← Commentary_S9_1078_1194_song ngữ

S9S2 Part II

Trích nội dung chương

65. Again, while the Tibetan probably does mean “kalpas” with regard to some details of development, it seems certain from much of the foregoing text that He is also speaking of mahakalpas. 65. Một lần nữa, dù Chân sư Tây Tạng có lẽ thực sự muốn nói đến “các kalpa” đối với một số chi tiết phát triển, nhưng từ phần lớn bản văn đi trước, dường như chắc chắn rằng Ngài cũng đang nói đến các mahakalpa.


The details of that development are lost in the night of other kalpas,

Chi tiết của sự phát triển ấy bị mất hút trong đêm tối của những kalpa khác,

65. Again, while the Tibetan probably does mean “kalpas” with regard to some details of development, it seems certain from much of the foregoing text that He is also speaking of mahakalpas.

65. Một lần nữa, dù Chân sư Tây Tạng có lẽ thực sự muốn nói đến “các kalpa” đối với một số chi tiết phát triển, nhưng từ phần lớn bản văn đi trước, dường như chắc chắn rằng Ngài cũng đang nói đến các mahakalpa.

and all that can be seen are the results,—the cause must be accepted as existing, though for us remaining inexplicable until the higher initiations are taken.

và tất cả những gì có thể thấy chỉ là các kết quả,—nguyên nhân phải được chấp nhận là hiện hữu, dù đối với chúng ta vẫn không thể giải thích được cho đến khi các điểm đạo cao hơn được tiếp nhận.

66. Which initiations are these? Those beyond which the Tibetan has taken?

66. Đó là những điểm đạo nào? Những điểm đạo vượt quá những điểm mà Chân sư Tây Tạng đã tiếp nhận chăng?

67. Probably the Planetary Logoi are aware of the history of the Monads associated with Them.

67. Có lẽ các Hành Tinh Thượng Đế biết rõ lịch sử của các chân thần liên kết với Các Ngài.

68. Certainly the perspective under discussion give new emphasis to the sense of immortality which should pervade our consciousness.

68. Chắc chắn viễn cảnh đang được bàn tới này đem lại một sự nhấn mạnh mới cho cảm thức bất tử vốn phải thấm nhuần tâm thức chúng ta.

In the fact of the turning of the monadic Wheel covering the period of three solar systems,

Trong sự kiện bánh xe chân thần quay vòng bao trùm giai đoạn của ba hệ mặt trời,

69. Three solar systems and more…it would seem. If not, then the earlier solar systems could be subsumed within the greater three.

69. Ba hệ mặt trời và còn hơn thế nữa… dường như là vậy. Nếu không, thì các hệ mặt trời sớm hơn có thể được bao hàm trong ba hệ lớn hơn ấy.

70. We do recall that DK has just told us that there are at least five spokes in the monadic wheel and also a cycle of development in which these “spokes” were “welded at the centre”.

70. Chúng ta nhớ rằng DK vừa nói với chúng ta rằng có ít nhất năm nan hoa trong bánh xe chân thần và cũng có một chu kỳ phát triển trong đó các “nan hoa” này được “hàn lại tại trung tâm”.

lies hid the mystery of monadic self-will, and the secret as to why some of the Monads refused to incarnate,

ẩn giấu huyền nhiệm của tự ý chí chân thần, và bí mật về lý do vì sao một số chân thần từ chối lâm phàm,

71. Monads are essentially pure being but their foremost instrument is the will.

71. Các chân thần về bản chất là hữu thể thuần túy, nhưng công cụ hàng đầu của chúng là ý chí.

72. Can a B/being who is not individualized have “self-will”?

72. Một H/hữu thể chưa được biệt ngã hóa có thể có “tự ý chí” không?

73. Do the Monads as Monads refuse to incarnate, or is it the individualized Monads (Egos) who refuse to incarnate?

73. Phải chăng các chân thần với tư cách chân thần từ chối lâm phàm, hay chính các chân thần đã được biệt ngã hóa (các Chân ngã) từ chối lâm phàm?

74. For a Monad, incarnation would mean the generating of a causal body.

74. Đối với một chân thần, lâm phàm sẽ có nghĩa là tạo ra một thể nguyên nhân.

whilst others "fell," and thus proceeded along the present lines of evolution.

trong khi những chân thần khác “sa ngã”, và do đó tiến hành theo những đường tiến hoá hiện tại.

75. This is a ‘story’ on the monadic level similar to the apparent ‘refusal’ of some of the Agnishvattas to incarnate in early man.

75. Đây là một ‘câu chuyện’ ở cấp độ chân thần tương tự với sự ‘từ chối’ bề ngoài của một số Agnishvatta không chịu lâm phàm vào con người sơ khai.

76. When did this refusal occur? Can we say that this refusal occurred in this solar system? Can we say that the refusal to incarnate (of at least some of the Monads) occurred at a time simultaneous to the refusal of the Solar Angels to assume a Self-extension within a human causal body?

76. Sự từ chối này xảy ra khi nào? Chúng ta có thể nói rằng sự từ chối này đã xảy ra trong hệ mặt trời này không? Chúng ta có thể nói rằng sự từ chối lâm phàm (ít nhất của một số chân thần) đã xảy ra đồng thời với sự từ chối của các Thái dương Thiên Thần không chịu đảm nhận một sự tự-mở-rộng trong một thể nguyên nhân nhân loại chăng?

77. We understand that there are still Monads who are “in manifestation” but not “in incarnation”. This is true of many first ray Monads.

77. Chúng ta hiểu rằng vẫn còn những chân thần “đang biểu hiện” nhưng không “đang lâm phàm”. Điều này đúng với nhiều chân thần cung một.

They refused to incarnate because of internal group conditions

Chúng từ chối lâm phàm vì những điều kiện nhóm bên trong

78. Note—we are here speaking of monadic group conditions.

78. Hãy lưu ý—ở đây chúng ta đang nói về những điều kiện nhóm chân thần.

79. We may remember from Letters on Occult Meditation that there are seven “great groups” of “Egos” on the monadic plane. (LOM 38-39)

79. Chúng ta có thể nhớ từ Thư về Tham Thiền Huyền Bí rằng có bảy “nhóm lớn” các “Chân ngã” trên cõi chân thần. (LOM 38-39)

brought about through the evolutionary processes of the past kalpas.

được tạo ra qua các tiến trình tiến hoá của những kalpa quá khứ.

80. At least one “refusal” involving Solar Angels occurred in Lemurian times. Did the monadic refusal occur simultaneously?

80. Ít nhất một sự “từ chối” liên quan đến các Thái dương Thiên Thần đã xảy ra vào thời Lemuria. Sự từ chối của chân thần có xảy ra đồng thời không?

81. Did the refusal to incarnate involve a number of third ray Monads from the previous solar system? Did this refusal also involve a large number of third ray Monads from the Moon-chain?

81. Sự từ chối lâm phàm có liên quan đến một số chân thần cung ba từ hệ mặt trời trước không? Sự từ chối này cũng có liên quan đến một số lượng lớn chân thần cung ba từ Dãy Mặt Trăng không?

It will, therefore, be apparent that the question of what constitutes sin and evil is far more intricate than even appears upon the surface.

Do đó, sẽ rõ ràng rằng câu hỏi điều gì cấu thành tội lỗi và điều ác phức tạp hơn rất nhiều so với điều thậm chí xuất hiện trên bề mặt.

82. DK is encouraging us to take a deep occult perspective in relation to some of our most problematic moral dilemmas.

82. DK đang khuyến khích chúng ta có một viễn cảnh huyền bí học sâu sắc liên quan đến một số nan đề đạo đức khó khăn nhất của chúng ta.

83. He is referencing the “sin” involved in refusing to incarnate.

83. Ngài đang quy chiếu đến “tội lỗi” liên quan đến việc từ chối lâm phàm.

From our [Page 1090] limited vision, it appears to be "sin" to fall into incarnation, and equally sin or self-will, self-satisfaction, to remain unevolved upon the higher planes.

Từ tầm nhìn [Page 1090] hạn hẹp của chúng ta, dường như “sa vào” lâm phàm là “tội lỗi”, và cũng là tội lỗi hay tự ý chí, tự mãn, khi vẫn không tiến hoá trên các cõi cao.

84. We have a double-bind here. Perhaps only in the “middle way” is sin to be avoided.

84. Ở đây chúng ta có một thế lưỡng nan. Có lẽ chỉ trong “trung đạo” thì tội lỗi mới được tránh khỏi.

85. This second type of “sin” seems to involve an act of self-will which refuses compliance with a required planetary rhythm to which the self-willing unit is meant to conform.

85. Loại “tội lỗi” thứ hai này dường như liên quan đến một hành vi tự ý chí từ chối tuân theo một nhịp điệu hành tinh cần thiết mà đơn vị đầy tự ý chí ấy được dự định phải phù hợp theo.

86. The first type of “sin” arises from the thought that that which is subject to matter is sinful and that which is free of matter or ‘above’ matter is pure and sinless.

86. Loại “tội lỗi” thứ nhất phát sinh từ ý nghĩ rằng điều gì lệ thuộc vào vật chất là tội lỗi, còn điều gì thoát khỏi vật chất hay ‘ở trên’ vật chất thì thanh khiết và vô tội.

87. If “sin” is really a term describing the energies of the lower eighteen subplanes, one can understand this perspective.

87. Nếu “tội lỗi” thực sự là một thuật ngữ mô tả các năng lượng của mười tám cõi phụ thấp, người ta có thể hiểu được viễn cảnh này.

Yet both groups followed the law of their being,

Tuy nhiên cả hai nhóm đều tuân theo định luật của hữu thể mình,

88. Something about the ray nature or the developmental nature of the Monads who either “fell” or “refused to incarnate” determined their actions. DK is saying that they must not be blamed for “sin”.

88. Điều gì đó trong bản chất cung hay bản chất phát triển của các chân thần hoặc “sa ngã” hoặc “từ chối lâm phàm” đã quyết định hành động của chúng. DK đang nói rằng không nên quy trách chúng về “tội lỗi”.

89. Was it the second ray Monads who came in, in this second solar system? Was it the third ray Monads (already somewhat developed) who held back, refusing to incarnate until presented with appropriate vehicles?

89. Có phải các chân thần cung hai đã đi vào trong hệ mặt trời lớn thứ hai này không? Có phải các chân thần cung ba (đã phần nào phát triển) đã trì hoãn, từ chối lâm phàm cho đến khi được cung cấp những vận cụ thích hợp không?

90. In this latter case, however, they would already have had egoic lotuses, either from the previous solar system or from the previous chain, the Moon-chain.

90. Tuy nhiên, trong trường hợp sau này, chúng hẳn đã có các hoa sen chân ngã rồi, hoặc từ hệ mặt trời trước hoặc từ dãy trước, tức Dãy Mặt Trăng.

and the solution of the mystery lies in that which is to come.

và lời giải của huyền nhiệm nằm trong điều sẽ đến.

91. That which is to come is the sixth and final solar system (perhaps numbered the seventh in certain systems). DK may be speaking of first ray Monads who are the nucleus of “that which is to come”. They “day” will occur in the next solar system though some few may achieve in this solar system.

91. Điều sẽ đến là hệ mặt trời thứ sáu và cuối cùng (có lẽ được đánh số là thứ bảy trong một số hệ thống). DK có thể đang nói về các chân thần cung một là hạt nhân của “điều sẽ đến”. “Ngày” của chúng sẽ xảy ra trong hệ mặt trời kế tiếp dù một số ít có thể thành tựu trong hệ mặt trời này.

If the student will with care meditate upon the fact that the three lower planes—the mental, the astral, and the physical—form the dense physical body of the planetary Logos and are, therefore, no principle, it will become apparent to him that through necessity certain units or cells in the body are more active in space and time than others.

Nếu đạo sinh cẩn trọng tham thiền về sự kiện rằng ba cõi thấp—cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần—tạo thành thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế và do đó không phải là nguyên khí, thì đối với y sẽ trở nên rõ ràng rằng do nhu cầu tất yếu, một số đơn vị hay tế bào trong thể ấy hoạt động trong không gian và thời gian nhiều hơn những đơn vị khác.

92. This could be a hint indicating, most likely, third ray Monads—the “Monads of Activity”. It is they who would be most likely to be “more active in space and time” than others who had less affinity with the lower three levels of the cosmic physical plane.

92. Đây có thể là một gợi ý chỉ ra, rất có thể, các chân thần cung ba—“các Chân thần của Hoạt động”. Chính chúng là những chân thần có nhiều khả năng “hoạt động trong không gian và thời gian nhiều hơn” những chân thần khác vốn có ít sự tương hợp hơn với ba cấp thấp của cõi hồng trần vũ trụ.

93. Of course, this would represent a perspective which would be the reverse of that just proposed above.

93. Dĩ nhiên, điều này sẽ biểu thị một viễn cảnh ngược lại với điều vừa được đề nghị ở trên.

94. We might think, however, that the third ray Monads who had not individualized in the previous solar system, were the first to engage in a “pilgrimage” within this particular solar system. Meanwhile, the third ray Monads who had individualize in the previous solar system, would be ‘waiting’ for their proper time to enter.

94. Tuy nhiên, chúng ta có thể nghĩ rằng các chân thần cung ba chưa được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước là những chân thần đầu tiên tham gia vào một “cuộc hành hương” trong hệ mặt trời đặc biệt này. Trong khi đó, các chân thần cung ba đã được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước sẽ ‘chờ đợi’ thời điểm thích hợp của chúng để đi vào.

95. The second ray Monads would enter after the third ray Monads who individualized in this solar system, but before the second ray Monads who belong to this system. Those second ray Monads would have to develop vehicles making egoic individualization possible, whereas the third ray Monads of the previous system would already have such vehicles.

95. Các chân thần cung hai sẽ đi vào sau các chân thần cung ba đã được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời này, nhưng trước các chân thần cung hai thuộc về hệ này. Những chân thần cung hai ấy sẽ phải phát triển các vận cụ làm cho sự biệt ngã hóa chân ngã trở nên khả hữu, trong khi các chân thần cung ba của hệ trước đã có sẵn những vận cụ như thế.

96. Relative few second ray Monads individualized on the Moon-chain where as many third ray Monads did so.

96. Tương đối ít chân thần cung hai được biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng, trong khi nhiều chân thần cung ba đã làm được điều đó.

97. Probably involvement in the Moon-chain was the first ‘descent’ (in this solar system) of those Monads who individualized in the previous solar system, yet it is likely that the majority of those third ray Monads from the previous system did not incarnate on the Moon-chain, but only in early Lemurian days before individualization had occurred.

97. Có lẽ sự tham dự vào Dãy Mặt Trăng là lần “giáng xuống” đầu tiên (trong hệ mặt trời này) của những chân thần đã được biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước; tuy nhiên có khả năng là đa số các chân thần cung ba từ hệ trước đã không lâm phàm trên Dãy Mặt Trăng, mà chỉ lâm phàm trong những ngày đầu Lemuria trước khi sự biệt ngã hóa xảy ra.

He must also bear in mind that groups of Monads come into incarnation according to which centre in a Heavenly Man of a particular planetary scheme,

Y cũng phải ghi nhớ rằng các nhóm chân thần đi vào lâm phàm tùy theo trung tâm nào trong một Đấng Thiên Nhân của một hệ hành tinh nhất định,

98. We can judge that human Monads are found in at least three centers of a Planetary Logos—the head, heart and throat centers. Perhaps they are found in all seven. This has not yet been established but references do exist which seem to indicate that all seven centers may be ‘home’ to human Monads.

98. Chúng ta có thể phán đoán rằng các chân thần nhân loại được tìm thấy trong ít nhất ba trung tâm của một Hành Tinh Thượng Đế—các trung tâm đầu, tim và cổ họng. Có lẽ chúng được tìm thấy trong cả bảy trung tâm. Điều này chưa được xác lập, nhưng có những quy chiếu dường như cho thấy rằng cả bảy trung tâm đều có thể là ‘quê nhà’ của các chân thần nhân loại.

99. If the center in which the Monad is a part is undergoing vivification, the appearance of the Monad in incarnation is more likely during that period of vivification.

99. Nếu trung tâm mà chân thần là một phần của nó đang trải qua sự tiếp sinh lực, thì sự xuất hiện của chân thần trong lâm phàm có nhiều khả năng hơn trong giai đoạn tiếp sinh lực ấy.

100. We can see that the cycles of chakric stimulation in a particular Planetary Logos will have much to do with the appearance of certain Monads in incarnation.

100. Chúng ta có thể thấy rằng các chu kỳ kích thích luân xa trong một Hành Tinh Thượng Đế nhất định sẽ có rất nhiều liên hệ với sự xuất hiện của một số chân thần trong lâm phàm.

101. Of course, it should be remember that the centers in which Monads (as Monads and not as individualized Egos) are found are upon the monadic plane.

101. Dĩ nhiên, cần nhớ rằng các trung tâm trong đó các chân thần (với tư cách chân thần chứ không phải như các Chân ngã đã được biệt ngã hóa) được tìm thấy là ở trên cõi chân thần.

102. By the way, in the above, we could note that the term “Heavenly Man” seems to be differentiated from “planetary scheme”. The “planetary scheme”, in this case, seems to be the vehicle of the Heavenly Man.

102. Nhân tiện, trong đoạn trên, chúng ta có thể lưu ý rằng thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” dường như được phân biệt với “hệ hành tinh”. Trong trường hợp này, “hệ hành tinh” dường như là vận cụ của Đấng Thiên Nhân.

or which centre of the solar Logos, is in process of vivification or cyclic activity,

hay trung tâm nào của Thái dương Thượng đế đang trong tiến trình tiếp sinh lực hay hoạt động theo chu kỳ,

103. Planetary schemes are “centres” in a Solar Logos.

103. Các hệ hành tinh là những “trung tâm” trong một Thái dương Thượng đế.

104. Certain planetary schemes are, as a whole, undergoing vivification or cyclic emphasis. During such periods, the Monads involved in the entire planetary scheme will be in some more active form of manifestation or demonstration.

104. Một số hệ hành tinh, xét như toàn thể, đang trải qua sự tiếp sinh lực hay sự nhấn mạnh theo chu kỳ. Trong những giai đoạn như thế, các chân thần liên hệ với toàn bộ hệ hành tinh sẽ ở trong một hình thức biểu hiện hay hiển lộ hoạt động hơn nào đó.

105. If, for instance, the Earth-scheme and the Venus-scheme are presently undergoing vivification by the Solar Logos, then the Monads found within the Earth-scheme and the Venus-scheme will be more active and more likely to be in incarnation than, for instance, the Monads found within a planetary scheme which is not undergoing solar logoic vivification.

105. Chẳng hạn, nếu hệ Địa Cầu và hệ Kim Tinh hiện đang trải qua sự tiếp sinh lực bởi Thái dương Thượng đế, thì các chân thần được tìm thấy trong hệ Địa Cầu và hệ Kim Tinh sẽ hoạt động hơn và có nhiều khả năng lâm phàm hơn, chẳng hạn, so với các chân thần được tìm thấy trong một hệ hành tinh không đang trải qua sự tiếp sinh lực của Thái dương Thượng đế.

106. We see, then, that monadic cycles are intimately related to the cycles of the Planetary Logoi and Solar Logoi.

106. Như vậy, chúng ta thấy rằng các chu kỳ chân thần liên hệ mật thiết với các chu kỳ của các Hành Tinh Thượng Đế và các Thái dương Thượng đế.

107. It should be said that the Earth, Venus, Saturn and perhaps Uranus are in process of kundalinic activation. Are Monads from these particular planets in incarnation more than the Monads from other planets? Yet Venus is entering a state of absorption so one would anticipate that Venusian Monads, too, would be entering a state of abstraction from incarnation (at least in the lower three worlds).

107. Cần nói rằng Trái Đất, Sao Kim, Sao Thổ và có lẽ Sao Thiên Vương đang trong tiến trình hoạt hóa kundalini. Phải chăng các chân thần từ những hành tinh đặc biệt này lâm phàm nhiều hơn các chân thần từ những hành tinh khác? Tuy nhiên Sao Kim đang đi vào một trạng thái hấp thu, vì thế người ta sẽ dự đoán rằng các chân thần Kim Tinh cũng sẽ đi vào một trạng thái trừu xuất khỏi lâm phàm (ít nhất trong ba cõi thấp).

108. The solar systemic ‘rounds’ will have to be considered. There may be seven such or perhaps nine. When the solar systemic ‘round’ reaches a particular planetary scheme it enters a stage of activation. Its chakras are activated and presumably, its monadic chakras as well, leading to the activation of a chakra’s constituent Monads.

108. Các “cuộc tuần hoàn” của hệ mặt trời sẽ phải được xem xét. Có thể có bảy cuộc như thế hoặc có lẽ chín. Khi “cuộc tuần hoàn” của hệ mặt trời đạt tới một hệ hành tinh nhất định, nó đi vào một giai đoạn hoạt hóa. Các luân xa của nó được hoạt hóa và có lẽ cả các luân xa chân thần của nó nữa, dẫn đến sự hoạt hóa các chân thần cấu thành một luân xa.

109. Thus, there may be at least two forms of activation with regard to a planetary scheme: round activation and kundalinic activation.

109. Như vậy, có thể có ít nhất hai hình thức hoạt hóa liên quan đến một hệ hành tinh: hoạt hóa theo cuộc tuần hoàn và hoạt hóa theo kundalini.

110. The activation of a planetary scheme also has much to do with the particular initiation or sub-initiation through which the Solar Logos is passing.

110. Sự hoạt hóa của một hệ hành tinh cũng có rất nhiều liên hệ với điểm đạo hay tiểu điểm đạo đặc biệt mà Thái dương Thượng đế đang trải qua.

and that certain of the centres of a solar Logos and this particular solar system are in a condition of partial pralaya through the process of the absorption of the lower solar life forces by the centres of higher vitality.

và rằng một số trung tâm của một Thái dương Thượng đế và hệ mặt trời đặc thù này đang ở trong một trạng thái giai kỳ qui nguyên bộ phận thông qua tiến trình hấp thu các mãnh lực sự sống thái dương thấp hơn bởi các trung tâm có sinh lực cao hơn.

111. We have a very interesting statement here. Venus and Mercury have entered stages of obscuration we are told. Even the Earth is headed in that direction. Does DK mean these particular planets?

111. Ở đây chúng ta có một phát biểu rất thú vị. Chúng ta được cho biết rằng Sao Kim và Sao Thủy đã đi vào các giai đoạn mờ khuất. Ngay cả Trái Đất cũng đang hướng theo chiều đó. DK có muốn nói đến chính những hành tinh đặc thù này không?

112. There are also planets which do not yet seem to have entered a stage of full activation. Though highly advanced planetary Entities express through these planets, the degree of planetary unfoldment seems to be delayed when compared with planets through which lesser planetary Entities express. For instance, it appears the Uranus and Neptune (and even Saturn and Jupiter) have not entered their fullest stages of activation.

112. Cũng có những hành tinh dường như chưa bước vào một giai đoạn hoạt hóa trọn vẹn. Dù các Thực Thể Hành Tinh rất cao cấp biểu lộ qua các hành tinh này, mức độ khai mở hành tinh dường như bị trì hoãn khi so với các hành tinh mà qua đó những Thực Thể Hành Tinh thấp hơn biểu lộ. Chẳng hạn, có vẻ như Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương (và ngay cả Sao Thổ và Sao Mộc) chưa bước vào các giai đoạn hoạt hóa đầy đủ nhất của chúng.

113. There is also a most interesting hint—that our present solar system is in a state of “partial pralaya”. Does this have something to do with the cycles of ‘systemic rounds’ which are moving from planetary scheme to planetary scheme?

113. Cũng có một gợi ý hết sức thú vị—rằng hệ mặt trời hiện tại của chúng ta đang ở trong một trạng thái “giai kỳ qui nguyên bộ phận”. Điều này có liên quan gì đến các chu kỳ của những “cuộc tuần hoàn hệ thống” đang di chuyển từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác chăng?

114. A type of absorption of lower into higher is now occurring and this, it seems, signals a type of systemic pralaya during the period of absorption.

114. Hiện nay đang diễn ra một loại hấp thu cái thấp vào cái cao, và điều này, dường như, báo hiệu một loại giai kỳ qui nguyên hệ thống trong suốt thời kỳ hấp thu.

Again, he must remember that the entire aspect of the Divine Life is not intended to reach its full unfoldment at any time in this solar system but must wait for the vitalising impulses of a later.

Một lần nữa, y phải nhớ rằng toàn bộ phương diện của Sự sống thiêng liêng không được dự định đạt đến sự khai mở trọn vẹn của nó vào bất kỳ lúc nào trong hệ mặt trời này mà phải chờ các xung lực tiếp sinh lực của một thời kỳ muộn hơn.

115. Some Monads will remain in a relatively abstracted state in this solar system, as they are intended to reach full expression in the next solar system. This is especially true of first ray Monads. Third ray Monads should have much of their final expression in this solar system. Will such Monads even be carried over into the next solar system?

115. Một số Chân thần sẽ vẫn ở trong một trạng thái tương đối trừu xuất trong hệ mặt trời này, vì chúng được dự định đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn trong hệ mặt trời kế tiếp. Điều này đặc biệt đúng đối với các Chân thần cung một. Các Chân thần cung ba hẳn sẽ có phần lớn sự biểu lộ chung cuộc của chúng trong hệ mặt trời này. Những Chân thần như thế thậm chí có được mang sang hệ mặt trời kế tiếp không?

116. DK is being purposefully vague, it seems, when speaking of “a later”. In some references, it seems that the next solar system will be the last, and supposedly the next is the sixth! In one other reference, the thought that there will be seven solar systems is explicitly stated. There may be a resolution in the idea that, as for the Monad, there may be a primary, primitive solar system in which all the “spokes” of the solar systemic Wheel are gathered to the center and undifferentiated.

116. Dường như DK cố ý nói mơ hồ khi nói về “một thời kỳ muộn hơn”. Trong một số chỗ tham chiếu, dường như hệ mặt trời kế tiếp sẽ là hệ cuối cùng, và được cho là hệ kế tiếp là hệ thứ sáu! Trong một chỗ tham chiếu khác, ý tưởng rằng sẽ có bảy hệ mặt trời được phát biểu minh nhiên. Có thể có một cách dung hòa trong ý tưởng rằng, đối với Chân thần, có thể có một hệ mặt trời sơ khởi, nguyên thủy, trong đó mọi “nan hoa” của Bánh Xe hệ thống thái dương đều được thu về trung tâm và chưa biến phân.

This is due to the fact that there exist in this solar system effects of causes originating in earlier kalpas or—to word it otherwise—the karmic seeds of earlier logoic activities.

Điều này là do sự kiện rằng trong hệ mặt trời này tồn tại những hiệu quả của các nguyên nhân phát sinh trong các kalpa trước đó hay—nói theo cách khác—các hạt giống nghiệp quả của các hoạt động logoi trước kia.

117. Apparently, some causes from a previous solar system act as retardants in this solar system. We cannot assume that the Solar Logos was ever meant to achieve His full development in this solar system, but probably some aspects of His development in this solar system are delayed by the coming to fruition of “the karmic seeks of earlier logoic activities”.

117. Hiển nhiên, một số nguyên nhân từ một hệ mặt trời trước đang hoạt động như những yếu tố làm chậm lại trong hệ mặt trời này. Chúng ta không thể giả định rằng Thái dương Thượng đế từng được định là phải đạt đến sự phát triển trọn vẹn của Ngài trong hệ mặt trời này, nhưng có lẽ một số phương diện trong sự phát triển của Ngài trong hệ mặt trời này bị trì hoãn bởi sự chín muồi của “các hạt giống nghiệp quả của các hoạt động logoi trước kia”.

118. One can infer that it is the third ray influence (that of the “Primordial Ray”) which acts as a retardant in this solar system. In the next solar system, we have reason to believe that the second ray influence will act as a retardant.

118. Người ta có thể suy ra rằng chính ảnh hưởng cung ba (ảnh hưởng của “Cung Nguyên Sơ”) hoạt động như một yếu tố làm chậm lại trong hệ mặt trời này. Trong hệ mặt trời kế tiếp, chúng ta có lý do để tin rằng ảnh hưởng cung hai sẽ hoạt động như một yếu tố làm chậm lại.

Our solar Logos has not yet attained true rhythm, but for millenia of cycles the equilibrising process must go on.

Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa đạt được nhịp điệu chân chính, nhưng trong hàng ngàn chu kỳ, tiến trình quân bình hóa phải tiếp tục.

119. Our Solar Logos is not yet a fully soul-infused Solar Logos. His cosmic soul is not yet in full expression just as the soul of a human being who has taken the second initiation, but not the third, is not fully soul-infused.

119. Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa phải là một Thái dương Thượng đế được linh hồn thấm nhuần trọn vẹn. Linh hồn vũ trụ của Ngài chưa biểu lộ đầy đủ, cũng như linh hồn của một con người đã trải qua lần điểm đạo thứ hai nhưng chưa qua lần điểm đạo thứ ba thì chưa được linh hồn thấm nhuần trọn vẹn.

120. When DK speaks of “the equilibrising process”, is He speaking of the applied energy of Libra?

120. Khi DK nói về “tiến trình quân bình hóa”, phải chăng Ngài đang nói đến năng lượng được áp dụng của Thiên Bình?

121. We remember that the second type of electricity has a particular equilibrizing function. Our Solar Logos is dealing, especially, with that type of electricity in this solar system—solar fire.

121. Chúng ta nhớ rằng loại điện thứ hai có một chức năng quân bình hóa đặc thù. Thái dương Thượng đế của chúng ta đang đặc biệt xử lý loại điện đó trong hệ mặt trời này—Lửa Thái dương.

122. Libra has a close relation to solar fire, even though the third ray is said to be the ray manifesting through it at this time.

122. Thiên Bình có một liên hệ mật thiết với Lửa Thái dương, dù cung ba được nói là cung đang biểu lộ qua nó vào lúc này.

123. The achievement of equilibrium may be another way of speaking of having taken the fourth initiation. We must remember that one of thirteen types of Monads was called “The Equilibrised Atoms”. (TCF 1081) When interpreting the meaning of that name for the Monads of a certain type, we suggested that it could indicate those human beings who had taken the fourth initiation.

123. Việc đạt được quân bình có thể là một cách khác để nói về việc đã trải qua lần điểm đạo thứ tư. Chúng ta phải nhớ rằng một trong mười ba loại Chân thần được gọi là “Các Nguyên Tử Đã Được Quân Bình”. (TCF 1081) Khi diễn giải ý nghĩa của tên gọi đó đối với các Chân thần thuộc một loại nào đó, chúng ta đã gợi ý rằng nó có thể chỉ những con người đã trải qua lần điểm đạo thứ tư.

Nor has our planetary Logos achieved equilibrium,

Thái dương Thượng đế hành tinh của chúng ta cũng chưa đạt được quân bình,

124. Just as our Solar Logos has not yet taken the fourth cosmic initiation (but is expected to in this solar system), our Planetary Logos has not taken His cosmic fourth. The two types of ‘cosmic fourths’ are, one would suspect, of a different order.

124. Cũng như Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ tư (nhưng được kỳ vọng sẽ trải qua trong hệ mặt trời này), Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta cũng chưa trải qua lần thứ tư vũ trụ của Ngài. Hai loại “lần thứ tư vũ trụ” này, người ta có thể ngờ rằng, thuộc một trật tự khác nhau.

125. Our Planetary Logos is, however, taking a minor fourth initiation and thus some degree of equilibrization is imminent—perhaps this equilibrization of our particular planetary chain.

125. Tuy nhiên, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang trải qua một lần điểm đạo thứ tư nhỏ hơn, và do đó một mức độ quân bình hóa nào đó đang cận kề—có lẽ là sự quân bình hóa của dãy hành tinh đặc thù của chúng ta.

and the even balancing of forces,

và sự quân bình đồng đều của các mãnh lực,

126. We may remember that the constellation Libra is particularly influential in our planetary scheme at this time.

126. Chúng ta có thể nhớ rằng chòm sao Thiên Bình hiện nay có ảnh hưởng đặc biệt trong hệ hành tinh của chúng ta.

therefore until His point in evolution and His objective vision is known

vì vậy cho đến khi điểm tiến hoá của Ngài và tầm nhìn mục tiêu của Ngài được biết đến

127. Our Planetary Logos has yet to fully develop cosmic vision.

127. Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta vẫn còn phải phát triển đầy đủ linh thị vũ trụ.

128. It seems that a Logos or a man can be graded according to the quality of his vision.

128. Dường như một Thượng đế hay một con người có thể được phân hạng theo phẩm tính của tầm nhìn của y.

and it is known also which centre in the solar body is vitalised by His life,

và cũng được biết trung tâm nào trong thể thái dương được tiếp sinh lực bởi sự sống của Ngài,

129. In some respects, this center is now known—the base of the spine center.

129. Ở một số phương diện, trung tâm này hiện nay đã được biết—trung tâm đáy cột sống.

130. In Esoteric Astrology the following is said, clearly indicating, it would seem, the center in the solar body which is vitalized by the life of our Planetary Logos:

130. Trong Chiêm Tinh Học Nội Môn có nói như sau, dường như chỉ rõ trung tâm trong thể thái dương được tiếp sinh lực bởi sự sống của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta:

It relates finally the lowest centre at the base of the spine to the highest centre, the head centre. This is a correspondence to the relation of the Earth to the Sun. Think this out. (EA 25)

Cuối cùng nó liên hệ trung tâm thấp nhất ở đáy cột sống với trung tâm cao nhất, trung tâm đầu. Đây là một tương ứng với mối liên hệ của Trái Đất với Mặt Trời. Hãy suy ngẫm điều này. (EA 25)

131. Esoteric Astrology however was written almost a decade after A Treatise on Cosmic Fire was published, and so it is clear that the Tibetan had not yet revealed the chakric function of the Earth-scheme in that earlier and larger book.

131. Chiêm Tinh Học Nội Môn tuy nhiên được viết gần một thập niên sau khi Luận về Lửa Vũ Trụ được xuất bản, và vì vậy rõ ràng là Chân sư Tây Tạng khi ấy chưa tiết lộ chức năng luân xa của hệ Địa Cầu trong bộ sách trước đó và đồ sộ hơn ấy.

it will be the part of wisdom to refrain from dogmatic assertion, and a too free utterance in connection with incarnating, and non-incarnating, Monads.

sẽ là phần của minh triết nếu kiềm chế sự khẳng định giáo điều, và một sự phát ngôn quá tự do liên quan đến các Chân thần đang lâm phàm và không lâm phàm.

132. We are told that some sixty billion Monads are to be found in this solar system. It is presumably the case that among these are to be found both incarnating Monads and those presently out of incarnation. Many first ray Monads are presently out of incarnation, though in manifestation.

132. Chúng ta được cho biết rằng có khoảng sáu mươi tỉ Chân thần được tìm thấy trong hệ mặt trời này. Có lẽ đúng là trong số đó có cả các Chân thần đang lâm phàm lẫn những Chân thần hiện không lâm phàm. Nhiều Chân thần cung một hiện không lâm phàm, dù vẫn đang biểu lộ.

133. DK is asking us to show some restraint when speaking of these matters.

133. DK đang yêu cầu chúng ta biểu lộ một mức độ tiết chế nào đó khi nói về những vấn đề này.

134. The truth is, that although Master DK has presented us with so much, we really know so little.

134. Sự thật là, dù Chân sư DK đã trình bày cho chúng ta rất nhiều, chúng ta thực sự biết quá ít.

All are turning upon the monadic cosmic wheel;

Tất cả đều đang xoay chuyển trên bánh xe vũ trụ chân thần;

135. DK seems to be telling us that each Monad is part not only of a systemic wheel but is even more essentially a part of a “monadic cosmic wheel”.

135. Dường như DK đang nói với chúng ta rằng mỗi Chân thần không chỉ là một phần của một bánh xe hệ thống mà còn, một cách cốt yếu hơn nữa, là một phần của một “bánh xe vũ trụ chân thần”.

136. We may say that the Monad is “that which finds its place within the sun” but if this is the case, it even more essentially finds its place within that ‘Sun’ which is a Cosmic Logos.

136. Chúng ta có thể nói rằng Chân thần là “điều tìm thấy vị trí của nó bên trong mặt trời”, nhưng nếu đúng như vậy, thì nó còn cốt yếu hơn nữa là tìm thấy vị trí của nó bên trong ‘Mặt Trời’ là một Vũ Trụ Thượng đế.

137. The lowest of the many types of cosmic wheels is that wheel for which seven suns are as chakras.

137. Thấp nhất trong nhiều loại bánh xe vũ trụ là bánh xe mà đối với nó bảy mặt trời là các luân xa.

each is being [Page 1091] swept into some form of activity upon the lesser revolution of this particular systemic wheel, but not all in any particular cycle are to be found revolving upon a specific planetary wheel.

mỗi Chân thần đang được [Page 1091] cuốn vào một hình thức hoạt động nào đó trên vòng quay nhỏ hơn của bánh xe hệ thống đặc thù này, nhưng không phải tất cả, trong bất kỳ chu kỳ đặc thù nào, đều được thấy đang quay trên một bánh xe hành tinh đặc thù.

138. Above the level of a planetary scheme—at least above the aspects of a planetary scheme which are in incarnation within the dense physical body of a Planetary Logos—are Monads which are refraining from taking incarnation.

138. Trên cấp độ của một hệ hành tinh—ít nhất là trên các phương diện của một hệ hành tinh đang lâm phàm trong thể xác đậm đặc của một Hành Tinh Thượng Đế—có những Chân thần đang kiềm không nhận lấy sự lâm phàm.

139. DK seems to be saying that although Monads are definitely associated with a particular systemic wheel, they are not necessarily, in all systemic cycles, associated with a particular planetary wheel. In what ‘location’, then, are such Monads to be found?

139. Dường như DK đang nói rằng dù các Chân thần chắc chắn có liên hệ với một bánh xe hệ thống đặc thù, chúng không nhất thiết, trong mọi chu kỳ hệ thống, đều liên hệ với một bánh xe hành tinh đặc thù. Vậy thì, ở “vị trí” nào có thể tìm thấy những Chân thần như thế?

Many wait for development and for more appropriate seasons in interplanetary spaces,

Nhiều Chân thần chờ đợi sự phát triển và những mùa kỳ thích hợp hơn trong các không gian liên hành tinh,

140. The term “interplanetary” has been appearing with some frequency and makes us wonder whether between the spheres of various planetary schemes there might not occur developmental opportunities for Monads.

140. Thuật ngữ “liên hành tinh” đã xuất hiện khá thường xuyên và khiến chúng ta tự hỏi liệu giữa các khối cầu của những hệ hành tinh khác nhau có thể không xuất hiện những cơ hội phát triển cho các Chân thần hay không.

141. A Logos, like our Solar Logos, is the ‘home’ for a Monad. Can Master DK be saying that a Planetary Logos is not necessarily a ‘home’ for a Monad but, rather, simply an arena of expression?

141. Một Thượng đế, như Thái dương Thượng đế của chúng ta, là “nhà” của một Chân thần. Liệu Chân sư DK có thể đang nói rằng một Hành Tinh Thượng Đế không nhất thiết là “nhà” của một Chân thần mà đúng hơn chỉ là một đấu trường biểu lộ?

142. To “wait to development” is to be in a kind of pralaya.

142. “Chờ đợi để phát triển” là ở trong một loại giai kỳ qui nguyên nào đó.

143. The word “seasons” is not chosen randomly, but for the sake of its cyclic implications.

143. Từ “mùa kỳ” không được chọn một cách ngẫu nhiên, mà vì những hàm ý chu kỳ của nó.

and some must wait until the entering in of a new mahamanvantara.

và một số phải chờ cho đến khi bước vào một Đại giai kỳ sinh hóa mới.

144. DK is telling us that some Monads will not incarnate until the next mahamanvantara. Yet, it seems that presently they are in our solar system—though probably, on its very highest levels and far from those levels of precipitation which we call areas of monadic “incarnation”.

144. DK đang nói với chúng ta rằng một số Chân thần sẽ không lâm phàm cho đến Đại giai kỳ sinh hóa kế tiếp. Tuy nhiên, dường như hiện nay chúng đang ở trong hệ mặt trời của chúng ta—dù có lẽ ở những cấp độ cao nhất của nó và xa những cấp độ ngưng tụ mà chúng ta gọi là các khu vực “lâm phàm” của Chân thần.

Students should bear carefully in mind the words of H. P. B. where he

Các đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ những lời của H. P. B. nơi ông

145. Again, H.P.B. is referred to as “he”. Again, this is not merely a typo or an oversight.

145. Một lần nữa, H.P.B. được nhắc đến là “ông”. Một lần nữa, đây không chỉ đơn thuần là lỗi đánh máy hay sự sơ suất.

146. DK is always dropping subtle hints which, if detected, can reveal a number of levels of the Teaching beneath the more obvious Teaching.

146. DK luôn đưa ra những gợi ý tinh tế mà, nếu được nhận ra, có thể tiết lộ một số cấp độ của Giáo Huấn nằm bên dưới Giáo Huấn hiển nhiên hơn.

tells students of the Secret Doctrine that the stanzas and their Commentary deal primarily with our particular planetary Logos. This is oft forgotten.

nói với các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm rằng các bài kệ và Cổ Luận của chúng chủ yếu bàn đến Hành Tinh Thượng Đế đặc thù của chúng ta. Điều này thường bị quên mất.

147. Perhaps primarily, but there are surely initial stanzas which are far more cosmic in their scope. One can very reasonably interpret these stanzas as universal while always being ready to see their planetary-logoic application.

147. Có lẽ là chủ yếu, nhưng chắc chắn có những bài kệ mở đầu có phạm vi vũ trụ hơn nhiều. Người ta hoàn toàn có thể diễn giải những bài kệ này như là phổ quát trong khi luôn sẵn sàng thấy sự áp dụng hành tinh-logoi của chúng.

It may interest students to know that there are certain colours, veiling these groups of non-incarnating Monads,

Có thể điều này sẽ khiến các đạo sinh quan tâm khi biết rằng có những màu sắc nhất định, che phủ những nhóm Chân thần không lâm phàm này,

148. From what we have been able to gather, there are “non-incarnating Monads” both within planetary schemes and also in “interplanetary spaces”.

148. Từ những gì chúng ta có thể thu thập được, có những “Chân thần không lâm phàm” cả bên trong các hệ hành tinh lẫn trong “các không gian liên hành tinh”.

149. Simply because a Monad is within a planetary scheme does not necessarily mean that it is an “incarnating Monad”.

149. Chỉ vì một Chân thần ở trong một hệ hành tinh không nhất thiết có nghĩa rằng nó là một “Chân thần đang lâm phàm”.

150. It seems more likely that these “true” colours veil Monads which are “non-incarnating”.

150. Có vẻ hợp lý hơn khi cho rằng những màu sắc “chân thực” này che phủ các Chân thần “không lâm phàm”.

at present totally unknown to humanity.

hiện nay hoàn toàn chưa được nhân loại biết đến.

151. “Colour” we have often been told is a “veil”. Could red be one such color? Occultly, it seems that the colour red is, to a degree, repulsed by our second ray solar system.

151. Chúng ta thường được bảo rằng “màu sắc” là một “tấm màn che”. Liệu màu đỏ có thể là một màu như thế chăng? Một cách huyền bí, dường như màu đỏ, ở một mức độ nào đó, bị đẩy lùi bởi hệ mặt trời cung hai của chúng ta.

These will sweep into the consciousness of the human being in another solar system,

Những màu này sẽ tràn vào tâm thức của con người trong một hệ mặt trời khác,

152. Presumably, the next and final solar system.

152. Có lẽ là hệ mặt trời kế tiếp và cuối cùng.

or after the taking of the sixth Initiation.

hoặc sau khi trải qua lần điểm đạo thứ sáu.

153. At which time the Monad is a fully liberated Entity—an Entity fully liberated from any of the five lower worlds.

153. Vào lúc ấy Chân thần là một Thực Thể được giải thoát hoàn toàn—một Thực Thể được giải thoát hoàn toàn khỏi bất kỳ cõi nào trong năm cõi thấp.

154. Are we being told that these Monads, veiled by certain colours, can take the sixth initiation without incarnating? Or that only the human being who has taken the sixth initiation can become aware of them?

154. Có phải chúng ta đang được bảo rằng những Chân thần này, được che phủ bởi những màu sắc nhất định, có thể trải qua lần điểm đạo thứ sáu mà không cần lâm phàm? Hay chỉ có con người đã trải qua lần điểm đạo thứ sáu mới có thể nhận biết chúng?

155. While many Monads may take the sixth initiation in this solar system (and thus register these deeply recessed, “true colours”), far more will take this initiation in the next system—a system in which our Solar Logos is to take the sixth initiation.

155. Trong khi nhiều Chân thần có thể trải qua lần điểm đạo thứ sáu trong hệ mặt trời này (và do đó ghi nhận những “màu sắc chân thực” ẩn sâu này), thì còn nhiều hơn nữa sẽ trải qua lần điểm đạo này trong hệ kế tiếp—một hệ mà trong đó Thái dương Thượng đế của chúng ta sẽ trải qua lần điểm đạo thứ sáu.

All that we have on earth are reflections of the true colours,

Tất cả những gì chúng ta có trên Trái Đất chỉ là những phản chiếu của các màu sắc chân thực,

156. The occult colors of which we usually speak are simply reflections of deeply esoteric “true colours”.

156. Những màu sắc huyền bí mà chúng ta thường nói đến chỉ đơn giản là những phản chiếu của các “màu sắc chân thực” nội môn sâu xa.

and likewise the reflection of the lowest aspect.

và cũng là phản chiếu của phương diện thấp nhất.

157. Is DK speaking of the reflection of the “lowest aspect” of these “true colours”—the Brahmic aspect of such colours?

157. DK có đang nói về phản chiếu của “phương diện thấp nhất” của những “màu sắc chân thực” này—phương diện Brahma của các màu sắc ấy chăng?

158. It would seem that there are three types of colours to be correlated with one of the divine aspects—Spirit, soul or body (i.e., personality).

158. Dường như có ba loại màu sắc cần được tương liên với một trong các phương diện thiêng liêng—Tinh thần, linh hồn hay thể (tức phàm ngã).

Every colour in the cosmos exists in three forms:

Mọi màu sắc trong vũ trụ đều tồn tại dưới ba hình thức:

1. The true colour.

1. Màu sắc chân thực.

2. The illusory appearance of the colour.

2. vẻ ngoài ảo tưởng của màu sắc.

3. Its reflection. [Presumably, the reflection of the “true colour”]

3. Phản chiếu của nó. [Có lẽ là phản chiếu của “màu sắc chân thực”]

159. The three aspects of divinity are here implied. The “true color” corresponds to the first aspect of divinity; the “illusory appearance of the colour”, to the second aspect; the “reflection” of the colour to the third aspect.

159. Ba phương diện của thiên tính được hàm ý ở đây. “Màu sắc chân thực” tương ứng với phương diện thứ nhất của thiên tính; “vẻ ngoài ảo tưởng của màu sắc” tương ứng với phương diện thứ hai; “phản chiếu” của màu sắc tương ứng với phương diện thứ ba.

160. VSK Suggests: “This is a key suggestion as to why there are three colours, not just two (exoteric and esoteric), but three, perhaps similar to the manner in which astrological signs have three rulers: hierarchical (true), esoteric (illusory appearance) and exoteric (reflection). Does this mean that there is a true colour, and the esoteric would be illusory, and exoteric the reflection? I’m not sure. We have the earlier reference in regard to rays: the same ray, the complementary ray, and the antagonistic one. If we can overlay this trinity, then I’d say true is ‘the same’; complementary is the illusion, and antagonistic is the reflection. This is very obscure, and knowing exoteric colour optics does not help (especially in this case, as the illusion and the reflection would be the same things), and there is no colour ‘in the cosmos’ (as it is a physiological event and not something that has existence independent of perceiver).

160. VSK gợi ý: “Đây là một gợi ý then chốt về lý do tại sao có ba màu, chứ không chỉ hai (ngoại môn và nội môn), mà là ba, có lẽ tương tự như cách các dấu hiệu hoàng đạo có ba chủ tinh: huyền giai (chân thực), nội môn (vẻ ngoài ảo tưởng) và ngoại môn (phản chiếu). Điều này có nghĩa là có một màu chân thực, và màu nội môn sẽ là vẻ ngoài ảo tưởng, còn màu ngoại môn là phản chiếu chăng? Tôi không chắc. Chúng ta có chỗ tham chiếu trước đó liên quan đến các cung: cùng một cung, cung bổ sung, và cung đối kháng. Nếu chúng ta có thể chồng bộ ba này lên, thì tôi sẽ nói chân thực là ‘cùng một’; bổ sung là ảo tưởng; và đối kháng là phản chiếu. Điều này rất mơ hồ, và việc biết quang học màu sắc ngoại môn không giúp được gì (đặc biệt trong trường hợp này, vì vẻ ngoài ảo tưởng và phản chiếu sẽ là cùng một thứ), và không có màu sắc nào ‘trong vũ trụ’ cả (vì đó là một hiện tượng sinh lý học chứ không phải điều gì có sự tồn tại độc lập với người tri giác).

161. When attempting to overlay the trinity of a planet, its polar-opposite and its complementary, there may not be an exact fit with the trinity of “true”, “illusory” and “reflection”. In the planetary trinity, the planet which is the polar opposite may be higher in the scale of development than the complementary planet, as Venus, the polar opposite of the Earth is higher in the scale of development than Mar, the inferred complementary planet of Earth.

161. Khi cố gắng chồng bộ ba của một hành tinh, hành tinh đối cực của nó và hành tinh bổ sung của nó lên nhau, có thể sẽ không có sự khớp chính xác với bộ ba “chân thực”, “ảo tưởng” và “phản chiếu”. Trong bộ ba hành tinh, hành tinh là đối cực có thể cao hơn trên thang phát triển so với hành tinh bổ sung, như Sao Kim, đối cực của Trái Đất, cao hơn trên thang phát triển so với Sao Hỏa, hành tinh bổ sung được suy ra của Trái Đất.

162. Of course, if we begin with Venus, then Earth may be correlated with the “illusory appearance” and Mars with the reflection. Yet, Earth is definitely the polar-opposite of Venus. Is Mars, then, to be considered the complementary planet of Venus just as it is of Earth?

162. Dĩ nhiên, nếu chúng ta bắt đầu với Sao Kim, thì Trái Đất có thể được tương liên với “vẻ ngoài ảo tưởng” và Sao Hỏa với phản chiếu. Tuy nhiên, Trái Đất chắc chắn là đối cực của Sao Kim. Vậy thì Sao Hỏa có được xem là hành tinh bổ sung của Sao Kim cũng như của Trái Đất không?

163. Thus, the three trinities, while offering interesting comparisons, may not offer exact analogies.

163. Vì vậy, ba bộ ba này, dù đưa ra những so sánh thú vị, có thể không đưa ra những tương đồng chính xác.

164. I would also suggest that we consider the three fundamental musical relationships: the tonic, the dominant and the sub-dominant notes. The opposites are found in the tonic and dominant. The sub-dominant is reasonably to be correlated with the function called “complementary”.

164. Tôi cũng xin gợi ý rằng chúng ta hãy xét đến ba tương quan âm nhạc căn bản: âm chủ, âm át và âm dưới át. Các đối cực được tìm thấy trong âm chủ và âm át. Âm dưới át có thể được tương liên một cách hợp lý với chức năng được gọi là “bổ sung”.

165. Thus we have four trinities which, when compared, may provide illumination:

165. Như vậy chúng ta có bốn bộ ba mà, khi được so sánh, có thể đem lại sự soi sáng:

a. True, illusory and reflected colours

a. Các màu chân thực, ảo tưởng và phản chiếu

b. Hierarchical, esoteric and exoteric planetary rulers

b. Các chủ tinh hành tinh huyền giai, nội môn và ngoại môn

c. A planet, its polar opposite and its complement

c. Một hành tinh, đối cực của nó và hành tinh bổ sung của nó

d. The musical tonic, dominant and sub-dominant

d. Âm chủ, âm át và âm dưới át trong âm nhạc

166. Other trinities could no doubt be added and provide additional illumination.

166. Không nghi ngờ gì nữa, có thể thêm vào những bộ ba khác và cung cấp thêm sự soi sáng.

The reflection is that with which we are familiar;

Phản chiếu là điều mà chúng ta quen thuộc;

167. This is color as perceived by the personality consciousness.

167. Đây là màu sắc như được tri giác bởi tâm thức phàm ngã.

168. The reflection definitely correlates with the Brahmic aspect of divinity.

168. Phản chiếu chắc chắn tương liên với phương diện Brahma của thiên tính.

the appearance, or that which veils the reality, is contacted and known when we see with the eye of the soul, the Eye of Shiva,

vẻ ngoài, hay điều che phủ thực tại, được tiếp xúc và biết đến khi chúng ta nhìn bằng con mắt của linh hồn, Con Mắt của Shiva,

169. Here the "Eye of the Soul" is presented as the same as the "Eye of Shiva". In other contexts, these two are differentiated.

169. Ở đây “Con Mắt của Linh Hồn” được trình bày như đồng nhất với “Con Mắt của Shiva”. Trong những ngữ cảnh khác, hai điều này được phân biệt.

170. Usually the third aspect of divinity is considered the “veil”, but in this case, the second aspects serves this function, just as the soul or egoic lotus veils the Monad.

170. Thông thường phương diện thứ ba của thiên tính được xem là “tấm màn che”, nhưng trong trường hợp này, phương diện thứ hai đảm nhiệm chức năng ấy, cũng như linh hồn hay hoa sen chân ngã che phủ Chân thần.

and the true colour14 is contacted after the fifth kingdom has been passed through,

và màu sắc chân thực14 được tiếp xúc sau khi giới thứ năm đã được vượt qua,

171. The sixth kingdom is being entered—the Kingdom of Planetary Lives.

171. Giới thứ sáu đang được bước vào—Giới của Các Sự Sống Hành tinh.

172. This means that the “true colour” is only registered when a man has become more than a Master.

172. Điều này có nghĩa là “màu sắc chân thực” chỉ được ghi nhận khi một người đã trở thành hơn cả một Chân sư.

and group consciousness is merging in that of the divine.

và tâm thức nhóm đang hòa nhập vào tâm thức thiêng liêng.

173. This is movement from the “spiritual” to the “divine”, from the soul to the Monad.

173. Đây là sự chuyển động từ “tinh thần” sang “thiêng liêng”, từ linh hồn đến Chân thần.

174. The three colors must have a mathematical relationship, and as VSK suggests, there must be a relationship of complementarity to the true color and also a relationship of opposition. Whether we should use the term “antagonistic” in relation to that which is the polar opposite should be pondered.

174. Ba màu sắc hẳn phải có một tương quan toán học, và như VSK gợi ý, hẳn phải có một tương quan bổ sung với màu sắc chân thực và cũng có một tương quan đối lập. Liệu chúng ta có nên dùng thuật ngữ “đối kháng” liên hệ với điều là đối cực hay không là điều cần được suy ngẫm.

175. As stated above, when considering the colour trinity, we are inclined to consider the following planetary trinity: the Earth, the planet which is its polar opposite and the planet which is it complement.

175. Như đã nói ở trên, khi xét bộ ba màu sắc, chúng ta có khuynh hướng xét bộ ba hành tinh sau đây: Trái Đất, hành tinh là đối cực của nó và hành tinh là phần bổ sung của nó.

176. However, Venus is almost certainly to be considered the polar opposite of Earth, and Mars is lower in its vibration than both of them, so in this case the “opposite” could not easily be considered the “reflection” (which is the lowest member of the colour trinity).

176. Tuy nhiên, Sao Kim gần như chắc chắn phải được xem là đối cực của Trái Đất, và Sao Hỏa thấp hơn về rung động so với cả hai, nên trong trường hợp này “đối cực” không thể dễ dàng được xem là “phản chiếu” (vốn là thành viên thấp nhất của bộ ba màu sắc).

177. So perhaps there is not a complete parallel between the model for the true color, its reflection and its illusory appearance, and Venus (let us say as the analogue to the true color) Earth and Mars..

177. Vì vậy có lẽ không có một sự song hành hoàn toàn giữa mô hình của màu sắc chân thực, phản chiếu của nó và vẻ ngoài ảo tưởng của nó, với Sao Kim (giả sử như là loại suy cho màu sắc chân thực), Trái Đất và Sao Hỏa..

178. There may be another useful parallel: the Monad; the soul as its reflection; and the personality as its “shadow”. In this case the term “reflection” is equivalent to “illusory appearance”.

178. Có thể có một sự song hành hữu ích khác: Chân thần; linh hồn như phản chiếu của nó; và phàm ngã như “bóng” của nó. Trong trường hợp này thuật ngữ “phản chiếu” tương đương với “vẻ ngoài ảo tưởng”.

179. If there are so many trinities in occult relationship, it seems logical that there should be a trinity in the realm of color.

179. Nếu có quá nhiều bộ ba trong tương quan huyền bí như vậy, thì dường như hợp lý khi phải có một bộ ba trong lĩnh vực màu sắc.

180. Looking again at the three notes of the chord—fundamental, subdominant and dominant—the subdominant (or the fourth) would be analogous to the “reflection” in terms of color, and the dominant would be the “illusory appearance”. In other words, the dominant would ‘veil’ the tonic, just as the illusory appearance veils the true color. The subdominant or fourth is associated with green, with matter and, thus, with Brahma and is, consequently, a suitable correspondence to the “reflection” of the “true colour” whereas the dominant or fifth always corresponds to the soul and thus to the “illusory appearance”, remembering that the soul veils the Monad.

180. Xét lại ba nốt của hợp âm—nốt căn bản, nốt dưới át và nốt át—thì nốt dưới át (hay nốt thứ tư) sẽ tương tự với “phản chiếu” về phương diện màu sắc, còn nốt át sẽ là “vẻ ngoài ảo tưởng”. Nói cách khác, nốt át sẽ “che phủ” nốt chủ, cũng như vẻ ngoài ảo tưởng che phủ màu sắc chân thực. Nốt dưới át hay nốt thứ tư được liên kết với màu xanh lá, với vật chất và do đó với Brahma, và vì vậy là một tương ứng thích hợp với “phản chiếu” của “màu sắc chân thực”, trong khi nốt át hay nốt thứ năm luôn tương ứng với linh hồn và do đó với “vẻ ngoài ảo tưởng”, nhớ rằng linh hồn che phủ Chân thần.

181. We should remember that the tonic can be positioned (vibratorily) ‘above’ the dominant and not only below it.

181. Chúng ta nên nhớ rằng âm chủ có thể được đặt (về mặt rung động) “ở trên” âm át chứ không chỉ ở dưới nó.

182. Musicians will recognize that in the chord progression from subdominant to dominant to tonic, there is a gradual ‘unveiling’ and a sense of having reached the true and fundamental tone when the tonic is reached.

182. Các nhạc sĩ sẽ nhận ra rằng trong tiến trình hợp âm từ âm dưới át đến âm át rồi đến âm chủ, có một sự “vén mở” dần dần và một cảm giác đã đạt đến âm điệu chân thực và căn bản khi âm chủ được chạm tới.

183. Until the mathematical relationship between the three colours is solved, the true relationship will not be understood.

183. Chừng nào tương quan toán học giữa ba màu sắc chưa được giải quyết, thì tương quan chân thực sẽ chưa được thấu hiểu.

184. DK’s statements concerning “true colour” alert us to how little we know about the nature of colour and why we must be cautious in creating tables of correspondences concerning colour.

184. Những phát biểu của DK liên quan đến “màu sắc chân thực” cảnh báo chúng ta về việc chúng ta biết quá ít về bản chất của màu sắc và vì sao chúng ta phải thận trọng khi tạo ra các bảng tương ứng liên quan đến màu sắc.

Footnote 14:

Cước chú 14:

Colour.—Originally meant a "covering." From root "celare" to cover or hide. Also Occultare, to hide.

Màu sắc.—Nguyên thủy có nghĩa là một “sự che phủ”. Từ gốc “celare” nghĩa là che phủ hay ẩn giấu. Cũng như Occultare, nghĩa là ẩn giấu.

185. We are to understand that colour both conceals that which stands behind it and reveals something of its hidden nature as well.

185. Chúng ta phải hiểu rằng màu sắc vừa che giấu điều đứng phía sau nó vừa tiết lộ điều gì đó về bản chất ẩn kín của điều ấy nữa.

Symbology of colours. The language of the prism, of which "the seven mother colours have each seven sons," that is to say, forty-nine shades or "sons" between the seven, which graduated tints are so many letters or alphabetical characters.

Biểu tượng học của màu sắc. Ngôn ngữ của lăng kính, trong đó “bảy màu mẹ mỗi màu có bảy người con”, nghĩa là bốn mươi chín sắc độ hay “người con” nằm giữa bảy màu, mà những sắc thái chuyển grad này là rất nhiều chữ cái hay ký tự mẫu tự.

186. If the language were Sanskrit with its forty-nine letters there could be an important correlation. Every letter in Sanskrit is a mantram, thus every shade of color could be correlated with one of these forty-nine mantrams or Words of Power. There are also some who divide the musical octave according to ratios using the number forty-nine. All these “spiritual numerals” can be correlated—colours, notes, syllables.

186. Nếu ngôn ngữ ấy là tiếng Phạn với bốn mươi chín chữ cái của nó thì có thể có một tương liên quan trọng. Mỗi chữ cái trong tiếng Phạn là một mantram, do đó mỗi sắc độ màu có thể được tương liên với một trong bốn mươi chín mantram hay Quyền năng từ này. Cũng có những người chia quãng tám âm nhạc theo các tỉ lệ dùng con số bốn mươi chín. Tất cả những “con số tinh thần” này đều có thể được tương liên—màu sắc, nốt nhạc, âm tiết.

187. With regard to Sanskrit, are there seven letters/sounds which are to be considered fundamental?

187. Liên quan đến tiếng Phạn, có phải có bảy chữ cái/âm thanh được xem là căn bản hay không?

The language of colours has, therefore, fifty-six letters for the initiate.

Vì vậy, ngôn ngữ của màu sắc có năm mươi sáu chữ cái đối với điểm đạo đồ.

188. The seven “mother colours” and the forty-nine “sons” or graduated shades of each colour.

188. Bảy “màu mẹ” và bốn mươi chín “người con” hay các sắc độ chuyển grad của mỗi màu.

189. We must wonder whether one of the subsidiary, “son” colours, is not the same as the original ‘Mother colour’, just as one of the seven subsidiary Ashrams is identical in quality with the quality of the major Ashram of which it is a part.

189. Chúng ta phải tự hỏi liệu một trong các màu phụ, “màu con”, có phải không chính là màu “Mẹ” nguyên thủy, cũng như một trong bảy ashram phụ đồng nhất về phẩm tính với phẩm tính của ashram lớn mà nó là một phần của ashram ấy.

Of these letters each septenary is absorbed by the mother colour as each of the seven mother colours is absorbed finally in the white ray, Divine Unity symbolised by these colours.

Trong các chữ cái này, mỗi bộ bảy được hấp thu bởi màu mẹ, cũng như mỗi một trong bảy màu mẹ cuối cùng được hấp thu vào cung trắng, Hợp Nhất thiêng liêng được tượng trưng bởi các màu sắc này.

190. The “Divine Unity” is symbolized by the “white ray”. The model here presented is useful when considering the absorption of the planets into still higher planets and these into synthesizing planets.

190. “Hợp Nhất thiêng liêng” được tượng trưng bởi “cung trắng”. Mô hình được trình bày ở đây hữu ích khi xét đến sự hấp thu các hành tinh vào những hành tinh còn cao hơn nữa và các hành tinh này vào các hành tinh tổng hợp.

Students will, therefore, note that the monadic cosmic wheel can be [Page 1092] visioned in terms of "true colour,"

Vì vậy, các đạo sinh sẽ lưu ý rằng bánh xe vũ trụ chân thần có thể được [Page 1092] hình dung theo thuật ngữ “màu sắc chân thực”,

191. The “monadic cosmic wheel” is seven times greater (whether understood in terms of time or space) than the monadic solar systemic wheel.

191. “Bánh xe vũ trụ chân thần” lớn hơn bảy lần (dù được hiểu theo thời gian hay không gian) so với bánh xe hệ thống thái dương chân thần.

192. Seven cycles of the humanity Monad are analogous to the “monadic cosmic wheel” and one cycle of the human Monad is analogous to a solar systemic wheel.

192. Bảy chu kỳ của Chân thần nhân loại tương tự với “bánh xe vũ trụ chân thần”, và một chu kỳ của Chân thần con người tương tự với một bánh xe hệ thống thái dương.

193. This “true colour” is really the “ primary colour” in the sense that the monadic ray is the “ primary ray”.

193. “Màu sắc chân thực” này thực sự là “màu sắc chính yếu ” theo nghĩa rằng cung chân thần là “cung chính yếu ”.

and is seen by the illumined seer as the combined blending of the primary colours of the three solar systems.

và được nhà thông nhãn được soi sáng nhìn thấy như sự hòa trộn kết hợp của các màu chính yếu của ba hệ mặt trời.

194. Will this “blending of the primary colours” yield the ‘colour’ white?

194. Liệu “sự hòa trộn của các màu chính yếu” này có tạo ra ‘màu’ trắng không?

195. It seems that we will find seven demonstrations within the greater three and all subsidiary colours within the three primaries.

195. Dường như chúng ta sẽ tìm thấy bảy biểu hiện bên trong bộ ba lớn hơn và mọi màu phụ bên trong ba màu chính yếu.

196. VSK relates: “Primaries of pigment are yellow, blue, and red and the primaries of light are green, blue, and red. (Primaries of photo-sensitive material are magenta, cyan, and yellow.)”

196. VSK liên hệ: “Các màu chính yếu của sắc tố là vàng, lam và đỏ, còn các màu chính yếu của ánh sáng là lục, lam và đỏ. (Các màu chính yếu của vật liệu nhạy sáng là đỏ tía, lục lam và vàng.)”

197. We have definitely been told that the colour of the previous solar system (a major solar system) was green. As well we are informed that our present solar system is the blue system. It can be inferred that the next solar system will be the red system.

197. Chúng ta chắc chắn đã được bảo rằng màu sắc của hệ mặt trời trước (một hệ mặt trời lớn) là xanh lá. Đồng thời chúng ta cũng được cho biết rằng hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là hệ xanh lam. Có thể suy ra rằng hệ mặt trời kế tiếp sẽ là hệ đỏ.

Yet—at some distant time—red will be the basis of a solar system, and in the perfect merging of red, green and blue will come eventually the completed [221] work of the Logos and the consummation of the pure white light.

Tuy nhiên—vào một thời điểm xa xôi nào đó—đỏ sẽ là nền tảng của một hệ mặt trời, và trong sự hòa nhập hoàn hảo của đỏ, xanh lá và xanh lam, cuối cùng sẽ đến công trình hoàn tất [221] của Thượng đế và sự viên mãn của ánh sáng trắng thuần khiết.

The activity system was green.

Hệ hoạt động là xanh lá.

The love system is blue.

Hệ bác ái là xanh lam.

The power system will be red. (LOM 220-221)

Hệ quyền năng sẽ là đỏ. (LOM 220-221)

198. It is clear that a ‘consummation in white’ will exist for our Solar Logos. Does this imply the existence of a seventh solar system or a consummation to occur above the solar systemic level?

198. Rõ ràng sẽ có một ‘sự viên mãn trong màu trắng’ đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta. Điều này có hàm ý sự tồn tại của một hệ mặt trời thứ bảy hay một sự viên mãn xảy ra trên cấp độ vượt quá cấp độ hệ thống thái dương không?

199. With respect to the solar systems, the primaries of light are used.

199. Liên quan đến các hệ mặt trời, các màu chính yếu của ánh sáng được sử dụng.

200. We may infer that ‘consummation in white’ also awaits the human Monad.

200. Chúng ta có thể suy ra rằng một ‘sự viên mãn trong màu trắng’ cũng đang chờ đợi Chân thần con người.

The monadic systemic wheel, which concerns this solar system alone,

Bánh xe hệ thống chân thần, liên quan riêng đến hệ mặt trời này,

201. Yet one human monadic cycle occurs in one solar system.

201. Tuy nhiên, một chu kỳ chân thần con người xảy ra trong một hệ mặt trời.

is distinguished by being the totality of the seven colours of the seven Heavenly Men,

được phân biệt bởi là tổng thể của bảy màu của bảy Đấng Thiên Nhân,

202. Compared to colour as demonstrated on the monadic plane, these seven colours could be “illusory appearances” rather than “true colours”.

202. So với màu sắc như được biểu lộ trên cõi chân thần, bảy màu này có thể là “những sắc tướng ảo huyễn” hơn là “màu sắc chân thực”.

203. We note that the “monadic cosmic wheel” is represented by three primary colours and the monadic systemic wheel by seven other colours (perhaps illusory appearances).

203. Chúng ta lưu ý rằng “bánh xe vũ trụ chân thần” được biểu thị bằng ba màu chính yếu và bánh xe hệ thống chân thần bằng bảy màu khác (có lẽ là những sắc tướng ảo huyễn).

204. Thus we have the important number ten when combining the monadic cosmic wheel and one monadic systemic wheel.

204. Do đó, khi kết hợp bánh xe vũ trụ chân thần và một bánh xe hệ thống chân thần, chúng ta có con số quan trọng là mười.

205. If we consider the three solar systems, we will have the number twenty-one. Adding the three of the monadic cosmic wheel, we will have a significant number of completion—twenty-four (the number of Shamballa, and perhaps the number of the prototype of Shamballa).

205. Nếu xét ba hệ mặt trời, chúng ta sẽ có con số hai mươi mốt. Cộng thêm ba của bánh xe vũ trụ chân thần, chúng ta sẽ có một con số hoàn tất đầy thâm nghĩa—hai mươi bốn (con số của Shamballa, và có lẽ là con số của nguyên mẫu của Shamballa).

and from the vision of the adept of the fifth Initiation

và từ linh thị của chân sư của lần điểm đạo thứ năm

206. Who, let us remember, cannot yet see “true colours”…

206. Xin nhớ rằng, vị ấy vẫn chưa thể thấy được “màu sắc chân thực”…

is the sumtotal of the primary colours of the egoic groups of the differing planetary schemes.

là tổng số các màu chính yếu của các nhóm chân ngã thuộc những hệ hành tinh khác nhau.

207. Whatever the context we may be considering, there are only three primary colours.

207. Dù chúng ta có thể đang xét trong ngữ cảnh nào đi nữa, chỉ có ba màu chính yếu.

208. The egoic groups (though one can estimate that there are seven such in each planetary scheme) are designated in terms of three primary colors. Presumably, these colours are “appearances” rather than “true” colours.

208. Các nhóm chân ngã (dù có thể ước tính rằng có bảy nhóm như thế trong mỗi hệ hành tinh) được chỉ định theo ba màu chính yếu. Có lẽ các màu này là “sắc tướng” hơn là những màu “chân thực”.

The monadic planetary wheel,

Bánh xe hành tinh chân thần,

209. We see that DK is simply extending the analogy which He used when dealing with macrocosmic matters in the material covered in the previous commentary.

209. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK chỉ đơn giản mở rộng phép loại suy mà Ngài đã dùng khi bàn đến các vấn đề đại thiên địa trong phần tài liệu được trình bày trong phần bình luận trước.

210. We are still however, dealing with the Monad within large contexts—cosmic, systemic and planetary.

210. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang bàn đến Chân thần trong những bối cảnh lớn—vũ trụ, hệ thống và hành tinh.

211. The individual Monad, per se, is not yet the primary focus, but rather the placement of the Monad within the greater wheels.

211. Chính Chân thần cá biệt vẫn chưa là trọng tâm chính, mà đúng hơn là vị trí của Chân thần trong các bánh xe lớn hơn.

which concerns the particular group of Monads incarnating in a particular scheme,

liên quan đến nhóm Chân thần đặc thù đang lâm phàm trong một hệ hành tinh đặc thù,

212. We have traced the Monad from its cosmic context in foregoing solar systems; we have examined the Monad within our present solar system; now we examine the Monad within the context of a particular planetary scheme.

212. Chúng ta đã truy theo Chân thần từ bối cảnh vũ trụ của nó trong các hệ mặt trời trước đây; chúng ta đã khảo sát Chân thần trong hệ mặt trời hiện tại của chúng ta; giờ đây chúng ta khảo sát Chân thần trong bối cảnh của một hệ hành tinh đặc thù.

213. Though the sumtotal of Monads incarnating in any one planetary scheme can be differentiated into three great types and twenty-one lesser types, they, as a whole, share a unifying factor—that factor which directed them into incarnation in the same planetary scheme.

213. Dù tổng số các Chân thần đang lâm phàm trong bất kỳ một hệ hành tinh nào có thể được phân biệt thành ba loại lớn và hai mươi mốt loại nhỏ hơn, nhưng xét như một toàn thể, chúng chia sẻ một yếu tố hợp nhất—yếu tố đã hướng dẫn chúng đi vào lâm phàm trong cùng một hệ hành tinh.

is seen by the seer as the blending of egoic groups, but with the difference that the colour is a dual one, and the colouring of the personality ray of the incarnating Ego is also seen.

được nhà thông nhãn thấy như sự hòa trộn của các nhóm chân ngã, nhưng với điểm khác biệt là màu sắc ấy có tính nhị phân, và màu sắc của cung phàm ngã của Chân ngã đang lâm phàm cũng được thấy.

214. When the planetary scheme is brought into the picture the dimension of personality enters. A single solar system reflects the egoic expression of the Monad, and three major solar systems taken together suggest the dynamics of the Monad on its own plane and throughout its seven (or major three) incarnations.

214. Khi hệ hành tinh được đưa vào bức tranh, chiều kích phàm ngã đi vào. Một hệ mặt trời đơn lẻ phản ánh biểu hiện chân ngã của Chân thần, và ba hệ mặt trời chính được xét chung với nhau gợi ra động lực của Chân thần trên cõi riêng của nó và xuyên suốt bảy lần lâm phàm (hay ba lần chính) của nó.

215. The “cosmic monadic wheel” is purely monadic.

215. “Bánh xe vũ trụ chân thần” thuần túy là chân thần.

216. The “systemic monadic wheel” is both monadic and egoic.

216. “Bánh xe hệ thống chân thần” vừa là chân thần vừa là chân ngã.

217. The “planetary monadic wheel” is monadic, egoic and includes the personality dimension.

217. “Bánh xe hành tinh chân thần” là chân thần, chân ngã và bao gồm chiều kích phàm ngã.

218. Thus far we have the following:

218. Cho đến đây chúng ta có những điều sau:

a. The cosmic wheel of the Monad consisting, presumably, of seven demonstrations including three major demonstrations. (The relationship between seven possible demonstrations and six such demonstrations remains to be worked out.)

a. Bánh xe vũ trụ của Chân thần, có lẽ gồm bảy sự biểu lộ, trong đó có ba sự biểu lộ chính. (Mối liên hệ giữa bảy sự biểu lộ khả hữu và sáu sự biểu lộ như thế vẫn còn cần được làm sáng tỏ.)

b. That systemic wheel of the Monad dealing with a single demonstration in a single solar system.

b. Bánh xe hệ thống của Chân thần, liên quan đến một sự biểu lộ đơn nhất trong một hệ mặt trời đơn nhất.

c. The planetary wheel of the Monad focusing on its expression in one solar system and through a particular planetary scheme.

c. Bánh xe hành tinh của Chân thần, tập trung vào biểu hiện của nó trong một hệ mặt trời và qua một hệ hành tinh đặc thù.

219. The human Monad turns on three great wheels. Turning on the greatest wheel, the “cosmic monadic wheel” it need not have an egoic expression. Turning on the “systemic monadic wheel” some Monads waiting in “interplanetary spaces” and “not in incarnation” also need not have an egoic expression. And certainly they need not have a personality expression. Turning on a “monadic planetary wheel” they are in a cycle in which they will have (during various egoic cycles) a personality expression.

219. Chân thần nhân loại quay trên ba bánh xe lớn. Khi quay trên bánh xe lớn nhất, “bánh xe vũ trụ chân thần”, nó không nhất thiết phải có biểu hiện chân ngã. Khi quay trên “bánh xe hệ thống chân thần”, một số Chân thần đang chờ trong “các không gian liên hành tinh” và “không lâm phàm” cũng không nhất thiết phải có biểu hiện chân ngã. Và chắc chắn chúng không nhất thiết phải có biểu hiện phàm ngã. Khi quay trên một “bánh xe hành tinh chân thần”, chúng ở trong một chu kỳ mà trong đó chúng sẽ có (trong các chu kỳ chân ngã khác nhau) một biểu hiện phàm ngã.

220. The threefold colour of the Monad is the combination of its “true colour”, its egoic expression (which is an “illusory appearance”) and its personality expression (which is a “reflection” of the “true colour”).

220. Màu sắc tam phân của Chân thần là sự kết hợp của “màu sắc chân thực” của nó, biểu hiện chân ngã của nó (là một “sắc tướng ảo huyễn”) và biểu hiện phàm ngã của nó (là một “phản chiếu” của “màu sắc chân thực”).

S9S2 Part II

TCF 1092-1097

TCF 1092-1097

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ những trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

The egoic cycle, or the turning of the wheel of the incarnating Ego,

Chu kỳ chân ngã, hay sự quay của bánh xe của Chân ngã đang lâm phàm,

1. This signifies the Ego passing through the cycles which pertain to it.

1. Điều này biểu thị Chân ngã đi qua các chu kỳ thuộc về nó.

2. We have just been discussing the passing of the Monad through various wheels—cosmic, systemic and planetary.

2. Chúng ta vừa mới bàn về sự đi qua của Chân thần qua các bánh xe khác nhau—vũ trụ, hệ thống và hành tinh.

is of the most practical interest to man, and has already been somewhat dealt with.

là điều có mối quan tâm thực tiễn nhất đối với con người, và đã phần nào được bàn đến rồi.

3. Really, the turning of the egoic wheel is the theme of so much that Master DK has written. His works focus profoundly on soul culture.

3. Thật ra, sự quay của bánh xe chân ngã là chủ đề của rất nhiều điều mà Chân sư DK đã viết. Các tác phẩm của Ngài tập trung sâu sắc vào sự tu dưỡng linh hồn.

For purposes of clarity and elucidation, this wheel may also be seen as turning in three cycles and as making three kinds of revolutions, covering varying periods of time.

Để rõ ràng và minh giải, bánh xe này cũng có thể được xem như quay trong ba chu kỳ và tạo nên ba loại vòng quay, bao trùm những khoảng thời gian khác nhau.

4. The Monad too was seen to turn in three cycles.

4. Chân thần cũng đã được thấy là quay trong ba chu kỳ.

5. Such egoic cycles and revolutions will determine the periods of incarnation and the duration of such periods for members of an egoic group.

5. Những chu kỳ và vòng quay chân ngã như thế sẽ quyết định các thời kỳ lâm phàm và thời lượng của những thời kỳ ấy đối với các thành viên của một nhóm chân ngã.

6. Given three cycles and three kinds of revolutions, we have the number nine fulfilled.

6. Với ba chu kỳ và ba loại vòng quay, chúng ta có con số chín được hoàn tất.

7. When considering the above, we should also remember the following:

7. Khi xét điều trên, chúng ta cũng nên nhớ điều sau đây:

The egoic cycles proceed in groups of sevens and of threes, and not in groups of fours and sevens as do the personality cycles, and the same ratio must be predicated of the central cycles of a Heavenly Man and of a solar Logos. (TCF 304)

Các chu kỳ chân ngã tiến hành theo những nhóm bảy và nhóm ba, chứ không theo những nhóm bốn và bảy như các chu kỳ phàm ngã, và cùng một tỉ lệ ấy phải được giả định cho các chu kỳ trung tâm của một Đấng Thiên Nhân và của một Thái dương Thượng đế. (TCF 304)

8. We would be mistaken to think that human incarnation occurs with relentless regularity. There may be long periods of time when a human Ego is simply out of incarnation. The incarnations will be determined by egoic cycles but also influence, one may presume, by monadic cycles as well.

8. Chúng ta sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng sự lâm phàm của con người xảy ra với tính đều đặn không ngừng. Có thể có những khoảng thời gian dài khi một Chân ngã nhân loại đơn giản là ở ngoài lâm phàm. Các lần lâm phàm sẽ được quyết định bởi các chu kỳ chân ngã nhưng cũng, có thể giả định, chịu ảnh hưởng bởi các chu kỳ chân thần nữa.

9. Something of importance is revealed about the egoic and personality cycles of the Heavenly Man and Solar Logos—the numbers involved in these cycles is the same as for the human Ego and personality.

9. Một điều quan trọng được tiết lộ về các chu kỳ chân ngã và phàm ngã của Đấng Thiên Nhân và Thái dương Thượng đế—các con số liên quan trong những chu kỳ này cũng giống như đối với Chân ngã và phàm ngã của con người.

10. This whole matter is extremely intricate and surely represents some of the deeper aspects of the “Science of the Initiates”.

10. Toàn bộ vấn đề này cực kỳ phức tạp và chắc chắn biểu hiện một số phương diện sâu xa hơn của “Khoa Học của các Điểm đạo đồ”.

There is first, the Wheel of the chain, or the cycling of the Monad around an entire chain, and its passage through all the globes and kingdoms.

Trước hết có Bánh Xe của dãy, hay sự tuần hoàn của Chân thần quanh toàn bộ một dãy, và sự đi qua của nó qua mọi bầu hành tinh và các giới.

11. Quite a hint is here given. Can we, by higher analogy, assume that the Wheel of a Scheme involves the cycling of the Monad around an entire Scheme and its passage through call chains?

11. Ở đây có một gợi ý khá lớn. Liệu bằng định luật tương đồng cao hơn, chúng ta có thể giả định rằng Bánh Xe của một Hệ Hành Tinh bao hàm sự tuần hoàn của Chân thần quanh toàn bộ một Hệ Hành Tinh và sự đi qua của nó qua mọi dãy chăng?

12. And what of the monadic Wheel of the Solar System—to what extent is there a cycling of the Monad around the entire solar system?

12. Và còn bánh xe chân thần của Hệ Mặt Trời thì sao—ở mức độ nào có sự tuần hoàn của Chân thần quanh toàn bộ hệ mặt trời?

13. Or is the Monad confined simply to one planetary scheme? It would seem not to be the case, as the Monad can dwell in “interplanetary spaces”.

13. Hay Chân thần chỉ bị giới hạn đơn thuần trong một hệ hành tinh? Có vẻ không phải như vậy, vì Chân thần có thể cư ngụ trong “các không gian liên hành tinh”.

14. And what of the Monad in relation to the “monadic cosmic wheel”? We can wonder whether a Monad may not circulate through seven major solar systems, just as it circulates through seven globes and seven chains?

14. Và Chân thần liên hệ với “bánh xe vũ trụ chân thần” thì sao? Chúng ta có thể tự hỏi liệu một Chân thần có thể không tuần hoàn qua bảy hệ mặt trời chính, cũng như nó tuần hoàn qua bảy bầu hành tinh và bảy dãy hay không?

15. It is interesting to consider that the Monad, as it expresses through a given planetary chain will pass through all globes and all kingdoms in that chain. This leaves open quite an extensive future for the human Monad expressing on our fourth globe at this time.

15. Thật thú vị khi xét rằng Chân thần, khi biểu hiện qua một dãy hành tinh nhất định, sẽ đi qua mọi bầu hành tinh và mọi giới trong dãy ấy. Điều này để ngỏ một tương lai khá rộng lớn cho Chân thần nhân loại đang biểu hiện trên bầu hành tinh thứ tư của chúng ta vào lúc này.

16. We are familiar with the idea that there have been stages of inmineralization, invegetalization, and inzoonation of the Monad. It probably seems reasonable to us that the Monad will demonstrate within the Kingdom of Souls and the Kingdom of Planetary Lives as well. Will every Monad demonstrate through the Kingdom of Solar Lives? This would take the demonstration beyond the scope of the planetary scheme, would it not? And, eventually, it is likely.

16. Chúng ta quen thuộc với ý tưởng rằng đã có những giai đoạn khoáng vật hóa, thực vật hóa và động vật hóa của Chân thần. Có lẽ đối với chúng ta, điều hợp lý là Chân thần cũng sẽ biểu lộ trong Giới các Linh Hồn và Giới các Sự Sống Hành tinh nữa. Liệu mọi Chân thần có biểu lộ qua Giới các Sự sống Thái Dương không? Điều này sẽ đưa sự biểu lộ vượt ra ngoài phạm vi của hệ hành tinh, phải không? Và rốt cuộc, điều đó có lẽ là như vậy.

The consideration of this is complicated by the fact that in any particular chain, the Monads seldom begin and end their evolution; they seldom emerge, pass through their cycle and achieve their objective.

Việc xem xét điều này trở nên phức tạp bởi sự kiện rằng trong bất kỳ dãy đặc thù nào, các Chân thần hiếm khi bắt đầu và kết thúc sự tiến hoá của mình; chúng hiếm khi xuất hiện, đi qua chu kỳ của mình và đạt được mục tiêu của mình.

17. DK is speaking of a kind of principle of ‘overlap’. Cycles begun on one chain are continued on the next and may be completed on still another or others.

17. Chân sư DK đang nói về một loại nguyên lý “chồng lấn”. Những chu kỳ bắt đầu trên một dãy được tiếp tục trên dãy kế tiếp và có thể được hoàn tất trên một hay nhiều dãy khác nữa.

18. Many of those who are pursuing their monadic development on this fourth chain of the Earth-scheme began their monadic pilgrimage on the third chain, the Moon-chain, and may not complete their monadic pilgrimage on this fourth chain at all. In fact, this pilgrimage may not be completed until the next solar system.

18. Nhiều người đang theo đuổi sự phát triển chân thần của mình trên dãy thứ tư này của hệ Địa Cầu đã bắt đầu cuộc hành hương chân thần của mình trên dãy thứ ba, Dãy Mặt Trăng, và có thể hoàn toàn không hoàn tất cuộc hành hương chân thần của mình trên dãy thứ tư này. Thật ra, cuộc hành hương này có thể chỉ được hoàn tất trong hệ mặt trời kế tiếp.

It is not possible to dissociate a chain from its preceding or succeeding chain.

Không thể tách rời một dãy khỏi dãy đứng trước hay dãy tiếp sau nó.

19. Just as it is not possible to dissociate chakras in any chakric system from one another...

19. Cũng như không thể tách rời các luân xa trong bất kỳ hệ thống luân xa nào khỏi nhau...

20. Further, it is not possible to associate one solar system (pervaded by the consciousness of the same Solar Logos) from another.

20. Hơn nữa, không thể tách rời một hệ mặt trời (được thấm nhuần bởi tâm thức của cùng một Thái dương Thượng đế) khỏi một hệ mặt trời khác.

21. There are important hints here about the transference of energy from one chakra to another.

21. Ở đây có những gợi ý quan trọng về sự chuyển dịch năng lượng từ luân xa này sang luân xa khác.

22. We are considering some subjects which were popular with early Theosophists. It is likely that what DK is saying is adding important additional perspectives.

22. Chúng ta đang xét một số chủ đề vốn phổ biến với các nhà Thông Thiên Học thời kỳ đầu. Có khả năng điều Chân sư DK đang nói bổ sung những góc nhìn quan trọng khác.

Many Monads who achieved self-consciousness in the moon chain only entered into renewed activity in the middle of the fourth root race;

Nhiều Chân thần đã đạt được ngã thức trong Dãy Mặt Trăng chỉ đi vào hoạt động trở lại vào giữa giống dân gốc thứ tư;

23. DK speaks of entry in the “middle” of the fourth rootrace. Other theorists have wondered whether this type into the fourth rootrace might not have occurred earlier in its history—for instance, during the third subrace, though, perhaps, from a certain perspective the third root-race can be considered as occurring “in the middle” of the fourth root-race.

23. Chân sư DK nói về sự đi vào ở “giữa” giống dân gốc thứ tư. Các nhà lý thuyết khác đã tự hỏi liệu loại đi vào giống dân gốc thứ tư này có thể đã xảy ra sớm hơn trong lịch sử của nó hay không—thí dụ, trong giống dân phụ thứ ba, dù có lẽ, từ một góc nhìn nào đó, giống dân gốc thứ ba có thể được xem như xảy ra “ở giữa” giống dân gốc thứ tư.

others, who have individualised on this earth, will not succeed in reaching their goal upon this planet.

những Chân thần khác, đã biệt ngã hóa trên Trái Đất này, sẽ không thành công trong việc đạt đến mục tiêu của mình trên hành tinh này.

24. By “upon this planet” does DK mean ‘upon or within this planetary scheme’? The use of the term “planet” must be watched very carefully as sometimes it may mean simply a globe and at other times the complete planetary scheme.

24. Bởi “trên hành tinh này”, Chân sư DK có muốn nói “trên hay trong hệ hành tinh này” không? Việc dùng thuật ngữ “hành tinh” phải được theo dõi rất cẩn thận vì đôi khi nó có thể chỉ đơn giản có nghĩa là một bầu hành tinh và những lúc khác lại là toàn bộ hệ hành tinh hoàn chỉnh.