Trích nội dung chương
and is itself controlled by a greater cosmic law which is the principle of the intelligence of substance. It is the law of Akasha. và bản thân nó được kiểm soát bởi một định luật vũ trụ lớn hơn, là nguyên khí của trí tuệ của chất liệu. Đó là định luật của Akasha.
and is itself controlled by a greater cosmic law which is the principle of the intelligence of substance. It is the law of Akasha.
và bản thân nó được kiểm soát bởi một định luật vũ trụ lớn hơn, là nguyên khí của trí tuệ của chất liệu. Đó là định luật của Akasha.
53. This is quite an arresting statement. The Law of Akasha is certainly a cosmic law, yet so is the Law of Attraction. Perhaps the Law of Akasha originates for our local cosmosystem from the cosmic monadic plane—the ‘cosmic akashic plane’.
53. Đây quả là một phát biểu rất gây chú ý. Định luật Akasha chắc chắn là một định luật vũ trụ, nhưng Định luật Hấp Dẫn cũng vậy. Có lẽ Định luật Akasha phát sinh đối với vũ trụ-hệ thống cục bộ của chúng ta từ cõi chân thần vũ trụ—“cõi akasha vũ trụ”.
54. Perhaps DK is telling us that Akasha, so closely related to various monadic planes, is deeply involved in some kind of cosmic attraction impulsed through cosmic sound.
54. Có lẽ Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng Akasha, vốn liên hệ rất mật thiết với nhiều cõi chân thần khác nhau, có dính líu sâu xa đến một loại hấp dẫn vũ trụ nào đó được thúc đẩy qua âm thanh vũ trụ.
55. Is the Law of Akasha in some respects a super-cosmic law?
55. Phải chăng Định luật Akasha, trong một vài phương diện, là một định luật siêu vũ trụ?
56. When dealing with akasha we deal with sound, pattern, attraction and with the first formal differentiations into seven. By referring to Chart V, 344, some hints regarding sevenfoldness of akashic planes (solar and cosmic) can be gathered.
56. Khi đề cập đến akasha chúng ta đề cập đến âm thanh, mô hình, hấp dẫn và những biến phân hình thức đầu tiên thành bảy. Khi tham chiếu đến Biểu đồ V, 344, có thể thu thập được một vài gợi ý liên quan đến tính thất phân của các cõi akasha (thái dương và vũ trụ).
It must be borne in mind that these three laws are the expression of the intent or purpose of the three Logoic Aspects.
Cần ghi nhớ rằng ba định luật này là sự biểu lộ của ý định hay mục đích của ba Phương diện Thượng đế.
57. From another point of view the “three Logoic Aspects” can be considered the “Three Persons” of the Logoic Trinity.
57. Từ một quan điểm khác, “ba Phương diện Thượng đế” có thể được xem là “Ba Ngôi” của Tam Vị Thượng đế.
58. We are now speaking of these laws as they operate within a solar logoic context. They certainly must have higher correspondences. At one point DK tells us that we have been given only three cosmic laws and that other, not yet revealed, do exist.
58. Giờ đây chúng ta đang nói về các định luật này khi chúng vận hành trong một bối cảnh thái dương thượng đế. Chắc chắn chúng phải có những tương ứng cao hơn. Có lúc Chân sư DK nói với chúng ta rằng chúng ta chỉ mới được ban cho ba định luật vũ trụ và rằng những định luật khác, chưa được mặc khải, quả thật có tồn tại.
The Law of Economy is the governing principle of Brahma or the Holy Spirit;
Định luật Tiết Kiệm là nguyên khí chi phối của Brahma hay Chúa Thánh Thần;
59. Esoterically, this law rules the five systemic planes. From a higher perspective, it rules five cosmic planes.
59. Một cách huyền bí, định luật này cai quản năm cõi hệ thống. Từ một viễn tượng cao hơn, nó cai quản năm cõi vũ trụ.
the Law of Synthesis is the law of the Father's life;
Định luật Tổng Hợp là định luật của sự sống của Người Cha;
60. This law rulers the systemic and cosmic logoic planes.
60. Định luật này cai quản cõi thượng đế của hệ thống và của vũ trụ.
whilst the Son's life is governed by, and manifests forth divine attraction.
trong khi sự sống của Người Con được chi phối bởi, và biểu lộ ra, hấp dẫn thiêng liêng.
61. The Law of Attraction rules, particularly, the systemic and probably the cosmic monadic plane, but has resonance with the systemic and cosmic buddhic and astral planes.
61. Định luật Hấp Dẫn cai quản, đặc biệt, cõi chân thần của hệ thống và có lẽ cả cõi chân thần vũ trụ, nhưng có cộng hưởng với các cõi Bồ đề và cảm dục của hệ thống và của vũ trụ.
62. The “Son’s life” is an aspect of “that” which is produced by the relation of the Law of Synthesis and the Law of Economy: “that” is ruled by the Law of Attraction.
62. “Sự sống của Người Con” là một phương diện của “cái” được tạo ra bởi mối liên hệ giữa Định luật Tổng Hợp và Định luật Tiết Kiệm: “cái” ấy được Định luật Hấp Dẫn cai quản.
Yet these three are the three subsidiary laws of a greater impulse
Tuy nhiên, ba định luật này là ba định luật phụ thuộc của một xung động lớn hơn
63. We notice that a law is called an “impulse”. The dynamic of pulsation is ruled by the first ray. One example is the pulsating "Jewel in the Lotus"
63. Chúng ta lưu ý rằng một định luật được gọi là một “xung động”. Động lực của sự rung nhịp được cai quản bởi cung một. Một ví dụ là “Bảo Châu trong Hoa Sen” đang rung nhịp
which governs the life of the Unmanifested Logos.25 S. D., I, 56, 73, 74.[Page 1168]
điều khiển sự sống của Thượng đế Không Biểu Hiện.25 G. L. B. N., I, 56, 73, 74.[Page 1168]
64. How can we think of the “Unmanifested Logos”? Are we to think of the Solar Logos in His soul nature or in His monadic nature? Surely, both are unmanifested at this time (at least on the cosmic physical plane), especially His monadic nature which is due to manifest more fully towards the end of this solar system and particularly in the next.
64. Làm sao chúng ta có thể nghĩ về “Thượng đế Không Biểu Hiện”? Chúng ta có nên nghĩ về Thái dương Thượng đế trong bản chất linh hồn của Ngài hay trong bản chất chân thần của Ngài không? Chắc chắn cả hai đều không biểu hiện vào lúc này (ít nhất là trên cõi hồng trần vũ trụ), đặc biệt là bản chất chân thần của Ngài, vốn sẽ biểu hiện đầy đủ hơn vào cuối hệ mặt trời này và nhất là trong hệ kế tiếp.
65. I do not think we should think of the “Unmanifested Logos” as any of the Three Persons of the Logoic Trinity.
65. Tôi không nghĩ rằng chúng ta nên xem “Thượng đế Không Biểu Hiện” là bất kỳ Ngôi nào trong Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế.
66. The “Unmanifested Logos” seems to be the synthesis of the Three Persons and the three laws which express these Persons.
66. “Thượng đế Không Biểu Hiện” dường như là sự tổng hợp của Ba Ngôi và của ba định luật biểu lộ các Ngôi ấy.
S9S10 Part II
TCF 1168-1170
TCF 1168-1170
I. THE SUBSIDIARY LAWS
I. CÁC ĐỊNH LUẬT PHỤ THUỘC
The subsidiary aspects, or laws, of the Law of Attraction might be enumerated as follows:
Các phương diện phụ thuộc, hay các định luật, của Định luật Hấp Dẫn có thể được liệt kê như sau:
1. The Law of Chemical Affinity.
1. Định luật Ái lực Hóa học.
This law governs the soul aspect in the mineral kingdom.
Định luật này cai quản phương diện linh hồn trong giới kim thạch.
1. Here we are dealing with the “anima mundi” or “soul of the world”—the lower worlds especially.
1. Ở đây chúng ta đang đề cập đến “anima mundi” hay “linh hồn của thế giới”—đặc biệt là các thế giới thấp.
2. We notice that it is the consciousness or “soul aspect” of the mineral kingdom which is governed by this law more than the matter aspect.
2. Chúng ta lưu ý rằng chính tâm thức hay “phương diện linh hồn” của giới kim thạch được định luật này cai quản nhiều hơn là phương diện vật chất.
3. It may seem unusual to think of the mineral kingdom as possessing “soul”, but according to the Hylozoistic Theory there is no aspect of Creation devoid of soul or consciousness of some type.
3. Có thể có vẻ lạ khi nghĩ rằng giới kim thạch sở hữu “linh hồn”, nhưng theo Thuyết Vật Linh thì không có phương diện nào của Sáng Tạo lại thiếu vắng linh hồn hay một loại tâm thức nào đó.
It concerns the marriage of the atoms, and the romance of the elements.
Nó liên quan đến cuộc hôn phối của các nguyên tử, và mối lãng mạn của các nguyên tố.
4. DK is deliberately using analogical terms which apply more to the human level of existence than to the world of so-called “inanimate matter”. Really, He is telling us that the mineral kingdom is animate.
4. Chân sư DK cố ý dùng những thuật ngữ tương đồng áp dụng cho cấp độ hiện hữu của con người nhiều hơn là cho thế giới của cái gọi là “vật chất vô tri”. Thực ra, Ngài đang nói với chúng ta rằng giới kim thạch là hữu sinh.
5. He is also telling us that all the issues of affinity, attraction and repulsion exist in this mineral world (governed by its soul) just as they exist in the human kingdom governed by the soul aspect (both the incarnated soul aspect and the aspect of soul which is said to be “on its own plane”).
5. Ngài cũng đang nói với chúng ta rằng mọi vấn đề về ái lực, hấp dẫn và đẩy lùi đều tồn tại trong thế giới kim thạch này (được linh hồn của nó cai quản) cũng như chúng tồn tại trong giới nhân loại được phương diện linh hồn cai quản (cả phương diện linh hồn nhập thể lẫn phương diện linh hồn được nói là “ở trên cõi riêng của nó”).
6. He seems to be working against the prevalent thought that the mineral kingdom is lifeless, inert, unconscious.
6. Dường như Ngài đang chống lại quan niệm phổ biến cho rằng giới kim thạch là vô sinh, trơ lì, vô thức.
It serves to perpetuate the life of the mineral kingdom and to preserve its integrity.
Nó giúp duy trì sự sống của giới kim thạch và bảo tồn tính toàn vẹn của giới ấy.
7. This is an interesting idea. Is DK saying that without the marriage of the atoms and the romance of the elements the life of the mineral kingdom would not be perpetuated?
7. Đây là một ý tưởng thú vị. Phải chăng Chân sư DK đang nói rằng nếu không có cuộc hôn phối của các nguyên tử và mối lãng mạn của các nguyên tố thì sự sống của giới kim thạch sẽ không được duy trì?
8. This leads one to consider the question of ‘sex’ within the mineral kingdom and the methods of death and reproduction related to it, if such truly exists.
8. Điều này khiến người ta suy nghĩ đến vấn đề “giới tính” trong giới kim thạch và các phương pháp chết và sinh sản liên hệ với nó, nếu quả thật điều ấy có tồn tại.
9. If reincarnation is a universal law, in what manner does it operate within the mineral kingdom with its group soul and many group soul subdivisions? Are there incarnate and discarnate members of this kingdom? Is it possible that certain ‘units’ in the mineral kingdom are ‘out of incarnation’ while, presumably, a smaller proportion are ‘in incarnation’? These are odd thoughts but it seems that the Tibetan is inclining us to think along such lines.
9. Nếu luân hồi là một định luật phổ quát, thì nó vận hành theo cách nào trong giới kim thạch với hồn nhóm của nó và nhiều phân bộ hồn nhóm? Có những thành viên nhập thể và không nhập thể của giới này chăng? Có thể nào một số “đơn vị” trong giới kim thạch đang “không lâm phàm” trong khi, có lẽ, một tỷ lệ nhỏ hơn thì “đang lâm phàm”? Đây là những ý nghĩ lạ lùng nhưng dường như Chân sư Tây Tạng đang khiến chúng ta nghiêng về cách suy nghĩ như thế.
It is the cause of the immetalisation of the Monad.
Nó là nguyên nhân của sự kim thạch hóa của Chân thần.
10. DK is telling us that the Law of Chemical Affinity is the “cause of the immetalisation of the Monad”. Has the ‘soul’ of the mineral kingdom attracted the descending Monad from its high estate? During the Second Outpouring, a Monad on the monadic plane takes to itself an atom of etheric substance which becomes, for it, a permanent atom. In this way that this permanent atom must ‘journey’ through the mineral kingdom in its many subdivisions and that this ‘journey’ is part of the pre-individualization pilgrimage of that which will one day be called the “human Monad”. Speculation on this possibility leads us towards some thoughts seldom thought!
10. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng Định luật Ái lực Hóa học là “nguyên nhân của sự kim thạch hóa của Chân thần”. Phải chăng “linh hồn” của giới kim thạch đã hút Chân thần đang giáng xuống từ địa vị cao của nó? Trong Lần tuôn đổ thứ hai, một chân thần trên cõi chân thần lấy cho mình một nguyên tử chất liệu dĩ thái, nguyên tử này trở thành, đối với nó, một nguyên tử trường tồn trường tồn. Theo cách này, nguyên tử trường tồn ấy hẳn phải “du hành” qua giới kim thạch trong nhiều phân bộ của nó, và “cuộc hành trình” này là một phần của cuộc hành hương tiền biệt ngã hóa của cái mà một ngày kia sẽ được gọi là “Chân thần nhân loại”. Suy đoán về khả thể này dẫn chúng ta đến những ý nghĩ hiếm khi được nghĩ tới!
11. In this process of monadic immetalisation, would Monads of certain types ‘incarnate’ within certain elements resonant to that type? These are questions which we are probably not accustomed to consider but all have to do with the possible relation between spiritual affinity and material affinity.
11. Trong tiến trình kim thạch hóa chân thần này, phải chăng các Chân thần thuộc những loại nhất định sẽ “nhập thể” trong những nguyên tố nhất định cộng hưởng với loại ấy? Đây là những câu hỏi mà có lẽ chúng ta không quen xem xét, nhưng tất cả đều liên quan đến mối liên hệ khả hữu giữa ái lực tinh thần và ái lực vật chất.
2. The Law of Progress.
2. Định luật Tiến Bộ.
It is called this in the vegetable kingdom owing to the fact that it is in this kingdom that definite objective response to stimulation can be noted.
Nó được gọi như thế trong giới thực vật vì chính trong giới này có thể ghi nhận được sự đáp ứng khách quan rõ rệt đối với kích thích.
12. Because the word “objective response” is used in relation to the vegetable kingdom, does this mean that “subjective response” is possible in the mineral kingdom?
12. Bởi vì từ “đáp ứng khách quan” được dùng liên hệ với giới thực vật, điều này có nghĩa là “đáp ứng chủ quan” là điều có thể có trong giới kim thạch chăng?
13. Or is it possible that “objective response” occurs even in relation to the mineral kingdom but cannot be “noted”—at least not by ordinary means and methods of perception?
13. Hay có thể nào “đáp ứng khách quan” cũng xảy ra ngay cả trong giới kim thạch nhưng không thể được “ghi nhận”—ít nhất không phải bằng những phương tiện và phương pháp tri giác thông thường?
14. Since there is a hierarchy in the mineral kingdom it must be possible for the lives ensouling various elements to ‘ascend’ and so, progress or progression of a type must exist.
14. Vì có một huyền giai trong giới kim thạch nên hẳn phải có khả năng để các sự sống phú linh cho những nguyên tố khác nhau “thăng lên”, và như vậy, một loại tiến bộ hay tiến trình tiến bộ nào đó hẳn phải tồn tại.
15. Yet the type of response to impact possible in the mineral kingdom must be very much less than that possible in the vegetable kingdom.
15. Tuy nhiên, loại đáp ứng đối với tác động có thể có trong giới kim thạch hẳn phải ít hơn rất nhiều so với loại có thể có trong giới thực vật.
16. To us, the vegetable kingdom seems very much ‘alive’ whereas to all but the most knowledgeable occult investigator, the mineral kingdom seems rather ‘dead’.
16. Đối với chúng ta, giới thực vật dường như rất “sống”, trong khi đối với tất cả mọi người trừ nhà khảo cứu huyền bí hiểu biết nhất, giới kim thạch lại có vẻ khá “chết”.
17. There have been experiments by the famous Indian scientist J.C. Bose pointing to the kind of ‘reaction’ in metals which suggest that they are living rather than inanimate.
17. Đã có những thí nghiệm của nhà khoa học Ấn Độ nổi tiếng J.C. Bose chỉ ra loại “phản ứng” trong kim loại, gợi ý rằng chúng là hữu sinh hơn là vô tri.
18. Here we learn something of great importance from one of Bose’s most famous lectures:
18. Ở đây chúng ta học được điều gì đó rất quan trọng từ một trong những bài diễn thuyết nổi tiếng nhất của Bose:
"I dedicate today this Institute as not merely a laboratory but a temple." His reverent solemnity stole like an unseen cloak over the crowded auditorium. "In the pursuit of my investigations I was unconsciously led into the border region of physics and physiology. To my amazement, I found boundary lines vanishing, and points of contact emerging, between the realms of the living and the non-living. Inorganic matter was perceived as anything but inert; it was a thrill under the action of multitudinous forces.
"Hôm nay tôi hiến dâng Viện này không chỉ như một phòng thí nghiệm mà còn như một ngôi đền." Sự trang nghiêm đầy kính cẩn của ông phủ xuống khán phòng đông nghịt như một tấm áo choàng vô hình. "Trong khi theo đuổi các cuộc khảo cứu của mình, tôi đã vô thức được dẫn vào vùng biên giữa vật lý học và sinh lý học. Trước sự kinh ngạc của tôi, các đường ranh giới đã biến mất, và các điểm tiếp xúc đã xuất hiện giữa các lĩnh vực của cái sống và cái không sống. Vật chất vô cơ được nhận thấy hoàn toàn không phải là trơ lì; nó rung động dưới tác động của vô số mãnh lực.
"A universal reaction seemed to bring metal, plant and animal under a common law. They all exhibited essentially the same phenomena of fatigue and depression, with possibilities of recovery and of exaltation, as well as the permanent irresponsiveness associated with death.Filled with awe at this stupendous generalization, it was with great hope that I announced my results before the Royal Society—results demonstrated by experiments. But the physiologists present advised me to confine myself to physical investigations, in which my success had been assured, rather than encroach on their preserves. I had unwittingly strayed into the domain of an unfamiliar caste system and so offended its etiquette.”
"Một phản ứng phổ quát dường như đưa kim loại, thực vật và động vật vào dưới một định luật chung. Tất cả chúng đều biểu lộ về căn bản cùng những hiện tượng mệt mỏi và suy giảm, với những khả năng phục hồi và hưng khởi, cũng như sự vô đáp ứng vĩnh viễn gắn liền với cái chết.Tràn đầy kinh ngạc trước sự khái quát hóa kỳ vĩ này, tôi đã công bố các kết quả của mình trước Hội Hoàng gia với niềm hy vọng lớn lao—những kết quả được chứng minh bằng thực nghiệm. Nhưng các nhà sinh lý học hiện diện đã khuyên tôi nên giới hạn mình trong các khảo cứu vật lý, nơi thành công của tôi đã được bảo đảm, thay vì xâm phạm vào lãnh địa của họ. Tôi đã vô tình lạc vào phạm vi của một hệ thống đẳng cấp xa lạ và vì thế xúc phạm đến lễ nghi của nó.”
It is the basis of the phenomenon of sensation, which is the key to this solar system of love, our system being a "Son of Necessity" or of desire.
Nó là nền tảng của hiện tượng cảm giác, vốn là chìa khóa của hệ mặt trời tình thương này, vì hệ thống của chúng ta là một "Con của Tất Yếu" hay của dục vọng.
19. We are obliged to relate progression to sensation. We can infer that because of capacity of consciousness to respond sentiently to contacts, progression is possible (through adaptation). This response produces that interactivity (exhibiting the dynamics of attraction and repulsion) which makes possible the gathering of all sentient beings into groups reflective of archetypal patterns.
19. Chúng ta buộc phải liên hệ tiến trình tiến bộ với cảm giác. Chúng ta có thể suy ra rằng vì khả năng của tâm thức đáp ứng một cách cảm tri đối với các tiếp xúc, nên tiến bộ là điều có thể có (thông qua thích nghi). Sự đáp ứng này tạo ra tính tương tác ấy (biểu lộ động lực của hấp dẫn và đẩy lùi) làm cho việc tập hợp mọi hữu thể cảm tri vào những nhóm phản ánh các mô hình nguyên mẫu trở nên khả hữu.
20. We live in a sentient, astral-buddhic solar system. It was the desire of the Solar Logos which brought our Solar Logos into manifestation on the cosmic physical plane. Once His desire was sufficiently intense, the precipitation of the solar system became inevitable, unavoidable, necessary. Thus He is called a “Son of Necessity”.
20. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời cảm tri, cảm dục-Bồ đề. Chính dục vọng của Thái dương Thượng đế đã đưa Thái dương Thượng đế của chúng ta vào biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ. Một khi dục vọng của Ngài đủ mãnh liệt, sự ngưng tụ của hệ mặt trời trở nên tất yếu, không thể tránh khỏi, cần thiết. Vì vậy Ngài được gọi là một “Con của Tất Yếu”.
This law is the working out into manifestation of the informing consciousness of a part of the deva kingdom, and of certain pranic energies.
Định luật này là sự triển khai vào biểu hiện của tâm thức thấm nhuần một phần của giới thiên thần, và của một số năng lượng prana.
21. These are very occult statements which must await full clarification until another time.
21. Đây là những phát biểu rất huyền bí, phải chờ đến một lúc khác mới được làm sáng tỏ đầy đủ.
22. We may gather that certain devas and certain pranic energies are responsible for progression. These devas are builders which build in such a way that progress according to the desire and will of the Greater Being is instituted.
22. Chúng ta có thể suy ra rằng một số thiên thần và một số năng lượng prana chịu trách nhiệm về tiến trình tiến bộ. Những thiên thần này là các đấng kiến tạo, kiến tạo theo cách sao cho sự tiến bộ phù hợp với dục vọng và ý chí của Đấng Vĩ Đại hơn được thiết lập.
23. In general, prana is vitality itself, and contributes to the animation which keeps the units in any living system moving towards a more desirable arrangement.
23. Nói chung, prana chính là sinh lực, và góp phần vào tính hữu sinh giữ cho các đơn vị trong bất kỳ hệ thống sống nào cũng chuyển động hướng tới một sự sắp xếp đáng mong muốn hơn.
24. We may imagine that the “part of the deva kingdom” concerned is not the highest part but rather the consciousness of those unconscious though evolutionary Builders who work specifically with the vegetable kingdom.
24. Chúng ta có thể hình dung rằng “phần của giới thiên thần” được nói đến không phải là phần cao nhất mà đúng hơn là tâm thức của những Đấng Kiến Tạo vô thức nhưng thăng thượng tiến hoá, những vị làm việc đặc biệt với giới thực vật.
The student will find much of esoteric interest in the following line of living forces:
Đạo sinh sẽ tìm thấy nhiều điều huyền bí đáng quan tâm trong tuyến các mãnh lực sống sau đây:
a. The second chain, globe and round,
a. Dãy thứ hai, bầu hành tinh và cuộc tuần hoàn thứ hai,
25. In relation to the Earth-scheme, we are speaking of the Venus-chain and globe.
25. Liên hệ với hệ hành tinh Địa Cầu, ở đây chúng ta đang nói đến Dãy Sao Kim và bầu hành tinh Sao Kim.
26. The “round” can be the scheme round related to the Planetary Logos as a whole, or a chain round related, for instance, to the fourth chain and to the Chain-Lord of the fourth chain.
26. “Cuộc tuần hoàn” có thể là cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh liên hệ với toàn thể Hành Tinh Thượng Đế, hoặc một cuộc tuần hoàn của dãy liên hệ, chẳng hạn, với dãy thứ tư và với Chúa Tể Dãy của dãy thứ tư.
b. The vegetable kingdom,
b. Giới thực vật,
27. The vegetable kingdom is the kingdom ruled by Venus and expressing all the soft line rays: two, four and six. Hence the affinity with the second round, for rays four and six are subsidiaries of the second ray.
27. Giới thực vật là giới do Sao Kim cai quản và biểu lộ tất cả các cung thuộc tuyến mềm: hai, bốn và sáu. Do đó có ái lực với cuộc tuần hoàn thứ hai, vì cung bốn và cung sáu là những cung phụ thuộc của cung hai.
c. The devas of desire in their second reflected groupings,
c. Các thiên thần của dục vọng trong những nhóm phản chiếu thứ hai của họ,
28. How many groupings are there—perhaps seven? The second grouping links with the second kingdom and the second round(s), the second chain and second globe.
28. Có bao nhiêu nhóm—có lẽ là bảy chăng? Nhóm thứ hai liên kết với giới thứ hai và cuộc tuần hoàn thứ hai, dãy thứ hai và bầu hành tinh thứ hai.
29. From whence the reflection? Are we speaking of a reflection from the Agnisuryans of the buddhic plane (through which the principle of Love-Wisdom is expressed)? The devas of desire are keyed to the astral plane (which resonates to the buddhic plane), yet are there “devas of desire” to be found upon the buddhic plane expressing, perhaps, the “ heart’s desire” of the Solar Logos?
29. Sự phản chiếu ấy từ đâu mà có? Chúng ta có đang nói đến một sự phản chiếu từ các Agnisuryan của cõi Bồ đề (qua đó nguyên khí Bác Ái – Minh Triết được biểu lộ) chăng? Các thiên thần của dục vọng được chỉnh âm theo cõi cảm dục (cõi này cộng hưởng với cõi Bồ đề), nhưng liệu có thể tìm thấy những “thiên thần của dục vọng” trên cõi Bồ đề, có lẽ biểu lộ “ khát vọng của trái tim” của Thái dương Thượng đế chăng?
d. The heart of the Sun,
d. Trái tim của Mặt Trời,
30. This is a very high link to the soul nature of the Solar Logos. Naturally a second ray quality emanates from this center and this correlates with the various entries on this listing.
30. Đây là một liên kết rất cao với bản chất linh hồn của Thái dương Thượng đế. Đương nhiên, một phẩm tính cung hai phát xạ từ trung tâm này, và điều này tương ứng với các mục khác nhau trong bảng liệt kê này.
e. The second Ray force.
e. mãnh lực Cung hai.
31. Finally, the supreme forces (for our solar system, at least) which conditions all the entries on the listing.
31. Sau cùng, đó là các mãnh lực tối thượng (ít nhất là đối với hệ mặt trời của chúng ta) tác động lên mọi mục trong bảng liệt kê này.
32. The relationship of numerical resonance to alignment is of great importance.
32. Mối liên hệ giữa cộng hưởng số học và sự chỉnh hợp có tầm quan trọng rất lớn.
3. The Law of Sex.
3. Định luật về Giới tính.
This is the term applied to the force which brings about the physical merging of the two poles in connection with the animal kingdom, and of man, viewing him as responsive to the call of his animal nature.
Đây là thuật ngữ được áp dụng cho mãnh lực tạo ra sự hợp nhất hồng trần của hai cực liên quan đến giới động vật, và của con người, khi nhìn y như đáp ứng với tiếng gọi của bản chất thú tính của mình.
33. We note that the Law of Sex is the third subsidiary law; both the sacral center and throat center are on the third ray line (with the seventh ray involved in relation to both centers at various points in the evolutionary process). Sex pertains more to the third aspect than to the love aspect, though it is related to the second aspect in various secondary ways.
33. Chúng ta lưu ý rằng Định luật về Giới tính là định luật phụ thuộc thứ ba; cả trung tâm xương cùng lẫn trung tâm cổ họng đều nằm trên tuyến cung ba (với cung bảy có liên hệ đến cả hai trung tâm tại nhiều điểm khác nhau trong tiến trình tiến hoá). Giới tính liên quan đến phương diện thứ ba nhiều hơn là phương diện bác ái, dù nó có liên hệ với phương diện thứ hai theo nhiều cách thứ yếu khác nhau.
34. DK is interpreting this law in relation to the human being and that aspect of his nature which is directly related to the animal kingdom, the third kingdom.
34. Ở đây Chân sư DK đang diễn giải định luật này trong liên hệ với con người và phương diện bản chất của y vốn trực tiếp liên hệ với giới động vật, tức giới thứ ba.
35. We note that the idea expressed here is not only about “merging” but, specifically, about “physical merging”. So the aspect of sex here emphasized is particularly “physical” in nature.
35. Chúng ta lưu ý rằng ý tưởng được diễn đạt ở đây không chỉ nói về “sự hợp nhất” mà, cụ thể, là về “sự hợp nhất hồng trần”. Vì vậy, phương diện của giới tính được nhấn mạnh ở đây đặc biệt mang tính “hồng trần”.
36. Of course, if sex is more broadly understood, it can be found operative in relation to all kingdoms of nature even the Solar Kingdom. Our Solar Logos is said to have His “polar opposite”—His ‘marriage partner’ and even galactic ‘marriages’ can be inferred.
36. Dĩ nhiên, nếu giới tính được hiểu theo nghĩa rộng hơn, thì có thể thấy nó hoạt động liên hệ với mọi giới trong thiên nhiên, kể cả Thiên Giới Thái Dương. Thái dương Thượng đế của chúng ta được nói là có “cực đối nghịch” của Ngài—“bạn đời” của Ngài—và ngay cả những “cuộc hôn phối” thiên hà cũng có thể được suy ra.
It concerns itself with the due guarding of the form in this particular cycle and its perpetuation.
Nó liên quan đến sự bảo vệ đúng đắn hình tướng trong chu kỳ đặc biệt này và sự duy trì của nó.
37. If we consider this requirement, we see how far humanity has deviated from the intended approach to sex. The human form is not at all well-guarded at this time and sex is prostituted for personal pleasure rather than used responsibly for the perpetuation of the race. That sex inevitably leads to perpetuation cannot be denied, but is the approach to perpetuation conscious and responsible, that is the question!
37. Nếu xét yêu cầu này, chúng ta sẽ thấy nhân loại đã lệch xa đến mức nào khỏi cách tiếp cận giới tính được dự định. Hình tướng con người hiện nay hoàn toàn không được bảo vệ tốt, và giới tính bị đem ra làm công cụ cho khoái lạc cá nhân thay vì được sử dụng một cách có trách nhiệm để duy trì nhân loại. Không thể phủ nhận rằng giới tính tất yếu dẫn đến sự duy trì nòi giống, nhưng vấn đề là: cách tiếp cận đối với sự duy trì ấy có ý thức và có trách nhiệm hay không!
It is only powerful during the period of the duality of the sexes and their separation and, in the case of man, will be offset by a higher expression of the law when man is again androgynous.
Nó chỉ mạnh mẽ trong thời kỳ nhị nguyên tính của hai giới và sự phân ly của chúng, và trong trường hợp con người, sẽ được hóa giải bởi một biểu hiện cao hơn của định luật khi con người lại trở nên lưỡng tính.
38. We see that humanity is definitely heading towards androgyny. There are many human beings who (in their present state of consciousness) would not welcome this eventuality and certainly disbelieve in the possibility.
38. Chúng ta thấy rằng nhân loại rõ rệt đang tiến về trạng thái lưỡng tính. Có nhiều con người mà (trong trạng thái tâm thức hiện nay của họ) sẽ không hoan nghênh viễn cảnh này và chắc chắn không tin vào khả năng ấy.
39. It would seem that androgyny will begin to appear in the sixth root-race with its emphasis upon the buddhic plane and perhaps be consummated in the seventh when Uranus rules. The fifth rootrace operates under the Law of Cleavages and, so it would seem, the separation of the sexes will persist during its period of expression. Yet, even now, tendencies towards at least psychological androgyny can be detected.
39. Dường như trạng thái lưỡng tính sẽ bắt đầu xuất hiện trong giống dân gốc thứ sáu với sự nhấn mạnh của nó lên cõi Bồ đề, và có lẽ được hoàn tất trong giống dân gốc thứ bảy khi Sao Thiên Vương cai quản. Giống dân gốc thứ năm hoạt động dưới Định luật Phân Ly, và vì thế dường như sự phân chia hai giới sẽ còn kéo dài trong thời kỳ biểu lộ của nó. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, những khuynh hướng hướng tới ít nhất là trạng thái lưỡng tính tâm lý cũng có thể được nhận ra.
40. The Law of Sex has been operative, then, since approximately the middle of the Lemurian root race and will probably persist until well into the succeeding root-races, as it cannot be expected that all men (some of whom will not even achieve entry on the Path until the next round) are to achieve androgyny at the same time. Some may, we may anticipate, during the final root-races of this round—the fourth.
40. Như vậy, Định luật về Giới tính đã hoạt động từ khoảng giữa giống dân gốc Lemuria và có lẽ sẽ còn tiếp tục sâu vào các giống dân gốc kế tiếp, vì không thể mong đợi rằng mọi người nam và nữ (một số người trong họ thậm chí sẽ chưa đạt được sự bước vào Con Đường cho đến cuộc tuần hoàn kế tiếp) đều đạt trạng thái lưỡng tính cùng một lúc. Có thể dự đoán rằng một số người sẽ đạt được điều đó trong các giống dân gốc cuối cùng của cuộc tuần hoàn này—cuộc tuần hoàn thứ tư.
41. Truly, the Divine Plan holds in store many changes of form and consciousness which cannot easily be understood at this point in our development.
41. Quả thật, Thiên Cơ cất giữ nhiều biến đổi về hình tướng và tâm thức mà ở điểm hiện nay trong sự phát triển của chúng ta, khó có thể thấu hiểu được.
It is [Page 1169] the law of marriage,
Đó là [Page 1169] định luật của hôn nhân,
42. Here DK will lift the understanding of the Law of Sex onto various higher turns of the spiral. Just above he has told us that when man is again androgynous the Law of Sex will not be entirely suspended but a higher expression of the law will be operative.
42. Ở đây Chân sư DK sẽ nâng sự thấu hiểu về Định luật về Giới tính lên nhiều vòng xoắn cao hơn. Ngay phía trên, Ngài đã cho chúng ta biết rằng khi con người lại trở nên lưỡng tính, Định luật về Giới tính sẽ không hoàn toàn bị đình chỉ, mà một biểu hiện cao hơn của định luật sẽ hoạt động.
and finds some aspects of its manifestation not only in marriage of men and animals in the physical sense, but in the "occult marriage" of
và tìm thấy một số phương diện biểu lộ của nó không chỉ trong hôn nhân của con người và động vật theo nghĩa hồng trần, mà còn trong “hôn nhân huyền bí” của
43. Here DK discriminates between physical marriage and “occult marriage”. This is an important discrimination for all who study the occult sciences, as there is a type of marriage possible for the soul under the Law of Magnetic Impulse when physical marriage, per se, is not. The Law of Magnetic Impulse is ruled by Libra just as is the process of physical-plane marriage.
43. Ở đây Chân sư DK phân biện giữa hôn nhân hồng trần và “hôn nhân huyền bí”. Đây là một sự phân biện quan trọng đối với tất cả những ai nghiên cứu các khoa học huyền bí, vì có một loại hôn nhân khả hữu cho linh hồn dưới Định luật Xung Động Từ Tính khi chính hôn nhân hồng trần tự nó lại không khả hữu. Định luật Xung Động Từ Tính được Libra cai quản cũng như tiến trình hôn nhân trên cõi hồng trần.
44. As students of occultism we must be alert to an understanding of the higher implications of apparently ‘lower’ laws. The Law of Analogy will assist us.
44. Là những đạo sinh của huyền bí học, chúng ta phải tỉnh thức trước sự thấu hiểu những hàm ý cao hơn của các định luật bề ngoài có vẻ “thấp”. Định luật tương đồng sẽ trợ giúp chúng ta.
a. The Soul and the Spirit.
a. Linh hồn và tinh thần.
45. This is an advanced form of marriage, lying quite far ahead of the average probationer or disciple. The function of Jupiter in relation to Gemini contributes to the consummation of this kind of marriage. One cannot begin to think of its possibility until the third initiation has been taken. The Masters have achieved this type of “marriage”. The Chohans have, in a way, transcended it.
45. Đây là một hình thức hôn nhân cao cấp, còn ở khá xa phía trước đối với người dự bị trung bình hay đệ tử trung bình. Chức năng của Sao Mộc trong liên hệ với Gemini góp phần vào sự hoàn tất loại hôn nhân này. Người ta không thể bắt đầu nghĩ đến khả năng của nó cho đến khi đã trải qua lần điểm đạo thứ ba. Các Chân sư đã đạt được loại “hôn nhân” này. Các Chohan, theo một nghĩa nào đó, đã vượt qua nó.
b. The Son with his Mother (or the Soul with the physical substance).
b. Người Con với Mẹ của mình (hay linh hồn với chất liệu hồng trần).
46. To those who do not approach philosophically, this type of “marriage” cannot help but seem incestuous, but we understand that we are speaking of the merging of the second and third aspects of divinity.
46. Đối với những ai không tiếp cận theo lối triết học, loại “hôn nhân” này hẳn sẽ có vẻ như loạn luân, nhưng chúng ta hiểu rằng ở đây đang nói về sự hợp nhất của phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính.
47. The curriculum of the modern disciple is precisely this and his meditations are primarily aimed at soul-infusion.
47. Chương trình huấn luyện của đệ tử hiện đại chính là điều này, và các bài tham thiền của y chủ yếu nhắm đến sự linh hồn thấm nhuần.
c. The negative planetary lives with the positive ones earlier pointed out.
c. Các sự sống hành tinh âm tính với các sự sống dương tính đã được chỉ ra trước đó.
48. In one sense we are speaking of the marriage of the evolutionary devas with the elemental lives. But questions of positive and negative are relative and so there are many ‘marriages’ which involve lives which are relatively positive with those which are relatively negative.
48. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta đang nói về cuộc hôn phối giữa các thiên thần thăng thượng tiến hoá với các sự sống hành khí. Nhưng các vấn đề về dương và âm là tương đối, và vì thế có nhiều “cuộc hôn phối” liên quan đến những sự sống tương đối dương tính với những sự sống tương đối âm tính.
49. Here we are largely speaking of the relationship between the members of the Army of the Voice with the elemental building essences of the various planes and subplanes.
49. Ở đây phần lớn chúng ta đang nói về mối liên hệ giữa các thành viên của Đạo Quân của Âm Thanh với các tinh chất kiến tạo hành khí của các cõi và cõi phụ khác nhau.
d. The systemic marriage, or the merging of the two final planetary schemes after their absorption of the other forces.
d. Cuộc hôn phối hệ thống, hay sự hợp nhất của hai hệ hành tinh cuối cùng sau khi chúng hấp thu các mãnh lực khác.
50. This is a very interesting kind of marriage and will take us to an examination of Chart VI, TCF 373. We note that over and above the large Saturn-scheme (may it be the scheme of “esoteric Saturn”?) stand Uranus and Neptune—very likely the final two schemes which, having etherically absorbed all the planets in the Saturn-scheme, subsequently merge with each other.
50. Đây là một loại hôn phối rất thú vị và sẽ dẫn chúng ta đến việc khảo sát Biểu đồ VI, TCF 373. Chúng ta lưu ý rằng vượt lên trên hệ Saturn lớn lao (có thể đó là hệ của “Saturn nội môn” chăng?) là Uranus và Neptune—rất có thể là hai hệ cuối cùng, sau khi đã hấp thu bằng dĩ thái tất cả các hành tinh trong hệ Saturn, rồi sau đó hợp nhất với nhau.
51. We remember that these final mergings do not involve the dense physical planets at all, but only their subtle principles, beginning, probably, with their etheric natures.
51. Chúng ta nhớ rằng những sự hợp nhất cuối cùng này hoàn toàn không liên quan đến các hành tinh hồng trần đậm đặc, mà chỉ liên quan đến các nguyên khí vi tế của chúng, có lẽ bắt đầu với các bản chất dĩ thái của chúng.
e. The cosmic marriage, or the merging of our solar system with its opposite cosmic pole, another constellation
e. Cuộc hôn phối vũ trụ, hay sự hợp nhất của hệ mặt trời chúng ta với cực vũ trụ đối nghịch của nó, một chòm sao khác
52. Here is an interesting, possibly blinded, statement. Is our solar system a “constellation” (and our planets really “stars”) as some theorists have speculated? Is the “opposite cosmic pole” of our Solar Logos and His system really another “constellation” or is it a solar system?
52. Đây là một phát biểu thú vị, có thể đã được che giấu. Hệ mặt trời của chúng ta có phải là một “chòm sao” (và các hành tinh của chúng ta thật ra là những “ngôi sao”) như một số nhà lý thuyết đã suy đoán không? “Cực vũ trụ đối nghịch” của Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ của Ngài thật sự là một “chòm sao” khác hay là một hệ mặt trời?
53. If the opposite pole should happen to be Sirius, would we define Sirius as a solar system or constellation? Sirius A does have at least one other star associated with it, Sirius B, and perhaps Sirius C? Is this association enough to give it the status of the “constellation”?
53. Nếu cực đối nghịch ấy lại là Sirius, thì chúng ta sẽ định nghĩa Sirius là một hệ mặt trời hay một chòm sao? Sirius A quả thật có ít nhất một ngôi sao khác liên kết với nó, Sirius B, và có lẽ cả Sirius C? Sự liên kết này có đủ để cho nó địa vị của một “chòm sao” hay không?
54. The word “another” seems to suggest that our solar system is really a “constellation”—a thought of some interest since The Secret Doctrine seems to imply that Mars was once a Sun!
54. Từ “khác” dường như gợi ý rằng hệ mặt trời của chúng ta thật sự là một “chòm sao”—một ý tưởng khá đáng chú ý vì Giáo Lý Bí Nhiệm dường như hàm ý rằng Sao Hỏa đã từng là một Mặt Trời!
55. There is some discussion whether Sirius should be included within the "Seven Solar Systems of Which Ours is One" or whether it should stand on its own (associated with two companion stars) as a “constellation”? (cf. EA 50)
55. Có một số bàn luận về việc liệu Sirius có nên được bao gồm trong “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một” hay liệu nó nên đứng riêng (liên kết với hai ngôi sao đồng hành) như một “chòm sao”? (xem EA 50)
56. Of course we do not know whether Sirius B and Sirius C (inferred) are really ensouled bodies or whether they were ensouled by the Logos which now ensouls Sirius A. The question of the livingness of Sirius B and Sirius C will have to be closely examined when such examination is possible.
56. Dĩ nhiên, chúng ta không biết liệu Sirius B và Sirius C (được suy ra) có thật sự là những thể được phú linh hay không, hoặc liệu chúng đã từng được phú linh bởi Thượng đế hiện đang phú linh Sirius A hay không. Vấn đề về tính sống động của Sirius B và Sirius C sẽ phải được khảo sát kỹ lưỡng khi việc khảo sát ấy trở nên khả hữu.
57. In the Egyptian Mysteries however, a place is given to Sirius B as ruling the fourth initiation, in which case it would seem to be something more than an unensouled remnant.
57. Tuy nhiên, trong các Mật Nghi Ai Cập, Sirius B được dành cho một vị trí cai quản lần điểm đạo thứ tư; trong trường hợp đó, dường như nó là một cái gì hơn là một tàn dư không được phú linh.
The cosmic marriage of stars and Systems
Cuộc hôn phối vũ trụ của các ngôi sao và các Hệ
58. By “Systems” does DK mean solar systems or systems of stars? The distinction could be important.
58. Bởi “các Hệ”, Chân sư DK muốn nói đến các hệ mặt trời hay các hệ sao? Sự phân biệt này có thể quan trọng.
59. There is much to relate the star Sirius (A) with the star Sol (our Sun).
59. Có nhiều điều liên kết ngôi sao Sirius (A) với ngôi sao Sol (Mặt Trời của chúng ta).
is the cause of the occasional irregular flaring-up or intensification of suns and their increased luminosity which is sometimes seen, and which has frequently been the subject of discussion.
là nguyên nhân của sự bùng phát bất thường từng lúc hay sự tăng cường của các mặt trời và sự gia tăng độ sáng của chúng, điều đôi khi được thấy và thường xuyên là chủ đề bàn luận.
60. Do we find Master DK speaking here of supernovae? If so, these spectacular events have usually not been seen as related to two stars but only to one.
60. Ở đây Chân sư DK có đang nói về các siêu tân tinh không? Nếu vậy, những hiện tượng ngoạn mục này thường không được xem là liên hệ với hai ngôi sao mà chỉ với một ngôi sao.
61. Where we see the intensification of one sun, then, are we supposed to search for another which, as the ‘marriage partner’ of the former, may be involved in the process of “flaring up”?
61. Vậy thì, ở nơi chúng ta thấy sự tăng cường của một mặt trời, có phải chúng ta được giả định là phải tìm kiếm một mặt trời khác mà, với tư cách “bạn đời” của mặt trời trước, có thể đang tham dự vào tiến trình “bùng phát” ấy không?
4. The Law of Magnetism.
4. Định luật Từ Điện.
This is the law which produces the unifying of a personality, and though it is an expression of lunar force, is, nevertheless, of a much higher order than the law of physical sex.
Đây là định luật tạo ra sự hợp nhất của một phàm ngã, và dù là một biểu hiện của mãnh lực nguyệt tính, nhưng nevertheless, nó thuộc một trật tự cao hơn nhiều so với định luật về giới tính hồng trần.
62. Here Master DK seems to be discriminating between the “Law of Physical Sex” and the “Law of Sex” which is capable of being interpreted on a number of different turns of the spiral.
62. Ở đây Chân sư DK dường như đang phân biện giữa “Định luật về Giới tính Hồng trần” và “Định luật về Giới tính”, vốn có thể được diễn giải trên một số vòng xoắn khác nhau.
63. We can see that DK has in mind some very specific levels of application when He discusses these laws. The concept of “magnetism” in general is so much greater than the application here discussed, but it is certainly an interesting application.
63. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK đang nghĩ đến một số cấp độ áp dụng rất đặc thù khi Ngài bàn về các định luật này. Khái niệm “từ điện” nói chung lớn lao hơn rất nhiều so với sự áp dụng được bàn ở đây, nhưng đây chắc chắn là một sự áp dụng thú vị.
64. In essence we see that the Law of Magnetism is responsible for the integration of the personality in various stages—the unification of the lunar lords (and their tiny elemental lives) which compose and constitute the personality vehicles.
64. Về bản chất, chúng ta thấy rằng Định luật Từ Điện chịu trách nhiệm cho sự tích hợp của phàm ngã trong nhiều giai đoạn—sự hợp nhất của các nguyệt tinh quân (và các sự sống hành khí nhỏ bé của chúng) vốn cấu thành và tạo nên các vận cụ phàm ngã.
65. We are speaking here of magnetism as it operates in the lunar realm. Obviously it has applications (if broadly understand) in much higher realms. If the Law of Sex has higher applications, we can expect that this will be true of the Law of Magnetism.
65. Ở đây chúng ta đang nói về từ điện khi nó hoạt động trong lĩnh vực nguyệt tính. Hiển nhiên, nó có những ứng dụng (nếu được hiểu rộng) trong những lĩnh vực cao hơn nhiều. Nếu Định luật về Giới tính có những ứng dụng cao hơn, chúng ta có thể mong đợi điều này cũng đúng với Định luật Từ Điện.
It is the expression of the law as it is demonstrated by the three major groups of lunar pitris.
Đó là biểu hiện của định luật như được chứng tỏ bởi ba nhóm lớn của thái âm tổ phụ.
66. These three major groups are, of course, associated with the physical-etheric, astral and lower mental planes.
66. Ba nhóm lớn này, dĩ nhiên, liên kết với các cõi hồng trần-dĩ thái, cảm dục và hạ trí.
These three groups are not concerned with the building of the forms of the animal kingdom,
Ba nhóm này không liên quan đến việc xây dựng các hình tướng của giới động vật,
67. Because they are major groups…
67. Bởi vì chúng là những nhóm lớn…
for they are the builders of the body of man in the final three stages of the path of evolution:
vì chúng là những đấng kiến tạo thân thể của con người trong ba giai đoạn cuối cùng của con đường tiến hoá:
68. There is an implication that there are other lunar pitris who are builders of the body of man in the earlier stages of the Path of Evolution.
68. Ở đây có một hàm ý rằng có những thái âm tổ phụ khác là các đấng kiến tạo thân thể của con người trong những giai đoạn sớm hơn của Con Đường Tiến Hóa.
69. The lunar pitris as builders are clearly on the Path of Evolution and are not, strictly speaking, elementals or elemental lives.
69. Các thái âm tổ phụ với tư cách là những đấng kiến tạo rõ ràng đang ở trên Con Đường Tiến Hóa và, nói một cách nghiêm ngặt, không phải là các hành khí hay các sự sống hành khí.
70. We would have, then, for each level (physical-etheric, astral and mental) three categories of lives:
70. Vậy thì, đối với mỗi cấp độ (hồng trần-dĩ thái, cảm dục và trí tuệ), chúng ta sẽ có ba loại sự sống:
a. The inert building essence of each level
a. Tinh chất kiến tạo trì trệ của mỗi cấp độ
b. The elemental unities (sometimes called the “lunar lords” or “lunar elementals” comprised of the aggregated building essence once they have been gathered and shaped by the building forces.
b. Các hợp nhất hành khí (đôi khi được gọi là “các nguyệt tinh quân” hay “các hành khí nguyệt tính”) gồm tinh chất kiến tạo đã được tập hợp lại một khi chúng đã được các mãnh lực kiến tạo gom lại và định hình.
c. The lunar pitris as evolutionary though unconscious “builders” which build the forms of the lunar elementals.
c. Các thái âm tổ phụ như những “đấng kiến tạo” thăng thượng tiến hoá nhưng vô thức, xây dựng các hình tướng của các hành khí nguyệt tính.
a. The stage of high intellectuality, or of artistic attainment,
a. Giai đoạn của trí tuệ cao, hay của thành tựu nghệ thuật,
71. This is the stage, technically considered, of “advanced man”.
71. Xét về mặt kỹ thuật, đây là giai đoạn của “con người tiến bộ”.
b. The stage of discipleship,
b. Giai đoạn của địa vị đệ tử,
72. In this case, the stage of discipleship seems to precede that stage of treading the Path.
72. Trong trường hợp này, giai đoạn của địa vị đệ tử dường như đi trước giai đoạn bước đi trên Con Đường ấy.
c. The stage of treading the Path.
c. Giai đoạn bước đi trên Con Đường.
73. Perhaps we can consider this stage as beginning at the first initiation, though the idea of various Paths, such as the Path of Aspiration, and the Path of Probationary Discipleship, precede the first initiation.
73. Có lẽ chúng ta có thể xem giai đoạn này là bắt đầu từ lần điểm đạo thứ nhất, dù ý niệm về nhiều Con Đường khác nhau, như Con Đường Khát Vọng và Con Đường Địa vị Đệ tử Dự bị, có trước lần điểm đạo thứ nhất.
74. It seems clear that DK in speaking of the “major groups of lunar pitris”, is speaking of those who only build during the final stages of the Path!
74. Dường như rõ ràng rằng Chân sư DK, khi nói về các nhóm thái âm tổ phụ “lớn”, đang nói về những vị chỉ xây dựng trong các giai đoạn cuối cùng của Con Đường!
75. Clearly some form of building was necessary long before these advanced stages are reached. Were the earlier stages of building performed by lunar pitris who were not among the “major groups”? This seems to be the implication.
75. Rõ ràng là một hình thức xây dựng nào đó đã cần thiết từ rất lâu trước khi đạt đến các giai đoạn cao cấp này. Phải chăng các giai đoạn xây dựng sớm hơn đã được thực hiện bởi những thái âm tổ phụ không nằm trong các “nhóm lớn”? Dường như đó là hàm ý.
The lower four groups concern themselves with the earlier stages, and with the animal aspects of attraction in both the kingdoms. [Page 1170]
Bốn nhóm thấp hơn liên quan đến các giai đoạn sớm hơn, và với các phương diện thú tính của sự hấp dẫn trong cả hai giới. [Page 1170]
76. Here the clarification comes—there are four lower groups of lunar pitris associated with the human kingdom and also with the animal kingdom.
76. Ở đây sự làm rõ xuất hiện—có bốn nhóm thấp hơn của thái âm tổ phụ liên kết với giới nhân loại và cũng với giới động vật.
77. We might think, then, that the four elemental vehicles of man—the physical elemental, the astral elemental, the mental elemental and the personality elemental are built by the members of these lower four groups, and that the higher three groups build only once there has been a great deal of evolutionary experience.
77. Vậy thì, chúng ta có thể nghĩ rằng bốn hiện thể hành khí của con người—tinh linh thể xác, hành khí cảm dục, hành khí trí tuệ và hành khí phàm ngã—được xây dựng bởi các thành viên của bốn nhóm thấp hơn này, và rằng ba nhóm cao hơn chỉ xây dựng một khi đã có rất nhiều kinh nghiệm tiến hoá.
78. Where are the three major group and what are they ‘doing’ as the four lower groups are doing their work preparing the way?
78. Ba nhóm lớn ở đâu và chúng đang “làm” gì trong khi bốn nhóm thấp hơn đang làm công việc chuẩn bị con đường?
S9S10 Part III
TCF 1170-1173
TCF 1170-1173
Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.So please read an entire paragraph and then study the Commentary
Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc cùng với quyển TCF đặt bên cạnh, vì mục đích duy trì tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận
5. The Law of Radiation.
5. Định luật Phóng Xạ.
This is one of the most interesting of the laws for it only comes into activity in connection with the highest specimens of the various kingdoms,
Đây là một trong những định luật thú vị nhất vì nó chỉ đi vào hoạt động liên hệ với những mẫu mực cao nhất của các giới khác nhau,
1. This is a most important statement. We usually consider radiation to exist only in terms of the mineral kingdom. To be a “radiant” human being is considered a metaphor rather than a fact, but under the influence of occultism, the understanding of human radiation and radiation as expressed in the other kingdoms will change.
1. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Chúng ta thường chỉ xem phóng xạ là tồn tại theo nghĩa của giới kim thạch. Việc là một con người “rạng chiếu” được xem là một ẩn dụ hơn là một sự kiện, nhưng dưới ảnh hưởng của huyền bí học, sự hiểu biết về phóng xạ nơi con người và phóng xạ như được biểu lộ trong các giới khác sẽ thay đổi.
2. One is reminded of Rule XIII for Applicants to Initiation:
2. Người ta được nhắc nhớ đến Quy luật XIII dành cho những người xin Điểm đạo:
“Four things the disciple must learn and comprehend before he can be shewn that inmost mystery: first, the laws of that which radiates; the five meanings of magnetisation make the second; the third is transmutation, or the secret lost of alchemy; and lastly the first letter of the Word which has been imparted, or the hidden name egoic.
“Có bốn điều người đệ tử phải học và thấu hiểu trước khi y có thể được chỉ cho thấy huyền nhiệm thâm sâu nhất ấy: thứ nhất, các định luật của điều phát xạ; năm ý nghĩa của sự từ hoá tạo thành điều thứ hai; điều thứ ba là sự chuyển hoá, hay bí mật đã mất của thuật luyện kim; và sau cùng là chữ cái đầu tiên của Linh từ đã được truyền trao, hay danh xưng chân ngã ẩn kín.
and concerns itself with the attraction that a higher kingdom of nature will have for the highest lives of the next lower kingdom.
và nó liên quan đến sự hấp dẫn mà một giới thiên nhiên cao hơn sẽ có đối với những sự sống cao nhất của giới thấp hơn kế tiếp.
3. We note that even thought radiation is often and largely associated with the first ray, its expression is dependent upon the Law of Attraction. It is as if radiation is drawn forth by the magnetism exerted by a higher kingdom upon a lower.
3. Chúng ta lưu ý rằng dù phóng xạ thường và phần lớn được liên kết với cung một, biểu hiện của nó vẫn tùy thuộc vào Định luật Hấp Dẫn. Dường như phóng xạ được rút ra bởi từ điện do một giới cao hơn tác động lên một giới thấp hơn.
4. Really, it is impossible to separate radiation from magnetism.
4. Thật ra, không thể tách rời phóng xạ khỏi từ điện.
It governs the radioactivity of minerals, the radiations of the vegetable kingdom and (curiously enough) the entire question of perfumes.
Nó chi phối tính phóng xạ của khoáng vật, các sự phát xạ của giới thực vật và (điều khá lạ) toàn bộ vấn đề về hương thơm.
5. Perfume is a form of essential radiation.
5. Hương thơm là một hình thức phóng xạ tinh yếu.
6. Since the upward thrusting stem of a plant is ruled by the sixth ray, the color by the fourth ray, the perfume must be ruled by the second ray. Again we see the connection of radiation to the second ray. Is the perfume being drawn forth and drawn up by the magnetism of the second ray?
6. Vì thân cây vươn lên trên của thực vật được cung sáu cai quản, màu sắc được cung bốn cai quản, nên hương thơm hẳn phải được cung hai cai quản. Một lần nữa, chúng ta thấy mối liên hệ của phóng xạ với cung hai. Phải chăng hương thơm được rút ra và kéo lên bởi từ điện của cung hai?
Smell is the highest of the purely physical senses;
Khứu giác là giác quan cao nhất trong các giác quan thuần hồng trần;
7. It is also considered to be, from the strictly physical point of view, the lowest and most primitive.
7. Nó cũng được xem, từ quan điểm hồng trần thuần túy, là thấp nhất và nguyên sơ nhất.
8. The higher correspondences of smell represent the highest occult senses available to man on each plane.
8. Các tương ứng cao hơn của khứu giác biểu thị những giác quan huyền bí cao nhất mà con người có thể sử dụng trên mỗi cõi.
so in the vegetable kingdom a certain series of perfumes are evidence of radiation in that kingdom.
vì vậy trong giới thực vật, một chuỗi hương thơm nhất định là bằng chứng của phóng xạ trong giới ấy.
9. This “series of perfumes” may be a septenate, one perfume correlated with each of the seven rays. While there are many types of natural scents and perfumes, perhaps only seven are fundamental.
9. “Chuỗi hương thơm” này có thể là một bộ bảy, mỗi hương thơm tương ứng với một trong bảy cung. Dù có nhiều loại mùi hương và hương thơm tự nhiên, có lẽ chỉ có bảy loại là căn bản.
10. The book “777”, by Aleister Crowley (with many ‘borrowed’ tables of correspondences) offers lists of the important perfumes.
10. Quyển sách “777” của Aleister Crowley (với nhiều bảng tương ứng được “mượn”) đưa ra các danh sách về những hương thơm quan trọng.
There is, moreover, an interesting link between those who are members of the fifth kingdom (the spiritual) and the vegetable, for in esotericism the two and the five, the Son, and the Sons of Mind, are closely allied.
Hơn nữa, có một mối liên hệ thú vị giữa những ai là thành viên của giới thứ năm (giới tinh thần) và giới thực vật, vì trong huyền bí học, số hai và số năm, Người Con và các Con của Trí Tuệ, liên hệ mật thiết với nhau.
11. One type of human egoic lotus called “Lotuses with Perfume”. It is the phase of development following “Radiant Lotuses” and preceding “Lotuses of Revelation”.
11. Có một loại Hoa Sen Chân Ngã của con người được gọi là “Hoa Sen Có Hương”. Đó là giai đoạn phát triển tiếp theo sau “Hoa Sen Rạng Chiếu” và đi trước “Hoa Sen Mặc Khải”.
12. The “Lotuses with Perfume” may indicate a stage of evolution in which the second initiation (correlated with the vegetable kingdom) has been passed.
12. “Hoa Sen Có Hương” có thể chỉ ra một giai đoạn tiến hoá trong đó lần điểm đạo thứ hai (tương ứng với giới thực vật) đã được vượt qua.
13. As an example of the close relation between the five and the two, we have Venus expressing both the fifth and second rays and intimately associated with both the vegetable kingdom and with the Solar Angels and their expression through the egoic lotus.
13. Như một ví dụ về mối liên hệ chặt chẽ giữa số năm và số hai, chúng ta có Sao Kim biểu lộ cả cung năm lẫn cung hai và liên hệ mật thiết với cả giới thực vật lẫn các Thái dương Thiên Thần cùng sự biểu lộ của các vị ấy qua Hoa Sen Chân Ngã.
It is not possible to indicate more, but it is not without significance that certain Rays are, through the initiates and Masters, represented by vegetable perfumes.
Không thể chỉ ra thêm nữa, nhưng không phải là không có thâm nghĩa khi một số Cung, qua các điểm đạo đồ và các Chân sư, được biểu trưng bằng các hương thơm thực vật.
14. One of the Tibetan’s last living disciples said that Master DK was connected with the fragrance of carnation; Master KH with the white rose; Master M. with freesias. This cannot be immediately verified. One wonders whether the Lord Maitreya could be associated with the fragrance of the red rose, but then there is no uniformity in such fragrances (and some red roses may have no fragrance at all).
14. Một trong những đệ tử còn sống cuối cùng của Chân sư Tây Tạng nói rằng Chân sư DK liên hệ với hương thơm của hoa cẩm chướng; Chân sư KH với hoa hồng trắng; Chân sư M. với hoa lan Nam Phi. Điều này không thể được kiểm chứng ngay lập tức. Người ta tự hỏi liệu Đức Maitreya có thể liên hệ với hương thơm của hoa hồng đỏ hay không, nhưng rồi không có sự đồng nhất trong những hương thơm như thế (và một số hoa hồng đỏ có thể hoàn toàn không có hương).
15. The sevenfold correspondences of gems, perfumes, colors, notes, etc. to the seven rays is worthy of very serious study.
15. Các tương ứng thất phân của đá quý, hương thơm, màu sắc, âm điệu, v.v. với bảy cung rất đáng được nghiên cứu hết sức nghiêm túc.
It signifies radiation, and to those who have the key reveals the quality of the egoic lotus
Nó biểu thị phóng xạ, và đối với những ai có chìa khóa, nó tiết lộ phẩm tính của Hoa Sen Chân Ngã
16. Each egoic lotus, probably according to its ray, will eventually, when sufficiently unfolded, radiate a certain quality of perfume.
16. Mỗi Hoa Sen Chân Ngã, có lẽ tùy theo cung của nó, cuối cùng sẽ, khi đã khai mở đầy đủ, phát ra một phẩm tính hương thơm nào đó.
and the place it holds in any particular planetary lotus, as well as a connection with certain devas who are the sevenfold life of the vegetable kingdom.
và vị trí mà nó giữ trong bất kỳ Hoa Sen Hành Tinh đặc thù nào, cũng như một mối liên hệ với một số thiên thần là sự sống thất phân của giới thực vật.
17. As egoic lotuses, we all have a certain “place” in our own “planetary lotus”. Maybe according to the ray of our Ego we are also related to a particular “planetary lotus” which is not the Planetary Logos of the Earth!
17. Là những Hoa Sen Chân Ngã, tất cả chúng ta đều có một “vị trí” nhất định trong “Hoa Sen Hành Tinh” của chính mình. Có lẽ tùy theo cung của Chân ngã chúng ta, chúng ta cũng có liên hệ với một “Hoa Sen Hành Tinh” đặc thù nào đó, vốn không phải là Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất!
18. So the following factors are correlated:
18. Vì vậy các yếu tố sau đây có tương quan với nhau:
a. This quality of the radiation or perfume of an egoic lotus
a. Phẩm tính của sự bức xạ hay hương thơm của một Hoa Sen Chân Ngã
b. The quality of the egoic lotus
b. Phẩm tính của Hoa Sen Chân Ngã
c. The place of the an egoic lotus within a “planetary lotus”
c. Vị trí của một Hoa Sen Chân Ngã trong một “Hoa Sen Hành Tinh”
d. One type of deva (of seven) connected with the deva kingdom
d. Một loại thiên thần (trong bảy loại) có liên hệ với giới thiên thần
We must not forget that man is occultly a "seven-leaved plant, the saptaparna."26 [S. D., I, 251; II, 626.]
Chúng ta không được quên rằng con người, theo huyền bí học, là một "cây bảy lá, saptaparna."26 [S. D., I, 251; II, 626.]
19. This is an alternative way of thinking of man. Often he is conceived as an animal. To conceive of him as a “saptaparna” is a more occult conception and reveals man’s septenary nature as well as his spiritual connection to the vegetable kingdom and the planet Venus.
19. Đây là một cách khác để suy nghĩ về con người. Thường thì y được quan niệm như một con vật. Quan niệm y như một “saptaparna” là một quan niệm huyền bí hơn và cho thấy bản chất thất phân của con người cũng như mối liên hệ tinh thần của y với giới thực vật và hành tinh Sao Kim.
This law in a mysterious manner, inexplicable to those ignorant of the karma of our planetary Logos,
Định luật này, theo một cách huyền nhiệm, không thể giải thích được đối với những ai không biết về nghiệp quả của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta,
20. We are speaking of the Law of Radiation.
20. Chúng ta đang nói về Định luật Bức Xạ.
21. As those who are merely students of the Great Tradition, we are certainly among those who are ignorant of the karma of our Planetary Logos. We have been told a few things, but of the entirety of the mysterious karmic process through which our Planetary Logos has passed, we really know nothing.
21. Là những người chỉ đơn thuần là đạo sinh của Truyền Thống Vĩ Đại, chắc chắn chúng ta thuộc vào số những người không biết về nghiệp quả của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Chúng ta đã được cho biết một vài điều, nhưng về toàn bộ tiến trình nghiệp quả huyền nhiệm mà Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đã trải qua, chúng ta thực sự không biết gì cả.
is not operative in the animal kingdom during this Cycle or chain.
không hoạt động trong giới động vật trong Chu Kỳ hay dãy này.
22. Interestingly this tells us that animals are not ‘radiant’ in the manner here discussed. The reaching forth of their nascent intelligence towards the human kingdom can, however, be considered a form of radiation. Can the love and devotion the domestic animals feel towards their human master also be considered a form of ‘radiation’?
22. Điều này cho chúng ta biết một cách thú vị rằng động vật không “bức xạ” theo cách đang được bàn đến ở đây. Tuy nhiên, sự vươn tới của trí tuệ đang nảy sinh của chúng hướng về giới nhân loại có thể được xem là một hình thức bức xạ. Tình thương và sự tận tụy mà các thú vật nuôi trong nhà cảm nhận đối với người chủ con người của chúng cũng có thể được xem là một hình thức “bức xạ” chăng?
One of the problems of the next chain
Một trong những vấn đề của dãy kế tiếp
23. This will be the fifth chain in our planetary scheme.
23. Đây sẽ là dãy thứ năm trong hệ hành tinh của chúng ta.
will be the bringing in of animal radiation; thus offsetting the method of initiation now pursued.
sẽ là việc đưa bức xạ động vật vào; nhờ đó hóa giải phương pháp điểm đạo hiện đang được theo đuổi.
24. The method of divine intervention (by solar angels Beings) is to be offset.
24. Phương pháp can thiệp thiêng liêng (do các Thái dương Thiên Thần là những Thực Thể thực hiện) sẽ được hóa giải.
25. Perhaps animal radiation was involved in the individualization process as that process was practiced on the Moon-chain.
25. Có lẽ bức xạ động vật đã tham gia vào tiến trình biệt ngã hóa như tiến trình ấy đã được thực hành trên Dãy Mặt Trăng.