← Commentary_S9_1078_1194_song ngữ

S9S10 Part I

Trích nội dung chương

126. Which logoic centers are these? The Earth is commonly associated with the base of the spine center. The Logos of Saturn, we have just seen, is the correspondence to the logoic throat center. Which, then is the correspondence to the alta major center—could it be Pluto, as a sort of base of the spine center in the head? 126. Những trung tâm logoic này là những trung tâm nào? Trái Đất thường được liên kết với trung tâm đáy cột sống. Như chúng ta vừa thấy, Logos của Sao Thổ là tương ứng với trung tâm cổ họng logoic. Vậy thì trung tâm nào là tương ứng với trung tâm alta major—có thể là Sao Diêm Vương chăng, như một loại trung tâm đáy cột…


126. Which logoic centers are these? The Earth is commonly associated with the base of the spine center. The Logos of Saturn, we have just seen, is the correspondence to the logoic throat center. Which, then is the correspondence to the alta major center—could it be Pluto, as a sort of base of the spine center in the head?

126. Những trung tâm logoic này là những trung tâm nào? Trái Đất thường được liên kết với trung tâm đáy cột sống. Như chúng ta vừa thấy, Logos của Sao Thổ là tương ứng với trung tâm cổ họng logoic. Vậy thì trung tâm nào là tương ứng với trung tâm alta major—có thể là Sao Diêm Vương chăng, như một loại trung tâm đáy cột sống trong đầu?

Here it must be pointed out that there are three planetary schemes which [1164] hold a place analogous to that held by the pineal gland, the pituitary body, and the alta major centre, but they are not the schemes referred to as centres, or known to us as informed by planetary Logoi.

Ở đây cần phải chỉ ra rằng có ba hệ hành tinh mà [Page 1164]giữ một vị trí tương tự như vị trí của tuyến tùng, thể tuyến yên và trung tâm alta major, nhưng chúng không phải là các hệ được nói đến như những trung tâm, hay được chúng ta biết đến như được các Hành Tinh Thượng Đế thấm nhuần.

127. We can sense the presence of an occult blind. Who is “us”? Is “us” the Members of the Spiritual Hierarchy? Or is “us” humanity, which simply does not yet know enough to understand what type of Planetary Logoi could be associated with such centers?

127. Chúng ta có thể cảm nhận sự hiện diện của một bức màn huyền bí. “Chúng ta” là ai? “Chúng ta” là các Thành viên của Thánh đoàn tinh thần chăng? Hay “chúng ta” là nhân loại, vốn đơn giản là chưa biết đủ để hiểu loại Hành Tinh Thượng Đế nào có thể được liên kết với những trung tâm như thế?

128. When we speak of dense precipitations such as glands or “bodies” (pituitary body), the type of Logoi associated with them (IF Planetary Logoi are associated with them) seem not to be the same as those Planetary Logoi associated with the etheric centers.

128. Khi chúng ta nói đến những sự ngưng tụ đậm đặc như các tuyến hay “thể” (thể tuyến yên), loại Logoi liên kết với chúng (NẾU các Hành Tinh Thượng Đế quả thật được liên kết với chúng) dường như không giống với những Hành Tinh Thượng Đế liên kết với các trung tâm dĩ thái.

129. Can there be planetary schemes which are not informed by Planetary Logoi? It would seem not. Perhaps, DK is simply indicating that we (humanity) are ignorant of which Planetary Logoi and which type of Planetary Logoi inform such apparently lesser systemic centers.

129. Có thể có những hệ hành tinh không được các Hành Tinh Thượng Đế thấm nhuần chăng? Có vẻ là không. Có lẽ Chân sư DK chỉ đang chỉ ra rằng chúng ta (nhân loại) không biết những Hành Tinh Thượng Đế nào và loại Hành Tinh Thượng Đế nào thấm nhuần những trung tâm hệ thống có vẻ thấp hơn như thế.

130. There are many types of Logoi in our solar system, and many unknown Planetary Logoi. At the time that this book was written, Pluto, for instance, had not be discovered.

130. Có nhiều loại Logoi trong hệ mặt trời của chúng ta, và nhiều Hành Tinh Thượng Đế chưa được biết đến. Vào thời điểm cuốn sách này được viết, chẳng hạn, Sao Diêm Vương vẫn chưa được khám phá.

131. The principle is that glands and “bodies” are of lesser status than etheric centers, and, accordingly, the type of Logoi to be associated with them are of lesser status than the Planetary Logoi associated with etheric centers.

131. Nguyên tắc là các tuyến và “thể” có địa vị thấp hơn các trung tâm dĩ thái, và theo đó, loại Logoi được liên kết với chúng có địa vị thấp hơn các Hành Tinh Thượng Đế liên kết với các trung tâm dĩ thái.

Certain of the planetoids

Một số tiểu hành tinh

132. But not all…

132. Nhưng không phải tất cả…

have their place here,

có vị trí của chúng ở đây,

133. Perhaps as analogues of the endocrine glands in the human energy system…

133. Có lẽ như những tương tự với các tuyến nội tiết trong hệ thống năng lượng của con người…

134. We must ask, however, the nature of the Lives informing the planetoids. If they are not called “Planetary Logoi”, what are they called? Are they in some way lesser Planetary Logoi? Yet, it is not probable that they will be Chain-Lords as Chain-Lords are the chakras of the Planetary Logoi who express through planetary schemes.

134. Tuy nhiên, chúng ta phải hỏi về bản chất của các Sự Sống thấm nhuần các tiểu hành tinh. Nếu chúng không được gọi là “Hành Tinh Thượng Đế”, thì chúng được gọi là gì? Có phải theo một cách nào đó chúng là những Hành Tinh Thượng Đế thấp hơn không? Tuy vậy, không có khả năng chúng là các Chúa Tể Dãy vì các Chúa Tể Dãy là các luân xa của các Hành Tinh Thượng Đế biểu lộ qua các hệ hành tinh.

135. Are planetoids to be considered as associated with a planet (for instance, the moons of certain planets), or are planetoids bodies which like the greater planets have their orbit around the Sun?

135. Có nên xem các tiểu hành tinh là được liên kết với một hành tinh nào đó (chẳng hạn, các mặt trăng của một số hành tinh), hay các tiểu hành tinh là những thiên thể mà giống như các hành tinh lớn hơn, có quỹ đạo quanh Mặt Trời?

136. What human astronomers call “moons”, DK could regard as planetoids. Yet it may be, after all, that planetoids have their own orbit around the Sun whereas moons orbit around the planet with which they are in closest association. This is perhaps the distinction between them.

136. Điều mà các nhà thiên văn học gọi là “mặt trăng”, Chân sư DK có thể xem là các tiểu hành tinh. Tuy nhiên, rốt cuộc cũng có thể là các tiểu hành tinh có quỹ đạo riêng quanh Mặt Trời, trong khi các mặt trăng quay quanh hành tinh mà chúng liên kết gần gũi nhất. Có lẽ đó là sự phân biệt giữa chúng.

and one scheme which has passed out of activity, and is in a condition of quiescence and nonactivity.

và một hệ đã ra khỏi hoạt động, và đang ở trong trạng thái tĩnh lặng và bất hoạt.

137. This does not mean that it has passed out of manifestation entirely. This scheme may be one of those which we recognize as a planet.

137. Điều này không có nghĩa là nó đã hoàn toàn ra khỏi sự biểu hiện. Hệ này có thể là một trong những hệ mà chúng ta nhận biết như một hành tinh.

138. This scheme is probably not Mars, but we are told that it is in a state of quiescence.

138. Hệ này có lẽ không phải là Sao Hỏa, nhưng chúng ta được cho biết rằng nó ở trong trạng thái tĩnh lặng.

139. Of interest is the fact that for most human beings, the pineal gland is in a state of relative quiescence of inactivity.

139. Điều đáng chú ý là đối với phần lớn con người, tuyến tùng ở trong trạng thái tương đối tĩnh lặng hay bất hoạt.

140. One is forced to consider the history of the planet Vulcan. Was Vulcan in the past more active? Has it passed out of activity? Will it return to greater activity? One can find a number of convincing associations relating the function of Vulcan to the function of the third eye.

140. Người ta buộc phải xét đến lịch sử của hành tinh Vulcan. Trong quá khứ Vulcan có hoạt động mạnh hơn chăng? Nó đã ra khỏi hoạt động chăng? Nó sẽ trở lại hoạt động mạnh hơn chăng? Người ta có thể tìm thấy một số liên hệ khá thuyết phục nối chức năng của Vulcan với chức năng của con mắt thứ ba.

This latter scheme is the correspondence in the logoic body to the atrophied third eye in the fourth kingdom of nature.

Hệ sau này là tương ứng trong thể logoic với con mắt thứ ba bị teo đi trong giới thứ tư của thiên nhiên.

141. Yes, exactly. Of course the real third eye is etheric in nature. It is not correct to call the pineal gland (a dense physical structure) the “third eye”.

141. Vâng, chính xác là như vậy. Dĩ nhiên con mắt thứ ba thực sự có bản chất dĩ thái. Không đúng khi gọi tuyến tùng (một cấu trúc hồng trần đậm đặc) là “con mắt thứ ba”.

142. We should not consider that this scheme will be unimportant, even though in a state of quiescence. The third eye is a very important etheric/magnetic field within the human energy system, and, therefore, the scheme in question may be proven to be of quite some importance.

142. Chúng ta không nên cho rằng hệ này sẽ không quan trọng, dù đang ở trong trạng thái tĩnh lặng. Con mắt thứ ba là một trường dĩ thái/từ tính rất quan trọng trong hệ thống năng lượng của con người, và vì vậy hệ đang được nói đến có thể được chứng minh là có tầm quan trọng đáng kể.

When man has developed etheric vision and thus has expanded his range of vision, he will become aware of these facts, for he will see.

Khi con người đã phát triển linh thị dĩ thái và nhờ đó đã mở rộng phạm vi tầm nhìn của mình, y sẽ nhận biết những sự kiện này, vì y sẽ thấy.

143. When we speak of a scheme which has passed out of activity, does it then mean that it has also passed out of dense physicality? This statement immediately above seems to direct our thought to strictly etheric centers—i.e., planetary schemes which have no dense physical body.

143. Khi chúng ta nói về một hệ đã ra khỏi hoạt động, vậy điều đó có nghĩa là nó cũng đã ra khỏi trạng thái hồng trần đậm đặc chăng? Phát biểu ngay bên trên này dường như hướng tư tưởng của chúng ta đến những trung tâm hoàn toàn dĩ thái —tức là những hệ hành tinh không có thể xác đậm đặc.

Many planetary schemes which are found only in etheric matter will be revealed to his astonished gaze,

Nhiều hệ hành tinh chỉ được tìm thấy trong vật chất dĩ thái sẽ được phơi bày trước ánh nhìn kinh ngạc của y,

144. Perhaps, then, the scheme which stands for the third eye of the Logos is to be found only in etheric matter.

144. Vậy thì có lẽ hệ tượng trưng cho con mắt thứ ba của Logos chỉ được tìm thấy trong vật chất dĩ thái.

145. One wonders, somewhat, about the role of Vulcan in relation to these matters. Is Vulcan an etheric planet or a planet which has a dense physical body. In TCF it is listed as one of the “Dense Physical Planets” (TCF 373)

145. Người ta có phần băn khoăn về vai trò của Vulcan trong liên hệ với những vấn đề này. Vulcan là một hành tinh dĩ thái hay là một hành tinh có thể xác đậm đặc? Trong TCF nó được liệt kê là một trong những “Hành Tinh Hồng Trần Đậm Đặc” (TCF 373)

and he will find that (as in the body microcosmic) there are seven (or ten),

và y sẽ thấy rằng (như trong thể tiểu thiên địa) có bảy (hay mười),

146. This alternation between seven and ten always requires interpretation. We have different ways by which we can number the energy system of man.

146. Sự luân phiên giữa bảy và mười này luôn đòi hỏi phải được diễn giải. Chúng ta có những cách khác nhau để đếm hệ thống năng lượng của con người.

paramount centres

các trung tâm chủ yếu

147. It is easy to number seven paramount centers, but can one number ten such? Will the higher correspondences of the human “pranic triangle” be included? Will the alta major center be included? It would seem that certain planets which we now call “non-sacred” would have to be included.

147. Thật dễ để đếm bảy trung tâm chủ yếu, nhưng có thể đếm mười trung tâm như thế chăng? Những tương ứng cao hơn của “tam giác prana” nơi con người có được bao gồm không? Trung tâm alta major có được bao gồm không? Có vẻ như một số hành tinh mà hiện nay chúng ta gọi là “không thiêng liêng” sẽ phải được bao gồm.

but numbers of other centres for the purpose of energising various organs.

nhưng còn có nhiều trung tâm khác nhằm mục đích tiếp sinh lực cho các cơ quan khác nhau.

148. A book on the chakras by Malvin Artley is called “A Thousand Points of Light”. There are chakras—major, minor and minute, and perhaps miniscule. Logoi of certain kinds must necessarily inform them.

148. Một cuốn sách về các luân xa của Malvin Artley có tên là “Một Ngàn Điểm Ánh Sáng”. Có những luân xa—lớn, nhỏ và vi tế, và có lẽ còn cực vi tế. Các Logoi thuộc một số loại nhất định hẳn phải thấm nhuần chúng.

So likewise the body macrocosmic has myriads of energy focal points or feeders

Tương tự như vậy, thể đại thiên địa có vô số tiêu điểm năng lượng hay các đường tiếp năng lượng

149. “Feeders” sound like nadis. A “feeder” is an energy-stream and a point is a nexus (we might presume), for a number of feeders.

149. “Các đường tiếp năng lượng” nghe giống như các nadi. Một “đường tiếp năng lượng” là một dòng năng lượng và một điểm là một nút giao (chúng ta có thể giả định như vậy) của một số đường tiếp năng lượng.

which have their place, their function, and their felt effects.

có vị trí, chức năng và tác dụng cảm nhận được của chúng.

150. DK us widening for us the possibility of apprehension. There is so much more to perceive than that which is thus far perceived.

150. Chân sư DK đang mở rộng cho chúng ta khả năng lĩnh hội. Có nhiều điều để tri nhận hơn rất nhiều so với điều cho đến nay đã được tri nhận.

These centres, with no dense physical globe, constitute what has sometimes been called "the inner round" and transmit their force through those greater centres which have been spoken of in occult books as having a connection with the inner round.

Những trung tâm này, không có bầu hành tinh hồng trần đậm đặc, cấu thành điều đôi khi được gọi là "cuộc tuần hoàn bên trong" và truyền mãnh lực của chúng qua những trung tâm lớn hơn đã được nói đến trong các sách huyền bí là có liên hệ với cuộc tuần hoàn bên trong.

151. To understand the “inner round” then, we have to identify certain etheric planets (planets with no dense physical body) and determine the connection of these etheric planets with well-known planets which are connected to the etheric planets.

151. Vậy để hiểu “cuộc tuần hoàn bên trong”, chúng ta phải nhận diện một số hành tinh dĩ thái (những hành tinh không có thể hồng trần đậm đặc) và xác định mối liên hệ của các hành tinh dĩ thái này với những hành tinh quen thuộc vốn có liên hệ với chúng.

152. Mercury, often associated with the “inner round” must be such a planet connected to planets which have no dense physical body.

152. Sao Thủy, thường được liên kết với “cuộc tuần hoàn bên trong”, hẳn phải là một hành tinh như thế, được nối kết với những hành tinh không có thể hồng trần đậm đặc.

Each of these planetary schemes can be seen as a lotus having seven major petals, of which each chain forms one petal, but having also subsidiary petals of a secondary colour according to the nature and karma of the Entity concerned.

Mỗi hệ hành tinh này có thể được xem như một hoa sen có bảy cánh hoa chính, trong đó mỗi Dãy tạo thành một cánh hoa, nhưng cũng có các cánh hoa phụ với một màu thứ cấp tùy theo bản chất và nghiệp quả của Thực Thể liên hệ.

153. We could perhaps think we are dealing with the number twelve—seven plus five, just as there are seven sacred planets and five non-sacred planets, but it is highly unlikely that the various planetary lotuses all have the same number of petals (whether those petals are to be considered primary, secondary or tertiary).

153. Có lẽ chúng ta có thể nghĩ rằng mình đang xử lý con số mười hai—bảy cộng năm, cũng như có bảy hành tinh thiêng liêng và năm hành tinh không thiêng liêng, nhưng rất khó có khả năng các hoa sen hành tinh khác nhau đều có cùng một số cánh hoa (dù những cánh hoa ấy được xem là chính, phụ hay thứ ba).

154. It is interesting that the colors of the secondary petals are determined partially by the “karma” of the Entity. One would expect the color to be determined by the inner nature of the planet and not by its condition in time and space.

154. Điều thú vị là màu sắc của các cánh hoa phụ được quyết định một phần bởi “nghiệp quả” của Thực Thể. Người ta sẽ mong đợi màu sắc được quyết định bởi bản chất bên trong của hành tinh chứ không phải bởi tình trạng của nó trong thời gian và không gian.

155. Is only one secondary colour involved (according to the nature and karma of the Planetary Logos concerned) or do all the subsidiary petals have different colors.

155. Chỉ có một màu thứ cấp được liên hệ (tùy theo bản chất và nghiệp quả của Hành Tinh Thượng Đế liên hệ) hay tất cả các cánh hoa phụ đều có những màu khác nhau?

156. It seems evident from what is said that the seven major petals of each Planetary Logos are characterized by a certain color which is different to the “secondary colour” of the subsidiary petals.

156. Từ điều được nói ra, có vẻ hiển nhiên rằng bảy cánh hoa chính của mỗi Hành Tinh Thượng Đế được đặc trưng bởi một màu nhất định, khác với “màu thứ cấp” của các cánh hoa phụ.

157. It is also possible that while there may be “seven major petals” for each Planetary Logos, that not all of them are yet unfolded or that not all of them, as yet, are manifesting as major.

157. Cũng có thể là tuy mỗi Hành Tinh Thượng Đế có “bảy cánh hoa chính”, nhưng không phải tất cả chúng đều đã khai mở, hoặc không phải tất cả chúng hiện nay đều đang biểu hiện như những cánh hoa chính.

It is in the enumeration of these solar lotuses that occult students go astray.

Chính trong việc liệt kê các hoa sen thái dương này mà các đạo sinh huyền bí học đi lạc hướng.

158. By this, DK means the enumeration of the number of major and minor petals in each of these lotuses.

158. Qua đó, Chân sư DK muốn nói đến việc liệt kê số lượng các cánh hoa chính và phụ trong mỗi hoa sen này.

159. While the heart center of each Planetary Logos may be a twelve-petalled lotus, the planetary schemes in which this heart centers are found may be seen as a lotuses with differing numbers of petals.

159. Trong khi trung tâm tim của mỗi Hành Tinh Thượng Đế có thể là một hoa sen mười hai cánh, thì các hệ hành tinh trong đó các trung tâm tim này được tìm thấy có thể được xem như những hoa sen với số cánh khác nhau.

160. The following tabulation re twelve-petalled lotuses contains this hint:

160. Bảng liệt kê sau đây về các hoa sen mười hai cánh chứa đựng gợi ý này:

a. The logoic twelve-petalled egoic Lotus. Cosmic mental plane.

a. Hoa Sen chân ngã mười hai cánh của Thượng đế. Cõi trí vũ trụ.

b. The solar twelve-petalled Lotus.

b. Hoa Sen thái dương mười hai cánh.

c. The planetary logoic Heart, also a twelve-petalled Lotus.

c. Tim của Hành Tinh Thượng Đế, cũng là một Hoa Sen mười hai cánh.

d. The twelve-petalled human egoic lotus on the mental plane.

d. Hoa sen chân ngã mười hai cánh của con người trên cõi trí.

e. The twelve-petalled heart centre in a human being. (TCF 1205)

e. Trung tâm tim mười hai cánh trong một con người. (TCF 1205)

It is, for instance, correct to say that the planetary scheme corresponding to the microcosmic base of the spine is a fourfold lotus and has, therefore, four petals.

Chẳng hạn, nói rằng hệ hành tinh tương ứng với đáy cột sống vi mô là một hoa sen tứ phân và vì thế có bốn cánh là điều đúng.

161. Is Master DK here describing the Earth which is hinted as the macrocosmic base of the spine center?

161. Ở đây Chân sư DK có đang mô tả Trái Đất, vốn được ám chỉ là trung tâm đáy cột sống đại vĩ mô, hay không?

162. We are told that the microcosmic base of the spine center has four petals.

162. Chúng ta được cho biết rằng trung tâm đáy cột sống vi mô có bốn cánh.

There are four outstanding petals of a peculiar hue, but there are three of a secondary colour, and nine of a tertiary nature. (To students with intuition the hint here conveyed may reveal the name of the planet, and the nature of its evolution). [Page 1165]

Có bốn cánh nổi bật mang một sắc thái đặc biệt, nhưng có ba cánh mang màu phụ, và chín cánh có bản chất màu bậc ba. (Đối với những đạo sinh có trực giác, gợi ý được truyền đạt ở đây có thể tiết lộ tên của hành tinh, và bản chất của sự tiến hoá của nó). [Page 1165]

163. Could the three hues relate to the three major rays of the Planetary Logos in question.

163. Ba sắc thái ấy có thể liên hệ với ba cung chính của Hành Tinh Thượng Đế đang được nói đến chăng.

164. Would the hue of the “outstanding petals” related to the monadic ray, and the secondary and tertiary colors relate to the soul ray and personality ray respectively?

164. Sắc thái của các “cánh nổi bật” có liên hệ với cung chân thần, còn các màu phụ và màu bậc ba lần lượt liên hệ với cung linh hồn và cung phàm ngã chăng?

165. The number sixteen can be related to Earth, because microcosmically the Earth can stand for the throat center (in the average person) along with Saturn (standing for the throat center in the disciple). The number of petals in the microcosmic throat center is sixteen.

165. Con số mười sáu có thể được liên hệ với Trái Đất, bởi vì ở cấp vi mô Trái Đất có thể tượng trưng cho trung tâm cổ họng (ở người trung bình) cùng với Sao Thổ (tượng trưng cho trung tâm cổ họng nơi đệ tử). Số cánh trong trung tâm cổ họng vi mô là mười sáu.

166. However, it is clear from what has been said in this commentary that Saturn, not Earth, is the macrocosmic throat center to which the number sixteen should apply—especially if there is a parallelism to be found between the number of petals in the microcosmic and macrocosmic lotuses.

166. Tuy nhiên, từ những gì đã được nói trong phần bình luận này, rõ ràng rằng Sao Thổ, chứ không phải Trái Đất, là trung tâm cổ họng đại vĩ mô mà con số mười sáu phải được áp dụng—đặc biệt nếu có thể tìm thấy sự song hành giữa số cánh trong các hoa sen vi mô và đại vĩ mô.

167. Perhaps a hint is given suggesting that the number of major petals in any planetary lotus will correspond to the number of petals in a paralleling microcosmic lotus, but that additional petals will be found in the macrocosmic lotus. One could, however, wonder whether there are additional subsidiary petals (not mentioned, thus far in the Teaching) which are to be found in relation to the microcosmic lotuses as well?

167. Có lẽ một gợi ý được đưa ra, cho thấy rằng số cánh chính trong bất kỳ hoa sen hành tinh nào sẽ tương ứng với số cánh trong một hoa sen vi mô song hành, nhưng những cánh bổ sung sẽ được tìm thấy trong hoa sen đại vĩ mô. Tuy nhiên, người ta có thể tự hỏi liệu có những cánh phụ bổ sung nào nữa (cho đến nay chưa được nhắc đến trong Giáo Huấn) được tìm thấy liên hệ với các hoa sen vi mô hay không?

168. In this particular case, since Earth is directly related to Saturn in a number of ways, perhaps the total number of petals relate any given planetary lotus to the numbering of another (and higher?) planetary chakra to which it is closely related.

168. Trong trường hợp đặc biệt này, vì Trái Đất liên hệ trực tiếp với Sao Thổ theo nhiều cách, có lẽ tổng số cánh liên hệ bất kỳ hoa sen hành tinh nào với số lượng của một luân xa hành tinh khác (và cao hơn?) mà nó có liên hệ mật thiết.

169. If for instance, Mercury can be thought to stand for the solar logoic ajna center, and Uranus for the solar logoic head center, we can see how the number 96 relates to both. The microcosmic ajna center has 96 (plus two great petals) petals and the microcosmic head center has 960 petals (plus twelve greater petals—ruled probably by Neptune and not by Uranus).

169. Chẳng hạn, nếu Sao Thủy có thể được xem là tượng trưng cho trung tâm ajna của Thái dương Thượng đế, và Sao Thiên Vương tượng trưng cho trung tâm đầu của Thái dương Thượng đế, chúng ta có thể thấy con số 96 liên hệ với cả hai như thế nào. Trung tâm ajna vi mô có 96 (cộng thêm hai cánh lớn) cánh và trung tâm đầu vi mô có 960 cánh (cộng thêm mười hai cánh lớn hơn—có lẽ do Sao Hải Vương cai quản chứ không phải Sao Thiên Vương).

170. VSK enters here with some speculations on the colors involved:

170. Ở đây VSK đưa vào một số suy đoán về các màu sắc liên quan:

a. This could be blue-green, this may be the sacred blue (as a combination of ray two and ray three (blue and green), and shows up in the Earth as four petals.

a. Đây có thể là xanh lam-lục; đây có thể là màu lam thiêng liêng (như sự kết hợp của cung hai và cung ba (xanh lam và xanh lục), và xuất hiện nơi Trái Đất như bốn cánh.

b. Or in higher turn, a relation to Saturn, as sixteen suggests relation to the throat centre. Silvery blue? If cyan, the aqua of the ball of earth, be suggested, whichever: cyan is the true opposite (optically) of red (complement, i.e., in the secondary trinity of light, with yellow and magenta-violet). Cyan is a result of red and blue light combined.

b. Hoặc ở vòng cao hơn, là một liên hệ với Sao Thổ, vì mười sáu gợi ý liên hệ với trung tâm cổ họng. Xanh lam bạc chăng? Nếu cyan, màu nước của quả cầu địa cầu, được gợi ra, thì dù thế nào: cyan là đối cực thực sự (về quang học) của đỏ (màu bổ sung, tức trong bộ ba thứ cấp của ánh sáng, cùng với vàng và tím đỏ-magenta). Cyan là kết quả của ánh sáng đỏ và xanh lam kết hợp.

c. Note that cyan is the result of stimulation of red light on light-sensitive medium? The ‘negative’ of a silver oxide, or photographic film.)

c. Lưu ý rằng cyan là kết quả của sự kích thích của ánh sáng đỏ trên môi trường nhạy sáng? “Âm bản” của oxit bạc, hay của phim ảnh.)

d. In an order of counting from the colours of light, the primaries are red, blue, green, for 1, 2, and 3. The secondaries produced by red plus green plus blue are, violet-magenta (red plus blue), cyan (blue plus green), and yellow (red plus green).

d. Theo một trật tự đếm từ các màu của ánh sáng, các màu cơ bản là đỏ, xanh lam, xanh lục, ứng với 1, 2 và 3. Các màu thứ cấp được tạo ra bởi đỏ cộng xanh lục cộng xanh lam là tím đỏ-magenta (đỏ cộng xanh lam), cyan (xanh lam cộng xanh lục), và vàng (đỏ cộng xanh lục).

e. The seventh is the synthesis, which, in light, is white. Synthesis of all pigments of matter (red plus blue plus yellow), is (dirty) black, with the inability to absorb (or reject) light (white) by a material.

e. Màu thứ bảy là sự tổng hợp, mà trong ánh sáng là màu trắng. Sự tổng hợp của mọi sắc tố của vật chất (đỏ cộng xanh lam cộng vàng) là màu đen (bẩn), với sự bất lực của một chất liệu trong việc hấp thụ (hay khước từ) ánh sáng (trắng).

Each of these solar lotuses, or planetary schemes,

Mỗi hoa sen thái dương này, hay các hệ hành tinh,

171. A planetary scheme is a solar lotus. It is good to understand the various ways of describing the same thing.

171. Một hệ hành tinh là một hoa sen thái dương. Thật tốt khi thấu hiểu các cách khác nhau để mô tả cùng một điều.

unfolds in three great stages of activity, in each one of which one of the three types of energy dominates.

khai mở trong ba giai đoạn hoạt động lớn, trong mỗi giai đoạn ấy một trong ba loại năng lượng chiếm ưu thế.

172. A hint is here given that there will be secondary and tertiary colors found in each solar lotus and that at different stages of unfoldment, different colors in the lotus will stand forth.

172. Ở đây có một gợi ý rằng sẽ có các màu phụ và màu bậc ba được tìm thấy trong mỗi hoa sen thái dương, và ở những giai đoạn khai mở khác nhau, những màu khác nhau trong hoa sen sẽ nổi bật lên.

173. Is it possible that these secondary and tertiary colors correspond to the two ‘other’ rays of the Planetary Logos in question?>

173. Có thể nào những màu phụ và màu bậc ba này tương ứng với hai cung “khác” của Hành Tinh Thượng Đế đang được nói đến không?>

174. We know (from writing in a later book, Esoteric Astrology ) that three major rays of the Earth are the first, second and third, corresponding roughly to red, blue and green. Is it reasonable to think that the colors of the major petals correspond to the monadic ray, with the other two colors corresponding to the soul and personality rays?

174. Chúng ta biết (từ những gì được viết trong một quyển sách sau này, Chiêm Tinh Học Nội Môn) rằng ba cung chính của Trái Đất là cung một, cung hai và cung ba, tương ứng đại khái với đỏ, xanh lam và xanh lục. Có hợp lý không khi nghĩ rằng màu của các cánh chính tương ứng với cung chân thần, còn hai màu kia tương ứng với cung linh hồn và cung phàm ngã?

175. We can see how a planet could play three different roles in a solar system, depending upon the color which it was most vibrantly demonstrating at a particular time.

175. Chúng ta có thể thấy một hành tinh có thể đóng ba vai trò khác nhau trong một hệ mặt trời như thế nào, tùy theo màu mà nó đang biểu lộ rung động mạnh mẽ nhất vào một thời điểm nhất định.

176. Earth, for instance, is most powerfully demonstrating the third ray—the ray of its personality. Does it presently have a function which is more of third ray nature than of a second or first ray nature?

176. Chẳng hạn, Trái Đất đang biểu lộ mạnh mẽ nhất cung ba—cung phàm ngã của nó. Hiện nay nó có một chức năng mang bản chất cung ba nhiều hơn là bản chất cung hai hay cung một chăng?

177. Eventually, perhaps in the next solar system, but perhaps slightly before, the Earth will begin responding to its monadic ray, which is now occultly “non-effective” (EA 363). Does this mean that, at that time, the color red will be the primary color demonstration of this planet?

177. Cuối cùng, có lẽ trong hệ mặt trời kế tiếp, nhưng cũng có lẽ sớm hơn đôi chút, Trái Đất sẽ bắt đầu đáp ứng với cung chân thần của nó, vốn hiện nay một cách huyền bí là “không hữu hiệu” (EA 363). Điều này có nghĩa là vào lúc ấy, màu đỏ sẽ là màu biểu lộ chính yếu của hành tinh này chăng?

178. We are dealing with the mystery of mutability or relativity of planetary function in time and space.

178. Chúng ta đang đề cập đến huyền nhiệm của tính biến đổi hay tính tương đối của chức năng hành tinh trong thời gian và không gian.

As the unfolding proceeds, the vibratory activity increases, and the appearance of the manifesting activity changes.

Khi sự khai mở tiếp diễn, hoạt động rung động gia tăng, và vẻ ngoài của hoạt động biểu hiện thay đổi.

179. Due to increase of vibration, any sphere of expression alters its appearance. Does it also alter its function within the whole of which it is a part?

179. Do sự gia tăng rung động, bất kỳ khối cầu biểu hiện nào cũng thay đổi vẻ ngoài của nó. Nó cũng có thay đổi chức năng của nó trong toàn thể mà nó là một phần của toàn thể ấy không?

a. The motion of the lotus or wheel for a long time is simply that of a slow revolution.

a. Chuyển động của hoa sen hay bánh xe trong một thời gian dài đơn giản chỉ là một sự quay vòng chậm.

180. This is certainly so for the microcosmic chakras. They are relatively quiescent, saucer-like depressions which pulsate and which rotate very slowly.

180. Điều này chắc chắn đúng đối với các luân xa vi mô. Chúng tương đối tĩnh, là những chỗ lõm giống chiếc đĩa, có sự rung nhịp và quay rất chậm.

181. Macrocosmically, do we have any planetary schemes which are presently in this condition? If so, how would we identify them?

181. Ở cấp đại vĩ mô, hiện nay có hệ hành tinh nào ở trong tình trạng này không? Nếu có, chúng ta sẽ nhận diện chúng như thế nào?

b. Later, for a still vaster period, each petal revolves within the greater whole, and at an angle different to that of the whole revolution.

b. Về sau, trong một thời kỳ còn bao la hơn nữa, mỗi cánh quay vòng bên trong toàn thể lớn hơn, và theo một góc khác với góc của toàn bộ sự quay vòng.

182. Analogically, it seems that petals could almost have their own ‘orbits’ around the center of the lotus.

182. Theo phép tương đồng, dường như các cánh gần như có thể có những “quỹ đạo” riêng quanh trung tâm của hoa sen.

183. It is interesting that this second phase last even longer than the first. In the unfoldment of the egoic lotus, the first phase of unfoldment (that of the first circle of petals) is by far the longest.

183. Điều thú vị là giai đoạn thứ hai này kéo dài còn lâu hơn giai đoạn đầu. Trong sự khai mở của hoa sen chân ngã, giai đoạn khai mở đầu tiên (giai đoạn của vòng cánh thứ nhất) là dài nhất vượt xa.

184. We can say that “revolution” is a type of movement corresponding to the second ray, and rotation to the third.

184. Chúng ta có thể nói rằng “quay vòng” là một loại chuyển động tương ứng với cung hai, còn quay tròn tương ứng với cung ba.

185. When we consider this “angle different to that of the whole revolution”, we may wish to remember that planes rotate from east to west and rays from north to south. Are we dealing with the formation of the cross?

185. Khi xem xét “góc khác với góc của toàn bộ sự quay vòng” này, chúng ta có thể muốn nhớ rằng các cõi quay từ đông sang tây và các cung từ bắc xuống nam. Chúng ta có đang đề cập đến sự hình thành của thập giá không?

c. Finally, these two activities are increased by the appearance of a form of energy which, originating from the centre, pulsates so powerfully that it produces what look to be streams of energy passing backwards and forwards from the centre to the periphery.

c. Cuối cùng, hai hoạt động này được gia tăng bởi sự xuất hiện của một dạng năng lượng, khởi phát từ trung tâm, rung nhịp mạnh mẽ đến mức tạo ra điều trông như những dòng năng lượng đi qua đi lại từ trung tâm đến chu vi.

186. This type activity is more of a pulsation and corresponds to the first ray. We have the appearance of that which goes ‘out’ and then ‘returns’. The first ray impulses an entity along the path of its ‘journey’ and then draws it back

186. Loại hoạt động này mang tính rung nhịp nhiều hơn và tương ứng với cung một. Chúng ta có vẻ ngoài của điều gì đó đi “ra ngoài” rồi “trở về”. Cung một thúc đẩy một thực thể dọc theo con đường “hành trình” của nó rồi lại kéo nó trở về

187. The following quotation will have its relevance in this context:

187. Trích dẫn sau đây sẽ có liên hệ trong bối cảnh này:

188.

188.

“The Jewel itself remains occultly static, and does not circulate. It is a point of peace; it pulsates rhythmically as does the heart of man, and from it ray forth eight streams of living fire which extend to the tips of the four love petals and the four sacrifice petals. This eight-fold energy is atma-buddhi. It is this final raying forth which produces the eventual disintegration of the body of the Ego.” (TCF 1118-1119)

“Bản thân Bảo Châu vẫn ở trạng thái tĩnh một cách huyền bí, và không tuần hoàn. Nó là một điểm bình an; nó rung nhịp theo nhịp điệu như tim con người, và từ đó phóng ra tám dòng lửa sống động vươn đến chót của bốn cánh bác ái và bốn cánh hi sinh. Năng lượng bát phân này là atma-buddhi. Chính sự phóng xạ cuối cùng này tạo ra sự tan rã sau cùng của thể của Chân ngã.” (TCF 1118-1119)

d. When these three are working in unison, the effect is wonderful in the extreme, and impossible for the eye to follow, the mind of man to conceive, or the pen to express in words.

d. Khi ba điều này hoạt động đồng nhất, hiệu quả là kỳ diệu đến tột bậc, và mắt không thể theo dõi, trí tuệ con người không thể hình dung, hay ngòi bút không thể diễn tả thành lời.

189. DK seems to be speaking of the consummation of any lotus, including the egoic lotus at the fourth initiation.

189. DK dường như đang nói về sự viên mãn của bất kỳ hoa sen nào, kể cả hoa sen chân ngã ở lần điểm đạo thứ tư.

It is this stage, macrocosmic and microcosmic, which constitutes the different grades of alignment, for it must never be forgotten by students that all that manifests is a sphere,

Chính giai đoạn này, ở cấp đại vĩ mô và vi mô, tạo thành các cấp độ chỉnh hợp khác nhau, vì đạo sinh không bao giờ được quên rằng mọi thứ biểu hiện đều là một khối cầu,

190. All forms of manifestation are essentially spherical. This has to do with the inner forms. Perhaps, eventually, the outer form, too, will take on a spherical appearance—even the appearance of man.

190. Mọi hình tướng biểu hiện về bản chất đều có dạng hình cầu. Điều này liên quan đến các hình thức bên trong. Có lẽ cuối cùng, hình thức bên ngoài cũng sẽ mang dáng vẻ hình cầu—ngay cả dáng vẻ của con người.

191. The consummatory phase is a spherical phase.

191. Giai đoạn viên mãn là một giai đoạn hình cầu.

and alignment really consists in unimpeded communication between the heart of the sphere and the periphery or the bound of the influence of the dynamic will and the centre.

và chỉnh hợp thực sự bao gồm sự giao tiếp không bị cản trở giữa tim của khối cầu và chu vi hay ranh giới của ảnh hưởng của ý chí năng động và trung tâm.

192. This is a most important definition of alignment, and transfers our thought towards the dynamic of “in and out” rather than “up and down”.

192. Đây là một định nghĩa hết sức quan trọng về chỉnh hợp, và chuyển tư tưởng của chúng ta về phía động lực của “vào và ra” hơn là “lên và xuống”.

193. “Up and down” and “in and out” are really arbitrary descriptions of the increase and decrease of vibration, however there is seemingly more occult reality in “in and out” than in “up and down”. For example, we are told that “the Kingdom of God is within ”. We are not told (esoterically), as so many believers seem to believe, that the ‘Kingdom of God is above ”.

193. “Lên và xuống” và “vào và ra” thực ra chỉ là những mô tả tùy ý về sự tăng và giảm rung động; tuy nhiên dường như có nhiều thực tại huyền bí hơn trong “vào và ra” so với “lên và xuống”. Thí dụ, chúng ta được bảo rằng “Thiên Giới ở bên trong ”. Chúng ta không được bảo (một cách huyền bí), như rất nhiều tín đồ dường như tin, rằng “Thiên Giới ở phía trên ”.

Within each planetary scheme, are found the seven chains which are the seven planetary centres,

Bên trong mỗi hệ hành tinh, có bảy dãy là bảy trung tâm hành tinh,

194. This corresponds to the seven major planetary schemes which serve as the seven major chakras in the energy system of the Solar Logos.

194. Điều này tương ứng với bảy hệ hành tinh chính, vốn phục vụ như bảy luân xa chính trong hệ thống năng lượng của Thái dương Thượng đế.

and again within the chain are the seven globes which are the chain centres,

và lại nữa, bên trong dãy có bảy bầu hành tinh là các trung tâm của dãy,

195. The septenates continue to descend (and ascend).

195. Các bộ bảy tiếp tục giáng xuống (và đi lên).

but students would do well not to study the globes from the point of view of centres until their knowledge of the mystery underlying dense physical substance is greater, or they will be led into error.

nhưng các đạo sinh nên tránh nghiên cứu các bầu hành tinh từ quan điểm các trung tâm cho đến khi kiến thức của họ về huyền nhiệm nằm bên dưới chất liệu hồng trần đậm đặc lớn hơn, nếu không họ sẽ bị dẫn vào sai lầm.

196. Master DK did not say not to study the chains from the point of view of centres.

196. Chân sư DK không nói rằng không nên nghiên cứu các dãy từ quan điểm các trung tâm.

197. The study of globes must include a solution to the question of whether globes are mono-dimensional or multidimensional. Chains are obviously multidimensional. I also think that the best solution to discover the true nature of a globe is to consider it multi-dimensional as well.

197. Việc nghiên cứu các bầu hành tinh phải bao gồm lời giải cho câu hỏi liệu các bầu hành tinh là đơn chiều hay đa chiều. Các dãy hiển nhiên là đa chiều. Tôi cũng nghĩ rằng giải pháp tốt nhất để khám phá bản chất thật của một bầu hành tinh là xem nó cũng là đa chiều.

198. This will mean, in very practical terms, that the Earth-globe of the Earth-chain of the Earth-scheme is not made simply of dense physical matter as some theosophical books may seem to suggest.

198. Điều này sẽ có nghĩa, theo những thuật ngữ rất thực tiễn, rằng địa cầu của Dãy Địa Cầu trong hệ hành tinh Trái Đất không được cấu thành đơn giản chỉ bằng vật chất hồng trần đậm đặc như một số sách Thông Thiên Học dường như gợi ý.

The lower down one seeks to carry the correspondence, the more the likelihood of error. The correspondence must lie in quality and in principle expressed, but not in form. [Page 1166]

Càng tìm cách mang sự tương ứng xuống thấp hơn, khả năng sai lầm càng lớn. Sự tương ứng phải nằm trong phẩm tính và trong nguyên khí được biểu lộ, chứ không phải trong hình tướng. [Page 1166]

199. This is a general principle concerning the way to pursue an understanding of correspondences. It would be well for us not to force analogies or correspondences in detail. Similarity lies in general structure and quality, but the uniqueness of each E/entity demands diversification and, thus, deviation from the hypothesized correspondence.

199. Đây là một nguyên lý tổng quát liên quan đến cách theo đuổi sự thấu hiểu về các tương ứng. Chúng ta nên tránh ép buộc các phép loại suy hay các tương ứng vào chi tiết. Sự tương tự nằm trong cấu trúc tổng quát và phẩm tính, nhưng tính độc đáo của mỗi thực thể đòi hỏi sự biến phân và do đó sự lệch khỏi sự tương ứng được giả định.

S9S10 Part I

TCF 1167-1173

TCF 1166-1173

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCFare put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi trình chiếu trong lớp học. Cước chú và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCFđược đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF đặt sẵn bên cạnh, vì mục đích liên tục mạch văn. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

1. We now enter a very important section dealing with occult law. Upon occult law the workings of our planet, our solar system and our cosmos are based.

1. Giờ đây chúng ta bước vào một phần rất quan trọng đề cập đến quy luật huyền bí. Trên quy luật huyền bí mà các hoạt động của hành tinh chúng ta, hệ mặt trời chúng ta và vũ trụ chúng ta được đặt nền tảng.

SECTION TWO

PHẦN HAI

DIVISION F

PHÂN ĐOẠN F

THE LAW OF ATTRACTION

ĐỊNH LUẬT HẤP DẪN

I. The Subsidiary laws.

I. Các định luật phụ thuộc.

1. Law of Chemical Affinity.

1. Định luật Ái lực Hóa học.

2. This is largely attraction within the field of matter. Of course, there must also be etheric, astral and mental chemistry, but usually when we speak of “chemical affinity” we are dealing with atoms of what is conventionally regarded as material substance.

2. Đây phần lớn là sự hấp dẫn trong phạm vi của vật chất. Dĩ nhiên, cũng phải có hóa học dĩ thái, cảm dục và trí tuệ, nhưng thông thường khi chúng ta nói về “ái lực hóa học” thì chúng ta đang đề cập đến các nguyên tử của điều vốn theo quy ước được xem là chất liệu vật chất.

2. Law of Progress.

2. Định luật Tiến bộ.

3. Progress (i.e., movement from present conditions to conditions more resembling archetypal patterns) occurs because of the great drawing power of the second ray of Love-Wisdom. One could say that archetypes are magnetic.

3. Tiến bộ (tức là sự chuyển động từ các điều kiện hiện tại đến các điều kiện giống hơn với các mô hình nguyên mẫu) xảy ra do mãnh lực lôi kéo vĩ đại của cung hai Bác Ái – Minh Triết. Có thể nói rằng các nguyên mẫu có tính từ tính.

3. Law of Sex.

3. Định luật Tính dục.

4. This is one of the great laws obviously related to the Law of Attraction. It involves, as we all realize, attraction between the poles. As we usually understand it, it is active in relation to the lower four kingdoms.

4. Đây là một trong những định luật lớn hiển nhiên có liên hệ với Định luật Hấp dẫn. Nó bao hàm, như tất cả chúng ta đều nhận ra, sự hấp dẫn giữa các cực. Theo cách chúng ta thường hiểu, nó hoạt động liên hệ với bốn giới thấp.

4. Law of Magnetism.

4. Định luật Từ điện.

5. The Law of Attraction is inseparable from the Law of Magnetism. We know that the Law of Attraction (and Repulsion) is largely a second ray law. We have also been told that magnetism is as much a first ray phenomenon as one related to the second ray. It will be interesting to see how Master DK treats this distinction.

5. Định luật Hấp dẫn không thể tách rời khỏi Định luật Từ điện. Chúng ta biết rằng Định luật Hấp dẫn (và Đẩy lùi) phần lớn là một định luật cung hai. Chúng ta cũng đã được bảo rằng từ điện cũng là một hiện tượng cung một không kém gì là điều liên hệ với cung hai. Sẽ rất thú vị khi xem Chân sư DK xử lý sự phân biệt này như thế nào.

5. Law of Radiation.

5. Định luật Phóng xạ.

6. When the Law of Attraction has done its work, the configurations completed are archetypal in nature and thus radiant.

6. Khi Định luật Hấp dẫn đã hoàn thành công việc của nó, các cấu hình được hoàn tất có bản chất nguyên mẫu và do đó có tính phóng xạ.

6. Law of the Lotus.

6. Định luật của Hoa Sen.

7. We will look for DK’s specific method of describing this law. We know that lotuses unfold (a great symbol of the unfoldment of consciousness) and that this unfoldment proceeds once the qualities and energies needed are magnetically gathered into the right configuration.

7. Chúng ta sẽ tìm kiếm phương pháp đặc thù của DK trong việc mô tả định luật này. Chúng ta biết rằng các hoa sen khai mở (một biểu tượng lớn của sự khai mở tâm thức) và sự khai mở này tiến hành một khi các phẩm tính và năng lượng cần thiết được tập hợp bằng từ tính vào đúng cấu hình.

7. Law of Colour.

7. Định luật Màu sắc.

8. The phenomenon of color is specifically related to the fourth ray and the Law of Attraction to the second ray. The fourth and second rays are intimately related, just as harmony and unity are related.

8. Hiện tượng màu sắc liên hệ đặc biệt với cung bốn và Định luật Hấp dẫn với cung hai. Cung bốn và cung hai liên hệ mật thiết với nhau, cũng như hòa điệu và hợp nhất liên hệ với nhau.

8. Law of Gravitation.

8. Định luật Trọng lực.

9. We can understand the direct connection here. Gravitation is a direct expression of the Law of Attraction; in space bodies are drawn together (yet also repelled).

9. Chúng ta có thể hiểu mối liên hệ trực tiếp ở đây. Trọng lực là một biểu hiện trực tiếp của Định luật Hấp dẫn; trong không gian các thiên thể bị kéo lại gần nhau (nhưng cũng bị đẩy ra).

9. Law of Planetary Affinity.

9. Định luật Ái lực Hành tinh.

10. If one is an astrologer, one understands this law on an elementary level. Certain planets have a natural affinity for each other and others an antipathy. Yet all, because they are all the members of a ‘solar group’, have a deep level of affinity.

10. Nếu một người là nhà chiêm tinh học, người ấy hiểu định luật này ở cấp độ sơ đẳng. Một số hành tinh có ái lực tự nhiên với nhau và những hành tinh khác thì có phản cảm. Tuy nhiên tất cả, bởi vì tất cả đều là thành viên của một “nhóm thái dương”, đều có một cấp độ ái lực sâu xa.

11. Venus and Neptune, for instance, have a strong affinity. Mercury and Uranus also. Mars and Pluto also. But Saturn and Jupiter are in a way, opposites, as are Saturn and Neptune and even Saturn and Uranus (though here affinity can be more easily found.)

11. Chẳng hạn, Sao Kim và Sao Hải Vương có ái lực mạnh. Sao Thủy và Sao Thiên Vương cũng vậy. Sao Hỏa và Sao Diêm Vương cũng vậy. Nhưng Sao Thổ và Sao Mộc theo một nghĩa nào đó là các đối cực, cũng như Sao Thổ và Sao Hải Vương, và ngay cả Sao Thổ và Sao Thiên Vương (dù ở đây ái lực có thể được tìm thấy dễ hơn.)

10. Law of Solar Unity. [full extent of this commentary]

10. Định luật Hợp nhất Thái dương. [full extent of this commentary]

12. Nothing more is said of this law, but we can imagine that through its effects all B/beings within our solar system are held together coherently and, finally, in complete mutual support and enhancement.

12. Không có gì thêm được nói về định luật này, nhưng chúng ta có thể hình dung rằng qua các hiệu quả của nó, mọi hữu thể bên trong hệ mặt trời của chúng ta được giữ lại với nhau một cách cố kết và cuối cùng trong sự hỗ trợ và tăng cường lẫn nhau hoàn toàn.

13. The following laws will be dealt with in Semester 9 Section 11.

13. Các định luật sau đây sẽ được bàn đến trong Học kỳ 9 Phần 11.

11. Law of the Schools. [see S9S11]

11. Định luật của các Trường phái. [see S9S11]

II. Its Effects.

II. Các hiệu quả của nó.

1. Association.

1. Sự kết hợp.

2. Form Building.

2. Sự kiến tạo hình tướng.

3. Adaptation of form to life.

3. Sự thích ứng của hình tướng với sự sống.

4. Group Unity.

4. Hợp nhất nhóm.

III. Group Relations.

III. Các liên hệ nhóm.

1. Three atomic relations.

1. Ba liên hệ nguyên tử.

2. Seven laws of group work.

2. Bảy định luật của công việc nhóm.

3. Twenty-two methods of interplay.

3. Hai mươi hai phương pháp tương tác.

This law is, as we know, the basic law of all manifestation, and the paramount law for this solar system.

Định luật này, như chúng ta biết, là định luật căn bản của mọi biểu hiện, và là định luật tối thượng đối với hệ mặt trời này.

14. We are speaking of the Law of Attraction. Since our solar system is profoundly a second ray solar system (perhaps the final monadic ray of the Solar Logos is the second ray) we can see why the Law of Attraction is paramount for our Solar Logos.

14. Chúng ta đang nói về Định luật Hấp dẫn. Vì hệ mặt trời của chúng ta sâu xa là một hệ mặt trời cung hai (có lẽ cung chân thần cuối cùng của Thái dương Thượng đế là cung hai), chúng ta có thể thấy vì sao Định luật Hấp dẫn là tối thượng đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta.

15. This means, of course, that no matter what may be our individual monadic ray, it must, in this solar system, be considered subsidiary to the Law of Attraction and to the great Second Ray of Love-Wisdom.

15. Dĩ nhiên điều này có nghĩa là bất kể cung chân thần cá nhân của chúng ta là gì, trong hệ mặt trời này nó phải được xem là phụ thuộc vào Định luật Hấp dẫn và vào cung Hai vĩ đại của Bác Ái – Minh Triết.

It might strictly be called the Law of Adjustment or of Balance,

Nói một cách nghiêm ngặt, nó có thể được gọi là Định luật Điều chỉnh hay Cân bằng,

16. Something of the sign Libra seems implicated as well as a certain suggestion of the third ray in the term “Adjustment”.

16. Dường như có điều gì đó của dấu hiệu hoàng đạo Thiên Bình cũng được hàm ý, cùng với một gợi ý nào đó về cung ba trong thuật ngữ “Điều chỉnh”.

17. Libra is, in many ways, a sign transmitting the second ray and so can be closely related to the second ray Law of Attraction.

17. Thiên Bình, theo nhiều cách, là một dấu hiệu truyền dẫn cung hai và vì thế có thể liên hệ chặt chẽ với Định luật Hấp dẫn của cung hai.

for it conditions that aspect of electrical phenomena which we call neutral.

vì nó tác động lên phương diện của các hiện tượng điện mà chúng ta gọi là trung tính.

18. This type of electrical phenomenon occupies the midway point between positive and negative electrical phenomena. ‘Neutral’ electricity is not yet understood, the Tibetan tells us. Probably when the nature of solar fire is better understood there will also come an understanding of this intermediary type of electricity.

18. Loại hiện tượng điện này chiếm điểm ở giữa giữa các hiện tượng điện dương và âm. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng điện “trung tính” vẫn chưa được hiểu. Có lẽ khi bản chất của Lửa Thái dương được hiểu rõ hơn thì cũng sẽ xuất hiện sự thấu hiểu về loại điện trung gian này.

19. It appears that ‘neutral electricity’ (if we can rightfully call it that) balances and equilibrates the relationship between positive and negative electricity.

19. Dường như “điện trung tính” (nếu chúng ta có thể gọi nó như vậy một cách chính đáng) cân bằng và quân bình hóa mối liên hệ giữa điện dương và điện âm.

20. One wonders, since electrical phenomena are based on the relation between the poles, whether the star “Electra” in the Pleiades is not an expression of the Law of Attraction and the second ray.

20. Người ta tự hỏi, vì các hiện tượng điện dựa trên mối liên hệ giữa các cực, liệu ngôi sao “Electra” trong chòm Thất Nữ có phải là một biểu hiện của Định luật Hấp dẫn và cung hai hay không.

The Law of Economy is the basic law of one pole, that of the negative aspect;

Định luật Tiết Kiệm là định luật căn bản của một cực, tức cực âm;

21. This is the material pole. The Law of Economy characterized systemic processes in the previous incarnation of our Solar Logos, i.e., in the previous solar system.

21. Đây là cực vật chất. Định luật Tiết Kiệm đặc trưng cho các tiến trình hệ thống trong lần lâm phàm trước của Thái dương Thượng đế của chúng ta, tức là trong hệ mặt trời trước.

the Law of Synthesis is the basic law of the positive pole,

Định luật Tổng hợp là định luật căn bản của cực dương,

22. This is the law which will characterize the solar system to come—the next incarnation of our Solar Logos. Under the Law of Synthesis we can expect culminative results in that system— if any of us actually participate in it. It is suggested that those whose monadic ray is the first are now forming a kind of ‘seed-group’ for developments in that system. Naturally, this cannot apply to all first ray Monads.

22. Đây là định luật sẽ đặc trưng cho hệ mặt trời sắp đến—lần lâm phàm kế tiếp của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Dưới Định luật Tổng hợp, chúng ta có thể mong đợi các kết quả viên mãn trong hệ ấy— nếu bất kỳ ai trong chúng ta thực sự tham dự vào đó. Có gợi ý rằng những ai có cung chân thần là cung một hiện đang hình thành một loại “Nhóm hạt giống” cho các phát triển trong hệ ấy. Dĩ nhiên, điều này không thể áp dụng cho mọi Chân thần cung một.

but the Law of Attraction is the law for the fire which is produced [Page 1167] by the merging during evolution of the two poles.

nhưng Định luật Hấp dẫn là định luật dành cho ngọn lửa được tạo ra [Page 1167] bởi sự hòa nhập trong tiến hoá của hai cực.

23. Then did not solar fire pre-exist the merging of the two poles? Is it merely a byproduct of that merging? Or is it the manifestation of solar fire (neutral electricity) through form which occurs as a result of the merging of the two poles?

23. Vậy thì chẳng phải Lửa Thái dương đã hiện hữu từ trước khi hai cực hợp nhất hay sao? Có phải nó chỉ đơn thuần là một sản phẩm phụ của sự hợp nhất ấy không? Hay nó là sự biểu hiện của Lửa Thái dương (điện trung hòa) thông qua hình tướng xảy ra như là kết quả của sự hợp nhất hai cực?

24. Certainly solar fire and neutral electricity ( cosmically considered) pre-existed the merging of the two poles in the constitution of intra-systemic B/beings including man. We must realize that there are many strata of solar fire.

24. Chắc chắn Lửa Thái dương và điện trung hòa (nếu xét về mặt vũ trụ) đã hiện hữu trước sự hợp nhất của hai cực trong cấu tạo của các hữu thể nội hệ thống, kể cả con người. Chúng ta phải nhận ra rằng có nhiều tầng lớp của Lửa Thái dương.

25. It would seem that the great cosmic Second Aspect has been present in universe since its beginning on planes far higher than the cosmic physical.

25. Dường như Phương diện thứ hai vĩ đại của vũ trụ đã hiện diện trong vũ trụ ngay từ khởi thủy của nó trên những cõi cao hơn rất nhiều so với cõi hồng trần vũ trụ.

26. Yet we can also ask if it did not appear when the Universal Father and the Universal Mother merged through a process endlessly beyond our understanding.

26. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hỏi liệu nó đã không xuất hiện khi Người Cha Vũ Trụ và Người Mẹ Vũ Trụ hợp nhất qua một tiến trình vượt xa sự thấu hiểu của chúng ta đến vô tận hay sao.

From the standpoint of the human being, it is that which brings about the realisation of self-consciousness;

Xét từ quan điểm của con người, chính nó mang lại sự chứng nghiệm ngã thức thực sự;

27. For man, it is the Solar Angel which provides the presence of this ‘neutral electricity’ or solar fire—at least in this solar system and on this chain.

27. Đối với con người, chính Thái dương Thiên Thần cung cấp sự hiện diện của “điện trung hòa” hay Lửa Thái dương này—ít nhất là trong hệ mặt trời này và trên dãy này.

28. In an earlier chain, animal man ‘worked his way into’ solar fire through an unconscious aspiration towards the Spirit aspect inherent in his nature.

28. Trong một dãy trước đây, người thú đã “tự mình tiến vào” Lửa Thái dương qua một khát vọng vô thức hướng về phương diện Tinh thần vốn cố hữu trong bản chất của y.

from the point of view of the subhuman beings it is that which draws all forms of life on to self-realisation;

xét từ quan điểm của các hữu thể dưới nhân loại, chính nó lôi cuốn mọi hình thức sự sống tiến tới sự tự chứng ngộ;

29. We can see that ‘neutral electricity’ does have a drawing power with respect to the third aspect of divinity through which subhuman beings express.

29. Chúng ta có thể thấy rằng “điện trung hòa” quả thật có một quyền năng lôi cuốn đối với phương diện thứ ba của thiên tính, qua đó các hữu thể dưới nhân loại biểu lộ.

30. ‘Neutral electricity’ is not neutral in the sense of being inert— such as a neutral element in the periodic table. It would seem that ‘neutral electricity’ is attracted to the positive pole and attracts the negative pole. Through solar fire or 'neutral electricity' the poles are mediated and brought together. We would think that Venus should be a very powerful representative of 'neutral electricity'.

30. “Điện trung hòa” không trung hòa theo nghĩa là trơ ì— như một nguyên tố trung tính trong bảng tuần hoàn. Dường như “điện trung hòa” bị hút về cực dương và hút cực âm. Thông qua Lửa Thái dương hay “điện trung hòa”, các cực được làm trung gian và được đưa lại gần nhau. Chúng ta hẳn sẽ nghĩ rằng Sao Kim phải là một đại diện rất mạnh mẽ của “điện trung hòa”.

31. Subhuman beings are ‘raised’ towards individualization or initial self-realization. We thus see that the neutrality of 'neutral electricity' does not prevent it from being magnetic.

31. Các hữu thể dưới nhân loại được “nâng lên” hướng tới sự biệt ngã hóa hay sự tự chứng ngộ ban đầu. Vì vậy, chúng ta thấy rằng tính trung hòa của “điện trung hòa” không ngăn cản nó mang tính từ tính.

whilst in connection with the superhuman aspect it may be stated that this law of life expands into the processes conditioned by the higher law of Synthesis, of which the Law of Attraction is but a subsidiary branch.

trong khi liên hệ với phương diện siêu nhân loại, có thể nói rằng định luật sự sống này mở rộng vào các tiến trình được tác động bởi định luật cao hơn của Tổng Hợp, mà trong đó Định luật Hấp Dẫn chỉ là một nhánh phụ thuộc.

32. Is the Law of Economy also a subsidiary branch of the Law of Synthesis or is it a subsidiary branch of the Law of Attraction?

32. Vậy Định luật Tiết Kiệm cũng là một nhánh phụ thuộc của Định luật Tổng Hợp hay là một nhánh phụ thuộc của Định luật Hấp Dẫn?

33. There is a definite connection between the Law of Attraction and the Law of Synthesis. The results of the Law of Attraction must, however, precede the application of the Law of Synthesis.

33. Có một mối liên hệ xác định giữa Định luật Hấp Dẫn và Định luật Tổng Hợp. Tuy nhiên, các kết quả của Định luật Hấp Dẫn phải đi trước sự áp dụng của Định luật Tổng Hợp.

34. We see that the work of expansive Jupiter is, in our solar system, involved in the transition from the Law of Attraction to the Law of Synthesis. Jupiter has a powerful second ray and it has also been seriously questioned whether the ultimate monadic ray of Jupiter might not be the first.

34. Chúng ta thấy rằng công việc của Sao Mộc có tính mở rộng, trong hệ mặt trời của chúng ta, có liên quan đến sự chuyển tiếp từ Định luật Hấp Dẫn sang Định luật Tổng Hợp. Sao Mộc có một cung hai rất mạnh, và người ta cũng đã nghiêm túc đặt câu hỏi liệu cung chân thần tối hậu của Sao Mộc có thể lại không phải là cung một.

35. What is important for us to realize is that the Law of Attraction, if followed wisely, will lead towards synthesis.

35. Điều quan trọng để chúng ta chứng nghiệm là Định luật Hấp Dẫn, nếu được tuân theo một cách minh triết, sẽ dẫn tới tổng hợp.

36. One difference between the Law of Attraction and the Law of Synthesis is that under the Law of Synthesis difference is hidden and form is blotted out. This is not the case once the Law of Attraction has completed its work. Form still exists, but the relationship between forms is unitive rather than characterized by homogeneity as under the Law of Synthesis.

36. Một khác biệt giữa Định luật Hấp Dẫn và Định luật Tổng Hợp là dưới Định luật Tổng Hợp, sự khác biệt bị che khuất và hình tướng bị xóa mờ. Điều này không xảy ra khi Định luật Hấp Dẫn đã hoàn tất công việc của nó. Hình tướng vẫn còn tồn tại, nhưng mối liên hệ giữa các hình tướng thì hợp nhất hơn là mang đặc tính đồng nhất như dưới Định luật Tổng Hợp.

37. The Law of Synthesis carries a second ray connotation within a first ray context. It creates certain dynamics which express the Law of Attraction on a higher turn of the spiral.

37. Định luật Tổng Hợp mang một hàm ý cung hai trong một bối cảnh cung một. Nó tạo ra những động lực nhất định biểu lộ Định luật Hấp Dẫn trên một vòng xoắn cao hơn.

38. It would seem that the Law of Synthesis will reach its apotheosis in the next solar system. Inherently, it is a higher law than the Law of Attraction, yet one wonders whether in this second ray solar system the Law of Attraction might not be preeminent. One would expect that a thorough synthesis is not possible in this system as it will be in the next. In this system it might be more logical to expect a thorough expression of the Law of Attraction.

38. Dường như Định luật Tổng Hợp sẽ đạt đến cực điểm vinh quang của nó trong hệ mặt trời kế tiếp. Vốn tự thân, nó là một định luật cao hơn Định luật Hấp Dẫn, tuy nhiên người ta vẫn tự hỏi liệu trong hệ mặt trời cung hai này, Định luật Hấp Dẫn có thể không phải là định luật trổi vượt hay sao. Người ta hẳn sẽ mong đợi rằng một sự tổng hợp triệt để không thể có được trong hệ thống này như nó sẽ có trong hệ thống kế tiếp. Trong hệ thống này có lẽ hợp lý hơn khi mong đợi một sự biểu lộ triệt để của Định luật Hấp Dẫn.

Strictly speaking, the Law of Attraction is a generic term under which are grouped several other laws similar in nature but diverse in their manifestations.

Nói một cách nghiêm ngặt, Định luật Hấp Dẫn là một thuật ngữ tổng quát, dưới đó được gom nhóm một số định luật khác tương tự về bản chất nhưng khác nhau trong biểu hiện.

39. Discrimination will now be needed. Nature may be similar but manifestation distinct.

39. Giờ đây cần đến sự phân biện. Bản chất có thể tương tự nhưng biểu hiện lại khác biệt.

40. We have to isolate that factor, that common denominator which can be identified as “similar”.

40. Chúng ta phải cô lập yếu tố ấy, mẫu số chung ấy, cái có thể được nhận diện là “tương tự”.

41. It is interesting that laws often spoken of as if they were unitary actually represent a grouping of processes.

41. Điều thú vị là những định luật thường được nói đến như thể chúng là đơn nhất, thực ra lại biểu thị một sự gom nhóm các tiến trình.

It might be useful if we enumerated a few of these laws, thereby enabling the student to get (as he studies them in their totality) a broad general idea as to the Law and its modifications, its spheres of influence and the scope of its activity.

Sẽ hữu ích nếu chúng ta liệt kê một vài định luật này, nhờ đó giúp đạo sinh có được (khi nghiên cứu chúng trong tính toàn thể của chúng) một ý niệm khái quát rộng lớn về Định luật và các biến thể của nó, các phạm vi ảnh hưởng của nó và tầm mức hoạt động của nó.

42. We can imagine that the Tibetan’s treatment will not be extremely detailed. We are meant to get an overview.

42. Chúng ta có thể hình dung rằng cách Chân sư Tây Tạng trình bày sẽ không cực kỳ chi tiết. Điều chúng ta cần đạt được là một cái nhìn tổng quan.

43. In looking for the distinctions, we will be focusing on

43. Khi tìm kiếm các điểm phân biệt, chúng ta sẽ tập trung vào

a. Modifications

a. Các biến thể

b. Spheres of influence

b. Các phạm vi ảnh hưởng

c. Scope of activity

c. Tầm mức hoạt động

44. We will be searching for ‘diversity in unity.’

44. Chúng ta sẽ tìm kiếm “sự đa dạng trong hợp nhất”.

45. As we read A Treatise on Cosmic Fire we are affirmed in the idea that it is very much a treatise on Occult Law.

45. Khi đọc Luận về Lửa Vũ Trụ chúng ta càng được xác nhận trong ý tưởng rằng đây rất nhiều là một luận thuyết về Quy Luật Huyền Bí.

It should be noted here as a basic proposition in connection with all atoms that the Law of Attraction governs the Soul aspect.

Cần lưu ý ở đây như một mệnh đề căn bản liên quan đến mọi nguyên tử rằng Định luật Hấp Dẫn chi phối phương diện linh hồn.

46. By “atoms” DK will mean all the various kinds of atoms He has discussed in this book—even Solar Logoi considered as atoms.

46. Với từ “nguyên tử”, Chân sư DK muốn nói đến mọi loại nguyên tử khác nhau mà Ngài đã bàn đến trong quyển sách này—ngay cả các Thái dương Thượng đế cũng được xem như những nguyên tử.

47. The soul is the great attractive factor within our nature.

47. Linh hồn là yếu tố hấp dẫn lớn lao bên trong bản chất của chúng ta.

48. Thus, within out energy system, our soul nature is most representative of the Law of Attraction.

48. Vì vậy, trong hệ thống năng lượng của chúng ta, bản chất linh hồn của chúng ta là đại diện rõ nhất cho Định luật Hấp Dẫn.

The Law of Economy is the law of the negative electron; the Law of Synthesis is the Law of the positive central life;

Định luật Tiết Kiệm là định luật của điện tử âm; Định luật Tổng Hợp là Định luật của sự sống trung tâm dương tính;

49. Shall we call this “positive central life” the “proton”? Or is it something still more?

49. Chúng ta có nên gọi “sự sống trung tâm dương tính” này là “proton” không? Hay nó còn là một cái gì hơn nữa?

whilst the Law of Attraction governs that which is produced by the relation of these two,

trong khi Định luật Hấp Dẫn chi phối cái được tạo ra bởi mối liên hệ của hai điều này,

50. What is produced by the relation between the two? Coherence? Cosmos? Ordered beauty?

50. Điều gì được tạo ra bởi mối liên hệ giữa hai điều ấy? Sự cố kết? Vũ trụ? Vẻ đẹp có trật tự?

51. Something is produced by the relation between the Law of Synthesis and the Law of Economy. It does not say that the Law of Attraction is produced by this relation, but that the Law of Attraction governs “that” which is produced by the relation.

51. Có một cái gì đó được tạo ra bởi mối liên hệ giữa Định luật Tổng Hợp và Định luật Tiết Kiệm. Ở đây không nói rằng Định luật Hấp Dẫn được tạo ra bởi mối liên hệ này, mà là Định luật Hấp Dẫn chi phối “cái” được tạo ra bởi mối liên hệ ấy.

52. In some ways, it would seem that that which is called by physicists the “neutron” would relate to the Law of Attraction, solar fire and “neutral electricity”.

52. Theo một vài phương diện, dường như cái mà các nhà vật lý gọi là “neutron” sẽ liên hệ với Định luật Hấp Dẫn, Lửa Thái dương và “điện trung hòa”.