← Commentary_S9_1078_1194_song ngữ

S9S12, Part II

Trích nội dung chương

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)


S9S12, Part II

TCF 1188-1194

TCF 1188-1194

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để bảo đảm tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

3. Adaptation of the form to the life.

3. Sự thích ứng của hình tướng với sự sống.

This is the process of gradually providing forms which are due expressions of the indwelling consciousness which is the great purpose of what we call "Mother Nature";

Đây là tiến trình dần dần cung cấp những hình tướng là những biểu hiện thích đáng của tâm thức nội tại, vốn là mục đích lớn lao của điều mà chúng ta gọi là “Mẹ Thiên Nhiên”;

1. This is an important statement giving the purpose of “Mother Nature”. The intimate link between the inner or indwelling consciousness and form must ever be remembered. Every natural form is an expression of that consciousness.

1. Đây là một phát biểu quan trọng nêu ra mục đích của “Mẹ Thiên Nhiên”. Mối liên hệ mật thiết giữa tâm thức bên trong hay nội tại và hình tướng phải luôn luôn được ghi nhớ. Mọi hình tướng tự nhiên đều là một biểu hiện của tâm thức ấy.

this she does, working under the Law of Attraction which we are considering.

điều này bà thực hiện khi hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn mà chúng ta đang xem xét.

2. We now must discover the manner in which the Law of Attraction is responsible for providing the forms which express the indwelling consciousness.

2. Giờ đây chúng ta phải khám phá cách thức mà Định luật Hấp Dẫn chịu trách nhiệm cung cấp những hình tướng biểu lộ tâm thức nội tại.

This law, therefore, governs two aspects of unfoldment, that which concerns the soul or consciousness aspect and that relating to the Spirit on its own plane.

Vì vậy, định luật này chi phối hai phương diện của sự khai mở, phương diện liên quan đến linh hồn hay phương diện tâm thức và phương diện liên quan đến tinh thần trên cõi riêng của nó.

3. This is interesting. We would expect the Law of Attraction to cover the soul or consciousness aspect, but we might expect Spirit [on its own plane] to be governed by the Law of Synthesis. We must remember, however, that the Law of Attraction is the preeminent cosmic law governing this second ray solar system.

3. Điều này thật thú vị. Chúng ta sẽ mong đợi Định luật Hấp Dẫn bao trùm phương diện linh hồn hay tâm thức, nhưng có thể lại mong đợi Tinh thần [trên cõi riêng của nó] được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Định luật Hấp Dẫn là định luật vũ trụ nổi trội chi phối hệ mặt trời cung hai này.

It is the cause of that continuous cycle of form taking,

Nó là nguyên nhân của chu kỳ liên tục ấy của việc mang lấy hình tướng,

4. According to the nature and pattern of the indwelling consciousness, the elements of form are attracted into forms.

4. Theo bản chất và mô hình của tâm thức nội tại, các yếu tố của hình tướng được hút vào trong các hình tướng.

of form utilisation and of form rejection

của việc sử dụng hình tướng và của việc từ bỏ hình tướng

5. This statement reminds us of the Law of Repulse.

5. Phát biểu này nhắc chúng ta nhớ đến Định luật Đẩy Lùi.

6. Three phases are discussed: form creation, form utilisation and form rejection. When the form which has been created is no longer a faithful reflection of the nature and pattern of the indwelling consciousness (which, presumably, has advanced through the process of form utilisation) then the form is rejected so that a new and more adequate form can be created.

6. Ba giai đoạn được bàn đến: tạo dựng hình tướng, sử dụng hình tướng và từ bỏ hình tướng. Khi hình tướng đã được tạo ra không còn là sự phản chiếu trung thực của bản chất và mô hình của tâm thức nội tại nữa (mà giả định là đã tiến bộ qua tiến trình sử dụng hình tướng), thì hình tướng ấy bị từ bỏ để một hình tướng mới và thích đáng hơn có thể được tạo ra.

which characterises the incarnations of every kind and type of living being.

điều vốn đặc trưng cho các lần lâm phàm của mọi loại và mọi kiểu hữu thể sống.

7. We are dealing with a universal law which is involved in creating incarnations of the greatest and smallest entities.

7. Chúng ta đang đề cập đến một định luật phổ quát có liên quan đến việc tạo ra các lần lâm phàm của những thực thể lớn nhất cũng như nhỏ nhất.

The student should here remember that the Existences who are the attractive force in manifestation, the Dhyan Chohans, are seven in number,

Ở đây đạo sinh nên nhớ rằng các Hiện Hữu là lực hấp dẫn trong biểu hiện, các Dhyan Chohan, có số lượng là bảy,

8. It is evident that the term “Dhyan Chohans”, in this context, has many levels of application: they can be “Monadic Wheels”, Kumaras, Planetary Kumaras (or Planetary Logoi), etc.

8. Rõ ràng là thuật ngữ “Dhyan Chohan”, trong ngữ cảnh này, có nhiều cấp độ áp dụng: các Ngài có thể là “Những Bánh Xe Chân Thần”, các Kumara, các Hành Tinh Kumara (hay các Hành Tinh Thượng Đế), v.v.

and that, therefore, the quality of the vehicles which form Their bodies

và do đó, phẩm tính của các vận cụ tạo thành thể của Các Ngài

9. As all forms display quality according to the consciousness of the being who created them…

9. Vì mọi hình tướng đều biểu lộ phẩm tính tùy theo tâm thức của hữu thể đã tạo ra chúng…

will have the sevenfold variation according to the specific nature of the Lords of Life. [Page 1189]

sẽ có sự biến thiên thất phân tùy theo bản chất đặc thù của các Chúa Tể của Sự Sống. [Page 1189]

10. Master DK is speaking in terms of the influence of the universal Septenates of which the Seven Rays are but one example.

10. Chân sư DK đang nói theo ảnh hưởng của các bộ bảy phổ quát mà Bảy Cung chỉ là một ví dụ.

11. What may be that “specific nature” we do not know. We know of many ways to describe the principle qualities and many attributes of all seven rays, but we do not understand the exact occult pattern which distinguishes one from another.

11. “Bản chất đặc thù” ấy có thể là gì thì chúng ta không biết. Chúng ta biết nhiều cách để mô tả các phẩm tính nguyên lý và nhiều thuộc tính của cả bảy cung, nhưng chúng ta không hiểu mô hình huyền bí chính xác phân biệt cung này với cung kia.

The only way to arrive at a realisation of the basic qualities of these planetary Logoi

Cách duy nhất để đi đến sự chứng nghiệm về các phẩm tính căn bản của các Hành Tinh Thượng Đế này

12. Here DK is specific in telling us that the “Dhyan Chohans” under discussion are, indeed, Planetary Logos. But the Solar Angel are Dhyan Chohans and so are the intra-planetary Kumaras. Many great Beings are names “Dhyan Chohans”. The Masters Who have become Chohans are also, at times, called “Dhyan Chohans”.

12. Ở đây DK nói rõ cho chúng ta biết rằng các “Dhyan Chohan” đang được bàn đến quả thực là các Hành Tinh Thượng Đế. Nhưng các Thái dương Thiên Thần là các Dhyan Chohan và các Kumara nội hành tinh cũng vậy. Nhiều Đấng vĩ đại được gọi là “Dhyan Chohan”. Các Chân sư đã trở thành Chohan cũng đôi khi được gọi là “Dhyan Chohan”.

is through a consideration of the energy emanating from Them,

là thông qua việc xem xét năng lượng phát ra từ Các Ngài,

13. We will know Them by the energy which They emanate. We cannot yet know Them as They are.

13. Chúng ta sẽ biết Các Ngài qua năng lượng mà Các Ngài phát ra. Chúng ta chưa thể biết Các Ngài như Các Ngài là.

and it is this which the true esoteric astrology will eventually reveal.

và chính điều này mà Chiêm Tinh Học Nội Môn chân chính cuối cùng sẽ tiết lộ.

14. The nature of the energy emanating from the Planetary Logos is one of the most important revelations of the “true esoteric astrology”. A Treatise on Cosmic Fire was written well before Esoteric Astrology. We realize that in that latter book, the Tibetan went far in the process of revelation He here mentions.

14. Bản chất của năng lượng phát ra từ Hành Tinh Thượng Đế là một trong những mặc khải quan trọng nhất của “Chiêm Tinh Học Nội Môn chân chính”. Luận về Lửa Vũ Trụ được viết sớm hơn rất lâu so với Chiêm Tinh Học Nội Môn. Chúng ta nhận ra rằng trong quyển sách sau, Chân sư Tây Tạng đã tiến rất xa trong tiến trình mặc khải mà Ngài đề cập ở đây.

The time is not yet

Thời điểm ấy vẫn chưa đến

15. In fact, even with all that Master DK has revealed in Esoteric Astrology, He has revealed but little of what could be revealed.

15. Thật ra, ngay cả với tất cả những gì Chân sư DK đã mặc khải trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, Ngài cũng chỉ mặc khải rất ít về điều có thể được mặc khải.

it will come when the scientific consideration of human magnetism, of the distinctions between the seven types of men, and the nature of the Ego is more truly followed.

nó sẽ đến khi việc khảo cứu khoa học về từ điện của con người, về những khác biệt giữa bảy loại người, và về bản chất của chân ngã được theo đuổi chân thực hơn.

16. Three discoveries are involved before esoteric astrology can reveal more fully the nature of the emanations from the Planetary Logoi:

16. Có ba khám phá liên quan trước khi chiêm tinh học nội môn có thể mặc khải đầy đủ hơn bản chất của các phát xạ từ các Hành Tinh Thượng Đế:

a. A scientific consideration of human magnetism.

a. Một sự khảo cứu khoa học về từ điện của con người.

b. Realization of the distinction between the seven types of men. (We can see the importance of the careful study of the Science of the Seven Rays.)

b. Chứng nghiệm về sự khác biệt giữa bảy loại người. (Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu cẩn trọng Khoa Học về Bảy Cung.)

c. Understanding of the true nature of the Ego.

c. Thấu hiểu bản chất chân thực của chân ngã.

17. It may be that several centuries will be needed to fulfill these requirements.

17. Có thể sẽ cần đến vài thế kỷ để đáp ứng những yêu cầu này.

Then will be revealed the nature of planetary magnetism and the quality of any specific planetary soul as it is known through the aggregated nature of the men, responsive to and exponents of any particular planetary Ray.

Khi ấy sẽ được tiết lộ bản chất của từ điện hành tinh và phẩm tính của bất kỳ linh hồn hành tinh đặc thù nào như nó được biết đến qua bản chất tổng hợp của những người nam và nữ, những người đáp ứng với và là những kẻ biểu lộ bất kỳ cung hành tinh đặc thù nào.

18. This, then, is the revelation which will come when the three requirements are fulfilled.

18. Vậy thì đây là sự mặc khải sẽ đến khi ba yêu cầu được hoàn tất.

19. DK speaks of the quality of any specific planetary soul, but not of the ‘Planetary Monad’. It does seem correct that the soul ray of a Planetary Logos would be the one to which the souls of men would most respond at this time. The revelation of the nature of the Monad for non-sacred Planetary Logoi such as the Planetary Logos of the Earth-scheme would be premature.

19. DK nói về phẩm tính của bất kỳ linh hồn hành tinh đặc thù nào, nhưng không nói về ‘Chân Thần Hành Tinh’. Có vẻ đúng rằng cung linh hồn của một Hành Tinh Thượng Đế sẽ là cung mà các linh hồn của con người đáp ứng nhiều nhất vào lúc này. Sự mặc khải về bản chất của chân thần đối với các Hành Tinh Thượng Đế không thiêng liêng như Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh Trái Đất sẽ là quá sớm.

20. Apparently we shall have to study not only individuals, but groups of men— seven large groups and the way they respond to the seven rays as expressed on Earth, even though the sources of these rays are in most instances Planetary Logoi other than our Planetary Logos.

20. Hiển nhiên chúng ta sẽ phải nghiên cứu không chỉ các cá nhân, mà còn cả những nhóm người— bảy nhóm lớn và cách họ đáp ứng với bảy cung như được biểu lộ trên Trái Đất, dù nguồn gốc của các cung này trong phần lớn trường hợp là các Hành Tinh Thượng Đế khác với Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

The mystery is increased by the fact that there are not only certain logoic qualities manifesting which are not included by the term "sacred," but that there are numerous other aspects of what we might term "secondary centres of fire," generated and making their presence felt.

Bí ẩn gia tăng bởi sự kiện rằng không chỉ có một số phẩm tính logoi đang biểu lộ mà không được bao hàm trong thuật ngữ “thiêng liêng”, mà còn có nhiều phương diện khác của điều mà chúng ta có thể gọi là “các trung tâm lửa thứ cấp”, được tạo ra và làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận.

21. DK let us know that understanding the nature of the quality of any specific planetary soul will not be an entirely straightforward matter as so much must be taken into consideration.

21. DK cho chúng ta biết rằng việc hiểu bản chất của phẩm tính của bất kỳ linh hồn hành tinh đặc thù nào sẽ không phải là một vấn đề hoàn toàn trực tiếp vì có quá nhiều điều phải được xem xét.

22. We have also to consider non-sacred qualities (presumably the qualities of the personality and personality vehicles of the Planetary Logos under consideration).

22. Chúng ta cũng phải xem xét các phẩm tính không thiêng liêng (có lẽ là các phẩm tính của phàm ngã và các vận cụ phàm ngã của Hành Tinh Thượng Đế đang được xét).

23. As for the “secondary centres of fire” they may be operative but vestigial—in process of being outlived—more active in a previous incarnation of our Planetary Logos but less active now, though still influential.

23. Còn về “các trung tâm lửa thứ cấp”, chúng có thể đang hoạt động nhưng chỉ là tàn dư—đang trong tiến trình bị vượt qua—tích cực hơn trong một lần lâm phàm trước đây của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta nhưng nay kém hoạt động hơn, dù vẫn còn ảnh hưởng.

We have a correspondence to this in the fact that there are centres of energy in man which are not purely etheric centres but are the product of the interaction of the etheric centres and certain forms of negative energy of the lowest kind.

Chúng ta có một sự tương ứng với điều này trong sự kiện rằng có những trung tâm năng lượng trong con người không thuần túy là các trung tâm dĩ thái mà là sản phẩm của sự tương tác giữa các trung tâm dĩ thái và một số dạng năng lượng âm thuộc loại thấp nhất.

24. This is most interesting. It could be that Master DK is referring to certain organs of the body and perhaps the endocrine glands. We will see.

24. Điều này rất thú vị. Có thể Chân sư DK đang nói đến một số cơ quan của cơ thể và có lẽ cả các tuyến nội tiết. Chúng ta sẽ thấy.

Such, for instance, is the heart.

Chẳng hạn như tim.

25. We see that important organs are definitely included.

25. Chúng ta thấy rằng các cơ quan quan trọng chắc chắn được bao gồm.

There is the heart centre, one of the major centers on the etheric planes, but there is also the physical heart which is an energy generator also;

Có trung tâm tim, một trong những trung tâm chính trên các cõi dĩ thái, nhưng cũng có trái tim hồng trần, vốn cũng là một bộ phát sinh năng lượng;

26. It is very interesting to think of the heart as a “product of the interaction of the etheric centres and certain forms of negative energy of the lowest kind”. Presumably, the Tibetan means the energy of matter denser than etheric matter.

26. Thật rất thú vị khi nghĩ về trái tim như một “sản phẩm của sự tương tác giữa các trung tâm dĩ thái và một số dạng năng lượng âm thuộc loại thấp nhất”. Có lẽ Chân sư Tây Tạng muốn nói đến năng lượng của vật chất đậm đặc hơn vật chất dĩ thái.

there are the lower organs of generation which are equally a reflex product

có các cơ quan sinh sản thấp hơn, vốn cũng là một sản phẩm phản chiếu

27. A reflex product. The reflexive or reflective product of the sacral center?

27. Một sản phẩm phản chiếu. Sản phẩm phản chiếu hay phản xạ của trung tâm xương cùng chăng?

with an energy which is the resultant of the higher vibrations yet which has a quality all its own.

với một năng lượng là kết quả của các rung động cao hơn nhưng lại có một phẩm tính hoàn toàn riêng của nó.

28. DK is telling us that the sacral center has a quality which is distinct from that of the physical organs of generation. By calling the sex organs the “organs of generation” He is letting us know their specific function—the function for which they were intended. [Vsk: And this is curious about the “reflex product”, a sum of two or more elements but its own unique quality.

28. DK đang cho chúng ta biết rằng trung tâm xương cùng có một phẩm tính khác biệt với phẩm tính của các cơ quan sinh sản hồng trần. Khi gọi các cơ quan tính dục là “các cơ quan sinh sản”, Ngài cho chúng ta biết chức năng đặc thù của chúng—chức năng mà chúng được dự định để thực hiện. [Vsk: Và điều này thật lạ về “sản phẩm phản chiếu”, một tổng của hai hay nhiều yếu tố nhưng lại có phẩm tính độc đáo riêng của nó.

This has its correspondence in the solar system.

Điều này có sự tương ứng của nó trong hệ mặt trời.

29. Again we have a most interesting statement which accords with the Law of Analogy.

29. Một lần nữa chúng ta có một phát biểu rất thú vị phù hợp với định luật tương đồng.

Many are the lesser planets

Có rất nhiều hành tinh nhỏ hơn

30. Presumably, many of these are beyond the orbit of Pluto, but researchers have identified some lesser planets of an etheric nature within the customary boundaries of our solar system.

30. Có lẽ nhiều hành tinh trong số này nằm ngoài quỹ đạo của Sao Diêm Vương, nhưng các nhà nghiên cứu đã nhận diện một số hành tinh nhỏ hơn có bản chất dĩ thái bên trong những ranh giới thông thường của hệ mặt trời chúng ta.

and numerous are the planetoids which have an energy or attractive quality all their own and which, from the systemic standpoint, must be allowed for in the measuring of the attraction producing the forms of or upon any particular planet.

và rất nhiều tiểu hành tinh vốn có một năng lượng hay phẩm tính hấp dẫn hoàn toàn riêng của chúng và từ quan điểm hệ thống, phải được tính đến trong việc đo lường lực hút tạo ra các hình tướng của hay trên bất kỳ hành tinh đặc thù nào.

31. Are these planetoids considered to have a physical function as have the heart and organs of general in comparison to the heart center and sacral center respectively?

31. Những tiểu hành tinh này có được xem là có một chức năng hồng trần như tim và các cơ quan sinh sản so với trung tâm tim và trung tâm xương cùng tương ứng hay không?

32. Or is DK simply telling us that when we try to gauge the nature of forms upon any planet, largely through astrology, we will have to take the many lesser planets and the planetoids into consideration?

32. Hay DK chỉ đơn giản cho chúng ta biết rằng khi chúng ta cố gắng đánh giá bản chất của các hình tướng trên bất kỳ hành tinh nào, phần lớn thông qua chiêm tinh học, chúng ta sẽ phải tính đến nhiều hành tinh nhỏ hơn và các tiểu hành tinh?

As we know from a study of the Secret Doctrine, certain of the planetary Logoi are pure and passionless

Như chúng ta biết từ việc nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm, một số Hành Tinh Thượng Đế thì thanh khiết và vô dục

33. Among these our Planetary Logos is not yet to be found.

33. Trong số này, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta chưa được tìm thấy.

whilst others are still under the domination of desire and [Page 1190] of passion.28 [S. D. I., 214, 449; II, 223]

trong khi những vị khác vẫn còn dưới sự thống trị của dục vọng và [Page 1190] của đam mê.28 [S. D. I., 214, 449; II, 223]

34. Among such the Planetary Logos of Earth is to be found along with the other non-sacred Planetary Logoi, and including, it would seem, the lesser Logoi of the many lesser planets and the planetoids.

34. Trong số đó có Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất cùng với các Hành Tinh Thượng Đế không thiêng liêng khác, và dường như còn bao gồm cả các Logoi nhỏ hơn của nhiều hành tinh nhỏ hơn và các tiểu hành tinh.

This quality of Theirs necessarily attracts to Them that which They need for the due expression of Their life in any scheme, and controls the nature of those egoic groups who are (for Them) generating force centres.

Phẩm tính này của Các Ngài tất yếu hút về phía Các Ngài điều mà Các Ngài cần để biểu lộ thích đáng sự sống của Các Ngài trong bất kỳ hệ hành tinh nào, và kiểm soát bản chất của những nhóm chân ngã đang (đối với Các Ngài) tạo ra các trung tâm lực.

35. So all these lesser Logoi operate under the power of attraction and build forms within the vehicle of expression which are faithful expressions of the nature and pattern of their consciousnesses.

35. Vì vậy tất cả các Logoi nhỏ hơn này hoạt động dưới quyền năng của lực hút và xây dựng các hình tướng bên trong vận cụ biểu hiện, là những biểu hiện trung thực của bản chất và mô hình của các tâm thức của các Ngài.

36. We remember from Tabulation VII that the causal body of the Planetary Logoi are associated with “Egoic Groups” as “Medium”, within which or through which these Logoi express.

36. Chúng ta nhớ từ Bảng VII rằng thể nguyên nhân của các Hành Tinh Thượng Đế được liên kết với “Các Nhóm Chân Ngã” như “Môi giới”, bên trong đó hay thông qua đó các Logoi này biểu lộ.

Hence the nature of men upon earth.

Do đó mới có bản chất của con người trên Trái Đất.

37. This probably means that we are all affected not only by the planets with which we are familiar, but the many lesser planets and the planetoids.

37. Điều này có lẽ có nghĩa là tất cả chúng ta đều bị ảnh hưởng không chỉ bởi các hành tinh mà chúng ta quen thuộc, mà còn bởi nhiều hành tinh nhỏ hơn và các tiểu hành tinh.

All human beings are paramountly governed by certain planetary attractions, impressions or influences which might be enumerated in the order of their importance.

Mọi con người đều chủ yếu bị chi phối bởi một số lực hút, ấn tượng hay ảnh hưởng hành tinh nhất định, có thể được liệt kê theo thứ tự quan trọng của chúng.

38. Here, Master DK is laying out important information for the Science of Esoteric Astrology which He will later develop in the book Esoteric Astrology.

38. Ở đây, Chân sư DK đang trình bày thông tin quan trọng cho Khoa Học Chiêm Tinh Học Nội Môn mà về sau Ngài sẽ phát triển trong quyển Chiêm Tinh Học Nội Môn.

There is, first of all, the attractive pull of the Life of the planetary Logos of this particular planet. This is necessarily the strongest and is one of the basic factors which have settled the lines the human form has taken upon this planet.

Trước hết là lực hút của Sự sống của Hành Tinh Thượng Đế của chính hành tinh này. Điều này tất yếu là mạnh nhất và là một trong những yếu tố căn bản đã định hình các đường nét mà hình tướng con người đã mang lấy trên hành tinh này.

39. And yet, in the ordinary horoscope, the Earth is given small attention. Its effects are so omnipresent that it is overlooked. Even placing it in its heliocentric position is insufficient because, in fact, it is central to the entire astrological chart. Vsk: DK’s implication further is that of the definite construction of the human body being dictated by the attractive pull of Earth.

39. Tuy nhiên, trong lá số chiêm tinh thông thường, Trái Đất lại ít được chú ý. Các tác động của nó quá hiện diện khắp nơi nên bị bỏ qua. Ngay cả việc đặt nó vào vị trí nhật tâm của nó cũng không đủ bởi vì thật ra nó ở trung tâm của toàn bộ biểu đồ chiêm tinh. Vsk: Hàm ý xa hơn của DK là sự kiến tạo xác định của thể người bị quy định bởi lực hút của Trái Đất.

There are human beings, or exponents of self-consciousness on other planets, but the forms they utilise are not the same as ours.

Có những con người, hay những kẻ biểu lộ ngã thức trên các hành tinh khác, nhưng các hình tướng mà họ sử dụng không giống như của chúng ta.

40. The mystery of the nature of their forms will slowly be revealed and is presently the focus of much fanciful use of the creative imagination.

40. Bí ẩn về bản chất các hình tướng của họ sẽ dần dần được tiết lộ và hiện nay là trọng tâm của nhiều sự sử dụng đầy tưởng tượng của sự tưởng tượng sáng tạo.

41. We note that DK is giving us the order of the influences affecting man and all forms on our planet.

41. Chúng ta lưu ý rằng DK đang cho chúng ta biết thứ tự của các ảnh hưởng tác động lên con người và mọi hình tướng trên hành tinh chúng ta.

There is next, the attractive pull of the planetary Logos Who is the complementary Life to that of our Logos.

Tiếp theo là lực hút của Hành Tinh Thượng Đế là Sự sống bổ sung cho Sự sống của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta.

42. DK is using the word “complementary” and not “polar opposite”. This must be noted; they are not the same.

42. DK dùng từ “bổ sung” chứ không phải “đối cực phân cực”. Điều này phải được lưu ý; chúng không giống nhau.

This involves a planetary Logos responsive to a vibration which harmonises with that of our Logos

Điều này bao hàm một Hành Tinh Thượng Đế đáp ứng với một rung động hài hòa với rung động của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta

43. Only certain intervals of music will be allowed. The third is harmonious (whether the minor third or the major). The fourth may be considered harmonious. We should not go beyond the perfect fifth.

43. Chỉ một số quãng nhạc nhất định mới được chấp nhận. Quãng ba là hài hòa (dù là quãng ba thứ hay quãng ba trưởng). Quãng bốn có thể được xem là hài hòa. Chúng ta không nên vượt quá quãng năm đúng.

44. The vibration may be a greater ray vibration to which that particular Planetary Logos responds and which it expresses. Rays are Entities are of a higher order than the Planetary Logoi.

44. Rung động ấy có thể là một rung động cung lớn hơn mà Hành Tinh Thượng Đế đặc thù ấy đáp ứng và biểu lộ. Các cung là những Thực Thể thuộc một trật tự cao hơn các Hành Tinh Thượng Đế.

but Who, when in union with Him, forms what might be called "the Third" or His dominant, as the case may be.

nhưng Đấng ấy, khi hiệp nhất với Ngài, tạo thành điều có thể được gọi là “quãng ba” hay quãng át chủ của Ngài, tùy trường hợp.

45. The “third” is not the same as a “dominant”, so there is much concealed in this sentence. All depends upon the note of music assigned to the Earth.

45. “Quãng ba” không giống như “quãng át chủ”, vì vậy có nhiều điều được che giấu trong câu này. Tất cả tùy thuộc vào nốt nhạc được gán cho Trái Đất.

46. Usually Mars or Mercury are considered possible “complementary” Planetary Logoi to our Planetary Logos. Mars is usually associated with the note “C” and Mercury with the note “E”, which in the usual C major scale is the major third.

46. Thông thường Sao Hỏa hay Sao Thủy được xem là những Hành Tinh Thượng Đế “bổ sung” khả dĩ đối với Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Sao Hỏa thường được liên kết với nốt “C” và Sao Thủy với nốt “E”, mà trong gam Đô trưởng thông thường là quãng ba trưởng.

47. Much depends upon whether we consider the note of the Planetary Logos of Earth to accord with His personality ray (the third) or His soul ray (the second). The personality ray is the third ray and correlates with the note FA or “F”. The note of Mercury (“E”) would not be in harmony with that “F”, but the note of Mars, “C” would form a fifth or dominant.

47. Nhiều điều tùy thuộc vào việc chúng ta có xem nốt của Hành Tinh Thượng Đế Trái Đất phù hợp với cung phàm ngã của Ngài (cung ba) hay cung linh hồn của Ngài (cung hai) hay không. Cung phàm ngã là cung ba và tương ứng với nốt FA hay “F”. Nốt của Sao Thủy (“E”) sẽ không hài hòa với “F” ấy, nhưng nốt của Sao Hỏa, “C”, sẽ tạo thành một quãng năm hay quãng át chủ.

48. Hidden in the words “as the case may be” may refer to whether we are beginning with the personality or soul ray of our Planetary Logos.

48. Điều được ẩn giấu trong các từ “tùy trường hợp” có thể liên quan đến việc chúng ta bắt đầu từ cung phàm ngã hay cung linh hồn của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta.

49. From another perspective, however, there is no reason why the Logos of Mars, Who is less developed than the Logos of Earth, should exercise the function of “dominant” (the fifth). The fifth of Mars, from one perspective, is also related as a fourth or subtone. From the note “C” (Mars) to “F” (the personality ray of Earth) the interval is the fourth.

49. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, không có lý do gì để Hành Tinh Thượng Đế của Sao Hỏa, Đấng kém phát triển hơn Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất, lại thực hiện chức năng của “quãng át chủ” (quãng năm). Quãng năm của Sao Hỏa, từ một góc nhìn, cũng liên hệ như một quãng bốn hay hạ âm. Từ nốt “C” (Sao Hỏa) đến “F” (cung phàm ngã của Trái Đất), quãng là quãng bốn.

50. When dealing with the soul ray of Earth, it is the second ray, and can perhaps be correlated with the second ray note “G” (a note assigned in one reference to the seventh ray and not the second). But this assignment of “G” is based upon a scale starting on the note “A”, from which “G” is the seventh step.

50. Khi đề cập đến cung linh hồn của Trái Đất, đó là cung hai, và có lẽ có thể được tương ứng với nốt cung hai là “G” (một nốt được gán trong một tài liệu cho cung bảy chứ không phải cung hai). Nhưng sự gán “G” này dựa trên một gam bắt đầu từ nốt “A”, từ đó “G” là bậc thứ bảy.

51. The note of Mercury, a sacred planet, remains for the moment a steady “E”, the note correlated with the fourth ray. The “F” of the personality of the Planetary Logos of Earth is only a minor second from “E” and this is an ‘inharmonious’ interval. However, the note “G”, which we can correlate with the second ray soul of the Planetary Logos of Earth is a minor third from Mercury (suggesting a relationship based on the previous solar system) and also Mercury is a major sixth from the soul note from Earth. The minor third and the major sixth are both harmonious intervals.

51. Nốt của Sao Thủy, một hành tinh thiêng liêng, hiện vẫn là một “E” ổn định, nốt tương ứng với cung bốn. “F” của phàm ngã của Hành Tinh Thượng Đế Trái Đất chỉ là một quãng hai thứ so với “E” và đây là một quãng ‘bất hòa’. Tuy nhiên, nốt “G”, mà chúng ta có thể tương ứng với linh hồn cung hai của Hành Tinh Thượng Đế Trái Đất, là một quãng ba thứ so với Sao Thủy (gợi ý một mối liên hệ dựa trên hệ mặt trời trước) và đồng thời Sao Thủy cũng là một quãng sáu trưởng so với nốt linh hồn của Trái Đất. Quãng ba thứ và quãng sáu trưởng đều là những quãng hài hòa.

52. This approach suggests that it is possible to consider complementary planets in terms the relationship between personality rays, between the personality ray of the lesser and the soul ray of the greater, or in terms of soul rays.

52. Cách tiếp cận này gợi ý rằng có thể xem xét các hành tinh bổ sung theo mối quan hệ giữa các cung phàm ngã, giữa cung phàm ngã của hành tinh thấp hơn và cung linh hồn của hành tinh cao hơn, hoặc theo các cung linh hồn.

53. Perhaps a little tabulation will clarify the possibilities:

53. Có lẽ một bảng nhỏ sẽ làm sáng tỏ các khả năng:

Rays

Các cung

Earth

Trái Đất

Mars

Sao Hỏa

Mercury

Sao Thủy

Personality ray

Cung phàm ngã

R3 - F

R3 - F

R6 - C

R6 - C

R3 -F

R3 -F

Soul ray

Cung linh hồn

R2 - G

R2 - G

R1? – C or D

R1? – C or D

R4 - E

R4 - E

54. We can discern the following possible relationships, though it must be noticed that the R1 soul for Mars is inferred just as is the R3 personality for Mercury. There are good reasons, however, for the inferences.

54. Chúng ta có thể phân biện các mối quan hệ khả dĩ sau đây, dù cần lưu ý rằng linh hồn R1 của Sao Hỏa được suy ra cũng như phàm ngã R3 của Sao Thủy. Tuy nhiên, có những lý do xác đáng cho các suy luận ấy.

55. Interval Relationships:

55. Các mối quan hệ quãng:

a. From Earth to Mars according to personality rays – a perfect fifth with Mars as the dominant

a. Từ Trái Đất đến Sao Hỏa theo các cung phàm ngã – một quãng năm đúng với Sao Hỏa là quãng át chủ

b. From Mars to Earth according to personality rays – a perfect fourth

b. Từ Sao Hỏa đến Trái Đất theo các cung phàm ngã – một quãng bốn đúng

c. From Earth to Mercury according to personality rays – a unison not producing harmony.

c. Từ Trái Đất đến Sao Thủy theo các cung phàm ngã – một đồng âm không tạo ra hòa âm.

d. From Mercury to Earth according to personality rays – same

d. Từ Sao Thủy đến Trái Đất theo các cung phàm ngã – cũng vậy

e. From the personality ray note of Earth to the soul ray note of Mars – either a perfect fifth (if the first ray note is considered C; or a major sixth if the first ray note is considered a D).

e. Từ nốt cung phàm ngã của Trái Đất đến nốt cung linh hồn của Sao Hỏa – hoặc là một quãng năm đúng (nếu nốt cung một được xem là C; hoặc là một quãng sáu trưởng nếu nốt cung một được xem là D).

f. From the soul ray note of Mars to the personality ray note of Earth – either a perfect fourth of the soul ray note of mars is considered a C; or a minor third if the soul ray note of Mars is considered a D.

f. Từ nốt cung linh hồn của Sao Hỏa đến nốt cung phàm ngã của Trái Đất – hoặc là một quãng bốn đúng nếu nốt cung linh hồn của Sao Hỏa được xem là C; hoặc là một quãng ba thứ nếu nốt cung linh hồn của Sao Hỏa được xem là D.

g. From the personality ray note of Earth to the soul ray note of Mercury – a major seventh—a highly inharmonious interval

g. Từ nốt cung phàm ngã của Trái Đất đến nốt cung linh hồn của Sao Thủy – một quãng bảy trưởng—một quãng cực kỳ bất hòa

h. From the soul ray note of Mercury to the personality ray note of Earth – a minor second, also a highly inharmonious interval.

h. Từ nốt cung linh hồn của Sao Thủy đến nốt cung phàm ngã của Trái Đất – một quãng hai thứ, cũng là một quãng cực kỳ bất hòa.

i. From the soul ray note of Earth to the soul ray note of Mars – either a perfect fourth is the soul ray note of Mars is considered to be C; or a perfect fifth if the soul ray note of Mars is considered to be a D.

i. Từ nốt cung linh hồn của Trái Đất đến nốt cung linh hồn của Sao Hỏa – hoặc là một quãng bốn đúng nếu nốt cung linh hồn của Sao Hỏa được xem là C; hoặc là một quãng năm đúng nếu nốt cung linh hồn của Sao Hỏa được xem là D.

j. From the soul ray note of Mars to the soul ray note of Earth – either a perfect fifth of the soul ray note of Mars is considered to be a C; or a perfect fourth if the soul ray note of Mars is considered to be a D. (The problem with choosing a C or D for Mars involves the fact that the note “C” is traditionally the “red note” correlating with the first ray esoterically.

j. Từ nốt cung linh hồn của Sao Hỏa đến nốt cung linh hồn của Trái Đất – hoặc là một quãng năm đúng nếu nốt cung linh hồn của Sao Hỏa được xem là C; hoặc là một quãng bốn đúng nếu nốt cung linh hồn của Sao Hỏa được xem là D. (Vấn đề khi chọn C hay D cho Sao Hỏa liên quan đến sự kiện rằng nốt “C” theo truyền thống là “nốt đỏ” tương ứng với cung một theo huyền bí học.

k. From the soul ray note of Earth to the soul ray note of Mercury – a major sixth, a harmonious interval.

k. Từ nốt cung linh hồn của Trái Đất đến nốt cung linh hồn của Sao Thủy – một quãng sáu trưởng, một quãng hài hòa.

l. From the soul ray note of Mercury to the soul ray note of Earth, a minor third – also a harmonious interval.

l. Từ nốt cung linh hồn của Sao Thủy đến nốt cung linh hồn của Trái Đất, một quãng ba thứ – cũng là một quãng hài hòa.

56. Within all the above there are many possibilities of relationship, and DK is definitely making a veiled reference. The musical language of planetary relationships is not being fully revealed, however certain hints are being given and can be elaborated, as has been the attempt above.

56. Trong tất cả những điều trên có rất nhiều khả năng về mối quan hệ, và DK rõ ràng đang đưa ra một ám chỉ che giấu. Ngôn ngữ âm nhạc của các mối quan hệ hành tinh không được tiết lộ đầy đủ, tuy nhiên một số gợi ý đang được đưa ra và có thể được khai triển, như đã được thử thực hiện ở trên.

It is not possible to reveal whether the blending of the note

Không thể tiết lộ liệu sự hòa trộn của nốt

57. Between Earth and its complementary planet…(whichever of the two it might be)…

57. Giữa Trái Đất và hành tinh bổ sung của nó…(dù đó là hành tinh nào trong hai hành tinh ấy)…

58. It is not possible to consider Saturn as the planet complementary to Earth, because Saturn is definitely in a higher category. Not only it Saturn a sacred planet but also a synthesizing planet. Yet, Saturn will eventually absorb the Earth at the time of solar systemic synthesis.

58. Không thể xem Sao Thổ là hành tinh bổ sung cho Trái Đất, bởi vì Sao Thổ rõ ràng thuộc một phạm trù cao hơn. Không những Sao Thổ là một hành tinh thiêng liêng mà còn là một hành tinh tổng hợp. Tuy nhiên, cuối cùng Sao Thổ sẽ hấp thu Trái Đất vào thời điểm tổng hợp hệ mặt trời.

will mean that our scheme will absorb that which expresses the note of another scheme, or vice versa.

sẽ có nghĩa là hệ hành tinh của chúng ta sẽ hấp thu điều biểu lộ nốt của một hệ hành tinh khác, hay ngược lại.

59. The blending of the personality notes of Earth and Mars yields a perfect fifth, which is a soul relationship, in which case, it is possible that one day Earth may become what is called the “alter ego” of Mars.

59. Sự hòa trộn của các nốt phàm ngã của Trái Đất và Sao Hỏa tạo ra một quãng năm đúng, vốn là một mối quan hệ linh hồn; trong trường hợp ấy, có thể một ngày nào đó Trái Đất sẽ trở thành điều được gọi là “đối phần” của Sao Hỏa.

60. I have speculated earlier that Earth may well absorb Mars just as Venus (the alter ego of Earth) may well absorb Earth.

60. Trước đây tôi đã suy đoán rằng Trái Đất rất có thể sẽ hấp thu Sao Hỏa, cũng như Sao Kim (đối phần của Trái Đất) rất có thể sẽ hấp thu Trái Đất.

61. We can be sure that Mars, of lesser development than Earth, will not absorb the subtle principles of Earth at the time of systemic synthesis.

61. Chúng ta có thể chắc chắn rằng Sao Hỏa, kém phát triển hơn Trái Đất, sẽ không hấp thu các nguyên khí vi tế của Trái Đất vào thời điểm tổng hợp hệ thống.

62. There are many reasons to consider Mars as the complement of Earth and Venus as its polar opposite, but there is at least one reference which points to Mercury as an equilibrising, complementary force relating Earth and Venus.

62. Có nhiều lý do để xem Sao Hỏa là phần bổ sung của Trái Đất và Sao Kim là đối cực phân cực của nó, nhưng có ít nhất một tham chiếu chỉ ra Sao Thủy như một lực quân bình, bổ sung, liên hệ Trái Đất và Sao Kim.

63. Should both Mars and Earth manage to express their soul rays in this solar system (and it will certainly happen for Earth), then again a perfect fifth is possible. The G or Earth can related to either the C or D or Mars as a perfect fifth. If Mars relates to C, then Mars forms the base note of the perfect fifth with Earth’s G. If Mars relates to first ray D, then Earth’s G will be the base note and Mars on D will sound ‘above’ the G to create, again, another, yet perfect fifth.

63. Nếu cả Sao Hỏa và Trái Đất đều có thể biểu lộ các cung linh hồn của mình trong hệ mặt trời này (và điều đó chắc chắn sẽ xảy ra đối với Trái Đất), thì một lần nữa một quãng năm đúng là có thể. Nốt G của Trái Đất có thể liên hệ với C hoặc D của Sao Hỏa như một quãng năm đúng. Nếu Sao Hỏa liên hệ với C, thì Sao Hỏa tạo thành nốt nền của quãng năm đúng với G của Trái Đất. Nếu Sao Hỏa liên hệ với D cung một, thì G của Trái Đất sẽ là nốt nền và D của Sao Hỏa sẽ vang lên ‘ở trên’ G để lại tạo thành một quãng năm đúng khác.

64. The thought that Earth will absorb Mars is already hinted by the presence of so many Martian Egos or Monads within the planetary scheme of Earth.

64. Ý tưởng rằng Trái Đất sẽ hấp thu Sao Hỏa đã được gợi ý bởi sự hiện diện của rất nhiều Chân ngã hay chân thần của Sao Hỏa bên trong hệ hành tinh của Trái Đất.

65. I think we will soon discover how many important hints Master DK is given in relation to musical relations between complementary planets and those which are polar opposites of each other.

65. Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ sớm khám phá ra có bao nhiêu gợi ý quan trọng được ban cho Chân sư DK liên hệ đến các tương quan âm nhạc giữa những hành tinh bổ sung cho nhau và những hành tinh là các cực đối nghịch của nhau.

It means that somewhere in the solar system is a planetary scheme of some kind (not necessarily one of the seven or of the ten) which has an interplay with ours and which, therefore, inevitably affects the egoic groups.

Điều đó có nghĩa là ở đâu đó trong hệ mặt trời có một hệ hành tinh nào đó (không nhất thiết là một trong bảy hay một trong mười) có sự tương tác với hệ của chúng ta và vì vậy tất yếu ảnh hưởng đến các nhóm chân ngã.

66. The first thing we should notice is that all planetary schemes interplay with each other and thus affect each other. DK however is pointing to a specific planetary scheme.

66. Điều đầu tiên chúng ta nên lưu ý là mọi hệ hành tinh đều tương tác với nhau và do đó ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, DK đang chỉ đến một hệ hành tinh đặc biệt.

67. The hint here is tantalizing. Is the planetary scheme of which He is speaking really not yet discovered or not one of the conventional ten including Vulcan. We must remember that at the time this book was written, Pluto had not yet been discovered.

67. Gợi ý ở đây thật khêu gợi. Có phải hệ hành tinh mà Ngài đang nói đến thực sự chưa được khám phá, hay không phải là một trong mười hành tinh thông thường kể cả Vulcan? Chúng ta phải nhớ rằng vào thời điểm cuốn sách này được viết, Sao Diêm Vương vẫn chưa được khám phá.

68. I think He is still speaking of the planet which is complementary to the Earth. It would be hard to conceive of Earth’s complement as not one of the seven or ten. Could He possibly be inserting this thought to throw a veil over the possibility that the complementary planet of the Earth is one very close to Earth and also one of the ten?

68. Tôi nghĩ rằng Ngài vẫn đang nói về hành tinh bổ sung cho Trái Đất. Thật khó hình dung đối phần bổ sung của Trái Đất lại không phải là một trong bảy hay một trong mười. Có thể nào Ngài đưa vào ý tưởng này để che phủ khả năng rằng hành tinh bổ sung của Trái Đất là một hành tinh rất gần Trái Đất và cũng là một trong mười hành tinh ấy chăng?

69. Or could a planet veiled by the Moon or Sun fulfill this function. We will have to wait until more discoveries are made before we know whether the planet complementary to Earth could be an etheric planet—like “Rex”, for instance.

69. Hoặc liệu một hành tinh được Mặt Trăng hay Mặt Trời che phủ có thể đảm nhiệm chức năng này chăng? Chúng ta sẽ phải chờ cho đến khi có thêm nhiều khám phá trước khi biết được liệu hành tinh bổ sung cho Trái Đất có thể là một hành tinh dĩ thái—chẳng hạn như “Rex”—hay không.

70. If I were to make an estimate at this point, I would say that Mars stands a very good chance of being the complementary planet and Mercury a complementary equilibrizing planet in certain relationships between Earth and Venus.

70. Nếu vào lúc này tôi phải đưa ra một ước đoán, tôi sẽ nói rằng Sao Hỏa có rất nhiều khả năng là hành tinh bổ sung, còn Sao Thủy là một hành tinh bổ sung có tính quân bình hóa trong một số tương quan nhất định giữa Trái Đất và Sao Kim.

We must note also the fact that—in connection with the expression of a Heavenly Man—. the egoic groups are energy centres and make His dense physical body eventually an accomplished fact

Chúng ta cũng phải lưu ý sự kiện rằng—liên hệ với sự biểu lộ của một Đấng Thiên Nhân—. các nhóm chân ngã là những trung tâm năng lượng và cuối cùng làm cho thể xác đậm đặc của Ngài trở thành một sự kiện hoàn tất

71. This is because the egoic groups are found upon the cosmic ethers which are responsible for precipitating the dense physical form.

71. Điều này là vì các nhóm chân ngã được tìm thấy trên các cõi dĩ thái vũ trụ, là những cõi chịu trách nhiệm ngưng tụ hình thể hồng trần đậm đặc.

72. We have seen from Letters on Occult Meditation that egoic groups are not confined to the higher mental plane or to the buddhic plane, but also are found on the atmic and monadic planes. Still all of these planes are within the cosmic ethers which are responsible for gathering the matter of the three purely physical subplanes into forms.

72. Chúng ta đã thấy từ Thư về Tham Thiền Huyền Bí rằng các nhóm chân ngã không bị giới hạn trong cõi thượng trí hay cõi Bồ đề, mà còn được tìm thấy trên các cõi atma và chân thần. Tuy nhiên, tất cả các cõi này đều nằm trong các cõi dĩ thái vũ trụ, là những cõi chịu trách nhiệm tập hợp vật chất của ba cõi phụ thuần hồng trần thành các hình tướng.

73. If we extend the analogy to the microcosmic, then the egoic groups are to the Planetary Logos as different chakras are to man. The chakras of man are responsibility for the precipitation of the dense physical body of man with all its physical centers such as glands and organs.

73. Nếu chúng ta mở rộng phép loại suy đến tiểu thiên địa, thì các nhóm chân ngã đối với Hành Tinh Thượng Đế cũng như các luân xa đối với con người. Các luân xa của con người chịu trách nhiệm cho sự ngưng tụ thể xác đậm đặc của con người với tất cả các trung tâm hồng trần của nó như các tuyến và các cơ quan.

Finally, there is the attractive pull of that planetary scheme which is esoterically regarded as our polar opposite.

Sau cùng, còn có lực hút hấp dẫn của hệ hành tinh ấy, hệ được xem một cách huyền bí là cực đối nghịch của chúng ta.

74. This can be none other than Venus.

74. Điều này không thể là gì khác ngoài Sao Kim.

75. We have been talking about which planets (and later planetoids) are most magnetically influential upon man. The Earth is first; then the complementary planet (which if Mars, speaks to the importance of the dense physical body and of the personality); and then Venus, the representative of the soul.

75. Chúng ta đã bàn đến những hành tinh nào (và về sau là các tiểu hành tinh) có ảnh hưởng từ tính mạnh nhất lên con người. Trái Đất là trước hết; rồi đến hành tinh bổ sung (mà nếu là Sao Hỏa, điều đó nói lên tầm quan trọng của thể xác đậm đặc và của phàm ngã); và rồi đến Sao Kim, đại diện của linh hồn.

[Page 1191] (What is here said has reference to the other schemes, for the law persists throughout the solar system.)

[Page 1191] (Điều được nói ở đây có liên hệ đến các hệ khác, vì quy luật này vẫn tồn tại khắp hệ mặt trời.)

76. This will mean that the lives living on each planet will first of all be responsible to the life of the planet itself; then to the planet’s complementary planet and then to the planet’s polar opposite.

76. Điều này sẽ có nghĩa là các sự sống đang sống trên mỗi hành tinh trước hết sẽ đáp ứng với sự sống của chính hành tinh ấy; rồi đến hành tinh bổ sung của hành tinh đó; và sau đó đến cực đối nghịch của hành tinh ấy.

It will be apparent, therefore, that the real and esoteric astrology will deal with four kinds of force, when it seeks to explain the nature of the Energies which influence any human being:

Do đó, rõ ràng là chiêm tinh học chân chính và huyền bí sẽ bàn đến bốn loại mãnh lực khi tìm cách giải thích bản chất của các Năng Lượng ảnh hưởng đến bất kỳ con người nào:

77. Almost a decade before He dictated Esoteric Astrology Master DK is presenting seeds for that more-specifically astrological work.

77. Gần một thập niên trước khi Ngài đọc cho chép Chiêm Tinh Học Nội Môn, Chân sư DK đã trình bày những hạt giống cho công trình chuyên biệt hơn về chiêm tinh ấy.

1. The quality of the solar system.

1. Phẩm tính của hệ mặt trời.

78. In the case of our solar system, that quality is the second ray expressing both Love and Wisdom.

78. Trong trường hợp hệ mặt trời của chúng ta, phẩm tính ấy là cung hai biểu lộ cả Tình thương và minh triết.

2. The quality of the Logos of the planet as it pours through the chains and globes and rounds in a sevenfold differentiation.

2. Phẩm tính của Thượng đế của hành tinh khi nó tuôn đổ qua các dãy, các bầu hành tinh và các cuộc tuần hoàn trong một sự biến phân thất phân.

79. In the case of our Planetary Logos, the three major rays are given in Esoteric Astrology, page 619. These are the first, second and third—the monadic, soul and personality rays respectively.

79. Trong trường hợp Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, ba cung chính được nêu trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, trang 619. Đó là cung một, cung hai và cung ba—lần lượt là cung chân thần, cung linh hồn và cung phàm ngã.

3. The quality of our earth's complementary planet.

3. Phẩm tính của hành tinh bổ sung cho Trái Đất của chúng ta.

80. This planet is likely Mars, though Mercury has sometimes been considered as a complementary equilibrizing planet.

80. Hành tinh này có lẽ là Sao Hỏa, mặc dù đôi khi Sao Thủy cũng được xem là một hành tinh bổ sung có tính quân bình hóa.

81. It is more likely that Mercury is Venus’ complementary planet.

81. Có nhiều khả năng hơn là Sao Thủy là hành tinh bổ sung của Sao Kim.

4. The quality of the attraction of our earth's polar opposites.

4. Phẩm tính của lực hút từ các cực đối nghịch của Trái Đất chúng ta.

82. This planet, as often stated, is Venus. All opposite poles attract each other, but Venus is a planet which is particularly magnetic and attractive.

82. Hành tinh này, như thường được nói, là Sao Kim. Mọi cực đối nghịch đều hút nhau, nhưng Sao Kim là một hành tinh đặc biệt từ tính và hấp dẫn.

This involves information as yet veiled in deepest mystery,

Điều này bao hàm những thông tin hiện còn được che phủ trong huyền nhiệm sâu thẳm nhất,

83. Much was unveiled when the Tibetan wrote Esoteric Astrology, though, in many ways, the mystery remains.

83. Nhiều điều đã được vén mở khi Chân sư Tây Tạng viết Chiêm Tinh Học Nội Môn, mặc dù, trên nhiều phương diện, huyền nhiệm vẫn còn đó.

but which will unfold as the true psychology is studied,

nhưng sẽ được khai mở khi tâm lý học chân chính được nghiên cứu,

84. Presumably, the “true psychology” is not just the psychology of human beings but the psychology of the major Entities comprising our solar system.

84. Có lẽ “tâm lý học chân chính” không chỉ là tâm lý học của con người mà còn là tâm lý học của các Thực Thể lớn cấu thành hệ mặt trời của chúng ta.

and which will eventually embody itself in a fourth fundamental of the Secret Doctrine so that later students will have the three as they are now found in the Proem to that book, plus the fourth.29 [S. D. I, 42-46]

và cuối cùng sẽ tự thể hiện thành một mệnh đề căn bản thứ tư của Giáo Lý Bí Nhiệm để các đạo sinh về sau sẽ có ba mệnh đề như hiện nay được tìm thấy trong Lời Mở Đầu của cuốn sách ấy, cộng thêm mệnh đề thứ tư.29 [S. D. I, 42-46]

85. A number of students have taken this sentence as the hint that they can or should provide this fourth fundamental. It would seem that Master DK, Himself, has come closest to providing this fundamental.

85. Một số đạo sinh đã xem câu này như gợi ý rằng họ có thể hoặc nên cung cấp mệnh đề căn bản thứ tư này. Có vẻ như chính Chân sư DK là Đấng đã tiến gần nhất đến việc cung cấp mệnh đề căn bản ấy.

86. There is a hint suggesting that the Fourth Fundamental of the Secret Doctrine will be psychological in nature. Interestingly, this very book, A Treatise on Cosmic Fire, is considered to be the “psychological key to the Secret Doctrine”. It would seem that through this book Master DK, Himself, has offered at least the seed to the fourth fundamental.

86. Có một gợi ý cho thấy Mệnh Đề Căn Bản Thứ Tư của Giáo Lý Bí Nhiệm sẽ có bản chất tâm lý học. Điều thú vị là chính cuốn sách này, Luận về Lửa Vũ Trụ, được xem là “chìa khóa tâm lý học cho Giáo Lý Bí Nhiệm”. Có vẻ như qua cuốn sách này, chính Chân sư DK đã cống hiến ít nhất hạt giống của mệnh đề căn bản thứ tư ấy.

This might be expected in this fourth round.

Điều này có thể được mong đợi trong cuộc tuần hoàn thứ tư này.

87. The conditional word “might” is offered. Apparently, it is not a complete certainty that this fourth fundamental will be formulated in this fourth round, but likely. In this little sentence there is the ‘feeling’ of a later date.

87. Từ điều kiện “có thể” được đưa ra. Rõ ràng không hoàn toàn chắc chắn rằng mệnh đề căn bản thứ tư này sẽ được hình thành trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, nhưng điều đó có khả năng xảy ra. Trong câu ngắn này có “cảm giác” về một thời điểm muộn hơn.

The true astrology

Chiêm tinh học chân chính

88. At the time of this writing the “true astrology” was not in the possession of any non-hierarchical astrologer. We can wonder whether, even with Master DK’s great work, Esoteric Astrology, it yet is.

88. Vào thời điểm viết điều này, “chiêm tinh học chân chính” chưa nằm trong tay bất kỳ nhà chiêm tinh nào không thuộc Thánh Đoàn. Chúng ta có thể tự hỏi liệu, ngay cả với công trình vĩ đại của Chân sư DK là Chiêm Tinh Học Nội Môn, nó đã ở trong tay họ hay chưa.

will reveal the nature of this fourth proposition at some later date.

sẽ tiết lộ bản chất của mệnh đề thứ tư này vào một ngày nào đó về sau.

89. Though there have been at least two attempts (of which I am aware) to reveal the nature of this fourth proposition, the phrase “some later date” does not sound immediate. More, it seems, would have to be revealed to make it possible.

89. Dù đã có ít nhất hai nỗ lực (mà tôi biết) nhằm tiết lộ bản chất của mệnh đề thứ tư này, cụm từ “vào một ngày nào đó về sau” không gợi cảm giác là điều đó sẽ xảy ra ngay. Có vẻ như cần phải được tiết lộ thêm nữa mới có thể làm được điều ấy.

90. We can wonder whether the first four fundamentals of the Secret Doctrine were formulated by disciples, or whether such a formulation arose in the minds of great sages and seers (the Masters of the past). I think this is probable.

90. Chúng ta có thể tự hỏi liệu bốn mệnh đề căn bản đầu tiên của Giáo Lý Bí Nhiệm có được các đệ tử hình thành hay không, hay việc hình thành như thế đã nảy sinh trong tâm trí của các bậc hiền triết và nhà thông nhãn vĩ đại (các Chân sư của quá khứ). Tôi nghĩ điều này là có thể.

91. Since the proposition is the fourth, the presence of a powerful fourth ray in incarnation in this fourth round might be required. The fourth ray, we know, is deeply connected with the development of the Science of Psychology as is the fifth (which has yet to reach its apotheosis in this present world period).

91. Vì mệnh đề này là mệnh đề thứ tư, nên có thể cần đến sự hiện diện của một cung bốn mạnh mẽ đang lâm phàm trong cuộc tuần hoàn thứ tư này. Như chúng ta biết, cung bốn có liên hệ sâu sắc với sự phát triển của Khoa Học Tâm Lý Học, cũng như cung năm (cung này vẫn chưa đạt đến đỉnh cao của nó trong chu kỳ thế giới hiện tại).

More attention will eventually be paid to the planetary influences, and not so much to the signs of the zodiac where the nature of an Ego is concerned.

Về sau, người ta sẽ chú ý nhiều hơn đến các ảnh hưởng hành tinh, và không quá chú trọng đến các dấu hiệu hoàng đạo khi xét đến bản chất của một Chân ngã.

92. This sentence seems something of a contradiction when compared with statements in Esoteric Astrology which speak of the influence of the planets being superseded by the influence of the signs of the zodiac.

92. Câu này dường như có phần mâu thuẫn khi so với những phát biểu trong Chiêm Tinh Học Nội Môn nói rằng ảnh hưởng của các hành tinh bị thay thế bởi ảnh hưởng của các dấu hiệu hoàng đạo.

93. Yet, when we read of the higher nature of the planetary influences we do see that they are connected with the development of the Ego on the higher mental plane.

93. Tuy nhiên, khi chúng ta đọc về bản chất cao hơn của các ảnh hưởng hành tinh, chúng ta thấy rằng chúng có liên hệ với sự phát triển của Chân ngã trên cõi thượng trí.

94. Here is one of the apparently contradictory sections from EA.

94. Đây là một trong những đoạn có vẻ mâu thuẫn từ EA.

First of all, I would point out that the twelve planets, governing the twelve houses, concern primarily the physical plane expression of the man; they affect potently the personality aspect; their influence, plus inherited karmic conditions, produces those environing states and those circumstances which give opportunity for the development and eventually the control of the form side of life.

Trước hết, tôi muốn chỉ ra rằng mười hai hành tinh, cai quản mười hai nhà, chủ yếu liên quan đến sự biểu lộ trên cõi hồng trần của con người; chúng ảnh hưởng mạnh mẽ đến phương diện phàm ngã; ảnh hưởng của chúng, cộng với các điều kiện nghiệp quả di truyền, tạo ra những trạng thái bao quanh và những hoàn cảnh đem lại cơ hội cho sự phát triển và cuối cùng là sự kiểm soát mặt hình tướng của sự sống.

Secondly, the twelve constellations are concerned primarily with the stimulation of the soul within the form, producing subjective activity which, in its turn, causes changes in the outer expression, through the fusion of the energy of the constellation with the energy of the planets. (EA 51)

Thứ hai, mười hai chòm sao chủ yếu liên quan đến sự kích thích linh hồn bên trong hình tướng, tạo ra hoạt động chủ quan, đến lượt nó gây nên những thay đổi trong biểu hiện bên ngoài, thông qua sự dung hợp năng lượng của chòm sao với năng lượng của các hành tinh. (EA 51)

95. We would be in error, however, if we disregarded the planets as they condition the expression of the soul. The planets are not involved only with the outer activity of the man (i.e., with the personality).

95. Tuy nhiên, chúng ta sẽ sai lầm nếu bỏ qua các hành tinh trong khi chúng tác động lên sự biểu lộ của linh hồn. Các hành tinh không chỉ liên quan duy nhất đến hoạt động bên ngoài của con người (tức là đến phàm ngã).

The great signs of the zodiac concern the Heavenly Man,

Các dấu hiệu hoàng đạo lớn liên quan đến Đấng Thiên Nhân,

96. One wonder, then, if there are “lesser” signs of the zodiac which concern the human being.

96. Khi ấy, người ta tự hỏi liệu có những dấu hiệu hoàng đạo “nhỏ hơn” liên quan đến con người hay không.

and necessarily, therefore, the Monads of every human being.

và do đó tất yếu liên quan đến các chân thần của mọi con người.

97. Since the Monads constitute the centers of the Heavenly Man, when the Heavenly Man is affected the signs of the zodiac, the Monads are affected.

97. Vì các chân thần cấu thành các trung tâm của Đấng Thiên Nhân, nên khi Đấng Thiên Nhân bị các dấu hiệu hoàng đạo tác động, các chân thần cũng bị tác động.

98. There is much ambiguity around such statements. In A Treatise on White Magic DK tells us that the signs have a lower influence than the rays. Note the following:

98. Có rất nhiều sự mơ hồ quanh những phát biểu như thế. Trong Luận về Chánh Thuật DK cho chúng ta biết rằng các dấu hiệu có ảnh hưởng thấp hơn các cung. Hãy lưu ý điều sau:

The signs which fall therefore into the four categories of earth, water, fire and air, concern primarily the man who lives below the diaphragm, and who utilises the lower four centres:—the centre at the base of the spine, the sacral centre, the solar plexus and the spleen. The inner group of seven major or systemic energies produce their effect upon the man who is living above the diaphragm, and work through the seven representative centres in the head. (TWM 438)

Do đó, các dấu hiệu thuộc vào bốn loại đất, nước, lửa và khí chủ yếu liên quan đến con người sống dưới cơ hoành, và sử dụng bốn trung tâm thấp:—trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm xương cùng, tùng thái dương và luân xa lá lách. Nhóm bên trong gồm bảy năng lượng chính hay năng lượng hệ thống tạo ra ảnh hưởng của chúng lên con người đang sống phía trên cơ hoành, và hoạt động qua bảy trung tâm đại diện trong đầu. (TWM 438)

99. There may, indeed, be a difference between “great” signs of the zodiac and the signs as ordinarily considered.

99. Quả thực có thể có sự khác biệt giữa các dấu hiệu hoàng đạo “lớn” và các dấu hiệu như thường được xét đến.

The planetary influences must be studied to find out the quality of a man's Ray,

Các ảnh hưởng hành tinh phải được nghiên cứu để tìm ra phẩm tính của cung của một người,

100. Here we have another ‘apparent’ contradiction when compared with advice given in Esoteric Astrology. I always use the word “apparent” when noticing what seems to be a contradiction as the contradiction is almost certainly found in the mind of the human interpreter and not in the presentation of the Master.

100. Ở đây chúng ta có một mâu thuẫn ‘bề ngoài’ khác khi so với lời khuyên được đưa ra trong Chiêm Tinh Học Nội Môn. Tôi luôn dùng từ “bề ngoài” khi nhận thấy điều gì đó có vẻ là mâu thuẫn, vì mâu thuẫn ấy gần như chắc chắn nằm trong tâm trí của người diễn giải là con người chứ không nằm trong sự trình bày của Chân sư.

101. Note the following, in which it is evident that the rays have to be known before undertaking the interpretation of the chart:

101. Hãy lưu ý điều sau đây, trong đó rõ ràng là các cung phải được biết trước khi tiến hành giải thích lá số chiêm tinh:

This brings me to two points about which I would like to speak a word. In dealing with the horoscope of the personality and with the average non-aspiring man, the astrologer should endeavour to discover the personality ray from a study of character, of the physical indications, of the emotional qualities, of the type of mind and the nature of the environment. He will then be able to lay out a far more useful chart with the orthodox planets ruling the life. In the case of the horoscope of a disciple, he should do the same, endeavouring to discover the ray of the soul. The soul ray only sets its mark and emphasises its quality and nature in the case of advanced people, and when that emerges clearly, the man is obviously a disciple and the esoteric planets will then govern his chart. Having determined the ray of the man undergoing tests in Scorpio, the astrologer can then place the other rays in relation to him and his probable experience. (EA 222-223)

Điều này đưa tôi đến hai điểm mà tôi muốn nói đôi lời. Khi bàn đến lá số chiêm tinh của phàm ngã và của con người trung bình không chí nguyện, nhà chiêm tinh nên cố gắng khám phá cung phàm ngã qua việc nghiên cứu tính cách, các dấu hiệu hồng trần, các phẩm tính cảm xúc, loại hình trí tuệ và bản chất của môi trường. Khi đó y sẽ có thể lập ra một lá số hữu ích hơn nhiều với các hành tinh chính thống cai quản đời sống. Trong trường hợp lá số chiêm tinh của một đệ tử, y cũng nên làm như vậy, cố gắng khám phá cung của linh hồn. Cung linh hồn chỉ ghi dấu ấn của nó và nhấn mạnh phẩm tính cùng bản chất của nó trong trường hợp những người tiến bộ, và khi điều đó xuất hiện rõ rệt, con người ấy hiển nhiên là một đệ tử và khi đó các hành tinh huyền bí sẽ cai quản lá số của y. Sau khi đã xác định cung của người đang trải qua các thử thách trong Hổ Cáp, nhà chiêm tinh khi ấy có thể đặt các cung khác trong tương quan với y và với kinh nghiệm có thể xảy ra của y. (EA 222-223)

102. This does not mean that the study of the planets may not be useful in helping to determine a man’s rays, but that the method of determination above given does not, at first, involve the planets.

102. Điều này không có nghĩa là việc nghiên cứu các hành tinh không thể hữu ích trong việc giúp xác định các cung của một người, mà là phương pháp xác định được nêu ở trên lúc đầu không bao hàm các hành tinh.

and this in the above indicated threefold manner.

và điều này theo cách tam phân đã được chỉ ra ở trên.

103. DK seems to hint that the planetary influences can be applied to the determination of the three major rays of the individual.

103. DK dường như gợi ý rằng các ảnh hưởng hành tinh có thể được áp dụng vào việc xác định ba cung chính của cá nhân.

Man is the Monad, therefore, he expresses a small part of his enfolding life.

Do đó, con người là chân thần, và y biểu lộ một phần nhỏ của sự sống bao bọc y.

104. Because this is not yet the solar system in which the Solar Logos will fully express His monadic ray, the monadic ray of the creature man is also not fully expressed. Only a small part of the enfolding life of the Monad is expressed, and yet the Master can determine the nature of the monadic ray.

104. Bởi vì đây chưa phải là hệ mặt trời trong đó Thái dương Thượng đế sẽ biểu lộ trọn vẹn cung chân thần của Ngài, nên cung chân thần của tạo vật là con người cũng chưa được biểu lộ trọn vẹn. Chỉ một phần nhỏ của sự sống bao bọc của chân thần được biểu lộ, thế nhưng Chân sư vẫn có thể xác định bản chất của cung chân thần.

In this solar system he is essentially the Ego.

Trong hệ mặt trời này, về bản chất y là Chân ngã.

105. This, then, is true of all of us in general. It may also be true of the Heavenly Men. The ray which is most expressive in this solar system, even for these great Beings, is the egoic ray.

105. Vậy thì điều này đúng với tất cả chúng ta nói chung. Nó cũng có thể đúng với các Đấng Thiên Nhân. Cung biểu lộ mạnh nhất trong hệ mặt trời này, ngay cả đối với những Hữu thể vĩ đại ấy, là cung chân ngã.

106. This is true as well of the Solar Logos.

106. Điều này cũng đúng đối với Thái dương Thượng đế.

Astrologers should study the planetary schemes in the light of the Heavenly Man,

Các nhà chiêm tinh nên nghiên cứu các hệ hành tinh dưới ánh sáng của Đấng Thiên Nhân,

107. Astrologers should study the Life which is expressing itself through a planetary scheme. These great Lives are qualified by rays and perhaps by zodiacal constellations just as a human being is.

107. Các nhà chiêm tinh nên nghiên cứu Sự sống đang biểu lộ chính nó qua một hệ hành tinh. Những Sự sống vĩ đại này được định tính bởi các cung và có lẽ bởi các chòm sao hoàng đạo cũng như một con người vậy.

viewing them as an incarnation [Page 1192] of a planetary Logos,

xem chúng như một lần lâm phàm [Page 1192] của một Hành Tinh Thượng Đế,

108. Truly, a more occult way of understanding the nature of a planet…

108. Quả thật, đây là một cách thấu hiểu huyền bí hơn về bản chất của một hành tinh…

and thus strive to cast the horoscope of the planetary Logos.

và như thế cố gắng lập lá số chiêm tinh của Hành Tinh Thượng Đế.

109. DK means, I think, that we should try to cast the horoscope of our Planetary Logos. We cannot even hope to do this with accuracy and so it would be utterly impossible for us, at this time, to attempt to do this for the other Planetary Logoi in our solar system.

109. Theo tôi nghĩ, DK muốn nói rằng chúng ta nên cố gắng lập lá số chiêm tinh của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Chúng ta thậm chí không thể hy vọng làm điều này một cách chính xác, và vì vậy vào lúc này việc thử làm điều đó cho các Hành Tinh Thượng Đế khác trong hệ mặt trời của chúng ta lại càng hoàn toàn bất khả.

They cannot succeed in doing so, but in the attempt may learn much and achieve new light upon a most difficult subject.

Họ không thể thành công trong việc ấy, nhưng trong nỗ lực đó có thể học được nhiều điều và đạt được ánh sáng mới về một đề tài hết sức khó khăn.

110. Where would one begin? Perhaps with the precipitation of our physical plane which science tells us began some four billion or so years ago. The time of physical appearance, however, is very much in doubt if we study the occult chronologies. Further, this event must hierarchy have been preceded by much internal preparation and appropriation of subtler vehicles all of which are significant in the life of the Planetary Logos.

110. Người ta sẽ bắt đầu từ đâu? Có lẽ từ sự ngưng tụ cõi hồng trần của chúng ta mà khoa học cho biết đã bắt đầu cách đây khoảng bốn tỉ năm. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện hồng trần vẫn còn rất đáng nghi ngờ nếu chúng ta nghiên cứu các niên đại huyền bí. Hơn nữa, biến cố này hẳn đã được đi trước bởi rất nhiều sự chuẩn bị nội tại và sự chiếm hữu các vận cụ tinh tế hơn, tất cả đều có ý nghĩa trong sự sống của Hành Tinh Thượng Đế.

111. The time scales between occultism and modern science are totally at variance and cannot yet be rectified with respect to each other.

111. Các thang thời gian giữa huyền bí học và khoa học hiện đại hoàn toàn khác biệt và vẫn chưa thể điều chỉnh cho phù hợp với nhau.

In considering this question of the adaptation of the form to vibration,

Khi xem xét vấn đề này về sự thích nghi của hình tướng với rung động,

112. DK reminds us that this is the subject under discussion.

112. DK nhắc chúng ta rằng đây là chủ đề đang được bàn đến.

or the construction of a vehicle which will be a fitting instrument for spirit,

hay việc kiến tạo một vận cụ sẽ là một công cụ thích hợp cho tinh thần,

113. This construction accomplished under the influence of the Law of Attraction…

113. Sự kiến tạo này được hoàn thành dưới ảnh hưởng của Định luật Hấp Dẫn…

the following factors must be borne in mind:

cần ghi nhớ các yếu tố sau đây:

1. That it is the quality of the indwelling life which decides the type of form.

1. Rằng chính phẩm tính của sự sống nội tại quyết định loại hình tướng.

114. When we look at human beings, for instance, this is something we should remember: the outer form expresses (for those with eyes to see) the inner quality.

114. Chẳng hạn, khi chúng ta nhìn vào con người, đây là điều chúng ta nên nhớ: hình tướng bên ngoài biểu lộ (đối với những ai có mắt để thấy) phẩm tính bên trong.

115. We are speaking of the cooperation between the second and third aspects of divinity in the matter of creating form.

115. Chúng ta đang nói về sự hợp tác giữa phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính trong vấn đề tạo ra hình tướng.

2. That these qualities are the sumtotal of the attributes of divinity which the indwelling life has succeeded in unfolding.

2. Rằng các phẩm tính này là tổng số các thuộc tính của thiên tính mà sự sống nội tại đã thành công trong việc khai mở.

116. Quality is cumulative just as it is for man. The ray of the soul may endure for a great period of time but the qualities generated or accumulated under that major quality depend upon the lengthy process of unfoldment. Think for instance of the qualities which are stored within the egoic lotus of the individual human being.

116. Phẩm tính có tính tích lũy cũng như nơi con người. Cung của linh hồn có thể kéo dài trong một thời kỳ rất dài nhưng các phẩm tính được tạo ra hay tích lũy dưới phẩm tính chính ấy lại tùy thuộc vào tiến trình khai mở lâu dài. Chẳng hạn, hãy nghĩ đến những phẩm tính được cất giữ trong Hoa Sen Chân Ngã của cá nhân con người.

3. That these qualities—as may well be surmised—fall into the usual septenate.

3. Rằng các phẩm tính này—như có thể dễ dàng suy ra—cũng rơi vào thất phân thông thường.

117. DK seems to be saying that the natures of the accumulated qualities can be discriminated along the lines of the seven rays.

117. DK dường như đang nói rằng bản chất của các phẩm tính tích lũy có thể được phân biện theo các đường hướng của bảy cung.

118. As well, the qualities may relate to the seven principles.

118. Ngoài ra, các phẩm tính cũng có thể liên hệ đến bảy nguyên khí.

4. That they fall also into two groups, those which concern the lower principles, and are, therefore, four in number, and those which concern the higher and middle and are, therefore, three.

4. Rằng chúng cũng rơi vào hai nhóm, những phẩm tính liên quan đến các nguyên khí thấp, và do đó là bốn; và những phẩm tính liên quan đến các nguyên khí cao và trung gian, và do đó là ba.

119. Here we have a definite statement that the qualities are correlated with the seven principles—both higher and lower.

119. Ở đây chúng ta có một phát biểu rõ ràng rằng các phẩm tính tương quan với bảy nguyên khí—cả cao lẫn thấp.

120. Presumably, the middle principle relates to higher manas, the causal body and eventually the lowest aspect of the spiritual triad.

120. Có lẽ nguyên khí trung gian liên hệ đến thượng manas, thể nguyên nhân và cuối cùng là phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần.

This is true of all men, of the Heavenly Men and of the solar Logos likewise,

Điều này đúng với mọi người, với các Đấng Thiên Nhân và với Thái dương Thượng đế cũng vậy,

121. We are dealing with broad principles applicable to a wide range of beings and Beings. As we study forms (microcosmic and macrocosmic) we will have to attend to the ways in which inner quality and qualities express through forms.

121. Chúng ta đang bàn đến những nguyên lý rộng lớn có thể áp dụng cho một phạm vi rộng các hữu thể và các Hữu thể. Khi nghiên cứu các hình tướng (tiểu thiên địa và đại thiên địa), chúng ta sẽ phải chú ý đến những cách mà phẩm tính và các phẩm tính bên trong biểu lộ qua các hình tướng.

and there is a mysterious analogy concerned in the manifestation of the three higher principles in man (which may be considered as demonstrating through the perfected Adept, the Bodhisattva) and the three higher principles of the solar Logos as they demonstrate through the major three aspects. They form but one principle showing forth in three ways.

và có một phép loại suy huyền nhiệm liên quan đến sự biểu lộ của ba nguyên khí cao nơi con người (có thể được xem như được chứng minh qua chân sư toàn hảo, Đức Bồ Tát) và ba nguyên khí cao của Thái dương Thượng đế khi chúng biểu lộ qua ba phương diện chính. Chúng chỉ tạo thành một nguyên khí biểu lộ theo ba cách.

122. We seem to be dealing with the “point within the triangle”, and the mystery that the Trinity is three and yet one. The three Logoi are a threefold expression of the one Solar Logos. The spiritual triad of man is the threefold expression of the one Monad.

122. Dường như chúng ta đang bàn đến “điểm bên trong tam giác”, và huyền nhiệm rằng Ba Ngôi là ba mà vẫn là một. Ba Thượng đế là biểu lộ tam phân của một Thái dương Thượng đế. Tam Nguyên Tinh Thần của con người là biểu lộ tam phân của một chân thần.

So it is with the unmanifested Monad (unmanifested from the standpoint of the lower man).

Điều này cũng đúng với chân thần không biểu lộ (không biểu lộ theo quan điểm của phàm nhân).

123. And manifested, in part, once the third initiation is taken…

123. Và được biểu lộ phần nào một khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận…

That Monad can—at a certain very advanced stage in evolution, and one far beyond that of the Adept—have its triple simultaneous manifestation, and show forth as a Master in the three worlds, as a Bodhisattva on His own plane and as the emancipated Dhyani Buddha;

Chân thần ấy có thể—ở một giai đoạn rất cao trong tiến hoá, và vượt xa giai đoạn của chân sư—có sự biểu lộ tam phân đồng thời của nó, và biểu lộ như một Chân sư trong ba cõi giới, như một Đức Bồ Tát trên cõi riêng của Ngài và như một Dhyani Buddha đã được giải thoát;

124. We are really dealing here with esoteric Buddhism, and in these words may find the explanation of some of the more arcane Buddhist Doctrines.

124. Ở đây thực sự chúng ta đang bàn đến Phật giáo huyền bí, và trong những lời này có thể tìm thấy lời giải thích cho một số giáo lý Phật giáo huyền nhiệm hơn.

125. An Adept is a Master and the words, “far beyond” are used. Thus we may be speaking of those who have taken the seventh or later initiations.

125. Một chân sư là một Chân sư, và các từ “vượt xa” được dùng. Vì vậy, có thể chúng ta đang nói đến những vị đã trải qua lần điểm đạo thứ bảy hoặc cao hơn.

126. The Master represents the energy of humanly perfected manas; the Bodhisattva, the energy of humanly perfected buddhi; the Dhyani Buddha (presumably of the seventh degree or beyond) represents the energy of atma.

126. Chân sư đại diện cho năng lượng của manas được hoàn thiện nơi con người; Đức Bồ Tát, năng lượng của Bồ đề được hoàn thiện nơi con người; Dhyani Buddha (có lẽ ở cấp thứ bảy hoặc cao hơn) đại diện cho năng lượng của atma.

yet these Three will be but One, will be [Page 1193] the result of a great spiritual vibration and will perform the triple work which may (from the standpoint of the three worlds) appear as the work of three separate great Existences.

tuy nhiên Ba Đấng này chỉ là Một, sẽ là [Page 1193] kết quả của một rung động tinh thần vĩ đại và sẽ thực hiện công việc tam phân mà (theo quan điểm của ba cõi giới) có thể xuất hiện như công việc của ba Hiện Hữu vĩ đại riêng biệt.

127. What an extraordinary idea—three great Existences, apparently independent and of independent origin, but really all emanations of a One. One of the mysteries of the Trinity is here expressed.

127. Thật là một ý tưởng phi thường—ba Hiện Hữu vĩ đại, dường như độc lập và có nguồn gốc độc lập, nhưng thực ra đều là những phát xạ của Một Đấng. Một trong những huyền nhiệm của Ba Ngôi được diễn tả ở đây.

128. Apparently, if we were to raise our consciousness out of the three lower worlds, the three would not appear as “separate great Existences” but their Oneness would be perceived.

128. Rõ ràng, nếu chúng ta nâng tâm thức của mình ra khỏi ba cõi thấp, thì ba Đấng ấy sẽ không xuất hiện như những “Hiện Hữu vĩ đại riêng biệt” nữa mà tính Nhất thể của các Ngài sẽ được nhận biết.

129. There is, perhaps, a hint relating to the mystery concerning the relationship between Gautama and the Buddha. If it is true that as Christ was the initiate Jesus, the Buddha was to the initiate Gautama, we have much of an obscure nature demanding solution.

129. Có lẽ ở đây có một gợi ý liên quan đến huyền nhiệm về mối liên hệ giữa Gautama và Đức Phật. Nếu đúng rằng cũng như Đức Christ là điểm đạo đồ Jesus, thì Đức Phật là đối với điểm đạo đồ Gautama, chúng ta có rất nhiều điều mơ hồ đòi hỏi phải được giải đáp.

They are forms of three monadic "vestures," worn by the one Monad as a man wears his three bodies simultaneously, and functions in them separately.30

Các Ngài là những hình tướng của ba “pháp y” chân thần, được một chân thần khoác lấy cũng như con người đồng thời mặc ba thể của mình và hoạt động riêng biệt trong chúng.30

130. The mystery of the “vestures of the Buddha” which the Christ has assumed, comes to mind.

130. Huyền nhiệm về “các pháp y của Đức Phật” mà Đức Christ đã đảm nhận hiện lên trong tâm trí.

131. The analogy lies in our ordinary functioning within the three lower worlds. We may function in these vehicles separately, as the Tibetan suggests, or simultaneously in an integrated manner. That type of integrated functioning must also be possible for the great One Who expresses Himself as an apparently independent three.

131. Phép loại suy nằm trong sự hoạt động thông thường của chúng ta trong ba cõi thấp. Chúng ta có thể hoạt động trong các vận cụ này một cách riêng biệt, như Chân sư Tây Tạng gợi ý, hoặc đồng thời theo cách tích hợp. Kiểu hoạt động tích hợp ấy hẳn cũng phải có thể đối với Đấng Vĩ Đại biểu lộ chính Ngài như một bộ ba có vẻ độc lập.

Footnote 30:

Cước chú 30:

The Three Vestures.—"The stream is crossed. 'Tis true thou hast a right to Dharmakaya vesture; but Sambhogakaya is greater than a Nirvani, and greater still is a Nirmanakaya—the Buddha of Compassion." —Voice of the Silence, p. 97.

Ba Pháp Y.—“Dòng sông đã được vượt qua. Đúng vậy, con có quyền đối với pháp y Dharmakaya; nhưng Sambhogakaya còn cao hơn một nirvani, và cao hơn nữa là Nirmanakaya—Đức Phật của Lòng Từ Bi.” —Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 97.

132. Here we have the discussion of the three vestures from the perspective of an ancient book.

132. Ở đây chúng ta có cuộc bàn luận về ba pháp y từ quan điểm của một cuốn sách cổ.

"The three Buddhic bodies or forms are styled: Nirmanakaya, Sambhogakaya, Dharmakaya.

“Ba thể hay hình tướng Bồ đề được gọi là: Nirmanakaya, Sambhogakaya, Dharmakaya.

133. There is a discrepancy between the first listing of three and this listing. Here Nirmanakaya is listed first, and in the first reference, Nirmanakaya is the final vesture.

133. Có một sự sai khác giữa cách liệt kê đầu tiên của bộ ba này và cách liệt kê ở đây. Ở đây Nirmanakaya được liệt kê trước, còn trong dẫn chiếu đầu tiên, Nirmanakaya là pháp y cuối cùng.

134. Again, in the first listing, Dharmakaya is listed as the least of the three vestures, but here, above, it is presented as the greatest of them.

134. Một lần nữa, trong cách liệt kê đầu tiên, Dharmakaya được nêu như pháp y thấp nhất trong ba pháp y, nhưng ở đây, phía trên, nó lại được trình bày là cao nhất trong số đó.

The first is that ethereal form which one would assume when leaving his physical he would appear in his astral body—having in addition all the knowledge of an Adept.

Pháp y thứ nhất là hình tướng dĩ thái mà người ta sẽ đảm nhận khi rời bỏ thể xác; y sẽ xuất hiện trong thể cảm dục của mình—đồng thời có thêm toàn bộ tri thức của một chân sư.

135. By “astral body”, we may well mean the etheric vehicle. Sanat Kumara apparently has such a vehicle.

135. Bởi “thể cảm dục”, rất có thể chúng ta nên hiểu là vận cụ dĩ thái. Đức Sanat Kumara dường như có một vận cụ như thế.

The Bodhisattva develops it in himself as he proceeds on the path. Having reached the goal and refused its fruition, he remains on earth, as an Adept;

Đức Bồ Tát phát triển nó trong chính mình khi Ngài tiến bước trên đường đạo. Khi đã đạt đến mục tiêu và từ chối quả vị của nó, Ngài vẫn ở lại trên Trái Đất như một chân sư;

136. From this perspective, the one who accepts the fruition of His Path is no longer an Adept, technically considered.

136. Theo quan điểm này, người chấp nhận quả vị của Con Đường của Ngài thì về mặt kỹ thuật không còn là một chân sư nữa.

and when he dies, instead of going into Nirvana, he remains in that glorious body he has woven for himself, invisible to uninitiated mankind, to watch over and protect it.

và khi Ngài chết, thay vì đi vào Niết Bàn, Ngài ở lại trong thể huy hoàng mà Ngài đã dệt nên cho chính mình, vô hình đối với nhân loại chưa được điểm đạo, để canh chừng và bảo vệ họ.

137. This is very likely a “body of fire” which is, essentially, an etheric body, as discussed in A Treatise on Cosmic Fire:

137. Điều này rất có thể là một “thể lửa”, về bản chất là một thể dĩ thái, như được bàn đến trong Luận về Lửa Vũ Trụ:

The centres, therefore, when functioning properly, form the "body of fire" which eventually is all that is left, first to man in the three worlds, and later to the Monad. This body of fire is "the body incorruptible"72 or indestructible, spoken of by St. Paul, and is the product of evolution, of the perfect blending of the three fires, which ultimately destroy the form. When the form is destroyed there is left this intangible spiritual body of fire, one pure flame, distinguished by seven brilliant centres of intenser burning. This electric fire is the result of the bringing together of the two poles and demonstrates at the moment of complete at-one-ment, the occult truth of the words "Our God is a consuming Fire."73 (TCF 166-167)

Do đó, các trung tâm, khi hoạt động đúng đắn, tạo thành “thể lửa”, là điều cuối cùng còn lại, trước hết đối với con người trong ba cõi giới, và về sau đối với chân thần. Thể lửa này là “thể bất hoại”72 hay bất khả hủy diệt, được Thánh Paul nói đến, và là sản phẩm của tiến hoá, của sự hòa trộn hoàn hảo của ba ngọn lửa, cuối cùng hủy diệt hình tướng. Khi hình tướng bị hủy diệt, còn lại thể lửa tinh thần vô hình này, một ngọn lửa thuần nhất, được phân biệt bởi bảy trung tâm rực sáng với cường độ cháy mạnh hơn. Lửa Điện này là kết quả của việc đưa hai cực lại với nhau và chứng minh, vào khoảnh khắc nhất thể hóa hoàn toàn, chân lý huyền bí của lời nói “Thượng đế của chúng ta là một Ngọn Lửa thiêu đốt.”73 (TCF 166-167)

138. From another perspective the Nirmanakaya may be a vehicle expressing as the spiritual triad, and capable of generating at will, any of the vehicles in the three lower worlds.

138. Từ một góc nhìn khác, Nirmanakaya có thể là một vận cụ biểu lộ như Tam Nguyên Tinh Thần, và có khả năng tạo ra theo ý muốn bất kỳ vận cụ nào trong ba cõi thấp.

139. The term “astral body”, however, does not suggest a vehicles beyond the causal vehicle, unless the term is being used much differently than usual.

139. Tuy nhiên, thuật ngữ “thể cảm dục” không gợi ý một vận cụ vượt quá thể nguyên nhân, trừ phi thuật ngữ này đang được dùng theo một nghĩa rất khác thường lệ.

Sambhogakaya is the same, but with the additional lustre of three perfections, one of which is entire obliteration of all earthly concerns.

Sambhogakaya cũng như vậy, nhưng có thêm hào quang của ba sự toàn hảo, một trong số đó là sự xóa bỏ hoàn toàn mọi mối quan tâm trần thế.

140. Such an individual has certainly passed the fourth initiation. Perhaps we might call the Sambhogakaya a special and advanced condition of the triadal vehicles belonging to the Adept who can also function etheric in the “body of fire”.

140. Một cá nhân như thế chắc chắn đã vượt qua lần điểm đạo thứ tư. Có lẽ chúng ta có thể gọi Sambhogakaya là một trạng thái đặc biệt và cao cấp của các vận cụ tam nguyên thuộc về chân sư, vị cũng có thể hoạt động bằng dĩ thái trong “thể lửa”.

The Dharmakaya body is that of complete Buddha, i.e., no body at all, but an ideal breath; consciousness merged in the universal consciousness, or soul devoid of every attribute.

Thể Dharmakaya là thể của một vị Phật hoàn toàn, tức là không có thể nào cả, mà là một hơi thở lý tưởng; tâm thức hòa nhập vào tâm thức vũ trụ, hay linh hồn không còn bất kỳ thuộc tính nào.

141. We can wonder if the Dharmakaya body is actually the monadic sheath. From the perspective of the lower three worlds, it would seem like “no body at all”. One pauses to reflect, however, when one realizes that greater Beings than man are certainly conditioned by qualities and are not “devoid of every attribute”.

141. Chúng ta có thể tự hỏi liệu thể Dharmakaya có thực sự là vỏ bọc chân thần hay không. Từ quan điểm của ba cõi thấp, nó sẽ có vẻ như “không có thể nào cả”. Tuy nhiên, người ta phải dừng lại để suy ngẫm khi nhận ra rằng những Hữu thể lớn hơn con người chắc chắn vẫn bị các phẩm tính tác động và không phải là “không còn bất kỳ thuộc tính nào”.

Once a Dharmakaya, an Adept or Buddha leaves behind every possible relation with, or thought for, this earth. Thus to be enabled to help humanity, an Adept who has won the right to Nirvana, 'renounces the Dharmakaya body' in mystic parlance; keeps, of the Sambhogakaya, only the great and complete knowledge, and remains in his Nirmanakaya.

Một khi là Dharmakaya, một chân sư hay một vị Phật bỏ lại phía sau mọi mối liên hệ có thể có với, hay mọi ý nghĩ dành cho, Trái Đất này. Vì vậy, để có thể giúp đỡ nhân loại, một chân sư đã đạt được quyền vào Niết Bàn “từ bỏ thể Dharmakaya”, theo cách nói thần bí; chỉ giữ lại, từ Sambhogakaya, tri thức lớn lao và trọn vẹn, và ở lại trong Nirmanakaya của mình.

142. This is the summary of the interaction of the three vestures. What is “this earth”? Is the dense physical planet meant? The three lower worlds? Or the entire cosmic physical plane as it applies to the Earth-scheme?

142. Đây là phần tóm lược về sự tương tác của ba pháp y. “Trái Đất này” là gì? Có phải hành tinh hồng trần đậm đặc được nói đến không? Ba cõi thấp? Hay toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ trong chừng mực nó áp dụng cho hệ Trái Đất?

143. What, too, is “Nirvana” as here discussed? Are these degrees of Nirvana? Is it entry into atmic life, monadic life, or logoic life? The Buddha achieved Nirvana, but as a partial seventh degree initiate, is focused on the logoic plane (as is the Christ). So perhaps, the type of “Nirvana” here mentioned does not take the Adept beyond the cosmic physical plane as would be the case at the ninth degree.

143. Và “Niết Bàn” như được bàn ở đây là gì? Có phải là các cấp độ của Niết Bàn không? Có phải là sự đi vào đời sống atma, đời sống chân thần, hay đời sống thượng đế không? Đức Phật đã đạt Niết Bàn, nhưng với tư cách là một điểm đạo đồ cấp bảy bán phần, Ngài tập trung trên cõi thượng đế (cũng như Đức Christ). Vì vậy, có lẽ loại “Niết Bàn” được nói đến ở đây không đưa chân sư vượt ra ngoài cõi hồng trần vũ trụ như trường hợp ở cấp thứ chín.

144. The terms are not exactly those which we have found in the Western version of Trans-Himalayan Occultism presented by the Tibetan.

144. Các thuật ngữ này không hoàn toàn giống với những thuật ngữ mà chúng ta đã gặp trong phiên bản phương Tây của Huyền Bí Học Xuyên Hy Mã Lạp Sơn do Chân sư Tây Tạng trình bày.

145. The summation can be thought of in this way: the Dharmakaya does not enter the monadic state, but remains focussed in the spiritual triad (Sambhogakaya) can precipitate at will a mayavirupa built upon the “body of fire”. I suspect that there are other valid lines of interpretation.

145. Có thể nghĩ đến phần tổng kết theo cách này: Dharmakaya không đi vào trạng thái chân thần, mà vẫn tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần (Sambhogakaya) và có thể ngưng tụ theo ý muốn một mayavirupa được xây dựng trên “thể lửa”. Tôi ngờ rằng còn có những đường lối diễn giải hợp lệ khác.

The esoteric school teaches that Gautama Buddha, with several of his Arhats, is such a Nirmanakaya, higher than whom, on account of his great renunciation and sacrifice for mankind, there is none known."—Voice of the Silence, p. 98

Trường phái huyền bí dạy rằng Đức Phật Gautama, cùng với một số vị A-la-hán của Ngài, là một Nirmanakaya như thế; cao hơn Ngài, do sự từ bỏ và hi sinh lớn lao của Ngài cho nhân loại, không ai được biết đến.” —Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 98

146. And yet, the Buddha, in Shamballa, is necessarily focussed on the logoic plane as is the Christ—both of them partial seventh degree initiates.

146. Tuy nhiên, Đức Phật, trong Shamballa, tất yếu tập trung trên cõi thượng đế cũng như Đức Christ—cả hai Ngài đều là các điểm đạo đồ cấp bảy bán phần.

147. It would seem that while the Buddha functions as a Nirmanakaya, He also has the Sambhogakaya vehicle and is, essentially, a Dharmakaya Who has refused ultimate Nirvana, which would detach Him from all human concerns.

147. Có vẻ như trong khi Đức Phật hoạt động như một Nirmanakaya, Ngài cũng có vận cụ Sambhogakaya và về bản chất là một Dharmakaya đã từ chối Niết Bàn tối hậu, điều vốn sẽ tách Ngài khỏi mọi mối quan tâm của nhân loại.

One or other of these three

Một hay một khác trong ba Đấng này

148. “Separate Existences”…

148. “Các Hiện Hữu riêng biệt”…

can, if so He will, occupy a body on the physical plane which will not be simply a created mayavirupa.

có thể, nếu Ngài muốn, chiếm cứ một thể trên cõi hồng trần mà không chỉ đơn thuần là một mayavirupa được tạo ra.

149. It seems that we are coming very close to unveiling certain aspects of the Mystery of the Buddha.

149. Có vẻ như chúng ta đang đến rất gần việc vén mở một số phương diện của Huyền Nhiệm về Đức Phật.

This is done in one of two ways: either through the occupancy of a willingly vacated body, as was the case when the Christ occupied the body of Jesus,

Điều này được thực hiện theo một trong hai cách: hoặc bằng cách chiếm cứ một thể được tự nguyện bỏ trống, như trường hợp Đức Christ chiếm cứ thể của Đức Jesus,

150. Did Gautama do the same?

150. Gautama có làm điều tương tự không?

or by a divine overshadowing of a disciple, as has been and will be the case.

hoặc bằng sự phủ bóng thiêng liêng lên một đệ tử, như đã từng và sẽ còn là như vậy.

151. Or was this the way the relationship between the Head of the Spiritual Hierarchy at that time (the Buddha) functioned with the one who appears to be a seeking initiate—Gautama?

151. Hay đây có phải là cách mà mối liên hệ giữa Vị đứng đầu Thánh đoàn tinh thần vào thời điểm ấy (Đức Phật) đã vận hành với vị dường như là một điểm đạo đồ đang tìm cầu—Gautama?