Trích nội dung chương
26. We have just been studying this process in relation to our Solar Logos and solar system, energized by three sources extraneous to our solar system—the Great Bear, the Pleiades and Sirius. 26. Chúng ta vừa nghiên cứu tiến trình này trong liên hệ với Thái dương Thượng đế và hệ mặt trời của chúng ta, được tiếp năng lượng bởi ba nguồn ở bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta—Đại Hùng Tinh, Pleiades và Sirius.
26. We have just been studying this process in relation to our Solar Logos and solar system, energized by three sources extraneous to our solar system—the Great Bear, the Pleiades and Sirius.
26. Chúng ta vừa nghiên cứu tiến trình này trong liên hệ với Thái dương Thượng đế và hệ mặt trời của chúng ta, được tiếp năng lượng bởi ba nguồn ở bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta—Đại Hùng Tinh, Pleiades và Sirius.
27. The threefold nature of all form is naturally assumed by all of us (if we have studied the Tibetan with any degree of persistence) and yet it is not generally recognized by most human beings when they consider the nature of form.
27. Bản chất tam phân của mọi hình tướng dĩ nhiên được tất cả chúng ta thừa nhận (nếu chúng ta đã nghiên cứu Chân sư Tây Tạng với một mức độ kiên trì nào đó), tuy nhiên nó không được đa số con người nhìn nhận một cách phổ biến khi họ xem xét bản chất của hình tướng.
28. Man as a personality is mind, emotions and body and, likewise, three sources extraneous to the man himself have provided these three aspects of his lower nature. The same is true of man’s threefold physical body, etc.
28. Con người với tư cách một phàm ngã là trí tuệ, cảm xúc và thể xác; và tương tự như vậy, ba nguồn ở bên ngoài chính con người đã cung cấp ba phương diện này của bản chất thấp của y. Điều tương tự cũng đúng đối với thể xác tam phân của con người, v.v.
It can be considered also as expressing in some way or another, in its various parts, force or energy originating in the three forces of manifestation, Brahma, Vishnu and Shiva.
Nó cũng có thể được xem như biểu lộ theo cách này hay cách khác, trong các phần khác nhau của nó, mãnh lực hay năng lượng phát sinh từ ba mãnh lực biểu hiện là Brahma, Vishnu và Shiva.
29. This is the great Triplicity (in our solar system) lying behind the threefold division of each form.
29. Đây là Bộ Ba vĩ đại (trong hệ mặt trời của chúng ta) nằm phía sau sự phân chia tam phân của mỗi hình tướng.
30. As we ascend the “Ladder of Evolution” we shall find Entities Who represent Brahma, Vishnu and Shiva on various higher planes and within various higher dimensions.
30. Khi chúng ta đi lên “Thang Tiến Hóa”, chúng ta sẽ gặp những Thực Thể đại diện cho Brahma, Vishnu và Shiva trên nhiều cõi cao hơn khác nhau và trong nhiều chiều kích cao hơn khác nhau.
Where this is the case and the premise admitted, the entire outlook on life, on nature, medicine and science and on methods of construction or destruction will be changed.
Khi điều này là như thế và tiền đề ấy được chấp nhận, toàn bộ quan điểm về sự sống, về thiên nhiên, y học và khoa học, cũng như về các phương pháp kiến tạo hay hủy diệt sẽ thay đổi.
31. Such a simple realization will change so much about the way humanity lives its life.
31. Một chứng nghiệm đơn giản như thế sẽ làm thay đổi rất nhiều cách mà nhân loại sống cuộc đời của mình.
Things will be viewed as essential triplicities,
Sự vật sẽ được nhìn như những bộ ba cốt yếu,
32. This is shown in how Tabulation VII below is constructed.
32. Điều này được cho thấy qua cách Bảng Liệt Kê VII dưới đây được cấu tạo.
men will be regarded as a combination of energy units, and work with things and with men from the form aspect will be revolutionised.
con người sẽ được xem như một sự kết hợp của các đơn vị năng lượng, và công việc với sự vật và với con người từ phương diện hình tướng sẽ được cách mạng hóa.
33. A great simplification of perception is on its way and with it the possibility of bringing greater balance to human living. The triangle is the symbol of balance.
33. Một sự đơn giản hóa lớn lao trong nhận thức đang đến gần, và cùng với nó là khả năng đem lại sự quân bình lớn hơn cho đời sống con người. Tam giác là biểu tượng của sự quân bình.
34. Five great orders of life are described in the tabulation below. These are the types of lives with which we have been dealing throughout this book.
34. Năm đại đẳng cấp sự sống được mô tả trong bảng liệt kê dưới đây. Đây là những loại sự sống mà chúng ta đã bàn đến trong suốt quyển sách này.
It has been necessary to somewhat alter the spacing of Tabulation VII so that comment may be interleaved.
Cần phải điều chỉnh đôi chút khoảng cách của Bảng Liệt Kê VII để có thể xen vào phần bình luận.
35. I would recommend that you study what is said below with the original form of Tabulation VII before your eyes so that the comparisons discussed can be easily seen.
35. Tôi muốn khuyên các bạn hãy nghiên cứu điều được nói dưới đây trong khi đặt trước mắt hình thức nguyên thủy của Bảng Liệt Kê VII để những sự so sánh được bàn đến có thể dễ dàng được nhận ra.
[Page 1187]
[Page 1187]
TABULATION VII [Reconstituted by VSK]
BẢNG LIỆT KÊ VII [Được VSK tái lập]
36. We notice that the first three categories correspond to the first three aspects of divinity in the following order: first, third, second.
36. Chúng ta nhận thấy rằng ba loại đầu tiên tương ứng với ba phương diện đầu tiên của thiên tính theo thứ tự sau: thứ nhất, thứ ba, thứ hai.
37. We notice also that the “Type of Energy” is discriminated from the “Nature of Fire”, though energy and fire are in many ways equivalent.
37. Chúng ta cũng nhận thấy rằng “Loại Năng Lượng” được phân biệt với “Bản Chất của Lửa”, mặc dù năng lượng và lửa trên nhiều phương diện là tương đương.
SOLAR LOGOS
THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ
38. For the purposes of this tabulation the Solar Logos is the macrocosm.
38. Vì mục đích của bảng liệt kê này, Thái dương Thượng đế là đại thiên địa.
39. The next greater Macrocosm about which Master DK says anything extensive is the "One About Whom Naught May Be Said".
39. Đại thiên địa lớn hơn kế tiếp mà Chân sư DK có nói điều gì đó khá rộng là "Đấng Bất Khả Tư Nghị".
40. Like man, the Solar Logos has a causal body. There is something strange about this first listing and it is repeated for the lesser beings: the causal body is listed twice and appears in the row in which the first aspect of divinity is described.
40. Giống như con người, Thái dương Thượng đế có một thể nguyên nhân. Có điều gì đó lạ trong mục liệt kê đầu tiên này và nó được lặp lại đối với các hữu thể nhỏ hơn: thể nguyên nhân được liệt kê hai lần và xuất hiện trong hàng mô tả phương diện thứ nhất của thiên tính.
41. One can wonder why the ‘Monadic Body’ or ‘Monadic Vehicle’ is not offered, with its "Jewel". This corresponds well to the presence of the Central Spiritual Sun.
41. Người ta có thể tự hỏi vì sao ‘Thể Chân Thần’ hay ‘Vận cụ Chân Thần’ không được nêu ra, cùng với "Ngọc". Điều này tương ứng rất tốt với sự hiện diện của Mặt trời Tinh thần Trung Ương.
42. Yet just as man cannot yet access his Monad and can somewhat access his causal body so it may be for the Solar Logos at His present stage of development. Thus, it is the first aspect of the causal body which is used to represent the first aspect of divinity. The "Jewel in the Lotus" is the reflection of the Monad and its source is the Central Spiritual Sun, which is the monadic nature of the Solar Logos.
42. Tuy nhiên, cũng như con người chưa thể tiếp cận chân thần của mình mà chỉ có thể phần nào tiếp cận thể nguyên nhân của mình, thì đối với Thái dương Thượng đế ở giai đoạn phát triển hiện nay của Ngài cũng có thể như vậy. Vì thế, chính phương diện thứ nhất của thể nguyên nhân được dùng để biểu thị phương diện thứ nhất của thiên tính. "Ngọc trong Hoa Sen" là sự phản chiếu của chân thần và nguồn của nó là Mặt trời Tinh thần Trung Ương, vốn là bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế.
43. In this second ray solar system this representation will have to do. In the next solar system, the solar logoic Monad and the "Jewel", which we may presume to be found within it, would probably be listed.
43. Trong hệ mặt trời cung hai này, cách biểu thị ấy sẽ phải tạm dùng như vậy. Trong hệ mặt trời kế tiếp, chân thần logoi thái dương và "Ngọc", mà chúng ta có thể giả định là được tìm thấy bên trong nó, có lẽ sẽ được liệt kê.
44. For now, the main source of the first aspect for the Solar Logos, our Planetary Logos and man is the first aspect of divinity as it manifests through the causal body of all these B/beings.
44. Hiện nay, nguồn chính của phương diện thứ nhất đối với Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và con người là phương diện thứ nhất của thiên tính khi nó biểu lộ qua thể nguyên nhân của tất cả các H/hữu thể này.
45. Here the emphasis is upon the second aspect of the Solar Logos. The causal body is the expected source of this type of energy.
45. Ở đây trọng tâm đặt vào phương diện thứ hai của Thái dương Thượng đế. Thể nguyên nhân là nguồn được chờ đợi của loại năng lượng này.
46. Probably the “Lotus” discussed is the egoic lotus of the Solar Logos. Elsewhere, we are told that this lotus consists of seven tiers of petals and a triple flame. It number is thus, ten. If there are three petals in each of the seven circles the number to be associated with the lotus is twenty-four. Yet here we read that it is a “two-petalled” lotus. The lotus usually considered as two petalled is the ajna lotus—at least this is the case for man. So what can these two petals indicate, especially if they are to be associated with the solar logoic egoic lotus?
46. Có lẽ “Hoa Sen” được bàn đến là Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế. Ở nơi khác, chúng ta được cho biết rằng hoa sen này gồm bảy tầng cánh và một ngọn lửa tam phân. Do đó số của nó là, mười. Nếu có ba cánh trong mỗi một trong bảy vòng thì con số gắn với hoa sen sẽ là hai mươi bốn. Tuy nhiên ở đây chúng ta đọc thấy rằng đó là một hoa sen “hai cánh”. Hoa sen thường được xem là hai cánh là hoa sen ajna—ít nhất đối với con người là như vậy. Vậy hai cánh này có thể chỉ điều gì, nhất là nếu chúng được gắn với Hoa Sen Chân Ngã logoi thái dương?
47. We have something of a mystery here. The only ‘twoness’ in the way the egoic lotus of the Solar Logos is usually described is the relationship between the seven tiers of petals (taken as a whole) and the triple flame—and the flame cannot be counted as petals.
47. Ở đây chúng ta có phần nào một huyền nhiệm. Tính ‘hai’ duy nhất trong cách Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế thường được mô tả là mối liên hệ giữa bảy tầng cánh (được lấy như một toàn thể) và ngọn lửa tam phân—và ngọn lửa không thể được tính là cánh.
48. The Heart of the Sun is predictably aspect of the solar logoic nature which works through is causal body. There are a number of thoughts concerning the nature of the Heart of the Sun, but it should rightly be associated with the soul-demonstration of the Solar Logos on the higher three cosmic subplanes (to be specific, the first subplane) of the cosmic mental plane.
48. Trái Tim của Mặt Trời có thể dự đoán được là phương diện của bản chất logoi thái dương hoạt động qua thể nguyên nhân của Ngài. Có một số tư tưởng liên quan đến bản chất của Trái Tim của Mặt Trời, nhưng nó đúng ra phải được gắn với sự biểu lộ linh hồn của Thái dương Thượng đế trên ba cõi phụ vũ trụ cao hơn (nói chính xác là cõi phụ thứ nhất) của cõi trí vũ trụ.
49. Since the energy is “Cosmic Love” we notice a relation to cosmic buddhi, and thus to the Pleiades and the Dragon as sources of cosmic buddhi.
49. Vì năng lượng là “Bác Ái Vũ Trụ”, chúng ta nhận thấy một mối liên hệ với Bồ đề vũ trụ, và do đó với Pleiades và Con Rồng như những nguồn của Bồ đề vũ trụ.
50. A very high form of solar fire expresses through the solar logoic causal lotus. Since this fire brings harmony and equilibrium, it too must be associated with the buddhic energy—the cosmic buddhic energy.
50. Một hình thức rất cao của Lửa Thái dương biểu lộ qua hoa sen nguyên nhân logoi thái dương. Vì lửa này mang lại hòa điệu và quân bình, nên nó cũng phải được gắn với năng lượng Bồ đề—năng lượng Bồ đề vũ trụ.
51. The words “Physical Plane Nucleus” are usual and vague. Perhaps DK is speaking of the entirety of the Sun as it manifests on the cosmic physical plane, a plane which has two aspects—the dense physical body of the Solar Logos and the four cosmic etheric planes.
51. Những từ “Hạt Nhân Cõi Hồng Trần” vừa quen thuộc vừa mơ hồ. Có lẽ DK đang nói về toàn thể Mặt Trời khi nó biểu lộ trên cõi hồng trần vũ trụ, một cõi có hai phương diện—thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và bốn cõi dĩ thái vũ trụ.
52. The permanent atom here mentioned is likely to be the solar logoic physical permanent atom, which has been related to the planet Saturn.
52. Nguyên tử trường tồn được nhắc đến ở đây có lẽ là nguyên tử trường tồn hồng trần của logoi thái dương, vốn đã được liên hệ với hành tinh Sao Thổ.
53. We are dealing with solar energies related to the third aspect of divinity. The “Physical Sun” is the medium of transmission for these energies.
53. Chúng ta đang bàn đến các năng lượng thái dương liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính. “Mặt Trời Hồng Trần” là môi giới truyền dẫn cho các năng lượng này.
54. Thus far we have had Cosmic Will, Cosmic Love and now Cosmic Activity. Notice how when we speak of the Solar Logos the adjective “cosmic” is used. The Solar Logos is considered not a systemic Being but a cosmic Being.
54. Cho đến nay chúng ta đã có Ý Chí Vũ Trụ, Bác Ái Vũ Trụ và giờ đây là Hoạt Động Vũ Trụ. Hãy lưu ý rằng khi chúng ta nói về Thái dương Thượng đế thì tính từ “vũ trụ” được dùng. Thái dương Thượng đế không được xem là một Hữu thể hệ thống mà là một Hữu thể vũ trụ.
55. What are the sources of these great Energies. It would be right to say that Cosmic Will, Cosmic Love and Cosmic Activity are sourced from the cosmic planes—the cosmic atmic plane, the cosmic buddhic plane and the cosmic mental plane, respectively.
55. Những Năng Lượng Vĩ Đại này có những nguồn nào? Sẽ đúng khi nói rằng Ý Chí Vũ Trụ, Bác Ái Vũ Trụ và Hoạt Động Vũ Trụ được phát xuất từ các cõi vũ trụ—lần lượt là cõi atma vũ trụ, cõi Bồ đề vũ trụ và cõi trí vũ trụ.
56. Although the systemic atmic plane is closely related to Universal Mind, this plane is certainly not its source, but only its expression on the cosmic physical plane.
56. Mặc dù cõi atma hệ thống có liên hệ chặt chẽ với Vũ Trụ Trí, cõi này chắc chắn không phải là nguồn của nó, mà chỉ là sự biểu lộ của nó trên cõi hồng trần vũ trụ.
57. We see the close relationship between “Mind” and “Activity”. Mind is that factor which arranges and re-arranges all in keeping with the perceived archetype.
57. Chúng ta thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa “Trí” và “Hoạt Động”. Trí là yếu tố sắp xếp và tái sắp xếp mọi sự phù hợp với nguyên mẫu được nhận biết.
58. Fire by friction is negative fire, just as solar fire was equilibrizing fire producing equilibrium.
58. Lửa ma sát là lửa âm, cũng như Lửa Thái dương là lửa quân bình hóa tạo ra sự quân bình.
59. For the Solar Logos, and cosmically considered, fire by friction is found on the lower eighteen cosmic subplanes.
59. Đối với Thái dương Thượng đế, và xét theo vũ trụ, lửa ma sát được tìm thấy trên mười tám cõi phụ vũ trụ thấp hơn.
60. For the Solar Logos, the lowest form of fire by friction is found on the cosmic physical plane and especially on the three lowest subplanes of the cosmic physical plane.
60. Đối với Thái dương Thượng đế, hình thức thấp nhất của lửa ma sát được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ và đặc biệt trên ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ.
61. We have the same situation for the Planetary Logos as we had for the Solar Logos. The first aspect is expressed through the causal body—the planetary causal body in this case, found on the third subplane of the cosmic mental plane and not, as in the case for the Solar Logos, upon the first subplane.
61. Chúng ta có cùng một tình huống đối với Hành Tinh Thượng Đế như đã có đối với Thái dương Thượng đế. Phương diện thứ nhất được biểu lộ qua thể nguyên nhân—thể nguyên nhân hành tinh trong trường hợp này, được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ chứ không phải, như trong trường hợp của Thái dương Thượng đế, trên cõi phụ thứ nhất.
62. Again, as for the Solar Logos, the “Focal Point” is the "Jewel" and the “Medium” is not the Central Spiritual Sun but the “Heavenly Man (On his own plane)”. In this case the term “Heavenly Man” is equivalent to “Planetary Logos”, and we may suspect that the monadic nature of the Heavenly Man or Planetary Logos is indicated.
62. Một lần nữa, cũng như đối với Thái dương Thượng đế, “Điểm Hội Tụ” là "Ngọc" và “Môi Giới” không phải là Mặt trời Tinh thần Trung Ương mà là “Đấng Thiên Nhân (Trên cõi riêng của Ngài)”. Trong trường hợp này, thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” tương đương với “Hành Tinh Thượng Đế”, và chúng ta có thể ngờ rằng bản chất chân thần của Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng Đế được chỉ ra.
63. If for the Solar Logos the macrocosmic Central Spiritual Sun is found on the cosmic monadic plane, there is no reason why this should not be the case for the Planetary Logos as well. Their causal bodies are found on the same cosmic plane (though not the same cosmic subplane) and we may expect that the monadic nature will also be found on the same cosmic plane (the cosmic monadic plane) though probably not on the same subplane of that cosmic plane.
63. Nếu đối với Thái dương Thượng đế, Mặt trời Tinh thần Trung Ương đại thiên địa được tìm thấy trên cõi chân thần vũ trụ, thì không có lý do gì điều này lại không đúng đối với Hành Tinh Thượng Đế. Các thể nguyên nhân của các Ngài được tìm thấy trên cùng một cõi vũ trụ (dù không cùng một cõi phụ vũ trụ) và chúng ta có thể chờ đợi rằng bản chất chân thần cũng sẽ được tìm thấy trên cùng cõi vũ trụ ấy (cõi chân thần vũ trụ), dù có lẽ không trên cùng cõi phụ của cõi vũ trụ đó.
64. The nature of planetary logoic Will is similar to solar logoic Will, but of lesser scope, being systemic rather than cosmic.
64. Bản chất của Ý Chí logoi hành tinh tương tự với Ý Chí logoi thái dương, nhưng có phạm vi nhỏ hơn, mang tính hệ thống chứ không phải vũ trụ.
65. The type of fire is the same: “Electric Fire Positive”.
65. Loại lửa là như nhau: “Lửa Điện Dương”.
66. As we study this tabulation, constructed very much under the Law of Analogy, we should notice the slight differences in wording. These can reveal blinds.
66. Khi nghiên cứu bảng liệt kê này, được xây dựng rất nhiều dưới định luật tương đồng, chúng ta nên lưu ý những khác biệt nhỏ trong cách dùng từ. Chúng có thể tiết lộ những bức màn che.
67. As in the case of the Solar Logos, the source of the second aspect is again the causal body—this time of the Planetary Logos. —
67. Cũng như trong trường hợp của Thái dương Thượng đế, nguồn của phương diện thứ hai lại một lần nữa là thể nguyên nhân—lần này là của Hành Tinh Thượng Đế. —
68. Again the “Focal Point” is the “Lotus” but there is no designation of it being “two-petalled”. We learned of the tenfold structure of the egoic lotus of the Solar Logos, but not much about the structure of the Planetary Logos’s causal body.
68. Một lần nữa “Điểm Hội Tụ” là “Hoa Sen” nhưng không có chỉ định rằng nó là “hai cánh”. Chúng ta đã biết về cấu trúc thập phân của Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế, nhưng không biết nhiều về cấu trúc của thể nguyên nhân của Hành Tinh Thượng Đế.
69. The following may be indicative though not conclusive:
69. Điều sau đây có thể mang tính chỉ dấu dù không có tính kết luận:
We have, therefore, a direct stream of energy flowing through:
Vì vậy, chúng ta có một dòng năng lượng trực tiếp chảy qua:
a. The logoic twelve-petalled egoic lotus, cosmic mental plane.
a. Hoa Sen Chân Ngã mười hai cánh của logoi, cõi trí vũ trụ.
b. The solar twelve-petalled lotus.
b. Hoa sen mười hai cánh thái dương.
c. The planetary logoic heart, also a twelve-petalled lotus.
c. tim logoi hành tinh, cũng là một hoa sen mười hai cánh.
d. The twelve-petalled human egoic lotus on the mental plane.
d. Hoa Sen Chân Ngã mười hai cánh của con người trên cõi trí.
e. The twelve-petalled heart centre in a human being. (EA 47)
e. trung tâm tim mười hai cánh trong một con người. (EA 47)
70. It is interesting that in this reference the egoic lotus of the Solar Logos is referred to as twelve-petalled. In the other significant reference regarding this lotus it is said to have seven tiers. Perhaps it is an assumption that each tier has three petals. Perhaps this is not the case—we don’t know. Perhaps it is possible that the number of petals of the solar egoic lotus actually is twelve but how would they be arranged? We do have a seeming contradiction here and will have to reconcile it.
70. Thật thú vị là trong đoạn tham chiếu này, Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế được gọi là mười hai cánh. Trong đoạn tham chiếu quan trọng khác liên quan đến hoa sen này, nó được nói là có bảy tầng. Có lẽ người ta giả định rằng mỗi tầng có ba cánh. Có lẽ không phải như vậy—chúng ta không biết. Có lẽ số cánh của hoa sen chân ngã thái dương thực sự là mười hai nhưng chúng sẽ được sắp xếp như thế nào? Ở đây rõ ràng chúng ta có một mâu thuẫn bề ngoài và sẽ phải dung hòa nó.
71. The “Medium” in this case is interesting: “Egoic Groups”. This term is the equivalent of “Heart of the Sun” for the Solar Logos and “Solar Angel” for man (below). For man, the Solar Angel contributes to the energy of the microcosmic “Heart of the Sun”. One would think that there must be a planetary logoic Solar Angel, just as there is a solar logoic Solar Angel and a Solar Angel for the individual human being. Somehow the various “Egoic Groups” must be the constituents of the planetary logoic Solar Angel or “Heart of the Sun”.
71. “Môi Giới” trong trường hợp này thật thú vị: “Các Nhóm Chân Ngã”. Thuật ngữ này tương đương với “Trái Tim của Mặt Trời” đối với Thái dương Thượng đế và “Thái dương Thiên Thần” đối với con người (ở dưới). Đối với con người, Thái dương Thiên Thần đóng góp vào năng lượng của “Trái Tim của Mặt Trời” vi mô. Người ta sẽ nghĩ rằng hẳn phải có một Thái dương Thiên Thần logoi hành tinh, cũng như có một Thái dương Thiên Thần logoi thái dương và một Thái dương Thiên Thần cho từng con người cá biệt. Bằng cách nào đó, các “Nhóm Chân Ngã” khác nhau hẳn phải là các thành phần cấu tạo nên Thái dương Thiên Thần logoi hành tinh hay “Trái Tim của Mặt Trời”.
72. Now, where will these “Egoic Groups” be found? Shall we look for them only on the mental plane of the cosmic physical plane? To do so would not follow the analogy, for the “Heart of the Sun” for the Solar Logos is found (as usually considered) upon the cosmic mental plane, and the Solar Angel for the human being works upon the higher mental plane. It would seem that the “Egoic Groups” should have some relation to the cosmic mental plane (albeit on a lower subplane than the “Heart of the Sun” of the Solar Logos). I do not think we can solve this at this time.
72. Giờ đây, những “Nhóm Chân Ngã” này sẽ được tìm thấy ở đâu? Chúng ta có nên chỉ tìm chúng trên cõi trí của cõi hồng trần vũ trụ không? Làm như vậy sẽ không theo định luật tương đồng, vì “Trái Tim của Mặt Trời” đối với Thái dương Thượng đế được tìm thấy (theo cách thường được hiểu) trên cõi trí vũ trụ, và Thái dương Thiên Thần đối với con người hoạt động trên cõi thượng trí. Dường như các “Nhóm Chân Ngã” phải có một liên hệ nào đó với cõi trí vũ trụ (dù ở một cõi phụ thấp hơn “Trái Tim của Mặt Trời” của Thái dương Thượng đế). Tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể giải quyết điều này vào lúc này.
73. If we confined our search for “Egoic Groups” to the cosmic physical plane, in Letters on Occult Meditation that there are various groups which could be called “Egoic Groups” found on planes higher than the systemic higher mental plane:
73. Nếu chúng ta giới hạn việc tìm kiếm “Các Nhóm Chân Ngã” của mình vào cõi hồng trần vũ trụ, thì trong Letters on Occult Meditation có nói rằng có nhiều nhóm khác nhau có thể được gọi là “Các Nhóm Chân Ngã” được tìm thấy trên những cõi cao hơn cõi thượng trí hệ thống:
( 1st subplane 35 groups, 7 x 5
( cõi phụ thứ 1 35 nhóm, 7 x 5
Mental plane ( 2nd subplane 42 groups, 7 x 6
Cõi trí ( cõi phụ thứ 2 42 nhóm, 7 x 6
( 3rd subplane 49 groups, 7 x 7
( cõi phụ thứ 3 49 nhóm, 7 x 7
( 3rd subplane 28 groups, 7 x 4
( cõi phụ thứ 3 28 nhóm, 7 x 4
Buddhic plane ( 1st subplane 21 groups, 7 x 3
Cõi Bồ đề ( cõi phụ thứ 1 21 nhóm, 7 x 3
Atmic plane Atomic subplane 14 groups, 7 x 2
Cõi atma cõi phụ nguyên tử 14 nhóm, 7 x 2
Monadic plane 7 great groups (LOM 38-39)
Cõi chân thần 7 đại nhóm (LOM 38-39)
74. It would seem reasonable that when looking for the ‘heart function’ for the Planetary Logos (on the cosmic physical plane) these groups should not be overlooked.
74. Có vẻ hợp lý rằng khi tìm kiếm ‘chức năng tim’ của Hành Tinh Thượng Đế (trên cõi hồng trần vũ trụ), không nên bỏ qua những nhóm này.
75. The type of energy for the Planetary Logos in relation to the second aspect of divinity is “Systemic Love”. And, just as we would expect, the type of fire is again solar fire, but this time the words “Harmony” and “Balance” are used as descriptors and not “Harmony” and “Equilibrium”. There is not much difference. The term “Equilibrium” seems richer and more demanding that the term “Balance” but maybe there is little indicated by these two related words.
75. Loại năng lượng của Hành Tinh Thượng Đế liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính là “Bác Ái Hệ Thống”. Và đúng như chúng ta mong đợi, loại lửa lại là Lửa Thái dương, nhưng lần này các từ “Hòa Điệu” và “Quân Bình” được dùng như những từ mô tả chứ không phải “Hòa Điệu” và “Cân Bằng”. Không có nhiều khác biệt. Thuật ngữ “Cân Bằng” dường như phong phú hơn và đòi hỏi hơn thuật ngữ “Quân Bình”, nhưng có lẽ hai từ liên hệ này không chỉ ra nhiều lắm.
76. Again, as in the case of the Solar Logos we have the same ambiguous term for the “Source”, “Physical Plane Nucleus”. One would think that this nucleus would be the physical permanent atom, but apparently it is not.
76. Một lần nữa, cũng như trong trường hợp của Thái dương Thượng đế, chúng ta có cùng một thuật ngữ mơ hồ cho “Nguồn”, “Hạt Nhân Cõi Hồng Trần”. Người ta sẽ nghĩ rằng hạt nhân này là nguyên tử trường tồn hồng trần, nhưng dường như không phải vậy.
77. One angle of vision might point to the mental unit (on cosmic planes) and its connection to the collection of mental units found on the systemic lower mental plane). The Solar Logos does seem to have a mental unit according to the following: “…the force flowing through the mental unit of the Logos.” (TCF 623) We will not go far in understanding this type of “mental unit” for the following reasons: “What we understand by the fifth principle is but the expression on the causal plane of that force or energy which emanates from the logoic causal body on the fifth cosmic plane, via the logoic correspondence to the mental unit. (These correspondences involve a concept far in advance of what is possible even to an initiate at this time).” (TCF 691)
77. Một góc nhìn có thể hướng đến đơn vị hạ trí (trên các cõi vũ trụ) và mối liên hệ của nó với tập hợp các đơn vị hạ trí được tìm thấy trên cõi hạ trí hệ thống). Thái dương Thượng đế dường như có một đơn vị hạ trí theo đoạn sau: “…mãnh lực chảy qua đơn vị hạ trí của Thượng đế.” (TCF 623) Chúng ta sẽ không tiến xa trong việc hiểu loại “đơn vị hạ trí” này vì những lý do sau: “Điều chúng ta hiểu là nguyên khí thứ năm chỉ là sự biểu lộ trên cõi nguyên nhân của mãnh lực hay năng lượng phát ra từ thể nguyên nhân logoi trên cõi vũ trụ thứ năm, thông qua sự tương ứng logoi với đơn vị hạ trí. (Những sự tương ứng này bao hàm một khái niệm vượt rất xa điều hiện nay có thể có ngay cả đối với một điểm đạo đồ).” (TCF 691)
78. Since for these great Beings the physical plane relates to either all of the twenty-one systemic subplanes (in the case of the Solar Logos), or to the eighteen lower subplanes (in the case of the Planetary Logos), the physical plane nucleus could be found on the mental plane as a collection of lesser mental units connected with the Logos’ mental unit. Through such a concentration of energy, the dense physical plane expression of the Logos could be organized. This is merely a speculation attempting to deal with the vague term “Physical Plane Nucleus”.
78. Vì đối với những Hữu thể vĩ đại này, cõi hồng trần liên hệ hoặc với toàn bộ hai mươi mốt cõi phụ hệ thống (trong trường hợp của Thái dương Thượng đế), hoặc với mười tám cõi phụ thấp hơn (trong trường hợp của Hành Tinh Thượng Đế), nên hạt nhân cõi hồng trần có thể được tìm thấy trên cõi trí như một tập hợp các đơn vị hạ trí nhỏ hơn nối kết với đơn vị hạ trí của Thượng đế. Thông qua một sự tập trung năng lượng như thế, biểu hiện cõi hồng trần đậm đặc của Thượng đế có thể được tổ chức. Đây chỉ là một suy đoán nhằm đề cập đến thuật ngữ mơ hồ “Hạt Nhân Cõi Hồng Trần”.
79. The focal point should be the physical permanent atom of the Planetary Logos. While we are told that Saturn is a correspondence to the physical permanent atom for the Solar Logos, we are not given any recognizable center which corresponds to the physical permanent atom of the Planetary Logos. If to the Solar Logos, planetary schemes are as chakra-chains, could the correspondence to the physical permanent atom of the Planetary Logos be one of its chains? This may seem a little far-fetched.
79. Điểm hội tụ hẳn phải là nguyên tử trường tồn hồng trần của Hành Tinh Thượng Đế. Trong khi chúng ta được cho biết rằng Sao Thổ là một sự tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Thái dương Thượng đế, chúng ta không được cho biết bất kỳ trung tâm khả nhận nào tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Hành Tinh Thượng Đế. Nếu đối với Thái dương Thượng đế, các hệ hành tinh giống như các dãy-luân xa, thì sự tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Hành Tinh Thượng Đế có thể là một trong các Dãy của Ngài chăng? Điều này có thể có vẻ hơi gượng ép.
80. Whereas for the Solar Logos the physical permanent atom is found on the logoic plane (probably on the first subplane), would the physical permanent atom for the Planetary Logos also be found on the logoic plane, though on a lower subplane?
80. Trong khi đối với Thái dương Thượng đế, nguyên tử trường tồn hồng trần được tìm thấy trên cõi logoi (có lẽ trên cõi phụ thứ nhất), thì nguyên tử trường tồn hồng trần của Hành Tinh Thượng Đế cũng sẽ được tìm thấy trên cõi logoi, dù ở một cõi phụ thấp hơn chăng?
81. The terms “Systemic Activity” and “Fire by Friction Negative” have an exact correspondence to the terms used to describe the energy and type of fire of the Solar Logos.
81. Các thuật ngữ “Hoạt Động Hệ Thống” và “Lửa ma sát Âm” có sự tương ứng chính xác với các thuật ngữ được dùng để mô tả năng lượng và loại lửa của Thái dương Thượng đế.
82. If “Universal Mind” is associated with “Cosmic Activity” of the Solar Logos, what kind of activity should be associated with the Planetary Logos? Perhaps a lower stratum of the Universal Mind? The Planetary Logos and the Solar Logos are, after all, “Brothers”. Perhaps we still should look towards the higher mental plane for the stratum of Universal Mind related to the Planetary Logos. At the same time, the atmic plane (an expression of Universal Mind) should be indicated.
82. Nếu “Vũ Trụ Trí” được gắn với “Hoạt Động Vũ Trụ” của Thái dương Thượng đế, thì loại hoạt động nào nên được gắn với Hành Tinh Thượng Đế? Có lẽ là một tầng lớp thấp hơn của Vũ Trụ Trí? Rốt cuộc, Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế là “Huynh Đệ”. Có lẽ chúng ta vẫn nên hướng về cõi thượng trí để tìm tầng lớp của Vũ Trụ Trí liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế. Đồng thời, cõi atma (một biểu lộ của Vũ Trụ Trí) cũng nên được chỉ ra.
—
83. We now enter more familiar territory with a consideration of man.
83. Giờ đây chúng ta bước vào lãnh vực quen thuộc hơn với việc xem xét con người.
84. The “Source” is the “Human Causal Body”. Again the "Jewel" is found as the “Focal Point”. The “Medium” is the “Monad Spirit” (in this case, equivalent terms). The use of this term for man points to the justifiability of thinking that the “Heavenly Man (On his own plane)” refers to the monadic nature of the Planetary Logos. This is interesting because it has sometimes been stated that the term “Heavenly Man” refers only to the egoic nature of the Planetary Logos where as the term, “Planetary Logos” refers to the monadic nature of that great Entity. We would see, however, that this distinction should be considered false. It appears that “Heavenly Man” refers to the entirety of that great Entity we, in different terms, call the “Planetary Logos”.
84. “Nguồn” là “Thể Nguyên Nhân của Con Người”. Một lần nữa "Ngọc" được tìm thấy như “Điểm Hội Tụ”. “Môi Giới” là “Tinh Thần Chân Thần” (trong trường hợp này là những thuật ngữ tương đương). Việc dùng thuật ngữ này cho con người chỉ ra tính chính đáng của việc nghĩ rằng “Đấng Thiên Nhân (Trên cõi riêng của Ngài)” ám chỉ bản chất chân thần của Hành Tinh Thượng Đế. Điều này thật thú vị vì đôi khi đã có lời nói rằng thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” chỉ ám chỉ bản chất chân ngã của Hành Tinh Thượng Đế, trong khi thuật ngữ “Hành Tinh Thượng Đế” ám chỉ bản chất chân thần của Thực Thể vĩ đại ấy. Tuy nhiên, chúng ta sẽ thấy rằng sự phân biệt này nên được xem là sai. Dường như “Đấng Thiên Nhân” ám chỉ toàn thể Thực Thể vĩ đại mà chúng ta, bằng những thuật ngữ khác nhau, gọi là “Hành Tinh Thượng Đế”.
85. Atma-Buddhi is the correspondence to Cosmic Will and Systemic Will. What is unusual here is that buddhic is included in the type of energy which corresponds to will when the usual correspondence of buddhi is with love. We see that in the correspondences we are studying there is not always an exact equivalences—at least seemingly so. We learn then, that as far as man is concerned, buddhi is considered a directing force, akin to will.
85. Atma-Buddhi là sự tương ứng với Ý Chí Vũ Trụ và Ý Chí Hệ Thống. Điều bất thường ở đây là Bồ đề được bao gồm trong loại năng lượng tương ứng với ý chí trong khi sự tương ứng thông thường của Bồ đề là với bác ái. Do đó chúng ta thấy rằng trong những sự tương ứng mà chúng ta đang nghiên cứu, không phải lúc nào cũng có những tương đương chính xác—ít nhất là có vẻ như vậy. Khi ấy chúng ta học được rằng, xét theo con người, Bồ đề được xem là một mãnh lực chỉ đạo, gần với ý chí.
86. When we compare Cosmic Will and Systemic Will to the Atma-Buddhi of man, we might come to the conclusion that Cosmic Will and Systemic Will are monadic in origin (as cosmic atma and buddhi and systemic atma and buddhi are not mentioned), but that the will which man must apply is not purely monadic in origin, but originates from the atmic-buddhic expression of the human Monad.
86. Khi chúng ta so sánh Ý Chí Vũ Trụ và Ý Chí Hệ Thống với Atma-Buddhi của con người, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng Ý Chí Vũ Trụ và Ý Chí Hệ Thống có nguồn gốc chân thần (vì atma và Bồ đề vũ trụ cùng atma và Bồ đề hệ thống không được nhắc đến), nhưng ý chí mà con người phải vận dụng không hoàn toàn có nguồn gốc chân thần, mà phát sinh từ biểu lộ atma-buddhi của chân thần con người.
87. The Nature of Fire for man is exactly the same as the Nature of Fire for the Planetary Logos, but there is subtle difference distinguishing both from the Nature of Fire for the Solar Logos: the word “Force” is not used, but “Positive”.
87. Bản Chất của Lửa đối với con người hoàn toàn giống với Bản Chất của Lửa đối với Hành Tinh Thượng Đế, nhưng có một khác biệt tinh tế phân biệt cả hai với Bản Chất của Lửa đối với Thái dương Thượng đế: từ “Mãnh Lực” không được dùng, mà là “Dương”.
—
88. The Human Causal Body is the exact parallel of the solar logoic causal body and the planetary logoic causal body. Similarly, this category remains the same for category one and two of the human group.
88. Thể Nguyên Nhân của Con Người là sự song hành chính xác với thể nguyên nhân logoi thái dương và thể nguyên nhân logoi hành tinh. Tương tự như vậy, loại này vẫn giữ nguyên đối với loại một và loại hai của nhóm con người.
89. Similarly, the “lotus” corresponds to the planetary logoic lotus and the solar logoic lotus (“two-petalled”).
89. Tương tự, “hoa sen” tương ứng với hoa sen logoi hành tinh và hoa sen logoi thái dương (“hai cánh”).
90. It is interesting to consider the Solar Angel as a “Medium” in this context and not a “Source”, as one would normally think of the Solar Angel as superior to the causal body which it informs and sustains and participated in creating. But there are various ways of thinking about the Solar Angel. One is as a superior Being Who was responsible for creating the causal body. The other is as the part of that Being (not the whole of it) which has informed the causal body and ‘takes up residence’ within it. So we would be dealing with the Solar Angel, itself, and that emanation of the Solar Angel which “having pervaded the entire universe [of the causal body] with a fragment of itself, remains”.
90. Thật thú vị khi xem xét Thái dương Thiên Thần như một “Môi Giới” trong ngữ cảnh này chứ không phải là một “Nguồn”, vì thông thường người ta sẽ nghĩ Thái dương Thiên Thần cao hơn thể nguyên nhân mà nó thấm nhuần, duy trì và đã tham gia tạo ra. Nhưng có nhiều cách khác nhau để suy nghĩ về Thái dương Thiên Thần. Một là như một Hữu thể cao cả chịu trách nhiệm tạo ra thể nguyên nhân. Cách kia là như phần của Hữu thể ấy (không phải toàn thể của nó) đã thấm nhuần thể nguyên nhân và ‘cư ngụ’ bên trong đó. Vì vậy chúng ta sẽ phải bàn đến chính Thái dương Thiên Thần, và sự phát xạ của Thái dương Thiên Thần ấy, vốn “sau khi thấm khắp toàn thể vũ trụ [của thể nguyên nhân] bằng một mảnh của chính nó, vẫn còn lại”.
91. We must notice that for man, under the category “Type of Energy” a vehicle is listed and not an energy at all, though presumably the vehicle listed is the repository of the love energy for man. The “Manasic Ego” is clearly a vehicle, but Cosmic Love and Systemic Love are not.
91. Chúng ta phải lưu ý rằng đối với con người, dưới loại “Loại Năng Lượng”, một vận cụ được liệt kê chứ hoàn toàn không phải một năng lượng, dù có lẽ vận cụ được liệt kê là nơi chứa đựng năng lượng bác ái cho con người. “Chân ngã manas” rõ ràng là một vận cụ, nhưng Bác Ái Vũ Trụ và Bác Ái Hệ Thống thì không phải.
92. Perhaps there is an analogy between the “Son” (for the Solar Logos) and the “Manasic Ego” for the man. The “Son” is sometimes considered the solar system on the cosmic physical plane, but it might also be considered as the logoic egoic lotus which has parallels with the human Ego on the higher mental plane.
92. Có lẽ có một sự tương đồng giữa “Con” (đối với Thái dương Thượng đế) và “Chân ngã Manas” đối với con người. “Con” đôi khi được xem là hệ mặt trời trên cõi hồng trần vũ trụ, nhưng cũng có thể được xem là hoa sen chân ngã của Thượng đế mà có những điểm song hành với Chân ngã của con người trên Cõi thượng trí.
93. The point is, however, that the term “Manasic Ego” emphasizes an energy encapsulated in the humanity causal body, or a state of consciousness which is typical of consciousness within that causal body, whereas “Cosmic Love” and “Systemic Love” are definitely energies rather than an energy within a vehicle.
93. Tuy nhiên, điểm chính là thuật ngữ “Chân ngã Manas” nhấn mạnh một năng lượng được bao bọc trong thể nguyên nhân của nhân loại, hay một trạng thái tâm thức vốn tiêu biểu cho tâm thức trong thể nguyên nhân ấy, trong khi “Bác ái Vũ trụ” và “Bác ái Hệ thống” rõ ràng là những năng lượng hơn là một năng lượng ở bên trong một vận cụ.
94. For man, the type of fire is “Solar Fire. Equilibrising Force”. This is slightly different from the parallels on the solar logoic and planetary logoic levels where we have “Solar Fire. Harmony. Equilibrium” for the Solar Logos, and “Solar Fire. Harmony. Balance” for the Planetary Logos.
94. Đối với con người, loại lửa là “Lửa Thái dương. Mãnh lực quân bình hóa”. Điều này hơi khác với những điểm song hành trên các cấp độ thái dương thượng đế và hành tinh thượng đế, nơi chúng ta có “Lửa Thái dương. Hài hòa. Quân bình” đối với Thái dương Thượng đế, và “Lửa Thái dương. Hài hòa. Cân bằng” đối với Hành Tinh Thượng Đế.
95. I have spoken of the contrast between equilibrium and balance. All three groups have “Solar Fire”, but the word “Force” is mentioned only for man. While there are definite parallels for all three, the word “Force” usually signifies a process which derived from an “Energy”. What we can gather is that “Equilibrising Force” derives from the “Manasic Ego”.
95. Tôi đã nói về sự tương phản giữa quân bình và cân bằng. Cả ba nhóm đều có “Lửa Thái dương”, nhưng từ “Mãnh lực” chỉ được nêu ra đối với con người. Dù có những điểm song hành rõ rệt cho cả ba, từ “Mãnh lực” thường biểu thị một tiến trình phát sinh từ một “Năng lượng”. Điều chúng ta có thể rút ra là “Mãnh lực quân bình hóa” phát sinh từ “Chân ngã Manas”.
96. When it comes to the “Source” for the third category under “MAN”, the qualifier “Physical” is missing. We have only “Plane Nucleus”. It would seem then, that the nuclei on all three planes is indicated and the associated permanent atoms.
96. Khi nói đến “Nguồn” cho phạm trù thứ ba dưới mục “CON NGƯỜI”, từ hạn định “Hồng trần” lại vắng mặt. Chúng ta chỉ có “Hạt nhân cõi”. Khi ấy dường như các hạt nhân trên cả ba cõi đều được chỉ ra cùng với các nguyên tử trường tồn liên hệ.
97. We have still to solve the question of whether the term “Nucleus” represents a energetic structure of a higher order than “Permanent Atom”.
97. Chúng ta vẫn còn phải giải quyết câu hỏi liệu thuật ngữ “Hạt nhân” có biểu thị một cấu trúc năng lượng thuộc trật tự cao hơn “Nguyên tử trường tồn” hay không.
98. It becomes clear that the “Physical Plane Nucleus” indicated for the Solar Logos and the Planetary Logos refers to a nucleus on the cosmic physical plane, probably as a whole. Nothing much is said about the expression of the Solar Logos and Planetary Logos on the cosmic lower mental and astral planes.
98. Rõ ràng rằng “Hạt nhân cõi hồng trần” được nêu ra đối với Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng Đế là nói đến một hạt nhân trên cõi hồng trần vũ trụ có lẽ xét như một toàn thể. Không có nhiều điều được nói về biểu hiện của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng Đế trên các cõi hạ trí và cảm dục vũ trụ.
99. In the world of man, the planes involved are the three planes of the lower three worlds which are part of the dense physical body of the Solar Logos and Planetary Logos.
99. Trong thế giới của con người, các cõi liên hệ là ba cõi của ba cõi thấp, vốn là một phần của thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng Đế.
100. The term “Nucleus”, however, remains vague and is hard to discriminate from “Focal Point”, which position the “Permanent Atom” holds, and reasonably so.
100. Tuy nhiên, thuật ngữ “Hạt nhân” vẫn mơ hồ và khó phân biện với “Tiêu điểm”, là vị trí mà “Nguyên tử trường tồn” nắm giữ, và điều đó cũng hợp lý.
101. When comparing the “Lunar Angels” to the “Physical Sun” and the “Physical Planet”, one wonders about large physical elementals or entities of which the “Physical Sun” and “Physical Planet” could be considered the expression.
101. Khi so sánh “Các Thiên Thần Nguyệt” với “Mặt Trời Hồng trần” và “Hành tinh Hồng trần”, người ta tự hỏi về những hành khí hồng trần lớn lao hay những thực thể mà “Mặt Trời Hồng trần” và “Hành tinh Hồng trần” có thể được xem là biểu hiện của chúng.
102. If there are Solar Angels on a solar and planetary scale, there, likewise must be lunar angels and elementals also on that scale.
102. Nếu có các Thái dương Thiên Thần ở quy mô thái dương và hành tinh, thì tương tự như vậy cũng phải có các thiên thần nguyệt và các hành khí ở quy mô ấy.
103. When we deal with the category “Lower Threefold Man” we see a vehicle rather than an energy. For man, this is true in two of three instances, as “Atma-Buddhi” is a principle and not a vehicle. There is an atmic vehicle and a buddhic vehicle (both eventually organized) but not until a high level of evolution is reached.
103. Khi chúng ta bàn đến phạm trù “Con Người Tam Phân Thấp”, chúng ta thấy một vận cụ hơn là một năng lượng. Đối với con người, điều này đúng trong hai trên ba trường hợp, vì “Atma-Bồ đề” là một nguyên khí chứ không phải một vận cụ. Có một vận cụ atma và một vận cụ Bồ đề (cả hai cuối cùng đều được tổ chức), nhưng chỉ khi đạt đến một cấp độ tiến hoá cao.
104. The type of lower fire for man is identical to the type of lower fire for both the Planetary Logos and the Solar Logos. We have to be alert for three things when comparing the way the five types of E/entities are described: identicality, similarity and definite contrast. Attention to these three categories of comparison hold important clues regarding the nature of the E/entities under discussion.
104. Loại lửa thấp đối với con người giống hệt loại lửa thấp đối với cả Hành Tinh Thượng Đế lẫn Thái dương Thượng đế. Chúng ta phải tỉnh táo trước ba điều khi so sánh cách năm loại E/thực thể được mô tả: tính đồng nhất, tính tương tự và sự tương phản rõ rệt. Sự chú ý đến ba phạm trù so sánh này nắm giữ những manh mối quan trọng liên quan đến bản chất của các E/thực thể đang được bàn đến.
105. When we begin to discuss “PLANES” and “ATOMS” we enter the world of the third aspect of divinity. Important contrasts will appear.
105. Khi chúng ta bắt đầu bàn về “CÁC CÕI” và “CÁC NGUYÊN TỬ”, chúng ta đi vào thế giới của phương diện thứ ba của thiên tính. Những tương phản quan trọng sẽ xuất hiện.
106. The Entity in this case is the “Plane Raja Lord”, as each of the systemic planes has one.
106. Thực thể trong trường hợp này là “Chúa Tể Raja của Cõi”, vì mỗi cõi hệ thống đều có một vị như vậy.
107. It is curious however that with regard to the three previous E/entities (the Solar Logos, the Planetary Logos and Man) the true B/being is listed under the category of “Medium” and not under the category, “Source”. What is curious is that the solar logoic Central Spiritual Sun should be considered a “Source” and not the solar logoic causal body which derives from the solar logoic Central Spiritual Sun.
107. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là đối với ba E/thực thể trước đó (Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế và Con Người), B/bản thể đích thực lại được liệt kê dưới phạm trù “Trung gian” chứ không phải dưới phạm trù “Nguồn”. Điều đáng chú ý là Mặt trời Tinh thần Trung Ương của thái dương thượng đế lại được xem là một “Nguồn” chứ không phải thể nguyên nhân của thái dương thượng đế, vốn phát sinh từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương của thái dương thượng đế.
108. The same is true for the Planetary Logos, for the “Heavenly Man on His own Plane” is one of the principle causes of the planetary logoic causal body.
108. Điều tương tự cũng đúng với Hành Tinh Thượng Đế, vì “Đấng Thiên Nhân trên Cõi của Chính Ngài” là một trong những nguyên nhân chính của thể nguyên nhân của hành tinh thượng đế.
109. The same for man—his “Monad Spirit” is the cause of the causal body.
109. Điều ấy cũng đúng với con người—“Tinh thần Chân thần” của y là nguyên nhân của thể nguyên nhân.
110. The only way that the term “Medium” would make sense in these contexts is if the very highest part of these three E/entities (the Spirit Aspect) was the “Medium” for a still higher force. But there seems to be some logic missing as the term “Source” represents a point highest on the pyramid of causation, andit is listed first in the fivefold row of categories under discussion. And yet the terms listed under “Source” seem derivative from the categories listed under “Medium”, at least with regard to the first three E/entities (the Solar Logos, Planetary Logos, and Man). There is much, therefore, to be worked on in relation to Tabulation VII.
110. Cách duy nhất để thuật ngữ “Trung gian” có ý nghĩa trong những ngữ cảnh này là phần cao nhất của ba E/thực thể ấy (Phương diện Tinh thần) là “Trung gian” cho một mãnh lực còn cao hơn nữa. Nhưng dường như có thiếu một phần logic nào đó, vì thuật ngữ “Nguồn” biểu thị một điểm cao nhất trên kim tự tháp nhân quả, và nó được liệt kê trước tiên trong hàng phạm trù ngũ phân đang được bàn đến. Thế nhưng các thuật ngữ được liệt kê dưới “Nguồn” dường như lại phát sinh từ các phạm trù được liệt kê dưới “Trung gian”, ít nhất là đối với ba E/thực thể đầu tiên (Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế và Con Người). Vì vậy, còn rất nhiều điều phải được nghiên cứu liên hệ đến Bảng VII.
111. In the second position in the row, it is fascinating to realize “A Deva Hierarchy” holds the same position as the term "Jewel" for the three higher E/entities.
111. Ở vị trí thứ hai trong hàng này, thật hấp dẫn khi nhận ra rằng “Một Huyền Giai thiên thần” giữ cùng vị trí như thuật ngữ “Bảo châu” đối với ba E/thực thể cao hơn.
112. As an aside, one wonders why the term “PLANES” follows that of “MAN”, as the Raja Deva Lord of a plane is a far greater Entity than man. Probably it is because the Tabulation is divided in two parts—the first part, threefold, relates generically to all that we call “Man” (cosmically, systemically and planetarily). The second part relates to the deva kingdom and the third aspect of divinity.
112. Nhân tiện, người ta tự hỏi vì sao thuật ngữ “CÁC CÕI” lại theo sau thuật ngữ “CON NGƯỜI”, vì Chúa Tể Raja thiên thần của một cõi là một Thực thể lớn lao hơn con người rất nhiều. Có lẽ là vì Bảng được chia thành hai phần—phần thứ nhất, tam phân, liên hệ một cách tổng quát đến tất cả những gì chúng ta gọi là “Con Người” (về mặt vũ trụ, hệ thống và hành tinh). Phần thứ hai liên hệ đến giới thiên thần và phương diện thứ ba của thiên tính.
113. What is the analogy between “A Deva Hierarchy” and the term "Jewel"? Could the "Jewel" be composed of a number of deva entities?
113. Sự tương đồng giữa “Một Huyền Giai thiên thần” và thuật ngữ “Bảo châu” là gì? Liệu “Bảo châu” có thể được cấu thành bởi một số thực thể thiên thần chăng?
114. The tabulation seems to be saying that a “Plane Raja Lord” works through a particular “Deva Hierarchy”. We may that for the particular “Plane Raja Lord” of each plane, there is a particular “Deva Hierarchy” which serves as its focal point.
114. Bảng này dường như đang nói rằng một “Chúa Tể Raja của Cõi” hoạt động thông qua một Huyền Giai thiên thần “đặc thù”. Chúng ta có thể nói rằng đối với “Chúa Tể Raja của Cõi” đặc thù của mỗi cõi, có một Huyền Giai thiên thần “đặc thù” phục vụ như tiêu điểm của vị ấy.
115. For the Raja Deva Lord of the atmic plane, would the Deva Hierarchy called the “Triple Flowers” serve as its focal point? For the Raja Deva Lord called “Kshiti” would the Deva Hierarchy known as the “Baskets of Nourishment” serve as its focal point? One can see the trend of this line of thought. One of the most important things to determine is what a focal point does.
115. Đối với Chúa Tể Raja thiên thần của cõi atma, liệu Huyền Giai thiên thần được gọi là “Ba Đóa Hoa” có phục vụ như tiêu điểm của vị ấy không? Đối với Chúa Tể Raja thiên thần được gọi là “Kshiti”, liệu Huyền Giai thiên thần được biết đến như “Những Giỏ Dưỡng Nuôi” có phục vụ như tiêu điểm của vị ấy không? Người ta có thể thấy xu hướng của đường tư tưởng này. Một trong những điều quan trọng nhất cần xác định là một tiêu điểm làm gì.
116. We know somewhat what a "Jewel in the Lotus" does; it is the seat of the will of the Monad for three types of B/beings (Solar Logos, Planetary Logos and Man). Could the Deva Hierarchy serving as the focal point for the “Plane Raja Lord” also be a transmitter of a certain kind of will, and likewise the “Nucleus” of the atom which hold the same position?
116. Chúng ta biết phần nào “Bảo châu trong Hoa sen” làm gì; nó là chỗ ngự của ý chí của chân thần đối với ba loại B/bản thể (Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế và Con Người). Liệu Huyền Giai thiên thần phục vụ như tiêu điểm cho “Chúa Tể Raja của Cõi” cũng có thể là một tác nhân truyền dẫn một loại ý chí nào đó, và tương tự như vậy “Hạt nhân” của nguyên tử giữ cùng vị trí ấy chăng?
117. The category “Medium” holds the term “Atomic Subplanes”. We see that we are dealing with perhaps seven different “Planet Raja Lords” each of which has for a focal point a “Deva Hierarchy” and each of which uses as a medium of transmission a particular “Atomic Subplane”. We can presume that the atomic subplane of any particular plane is the subplane of major focus for the “Plane Raja Lord”. Just as the highest point of power and expression for Sanat Kumara within Shamballa is the logoic plane, which is the highest cosmic etheric subplane, so the highest point of power and expression for the “Plane Raja Lord” is the atomic subplane of the plane which that Lord rules. We can infer that the highest specimens of the “Deva Hierarchy” which serves as the focal point for the Raja Deva Lord are also ‘located’ on the atomic subplane of the particular plane in question.
117. Phạm trù “Trung gian” chứa thuật ngữ “Các cõi phụ nguyên tử”. Chúng ta thấy rằng có lẽ mình đang bàn đến bảy “Chúa Tể Raja Hành tinh” khác nhau, mỗi vị có một “Huyền Giai thiên thần” làm tiêu điểm và mỗi vị dùng một “Cõi phụ nguyên tử” đặc thù làm trung gian truyền đạt của mình. Chúng ta có thể giả định rằng cõi phụ nguyên tử của bất kỳ cõi đặc thù nào là cõi phụ có tiêu điểm chính đối với “Chúa Tể Raja của Cõi”. Cũng như điểm quyền năng và biểu hiện cao nhất của Đức Sanat Kumara trong Shamballa là cõi thượng đế, vốn là cõi phụ dĩ thái vũ trụ cao nhất, thì điểm quyền năng và biểu hiện cao nhất của “Chúa Tể Raja của Cõi” là cõi phụ nguyên tử của cõi mà vị Chúa Tể ấy cai quản. Chúng ta có thể suy ra rằng những mẫu mực cao nhất của “Huyền Giai thiên thần” phục vụ như tiêu điểm cho Chúa Tể Raja thiên thần cũng được ‘định vị’ trên cõi phụ nguyên tử của cõi đặc thù đang được nói đến.
118. The “Type of Energy” involved in the expression of the “Plane Raja Lord” is “Fohatic”. We immediately can see the first ray nature of Fohat even though it is much associated with the third aspect of divinity. Fohat is essentially “cosmic electricity”.
118. “Loại Năng lượng” liên hệ đến biểu hiện của “Chúa Tể Raja của Cõi” là “Fohat”. Chúng ta có thể thấy ngay bản chất cung một của Fohat dù nó gắn bó nhiều với phương diện thứ ba của thiên tính. Fohat về bản chất là “điện vũ trụ”.
119. The nature of the fire involved with the “Plane Raja Lord” is “Central Fire. Initiatory”. This is the correspondence to “Electric Fire” in the three previous categories of E/entities. The centrality of the fire indicates its connection to the first ray. When we read the term “Initiatory” one wonders whether this type of fire is utilized by the Hierophant in the process of initiation. It is likely the atomic subplane energy is applied in the initiatory process.
119. Bản chất của lửa liên hệ với “Chúa Tể Raja của Cõi” là “Lửa Trung tâm. Khởi phát”. Đây là sự tương ứng với “Lửa Điện” trong ba phạm trù E/thực thể trước đó. Tính trung tâm của lửa cho thấy mối liên hệ của nó với cung một. Khi chúng ta đọc thuật ngữ “Khởi phát”, người ta tự hỏi liệu loại lửa này có được Đấng Điểm đạo sử dụng trong tiến trình điểm đạo hay không. Có khả năng là năng lượng cõi phụ nguyên tử được áp dụng trong tiến trình điểm đạo.
120. From another perspective, the term “Initiatory” may indicate that that which occurs on the lower subplanes is initiated on the atomic subplane.
120. Từ một góc nhìn khác, thuật ngữ “Khởi phát” có thể chỉ ra rằng điều xảy ra trên các cõi phụ thấp được khởi phát trên cõi phụ nguyên tử.
121. The next category of entity (and lower than the Plane Raja Lord) consists of “Plane Devas”. This is potentially a huge category. The greatest of these Plane Devas may be the ones who rule each subplane of a particular plane. Of these there are seven.
121. Phạm trù thực thể kế tiếp (và thấp hơn Chúa Tể Raja của Cõi) gồm “Các thiên thần của Cõi”. Đây có thể là một phạm trù rất rộng lớn. Những vị lớn nhất trong số các thiên thần của Cõi này có thể là những vị cai quản mỗi cõi phụ của một cõi đặc thù. Có bảy vị như vậy.
122. In a way a Plane Raja Lord of a systemic plane is a Plane Deva if we consider the systemic planes as subplanes of the cosmic physical plane.
122. Theo một nghĩa nào đó, Chúa Tể Raja của một cõi hệ thống là một thiên thần của Cõi nếu chúng ta xem các cõi hệ thống là những cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.
123. In addition there are many lesser types of devas, each type associated mostly with one of the subplanes of any particular plane. These, too, could be called “Plane Devas”.
123. Ngoài ra còn có nhiều loại thiên thần nhỏ hơn, mỗi loại chủ yếu gắn với một trong các cõi phụ của bất kỳ cõi đặc thù nào. Những vị này cũng có thể được gọi là “Các thiên thần của Cõi”.
124. Each subplane of a systemic plane, has certain etheric centres usually associated with it. The head center is usually associated with the atomic subplane and the heart center with the sub-atomic subplane. The throat center is usually associated with the super-etheric subplane and the other etheric centers with the etheric subplane (the fourth and lowest subplane).
124. Mỗi cõi phụ của một cõi hệ thống đều có những trung tâm dĩ thái nhất định thường gắn với nó. Trung tâm đầu thường gắn với cõi phụ nguyên tử và trung tâm tim với cõi phụ hạ nguyên tử. Trung tâm cổ họng thường gắn với cõi phụ siêu dĩ thái và các trung tâm dĩ thái khác với cõi phụ dĩ thái (cõi phụ thứ tư và thấp nhất).
125. The “Centres” have, within the constitution, lesser “Plane Devas”.
125. “Các Trung tâm” có, bên trong cấu tạo của chúng, những “thiên thần của Cõi” nhỏ hơn.
126. In this enumeration the strictly physical centers such as glands (and their correspondences on subplanes other than the lowest three physical subplanes) may also be considered. The first four subplanes of any systemic plane can be considered the ‘etheric’ subplanes of that systemic plane; the lowest three subplanes can be considered correspondences to the dense subplanes of the systemic physical plane.
126. Trong sự liệt kê này, các trung tâm hồng trần theo nghĩa chặt chẽ như các tuyến nội tiết (và các tương ứng của chúng trên những cõi phụ khác ngoài ba cõi phụ hồng trần thấp nhất) cũng có thể được xét đến. Bốn cõi phụ đầu của bất kỳ cõi hệ thống nào có thể được xem là các cõi phụ ‘dĩ thái’ của cõi hệ thống ấy; ba cõi phụ thấp nhất có thể được xem là những tương ứng với các cõi phụ đậm đặc của cõi hồng trần hệ thống.
127. One would presume that a “Deva Hierarchy” would have its centers of force just as has a man, a Planetary Logos, or a Solar Logos. Perhaps these centers are distributed on the various subplanes.
127. Người ta có thể giả định rằng một “Huyền Giai thiên thần” sẽ có các trung tâm mãnh lực của nó cũng như con người, Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế đều có. Có lẽ các trung tâm này được phân bố trên các cõi phụ khác nhau.
128. DK has not revealed much about the internal structure of devas. We do know they have centers as has a man, because He has spoken about the heart center of the Solar Angel. If there is one center, there are others.
128. Chân sư DK chưa tiết lộ nhiều về cấu trúc nội tại của các thiên thần. Chúng ta biết rằng họ có các trung tâm như con người, vì Ngài đã nói về trung tâm tim của Thái dương Thiên Thần. Nếu có một trung tâm, thì có những trung tâm khác.
129. We know that the egoic lotus is considered a “centre”, in fact the heart center of the Monad which expresses through it. The “centres” of Plane Devas are the correspondences to the lotus appearing in the first three categories.
129. Chúng ta biết rằng hoa sen chân ngã được xem là một “trung tâm”, thực ra là trung tâm tim của chân thần biểu hiện qua nó. “Các trung tâm” của các thiên thần của Cõi là những tương ứng với hoa sen xuất hiện trong ba phạm trù đầu tiên.
130. The medium of expression for the Plane Devas is “Prana”. Usually prana is considered as existing on all the four etheric subplanes of the systemic physical plane and also, we may infer, on the four ‘etheric’ subplanes of any systemic plane. We may question, however, whether the energy of the atomic subplane is to be excluded from that which is designated as “Prana”.
130. Trung gian biểu hiện của các thiên thần của Cõi là “Prana”. Thông thường prana được xem là hiện hữu trên cả bốn cõi phụ dĩ thái của cõi hồng trần hệ thống và, như chúng ta có thể suy ra, cũng trên bốn cõi phụ ‘dĩ thái’ của bất kỳ cõi hệ thống nào. Tuy nhiên, chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu năng lượng của cõi phụ nguyên tử có bị loại ra khỏi điều được chỉ định là “Prana” hay không.
131. The higher correspondences of “Prana” are the “Heart of the Sun”, “Egoic Groups” and “Solar Angel”—a mixed assortment. We can see by this grouping that “Prana” is definitely considered a solar force and possesses on its own level the same factor of coherence as it found in the higher three categories.
131. Những tương ứng cao hơn của “Prana” là “Trái Tim Mặt Trời”, “Các Nhóm Chân ngã” và “Thái dương Thiên Thần”—một tập hợp pha trộn. Qua sự nhóm lại này, chúng ta có thể thấy rằng “Prana” rõ ràng được xem là một mãnh lực thái dương và trên cấp độ riêng của nó sở hữu cùng một yếu tố cố kết như được thấy trong ba phạm trù cao hơn.
132. We remember that the Solar Angels are emanated from the Heart of the Sun. From a higher perspective can they be considered a type of cosmic prana?
132. Chúng ta nhớ rằng các Thái dương Thiên Thần được xuất lộ từ Trái Tim Mặt Trời. Từ một góc nhìn cao hơn, liệu chúng có thể được xem là một loại prana vũ trụ không?
133. The “Type of Energy” is “Solar Energy” which is predictable and which contrasts with “Fohatic”. “Solar Energy” in this context expresses the second ray just as “Fohatic” Energy expresses the first.
133. “Loại Năng lượng” là “Năng lượng Thái dương”, điều này có thể dự đoán được và tương phản với “Fohat”. “Năng lượng Thái dương” trong ngữ cảnh này biểu hiện cung hai cũng như năng lượng “Fohat” biểu hiện cung một.
134. The “Nature of Fire” is predictably “Form Building Fire” which is a lower correspondence to solar fire. We may infer that “Prana” is a form-building and form-sustaining expression of “Solar Fire”. We may also infer that the “Plane Devas” are primarily ‘Form Builders’.
134. “Bản chất của Lửa” theo dự đoán là “Lửa Kiến Tạo Hình Tướng”, vốn là một tương ứng thấp hơn của lửa thái dương. Chúng ta có thể suy ra rằng “Prana” là một biểu hiện kiến tạo hình tướng và duy trì hình tướng của “Lửa Thái dương”. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng “Các thiên thần của Cõi” chủ yếu là những ‘đấng kiến tạo hình tướng’.
135. The third category of “Source” under division, “PLANES” are the “Elementals”. The use of this term in the third position suggests what a wide range of E/entities must have been included amongst “Plane Devas”, because “Elementals” are lower than the lowest unconscious devas.
135. Phạm trù thứ ba của “Nguồn” dưới phân bộ “CÁC CÕI” là “Các hành khí”. Việc dùng thuật ngữ này ở vị trí thứ ba gợi ý phạm vi rộng lớn của các E/thực thể hẳn đã được bao gồm trong “Các thiên thần của Cõi”, vì “Các hành khí” thấp hơn những thiên thần vô thức thấp nhất.
136. We must consider these “Elementals” as higher than the living atoms and tiny living particles or lesser atoms which constitute “Elemental Essence”. Sometimes these tiny lives have also been called “Elementals”, and yet, if this name is appropriate, they are “Elementals” of a much lower order than the “Elementals” here discussed.
136. Chúng ta phải xem những “hành khí” này là cao hơn các nguyên tử sống và những hạt sống cực nhỏ hay các nguyên tử nhỏ hơn cấu thành “Tinh chất hành khí”. Đôi khi những sự sống nhỏ bé này cũng được gọi là “hành khí”, tuy nhiên nếu tên gọi ấy thích hợp thì chúng là những “hành khí” thuộc một trật tự thấp hơn nhiều so với các “hành khí” đang được bàn đến ở đây.
137. The “Elementals” have “Elemental Essence” as their focal point, just as the “Plane Devas” have “Centers” as their focal points, and a “Plane Raja Lord” has a “Deva Hierarchy” as its focal point. A focal point is a specific concentration of energy through which an E/entity can work and express.
137. “Các hành khí” có “Tinh chất hành khí” làm tiêu điểm của chúng, cũng như “Các thiên thần của Cõi” có “Các trung tâm” làm tiêu điểm, và một “Chúa Tể Raja của Cõi” có một “Huyền Giai thiên thần” làm tiêu điểm. Một tiêu điểm là một sự tập trung năng lượng đặc thù mà qua đó một E/thực thể có thể hoạt động và biểu hiện.
138. The terms used are somewhat vague, or at least lacking is structural specifics. This is understandable until man comes into closer relation with the deva kingdom.
138. Các thuật ngữ được dùng có phần mơ hồ, hoặc ít nhất là thiếu những chi tiết cấu trúc cụ thể. Điều này có thể hiểu được cho đến khi con người đi vào mối liên hệ gần gũi hơn với giới thiên thần.
139. The medium of expression in this third category under the major category “PLANES” is “Molecular Substance”. We much watch the terms used closely. “Elemental Essence” is a lower expression of “Monadic Essence” and “Molecular Substance” is a lower and more aggregated expression of “Atomic Substance”.
139. Trung gian biểu hiện trong phạm trù thứ ba này dưới phạm trù lớn “CÁC CÕI” là “Chất liệu phân tử”. Chúng ta phải theo dõi chặt chẽ các thuật ngữ được dùng. “Tinh chất hành khí” là một biểu hiện thấp hơn của “Tinh chất chân thần” và “Chất liệu phân tử” là một biểu hiện thấp hơn và kết tụ hơn của “Chất liệu nguyên tử”.
140. The divisions suggested are 1—3—3. It would appear that “Prana” applies on three subplanes and “Molecular Substance” on the lowest three subplanes. Technically, however, any substance less than atomic substance (which is confined to the first subplane) can be considered molecular substance.
140. Các phân chia được gợi ý là 1—3—3. Dường như “Prana” áp dụng trên ba cõi phụ và “Chất liệu phân tử” trên ba cõi phụ thấp nhất. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, bất kỳ chất liệu nào thấp hơn chất liệu nguyên tử (vốn chỉ giới hạn ở cõi phụ thứ nhất) đều có thể được xem là chất liệu phân tử.
141. The term “molecular” suggests “aggregation”.
141. Thuật ngữ “phân tử” gợi ý “sự kết tụ”.
142. Putting together the first three factors of the third row under “PLANES”, we find that “Elementals” use for their focal point “Elemental Essence” which uses as its medium of expression “Molecular Substance”.
142. Khi ghép ba yếu tố đầu tiên của hàng thứ ba dưới mục “CÁC CÕI” lại với nhau, chúng ta thấy rằng “Các hành khí” dùng “Tinh chất hành khí” làm tiêu điểm, và “Tinh chất hành khí” dùng “Chất liệu phân tử” làm trung gian biểu hiện.
143. It is important to read not only in rows but in columns as well to understand the hierarchical order of the items found in the columns. Obviously “Prana” is of a higher order than “Molecular Substance”. It seems suggested that “Molecular Substance” is to be found on the three lower subplanes of each of the three lower systemic planes. Perhaps the three lower subplanes of all the systemic planes can be considered “molecular”, as each systemic plane is divided in two parts—four subplanes correspondentially ‘etheric’ and three subplanes correspondentially ‘physical’.
143. Điều quan trọng là phải đọc không chỉ theo hàng mà còn theo cột để hiểu trật tự phân cấp của các mục được tìm thấy trong các cột. Hiển nhiên “Prana” thuộc một trật tự cao hơn “Chất liệu phân tử”. Dường như có sự gợi ý rằng “Chất liệu phân tử” được tìm thấy trên ba cõi phụ thấp của mỗi một trong ba cõi hệ thống thấp. Có lẽ ba cõi phụ thấp của mọi cõi hệ thống đều có thể được xem là “phân tử”, vì mỗi cõi hệ thống được chia thành hai phần—bốn cõi phụ tương ứng là ‘dĩ thái’ và ba cõi phụ tương ứng là ‘hồng trần’.
144. Again “molecular” means “aggregated” and that which is aggregated is denser than that which is not.
144. Một lần nữa, “phân tử” có nghĩa là “kết tụ”, và cái gì đã kết tụ thì đậm đặc hơn cái chưa kết tụ.
145. What emerges is that the “Elementals” express through both “Elemental Essence” (focally) and “Molecular Substance” (distributively).
145. Điều nổi lên là “Các hành khí” biểu hiện qua cả “Tinh chất hành khí” (theo tiêu điểm) lẫn “Chất liệu phân tử” (theo sự phân bố).
146. “Lunar Force” follows naturally after “Solar Energy” in the column related to the “Type of Energy”. We consistently see that force is considered a lower and more concrete expression of energy.
146. “Mãnh lực Nguyệt” theo tự nhiên xuất hiện sau “Năng lượng Thái dương” trong cột liên hệ đến “Loại Năng lượng”. Chúng ta luôn thấy rằng mãnh lực được xem là một biểu hiện thấp hơn và cụ thể hơn của năng lượng.
147. The “Nature of Fire” is “The Mother’s Heat” which sustains the constituents of the form. “Heat” is almost always associated with fire by friction and the third aspect of divinity (which is the “Activity Aspect”). We know that the degree of heat corresponds to the degree of activity of the constituents of any field.
147. “Bản chất của Lửa” là “Nhiệt của Mẹ”, thứ duy trì các thành phần của hình tướng. “Nhiệt” hầu như luôn gắn với lửa ma sát và phương diện thứ ba của thiên tính (vốn là “Phương diện Hoạt động”). Chúng ta biết rằng mức độ nhiệt tương ứng với mức độ hoạt động của các thành phần trong bất kỳ trường nào.
ATOMS
CÁC NGUYÊN TỬ
1… Atom… Nucleus… Plane Deva… Positive… Electric
1… Nguyên tử… Hạt nhân… Thiên thần của Cõi… Dương… Điện
148. We now deal with the lowest of the five E/entities which have been selected for comparison.
148. Giờ đây chúng ta bàn đến loại thấp nhất trong năm E/thực thể đã được chọn để so sánh.
149. The “Atom” is the correspondence to the Solar Logos, Planetary Logos, Man and the Plane Raja Lord.
149. “Nguyên tử” là sự tương ứng với Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế, Con Người và Chúa Tể Raja của Cõi.
150. The “Nucleus” of the “Atom” corresponds to the “Jewels” (in the lotus) of the first three E/entities and to the “Deva Hierarchy” through which the Plane Raja Lord expresses itself focally.
150. “Hạt nhân” của “Nguyên tử” tương ứng với các “Bảo châu” (trong hoa sen) của ba E/thực thể đầu tiên và với “Huyền Giai thiên thần” mà qua đó Chúa Tể Raja của Cõi biểu hiện một cách tiêu điểm.
151. It is reasonable to think that the “Atom” works through its “Nucleus” as a focal point.
151. Thật hợp lý khi nghĩ rằng “Nguyên tử” hoạt động thông qua “Hạt nhân” của nó như một tiêu điểm.
152. But now we come to the same kind of ambiguity (heretofore encountered) related to the term “Medium”. Is the “Medium” a medium of expression for the “Source”, or is the “Medium” actually higher than the “Source” and a “Medium of Expression” for an E/entity still higher than itself? As I pointed out, the “Monad Spirit” considered as a “Medium” is much higher than the “Causal Body” considered as a “Source” in the first row under “MAN”. And, likewise, the “Central Spiritual Sun” of the Solar Logos is much higher than the “Causal Body” of the Solar Logos considered as a “Source”, and so for the Planetary Logos as well.
152. Nhưng giờ đây chúng ta lại gặp cùng một loại mơ hồ (đã gặp trước đây) liên hệ đến thuật ngữ “Trung gian”. “Trung gian” có phải là trung gian biểu hiện cho “Nguồn” không, hay “Trung gian” thực ra lại cao hơn “Nguồn” và là một “Trung gian Biểu hiện” cho một E/thực thể còn cao hơn chính nó? Như tôi đã chỉ ra, “Tinh thần Chân thần” được xem là một “Trung gian” thì cao hơn rất nhiều so với “Thể nguyên nhân” được xem là một “Nguồn” trong hàng đầu tiên dưới mục “CON NGƯỜI”. Và tương tự như vậy, “Mặt trời Tinh thần Trung Ương” của Thái dương Thượng đế cao hơn rất nhiều so với “Thể nguyên nhân” của Thái dương Thượng đế được xem là một “Nguồn”, và Hành Tinh Thượng Đế cũng vậy.
153. Similarly, a “Plane Deva” is, it would seem, depending on its scope, a greater entity than an “Atom”, unless we are thinking of a “Plane Deva” as extremely minute and as a constituent of an “Atom”. Yet such constituents, or particles of an “Atom” should be called “Elementals” and not “Plane Devas”.
153. Tương tự, một “Thiên thần của Cõi”, dường như tùy theo phạm vi của nó, là một thực thể lớn hơn một “Nguyên tử”, trừ phi chúng ta đang nghĩ đến một “Thiên thần của Cõi” như cực kỳ vi tế và là một thành phần của một “Nguyên tử”. Tuy nhiên, những thành phần hay hạt của một “Nguyên tử” như thế phải được gọi là “hành khí” chứ không phải “thiên thần của Cõi”.
154. Perhaps it begins to dawn upon us how very occult Tabulation VII really is and how much is concealed under the naming the ordering of the terms. Through comparison much can be discovered, but the possible illumination is not always easy to evoke.
154. Có lẽ chúng ta bắt đầu nhận ra Bảng VII thật sự huyền bí đến mức nào và biết bao điều được che giấu dưới cách gọi tên và cách sắp xếp các thuật ngữ. Qua so sánh, nhiều điều có thể được khám phá, nhưng sự soi sáng khả dĩ không phải lúc nào cũng dễ được gợi lên.
155. It is no surprise to see that the “Nucleus” is considered to possess a “Type of Energy” which is “Positive” and a representative of a fire called “Electric”.
155. Không có gì ngạc nhiên khi thấy “Hạt nhân” được xem là sở hữu một “Loại Năng lượng” là “Dương” và là đại diện của một loại lửa được gọi là “Điện”.
156. The mystery is the term “Plane Deva” as representing the “Medium”. Much will depend upon how we consider the term “Medium”. Perhaps we can consider it as the “Medium” in which the “Source” is immersed. This would be different from considering the “Medium” as a medium of expression.
156. Điều bí ẩn là thuật ngữ “Thiên thần của Cõi” khi đại diện cho “Trung gian”. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào cách chúng ta hiểu thuật ngữ “Trung gian”. Có lẽ chúng ta có thể xem nó là “Trung gian” mà trong đó “Nguồn” được nhúng vào. Điều này sẽ khác với việc xem “Trung gian” như một trung gian biểu hiện.
157. But there seems to be no true consistency in the relationship between “Source” and “Medium” that would allow us to do this. Whereas we might say that the three types of causal bodies are immersed in the greater scope of the “Central Spiritual Sun” for the “Causal Body” of the Solar Logos, “Heavenly Man On His own Plane” for the “Causal Body” of the Planetary Logos, and “Monad Spirit” for the “Causal Body” of the “Man”, it is surely difficult to say that the “Plane Raja Lord” (considered as a “Source”) is immersed in an “Atomic Subplane”.
157. Nhưng dường như không có sự nhất quán thực sự nào trong mối liên hệ giữa “Nguồn” và “Trung gian” cho phép chúng ta làm như vậy. Trong khi chúng ta có thể nói rằng ba loại thể nguyên nhân được nhúng trong phạm vi lớn hơn của “Mặt trời Tinh thần Trung Ương” đối với “Thể nguyên nhân” của Thái dương Thượng đế, “Đấng Thiên Nhân trên Cõi của Chính Ngài” đối với “Thể nguyên nhân” của Hành Tinh Thượng Đế, và “Tinh thần Chân thần” đối với “Thể nguyên nhân” của “Con Người”, thì quả thật khó mà nói rằng “Chúa Tể Raja của Cõi” (được xem là một “Nguồn”) lại được nhúng trong một “Cõi phụ nguyên tử”.
158. Of course there are at least two types of Plane Raja Lords—one which rules a plane within the constitution of a Planetary Logos. Such a one would be Varuna in relation to our planetary logoic astral plane. The other rules an entire systemic plane (throughout the solar system) and would be, in this case, the higher correspondence to Varuna.
158. Dĩ nhiên có ít nhất hai loại Chúa Tể Raja của Cõi—một loại cai quản một cõi trong cấu tạo của một Hành Tinh Thượng Đế. Một vị như thế sẽ là Varuna trong liên hệ với cõi cảm dục của hành tinh thượng đế của chúng ta. Loại kia cai quản một toàn bộ cõi hệ thống (trong toàn thể hệ mặt trời) và trong trường hợp này sẽ là tương ứng cao hơn của Varuna.
159. Let us say that although the relationship between a “Plane Raja Lord” and an “Atomic Subplane” does not seem to correspond with the other relationships between “Source” and “Medium”, for four of the E/entities, it is possible to consider the “Source” as immersed in the “Medium” given.
159. Chúng ta hãy nói rằng mặc dù mối liên hệ giữa một “Chúa Tể Raja của Cõi” và một “Cõi phụ nguyên tử” dường như không tương ứng với các mối liên hệ khác giữa “Nguồn” và “Trung gian”, nhưng đối với bốn E/thực thể, vẫn có thể xem “Nguồn” là được nhúng trong “Trung gian” đã cho.
160. An “Atom” can certainly be considered immersed in a “Plane Deva”, yet, there is a degree of ambiguity concerning the scope of the “Plane Deva”. Is it meant to be the same kind of “Plane Deva” mentioned in the second row under the large division called “PLANES”? If so, quite large Entities are indicated (i.e., they are rulers of systemic subplanes) and so it would be natural for an “Atom” to be immersed in such a “Medium” within which the “Atom” can express.
160. Một “Nguyên tử” chắc chắn có thể được xem là được nhúng trong một “Thiên thần của Cõi”, tuy nhiên vẫn có một mức độ mơ hồ liên quan đến phạm vi của “Thiên thần của Cõi”. Có phải nó được hiểu là cùng loại “Thiên thần của Cõi” được nêu trong hàng thứ hai dưới phân bộ lớn gọi là “CÁC CÕI” không? Nếu vậy, thì những Thực thể khá lớn đang được chỉ ra (tức là họ là những vị cai quản các cõi phụ hệ thống), và như thế sẽ là điều tự nhiên khi một “Nguyên tử” được nhúng trong một “Trung gian” như vậy, trong đó “Nguyên tử” có thể biểu hiện.
2… Atomic Unit of Form… Sphere… Plane Devas… Balancing… Solar Fire
2… Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng… Khối cầu… Các thiên thần của Cõi… Cân bằng… Lửa Thái dương
161. In the first column of the second row under “ATOMS” we have an unusual term—“Atomic Unit of Form”. Form relates to the second aspect of divinity, so it is fitting to be discussing it in the second row. But how does the “Atom” per se, differ from the “Atomic Unit of Form”?
161. Trong cột đầu tiên của hàng thứ hai dưới mục “CÁC NGUYÊN TỬ”, chúng ta có một thuật ngữ khác thường—“Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng”. Hình tướng liên hệ đến phương diện thứ hai của thiên tính, nên việc bàn về nó trong hàng thứ hai là thích hợp. Nhưng “Nguyên tử” chính nó khác với “Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng” như thế nào?
162. Since, under “PLANES” the “Plane Devas” are subordinate to the “Plane Raja Lord” we would expect the “Atomic Unit of Form” to be subordinate to the “Atom”.
162. Vì dưới mục “CÁC CÕI”, “Các thiên thần của Cõi” ở dưới “Chúa Tể Raja của Cõi”, nên chúng ta sẽ mong đợi “Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng” ở dưới “Nguyên tử”.
163. Perhaps the term “Atom” signifies the atom as a life where as the term “Atomic Unit of Form” signifies the atom as a form.
163. Có lẽ thuật ngữ “Nguyên tử” biểu thị nguyên tử như một sự sống trong khi thuật ngữ “Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng” biểu thị nguyên tử như một hình tướng.
164. We may be speaking of the formal relationship and unity of all constituents within an atom.
164. Có lẽ chúng ta đang nói đến mối liên hệ hình tướng và sự hợp nhất của mọi thành phần bên trong một nguyên tử.
165. We may also wonder whether that constituent within the “Atom” called the “neutron” is not implicated. It has neither a positive nor a negative charge but is related to the factor of balance and equilibrium.
165. Chúng ta cũng có thể tự hỏi liệu thành phần bên trong “Nguyên tử” được gọi là “neutron” có liên can ở đây hay không. Nó không mang điện tích dương cũng không mang điện tích âm, nhưng liên hệ đến yếu tố cân bằng và quân bình.
166. There are simply a number of terms which are conspicuously unusual, and so the correspondences are not entirely straightforward.
166. Đơn giản là có một số thuật ngữ khác thường một cách nổi bật, nên các tương ứng không hoàn toàn trực tiếp.
167. In the second row and second column under “ATOMS” we have the term “Sphere”, which indicates that the wholeness of the atomic form may be referenced. In this case the sphere has an inclusive, second ray connotation.
167. Trong hàng thứ hai và cột thứ hai dưới mục “CÁC NGUYÊN TỬ”, chúng ta có thuật ngữ “Khối cầu”, cho thấy tính toàn thể của hình tướng nguyên tử có thể đang được nói đến. Trong trường hợp này, khối cầu mang hàm ý bao gồm của cung hai.
168. Noting the correspondences we see that the “Sphere” corresponds to the “Centres” under PLANES, and to the term “Lotus” under each of the three types of “Man” (Solar Logos, Planetary Logos and Man).
168. Khi ghi nhận các tương ứng, chúng ta thấy rằng “Khối cầu” tương ứng với “Các Trung tâm” dưới mục CÁC CÕI, và với thuật ngữ “Hoa sen” dưới mỗi một trong ba loại “Con Người” (Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế và Con Người).
169. The correspondence between a “Sphere” and the terms “Lotus” and “Centre” can easily be seen.
169. Sự tương ứng giữa một “Khối cầu” với các thuật ngữ “Hoa sen” và “Trung tâm” có thể dễ dàng nhận ra.
170. Instead of the term “Plane Deva” related as a “Medium” to “Atom”, we have “Plane Devas” as the “Medium” to the “Atomic Unit of Form”. Using the idea of the “Medium” as indicating ‘immersion in a medium within which expression occurs’, we can understand “Atomic Unit(s) of Form” immerse in the “Plane Devas” of various kinds.
170. Thay vì thuật ngữ “Thiên thần của Cõi” liên hệ như một “Trung gian” với “Nguyên tử”, chúng ta có “Các thiên thần của Cõi” như “Trung gian” đối với “Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng”. Dùng ý niệm “Trung gian” như chỉ sự ‘được nhúng trong một môi trường mà trong đó sự biểu hiện xảy ra’, chúng ta có thể hiểu “(Các) Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng” được nhúng trong “Các thiên thần của Cõi” thuộc nhiều loại khác nhau.
171. “Plane Devas” are included within the larger “Plane Deva”. The “Atom” considered as a life finds its place within the greater “Plane Deva”. The “Atomic Unit of Form” finds its expression within the medium of various kinds of “Plane Devas”. Admittedly, there is ambiguity in this comparison. We must assume that the “Plane Devas” are lesser than the “Plane Deva”.
171. “Các thiên thần của Cõi” được bao gồm trong “Thiên thần của Cõi” lớn hơn. “Nguyên tử” được xem như một sự sống tìm thấy vị trí của nó trong “Thiên thần của Cõi” lớn hơn. “Đơn vị Nguyên tử của Hình tướng” tìm thấy sự biểu hiện của nó trong trung gian của nhiều loại “Các thiên thần của Cõi”. Phải thừa nhận rằng có sự mơ hồ trong sự so sánh này. Chúng ta phải giả định rằng “Các thiên thần của Cõi” nhỏ hơn “Thiên thần của Cõi”.
172. The term “Balancing” fits well with the second aspect and is predictably placed between “Positive” and “Negative”. Again one things of that type of electricity which is called neutral or equilibrizing. The atomic constituent called the “neutron” again comes to mind.
172. Thuật ngữ “Cân bằng” rất phù hợp với phương diện thứ hai và được đặt một cách có thể dự đoán giữa “Dương” và “Âm”. Một lần nữa người ta nghĩ đến loại điện được gọi là trung hòa hay quân bình hóa. Thành phần nguyên tử được gọi là “neutron” lại hiện ra trong tâm trí.
173. The “Nature of Fire” is predictably “Solar Fire”.
173. “Bản chất của Lửa” theo dự đoán là “Lửa Thái dương”.
3… Electrons… Nuclei… Elementals… Negative… Fire by Friction
3… Các electron… Các hạt nhân… Các hành khí… Âm… Lửa ma sát
174. “Electrons” are the correspondence within the atom to the third or substantial aspect. They are a part of the atomic whole.
174. “Các electron” là sự tương ứng bên trong nguyên tử với phương diện thứ ba hay phương diện chất liệu. Chúng là một phần của toàn thể nguyên tử.
175. Considered as a “Source” the “Electrons” work through “Nuclei”—their own presumably, and not through the “Nucleus” of the “Atom” itself. “Electrons” are still mega-structures compared to still lesser particles which comprise them. So even the tiny electron has its nucleus and those lives which are to it as “Electrons” are to “Atoms”.
175. Khi được xem là một “Nguồn”, “Các electron” hoạt động thông qua “Các hạt nhân”—có lẽ là các hạt nhân riêng của chúng chứ không phải thông qua “Hạt nhân” của chính “Nguyên tử”. “Các electron” vẫn là những cấu trúc khổng lồ so với những hạt còn nhỏ hơn cấu thành chúng. Vì vậy ngay cả electron nhỏ bé cũng có hạt nhân của nó và những sự sống đối với nó cũng như “Các electron” đối với “Các nguyên tử”.
176. The electron is an elemental life, so when we reach the third column of the third row and read the word “Elementals” we have to wonder about the scope and size of the “Elementals” concerned.
176. Electron là một sự sống hành khí, nên khi chúng ta đến cột thứ ba của hàng thứ ba và đọc từ “Các hành khí”, chúng ta phải tự hỏi về phạm vi và kích thước của các “hành khí” liên hệ.
177. Are the “Elementals” listed here (presumably smaller than the “Elementals” listed under “PLANES”) a “Medium” within which “Electrons” express themselves, or are these “Elementals” lives of even lesser scope than the “Electrons” through which the “Electrons” express themselves. Perhaps both are possible.
177. Những “hành khí” được liệt kê ở đây (có lẽ nhỏ hơn các “hành khí” được liệt kê dưới mục “CÁC CÕI”) có phải là một “Trung gian” trong đó “Các electron” biểu hiện chính chúng, hay những “hành khí” này là những sự sống có phạm vi còn nhỏ hơn “Các electron” mà qua đó “Các electron” biểu hiện chính chúng? Có lẽ cả hai khả năng đều có thể.
178. The “Type of Energy” of the “Electrons” is, of course, “Negative” and the “Nature of Fire” is, predictably, “Fire by Friction”.
178. “Loại Năng lượng” của “Các electron” dĩ nhiên là “Âm” và “Bản chất của Lửa”, theo dự đoán, là “Lửa ma sát”.
179. Analyzing Tabulation VII has been an exacting process and far more is left unanswered than answered. The Tibetan has veiled, or perhaps disclosed to some, certain very subtle relationships. He has shows that analogies presented in this tabulation are not exact though naturally there are striking similarities. When He has presented a term which is at variance with one which we might expect, He has revealed, perhaps, some ways in which the five types of E/entities and the forms through which they express are at variance with one another.
179. Việc phân tích Bảng VII là một tiến trình đòi hỏi sự chính xác cao và còn lại nhiều điều chưa được giải đáp hơn là đã được giải đáp. Chân sư Tây Tạng đã che giấu, hay có lẽ đã tiết lộ cho một số người, những mối liên hệ rất vi tế nào đó. Ngài đã cho thấy rằng những sự tương đồng được trình bày trong bảng này không chính xác tuyệt đối mặc dù dĩ nhiên có những điểm tương tự nổi bật. Khi Ngài đưa ra một thuật ngữ khác với điều chúng ta có thể mong đợi, có lẽ Ngài đã tiết lộ một số cách thức mà năm loại E/thực thể và những hình tướng mà qua đó chúng biểu hiện khác biệt với nhau.
180. Perhaps we have often wondered why analogies and correspondences may not be exact. What is it about the structure of things which correspond which make analogies possible but exact correspondences impossible? I think DK has hinted at structural attributes which make exact correspondences amongst these E/entities impossible.
180. Có lẽ chúng ta thường tự hỏi vì sao những sự tương đồng và tương ứng lại không thể chính xác tuyệt đối. Điều gì trong cấu trúc của những sự vật tương ứng khiến cho sự tương đồng là có thể nhưng những tương ứng chính xác tuyệt đối lại là không thể? Tôi nghĩ Chân sư DK đã gợi ý về những thuộc tính cấu trúc khiến cho những sự tương ứng chính xác tuyệt đối giữa các E/thực thể này là không thể.
181. Obviously, in this analysis we have only scratched the surface of illuminating the nature of these E/entities and their relationship with one another.
181. Hiển nhiên, trong sự phân tích này, chúng ta mới chỉ chạm vào bề mặt của việc soi sáng bản chất của các E/thực thể này và mối liên hệ của chúng với nhau.
[Page 1188] In the tabulation much information is given anent the form building aspects of energy and the Law of Attraction
[Page 1188] Trong bảng này, nhiều thông tin được đưa ra liên quan đến các phương diện kiến tạo hình tướng của năng lượng và Định luật Hấp Dẫn
182. We remember that in this section of the book we are still dealing with the Law of Attraction.
182. Chúng ta nhớ rằng trong phần này của cuốn sách, chúng ta vẫn đang bàn đến Định luật Hấp Dẫn.
as it shows itself in the working of the various groups of the Army of the Voice.
khi nó biểu lộ trong hoạt động của các nhóm khác nhau của Đạo Quân của Âm Thanh.
183. Did we realize as we were studying Tabulation VII that the Army of the Voice was under discussion? I think that it is the information given regarding the last two types of E/entities “PLANES” and “ATOMS” that the greatest amount of information is given on the Army of the Voice.
183. Khi nghiên cứu Bảng VII, liệu chúng ta có nhận ra rằng Đạo Quân của Âm Thanh đang được bàn đến không? Tôi nghĩ rằng chính trong thông tin được đưa ra liên quan đến hai loại E/thực thể cuối cùng là “CÁC CÕI” và “CÁC NGUYÊN TỬ” mà lượng thông tin lớn nhất về Đạo Quân của Âm Thanh được cung cấp.
184. The Tibetan is amazing with regard to the amount of information He can compress in a small space.
184. Chân sư Tây Tạng thật đáng kinh ngạc về lượng thông tin mà Ngài có thể cô đọng trong một không gian nhỏ.
185. The term “Army of the Voice” is, of course, relative. There are Beings in relation to whom the human being can be considered a member of the Army of the Voice. There are still greater Beings in relation to whom even Planetary Logos and Solar Logos may be viewed as tiny devas and, thus, members of a far vaster Army of the Voice.
185. Thuật ngữ “Đạo Quân của Âm Thanh”, dĩ nhiên, có tính tương đối. Có những Đấng mà trong tương quan với Các Ngài, con người có thể được xem là một thành viên của Đạo Quân của Âm Thanh. Lại có những Đấng còn vĩ đại hơn nữa mà trong tương quan với Các Ngài, ngay cả Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế cũng có thể được xem như những thiên thần bé nhỏ và do đó là những thành viên của một Đạo Quân của Âm Thanh bao la hơn rất nhiều.
186. Tabulation VII will be very useful to the occult scientists of the future.
186. Bảng VII sẽ rất hữu ích cho các nhà khoa học huyền bí của tương lai.
It is this Army which is responsible for the attraction which is the medium of bringing together the material required by the free Spirits in order to construct their bodies of manifestation.
Chính Đạo Quân này chịu trách nhiệm về lực hút vốn là môi giới của việc quy tụ chất liệu mà các Tinh thần tự do cần đến để kiến tạo các thể biểu hiện của mình.
187. This is an excellent description of the function of the Army of the Voice and its relation to the Law of Attraction.
187. Đây là một mô tả xuất sắc về chức năng của Đạo Quân của Âm Thanh và mối liên hệ của nó với Định luật Hấp Dẫn.
188. The term “free Spirits” suggests the Monad as the ultimate Creator, commanding the Army of the Voice.
188. Thuật ngữ “Tinh thần tự do” gợi ý chân thần như Đấng Sáng Tạo tối hậu, chỉ huy Đạo Quân của Âm Thanh.
189. It is clear that the “bodies of manifestation” are constructed through the use of sound. It would seem that the vehicles of the spiritual triad and the causal vehicle are both constructed by monadic sound (the latter with the assistance of the Solar Angel).
189. Rõ ràng là các “thể biểu hiện” được kiến tạo thông qua việc sử dụng âm thanh. Có vẻ như các vận cụ của Tam nguyên tinh thần và vận cụ nguyên nhân đều được kiến tạo bởi âm thanh chân thần (vận cụ sau với sự trợ giúp của Thái dương Thiên Thần).
190. Sound and the Voice are factors inducing coherence. (Of course, they can also be destructive, but we are speaking of their magnetic qualities.) We are dealing with the second ray nature of Sound and Voice.
190. Âm thanh và Âm Thanh là những yếu tố tạo ra sự cố kết. (Dĩ nhiên, chúng cũng có thể mang tính hủy diệt, nhưng ở đây chúng ta đang nói về các phẩm tính từ tính của chúng.) Chúng ta đang đề cập đến bản chất cung hai của Âm thanh và Âm Thanh.
The vibration initiated by the Sound, which is the expression of the Law of Synthesis, is succeeded by the Voice or Word,
Rung động được khởi phát bởi Âm Thanh, vốn là biểu hiện của Định luật Tổng Hợp, được tiếp nối bởi Âm Thanh hay Linh từ,
191. The “Sound” (sometimes called the “O”) always precedes the “Word” enunciated by the “Voice” (that Word being the “OM”). We might consider the “O” as a blend of the first and second rays, just as synthesis represents the second aspect of the first ray.
191. “Âm Thanh” (đôi khi được gọi là “O”) luôn luôn đi trước “Linh từ” được phát ra bởi “Âm Thanh” (Linh từ ấy là “OM”). Chúng ta có thể xem “O” như một sự hòa trộn của cung một và cung hai, cũng như tổng hợp biểu hiện phương diện thứ hai của cung một.
192. The “Sound” expresses on the monadic plane (though not necessarily exclusively so). On the monadic plane the “Law of Synthesis” prevails as the rounded “O” suggests. The “A” is reserved of the logoic plane.
192. “Âm Thanh” biểu lộ trên cõi chân thần (dù không nhất thiết chỉ như vậy). Trên cõi chân thần, “Định luật Tổng Hợp” ngự trị như hình tròn của “O” gợi ra. “A” được dành cho cõi logoi.
193. Each of the seven great monadic groupings is expressive of unique sound. That “Sound” is carried into the lower five planes and expresses the will of that monadic grouping which is but an aspect of the Will of the One.
193. Mỗi một trong bảy nhóm chân thần lớn đều biểu lộ một âm thanh độc nhất. “Âm Thanh” ấy được mang xuống năm cõi thấp hơn và biểu lộ ý chí của nhóm chân thần ấy, vốn chỉ là một phương diện của Ý Chí của Đấng Duy Nhất.
and that Word as it progresses outward from the centre to the periphery (for, occultly understood, the Word is "spoken from the Heart") becomes
và Linh từ ấy, khi tiến ra bên ngoài từ trung tâm đến chu vi (vì, được hiểu theo huyền bí học, Linh từ được “nói ra từ Trái Tim”) trở thành
194. The heart is the centre.
194. trái tim là trung tâm.
a. A phrase.
a. Một cụm từ.
b. Phrases.
b. Những cụm từ.
c. Sentences.
c. Những câu.
d. Speech.
d. Lời nói.
e. The myriad sounds of nature.
e. Vô số âm thanh của thiên nhiên.
195. This is the progression from simplicity to complexity. Sentences are composed of phrases and speech of sentences. The myriad sounds of nature are composed of the ‘speech’ of all entities.
195. Đây là sự tiến triển từ đơn giản đến phức tạp. Những câu được cấu thành từ các cụm từ, và lời nói được cấu thành từ các câu. Vô số âm thanh của thiên nhiên được cấu thành từ “lời nói” của mọi thực thể.
196. Another section in A Treatise on Cosmic Fire which deals with these matters specifically can be found in TCF 926-929. A necessary amplification of these ideas exists there.
196. Một phần khác trong Luận về Lửa Vũ Trụ bàn riêng về những vấn đề này có thể được tìm thấy ở TCF 926-929. Ở đó có một sự khai triển cần thiết của các ý tưởng này.
Each of these terms
Mỗi thuật ngữ này
197. A phrase, phrases, sentence, speech, the myriad sounds of nature…
197. Một cụm từ, những cụm từ, câu, lời nói, vô số âm thanh của thiên nhiên…
can be explained in terms of attractive energy,
đều có thể được giải thích theo năng lượng hấp dẫn,
198. Because they depend upon the coherence of their constituents…
198. Bởi vì chúng tùy thuộc vào sự cố kết của các thành phần cấu tạo nên chúng…
and this attractive energy is likewise the demonstration of the life of an Existence of some grade or other.
và năng lượng hấp dẫn này cũng là sự biểu lộ sự sống của một Hiện Hữu ở cấp độ này hay cấp độ khác.
199. Various lives demonstrate through the expression of attractive energy. The capitalization of the term “Existence” tells us that we are dealing with an Entities of great scope—“Gods”.
199. Nhiều sự sống khác nhau biểu lộ qua sự diễn đạt năng lượng hấp dẫn. Việc viết hoa thuật ngữ “Hiện Hữu” cho chúng ta biết rằng chúng ta đang đề cập đến những Thực Thể có tầm mức lớn lao—những “Thượng đế”.
"God speaks and the forms are made."
“Thượng đế phán và các hình tướng được tạo thành.”
200. Through speech the forms of nature arise. God’s Speech produces the coherence of the constituents of which forms are made.
200. Thông qua lời nói, các hình tướng của thiên nhiên phát sinh. Lời Phán của Thượng đế tạo ra sự cố kết của các thành phần cấu thành nên các hình tướng.
This tabulation should form the basis of a complete phase of study along this line and is one of the most basic given in this Treatise.
Bảng này nên tạo thành nền tảng cho một giai đoạn nghiên cứu hoàn chỉnh theo đường hướng này và là một trong những điều căn bản nhất được đưa ra trong Luận thuyết này.
201. The tabulation gives us information regarding a wide span of E/entities—from a Solar Logos to an atom.
201. Bảng này cung cấp cho chúng ta thông tin về một phạm vi rộng lớn các thực thể—từ một Thái dương Thượng đế đến một nguyên tử.
202. We offered many thoughts regarding the tabulation, but this effort only represents the beginning of much more exhaustive study.
202. Chúng tôi đã đưa ra nhiều suy nghĩ liên quan đến bảng này, nhưng nỗ lực ấy chỉ mới là khởi đầu của một sự nghiên cứu đầy đủ hơn nhiều.