← Commentary_S9_1078_1194_song ngữ

S9S11 Part III

Trích nội dung chương

2. We remember that the “Intermediate Law of Karma” seems to stand ‘above’ the three cosmic laws presently known: the Law of Synthesis; the Law of Attraction; the Law of Economy. 2. Chúng ta nhớ rằng “Định luật Nghiệp Quả Trung Gian” dường như đứng ‘trên’ ba định luật vũ trụ hiện được biết: Định luật Tổng Hợp; Định luật Hấp Dẫn; Định luật Tiết Kiệm.


2. We remember that the “Intermediate Law of Karma” seems to stand ‘above’ the three cosmic laws presently known: the Law of Synthesis; the Law of Attraction; the Law of Economy.

2. Chúng ta nhớ rằng “Định luật Nghiệp Quả Trung Gian” dường như đứng ‘trên’ ba định luật vũ trụ hiện được biết: Định luật Tổng Hợp; Định luật Hấp Dẫn; Định luật Tiết Kiệm.

3. In other words, the ‘Law of Relationship’ is key to the workings of the Law of Karma. The Law of Attraction draws together those energies and forces which suit each other and are harmonious with each other. All this patterning proceeds under the direction of the Archetypal World.

3. Nói cách khác, ‘Định luật của Mối Liên Hệ’ là chìa khóa cho sự vận hành của Định luật Nghiệp Quả. Định luật Hấp Dẫn kéo lại gần nhau những năng lượng và mãnh lực phù hợp với nhau và hài hòa với nhau. Tất cả mô hình hóa này diễn ra dưới sự chỉ đạo của Thế Giới Nguyên Mẫu.

4. It is as if the Law of Karma is responsible for those adjustments in relationship which make the World of Becoming the true reflector of the World of Being.

4. Dường như Định luật Nghiệp Quả chịu trách nhiệm về những điều chỉnh trong mối liên hệ khiến Thế Giới Đang Trở Thành trở thành phản chiếu chân thực của Thế Giới Bản Thể.

5. The many painful adjustments experienced under the Law of Karma lead eventually to harmony and right relations. The means are much more harsh than the objective.

5. Nhiều điều chỉnh đau đớn được kinh nghiệm dưới Định luật Nghiệp Quả cuối cùng dẫn đến sự hài hòa và các mối liên hệ đúng đắn. Phương tiện khắc nghiệt hơn mục tiêu rất nhiều.

6. We can judge that the Law of Karma has second ray objectives— certainly in this solar system. It is, DK tells us, the sumtotal of the second ray Law of Attraction.

6. Chúng ta có thể phán đoán rằng Định luật Nghiệp Quả có những mục tiêu cung hai— chắc chắn là trong hệ mặt trời này. Như Chân sư DK nói với chúng ta, nó là tổng thể của Định luật Hấp Dẫn cung hai.

7. As a kind of fourth cosmic law it is related to the second—the Law of Attraction.

7. Như một loại định luật vũ trụ thứ tư nó liên hệ với định luật thứ hai—Định luật Hấp Dẫn.

8. This raises the important question of the relation of the planet Saturn (the ‘Planet of Karma’) to the energy of Love. While Saturn does not appear to have any soft-line rays in its energy system, there may be more to this question than meets the eye.

8. Điều này nêu lên câu hỏi quan trọng về mối liên hệ của hành tinh Sao Thổ (hành tinh của Nghiệp Quả) với năng lượng của Bác ái. Dù Sao Thổ dường như không có các cung tuyến mềm trong hệ năng lượng của nó, có thể vấn đề này còn nhiều điều hơn những gì bề ngoài cho thấy.

S9S11 Part III

TCF 1180-1184

TCF 1180-1184

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn bản văn của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Người ta đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với cuốn TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích bản văn được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi mới nghiên cứu phần Bình Giải

Students of the Law of Attraction must be careful to bear in mind certain things.

Những đạo sinh của Định luật Hấp Dẫn phải cẩn thận ghi nhớ một số điều.

1. There will be students of the various laws. Since the Law of Attraction is paramount in our second ray solar system, it will be among the laws most studied.

1. Sẽ có những đạo sinh của nhiều định luật khác nhau. Vì Định luật Hấp Dẫn là tối quan trọng trong hệ mặt trời cung hai của chúng ta, nó sẽ nằm trong số những định luật được nghiên cứu nhiều nhất.

These should be carefully considered and realised as the subject is studied.

Những điều này cần được cân nhắc cẩn thận và chứng nghiệm khi chủ đề này được nghiên cứu.

2. We have seen the wide variety of laws which arise as expression of the Law of Attraction and can, therefore, see its importance to the evolutionary process on Earth.

2. Chúng ta đã thấy sự đa dạng rộng lớn của các định luật phát sinh như biểu hiện của Định luật Hấp Dẫn và vì vậy có thể thấy tầm quan trọng của nó đối với tiến trình tiến hoá trên Trái Đất.

They must remember first, that all these subsidiary laws are really only the manifestation of the One Law;

Trước hết, họ phải nhớ rằng tất cả những định luật phụ này thực ra chỉ là biểu hiện của Định luật Duy Nhất;

3. In this case we are speaking of the Law of Attraction as the “One Law”.

3. Trong trường hợp này, chúng ta đang nói về Định luật Hấp Dẫn như là “Định luật Duy Nhất”.

that they are but differentiated terms, employed to express one great method of manifestation.

rằng chúng chỉ là những thuật ngữ biến phân, được dùng để diễn tả một phương pháp biểu hiện vĩ đại.

4. Our task is to locate and understand the specific contexts in which the various subsidiary laws apply. These are sometimes surprising and may not be deducible by the name of the law itself.

4. Nhiệm vụ của chúng ta là xác định và thấu hiểu những bối cảnh cụ thể trong đó các định luật phụ khác nhau được áp dụng. Đôi khi những bối cảnh này gây ngạc nhiên và có thể không suy ra được từ chính tên gọi của định luật.

Secondly, that all energy, demonstrating in the solar system, is after all the energy of the logoic physical permanent atom, having its nucleus on the atomic subplane of the cosmic physical.

Thứ hai, rằng mọi năng lượng biểu lộ trong hệ mặt trời, rốt cuộc đều là năng lượng của nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế, có hạt nhân của nó trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ.

5. Shall we think that all energies manifesting upon the cosmic physical plane derives from “the energy of the logoic physical permanent atom”? This is an astonishing statement giving that physical permanent atom great emphasis.

5. Chúng ta có nên nghĩ rằng mọi năng lượng biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ đều phát sinh từ “năng lượng của nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế” không? Đây là một phát biểu đáng kinh ngạc, đặt nguyên tử trường tồn hồng trần ấy vào một vị trí hết sức nhấn mạnh.

6. Since Saturn is the correspondence to the logoic physical permanent atom, the energy of Saturn must be intimately related to the all energies demonstrating in our solar system.

6. Vì Sao Thổ là tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế, nên năng lượng của Sao Thổ hẳn phải liên hệ mật thiết với mọi năng lượng biểu lộ trong hệ mặt trời của chúng ta.

7. If we follow the analogy, then all the energies demonstrating in any particular human vehicle is really the energy of the permanent atom from which that vehicle derives.

7. Nếu chúng ta theo phép tương đồng, thì mọi năng lượng biểu hiện trong bất kỳ vận cụ nhân loại đặc thù nào thực ra là năng lượng của nguyên tử trường tồn mà từ đó vận cụ ấy phát sinh.

8. This seems to place the power of the permanent atom over the power of the chakras which manifest through particular vehicles.

8. Điều này dường như đặt quyền năng của nguyên tử trường tồn lên trên quyền năng của các luân xa biểu hiện qua những vận cụ đặc thù.

This physical permanent atom (as is the case with the corresponding atom of the incarnating jiva), has its place within the causal body of the Logos on His own plane;

Nguyên tử trường tồn hồng trần này (cũng như trường hợp nguyên tử tương ứng của jiva đang lâm phàm), có vị trí của nó bên trong thể nguyên nhân của Thượng đế trên chính cõi của Ngài;

9. This means that although the logoic physical permanent atom has its nucleus upon the atomic subplane of the cosmic physical plane, it also “has its place within the causal body of the Logos on His own plane”.

9. Điều này có nghĩa là mặc dù nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế có hạt nhân của nó trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ, nó cũng “có vị trí của nó bên trong thể nguyên nhân của Thượng đế trên chính cõi của Ngài”.

10. Lesser planes are included within the sphere of greater planes.

10. Các cõi thấp hơn được bao hàm trong khối cầu của các cõi cao hơn.

11. To understand planar structure we must disabuse our minds of the ‘pancake model’ with which we are so often presented as a preliminary aid to understanding.

11. Để hiểu cấu trúc các cõi, chúng ta phải loại bỏ khỏi trí óc mình ‘mô hình bánh kếp’ mà người ta thường trình bày như một trợ giúp sơ bộ cho sự thấu hiểu.

it is, therefore, impressed by the totality of the force of the egoic cosmic lotus, or the attractive quality of cosmic love.

vì vậy, nó được ghi ấn bởi toàn thể mãnh lực của hoa sen chân ngã vũ trụ, hay phẩm tính hấp dẫn của bác ái vũ trụ.

12. Since the logoic physical permanent atom is within the logoic causal body, the energy of that causal body impresses that permanent atom and, therefore, impresses all energies which manifest upon the cosmic physical plane.

12. Vì nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế nằm trong thể nguyên nhân của Thượng đế, nên năng lượng của thể nguyên nhân ấy ghi ấn lên nguyên tử trường tồn đó và do đó ghi ấn lên mọi năng lượng biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ.

13. In this manner, via the permanent atoms, cosmic love makes its way into the personality vehicles of the Solar Logos.

13. Theo cách này, qua các nguyên tử trường tồn, bác ái vũ trụ đi vào các vận cụ phàm ngã của Thái dương Thượng đế.

This force is transmitted to the solar system in two ways:

Mãnh lực này được truyền vào hệ mặt trời theo hai cách:

Through the medium of the Sun, which is in an occult sense the physical permanent atom;

Qua trung gian của Mặt Trời, vốn theo một ý nghĩa huyền bí là nguyên tử trường tồn hồng trần;

14. This sounds much more reasonable than considering Saturn as the correspondence to the physical permanent atom of the Solar Logos.

14. Điều này nghe có vẻ hợp lý hơn nhiều so với việc xem Sao Thổ là tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế.

15. If, in an occult sense, the Sun is the physical permanent atom of the Solar Logos, then the Sun is the source of all the energies expressing within our solar system. This, of course, makes a great deal of sense.

15. Nếu, theo một ý nghĩa huyền bí, Mặt Trời là nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế, thì Mặt Trời là nguồn của mọi năng lượng biểu hiện trong hệ mặt trời của chúng ta. Điều này, dĩ nhiên, rất có ý nghĩa.

it, therefore, attracts, and holds attracted, all within its sphere of influence, thus producing the logoic physical body:

vì vậy, nó hấp dẫn, và giữ cho mọi thứ trong phạm vi ảnh hưởng của nó bị hấp dẫn, nhờ đó tạo ra thể hồng trần của Thượng đế:

16. The Sun is given the responsibility of producing the logoic physical body, which includes Saturn, of course.

16. Mặt Trời được giao trách nhiệm tạo ra thể hồng trần của Thượng đế, dĩ nhiên bao gồm cả Sao Thổ.

17. We must question, “What aspect of the Sun is found upon the systemic logoic plane?” where the physical permanent atom of the Solar Logos must be located?

17. Chúng ta phải đặt câu hỏi, “Phương diện nào của Mặt Trời được tìm thấy trên cõi thượng đế hệ thống?” nơi nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế phải tọa lạc?

… through the medium of the planes which are the correspondences to the seven spirillae of the physical permanent atom of a human being.

… qua trung gian của các cõi là những tương ứng với bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần của một con người.

18. Here is the flat statement that the systemic planes correspond to the seven spirillae of the physical permanent atom of a human being.

18. Đây là phát biểu trực tiếp rằng các cõi hệ thống tương ứng với bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần của một con người.

19. The Sun expresses the energy of attraction and coherence through all the seven systemic planes.

19. Mặt Trời biểu lộ năng lượng hấp dẫn và cố kết qua cả bảy cõi hệ thống.

Thus a dual type of attractive force is found: one, basic and fundamental; the other more differentiated and secondary.

Như vậy có một loại mãnh lực hấp dẫn nhị phân: một loại căn bản và nền tảng; loại kia biến phân hơn và thứ yếu hơn.

20. The fundamental attractive force is that of the Sun, per se, and the differentiation of that force occurs through the seven systemic planes.

20. Mãnh lực hấp dẫn nền tảng là của chính Mặt Trời, còn sự biến phân của mãnh lực ấy xảy ra qua bảy cõi hệ thống.

[Page 1181]

[Page 1181]

CHART XI — ETHERIC-ATOMIC PHILOSOPHY OF FORCE

BIỂU ĐỒ XI — TRIẾT HỌC DĨ THÁI-NGUYÊN TỬ VỀ MÃNH LỰC

21. Here we have the diagram, one would think, of a physical permanent atom as seen on the atomic subplane of any particular plane.

21. Ở đây chúng ta có sơ đồ, người ta sẽ nghĩ vậy, của một nguyên tử trường tồn hồng trần như được thấy trên cõi phụ nguyên tử của bất kỳ cõi đặc thù nào.

22. This is a diagram which admits of almost endless amplification. Analysis of Babbitt’s atom has been undertaken by those who are interested in occult chemistry and physics. To go into a detailed analysis of this figure would not be worthwhile at this point as other texts have done so in much fuller scope than would be here possible.

22. Đây là một sơ đồ cho phép được khai triển gần như vô tận. Việc phân tích nguyên tử của Babbitt đã được thực hiện bởi những ai quan tâm đến hóa học và vật lý huyền bí học. Đi vào phân tích chi tiết hình này vào lúc này sẽ không đáng làm, vì các bản văn khác đã làm điều đó với phạm vi đầy đủ hơn nhiều so với điều có thể thực hiện ở đây.

23. There may also be some books in which the atom is drawn in color, as “electric colors” and “thermal colors” are suggested.

23. Cũng có thể có một số sách trong đó nguyên tử được vẽ bằng màu sắc, vì “các màu điện” và “các màu nhiệt” được gợi ý.

24. We note the direction of the circulatory flow of energies into and out of the atom is suggested by the numbers from 1 to 10. There seems to be constant reciprocity. The top of the atom is not only for influx but an efflux is also suggested. The same for the bottom of the atom; it does not demonstrate only efflux but influx as well.

24. Chúng ta lưu ý rằng hướng của dòng lưu chuyển các năng lượng vào và ra khỏi nguyên tử được gợi ý bởi các con số từ 1 đến 10. Dường như có sự tương hỗ liên tục. Đỉnh của nguyên tử không chỉ dành cho dòng nhập mà còn gợi ý cả dòng xuất. Điều tương tự cũng đúng với đáy của nguyên tử; nó không chỉ biểu lộ dòng xuất mà còn cả dòng nhập.

25. It is noteworthy that the entirety of the atom is not represented—a challenge for future modes of depiction. Probably now in the 21st century we have at our disposal the means of representing greater subtlety and intricacy.

25. Đáng lưu ý là toàn bộ nguyên tử không được biểu diễn—một thách thức cho các phương thức mô tả trong tương lai. Có lẽ giờ đây trong thế kỷ 21st chúng ta có trong tay những phương tiện để biểu diễn sự tinh tế và phức tạp lớn hơn.

26. Even the picture thus far presented is one of amazing intricacy. If there is truth and merit to this representation, it will be the responsibility of some occult physicist to compare and contrast modern science’s view of the atom with that presented by occultism. The differences now seem very great, but it is certain that the two models cannot remain forever dissonant. Where will the adjustments have to be made. Probably in the domain of modern physics, which still does not accept the actuality of the ether, which is the very foundation of the representation of the atom as here given.

26. Ngay cả hình ảnh được trình bày cho đến nay cũng đã có độ phức tạp đáng kinh ngạc. Nếu biểu diễn này có chân lý và giá trị, thì sẽ là trách nhiệm của một nhà vật lý huyền bí học nào đó phải so sánh và đối chiếu quan điểm của khoa học hiện đại về nguyên tử với quan điểm do huyền bí học trình bày. Hiện nay những khác biệt dường như rất lớn, nhưng chắc chắn hai mô hình này không thể mãi mãi bất hòa. Những điều chỉnh sẽ phải được thực hiện ở đâu? Có lẽ trong lĩnh vực vật lý hiện đại, vốn vẫn chưa chấp nhận thực tại của dĩ thái, là chính nền tảng của sự biểu diễn nguyên tử như được trình bày ở đây.

27. We also have to remember that modern physics is dealing mostly with dense physical atoms and their relation to phenomena of the fourth ether. The atom here depicted may well be found upon the atomic subplane of the systemic physical plane and is thus entirely etheric. The etheric nature of the occult atom immediately presents a difficulty to the investigator who would reconcile its nature with that of the atom as conceived by modern science.

27. Chúng ta cũng phải nhớ rằng vật lý hiện đại chủ yếu đang xử lý các nguyên tử hồng trần đậm đặc và mối liên hệ của chúng với các hiện tượng của dĩ thái thứ tư. Nguyên tử được mô tả ở đây rất có thể được tìm thấy trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần hệ thống và do đó hoàn toàn là dĩ thái. Bản chất dĩ thái của nguyên tử huyền bí ngay lập tức tạo ra một khó khăn cho nhà nghiên cứu muốn hòa giải bản chất của nó với nguyên tử như khoa học hiện đại quan niệm.

[Page 1182]

[Page 1182]

These streams of energy, judged by their effects, are called in human terminology laws, because their results are ever immutable and irresistible, and their effects remain unchangeably the same, varying only according to the form which is the subject of the energic impulse.

Những dòng năng lượng này, xét theo các hiệu quả của chúng, được gọi trong thuật ngữ nhân loại là các định luật, vì các kết quả của chúng luôn luôn bất biến và không thể cưỡng lại, và các hiệu quả của chúng vẫn không thay đổi, chỉ biến thiên tùy theo hình tướng là đối tượng của xung động năng lượng.

28. Here DK has given us a very solid definition of an “law”. There are certain words here which we should have constantly in mind when we contemplate the nature of law: “immutable”, “irresistible”, ‘unchangeable’.

28. Ở đây Chân sư DK đã cho chúng ta một định nghĩa rất vững chắc về một “định luật”. Có một số từ ở đây mà chúng ta nên luôn ghi nhớ khi chiêm ngưỡng bản chất của định luật: “bất biến”, “không thể cưỡng lại”, “không thay đổi”.

29. Different forms will, however, respond to laws in different ways.

29. Tuy nhiên, các hình tướng khác nhau sẽ đáp ứng với các định luật theo những cách khác nhau.

Thirdly, the student must bear in mind that the seven planes, or the seven spirillae of the logoic permanent atom,

Thứ ba, đạo sinh phải ghi nhớ rằng bảy cõi, hay bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn của Thượng đế,

30. We continue to note this occult definition of a plane.

30. Chúng ta tiếp tục lưu ý định nghĩa huyền bí này về một cõi.

31. The “logoic permanent atom” mentioned above must be the logoic physical permanent atom.

31. “Nguyên tử trường tồn của Thượng đế” được nhắc đến ở trên hẳn phải là nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế.

32. By inference we must assume that the seven subplanes of the cosmic astral plane are the seven spirillae of the logoic astral permanent atom, and that the seven subplanes of the cosmic mental plane are the seven spirillae of the logoic manasic permanent atom.

32. Theo suy luận, chúng ta phải giả định rằng bảy cõi phụ của cõi cảm dục vũ trụ là bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn cảm dục của Thượng đế, và bảy cõi phụ của cõi trí vũ trụ là bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn manas của Thượng đế.

33. We may run into difficulty, however, if the structure of the logoic higher permanent atoms is similar to that of the higher permanent atoms of the man, for the permanent atoms in the spiritual triad of man have only three spirillae. As there has been nothing to indicate that there are not seven subplanes in each of the cosmic planes, this problem will have to be solved for the cosmic mental plane and planes above. If there is logoic mental unit on the cosmic mental plane, and this mental unit corresponds to the human mental unit, then the problem is solved for the cosmic mental plane: the mental unit will possess four spirillae (four subplanes planes) and the manasic permanent atom will possess three spirillae (three more planes). Thus the full seven subplanes will appear.

33. Tuy nhiên, chúng ta có thể gặp khó khăn nếu cấu trúc của các nguyên tử trường tồn cao hơn của Thượng đế tương tự như cấu trúc của các nguyên tử trường tồn cao hơn của con người, vì các nguyên tử trường tồn trong Tam Nguyên Tinh Thần của con người chỉ có ba loa tuyến. Vì không có gì cho thấy rằng không có bảy cõi phụ trong mỗi cõi vũ trụ, nên vấn đề này sẽ phải được giải quyết đối với cõi trí vũ trụ và các cõi cao hơn. Nếu có đơn vị hạ trí của Thượng đế trên cõi trí vũ trụ, và đơn vị hạ trí này tương ứng với đơn vị hạ trí của con người, thì vấn đề được giải quyết đối với cõi trí vũ trụ: đơn vị hạ trí sẽ sở hữu bốn loa tuyến (bốn cõi phụ) và nguyên tử trường tồn manas sẽ sở hữu ba loa tuyến (ba cõi nữa). Như vậy đủ bảy cõi phụ sẽ xuất hiện.

are not all equally vitalised by the attractive pull emanating from the logoic lotus via the heart of the Sun.

không phải tất cả đều được tiếp sinh lực ngang nhau bởi lực kéo hấp dẫn phát ra từ hoa sen của Thượng đế qua tim của Mặt Trời.

34. We are clear about the meaning of the “heart of the Sun”; it is the logoic egoic lotus on the first subplane of the cosmic mental plane. But what is meant here by the “logoic lotus”? If it is not the logoic Heart of the Sun, is it the solar logoic etheric heart center found, presumably, on the monadic plane of the cosmic physical plane?

34. Chúng ta rõ ràng về ý nghĩa của “tim của Mặt Trời”; đó là hoa sen chân ngã của Thượng đế trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí vũ trụ. Nhưng ở đây “hoa sen của Thượng đế” có nghĩa là gì? Nếu nó không phải là Tim của Mặt Trời của Thượng đế, thì có phải đó là trung tâm tim dĩ thái của Thái dương Thượng đế, được tìm thấy, có lẽ, trên cõi chân thần của cõi hồng trần vũ trụ chăng?

Five of them

Năm trong số đó

35. The systemic or solar planes…

35. Các cõi hệ thống hay cõi thái dương…

are more "alive" than the other two; these five do not include the highest and the lowest.

“sống động” hơn hai cõi kia; năm cõi này không bao gồm cõi cao nhất và cõi thấp nhất.

36. It is interesting that the highest and the lowest are not included. The relatively-reduced vibrancy of the highest and lowest of the seven solar planes that correspond in the human being, the base of the spine center and the highest head center, are the last to fully awaken.

36. Thật thú vị khi cõi cao nhất và cõi thấp nhất không được bao gồm. Sự rung động tương đối giảm bớt của cõi cao nhất và thấp nhất trong bảy cõi thái dương, tương ứng trong con người với trung tâm đáy cột sống và trung tâm đầu cao nhất, là những trung tâm thức tỉnh trọn vẹn sau cùng.

The words "the heart of the Sun" must be understood to mean more than a locality situated in the interior recesses of the solar body,

Những lời “tim của Mặt Trời” phải được hiểu là có nghĩa nhiều hơn một vị trí nằm trong những chỗ sâu bên trong của thể thái dương,

37. Actually, the “Heart of the Sun” is usually related to the solar logoic egoic lotus on the cosmic higher mental plane.

37. Thực ra, “Tim của Mặt Trời” thường liên hệ với hoa sen chân ngã của Thái dương Thượng đế trên cõi thượng trí vũ trụ.

and have reference to the nature of the solar sphere.

và có liên quan đến bản chất của khối cầu thái dương.

38. Then is Master DK saying that the Heart of the Sun does have reference to the nature of the solar sphere?

38. Vậy thì Chân sư DK có đang nói rằng Tim của Mặt Trời quả thực có liên quan đến bản chất của khối cầu thái dương không?

This solar sphere is closely similar to the atom pictured in the book by Babbitt and later in Occult Chemistry by Mrs. Besant.

Khối cầu thái dương này rất giống với nguyên tử được minh họa trong sách của Babbitt và sau đó trong Occult Chemistry của bà Besant.

39. This is a statement which it will be necessary for the science of the future to digest.

39. Đây là một phát biểu mà khoa học tương lai sẽ cần phải tiêu hóa.

The Sun is heart-shaped, and (seen from cosmic angles) has a depression at what we might call its north pole.

Mặt Trời có hình tim, và (khi được nhìn từ các góc độ vũ trụ) có một chỗ lõm tại điều mà chúng ta có thể gọi là cực bắc của nó.

40. We have to understand the nature of the cosmic vision involved. Presumably, we are dealing minimally with etheric vision.

40. Chúng ta phải hiểu bản chất của linh thị vũ trụ có liên quan ở đây. Có lẽ, tối thiểu chúng ta đang xử lý linh thị dĩ thái.

41. Does the Sun, then, not have a depression at its south pole?

41. Vậy thì Mặt Trời không có một chỗ lõm ở cực nam của nó sao?

42. The astral permanent atom of the human being is also said to be relatively “heart shaped” which may tell us something about the function of our astrally polarized Solar Logos and His astral-buddhic system.

42. Nguyên tử trường tồn cảm dục của con người cũng được nói là tương đối “có hình tim”, điều này có thể cho chúng ta biết điều gì đó về chức năng của Thái dương Thượng đế phân cực cảm dục của chúng ta và hệ thống cảm dục-Bồ đề của Ngài.

This is formed by the impact of logoic energy upon solar substance.

Điều này được hình thành bởi tác động của năng lượng của Thượng đế lên chất liệu thái dương.

43. A human being has the fontanel at the top of the head, formed, we may infer, by the impact of higher energies upon the substance of the head.

43. Con người có thóp ở đỉnh đầu, được hình thành, như chúng ta có thể suy ra, bởi tác động của các năng lượng cao hơn lên chất liệu của đầu.

44. The “logoic energy” in question is that emanating from the Solar Logos. Again, such energy must be minimally etheric, but other and higher energies could be involved.

44. “Năng lượng của Thượng đế” được nói đến là năng lượng phát ra từ Thái dương Thượng đế. Một lần nữa, năng lượng như thế tối thiểu phải là dĩ thái, nhưng các năng lượng khác và cao hơn cũng có thể có liên quan.

This energy which impinges upon the solar sphere, and is thence distributed to all parts of the entire system, emanates from three cosmic centres

Năng lượng này tác động lên khối cầu thái dương, và từ đó được phân phối đến mọi phần của toàn thể hệ thống, phát ra từ ba trung tâm vũ trụ

45. Each of the sources below is considered to be a “cosmic centre”, presumably a center within the "One About Whom Naught May Be Said".

45. Mỗi nguồn dưới đây được xem là một “trung tâm vũ trụ”, có lẽ là một trung tâm bên trong Đấng Bất Khả Tư Nghị.

46. Logoic energy impinges upon the solar sphere, but, it appears that this logoic energy is impulsed from the three cosmic centers.

46. Năng lượng của Thượng đế tác động lên khối cầu thái dương, nhưng dường như năng lượng của Thượng đế này được thúc đẩy từ ba trung tâm vũ trụ.

47. When we think of sources of energy, we can think of evident sources, penultimate sources and ultimate sources. For instance, what seems to originate from the soul (and for all practical purposes, does ) may really be impulsed from the Monad and mediated via the soul.

47. Khi nghĩ đến các nguồn năng lượng, chúng ta có thể nghĩ đến các nguồn hiển nhiên, các nguồn cận tối hậu và các nguồn tối hậu. Chẳng hạn, điều dường như phát sinh từ linh hồn (và cho mọi mục đích thực tiễn, quả thực là như vậy) có thể thật ra được thúc đẩy từ chân thần và được trung giới qua linh hồn.

and, therefore, is triple during this particular cycle.

và, do đó, là tam phân trong chu kỳ đặc thù này.

48. One wonders about the energies impinging upon the solar sphere in other cycles. Permutation is ever active.

48. Người ta tự hỏi về các năng lượng tác động vào khối cầu thái dương trong những chu kỳ khác. Sự hoán chuyển luôn luôn hoạt động.

a. From the sevenfold great Bear.

a. Từ Đại Hùng Tinh thất phân.

49. Considered, let us remember, as a single center—a sevenfold center in the head, so it would seem.

49. Xin nhớ rằng, được xem như một trung tâm duy nhất—một trung tâm thất phân trong đầu, dường như là như vậy.

b. From the Sun Sirius.

b. Từ Mặt Trời Sirius.

50. Does He mean the single “Sun”, Sirius, or does He consider Sirius (with Sirius Body, and a potential Sirius C) to be a constellation.

50. Ngài có muốn nói đến “Mặt Trời” đơn nhất là Sirius, hay Ngài xem Sirius (cùng với Sirius Body, và một Sirius C tiềm năng) là một chòm sao?

c. From the Pleiades.

c. Từ Pleiades.

51. The Pleiades are definitely a constellation. We are, however, probably speaking only of seven or nine of them.

51. Pleiades chắc chắn là một chòm sao. Tuy nhiên, có lẽ chúng ta chỉ đang nói đến bảy hoặc chín ngôi sao trong số đó.

It must be remembered that the possible cosmic streams of energy available for use in our solar system are seven in number, of which three are major. These three vary during vast and incalculable cycles.

Cần nhớ rằng các dòng năng lượng vũ trụ khả hữu có thể dùng trong hệ mặt trời chúng ta có số lượng là bảy, trong đó có ba dòng là chính. Ba dòng này biến đổi trong những chu kỳ bao la và không thểtính đếm.

52. Here is a very important statement. A number of great importance for the previous solar system was five. The number of similar importance for our present solar system—the second major solar system of our Solar Logos—is seven. The corresponding number for the next solar system will be nine.

52. Đây là một phát biểu rất quan trọng. Một con số có tầm quan trọng lớn đối với hệ mặt trời trước đây là năm. Con số có tầm quan trọng tương tự đối với hệ mặt trời hiện tại của chúng ta—hệ mặt trời chính thứ hai của Thái dương Thượng đế của chúng ta—là bảy. Con số tương ứng cho hệ mặt trời kế tiếp sẽ là chín.

53. There must be seven sources of energy for our solar system—three of which are the energy of the Great Bear, the energy of seven of the Pleiades, and the energy of Sirius (the Sun, Sirius, or the constellation).

53. Phải có bảy nguồn năng lượng cho hệ mặt trời của chúng ta—ba trong số đó là năng lượng của Đại Hùng Tinh, năng lượng của bảy ngôi sao trong Pleiades, và năng lượng của Sirius (Mặt Trời Sirius, hay chòm sao này).

54. It is very interesting that different energy-streams may be major at different times in the long evolutionary history of the Solar Logos. At the moment it would seem that the three centers mentioned carry the first, second and third rays, but there are also other rays which may be rightly associated with these three sources, and these rays may be operative at this time in the solar logoic process.

54. Điều rất thú vị là các dòng năng lượng khác nhau có thể là chính vào những thời điểm khác nhau trong lịch sử tiến hoá lâu dài của Thái dương Thượng đế. Hiện nay dường như ba trung tâm được nhắc đến mang cung một, cung hai và cung ba, nhưng cũng có những cung khác có thể được liên hệ một cách đúng đắn với ba nguồn này, và những cung ấy có thể đang hoạt động vào lúc này trong tiến trình logoi thái dương.

Students may find it of use to remember that,

Các đạo sinh có thể thấy hữu ích khi nhớ rằng,

55. The words below offer important differentiations.

55. Những từ dưới đây đưa ra các sự phân biệt quan trọng.

a. The Law of Economy demonstrates as an urge,

a. Định luật Tiết Kiệm biểu lộ như một sự thôi thúc,

56. Usually the source of an “urge” is quite unconscious. The urge arises from within the substance of the form.

56. Thông thường nguồn gốc của một “sự thôi thúc” là khá vô thức. Sự thôi thúc phát sinh từ bên trong chất liệu của hình tướng.

b. The Law of Attraction as a pull,

b. Định luật Hấp Dẫn như một sức kéo,

57. A “pull” arises from without the form.

57. Một “sức kéo” phát sinh từ bên ngoài hình tướng.

c. The Law of Synthesis as a tendency to concentrate at a centre, or to merge. [Page 1183]

c. Định luật Tổng Hợp như một khuynh hướng tập trung vào một trung tâm, hay hòa nhập. [Page 1183]

58. If we could reduce all apparent “extension” (philosophically considered) to point, we would be operating under the Law of Synthesis.

58. Nếu chúng ta có thể quy mọi “sự mở rộng” biểu kiến (xét về mặt triết học) về thành điểm, thì chúng ta sẽ đang vận hành dưới Định luật Tổng Hợp.

59. The term “merge”, however, cannot be completely dissociated from the second ray.

59. Tuy nhiên, thuật ngữ “hòa nhập” không thể hoàn toàn tách rời khỏi cung hai.

60. In relation to the Law of Synthesis, we are dealing with the ‘merging of essences’. The form may suffer destruction in this process.

60. Liên quan đến Định luật Tổng Hợp, chúng ta đang bàn đến ‘sự hòa nhập của các tinh túy’. Hình tướng có thể bị hủy diệt trong tiến trình này.

The streams of energy which pour forth through the medium of the Sun from the egoic lotus

Các dòng năng lượng tuôn ra qua trung gian Mặt Trời từ Hoa Sen Chân Ngã

61. The “egoic lotus” here mentioned seems to be the egoic lotus of the Solar Logos.

61. “Hoa Sen Chân Ngã” được nhắc đến ở đây dường như là Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế.

and which are in reality "logoic Soul energy" attract to them that which is akin to them in vibration.

và thực ra là "năng lượng Linh hồn logoi" thu hút về phía chúng những gì đồng điệu với chúng về rung động.

62. The soul of the Solar Logos attracts to the souls of all, and especially those who are conscious as souls—spiritually awakened human beings (and, of course, Be/beings higher still).

62. Linh hồn của Thái dương Thượng đế thu hút các linh hồn của tất cả mọi hữu thể, và đặc biệt là những ai có ý thức như linh hồn—những con người được thức tỉnh tinh thần (và dĩ nhiên, các hữu thể còn cao hơn nữa).

This may sound rather like the statement of a platitude, but is susceptible of really deep significance to the student, being accountable for all systemic phenomena.

Điều này có thể nghe như một lời nói sáo, nhưng lại hàm chứa thâm nghĩa thật sâu xa đối với đạo sinh, vì nó giải thích cho mọi hiện tượng có tính hệ thống.

63. From the solar logoic soul, there is exerted a “pull” upon all souls. This “pull’, is for practical purposes within the solar system, the “Cosmic Magnet”—perhaps, more properly, the ‘Systemic Magnet’. It arranges all things according to the logoically-intended archetype.

63. Từ linh hồn logoi thái dương, một “sức kéo” được tác động lên mọi linh hồn. “Sức kéo” này, xét cho mục đích thực tiễn trong hệ mặt trời, là “Nam Châm Vũ Trụ”—có lẽ nói đúng hơn là ‘Nam Châm Hệ Thống’. Nó sắp xếp mọi sự theo nguyên mẫu được logoi chủ ý.

64. It seems that the pull of the solar logoic soul is even responsible for the revolution and rotation of the planets and all process which occur on those planets.

64. Dường như sức kéo của linh hồn logoi thái dương thậm chí còn chịu trách nhiệm cho sự quay quanh và tự quay của các hành tinh cùng mọi tiến trình xảy ra trên các hành tinh ấy.

These streams pass in different directions, and in the knowledge of occult direction comes knowledge of the various hierarchies of being, and the secret of the esoteric symbols.

Các dòng này đi theo những hướng khác nhau, và trong tri thức về phương hướng huyền bí có tri thức về các huyền giai khác nhau của hữu thể, và bí mật của các biểu tượng huyền bí.

65. I suppose we should know when an esoteric ‘bomb’, full of blinding revelation, lands. I think one just dropped.

65. Tôi cho rằng chúng ta nên biết khi nào một ‘quả bom’ huyền bí, đầy ắp mặc khải chói lòa, rơi xuống. Tôi nghĩ vừa có một quả như thế rơi xuống.

66. There seems to be an implication that various “hierarchies of being” are found in certain “directions”—occultly considered. Symbols, also, will indicate the six directions of which we are presently aware.

66. Dường như có một hàm ý rằng các “huyền giai của hữu thể” khác nhau được tìm thấy trong những “phương hướng” nhất định—xét theo huyền bí học. Các biểu tượng cũng sẽ chỉ ra sáu phương hướng mà hiện nay chúng ta nhận biết.

67. The solar system is a great sphere and the direction taken by various energies within the sphere are of great importance in interpreting the dynamics of the system.

67. Hệ mặt trời là một khối cầu vĩ đại, và hướng đi của các năng lượng khác nhau bên trong khối cầu ấy có tầm quan trọng lớn trong việc giải thích động lực học của hệ thống.

The main stream of energy enters at the top depression in the solar sphere and passes through the entire ring-pass-not, bisecting it into two halves.

Dòng năng lượng chính đi vào tại chỗ lõm phía trên trong khối cầu thái dương và đi xuyên qua toàn bộ vòng-giới-hạn, chianóthành hai nửa.

68. Here we have an occultly factual basis for Sacred Geometry.

68. Ở đây chúng ta có một cơ sở thực kiện huyền bí cho Hình Học Thiêng Liêng.

69. Is the stream from the Great Bear and its Seven Rishis to be considered as the “main stream”. Certainly the Great Bear has a direct connection with the head. And yet, as we read further, we may find a surprising reversal of our first estimation. In fact we may find the for our Solar Logos, the main stream of energy comes from Sirius. We will reserve judgment at first.

69. Có phải dòng từ Đại Hùng Tinh và Bảy Rishi của nó được xem là “dòng chính” hay không? Chắc chắn Đại Hùng Tinh có liên hệ trực tiếp với đầu. Tuy nhiên, khi đọc tiếp, chúng ta có thể thấy một sự đảo ngược đáng ngạc nhiên đối với ước lượng ban đầu của mình. Thật vậy, chúng ta có thể thấy rằng đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, dòng năng lượng chính đến từ Sirius. Trước hết chúng ta sẽ tạm giữ phán đoán.

With this stream enters that group of active lives whom we call the "Lords of Karma."

Cùng với dòng này đi vào là nhóm các sự sống hoạt động mà chúng ta gọi là "các Đấng Nghiệp Quả."

70. The “Lords of Karma” are, for our Solar Logos, Sirian Lives.

70. “Các Đấng Nghiệp Quả”, đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, là các Sự Sống Sirian.

71. It would seem that at least eight “Lords of Karma” enter.

71. Dường như có ít nhất tám “Đấng Nghiệp Quả” đi vào.

They preside over the attractive forces, and distribute them justly. They enter, pass to the centre of the sphere and there (if I may so express it) locate, and set up the "Holy Temple of Divine Justice," sending out to the four quarters of the circle the four Maharajahs, their representatives.

Các Ngài chủ trì các mãnh lực hấp dẫn, và phân phối chúng một cách công bằng. Các Ngài đi vào, tiến đến trung tâm của khối cầu và tại đó (nếu tôi có thể nói như vậy) định vị, và thiết lập "Đền Thờ Thiêng Liêng của Công Lý Thiêng Liêng," gửi ra bốn phương của vòng tròn bốn Maharajah, là các đại diện của Các Ngài.

72. The systemic and cosmic occultism is profound!

72. Huyền bí học có tính hệ thống và vũ trụ thật là sâu thẳm!

73. Those Lords of Karma (greater than the "Four Maharajas") locate themselves in the midst of the “Holy Temple of Divine Justice” within the center of the sphere of the Sun!

73. Những Đấng Nghiệp Quả ấy (cao cả hơn "Bốn Maharaja") định vị chính mình ở giữa “Đền Thờ Thiêng Liêng của Công Lý Thiêng Liêng” bên trong trung tâm của khối cầu Mặt Trời!

74. There can be a debate concerning whether there are three or four Lipika Lords. Perhaps on Sirius there are three major Lipika Lords. In this context, it seems that there must be four Lipika Lords and four Maharajas.

74. Có thể có tranh luận về việc có ba hay bốn Đấng Lipika. Có lẽ trên Sirius có ba Đấng Lipika chính. Trong ngữ cảnh này, dường như phải có bốn Đấng Lipika và bốn Maharaja.

75. The following reference suggests four, each corresponding to one of the "Four Maharajas".

75. Trích dẫn sau đây gợi ý là bốn, mỗi vị tương ứng với một trong "Bốn Maharaja".

2. The four Lipika Lords.

2. Bốn Đấng Lipika.

The four Maharajahs. (LOM 229)

Bốn Maharajah. (LOM 229)

76. The following reference, however, indicates that there is a group of three Lipikas (or Cosmic Karmic Lords) Who may be superior to the four Lipikas which enter through the solar depression.

76. Tuy nhiên, trích dẫn sau đây cho thấy có một nhóm gồm ba Lipika (hay các Đấng Nghiệp Quả Vũ Trụ) có thể cao hơn bốn Lipika đi vào qua chỗ lõm thái dương.

“The Lipika Lords, controlling the periodical manifestation of life are, roughly speaking, divided into the following groups, which it might be of interest to note:

“Các Đấng Lipika, kiểm soát sự biểu hiện tuần hoàn của sự sống, nói một cách khái quát, được chia thành các nhóm sau đây, điều mà có thể đáng lưu ý:

1. Three extra-systemic or cosmic Lords of Karma, Who work from a centre in Sirius through the medium of three representatives. These form a group around the solar Logos, and hold to Him a position analogous to the three Buddhas of Activity Who stand around Sanat Kumara.

1. Ba Đấng Nghiệp Quả ngoài hệ thống hay vũ trụ, hoạt động từ một trung tâm trên Sirius qua trung gian của ba đại diện. Các Ngài tạo thành một nhóm xung quanh Thái dương Thượng đế, và giữ đối với Ngài một vị trí tương tự như ba Đức Phật Hoạt Động đứng quanh Đức Sanat Kumara.

2. Three Lipika Lords Who are the karmic agents working through the three aspects.

2. Ba Đấng Lipika là các tác nhân nghiệp quả hoạt động qua ba phương diện.

3. Nine Lipikas Who are the sumtotal of the agents for the Law working through what the Qabbalah calls the nine Sephiroth.

3. Chín Lipika là tổng số các tác nhân của Định luật hoạt động qua điều mà Qabbalah gọi là chín Sephiroth.

4. Seven presiding agents of karma for each one of the seven schemes.” (TCF 1142-1143)

4. Bảy tác nhân chủ trì nghiệp quả cho mỗi một trong bảy hệ hành tinh.” (TCF 1142-1143)

77. The groups of four Lipikas are not here discussed. While the representatives of the three “cosmic Lords of Karma” as it were “surround” the Solar Logos, the four Lipikas and the four Maharajas Who enter through the top depression of the solar sphere, are, as it were, within the center of the etheric-physical body of the Solar Logos—His spherical solar system.

77. Các nhóm gồm bốn Lipika không được bàn đến ở đây. Trong khi các đại diện của ba “Đấng Nghiệp Quả vũ trụ” dường như “bao quanh” Thái dương Thượng đế, thì bốn Lipika và bốn Maharaja đi vào qua chỗ lõm phía trên của khối cầu thái dương lại, dường như, ở bên trong trung tâm của thể dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế—hệ mặt trời hình cầu của Ngài.

78. If the Lords of Karma are Sirian in origin, and if they enter through the top of the solar sphere, then does the stream from the Great Bear enter via the top of this sphere, or does the Sirian influence accompany the influences of the Great Bear? Or does the stream from the Great Bear not enter at the top of the sphere?

78. Nếu các Đấng Nghiệp Quả có nguồn gốc Sirian, và nếu Các Ngài đi vào qua đỉnh của khối cầu thái dương, thì dòng từ Đại Hùng Tinh có đi vào qua đỉnh của khối cầu này không, hay ảnh hưởng Sirian đi kèm với các ảnh hưởng của Đại Hùng Tinh? Hoặc dòng từ Đại Hùng Tinh không đi vào ở đỉnh khối cầu?

So is the equal armed Cross formed

Như vậy Thập Giá có các cánh tay bằng nhau được hình thành

79. This is also the “Aquarian Cross”.

79. Đây cũng là “Thập Giá Bảo Bình”.

—and all the wheels of energy set in motion.

—và mọi bánh xe năng lượng được đặt vào chuyển động.

80. The “wheels of energy” may be considered, the various Planetary Logoi in their orbits.

80. “Các bánh xe năng lượng” có thể được xem là các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau trong quỹ đạo của Các Ngài.

This is conditioned by the karmic seeds of an earlier system,

Điều này được tác động bởi các hạt giống nghiệp quả của một hệ thống trước đó,

81. Is Master DK saying that the motion of the wheels is dependent upon the “karmic seeds of an earlier system”.

81. Có phải Chân sư DK đang nói rằng chuyển động của các bánh xe phụ thuộc vào “các hạt giống nghiệp quả của một hệ thống trước đó” hay không?

and only that substance is utilised by the Logos, and only those lives come into manifestation who have set up a mutual attraction.

và chỉ chất liệu ấy mới được Thượng đế sử dụng, và chỉ những sự sống ấy mới đi vào biểu hiện là những sự sống đã thiết lập một sức hút hỗ tương.

82. We have here an example of ‘systemic group work’. Those who are to work together must be mutually attracted to each other. We are told that this is so on macrocosmic levels. We can infer that this is the case on microcosmic as well.

82. Ở đây chúng ta có một ví dụ về ‘công việc nhóm có tính hệ thống’. Những ai sẽ cùng làm việc với nhau phải có sức hút hỗ tương đối với nhau. Chúng ta được bảo rằng điều này đúng ở các cấp độ đại thiên địa. Chúng ta có thể suy ra rằng ở tiểu thiên địa cũng vậy.

83. The Planetary Logoi of our solar system, no matter how different to each other they may seem, are a ‘systemic group’ and are mutually attracted to each other.

83. Các Hành Tinh Thượng Đế của hệ mặt trời chúng ta, dù có vẻ khác nhau đến đâu, vẫn là một ‘nhóm có tính hệ thống’ và có sức hút hỗ tương đối với nhau.

These five streams of living energy (the one and the four) are the basis of the onward march of all things; these are sometimes esoterically called "the forward moving Lives."

Năm dòng năng lượng sống động này (một và bốn) là nền tảng của bước tiến không ngừng của vạn vật; đôi khi chúng được gọi một cách huyền bí là "các Sự Sống tiến về phía trước."

84. This is a clarification. DK has described the energy-basis of the pyramid. One can consider the enter solar system to be in the form of the pyramid.

84. Đây là một sự làm sáng tỏ. DK đã mô tả nền tảng năng lượng của kim tự tháp. Người ta có thể xem toàn bộ hệ mặt trời như có hình dạng của kim tự tháp.

85. Thus we have a major vertical energy and, apparently, four horizontal energies.

85. Như vậy chúng ta có một năng lượng thẳng đứng chính và, dường như, bốn năng lượng nằm ngang.

86. We continue to hold in mind the sources of the three major energy-streams which DK is in process of describing—the Great Bear, Sirius and the Pleiades.

86. Chúng ta tiếp tục ghi nhớ các nguồn của ba dòng năng lượng chính mà DK đang trong tiến trình mô tả—Đại Hùng Tinh, Sirius và Pleiades.

87. Yet, at this point we should recall that energies from the highest and lowest planes are not among the five!

87. Tuy nhiên, tại điểm này chúng ta nên nhớ rằng các năng lượng từ cõi cao nhất và cõi thấp nhất không nằm trong số năm dòng ấy!

88. The idea of “forward moving” suggests the first ray. It is very possible that Sirius, actually can be associated with the “forward moving Lives”, since in relation to our Sun (the heart center of a Cosmic Logos), the Logos of Sirius and His system may hold a first ray function.

88. Ý tưởng về “tiến về phía trước” gợi ý cung một. Rất có thể Sirius thực sự có thể được liên hệ với “các Sự Sống tiến về phía trước”, vì trong tương quan với Mặt Trời của chúng ta (trung tâm tim của một Thượng đế Vũ Trụ), Thượng đế của Sirius và hệ thống của Ngài có thể giữ một chức năng cung một.

89. It has been hypothesized that within the sevenfold Cosmic Logos within whom our Solar Logos expresses as a heart center, the Logos of Sirius expresses as a head center. This would bring in the first ray implication.

89. Đã có giả thuyết rằng trong Thượng đế Vũ Trụ thất phân mà trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta biểu lộ như một trung tâm tim, thì Thượng đế của Sirius biểu lộ như một trung tâm đầu. Điều này sẽ đưa vào hàm ý cung một.

They embody the Will of the Logos.

Chúng thể hiện Ý Chí của Thượng đế.

90. These five streams embody the Will of the Solar Logos. We can conceive that our Solar Logos looks to the Logos of Sirius and ‘says’, “Not my will but Thine be done.”

90. Năm dòng này thể hiện Ý Chí của Thái dương Thượng đế. Chúng ta có thể hình dung rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta hướng về Thượng đế của Sirius và ‘nói’: “Không phải ý chí của con mà là Ý Chí của Ngài được thực hiện.”

It is the note they sound and the attractive pull which they initiate which bring into contact with the solar sphere a group of existences whose mode of activity is spiral and not forward.

Chính âm điệu mà chúng xướng lên và sức kéo hấp dẫn mà chúng khởi phát đưa vào tiếp xúc với khối cầu thái dương một nhóm các hiện hữu có phương thức hoạt động là xoắn ốc chứ không phải tiến thẳng.

91. The motion of the energies we have been discussing is “forward”. They are, thus, to be related to the first ray the motion of which is “progress onward” or “driving forward through space”.

91. Chuyển động của các năng lượng mà chúng ta vừa bàn đến là “tiến về phía trước”. Vì vậy, chúng phải được liên hệ với cung một, mà chuyển động của cung này là “tiến bộ đi tới” hay “thúc đẩy tiến lên xuyên qua không gian”.

92. Now we are to contrast two modes of activity—the one we have been discussion the motion of this is “forward” with another group of existences whose mode of motion is “cyclic”.

92. Giờ đây chúng ta sẽ đối chiếu hai phương thức hoạt động—một phương thức mà chúng ta vừa bàn đến có chuyển động là “tiến về phía trước”, với một nhóm hiện hữu khác có phương thức chuyển động là “chu kỳ”.

These groups are seven in number

Các nhóm này có số lượng là bảy

93. The number seven is more readily correlated with the Great Bear than it is with Sirius as usually understood. If, however, we were to understand the term “Sirius” as representing the leading Logos and His star within the "Seven Solar Systems of Which Ours is One", then we could relate the number seven to Sirius as well.

93. Con số bảy dễ được tương liên với Đại Hùng Tinh hơn là với Sirius theo cách thường được hiểu. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu thuật ngữ “Sirius” như đại diện cho Thượng đế dẫn đầu và ngôi sao của Ngài trong "Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một", thì chúng ta cũng có thể liên hệ con số bảy với Sirius.

and pass into manifestation [Page 1184] through what is for them a great door of Initiation.

và đi vào biểu hiện [Page 1184] qua điều đối với chúng là một cánh cửa lớn của điểm đạo.

94. The nature of this “door” is not specified. But we notice that the top depression of the solar sphere is not discussed.

94. Bản chất của “cánh cửa” này không được xác định. Nhưng chúng ta lưu ý rằng chỗ lõm phía trên của khối cầu thái dương không được bàn đến.

In some of the occult books, these seven groups are spoken of as the "seven cosmic Initiates Who have passed within the Heart, and there remain until the test is passed."

Trong một số sách huyền bí, bảy nhóm này được nói đến như là "bảy Điểm đạo đồ vũ trụ đã đi vào trong Tim, và ở lại đó cho đến khi cuộc thử thách được vượt qua."

95. We are now speaking of a great group of Lives associated, it would seem, with “cyclic” activity or with “spiral-cyclic”.

95. Giờ đây chúng ta đang nói về một nhóm lớn các Sự Sống dường như liên hệ với hoạt động “chu kỳ” hay “xoắn ốc-chu kỳ”.

96. The energies of the Great Bear are sevenfold and much associated with the first ray. The energies of the Pleiades (are from this point of view) also sevenfold and are to be associated with the third and second rays.

96. Các năng lượng của Đại Hùng Tinh là thất phân và gắn nhiều với cung một. Các năng lượng của Pleiades (xét từ quan điểm này) cũng là thất phân và phải được liên hệ với cung ba và cung hai.

97. What is the source, then, of the “seven cosmic Initiates Who have passed within the Heart, and there remain until the test if passed.”?

97. Vậy thì nguồn gốc của “bảy Điểm đạo đồ vũ trụ đã đi vào trong Tim, và ở lại đó cho đến khi cuộc thử thách được vượt qua” là gì?

98. Notice that we are speaking of seven “groups” and not just of seven Entities, per se. The Entities in question manifest through groups.

98. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về bảy “nhóm” chứ không chỉ bảy Thực Thể, chính chúng. Các Thực Thể đang được nói đến biểu hiện qua các nhóm.

These are the seven Hierarchies of Beings,

Đây là bảy Huyền Giai của các Hữu Thể,

99. These are seven great groups or hosts of Monads. It is possible to correlate them with the Seven Rishis of the Great Bear.

99. Đây là bảy nhóm hay đạo quân lớn của các Chân thần. Có thể tương liên chúng với Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh.

the seven Dhyan Chohans. They spiral into manifestation, cutting across the fourfold cross, and touching the cruciform stream of energy in certain places.

bảy Dhyan Chohan. Các Ngài xoắn ốc đi vào biểu hiện, cắt ngang thập giá tứ phân, và chạm vào dòng năng lượng hình thập tự tại những điểm nhất định.

100. We see that the groups which take up their position “within the Heart” are the Informing Lives of the Seven Creative Hierarchies.

100. Chúng ta thấy rằng các nhóm chiếm vị trí “bên trong Tim” là các Sự Sống Phú Linh của Các Huyền Giai Sáng Tạo bảy phân.

101. The term “Dhyan Chohan” has various uses. Here we see it applied to those Lives Who inform or express through vast hosts of Monads. Creative Hierarchies are hosts of Monads.

101. Thuật ngữ “Dhyan Chohan” có nhiều cách dùng khác nhau. Ở đây chúng ta thấy nó được áp dụng cho những Sự Sống phú linh hay biểu lộ qua những đạo quân rộng lớn các Chân thần. Các Huyền Giai Sáng Tạo là những đạo quân của các Chân thần.

102. We see that the “certain places in which these seven Dhyan Chohans “spiral into manifestation” are not specified.

102. Chúng ta thấy rằng những “điểm nhất định” nơi bảy Dhyan Chohan này “xoắn ốc đi vào biểu hiện” không được xác định.

103. Thus far, we have the one, the four and the seven, making twelve in all.

103. Cho đến nay, chúng ta có một, bốn và bảy, tổng cộng là mười hai.

104. We have three major groupings and, it would seem, we will have to find a way to related the three great constellations to one or other of these three groups.

104. Chúng ta có ba nhóm lớn và dường như sẽ phải tìm ra cách liên hệ ba chòm sao lớn với một hay nhóm nào đó trong ba nhóm này.

The places where the streams of love energy cross the streams of will and karmic energy are mystically called the "Caves of dual light"

Những nơi mà các dòng năng lượng bác ái cắt ngang các dòng năng lượng ý chí và nghiệp quả được gọi một cách thần bí là "Các Hang của ánh sáng nhị nguyên"

105. We can conceive of this “dual light” as the light of fate and the light of destiny. Fate is associated with karma and destiny with the destination of the Monad.

105. Chúng ta có thể hình dung “ánh sáng nhị nguyên” này như ánh sáng của số mệnh và ánh sáng của thiên mệnh. Số mệnh gắn với nghiệp quả và thiên mệnh gắn với đích đến của Chân thần.

and when a reincarnating or liberated jiva enters one of these Caves in the course of his pilgrimage, he takes an initiation, and passes on to a higher turn of the spiral.

và khi một jiva tái sinh hay được giải thoát đi vào một trong những Hang này trong tiến trình cuộc hành hương của y, y tiếp nhận một điểm đạo, và tiến lên một vòng xoắn cao hơn.

106. The “caves of dual light” then, are also places of passage from the lower to the higher.

106. Như vậy, “các hang của ánh sáng nhị nguyên” cũng là những nơi chuyển tiếp từ thấp lên cao.

107. This is some of the most occult information DK has ever given. He is defining the cause of human initiation from a solar systemic perspective.

107. Đây là một phần thông tin huyền bí nhất mà DK từng ban ra. Ngài đang xác định nguyên nhân của điểm đạo nhân loại từ một viễn cảnh hệ thống thái dương.

108. The one and the four are streams of will and karma. One stream, the major one, seems related to will. The group which reaches the center of the solar sphere, and divides in four, is the fourfold stream of karmic energy. The sevenfold energy are seven streams of love associated with the Creative Hierarchies.

108. Một và bốn là các dòng ý chí và nghiệp quả. Một dòng, là dòng chính, dường như liên hệ với ý chí. Nhóm đi đến trung tâm của khối cầu thái dương và chia thành bốn là dòng năng lượng nghiệp quả tứ phân. Năng lượng thất phân là bảy dòng bác ái gắn với các Huyền Giai Sáng Tạo.

109. The major stream of energy is propagated along all four karmic streams. Thus each of the four karmic streams is also a stream of will. Will and karma are closely related.

109. Dòng năng lượng chính được truyền dọc theo cả bốn dòng nghiệp quả. Vì vậy mỗi một trong bốn dòng nghiệp quả cũng là một dòng ý chí. Ý chí và nghiệp quả có liên hệ chặt chẽ với nhau.

110. The first, second and third rays are all involved just as are the energy-streams from the Great Bear, Sirius and the Pleiades.

110. Cung một, cung hai và cung ba đều được bao hàm, cũng như các dòng năng lượng từ Đại Hùng Tinh, Sirius và Pleiades.

111. Assigning these three to the three types of direction under discussion, however, may not be entirely straightforward.

111. Tuy nhiên, việc gán ba nguồn này cho ba loại phương hướng đang được bàn đến có thể không hoàn toàn đơn giản.

112. The seven Creative Hierarchies are not usually associated with the second ray of love. The forces from Sirius, from whence the Lords of Karma emanate, can be associated with the third or manasic ray, but often with the second. Are the forces of the Pleiades to be associated with the seven Creative Hierarchies, or are the forces of the Great Bear (representing Monads) more appropriate? Are those from Sirius to be seen as generating the Cross of Karma which is established within the solar sphere and which emanates from “Holy Temple of Divine Justice”? Then would the forces of the Great Bear be the main stream entering through the top of the solar sphere? Yet the “main stream” and the “karmic stream” may be one.

112. Bảy Huyền Giai Sáng Tạo thường không được liên hệ với cung hai của bác ái. Các mãnh lực từ Sirius, nơi các Đấng Nghiệp Quả xuất lộ, có thể được liên hệ với cung ba hay cung manas, nhưng thường là với cung hai. Có phải các mãnh lực của Pleiades nên được liên hệ với bảy Huyền Giai Sáng Tạo, hay các mãnh lực của Đại Hùng Tinh (đại diện cho các Chân thần) thích hợp hơn? Có phải các mãnh lực từ Sirius nên được xem như tạo ra Thập Giá Nghiệp Quả được thiết lập bên trong khối cầu thái dương và xuất lộ từ “Đền Thờ Thiêng Liêng của Công Lý Thiêng Liêng”? Vậy thì các mãnh lực của Đại Hùng Tinh có phải là dòng chính đi vào qua đỉnh của khối cầu thái dương không? Tuy nhiên, “dòng chính” và “dòng nghiệp quả” có thể là một.

113. Yet, we must not jump to conclusions, as perhaps only two influences have thus far been mentioned and not three. Another is going to be revealed as we will see.

113. Tuy nhiên, chúng ta không được vội kết luận, vì có lẽ cho đến nay chỉ mới nhắc đến hai ảnh hưởng chứ chưa phải ba. Một ảnh hưởng khác sẽ được tiết lộ như chúng ta sẽ thấy.

Another stream of energy

Một dòng năng lượng khác

114. We can call this the third stream of energy.

114. Chúng ta có thể gọi đây là dòng năng lượng thứ ba.

follows a different route, which is a little difficult to make clear. This particular set of active lives enter the heart shaped depression,

đi theo một lộ trình khác, điều này hơi khó làm cho rõ. Tập hợp đặc biệt này của các sự sống hoạt động đi vào chỗ lõm hình tim,

115. It seems that three streams of force have entered through the heart shaped depression: the main stream, the karmic stream, and now, what DK will call the “lunar stream”. But it is very possible, depending on our interpretation, that the “main stream” and the “karmic stream” are identical.

115. Dường như có ba dòng lực đã đi vào qua chỗ lõm hình tim: dòng chính, dòng nghiệp quả, và giờ đây là điều DK sẽ gọi là “dòng nguyệt”. Nhưng rất có thể, tùy theo cách giải thích của chúng ta, “dòng chính” và “dòng nghiệp quả” là đồng nhất.

116. Is this stream following a different route to be associated with the Pleiades?

116. Có phải dòng đi theo lộ trình khác này nên được liên hệ với Pleiades không?

pass around the edge of the ring-pass-not to the lowest part of the solar sphere and then mount upwards, coming into opposition therefore with the stream of downpouring energy.

đi quanh mép của vòng-giới-hạn đến phần thấp nhất của khối cầu thái dương rồi sau đó đi lên, do đó đi vào thế đối kháng với dòng năng lượng tuônxuống.

117. This is really interesting. We see that the solar system is looking more and more like a vast version of Babbitt’s Atom.

117. Điều này thật sự rất thú vị. Chúng ta thấy hệ mặt trời ngày càng giống một phiên bản khổng lồ của Nguyên tử Babbitt.

118. In one way, the energy of the Great Bear and the energy of the Pleiades do stand in opposition as male energy to female energy.

118. Theo một cách nào đó, năng lượng của Đại Hùng Tinh và năng lượng của Pleiades quả thật đứng trong thế đối kháng như năng lượng nam đối với năng lượng nữ.

119. In another way, the forces of matter so often represented by the Pleiades are opposed by the forces of Sirius, which create an abstraction or a drawing away from matter.

119. Theo một cách khác, các mãnh lực của vật chất thường được Pleiades tượng trưng bị đối kháng bởi các mãnh lực của Sirius, vốn tạo ra sự trừu xuất hay sự kéo ra khỏi vật chất.

This stream of force is called "lunar" force for lack of a better term.

Dòng lực này được gọi là lực "nguyệt" vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn.

120. It is probably not the term which DK desires to use but it does suggest the third aspect and association with matter.

120. Có lẽ đây không phải là thuật ngữ mà DK muốn dùng, nhưng nó quả có gợi ý phương diện thứ ba và sự liên hệ với vật chất.

They form the body of the raja Lord of each of the planes, and are governed by the Law of Economy.

Chúng tạo thành thể của vị chúa tể raja của mỗi cõi, và được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm.

121. We are learning about the way which certain major forces establish themselves within our solar system.

121. Chúng ta đang học về cách mà một số mãnh lực lớn thiết lập chính mình bên trong hệ mặt trời của chúng ta.

122. This group of forces are sounding more Pleiadian all the time.

122. Nhóm mãnh lực này nghe ngày càng giống Pleiades hơn.

123. We must determine whether there are three such streams or four. There would be four if the will stream were divided from the karmic stream, and yet in the preamble to this section, DK discussed only three great energy sources—the Great Bear, the Pleiades and Sirius.

123. Chúng ta phải xác định xem có ba dòng như thế hay bốn. Sẽ là bốn nếu dòng ý chí được tách khỏi dòng nghiệp quả, nhưng trong phần mở đầu của mục này, DK chỉ bàn đến ba nguồn năng lượng lớn—Đại Hùng Tinh, Pleiades và Sirius.

All these streams of energy form geometrical designs of great beauty to the eye of the initiated seer.

Tất cả các dòng năng lượng này tạo thành những mô hình hình học có vẻ đẹp lớn lao đối với con mắt của nhà thông nhãn đã được điểm đạo.

124. “God Geometrizes.” We are studying the Sacred Geometry of our solar system.

124. “Thượng đế hình học hóa.” Chúng ta đang nghiên cứu Hình Học Thiêng Liêng của hệ mặt trời chúng ta.

We have the transverse and bisecting lines,

Chúng ta có các đường ngang và đường phân đôi,

125. These form the “Cross of Karma”

125. Chúng tạo thành “Thập Giá Nghiệp Quả”

the seven lines of force which form the planes,

bảy đường lực tạo thành các cõi,

126. Are they stratified?

126. Chúng có phân tầng không?

127. Seven is a number conventionally associated with the seven Pleiades who are the “Wives” of the Seven Rishis of the Great Bear.

127. Bảy là một con số theo quy ước được liên hệ với bảy ngôi sao Pleiades là “Những Người Vợ” của Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh.

and the seven spiralling lines, thus forming lines of systemic latitude and longitude,

và bảy đường xoắn ốc, do đó tạo thành các đường vĩ độ và kinh độ của hệ thống,

128. We recall from earlier references the lines from east to west are lines of latitude and in this case would be associated with the seven planes and the Pleiades.

128. Chúng ta nhớ từ các tham chiếu trước rằng các đường từ đông sang tây là các đường vĩ độ và trong trường hợp này sẽ được liên hệ với bảy cõi và Pleiades.

129. The lines running from north to south are lines of longitude and would be associated with the seven rays.

129. Các đường chạy từ bắc xuống nam là các đường kinh độ và sẽ được liên hệ với bảy cung.

130. We realize that the Great Bear is the most noted source of the seven rays in our solar system.

130. Chúng ta nhận ra rằng Đại Hùng Tinh là nguồn nổi bật nhất của bảy cung trong hệ mặt trời chúng ta.

and their interplay and interaction produce a whole of wondrous beauty and design.

và sự tương tác qua lại của chúng tạo ra một toàn thể có vẻ đẹp và mô hình kỳ diệu.

131. I suspect it will soon be the destiny of some esoteric artist to convey his impression of these interacting lines of force.

131. Tôi ngờ rằng chẳng bao lâu nữa sẽ là định mệnh của một nghệ sĩ huyền bí nào đó truyền đạt ấn tượng của ông về những đường lực tương tác này.

When these are visualised in colour,

Khi những điều này được hình dung trong màu sắc,

132. We may presume that each of the three or four lines or spirals of force has its own color.

132. Chúng ta có thể giả định rằng mỗi một trong ba hay bốn đường hay xoắn lực đều có màu sắc riêng của nó.

and seen in their true radiance, it will be realised that the point of attainment of our solar Logos is very high, for the beauty of the logoic Soul is expressed by that which is seen.

và được thấy trong sự rực sáng chân thực của chúng, người ta sẽ chứng nghiệm rằng điểm thành tựu của Thái dương Thượng đế của chúng ta là rất cao, vì vẻ đẹp của Linh hồn logoi được biểu lộ qua điều được thấy.

133. Beauty (which is the degree of conformity with the intended archetype) reveals attainment. Attainment means approximation to the archetype.

133. Vẻ đẹp (là mức độ phù hợp với nguyên mẫu đã được chủ định) tiết lộ thành tựu. Thành tựu có nghĩa là sự tiệm cận nguyên mẫu.

134. Clearly there is great beauty to be seen, but what is the meaning of “very high”? Our Solar Logos is apparently a Cosmic Initiate of the second degree, but not yet of the third degree. Is this very high?

134. Rõ ràng có vẻ đẹp lớn lao để được thấy, nhưng “rất cao” có nghĩa là gì? Thái dương Thượng đế của chúng ta dường như là một Điểm đạo đồ Vũ Trụ cấp hai, nhưng chưa phải cấp ba. Điều đó có phải là rất cao không?

135. It would seem that the fourth ray must be involved (perhaps monadically) in relation to our Solar Logos, Who is a Logos of the fourth order—at this time.

135. Dường như cung bốn phải được bao hàm (có lẽ về mặt chân thần) trong liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta, Đấng là một Thượng đế thuộc bậc thứ tư—vào lúc này.

136. If there are only three sources of energy, then perhaps Sirius is responsible for five of them—the major stream and the resultant cross. Then the Great Bear would be associated with the seven Creative Hierarchies and the Pleiades would provide the forces through which the Raja Deva Lords work.

136. Nếu chỉ có ba nguồn năng lượng, thì có lẽ Sirius chịu trách nhiệm cho năm dòng trong số đó—dòng chính và thập giá phát sinh từ đó. Khi ấy Đại Hùng Tinh sẽ được liên hệ với bảy Huyền Giai Sáng Tạo và Pleiades sẽ cung cấp các mãnh lực mà qua đó các Chúa Tể Raja Deva hoạt động.

137. The entry of the main stream will have to be considered carefully.

137. Sự đi vào của dòng chính sẽ phải được xem xét cẩn thận.

138. If Sirius is considered major, it will not be because it is absolutely major, but is major in relation to our Solar Logos. Then both the Great Bear and Pleiades (which are really of greater advancement than Sirius) will play secondary roles—at least with respect to our Solar Logos.

138. Nếu Sirius được xem là chính yếu, thì không phải vì nó tuyệt đối chính yếu, mà là chính yếu trong liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta. Khi ấy cả Đại Hùng Tinh lẫn Pleiades (thực ra đều tiến hoá cao hơn Sirius) sẽ đóng các vai trò thứ yếu—ít nhất là xét theo Thái dương Thượng đế của chúng ta.

S9S12, Part I

TCF 1185-1188

TCF 1185-1188

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích duy trì tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng thể của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

[Page 1185]

[Trang 1185]

II. THE EFFECTS OF THE LAW OF ATTRACTION

II. CÁC HIỆU QUẢ CỦA ĐỊNH LUẬT HẤP DẪN

The Law of Attraction produces certain effects which it might profit us to touch upon here, provided we remember that only a few effects out of many possible are being considered.

Định luật Hấp Dẫn tạo ra một số hiệu quả mà ở đây có lẽ sẽ có ích cho chúng ta khi đề cập đến, miễn là chúng ta nhớ rằng chỉ một vài hiệu quả trong số rất nhiều hiệu quả khả hữu đang được xem xét.

1. Master DK intends to touch lightly on the subject, but that touch will surely give us more than enough to ponder.

1. Chân sư DK dự định chỉ đề cập nhẹ đến chủ đề này, nhưng sự đụng chạm ấy chắc chắn sẽ cho chúng ta quá đủ điều để suy ngẫm.

2. We must always be wary if we think that DK has said all that might be said on a subject. For instance, on the types of second ray souls—He describes three types but adds, “there are naturally numerous exceptions”.

2. Chúng ta phải luôn thận trọng nếu nghĩ rằng DK đã nói hết mọi điều có thể nói về một chủ đề. Chẳng hạn, về các loại linh hồn cung hai—Ngài mô tả ba loại nhưng thêm rằng, “dĩ nhiên có rất nhiều ngoại lệ”.

1. Association.

1. Sự kết hợp.

The first effect might be called association. Under this law the karmic Lords are enabled to bring together those lives (human, subhuman, and superhuman) which have earlier been associated, and have, therefore, somewhat to work out.

Hiệu quả đầu tiên có thể được gọi là sự kết hợp. Dưới định luật này, các Đấng Nghiệp Quả có thể đưa lại gần nhau những sự sống (nhân loại, dưới nhân loại, và siêu nhân loại) đã từng được kết hợp trước đây, và do đó, có điều gì đó cần cùng giải quyết.

3. This thought leads us to the conclusion that there are many human beings with whom we have never been personally associated and that the human beings with whom we are now associated are likely to be those with whom we have been associated many times before.

3. Tư tưởng này dẫn chúng ta đến kết luận rằng có nhiều con người mà chúng ta chưa bao giờ từng được kết hợp một cách cá nhân, và rằng những con người mà hiện nay chúng ta đang được kết hợp cùng rất có thể là những người mà chúng ta đã từng được kết hợp nhiều lần trước đây.

The seven Heavenly Men, for instance, are a few out of the great band of associated Lives who have chosen to come into incarnation in this kalpa for purposes of mutual help and mutual correction.

Chẳng hạn, bảy Đấng Thiên Nhân chỉ là một số ít trong đại đoàn các Sự Sống đã được kết hợp, những Đấng đã chọn đi vào lâm phàm trong kalpa này vì những mục đích trợ giúp lẫn nhau và điềuchỉnh lẫn nhau.

4. The Planetary Logoi Who comprise this solar system are of long association. This suggests that throughout our galaxy there are many Heavenly Men.

4. Các Hành Tinh Thượng Đế cấu thành hệ mặt trời này đã có sự kết hợp lâu dài. Điều này gợi ý rằng trong toàn thiên hà của chúng ta có nhiều Đấng Thiên Nhân.

5. It is interesting to read of their purpose for association: “mutual help and mutual correction”. They all have somewhat to learn from each other and each is helped by the other in his or her next step ahead.

5. Thật thú vị khi đọc về mục đích liên kết của họ: “giúp đỡ lẫn nhau và sửa chữa lẫn nhau”. Tất cả họ đều có đôi điều để học hỏi từ nhau và mỗi người đều được người kia giúp đỡ trong bước tiến kế tiếp của y.

6. When we think of those individuals with whom we are closely and inevitably associated, do we find the ways in which our mutual interaction is for “mutual help and mutual correction”?

6. Khi chúng ta nghĩ đến những cá nhân mà chúng ta gắn bó mật thiết và không thể tránh khỏi, liệu chúng ta có nhận ra những cách thức mà sự tương tác lẫn nhau của chúng ta là để “giúp đỡ lẫn nhau và sửa chữa lẫn nhau” hay không?

They are really destined to work together, but nevertheless on other cosmic planes have points of contact unknown to us.

Họ thực sự được định mệnh để cùng làm việc với nhau, nhưng tuy vậy trên các cõi vũ trụ khác lại có những điểm tiếp xúc mà chúng ta không biết.

7. DK seems to be speaking of the psychological interaction of the Heavenly Men on the cosmic astral and cosmic mental plane.

7. DK dường như đang nói về sự tương tác tâm lý của các Đấng Thiên Nhân trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ.

Under this attractive pull the informing existences of the various kingdoms of nature are engaged in mutual interaction,

Dưới sức hút hấp dẫn này, các sự sống phú linh của các giới khác nhau trong thiên nhiên tham gia vào sự tương tác lẫn nhau,

8. The same idea seems true of any members within one of Nature’s wholes—kingdoms, Hierarchies, and various other structural groupings.

8. Cùng một ý tưởng ấy dường như cũng đúng đối với bất kỳ thành viên nào bên trong một toàn thể của Thiên Nhiên—các giới, các Huyền Giai, và nhiều nhóm cấu trúc khác nhau.

and thus swing into lesser but similar activity all the lives of these various bodies of manifestation.

và do đó đưa tất cả các sự sống của những thể biểu hiện khác nhau này vào một hoạt động nhỏ hơn nhưng tương tự.

9. For instance, it seems that the informing life of the human kingdom and of the animal kingdom are long associated.

9. Thí dụ, dường như sự sống phú linh của giới nhân loại và của giới động vật đã liên kết lâu dài.

These lines of attraction are veiled in mystery, and all that it is possible to indicate is the karma of the Lord of the second or vegetable kingdom with the Lord of the fifth kingdom, and a close line of linking energy between the Lord of the mineral kingdom and the human.

Những đường hút này được che phủ trong huyền nhiệm, và tất cả những gì có thể chỉ ra là nghiệp quả của Chúa Tể của giới thứ hai hay giới thực vật với Chúa Tể của giới thứ năm, và một đường năng lượng liên kết chặt chẽ giữa Chúa Tể của giới kim thạch và giới nhân loại.

10. In the relation between the Lords of the second and fifth kingdoms, we can see the influence of Venus.

10. Trong mối liên hệ giữa các Chúa Tể của giới thứ hai và giới thứ năm, chúng ta có thể thấy ảnh hưởng của Sao Kim.

11. In the relation between the Lords of the mineral kingdom and the human, the role of Vulcan stands out. The structure we know as the “stone” is prominent in each—in the first, literally, and in the second, metaphysically.

11. Trong mối liên hệ giữa các Chúa Tể của giới kim thạch và giới nhân loại, vai trò của Vulcan nổi bật lên. Cấu trúc mà chúng ta biết là “đá” nổi bật trong cả hai—ở trường hợp thứ nhất là theo nghĩa đen, và ở trường hợp thứ hai là theo nghĩa siêu hình.

These points are only for reference to our own planetary scheme.

Những điểm này chỉ nhằm tham chiếu đến hệ hành tinh riêng của chúng ta.

12. The kingdoms of nature as they express on other planetary schemes may be different, and differently related.

12. Các giới trong thiên nhiên khi biểu lộ trên những hệ hành tinh khác có thể khác đi, và có những tương quan khác đi.

The Lord of the Moon chain and the Lord of our present animal kingdom are "blood brothers"

Chúa Tể của Dãy Mặt Trăng và Chúa Tể của giới động vật hiện nay của chúng ta là "anh em máu mủ"

13. Presumably the Lord of a Chain is of much higher status than the Lord of a Kingdom.

13. Có lẽ Chúa Tể của một Dãy có địa vị cao hơn rất nhiều so với Chúa Tể của một Giới.

14. One wonders about the present ‘location’ and activities of the Lord of the Moon chain. We know that the animal kingdom certainly exists. And notice the word, “are”, is in the present tense, telling us that the Lord of the Moon-chain is still very much with us. Has He been absorbed in some way into the Earth-chain? Is our Earth-chain supervised by two such Lords?

14. Người ta tự hỏi về ‘vị trí’ và các hoạt động hiện nay của Chúa Tể của Dãy Mặt Trăng. Chúng ta biết rằng giới động vật chắc chắn đang tồn tại. Và hãy lưu ý từ “are” ở thì hiện tại, cho chúng ta biết rằng Chúa Tể của Dãy Mặt Trăng vẫn còn hiện diện rất nhiều với chúng ta. Phải chăng Ngài đã được hấp thu theo một cách nào đó vào Dãy Địa Cầu? Phải chăng Dãy Địa Cầu của chúng ta được giám sát bởi hai Chúa Tể như thế?

15. There is a mystery of “blood” in their relationship. Mars is one of the planets which rules the blood and there is a close connection between the Moon and Mars through the lunar lords.

15. Có một huyền nhiệm về “máu” trong mối liên hệ của họ. Sao Hỏa là một trong những hành tinh cai quản máu, và có một liên hệ chặt chẽ giữa Mặt Trăng và Sao Hỏa thông qua các nguyệt tinh quân.

and in their relationship and the esoteric interference of the "Man of Men" (the human family personified) is hidden the mystery of present animal karma and the slaughter of animal forms, the terror of wild beasts and the work of vivisectionists.

và trong mối liên hệ của họ cùng với sự can thiệp huyền bí của "Con Người của những con người" (gia đình nhân loại được nhân cách hóa) ẩn giấu huyền nhiệm của nghiệp quả động vật hiện nay và sự tàn sát các hình tướng động vật, nỗi kinh hoàng của thú dữ và công việc của những kẻ mổ xẻ sinh thể.

16. We are being told of the origins of matters which are still deeply troubling upon our planet.

16. Chúng ta đang được cho biết về nguồn gốc của những vấn đề vẫn còn gây xáo trộn sâu sắc trên hành tinh chúng ta.

17. The human kingdom has somehow interfered esoterically with the relationship between the Lord of the Moon-chain and the Lord of the animal kingdom and this has led to the great sacrifice of the animal form. The animal forms of human beings (for they are animal forms) were constantly attacked by animals in olden days, we are told, and this has figured into the development of the kind of retributive karma, discussed above.

17. Giới nhân loại bằng cách nào đó đã can thiệp một cách huyền bí vào mối liên hệ giữa Chúa Tể của Dãy Mặt Trăng và Chúa Tể của giới động vật, và điều này đã dẫn đến sự hi sinh lớn lao của hình tướng động vật. Các hình tướng động vật của con người (vì chúng là những hình tướng động vật) đã liên tục bị động vật tấn công trong thời xưa, như chúng ta được cho biết, và điều này đã góp phần vào sự phát triển của loại nghiệp quả báo ứng đã được bàn đến ở trên.

18. The phrase “Man of Men” to personify the nature of the human kingdom is interesting and unusual. We are being led into the mystery of two kingdoms sharing forms which are similar in many ways.

18. Cụm từ “Con Người của những con người” để nhân cách hóa bản chất của giới nhân loại thật thú vị và khác thường. Chúng ta đang được dẫn vào huyền nhiệm của hai giới cùng chia sẻ những hình tướng tương tự nhau trên nhiều phương diện.

Under this Law,

Dưới Định luật này,

19. The Law of Association…

19. Định luật Liên Kết…

too, is found "the Path" upon which [Page 1186] men lift themselves out of the human state of consciousness into the divine, but on this there is no need to enlarge.

cũng tìm thấy "Con Đường" mà trên đó [Page 1186] con người nâng mình ra khỏi trạng thái tâm thức nhân loại để đi vào tâm thức thiêng liêng, nhưng về điều này không cần phải khai triển thêm.

20. It seems that when and as we fulfill karma with those with whom we have been long associated, we are led into an association with those who are already treading the Path. These individuals, too, are those with whom we have been long associated, but all along (given the normal progression) they have been ‘ahead of us’ in their degree of evolutionary unfoldment.

20. Dường như khi và trong chừng mực chúng ta hoàn tất nghiệp quả với những người mà chúng ta đã liên kết lâu dài, chúng ta được dẫn vào một sự liên kết với những người đã đang bước đi trên Con Đường. Những cá nhân này cũng là những người mà chúng ta đã liên kết lâu dài, nhưng suốt từ trước đến nay (nếu sự tiến triển diễn ra bình thường) họ đã ‘đi trước chúng ta’ về mức độ khai mở tiến hoá của họ.

2..

2..

21. This is another subsidiary law related to the Law of Attraction.

21. Đây là một định luật phụ khác có liên hệ với Định luật Hấp Dẫn.

The second effect is form building. Upon this we will not enlarge at any length, as all that it is at present possible to impart anent this subject has already been given in this Treatise, and other works of a similar nature.

Hiệu quả thứ hai là sự xây dựng hình tướng. Về điều này chúng ta sẽ không khai triển dài dòng, vì tất cả những gì hiện nay có thể truyền đạt liên quan đến chủ đề này đã được trình bày trong Luận này, và trong những tác phẩm khác có tính chất tương tự.

22. Much has been given in A Treatise on Cosmic Fire and later was given in A Treatise on White Magic. If we examine the Tibetan’s later writings, we shall see how pervasive this type of information is.

22. Nhiều điều đã được trình bày trong Luận về Lửa Vũ Trụ và về sau đã được trình bày trong Luận về Chánh Thuật. Nếu chúng ta khảo sát các trước tác về sau của Chân sư Tây Tạng, chúng ta sẽ thấy loại thông tin này thấm khắp đến mức nào.

It is the middle, or second aspect which is ever responsible for the construction of a form around a central nucleus.

Chính phương diện giữa, hay phương diện thứ hai, luôn luôn chịu trách nhiệm cho việc kiến tạo một hình tướng quanh một hạt nhân trung tâm.

23. The first aspect sustains all with power, but the second aspect builds.

23. Phương diện thứ nhất duy trì tất cả bằng quyền năng, nhưng phương diện thứ hai xây dựng.

Students would find it useful to study and meditate upon the appended tabulation of energy streams and their objectivising through mutual interplay.

Các đạo sinh sẽ thấy hữu ích nếu nghiên cứu và tham thiền về bảng liệt kê đính kèm các dòng năng lượng và sự khách quan hóa của chúng thông qua sự tương tác lẫn nhau.

24. This tabulation is on the next several pages.

24. Bảng liệt kê này nằm trong vài trang kế tiếp.

25. The principle to grasp is that energy-streams are objectivized through mutual interplay. We say an example of this in the way that chakras and other types of centers (such as the third eye) were objectivized by the interplay of three energy-streams.

25. Nguyên lý cần nắm bắt là các dòng năng lượng được khách quan hóa thông qua sự tương tác lẫn nhau. Chúng ta thấy một thí dụ về điều này trong cách các luân xa và những loại trung tâm khác (chẳng hạn như con mắt thứ ba) đã được khách quan hóa bởi sự tương tác của ba dòng năng lượng.

As time goes on, science will become aware of the basic nature and fundamental accuracy of the method whereby every form can be divided into its three aspects, and viewed as an Entity energised by three types of force, emanating from various points extraneous to the form under consideration.

Theo thời gian, khoa học sẽ nhận biết bản chất căn bản và tính chính xác nền tảng của phương pháp nhờ đó mọi hình tướng có thể được phân chia thành ba phương diện của nó, và được nhìn như một Thực Thể được tiếp năng lượng bởi ba loại mãnh lực, phát ra từ những điểm khác nhau ở bên ngoài hình tướng đang được xem xét.