngã.

151. From one point of view the alta major center is the symbol of the personality and the relationship between the supreme head center and the alta major center is like the relationship in astrology between the Sun-sign (alta major center) and the point opposite the Sun-sign—the supreme head center.

151. Từ một quan điểm, trung tâm alta major là biểu tượng của phàm ngã, và mối liên hệ giữa trung tâm đầu tối cao và trung tâm alta major giống như mối liên hệ trong chiêm tinh học giữa dấu hiệu Mặt Trời (trung tâm alta major) và điểm đối diện với dấu hiệu Mặt Trời—trung tâm đầu tối cao.

152. All this tells us that as we work to link the mental unit via the antahkarana to the manasic permanent atom, thus relating the lower and higher triads, we are linking the Monad with the personality and are facilitating the linkage not only of the mental unit with the spiritual triad, but of the Ego with the manasic permanent atom (and, hence, with the lower point of the spiritual triad)!

152. Tất cả điều này cho chúng ta biết rằng khi chúng ta làm việc để liên kết đơn vị hạ trí qua antahkarana với nguyên tử trường tồn manas, nhờ đó liên hệ tam nguyên thấp với Tam Nguyên Tinh Thần, thì chúng ta đang liên kết chân thần với phàm ngã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho sự liên kết không chỉ của đơn vị hạ trí với Tam Nguyên Tinh Thần, mà còn của chân ngã với nguyên tử trường tồn manas (và do đó với điểm thấp của Tam Nguyên Tinh Thần)!

153. DK is also hinting that at the third initiation when the antahkarana is completed (in its first phase, that is) the Monad, the Ego and personality are also linked.

153. Chân sư DK cũng đang gợi ý rằng vào lần điểm đạo thứ ba, khi antahkarana được hoàn tất (nghĩa là trong giai đoạn đầu tiên của nó), chân thần, chân ngã và phàm ngã cũng được liên kết.

When man is polarised in his mental body, he begins to bridge the antaskarana.

Khi con người phân cực trong thể trí của mình, y bắt đầu bắt cầu antaskarana.

154. Is the achievement of “mental polarization” the same as becoming “polarised in his mental body”? If so, this means that the bridging process known as building the antahkarana can only occur truly after the second initiation, because mental polarization only occurs midway between the second and third initiations.

154. Thành tựu “sự phân cực trí tuệ” có phải cũng là trở nên “phân cực trong thể trí của mình” không? Nếu vậy, điều này có nghĩa là tiến trình bắt cầu được biết như việc xây dựng antahkarana chỉ thực sự có thể xảy ra sau lần điểm đạo thứ hai, bởi vì sự phân cực trí tuệ chỉ xảy ra ở điểm giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba.

155. Perhaps that moment which occurs between the second and third initiation should be called full or complete mental polarization.

155. Có lẽ khoảnh khắc xảy ra giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba nên được gọi là sự phân cực trí tuệ trọn vẹn hay hoàn toàn.

When the centre between the shoulder blades, referred to earlier in thisTreatise as the manasic centre,

Khi trung tâm giữa hai bả vai, được nói đến trước đây trong bộ Luận này như là trung tâm manas,

156. We must note that the form of words “manasic centre” is only used once— at this point in the text. (I am trying to find the previous reference which does not include the words “manasic centre”)

156. Chúng ta phải lưu ý rằng dạng từ “trung tâm manas” chỉ được dùng một lần— ngay tại điểm này trong văn bản. (Tôi đang cố tìm chỗ nhắc trước đó mà không bao gồm các từ “trung tâm manas”)

157. This “manasic centre” is clearly not the heart center. We could also wonder whether the “manasic center” is the same as the highest point in the pranic triangle located in the lower region between the shoulder blades. Whether or not it is the same as this highest point in the pranic triangle, we realize that it, too, is between the shoulder blades.

157. “Trung tâm manas” này rõ ràng không phải là trung tâm tim. Chúng ta cũng có thể tự hỏi liệu “trung tâm manas” có phải là cùng một trung tâm với điểm cao nhất trong tam giác prana nằm ở vùng thấp hơn giữa hai bả vai hay không. Dù có hay không là cùng một điểm cao nhất trong tam giác prana này, chúng ta nhận ra rằng nó cũng nằm giữa hai bả vai.

158. If we think about this carefully, we realize that there is a possibility of three centers between the shoulder blades:

158. Nếu suy nghĩ cẩn thận về điều này, chúng ta nhận ra rằng có khả năng có ba trung tâm giữa hai bả vai:

a. The highest pranic center, at the lowest possible position between the shoulder blades

a. Trung tâm prana cao nhất, ở vị trí thấp nhất có thể giữa hai bả vai

b. The heart center at the midway point between the shoulder blades

b. Trung tâm tim ở điểm giữa giữa hai bả vai

c. A “manasic center” which may be inferred to be still between the shoulder blades but in a position higher than the heart center.

c. Một “trung tâm manas” có thể được suy ra là vẫn nằm giữa hai bả vai nhưng ở vị trí cao hơn trung tâm tim.

is vibrating forcefully, then the alta major centre and the head centre, via the throat centre can be united.

đang rung động mạnh mẽ, thì trung tâm alta major và trung tâm đầu, qua trung tâm cổ họng, có thể được hợp nhất.

159. It should be noted that the alta major center is placed in a higher position than the throat center. This is significant.

159. Cần lưu ý rằng trung tâm alta major được đặt ở vị trí cao hơn trung tâm cổ họng. Điều này có ý nghĩa.

160. In the Fifth Ray Formula for uniting the man with the "Angel of the Presence", we have what may be another hint concerning this “manasic centre”:

160. Trong Công thức Cung năm để hợp nhất con người với “Thiên Thần của Hiện Diện”, chúng ta có điều có thể là một gợi ý khác liên quan đến “trung tâm manas” này:

“The light that radiates from the heart, the throat, and from the centre which stands midway meet and merge.” (EP II 47)

“Ánh sáng phát ra từ tim, cổ họng, và từ trung tâm đứng ở giữa gặp nhau và hòa nhập.” (EP II 47)

161. The fifth ray is a highly manasic ray and we are dealing with a “manasic centre” which may be found between the throat center and the heart center.

161. Cung năm là một cung rất manas, và chúng ta đang bàn đến một “trung tâm manas” có thể được tìm thấy giữa trung tâm cổ họng và trung tâm tim.

162. The following reference (very obscure) will have to be correlated:

162. Chỗ dẫn sau đây (rất tối nghĩa) sẽ phải được đối chiếu tương quan:

The significance of the four circles in the egoic lotus, and the eight circles of twelve petals each in the etheric lotuses on the mental plane is of great importance. (TCF 861)

Ý nghĩa của bốn vòng tròn trong Hoa Sen Chân Ngã, và tám vòng tròn mỗi vòng có mười hai cánh hoa trong các hoa sen dĩ thái trên cõi trí là điều hết sức quan trọng. (TCF 861)

163. In some systems of Laya Yoga, the alta major center is said to have 96 petals. 8 x 12 = 96. There may be a correlation between the alta major center and the eight circles of twelve petals each to be found on the mental plane.

163. Trong một số hệ thống Laya Yoga, trung tâm alta major được nói là có 96 cánh hoa. 8 x 12 = 96. Có thể có một sự tương quan giữa trung tâm alta major và tám vòng tròn mỗi vòng có mười hai cánh hoa được tìm thấy trên cõi trí.

164. We have still more hints.

164. Chúng ta còn có thêm nhiều gợi ý nữa.

165. The “center between the shoulder blades” is not the heart center. Our question: is it the highest point in the pranic triangle or a center still higher than the heart center and associated with the lungs. And does it have eight petals, suggesting the influence of Mercury?

165. “Trung tâm giữa hai bả vai” không phải là trung tâm tim. Câu hỏi của chúng ta là: nó có phải là điểm cao nhất trong tam giác prana hay là một trung tâm còn cao hơn trung tâm tim và liên hệ với phổi? Và nó có tám cánh hoa chăng, gợi ý ảnh hưởng của Sao Thủy?

166. We have an alignment between the center between the shoulder blades, the throat center, the alta major center and the supreme head center.

166. Chúng ta có một sự chỉnh hợp giữa trung tâm giữa hai bả vai, trung tâm cổ họng, trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao.

167. We have a series of dependencies:

167. Chúng ta có một chuỗi các sự tùy thuộc:

a. The link between the Ego and the manasic permanent atom is dependent upon

a. Sự liên kết giữa chân ngã và nguyên tử trường tồn manas tùy thuộc vào

b. The link between the alta major center and the supreme head center, which is dependent upon…

b. Sự liên kết giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao, mà điều này lại tùy thuộc vào…

c. A link of a certain intensity between the throat center and the alta major center, which is dependent upon…

c. Một sự liên kết có cường độ nhất định giữa trung tâm cổ họng và trung tâm alta major, mà điều này lại tùy thuộc vào…

d. The forceful vibration of the center between the shoulder blades—here called the “manasic centre”.

d. Sự rung động mạnh mẽ của trung tâm giữa hai bả vai—ở đây được gọi là “trung tâm manas”.

Man, when he reaches this stage, is a creator in mental matter of a calibre different from the unconsciously working average man.

Con người, khi đạt đến giai đoạn này, là một đấng sáng tạo trong chất liệu trí tuệ với một tầm mức khác hẳn con người trung bình hoạt động một cách vô thức.

168. Here we have the chakric formula for a mental creator

168. Ở đây chúng ta có công thức luân xa dành cho một đấng sáng tạo trí tuệ

He constructs in unison with the plan

Y kiến tạo trong sự đồng nhất với Thiên Cơ

169. The man obeys the following injunction: “The energy of thought is for the good of all and the furtherance of thee Plan of God. Use it not, therefore, for they selfish ends.” (TWM 473)

169. Con người tuân theo mệnh lệnh sau đây: “Năng lượng của tư tưởng là vì lợi ích của tất cả và vì sự thúc đẩy Thiên Cơ của Thượng đế. Vì vậy, đừng dùng nó cho những mục đích ích kỷ của bạn.” (TWM 473)

170. We remember that the Divine Plan is formulated on the atmic plane.

170. Chúng ta nhớ rằng Thiên Cơ được hoạch định trên cõi atma.

and the divine Manasaputra, the Son of Mind, will turn his attention from being a Son of Power in the three worlds

và Manasaputra thiêng liêng, Con của Trí Tuệ, sẽ chuyển sự chú ý của mình khỏi việc là một Con của Quyền năng trong ba cõi giới

171. Is DK speaking of the human being as an Ego (a Divine Manasaputra or Son of Mind) or is He speaking of a Solar Angel?

171. Chân sư DK đang nói về con người như một chân ngã (một Manasaputra Thiêng liêng hay Con của Trí Tuệ) hay Ngài đang nói về một Thái dương Thiên Thần?

172. The “Son of Mind” is a great power in the lower worlds. This power is meant to dominate all that transpires in the lower worlds.

172. “Con của Trí Tuệ” là một quyền năng lớn trong các cõi thấp. Quyền năng này được định để chi phối mọi điều diễn ra trong các cõi thấp.

and centre his attention in the Spiritual Triad, thus recapitulating on a higher turn of the spiral, the work he earlier did as man.

và tập trung sự chú ý của mình vào Tam Nguyên Tinh Thần, nhờ đó lặp lại, trên một vòng xoắn cao hơn, công việc mà trước đây y đã làm với tư cách con người.

173. If one thinks carefully about this, we have a very strange statement. We could be speaking of the reorientation of the Solar Angel, but then the Solar Angel already is polarized, minimally, within the spiritual triad and has no need to turn his attention thither. Perhaps, however, we are speaking of the time when the service-mission of the Solar Angel is completed, and it can refocus entirely upon the cosmic etheric planes without attending to the affairs of the human being in the three lower worlds which it has had under supervision.

173. Nếu suy nghĩ cẩn thận về điều này, chúng ta có một phát biểu rất lạ. Chúng ta có thể đang nói về sự tái định hướng của Thái dương Thiên Thần, nhưng khi ấy Thái dương Thiên Thần đã phân cực, ít nhất là tối thiểu, trong Tam Nguyên Tinh Thần và không cần phải chuyển sự chú ý của mình về đó. Tuy nhiên, có lẽ chúng ta đang nói về thời điểm khi sứ mệnh phụng sự của Thái dương Thiên Thần được hoàn tất, và nó có thể tái tập trung hoàn toàn vào các cõi dĩ thái vũ trụ mà không còn phải lưu tâm đến các công việc của con người trong ba cõi thấp mà nó đã giám sát.

174. This refocusing is followed at the point of the fourth initiation by the return of the Solar Angel to the Heart of the Sun or the Central Spiritual Sun.

174. Sự tái tập trung này được tiếp nối, tại điểm của lần điểm đạo thứ tư, bằng sự trở về của Thái dương Thiên Thần vào Trái Tim Mặt Trời hay Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

175. So the question is: is the Divine Manasaputra or Son of Mind a man or a Solar Angel?

175. Vậy câu hỏi là: Manasaputra Thiêng liêng hay Con của Trí Tuệ là một con người hay một Thái dương Thiên Thần?

176. If a man, then we are speaking about a reorientation of the man from the fourth kingdom of nature into the fifth, which is accomplished by learning to build the antahkarana and center consciousness within the spiritual triad. A higher initiate can do this—an initiate of the third, fourth or fifth degree.

176. Nếu là một con người, thì chúng ta đang nói về sự tái định hướng của con người từ giới thứ tư của bản chất vào giới thứ năm, điều này được hoàn thành bằng cách học xây dựng antahkarana và tập trung tâm thức trong Tam Nguyên Tinh Thần. Một điểm đạo đồ cao cấp có thể làm được điều này—một điểm đạo đồ bậc ba, bốn hoặc năm.

177. We see that if the earlier state was the state of “man”, then the “Son of Mind” or “Divine Manasaputra” cannot be considered to be ‘man-as-man’, but rather the Jiva, who is the extension-into-matter of the Monad. This Jiva is that which, on the higher mental plane, can be considered the “Ego” in distinction from the Solar Angel or “returning Nirvani”.

177. Chúng ta thấy rằng nếu trạng thái trước đó là trạng thái của “con người”, thì “Con của Trí Tuệ” hay “Manasaputra Thiêng liêng” không thể được xem là ‘con người-với-tư-cách-con-người’, mà đúng hơn là Jiva, tức sự mở rộng-vào-vật-chất của chân thần. Jiva này là điều mà trên Cõi thượng trí có thể được xem là “chân ngã”, phân biệt với Thái dương Thiên Thần hay “nirvani hồi quy”.

178. The true man is “mind-born” which is the meaning of Manasaputra. The Solar Angel is also “mind-born” but the Monad that sends it forth is more highly ‘positioned’ than is the Monad of man.

178. Con người đích thực là “được sinh ra từ trí tuệ”, đó là ý nghĩa của Manasaputra. Thái dương Thiên Thần cũng “được sinh ra từ trí tuệ”, nhưng chân thần phát xuất nó có vị thế cao hơn chân thần của con người.

179. There is quite a distinction between ‘man-as-Ego’ and the ‘Solar Angel-as-Ego’. Both are needed to make the Ego as it appears on the higher mental plane, but the Solar Angel is no longer needed to participate in the Ego when that Ego appears as the spiritual triad and, later, as the Monad.

179. Có một sự phân biệt khá rõ giữa ‘con người-với-tư-cách-chân-ngã’ và ‘Thái dương Thiên Thần-với-tư-cách-chân-ngã’. Cả hai đều cần thiết để tạo nên chân ngã như nó xuất hiện trên Cõi thượng trí, nhưng Thái dương Thiên Thần không còn cần thiết để tham dự vào chân ngã khi chân ngã ấy xuất hiện như Tam Nguyên Tinh Thần và về sau như chân thần.

This becomes possible when the growth of the triangle just above dealt with (base of spine, alta major centre and throat, as they unify in the head) is paralleled by another triplicity, the solar plexus, the heart and the third eye; the energy merging through them is similarly unified in the same head centre.

Điều này trở nên khả hữu khi sự tăng trưởng của tam giác vừa được bàn ở trên (đáy cột sống, trung tâm alta major và cổ họng, khi chúng hợp nhất trong đầu) được song hành bởi một bộ ba khác, là tùng thái dương, tim và con mắt thứ ba; năng lượng dung hợp qua chúng cũng được hợp nhất tương tự trong cùng trung tâm đầu ấy.

180. We are speaking of two unifications in the supreme head center:

180. Chúng ta đang nói đến hai sự hợp nhất trong trung tâm đầu tối cao:

a. The base of the spine, alta major center and throat center are unified in the supreme head center

a. Đáy cột sống, trung tâm alta major và trung tâm cổ họng được hợp nhất trong trung tâm đầu tối cao

b. The solar plexus, the heart center and third eye are also unified in the supreme head center.

b. Tùng thái dương, trung tâm tim và con mắt thứ ba cũng được hợp nhất trong trung tâm đầu tối cao.

c. We seem to be dealing with the merging of two ‘lines’—a ‘hard line’ and a ‘soft line’.

c. Dường như chúng ta đang bàn đến sự dung hợp của hai ‘đường’—một ‘đường cứng’ và một ‘đường mềm’.

d. Let us tabulate the centers involved: base of the spine; solar plexus, heart center, throat center, alta major center, third cosmic ether, supreme head center. We note that the third eye is, in this enumeration, considered an etheric center: it is a magnetized area in the center of the etheric brain.

d. Chúng ta hãy lập bảng các trung tâm liên quan: đáy cột sống; tùng thái dương, trung tâm tim, trung tâm cổ họng, trung tâm alta major, dĩ thái vũ trụ thứ ba, trung tâm đầu tối cao. Chúng ta lưu ý rằng con mắt thứ ba, trong sự liệt kê này, được xem là một trung tâm dĩ thái: nó là một vùng bị từ hóa trong trung tâm của bộ não dĩ thái.

e. To be complete we must also include the “manasic centre”, in which case eight centers will be involved in the alignment uniting the base of the spine center with the supreme head center.

e. Để đầy đủ, chúng ta cũng phải bao gồm “trung tâm manas”, trong trường hợp ấy sẽ có tám trung tâm tham gia vào sự chỉnh hợp hợp nhất trung tâm đáy cột sống với trung tâm đầu tối cao.

f. If we included the “manasic centre” we would have seven merging into one making eight altogether.

f. Nếu chúng ta bao gồm “trung tâm manas” thì sẽ có bảy trung tâm dung nhập vào một, thành tám tất cả.

181. I think we can begin to sense the depth of the occultism here under discussion.

181. Tôi nghĩ chúng ta có thể bắt đầu cảm nhận được chiều sâu của huyền bí học đang được bàn đến ở đây.