← Commentary_S9_1078_1194_song ngữ

S9S3 Part I

Trích nội dung chương

25. If there is some accuracy to this thought, will the goal for those who individualized on Earth be reached on some other planet? Or upon a fresh incarnation of the Planetary Logos of our Earth in yet another solar system? 25. Nếu ý nghĩ này có phần chính xác nào đó, thì mục tiêu của những Chân thần đã biệt ngã hóa trên Trái Đất sẽ đạt được trên một hành tinh khác nào đó? Hay trên một lần lâm phàm mới của Chân Linh Hành Tinh của Trái Đất chúng ta trong một hệ mặt trời khác nữa?


25. If there is some accuracy to this thought, will the goal for those who individualized on Earth be reached on some other planet? Or upon a fresh incarnation of the Planetary Logos of our Earth in yet another solar system?

25. Nếu ý nghĩ này có phần chính xác nào đó, thì mục tiêu của những Chân thần đã biệt ngã hóa trên Trái Đất sẽ đạt được trên một hành tinh khác nào đó? Hay trên một lần lâm phàm mới của Chân Linh Hành Tinh của Trái Đất chúng ta trong một hệ mặt trời khác nữa?

26. Or will the goal be reached within another chain and upon a globe in that chain—both of them still residing within our present planetary scheme?

26. Hay mục tiêu sẽ được đạt đến trong một dãy khác và trên một bầu hành tinh trong dãy ấy—cả hai vẫn còn nằm trong hệ hành tinh hiện tại của chúng ta?

27. Some Monads, we know, we definitely not finish their pilgrimage until the next solar system.

27. Chúng ta biết rằng một số Chân thần chắc chắn sẽ không hoàn tất cuộc hành hương của mình cho đến hệ mặt trời kế tiếp.

28. As well, the life wave moves from chain to chain, and so it is possible that if certain Monads have not finished their pilgrimage within our present fourth chain, they may do so with the fifth, sixth or seventh, and upon globes found within those chains.

28. Hơn nữa, làn sóng sự sống di chuyển từ dãy này sang dãy khác, và vì vậy có thể là nếu một số Chân thần chưa hoàn tất cuộc hành hương của mình trong dãy thứ tư hiện tại của chúng ta, chúng có thể làm điều đó trong dãy thứ năm, thứ sáu hay thứ bảy, và trên các bầu hành tinh nằm trong những dãy ấy.

29. “In my Father’s House there are many mansions.” We have very little idea of the various intra-planetary and extra-planetary ‘locations’ to which our destiny may take us.

29. “Trong Nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở.” Chúng ta có rất ít ý niệm về những “địa điểm” nội hành tinh và ngoại hành tinh khác nhau mà định mệnh có thể đưa chúng ta đến.

There is here a correspondence to systemic evolution, and there is an analogy between the Monads who refused to [Page 1093] incarnate and the Egos who were unable to take bodies in the Lemurian or third root race.

Ở đây có một sự tương ứng với tiến hoá hệ thống, và có một phép loại suy giữa những Chân thần đã từ chối việc [Page 1093] lâm phàm và những Chân ngã đã không thể nhận lấy thể xác trong giống dân Lemuria hay giống dân gốc thứ ba.

30. We have two kinds of ‘refusals’ or ‘inabilities’. Every time Master DK speaks of a refusal to incarnate, He somehow justifies it as appropriate to the refusing Entity.

30. Chúng ta có hai loại “từ chối” hay “không thể”. Mỗi khi Chân sư DK nói về một sự từ chối lâm phàm, bằng cách nào đó Ngài đều biện minh rằng điều ấy là thích hợp đối với Thực Thể từ chối.

31. Presumably the Egos who were unable to take bodies in the Lemurian or third root race were faced with vehicles which were too gross for their needs. Often those events in Lemuria are discussed in terms of a ‘refusal’ but here DK speaks of an ‘inability’.

31. Có lẽ những Chân ngã không thể nhận lấy thể xác trong giống dân Lemuria hay giống dân gốc thứ ba đã phải đối diện với những vận cụ quá thô nặng đối với nhu cầu của họ. Thường thì những biến cố ở Lemuria được bàn đến theo nghĩa một sự “từ chối”, nhưng ở đây Chân sư DK nói đến một sự “không thể”.

32. Monads who refused to incarnate must have been those who did not descend to engage in the individualization process. OR, if they had individualized in another system, may have waited before resuming the egoic nature they had built in that system. The matter is obscure. We do not know how an egoic lotus built in a previous solar system would survive pralaya. Probably the potentialities to regenerate such an egoic lotus in the present solar system would exist within the Monad. Egoic vehicles could be re-created on the basis of such potentialities.

32. Những Chân thần từ chối lâm phàm hẳn là những Chân thần đã không giáng xuống để tham dự vào tiến trình biệt ngã hóa. HOẶC, nếu chúng đã biệt ngã hóa trong một hệ thống khác, chúng có thể đã chờ đợi trước khi tiếp tục lại bản chất chân ngã mà chúng đã xây dựng trong hệ thống ấy. Vấn đề này còn mơ hồ. Chúng ta không biết một Hoa Sen Chân Ngã được xây dựng trong một hệ mặt trời trước sẽ tồn tại qua giai kỳ qui nguyên như thế nào. Có lẽ những tiềm năng để tái tạo một Hoa Sen Chân Ngã như thế trong hệ mặt trời hiện tại sẽ tồn tại bên trong Chân thần. Các vận cụ chân ngã có thể được tái tạo trên cơ sở những tiềm năng ấy.

There is next, the Wheel of a globe, or the process of evolution upon any particular globe.

Tiếp theo là Bánh Xe của một bầu hành tinh, hay tiến trình tiến hoá trên bất kỳ bầu hành tinh đặc thù nào.

33. We remember that DK has said the Monad will evolve through all globes in a chain (and all kingdoms).

33. Chúng ta nhớ rằng Chân sư DK đã nói Chân thần sẽ tiến hoá qua mọi bầu hành tinh trong một dãy (và mọi giới).

34. We are examining the different ‘spheres’ in which or on which monadic evolution proceeds.

34. Chúng ta đang khảo sát những “khối cầu” khác nhau trong đó hay trên đó sự tiến hoá chân thần diễn ra.

35. Yet the section we have begun refers most specifically to egoic evolution.

35. Tuy nhiên, phần mà chúng ta đã bắt đầu lại đề cập đặc biệt nhất đến tiến hoá chân ngã.

The student must bear in mind that the Monad, after planetary dissolution, passes the time between incarnations on other and subtler globes, which are the correspondence to the interplanetary and intersystemic spheres.

Đạo sinh phải ghi nhớ rằng Chân thần, sau sự tan rã hành tinh, trải qua thời gian giữa các lần lâm phàm trên những bầu hành tinh khác và vi tế hơn, vốn là sự tương ứng với các khối cầu liên hành tinh và liên hệ thống.

36. This also is a potentially obscure statement. As I said, we have to keep watch on the meaning of the word “planet” and “planetary”. In this case, it seems that the word “planetary” relates to our particular globe. The dissolution of our globe seems to make it possible for the Monad to pass time on other and subtler globes in our chain.

36. Đây cũng là một phát biểu có thể mơ hồ. Như tôi đã nói, chúng ta phải theo dõi ý nghĩa của từ “hành tinh” và “thuộc hành tinh”. Trong trường hợp này, có vẻ từ “thuộc hành tinh” liên hệ đến bầu hành tinh đặc thù của chúng ta. Sự tan rã của bầu hành tinh chúng ta dường như khiến Chân thần có thể trải qua thời gian trên những bầu hành tinh khác và vi tế hơn trong dãy của chúng ta.

37. What, then, is an ‘interplanetary sphere’? What is an ‘intersystemic sphere’? Are the subtler chains to be considered as interplanetary spheres or must these spheres exist in the ‘spaces’ between planets? From one perspective, the subtler chains could be considered as interplanetary spheres, but from another, subtle planetary schemes (spheres for which the densest vehicle is etheric, astral or mental) could be interplanetary spheres.

37. Vậy thì một “khối cầu liên hành tinh” là gì? Một “khối cầu liên hệ thống” là gì? Có phải các dãy vi tế hơn được xem là các khối cầu liên hành tinh hay những khối cầu này phải tồn tại trong các “không gian” giữa các hành tinh? Từ một góc nhìn, các dãy vi tế hơn có thể được xem là các khối cầu liên hành tinh, nhưng từ một góc nhìn khác, các hệ hành tinh vi tế (những khối cầu mà vận cụ đậm đặc nhất là dĩ thái, cảm dục hay trí tuệ) có thể là các khối cầu liên hành tinh.

38. As for “intersystemic spheres”, if our Sun and its solar system were considered as but one chain in a sevenfold greater Logos, some of those seven systems could be considered subtler than ours, and thus host life expression after our more tangible solar system had disappeared.

38. Còn về “các khối cầu liên hệ thống”, nếu Mặt Trời của chúng ta và hệ mặt trời của nó được xem chỉ như một dãy trong một Thượng đế lớn hơn thất phân, thì một số trong bảy hệ thống ấy có thể được xem là vi tế hơn hệ của chúng ta, và do đó là nơi cư ngụ của biểu hiện sự sống sau khi hệ mặt trời hữu hình hơn của chúng ta đã biến mất.

39. What we are attempting to discern is whether and to what extent “inter-planetary spaces” are the same as “interplanetary spheres”. There seems to be a difference implied. “Spaces” are not necessarily “spheres”, and indeed, there are subtle “spheres” between known and manifested planets and solar systems. We do remember (TCF 1089) that DK speaking of Monads tarrying in “inter-planetary spaces”. Are such spaces upon or within “interplanetary spheres”?

39. Điều chúng ta đang cố gắng phân biện là liệu và ở mức độ nào “các không gian liên hành tinh” có giống với “các khối cầu liên hành tinh” hay không. Dường như có một sự khác biệt được hàm ý. “Không gian” không nhất thiết là “khối cầu”, và quả thật, có những “khối cầu” vi tế giữa các hành tinh và hệ mặt trời đã biết và biểu hiện. Chúng ta nhớ rằng (TCF 1089) Chân sư DK có nói về các Chân thần lưu lại trong “các không gian liên hành tinh”. Những không gian ấy có ở trên hay trong “các khối cầu liên hành tinh” không?

40. We should also consider that (just as there are planets which have not yet manifested tangibly or are in process of dissolution having relinquished their physical form) there are probably subtle Suns which have not manifested tangibly. We are told that 6/7ths of the Stellar Logoi are not in manifestation. Could the subtle spheres of which these great Beings are the Logoi be considered “intersystemic spheres”?

40. Chúng ta cũng nên xét rằng (cũng như có những hành tinh chưa biểu hiện một cách hữu hình hoặc đang trong tiến trình tan rã sau khi đã từ bỏ hình tướng hồng trần của mình) có lẽ cũng có những Mặt Trời vi tế chưa biểu hiện một cách hữu hình. Chúng ta được cho biết rằng 6/7phần bảy của các Thượng đế Tinh Tú không ở trong biểu hiện. Liệu các khối cầu vi tế mà các Hữu Thể Vĩ Đại này là các Thượng đế của chúng có thể được xem là “các khối cầu liên hệ thống” không?

41. One simply remembers that “in my Fathers house there are many mansions…”.

41. Người ta chỉ đơn giản nhớ rằng “trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở…”.

There is also, the Wheel of a race, or the lesser cycle of incarnations—

Cũng có Bánh Xe của một nhân loại, hay chu kỳ nhỏ hơn của các lần lâm phàm—

42. These wheels are still considered to be the locus of monadic incarnations, within a lesser cycle.

42. Những bánh xe này vẫn được xem là nơi chốn của các lần lâm phàm chân thần, trong một chu kỳ nhỏ hơn.

forming a definite series—wherein the incarnating Monad cycles through a number of lives in a particular race.

tạo thành một chuỗi xác định—trong đó Chân thần đang lâm phàm tuần hoàn qua một số đời sống trong một nhân loại đặc thù.

43. The numbers involved are probably not left to chance, although the precise number must also be dependent upon the diligence of the Monad.

43. Những con số liên quan có lẽ không bị phó mặc cho ngẫu nhiên, dù con số chính xác cũng phải tùy thuộc vào sự tinh tấn của Chân thần.

44. In this way that we would have to think in terms of “sevens” and “threes” because in relation to root-races, the egoic expression of the Monad is definitely involved.

44. Theo cách này, chúng ta sẽ phải suy nghĩ theo những “bộ bảy” và “bộ ba” bởi vì liên hệ với các giống dân gốc, biểu hiện chân ngã của Chân thần chắc chắn có liên quan.

45. As well it is advisable to think in terms of “fours” and “sevens”, because when dealing with root-races, the personality is also definitely involved.

45. Đồng thời cũng nên suy nghĩ theo những “bộ bốn” và “bộ bảy”, bởi vì khi bàn đến các giống dân gốc, phàm ngã cũng chắc chắn có liên quan.

All these cycles of periodic manifestation are concerned primarily with the appearance, or the manifesting of the "sparks" upon one or other of the three planes in the three worlds,

Tất cả những chu kỳ biểu hiện định kỳ này chủ yếu liên quan đến sự xuất hiện, hay sự biểu hiện của các “tia lửa” trên một hay một cõi khác trong ba cõi thấp,

46. Such manifestation definitely involves egoic expression.

46. Sự biểu hiện như thế chắc chắn bao hàm biểu hiện chân ngã.

or in some part of the physical body of the planetary Logos.

hay trong một phần nào đó của thể xác của Hành Tinh Thượng Đế.

47. These cycles and periods do not relate only to the appearance of the “spark” upon the systemic etheric-physical plane. The Monad can also appear on subtler planes and the appearance count as an ‘incarnation’.

47. Những chu kỳ và thời kỳ này không chỉ liên hệ đến sự xuất hiện của “tia lửa” trên cõi dĩ thái-hồng trần của hệ thống. Chân thần cũng có thể xuất hiện trên những cõi vi tế hơn và sự xuất hiện ấy được tính là một “lần lâm phàm”.

48. It would seem, however, that the three lower worlds are precisely the physical body of the Planetary Logos. Perhaps the higher mental plane should be excluded.

48. Tuy nhiên, dường như ba cõi thấp chính là thể xác của Hành Tinh Thượng Đế. Có lẽ cõi thượng trí nên được loại ra.

49. We note the Tibetan’s use of the term “sparks” for “Monads”.

49. Chúng ta lưu ý cách Chân sư Tây Tạng dùng thuật ngữ “các tia lửa” cho “các Chân thần”.

The lesser cycles deal with this; the greater turning of the wheel concerns also the appearance, or flashing forth, of the sparks in the planetary or systemic etheric body, or on the four higher planes of our solar system.

Các chu kỳ nhỏ hơn liên quan đến điều này; sự quay lớn hơn của bánh xe cũng liên quan đến sự xuất hiện, hay sự bùng phát, của các tia lửa trong thể dĩ thái hành tinh hay hệ thống, hoặc trên bốn cõi cao hơn của hệ mặt trời chúng ta.

50. Of the cycles thus far mentioned, which can be designated as “lesser” and which “greater”?

50. Trong các chu kỳ đã được nêu cho đến nay, những chu kỳ nào có thể được gọi là “nhỏ hơn” và những chu kỳ nào là “lớn hơn”?

51. Manifestation through root-races and globes seem to be lesser. Manifestation through chains and planetary schemes seem greater. Certainly the solar systemic wheel and the cosmic monadic wheel are greater wheels and, no doubt, involve the cosmic etheric planes.

51. Biểu hiện qua các giống dân gốc và các bầu hành tinh dường như là nhỏ hơn. Biểu hiện qua các dãy và các hệ hành tinh dường như là lớn hơn. Chắc chắn bánh xe hệ thống mặt trời và bánh xe vũ trụ chân thần là những bánh xe lớn hơn và hẳn nhiên có liên quan đến các cõi dĩ thái vũ trụ.

52. We have to ask: “When, in the history of our planet (or any planet) or in the history of the solar system, did the Monads actually flash forth upon the cosmic etheric planes?” I think we will realize that this type of information is not given explicitly in our texts. In fact, it is barely hinted.

52. Chúng ta phải hỏi: “Khi nào, trong lịch sử hành tinh của chúng ta (hay bất kỳ hành tinh nào) hoặc trong lịch sử của hệ mặt trời, các Chân thần thực sự bùng phát trên các cõi dĩ thái vũ trụ?” Tôi nghĩ chúng ta sẽ nhận ra rằng loại thông tin này không được nêu minh nhiên trong các văn bản của chúng ta. Thật ra, nó hầu như chỉ được gợi ý.

53. Further, we must question, whether the sparks “flashed forth” from the Solar Logos or from our Planetary Logos? Or, perhaps, they flashed forth from some Planetary Logos other than ours. We have every reason to believe that the Monads now contained within the planetary scheme of our Planetary Logos existed elsewhere in our solar system before our Planetary Logos took form. So many of them are said to come from other planets such as Vulcan, Venus or Jupiter—all sacred planets with sacred Planetary Logoi.

53. Hơn nữa, chúng ta phải đặt câu hỏi liệu các tia lửa đã “bùng phát” từ Thái dương Thượng đế hay từ Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta? Hoặc có lẽ chúng đã bùng phát từ một Hành Tinh Thượng Đế nào khác ngoài vị của chúng ta. Chúng ta có mọi lý do để tin rằng các Chân thần hiện nay được chứa trong hệ hành tinh của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta đã hiện hữu ở nơi khác trong hệ mặt trời của chúng ta trước khi Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta thành hình. Rất nhiều trong số chúng được nói là đến từ những hành tinh khác như Vulcan, Sao Kim hay Sao Mộc—tất cả đều là những hành tinh thiêng liêng với các Chân Linh Hành Tinh thiêng liêng.

We can picture to ourselves the glory of this concept; the downpouring of the streams of fiery sparks;

Chúng ta có thể hình dung cho mình vinh quang của khái niệm này; sự tuôn đổ xuống của những dòng tia lửa rực lửa;

54. From whence did they come? From certain aspects of our Solar Logos?

54. Chúng đến từ đâu? Từ những phương diện nào đó của Thái dương Thượng đế chúng ta chăng?

55. The word “downpouring” suggests emanation from planes subtler than the cosmic ethers.

55. Từ “tuôn đổ xuống” gợi ý sự xuất lộ từ những cõi vi tế hơn các cõi dĩ thái vũ trụ.

their flashing forth into points of intensified fire

sự bùng phát của chúng thành những điểm lửa được tăng cường

56. We must ask: “What were the Monads before they flashed forth into points of intensified fire?” It appears that a fiery spark becomes a point of intensified fire.

56. Chúng ta phải hỏi: “Các Chân thần là gì trước khi chúng bùng phát thành những điểm lửa được tăng cường?” Có vẻ như một tia lửa rực lửa trở thành một điểm lửa được tăng cường.

57. At the very root of our spiritual being lies fire.

57. Ngay nơi cội rễ của hữu thể tinh thần chúng ta có Lửa.

as they meet conditions which produce occult "ignition";

khi chúng gặp những điều kiện tạo ra sự “bốc cháy” huyền bí;

58. We have a situation much like that of a spaceship traveling at high speed entering the atmosphere of the Earth. Great heat is generated.

58. Chúng ta có một tình huống rất giống với một phi thuyền du hành ở tốc độ cao đi vào bầu khí quyển của Trái Đất. Nhiệt lượng lớn được tạo ra.

59. The “conditions” met presumably exist on the cosmic etheric planes.

59. Những “điều kiện” được gặp phải có lẽ tồn tại trên các cõi dĩ thái vũ trụ.

60. We are again coming to the question: “What is the true origin of the Monad—at least its origin within the solar system”?

60. Chúng ta lại đang đi đến câu hỏi: “Nguồn gốc thực sự của Chân thần là gì—ít nhất là nguồn gốc của nó trong hệ mặt trời”?

and the constant circulation of the forty-nine fires constructed of the sixty thousand million human Monads and the countless streams of deva monads:

và sự tuần hoàn liên tục của bốn mươi chín ngọn lửa được cấu thành từ sáu mươi tỷ Chân thần nhân loại và vô số dòng Chân thần thiên thần:

61. There are said to be 140 billion deva Monads in this our second major solar system. Presumably this does not include every minute devic life.

61. Người ta nói rằng có 140 tỷ Chân thần thiên thần trong hệ mặt trời lớn thứ hai này của chúng ta. Có lẽ điều này không bao gồm mọi sự sống thiên thần cực vi.

62. Just as there are lower kingdoms embraced by the human Monad, so there must be lower deva ‘kingdoms’ embraced by the true deva Monads.

62. Cũng như có những giới thấp hơn được Chân thần nhân loại bao hàm, hẳn cũng phải có những “giới” thiên thần thấp hơn được các Chân thần thiên thần chân chính bao hàm.

63. In our solar system there are 60 billion Monads.

63. Trong hệ mặt trời của chúng ta có 60 tỷ Chân thần.

64. What is interesting here is that the forty-nine fires are said to be “constructed of” these Monads and the deva Monads.

64. Điều thú vị ở đây là bốn mươi chín ngọn lửa được nói là “được cấu thành từ” những Chân thần này và các Chân thần thiên thần.

65. There are forty-nine “Sons of Fohat” (including the lesser “Sons”), forty-nine Ray Lives, and, perhaps, forty-nine “Spirits of Darkness”. It would seem that we should relate the 200 billion human and deva Monads to the “Spirits of Darkness”. In one significant respect the Monad dwells unrevealed and in darkness—until through the evolutionary process it is unveiled.

65. Có bốn mươi chín “Con của Fohat” (kể cả những “Người Con” nhỏ hơn), bốn mươi chín Sự sống Cung, và có lẽ là bốn mươi chín “Thánh Linh của Bóng Tối”. Dường như chúng ta nên liên hệ 200 tỷ Chân thần nhân loại và thiên thần với các “Thánh Linh của Bóng Tối”. Ở một phương diện quan trọng, Chân thần cư ngụ trong trạng thái không được mặc khải và trong bóng tối—cho đến khi qua tiến trình tiến hoá nó được vén mở.

fire on every side—a network of fiery rivers of living energy, focal points of intensified brilliancy and everywhere the sparks.

lửa ở mọi phía—một mạng lưới những dòng sông lửa của năng lượng sống, những điểm hội tụ của sự rực sáng được tăng cường và khắp nơi là các tia lửa.

66. Although the language is pictorial, chances are that it describes occult reality as perceived on the higher cosmic ethers.

66. Dù ngôn ngữ mang tính hình ảnh, rất có thể nó mô tả thực tại huyền bí như được tri nhận trên các cõi dĩ thái vũ trụ cao hơn.

67. It seems as if DK is describing Shamballa itself.

67. Dường như Chân sư DK đang mô tả chính Shamballa.

68. There also seems to be a difference between “sparks” and ‘ignited sparks’---sparks which have become “points of intensified brilliancy”.

68. Dường như cũng có một sự khác biệt giữa “các tia lửa” và các “tia lửa đã bốc cháy”---những tia lửa đã trở thành “những điểm rực sáng được tăng cường”.

69. It would seem that the “sparks” exist on planes higher than the cosmic physical plane.

69. Dường như các “tia lửa” hiện hữu trên những cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ.

There are a few more remarks to be made anent the turning of the various wheels, and we can then take up the consideration of motion and the sheaths.

Còn một vài nhận xét nữa cần được đưa ra liên quan đến sự quay của các bánh xe khác nhau, rồi sau đó chúng ta có thể bắt đầu xem xét chuyển động và các thể.

70. We are definitely dealing with technical matters touching on the Spirit of man. If the functioning of the egoic lotus is obscure to the mind of man, we are dealing with processes far more obscure and deeply recessed.

70. Chúng ta chắc chắn đang bàn đến những vấn đề kỹ thuật chạm đến tinh thần của con người. Nếu sự vận hành của Hoa Sen Chân Ngã còn mơ hồ đối với trí tuệ con người, thì chúng ta đang bàn đến những tiến trình còn mơ hồ hơn nhiều và ẩn sâu hơn nhiều.

Within all those wheels which we have enumerated, are many lesser wheels all governed by the same laws, actuated by the same three forms of activity, and all (in their totality) forming one great whole.

Trong tất cả những bánh xe mà chúng ta đã liệt kê, có nhiều bánh xe nhỏ hơn đều được chi phối bởi cùng những định luật, được thúc đẩy bởi cùng ba hình thức hoạt động, và tất cả (trong tính toàn thể của chúng) tạo thành một toàn thể vĩ đại.

71. The vision is one of “wheels within wheels” It is in examining these relationships that the Law of Analogy is indispensable. We can see that we are being given only faint indications of profound cyclic relationships. What is important is that we grasp the general picture. The details are left for apprehension by the intuition or for conferral during initiation.

71. Linh ảnh ở đây là “những bánh xe trong các bánh xe”. Chính khi khảo sát những mối liên hệ này mà định luật tương đồng là điều không thể thiếu. Chúng ta có thể thấy rằng chúng ta chỉ đang được ban cho những chỉ dẫn rất mờ nhạt về những mối liên hệ chu kỳ sâu xa. Điều quan trọng là chúng ta nắm được bức tranh tổng quát. Các chi tiết được để lại cho trực giác lĩnh hội hoặc để được truyền dạy trong khi điểm đạo.

72. What we learn is that there are many wheels which are not discussed in the treatment here presented by the Tibetan.

72. Điều chúng ta học được là có nhiều bánh xe không được bàn đến trong phần trình bày ở đây của Chân sư Tây Tạng.

73. If we learn something about the Monad and its “wheels”, the same can be applied to the Universal Wheel and to the various cosmic and systemic wheels.

73. Nếu chúng ta học được điều gì đó về Chân thần và các “bánh xe” của nó, thì điều ấy cũng có thể được áp dụng cho Bánh Xe Vũ Trụ và cho các bánh xe vũ trụ và hệ thống khác nhau.

It will be apparent [Page 1094] to all conscientious students

Điều đó sẽ hiển nhiên [Page 1094] đối với mọi đạo sinh tận tâm

74. Exactly what are Master DK’s requirements for being “conscientious students”?

74. Chính xác thì những yêu cầu của Chân sư DK để trở thành “đạo sinh tận tâm” là gì?

that the founders of the symbolical method managed to convey in the symbol of the wheel an idea of the triplicity of all atomic activity:

rằng những người sáng lập phương pháp biểu tượng đã thành công trong việc truyền đạt, trong biểu tượng của bánh xe, một ý niệm về tính tam phân của mọi hoạt động nguyên tử:

a. The central point of active the hub

a. Điểm trung tâm của mãnh lực tích cực trục bánh xe

positive force

dương tính

75. This is the first ray aspect of the wheel.

75. Đây là phương diện cung một của bánh xe.

b. The negative stream of life the radiating spokes.

b. Dòng sự sống âm tính các nan hoa tỏa ra.

76. The radius is the “relation between” and thus suggests the function of the second ray.

76. Bán kính là “mối liên hệ giữa” và do đó gợi ra chức năng của cung hai.

77. There comes a time when the wheel spins so fast that all semblance of spokes disappears. Only the center and the periphery remain visible.

77. Có lúc bánh xe quay nhanh đến mức mọi dáng vẻ của các nan hoa đều biến mất. Chỉ còn tâm điểm và chu vi là vẫn thấy được.

78. It seems strange that DK should call the radiating spokes “negative stream(s) of life”. One would think that negativity would be assigned to the lives upon the periphery and an equilibrizing function to the radii.

78. Có vẻ lạ khi Chân sư DK gọi các nan hoa phát xạ là “những dòng sự sống âm”. Người ta hẳn sẽ nghĩ rằng tính âm phải được gán cho các sự sống ở chu vi, còn các bán kính thì giữ một chức năng quân bình.

c. The sphere of activity itself, the circumference of the wheel.

c. Chính khối cầu hoạt động, chu vi của bánh xe.

the effect of the interplay of these two

kết quả của sự tương tác giữa hai điều này

79. The periphery suggests the third ray.

79. Chu vi gợi ý cung ba.

If the student can picture those wheels in activity, if he can visualise all parts of the wheel as composed of lesser living wheels, and if he can work into his picture a hint of the interplay of all these fiery essences, coloured with certain predominant hues, he will become aware of conditions, and see before him a picture which is ever apparent to the illuminated seer.

Nếu đạo sinh có thể hình dung những bánh xe ấy đang hoạt động, nếu y có thể hình dung mọi phần của bánh xe đều được cấu thành bởi những bánh xe sống nhỏ hơn, và nếu y có thể đưa vào bức hình của mình một gợi ý về sự tương tác của tất cả các tinh chất lửa này, được nhuốm bởi những sắc thái trội hơn nào đó, thì y sẽ nhận biết được các điều kiện, và thấy trước mắt mình một bức hình luôn luôn hiển hiện đối với nhà thông nhãn được soi sáng.

80. Master DK is trying to help us bridge towards seership. We understand that it is difficult for Him to describe exactly what He sees, but He has given us a visualization exercise which we can attempt with profit.

80. Chân sư DK đang cố giúp chúng ta bắt cầu hướng tới thông nhãn. Chúng ta hiểu rằng Ngài khó có thể mô tả chính xác điều Ngài thấy, nhưng Ngài đã trao cho chúng ta một bài tập hình dung mà chúng ta có thể thực hành một cách hữu ích.

81. It is interesting to consider that the parts of a greater wheel are wheels themselves— lesser wheels.

81. Thật thú vị khi suy xét rằng các phần của một bánh xe lớn hơn tự chúng cũng là những bánh xe— những bánh xe nhỏ hơn.

82. We have seen that there are many names for a Monad-- atoms, units, points, flames, sparks, sons, sparks. To this list we should add the word “essence”.

82. Chúng ta đã thấy rằng có nhiều tên gọi dành cho một chân thần—nguyên tử, đơn vị, điểm, ngọn lửa, tia lửa, các con, tia lửa. Vào danh sách này, chúng ta nên thêm từ “tinh chất”.

If, before doing this, he can vision the whole of the systemic wheel as in a constant state of circulation, in which the tiny lesser lives

Nếu trước khi làm điều này, y có thể linh thị toàn thể bánh xe hệ thống đang ở trong một trạng thái tuần hoàn không ngừng, trong đó các sự sống nhỏ bé hơn li ti

83. Exactly what does DK mean by “the tiny lesser lives”? Does He mean Monads, or, in fact, monadic essence or elemental essence?

83. Chính xác thì Chân sư DK muốn nói gì qua cụm “các sự sống nhỏ bé hơn li ti”? Ngài có muốn nói đến các chân thần, hay thật ra là tinh chất chân thần hoặc Tinh chất hành khí?

are impelled by the force of the central solar life to pass throughout the extent of the wheel so that they come in contact with all parts of the wheel,

được mãnh lực của sự sống thái dương trung tâm thúc đẩy để đi xuyên suốt toàn bộ phạm vi của bánh xe để chúng tiếp xúc với mọi phần của bánh xe,

84. This is a very important thought. Just as the Monad passes through all globes in a chain, is DK telling us that the Monad (relatively a “lesser life”) comes in contact with all aspects of the solar system. Or does He mean that lives still lesser do so? It is the Solar Logos which impels the Monad and possibly a host of lesser lives towards this type of ‘systemic familiarity’.

84. Đây là một tư tưởng rất quan trọng. Cũng như chân thần đi qua mọi bầu hành tinh trong một Dãy, phải chăng Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng chân thần (tương đối là một “sự sống nhỏ hơn”) tiếp xúc với mọi phương diện của hệ mặt trời? Hay Ngài muốn nói rằng những sự sống còn nhỏ hơn nữa làm như vậy? Chính Thái dương Thượng đế là Đấng thúc đẩy chân thần và có thể cả một đạo quân những sự sống nhỏ hơn hướng tới loại “sự quen thuộc có tính hệ thống” này.

85. One would wonder how such a thoroughgoing circulation of the Monad and other lesser lives could be engineered.

85. Người ta hẳn sẽ tự hỏi làm sao một sự tuần hoàn triệt để như thế của chân thần và các sự sống nhỏ hơn khác có thể được tổ chức.

and are impressed by all the varying types of "power-substance,"

và bị ghi dấu bởi mọi loại “chất liệu-quyền năng” khác nhau,

86. Here is a new name for the substances which are encountered throughout the solar system—“power-substance(s)”.

86. Đây là một tên gọi mới cho các chất liệu được gặp khắp hệ mặt trời—“chất liệu-quyền năng”.

then the general nature of the method can be somewhat ascertained.

thì bản chất tổng quát của phương pháp có thể phần nào được xác định.

87. The vision is one of complete circulation and synthesis. The vision overcomes entirely the static tendencies of mind—the mind which is “narrow, set, one-pointed, not inclusive” (EP II 372).

87. Linh ảnh này là linh ảnh của sự tuần hoàn và tổng hợp hoàn toàn. Linh ảnh ấy hoàn toàn vượt thắng các khuynh hướng tĩnh tại của trí tuệ—trí tuệ vốn “hẹp, cố định, nhất tâm, không bao gồm” (EP II 372).

We use the term "motion," but what do we really mean? Simply, and literally, the manifestation of the energy generated through the bringing together of certain aspects of energy, and the triple result thereby produced;

Chúng ta dùng từ “chuyển động”, nhưng thật sự chúng ta muốn nói gì? Đơn giản, và theo nghĩa đen, đó là sự biểu hiện của năng lượng được tạo ra qua việc đưa một số phương diện năng lượng lại với nhau, và kết quả tam phân nhờ đó được tạo ra;

88. “Motion” then, is the “manifestation of energy”

88. Vậy thì “chuyển động” là “sự biểu hiện của năng lượng”

the activities resulting from this stream of dynamic electrical energy, emanating from some centre, which sweeps into response all that it contacts, and which holds the responsive units in some form or another.

những hoạt động phát sinh từ dòng năng lượng điện động lực này, phát ra từ một trung tâm nào đó, dòng năng lượng ấy cuốn mọi sự mà nó tiếp xúc vào sự đáp ứng và giữ các đơn vị đáp ứng trong một hình tướng nào đó.

89. “Motion” is one of those words which is difficult to define. It always involves the idea of number, relativity and change of ‘position’.

89. “Chuyển động” là một trong những từ khó định nghĩa. Nó luôn bao hàm ý niệm về số lượng, tính tương đối và sự thay đổi “vị trí”.

90. When certain aspects of energy are brought together, that which we call “motion” appears.

90. Khi một số phương diện năng lượng được đưa lại với nhau, điều mà chúng ta gọi là “chuyển động” xuất hiện.

91. The first and third aspects of divinity are definitely related, for it is the dynamic impulsion of the first ray which sweeps all into activity.

91. Phương diện thứ nhất và thứ ba của thiên tính rõ ràng có liên hệ với nhau, vì chính xung lực động của cung một cuốn mọi sự vào hoạt động.

92. The first aspect of divinity activates and holds. It is thus responsible for the ignition of both the third and second aspects.

92. Phương diện thứ nhất của thiên tính kích hoạt và giữ. Vì thế nó chịu trách nhiệm cho sự bốc cháy của cả phương diện thứ ba lẫn thứ hai.

From the occult standpoint, all that manifests is spheroidal in form,

Theo quan điểm huyền bí học, mọi điều biểu hiện đều có hình cầu,

93. Manifestation occurs not only on the systemic dense physical plane, but on subtler planes. On the subtler planes (planes which are not the densest planes), the form of manifestation is spherical. On the dense physical plane, this is not the case, or far less frequently.

93. Sự biểu hiện không chỉ xảy ra trên cõi hồng trần đậm đặc có tính hệ thống, mà còn trên các cõi vi tế hơn. Trên các cõi vi tế hơn (những cõi không phải là các cõi đậm đặc nhất), hình thức biểu hiện là hình cầu. Trên cõi hồng trần đậm đặc, điều này không đúng, hoặc đúng ít thường xuyên hơn nhiều.

and is appropriately called a wheel, yet (in dense physical manifestation) the forms are diverse, and many, and unless etheric vision is present, the spheroidal forms of all lives are not apparent.

và được gọi một cách thích hợp là một bánh xe, tuy nhiên (trong biểu hiện hồng trần đậm đặc) các hình tướng thì đa dạng, và nhiều, và trừ phi có linh thị dĩ thái, các hình cầu của mọi sự sống sẽ không hiển lộ.

94. Is DK suggesting that the etheric body of all dense physical forms is spherical? This does not seem to be precisely so in the case of the etheric body of man.

94. Phải chăng Chân sư DK đang gợi ý rằng thể dĩ thái của mọi hình tướng hồng trần đậm đặc đều có dạng hình cầu? Điều này dường như không hoàn toàn đúng trong trường hợp thể dĩ thái của con người.

95. It can be said, however, that the etheric forms tend far more to sphericity than to the dense physical forms.

95. Tuy nhiên, có thể nói rằng các hình tướng dĩ thái có khuynh hướng tiến gần đến tính cầu hơn nhiều so với các hình tướng hồng trần đậm đặc.

How can this [Page 1095] be explained? There are three major reasons for this illusion, and these we might here touch upon, finding in the word "illusion"15 the key to the mystery.

Điều này [Page 1095] có thể được giải thích như thế nào? Có ba lý do chính cho ảo tưởng này, và ở đây chúng ta có thể chạm đến chúng, tìm thấy trong từ “ảo tưởng”15 chìa khóa của huyền nhiệm.

96. Let us see what DK means by “illusion” in this context. Is He speaking of the ‘illusion of non-sphericity’ which occurs upon the dense physical plane?

96. Hãy xem Chân sư DK muốn nói gì qua từ “ảo tưởng” trong ngữ cảnh này. Phải chăng Ngài đang nói về “ảo tưởng của tính không hình cầu” xảy ra trên cõi hồng trần đậm đặc?

Footnote 15:

Cước chú 15:

Maya or Illusion. The word Maya is one which has to be properly understood by you in order that you may catch the spirit of the ancient philosophy. The derivation that is given for the word is Ma + Ya or not that. Maya is therefore a power that makes a thing appear as what it is not, or a power of illusion that arises out of limitation in the ancient concept of a true unity periodically appearing as multiplicity by the power of Maya that coexists with that unity.

Maya hay Ảo tưởng. Từ Maya là một từ mà bạn phải hiểu cho đúng để có thể nắm bắt tinh thần của triết học cổ xưa. Từ nguyên được đưa ra cho từ này là Ma + Ya hay không phải cái đó. Vì vậy, Maya là một quyền năng khiến một vật xuất hiện như cái mà nó không phải là, hay một quyền năng của ảo tưởng phát sinh từ sự giới hạn trong quan niệm cổ xưa về một hợp nhất chân thực định kỳ xuất hiện như tính đa tạp nhờ quyền năng của Maya cùng đồng tồn tại với hợp nhất ấy.

97. Dense physical forms are definitely maya. These forms are not what they appear to be. The spherical reality lies within. All of the inner vehicles either demonstrate or approximate sphericity. These vehicles are still a maya in a certain sense but are not so dense a maya at that which appears on the dense physical plane.

97. Các hình tướng hồng trần đậm đặc chắc chắn là ảo lực. Những hình tướng này không phải là điều chúng có vẻ như vậy. Thực tại hình cầu nằm bên trong. Tất cả các vận cụ bên trong hoặc biểu lộ hoặc xấp xỉ tính cầu. Các vận cụ này, theo một nghĩa nào đó, vẫn là ảo lực nhưng không phải là một ảo lực đậm đặc như điều xuất hiện trên cõi hồng trần đậm đặc.

We have been told in connection with the dense physical body that it is not considered a principle and is not (in this second solar system) expressing those qualities which are characteristic of the solar Logos and His present incarnation.

Chúng ta đã được bảo, liên quan đến thể xác hồng trần đậm đặc, rằng nó không được xem là một nguyên khí và không phải (trong hệ mặt trời thứ hai này) đang biểu lộ những phẩm tính vốn là đặc trưng của Thái dương Thượng đế và lần lâm phàm hiện tại của Ngài.

98. The hint or implication is that in the previous solar system, the dense physical body did express those qualities which were characteristic of the Solar Logos in that system. In other words, in that system, the dense physical body was a principle.

98. Gợi ý hay hàm ý ở đây là trong hệ mặt trời trước, thể xác hồng trần đậm đặc quả thật có biểu lộ những phẩm tính vốn là đặc trưng của Thái dương Thượng đế trong hệ ấy. Nói cách khác, trong hệ ấy, thể xác hồng trần đậm đặc đã là một nguyên khí.

99. A principle is that which expresses a fundamental, inherent aspect or quality of a generating life. For instance, atma, buddhi and manas are all inherent within the generating life we call the Monad.

99. Một nguyên khí là điều biểu lộ một phương diện hay phẩm tính căn bản, cố hữu của một sự sống sinh thành. Chẳng hạn, atma, Bồ đề và manas đều cố hữu bên trong sự sống sinh thành mà chúng ta gọi là chân thần.

We are told, further, that the grosser dense forms of substance, all that is objective and tangible upon the physical plane, are vibrating to a key which is characteristic of the preceding system, being a left-over (if so it might be expressed) of an earlier kalpa.

Hơn nữa, chúng ta được bảo rằng những hình tướng chất liệu hồng trần đậm đặc thô nặng hơn, mọi điều khách quan và sờ chạm được trên cõi hồng trần, đều đang rung động theo một chủ âm vốn là đặc trưng của hệ trước, là phần còn sót lại (nếu có thể diễn đạt như vậy) của một đại kiếp trước.

100. Note here that when DK uses the word “kalpa” in this context, He definitely means mahakalpa. If terms like “kalpa” and “mahakalpa” can be used interchangeably we have to be vigilant.

100. Hãy lưu ý ở đây rằng khi Chân sư DK dùng từ “kalpa” trong ngữ cảnh này, Ngài chắc chắn muốn nói mahakalpa. Nếu những từ như “kalpa” và “mahakalpa” có thể được dùng thay thế cho nhau, chúng ta phải cảnh giác.

101. The word “key” is important for its musical reference. The musical key of the previous solar system was FA—the note F, the green note. DK seems to be saying that all dense physical matter is vibrating to the note FA.

101. Từ “chủ âm” quan trọng vì liên hệ âm nhạc của nó. điệu thức âm nhạc của hệ mặt trời trước là FA—nốt F, nốt xanh lục. Chân sư DK dường như đang nói rằng mọi vật chất hồng trần đậm đặc đều đang rung động theo nốt FA.

These two points must be carefully borne in mind and latitude allowed for them, when endeavouring to express the truth anent motion.

Hai điểm này phải được ghi nhớ cẩn thận và phải dành chỗ cho chúng, khi cố gắng diễn đạt chân lý liên quan đến chuyển động.

102. The main illusion with which we are confronted is that motion, as it appears on the inner planes does not appear on the dense physical plane—unless to clairvoyant vision.

102. Ảo tưởng chính mà chúng ta đang đối diện là chuyển động, như nó xuất hiện trên các cõi bên trong, lại không xuất hiện trên cõi hồng trần đậm đặc—trừ đối với linh thị thông nhãn.

103. The motion characteristic of the second major solar system second major solar system inclines towards sphericity. This seems not to be the case with motion characteristic of the previous solar system.

103. Chuyển động đặc trưng của hệ mặt trời lớn thứ hai nghiêng về tính cầu. Điều này dường như không đúng với chuyển động đặc trưng của hệ mặt trời trước.

104. In general, different divine aspects produce different kinds of motion.

104. Nói chung, các phương diện thiêng liêng khác nhau tạo ra những loại chuyển động khác nhau.

Therefore, a number of the atoms of matter are as yet governed by an internal life which has for its main, distinctive feature, the faculty of a much closer adhesion, and a decisiveness of grouping that is inherently characteristic of the present body of manifestation of the solar system.

Do đó, một số nguyên tử của vật chất cho đến nay vẫn bị chi phối bởi một sự sống bên trong mà đặc điểm chính, nổi bật của nó là năng lực bám dính chặt chẽ hơn nhiều, và một tính quyết định trong sự kết nhóm vốn là đặc trưng cố hữu của thể biểu hiện hiện tại của hệ mặt trời.

105. In these words Master DK is accounting for the type of density which is characteristic of the systemic dense physical plane.

105. Trong những lời này, Chân sư DK đang giải thích loại đậm đặc vốn là đặc trưng của cõi hồng trần đậm đặc có tính hệ thống.

106. The type of adhesion and group characteristic of the second major solar system is much less dense, much looser.

106. Loại bám dính và kết nhóm đặc trưng của hệ mặt trời lớn thứ hai thì kém đậm đặc hơn nhiều, lỏng hơn nhiều.

107. The adhesion involved could also be seen as applying to all subplanes within the dense physical body of the Planetary Logos and even of the Solar Logos.

107. Sự bám dính liên hệ ở đây cũng có thể được xem là áp dụng cho mọi cõi phụ bên trong thể hồng trần đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế và ngay cả của Thái dương Thượng đế.

108. There is an implication here: motion induced by the third ray inclines to much greater adhesiveness and density than motion induced by the second ray.

108. Ở đây có một hàm ý: chuyển động do cung ba gây ra nghiêng về tính bám dính và đậm đặc lớn hơn nhiều so với chuyển động do cung hai gây ra.

109. As we respond increasingly to the second ray rather than the third we move towards the etherealization of those forms which have been produced by the life of the third ray.

109. Khi chúng ta ngày càng đáp ứng với cung hai hơn là cung ba, chúng ta tiến về sự dĩ thái hóa những hình tướng đã được tạo ra bởi sự sống của cung ba.

110. From another perspective, we are speaking about the overcoming of materialism.

110. Từ một góc nhìn khác, chúng ta đang nói về việc vượt thắng chủ nghĩa duy vật.

We must remember when considering this, that all that is dense and gross in all forms, concerns only those forms on the three lower subplanes of the lowest systemic planes;

Chúng ta phải nhớ khi xem xét điều này rằng mọi điều đậm đặc và thô nặng trong mọi hình tướng chỉ liên quan đến những hình tướng trên ba cõi phụ thấp của các cõi thấp nhất có tính hệ thống;

111. These three subplanes represent the greatest density on the cosmic physical plane. We are speaking of the systemic gaseous, liquid and dense subplanes.

111. Ba cõi phụ này biểu hiện mức độ đậm đặc lớn nhất trên cõi hồng trần vũ trụ. Chúng ta đang nói đến các cõi phụ khí, lỏng và đậm đặc có tính hệ thống.

112. It should be remembered, however, that there is much to relate to the lower eighteen subplanes of our cosmic physical plane to the energy of the previous solar system, and that, relatively, these eighteen subplanes are dense.

112. Tuy nhiên, cũng nên nhớ rằng có nhiều điều liên hệ mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta với năng lượng của hệ mặt trời trước, và rằng, một cách tương đối, mười tám cõi phụ này là đậm đặc.

113. The influence of the principles of the second major solar system really begins upon the cosmic ethers, though this influence makes its way, to a degree, into the dense physical body of the Solar Logos and appears as the lower principles of man.

113. Ảnh hưởng của các nguyên khí của hệ mặt trời lớn thứ hai thật sự bắt đầu trên các dĩ thái vũ trụ, dù ảnh hưởng này vẫn đi vào, ở một mức độ nào đó, thể hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế và xuất hiện như các nguyên khí thấp của con người.

the forms are constructed of matter of all the planes, but the percentage of gross matter is as we can plainly see but small.

các hình tướng được cấu tạo từ vật chất của mọi cõi, nhưng như chúng ta có thể thấy rõ, tỷ lệ vật chất thô nặng chỉ là nhỏ.

114. That which is to be redeemed is, proportionally, small, yet very resistant to the principles of the second major solar system.

114. Điều cần được cứu chuộc, xét theo tỷ lệ, là nhỏ, nhưng lại rất kháng cự đối với các nguyên khí của hệ mặt trời lớn thứ hai.

Interaction for the mineral monad exists, and completely negatives the vibration of the three lower subplanes of the physical plane; it passes eventually into forms which are more closely allied to the "true form."

Sự tương tác đối với chân thần khoáng vật có tồn tại, và hoàn toàn phủ định rung động của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần; cuối cùng nó đi vào những hình tướng gần gũi hơn với “chân hình”.

115. DK seems to be hinting one of two contrasting possibilities:

115. Chân sư DK dường như đang gợi ra một trong hai khả năng tương phản:

a. That the mineral monad is ascendant over the vibration of the three lower subplanes of the systemic physical plane. In this case the mineral monad is an aspect of the principles of this solar system, and must overcome the very lowest vibrations of the systemic physical plane.

a. Rằng chân thần khoáng vật đang trội hơn rung động của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần có tính hệ thống. Trong trường hợp này, chân thần khoáng vật là một phương diện của các nguyên khí của hệ mặt trời này, và phải vượt thắng những rung động thấp nhất của cõi hồng trần có tính hệ thống.

b. That the mineral monad is so atavistic that it negates the vibration which would normally be expressed upon the lowest dense physical subplanes.

b. Rằng chân thần khoáng vật mang tính thoái tổ mạnh đến mức nó phủ định rung động vốn bình thường sẽ được biểu lộ trên các cõi phụ hồng trần đậm đặc thấp nhất.

116. Passing into forms which are more closely allied to “true form” is accomplished through radioactivity. For the mineral monad, ascent into “true form” means an engagement with the principles of the second solar system.

116. Việc đi vào những hình tướng gần gũi hơn với “chân hình” được thực hiện qua phóng xạ. Đối với chân thần khoáng vật, sự đi lên vào “chân hình” có nghĩa là dấn thân vào các nguyên khí của hệ mặt trời thứ hai.

The mineral monad has a problem slightly at variance with that of the other kingdoms, for it is specifically an [Page 1096] expression of the lives which were classed as the failures of a previous solar system,

Chân thần khoáng vật có một vấn đề hơi khác với các giới khác, vì nó đặc biệt là một [Page 1096] biểu hiện của những sự sống từng được xếp vào loại thất bại của một hệ mặt trời trước,

117. There are different kinds of failures. Some human beings existing in the first solar system were classified as “failures”. The lives associated with the mineral monad are the lowest forms of failures from that system.

117. Có nhiều loại thất bại khác nhau. Một số con người hiện hữu trong hệ mặt trời thứ nhất đã được xếp loại là “thất bại”. Những sự sống gắn với chân thần khoáng vật là những dạng thất bại thấp nhất từ hệ ấy.

and which were doomed to immerse themselves in the forms of the mineral kingdom.

và đã bị định phải dìm mình vào các hình tướng của giới kim thạch.

118. The word “doomed” is powerful.

118. Từ “bị định phải” rất mạnh.

119. These lives were “unprincipled” in terms of second solar system principles.

119. Những sự sống này là “không có nguyên khí” xét theo các nguyên khí của hệ mặt trời thứ hai.

120. It must be remembered that man, too, is, relatively, a ‘mineral’ (eventually a “living stone”). The kind of liberation which the mineral monad achieves applies to the liberation of man on a higher turn of the spiral.

120. Cần nhớ rằng con người cũng vậy, một cách tương đối, là một “khoáng vật” (cuối cùng là một “viên đá sống”). Loại giải thoát mà chân thần khoáng vật đạt được cũng áp dụng cho sự giải thoát của con người ở một vòng xoắn cao hơn.

Liberation for man comes when he succeeds in freeing himself from the vibration of the three lower planes of our solar system, from that part of the logoic manifestation which constitutes His dense body, and which He does not therefore regard as a principle.

Sự giải thoát cho con người đến khi y thành công trong việc giải phóng mình khỏi rung động của ba cõi thấp của hệ mặt trời chúng ta, khỏi phần biểu hiện của Thượng đế mà cấu thành thể đậm đặc của Ngài, và vì vậy Ngài không xem đó là một nguyên khí.

121. So we see the parallel here between liberation of the mineral monad and liberation for man. Both are involved with liberation from three lower subplanes. In the case of the mineral monad, the subplanes are systemic. In the case of man, the subplanes are cosmic.

121. Vì vậy chúng ta thấy sự song hành ở đây giữa sự giải thoát của chân thần khoáng vật và sự giải thoát của con người. Cả hai đều liên quan đến sự giải thoát khỏi ba cõi phụ thấp. Trong trường hợp chân thần khoáng vật, các cõi phụ ấy là có tính hệ thống. Trong trường hợp con người, các cõi phụ ấy là vũ trụ.

It will, consequently, be apparent that there is a correspondence worthy of study to be found in the relation between the mineral monad, a human being, and a solar Logos.

Do đó, sẽ hiển nhiên rằng có một sự tương ứng đáng để nghiên cứu trong mối liên hệ giữa chân thần khoáng vật, một con người, và một Thái dương Thượng đế.

122. And does the Solar Logos have to do the same. Is the Solar Logos confined to the three lowest super-cosmic subplanes? Is the Solar Logos, too, a “mineral”? He has been compared to a “crystal” when measured against certain Lives of huge scope.

122. Và Thái dương Thượng đế có phải cũng phải làm điều tương tự không? Phải chăng Thái dương Thượng đế bị giới hạn trong ba cõi phụ siêu-vũ-trụ thấp nhất? Phải chăng Thái dương Thượng đế cũng là một “khoáng vật”? Ngài đã từng được so sánh với một “tinh thể” khi được đo lường với một số Sự Sống có tầm mức vô cùng lớn.

123. From this perspective, the vegetable is already liberated; the Solar Angels are liberated: and perhaps a Solar Logos like the Logos of Sirius is already liberated from the subplanes in question.

123. Từ góc nhìn này, giới thực vật đã được giải thoát; các Thái dương Thiên Thần đã được giải thoát; và có lẽ một Thái dương Thượng đế như Thượng đế của Sirius đã được giải thoát khỏi các cõi phụ đang được nói đến.

Viewing these three as an esoteric triplicity much light may be gained by meditation upon them as

Khi xem ba điều này như một bộ ba huyền bí, nhiều ánh sáng có thể đạt được bằng cách tham thiền về chúng như là

a. The residual vibration of system 1,

a. rung động tồn dư của hệ 1,

124. This concerns the mineral monad.

124. Điều này liên quan đến chân thần khoáng vật.

b. The medial point of activity of system 2,

b. điểm hoạt động trung gian của hệ 2,

125. This is a form of transitional, transmutative activity found presently in the second solar system.

125. Đây là một dạng hoạt động chuyển tiếp, chuyển hoá hiện đang có trong hệ mặt trời thứ hai.

126. An interesting way of thinking of man is as the “medial point of activity” between System One and System Two.

126. Một cách suy nghĩ thú vị về con người là xem y như “điểm hoạt động trung gian” giữa Hệ Một và Hệ Hai.

c. The subjective energy of the present system.

c. năng lượng chủ quan của hệ hiện tại.

127. Truly subjective energy in the second solar system is found upon the cosmic mental plane, but a lower expression of this is found upon the cosmic etheric planes.

127. Năng lượng chủ quan đích thực trong hệ mặt trời thứ hai được tìm thấy trên cõi trí vũ trụ, nhưng một biểu hiện thấp hơn của nó được tìm thấy trên các cõi dĩ thái vũ trụ.

128. The consciousness of the Solar Logos is the true subjective energy of the present solar system.

128. Tâm thức của Thái dương Thượng đế là năng lượng chủ quan đích thực của hệ mặt trời hiện tại.

In the comprehension of this, and in the realisation that there are forces present in nature which are in the nature of left-overs,

Trong sự thấu hiểu điều này, và trong sự chứng nghiệm rằng có những mãnh lực hiện diện trong bản chất vốn mang tính những phần còn sót lại,

129. And, thus, the karma…The frictional collision between the forces of the previous solar system and those of the present system.

129. Và như thế là nghiệp quả… sự va chạm ma sát giữa các mãnh lực của hệ mặt trời trước và các mãnh lực của hệ hiện tại.

130. There are, as well, in every human being forces present “which are in the nature of left-overs”. Can we detect these within our energy system?

130. Trong mỗi con người cũng có những mãnh lực hiện diện “mang tính những phần còn sót lại”. Chúng ta có thể nhận ra chúng trong hệ thống năng lượng của mình không?

we have the clue to much of the puzzling side of manifestation, to the cruelty and death, the suffering, and the agony which are seen in the vegetable and animal kingdoms.

chúng ta có được đầu mối để hiểu nhiều phương diện khó giải thích của sự biểu hiện, của sự tàn nhẫn và cái chết, của đau khổ và thống khổ được thấy trong giới thực vật và giới động vật.

131. DK did not mention the mineral kingdom, but often, under the hand of man, suffering is brought to the vegetable kingdom and the animal kingdom via the mineral kingdom.

131. Chân sư DK không nhắc đến giới kim thạch, nhưng thường thì dưới bàn tay con người, đau khổ được mang đến cho giới thực vật và giới động vật qua giới kim thạch.

132. The cruelty and suffering are apparently an attempt to change the energy structure of the “left-overs”.

132. Sự tàn nhẫn và đau khổ rõ ràng là một nỗ lực nhằm thay đổi cấu trúc năng lượng của những “phần còn sót lại”.

133. Such suffering gives man the incentive to cooperate with the desirable change.

133. Nỗi đau khổ như thế đem lại cho con người động lực để hợp tác với sự thay đổi đáng mong muốn.

In the term animal kingdom I include man's physical body.

Trong thuật ngữ giới động vật, tôi bao gồm cả thể xác của con người.

134. Hence the “disease, ills and bodily pains” of man. All this is related to the “Ancient Law of Evil Sharing”.

134. Vì thế mới có “bệnh tật, ốm đau và đau đớn thân xác” của con người. Tất cả điều này liên hệ với “Định Luật Cổ Xưa về Sự Chia Sẻ Điều Ác”.

We have also the clue to some aspects of the left hand Path,

Chúng ta cũng có đầu mối để hiểu một số phương diện của Con Đường tả đạo,

135. Those “aspects” which relate most to the densest levels of the systemic physical plane. Other aspects of the left hand path relate to the etheric and astral planes and also to the lower mental plane.

135. Những “phương diện” ấy liên hệ nhiều nhất đến các cấp độ đậm đặc nhất của cõi hồng trần có tính hệ thống. Những phương diện khác của tả đạo liên hệ đến các cõi dĩ thái và cảm dục, và cả cõi hạ trí nữa.

and a clue to the problem of the basic cause of the appearance of such existences as black magicians.

và một đầu mối cho vấn đề về nguyên nhân căn bản của sự xuất hiện của những hiện hữu như các nhà hắc thuật.

136. They are fixated upon that which in this solar system is not a principle.

136. Họ bị cố định vào điều mà trong hệ mặt trời này không phải là một nguyên khí.

137. This means, fixation upon the three densest physical subplanes but, more generally, fixation upon the eighteen subplanes which constitute the dense physical body of the Planetary Logos.

137. Điều này có nghĩa là sự cố định vào ba cõi phụ hồng trần đậm đặc nhất, nhưng nói rộng hơn là sự cố định vào mười tám cõi phụ cấu thành thể hồng trần đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

Just as no human being can escape the effects of energy generated by him in an early life,

Cũng như không một con người nào có thể thoát khỏi các tác động của năng lượng do chính y tạo ra trong một đời sống trước,

138. In speaking of the cause of disease, Master DK lists the following first: “first, a man’s past wherein he pays the price of ancient error.”

138. Khi nói về nguyên nhân của bệnh tật, Chân sư DK liệt kê điều sau đây trước tiên: “thứ nhất, quá khứ của một người trong đó y trả giá cho lỗi lầm xưa cũ.”

so the solar Logos Himself is working out and so held back by influences which are the result of His earlier activities in System 1.

thì chính Thái dương Thượng đế cũng đang giải quyết và do đó bị trì kéo bởi những ảnh hưởng là kết quả của các hoạt động trước kia của Ngài trong Hệ 1.

139. Black magic is related to solar systemic karma and, with regard to its manifestation within our solar system, has its roots in the previous solar system.

139. Hắc thuật liên hệ với nghiệp quả hệ mặt trời và, xét về sự biểu hiện của nó trong hệ mặt trời chúng ta, có gốc rễ trong hệ mặt trời trước.

140. This type of lingering karma must also be characteristic of Entities far greater than a Solar Logos. The Law of Karma is a Cosmic Law.

140. Loại nghiệp quả kéo dài này hẳn cũng phải là đặc trưng của những Thực Thể còn lớn lao hơn nhiều so với một Thái dương Thượng đế. Định luật Nghiệp Quả là một Định luật Vũ trụ.

The dense physical forms are an illusion because they are due to the reaction of the eye to those forces about which we have been speaking.

Các hình tướng hồng trần đậm đặc là một ảo tưởng vì chúng là do phản ứng của mắt đối với những mãnh lực mà chúng ta đã nói đến.

141. The outer eye reveals illusion.

141. Con mắt bên ngoài phơi bày ảo tưởng.

142. Materialism is based upon veiled, incomplete perception.

142. Chủ nghĩa duy vật dựa trên tri giác bị che khuất và không trọn vẹn.

Etheric vision, or the power to see energy-substance, is true vision for the human being, just as the etheric is the true form.

Linh thị dĩ thái, hay năng lực thấy chất liệu-năng lượng, là linh thị chân thực đối với con người, cũng như dĩ thái là chân hình.

143. Here we have an excellent definition of “etheric vision”. Etheric vision is true vision for the human being.

143. Ở đây chúng ta có một định nghĩa rất hay về “linh thị dĩ thái”. Linh thị dĩ thái là linh thị chân thực đối với con người.

144. When etheric vision becomes commonplace, the hold of materialism upon the consciousness of man will be broken.

144. Khi linh thị dĩ thái trở nên phổ biến, sự kìm giữ của chủ nghĩa duy vật đối với tâm thức con người sẽ bị phá vỡ.

But until [Page 1097] the race is further evolved, the eye is aware of, and responds to the heavier vibration only.

Nhưng cho đến khi [Page 1097] nhân loại tiến hoá hơn nữa, mắt chỉ nhận biết và đáp ứng với rung động nặng nề hơn mà thôi.

145. The eye, itself, must develop so that it can see the true form.

145. Bản thân mắt phải phát triển để có thể thấy chân hình.

Gradually it will shake itself free from the lower and coarser reactions, and become an organ of true vision.

Dần dần nó sẽ tự giải thoát khỏi những phản ứng thấp hơn và thô nặng hơn, và trở thành một cơ quan của linh thị chân thực.

146. It almost seems as if the eye must “shake itself free” of lower types of atoms which prevent the apprehension of the true form via true vision.

146. Hầu như có vẻ như mắt phải “tự giải thoát” khỏi những loại nguyên tử thấp hơn ngăn cản việc nắm bắt chân hình qua linh thị chân thực.

It might be of interest here to remember the occult fact that as the atoms in the physical body of the human being pursue their evolution, they pass on and on to ever better forms,

Ở đây có lẽ cũng đáng quan tâm khi nhớ đến sự kiện huyền bí rằng khi các nguyên tử trong thể xác của con người theo đuổi tiến hoá của chúng, chúng tiếp tục đi mãi vào những hình tướng ngày càng tốt hơn,

147. We are speaking specifically of the evolution of dense physical atoms.

147. Chúng ta đang nói riêng về sự tiến hoá của các nguyên tử hồng trần đậm đặc.

and eventually find their place within the eye, first of animals and then of man.

và cuối cùng tìm được chỗ của chúng trong mắt, trước hết của động vật rồi đến của con người.

148. An amazing destination for the evolving atom.

148. Một đích đến đáng kinh ngạc cho nguyên tử đang tiến hoá.

149. I am remembering a group of Monads called “the specks within the planetary eye” (TCF 1082). The evolving human atoms must also find their way towards this much greater type of eye.

149. Tôi nhớ đến một nhóm chân thần được gọi là “những đốm trong con mắt hành tinh” (TCF 1082). Các nguyên tử người đang tiến hoá hẳn cũng phải tìm đường hướng tới loại mắt lớn lao hơn nhiều này.

150. Into what types of ‘Eyes’ do higher evolving Beings eventually find their way?

150. Cuối cùng, các Hữu thể cao hơn đang tiến hoá sẽ tìm đường vào những loại “Mắt” nào?

This is the highest dense form into which they are built, and marks the consummation of the atom of dense matter.

Đây là hình tướng đậm đặc cao nhất mà chúng được xây dựng vào, và đánh dấu sự viên mãn của nguyên tử vật chất đậm đặc.

151. Beyond this consummation, destiny as an etheric atom awaits.

151. Vượt quá sự viên mãn này, một định mệnh như nguyên tử dĩ thái đang chờ đợi.

152. We do see that atoms are ever changing relative position. This must be the case for higher atoms as well—men, Planetary Logoi, Solar Logoi, etc. Since these atoms are also chakras, it is safe to analogize that chakras change their relative position. A chakra which fulfills the function of the solar plexus, for instance, can become a heart center at some point in its evolutionary journey, or even a head center.

152. Chúng ta quả thật thấy rằng các nguyên tử luôn thay đổi vị trí tương đối. Điều này hẳn cũng đúng đối với các nguyên tử cao hơn—con người, các Hành Tinh Thượng Đế, các Thái dương Thượng đế, v.v. Vì các nguyên tử này cũng là luân xa, nên có thể suy theo định luật tương đồng rằng các luân xa thay đổi vị trí tương đối của chúng. Chẳng hạn, một luân xa thực hiện chức năng của tùng thái dương có thể trở thành một trung tâm tim ở một thời điểm nào đó trong hành trình tiến hoá của nó, hay thậm chí là một trung tâm đầu.

Occultly understood, the eye is formed through the interplay of certain streams of force, of which there are three in the animal, and five in the human being.

Theo huyền bí học, mắt được hình thành qua sự tương tác của một số dòng mãnh lực, trong đó có ba nơi động vật, và năm nơi con người.

153. Such statements are amazing pieces of occultism.

153. Những phát biểu như thế là những mảnh huyền bí học thật đáng kinh ngạc.

154. The number three fits well with the animal kingdom, the third kingdom. The five for the human kingdom suggests its imminent transmutation into the Kingdom of Souls.

154. Số ba rất phù hợp với giới động vật, giới thứ ba. Số năm đối với giới nhân loại gợi ý sự chuyển hoá sắp xảy ra của nó thành Vương Quốc của các linh hồn.

155. We can infer that the eye of the human being has far greater potentials than the eye of the animal, though some forms of animal sensitivity far exceed those of those the human being is thus far capable.

155. Chúng ta có thể suy ra rằng mắt của con người có những tiềm năng lớn hơn rất nhiều so với mắt của động vật, dù một số dạng nhạy cảm của động vật vượt xa những gì con người cho đến nay có thể làm được.

By their conjunction and interaction, they form what is called "the triple opening" or the "fivefold door" out of which the animal soul or the human spirit can "look out upon the world illusion."

Bằng sự kết hợp và tương tác của chúng, chúng tạo thành điều được gọi là “khai mở tam phân” hay “cánh cửa ngũ phân”, từ đó linh hồn động vật hay tinh thần con người có thể “nhìn ra thế giới ảo tưởng.”

156. The animal is meant to see with growing intelligence into the World of Illusion. Man is meant to look out upon the World of Illusion as a soul— characterized by the number five.

156. Động vật được dự định sẽ nhìn vào Thế Giới Ảo Tưởng với trí tuệ ngày càng tăng. Con người được dự định sẽ nhìn ra Thế Giới Ảo Tưởng như một linh hồn— được đặc trưng bởi con số năm.

157. We are reminded that dense physical organs are formed by subtle energy streams.

157. Chúng ta được nhắc rằng các cơ quan hồng trần đậm đặc được hình thành bởi các dòng năng lượng vi tế.

158. We note that DK differentiates the words “soul” and “spirit”, applying the first to the animal and the second to man.

158. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK phân biệt hai từ “linh hồn” và “tinh thần”, áp dụng từ thứ nhất cho động vật và từ thứ hai cho con người.

The final reason why the spheroidal true form of everything is apparently not seen on the planet can only at this stage be expressed through a quotation from an old esoteric manuscript in the Masters' archives:

Lý do cuối cùng vì sao chân hình hình cầu của mọi sự dường như không được thấy trên hành tinh hiện chỉ có thể được diễn đạt qua một trích dẫn từ một bản thảo bí truyền cổ trong văn khố của các Chân sư:

159. The invisibility of the spheroidal form on the densest planes has something to do with the degree of evolution of our Planetary Logos—an “Imperfect God”

159. Sự vô hình của hình tướng cầu trên các cõi đậm đặc nhất có liên hệ nào đó với mức độ tiến hoá của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta—một “Thượng đế Bất Toàn”

"The vision of the higher sphere is hidden in the destiny of the fourth form of substance.

“Linh thị của khối cầu cao hơn bị che giấu trong định mệnh của hình thức thứ tư của chất liệu.

160. This is the densest form of substance—dense physical matter itself.

160. Đây là hình thức đậm đặc nhất của chất liệu—chính vật chất hồng trần đậm đặc.

161. The third aspect of divinity is a veiling aspect. It is that aspect which conditions dense physical matter and veils the true form, the etheric form.

161. Phương diện thứ ba của thiên tính là một phương diện che phủ. Chính phương diện ấy tác động lên vật chất hồng trần đậm đặc và che phủ chân hình, tức hình tướng dĩ thái.

The eye looks downwards and, behold, the atom disappears from view.

Con mắt nhìn xuống dưới và, kìa, nguyên tử biến mất khỏi tầm nhìn.

162. The atom is spherical. Only the illusory form appears. The true substantial atom cannot be seen.

162. Nguyên tử có hình cầu. Chỉ hình tướng ảo tưởng là xuất hiện. Nguyên tử thực chất chân thực không thể được thấy.

163. Vision is limited by the density of the fourth form of substance.

163. Linh thị bị giới hạn bởi tính đậm đặc của hình thức thứ tư của chất liệu.

The eye looks sideways and the dimensions merge, and again the atom disappears.

Con mắt nhìn ngang và các chiều kích hòa lẫn vào nhau, và một lần nữa nguyên tử lại biến mất.

164. There may be occult physiological hints here given. Methods of cultivating etheric vision are given in such hints as these.

164. Ở đây có thể có những gợi ý sinh lý học huyền bí được đưa ra. Những phương pháp vun bồi linh thị dĩ thái được trao trong những gợi ý như thế này.

165. The true form cannot, however, be found through a horizontal activity. A sideways glance will only reveal forms which are similar to each other—all of them similarly veiled.

165. Tuy nhiên, chân hình không thể được tìm thấy qua một hoạt động theo chiều ngang. Một cái nhìn ngang chỉ phơi bày những hình tướng tương tự nhau—tất cả đều bị che phủ theo cùng một cách.

Outward it looks but sees the atom out of all proportion.

Nó nhìn ra ngoài nhưng thấy nguyên tử hoàn toàn mất cân xứng.

166. The non-spherical form is seen.

166. Hình tướng không hình cầu được thấy.

When the eye negates the downward vision, and sees all from within outwards, the spheres again will be seen."

Khi con mắt phủ nhận linh thị hướng xuống, và nhìn mọi sự từ bên trong ra bên ngoài, các khối cầu sẽ lại được nhìn thấy."

167. The etheric field of vision has to be established and then an object brought into sight. This will reveal the etheric nature of the object.

167. Trường nhìn dĩ thái phải được thiết lập, rồi một đối tượng được đưa vào tầm nhìn. Điều này sẽ tiết lộ bản chất dĩ thái của đối tượng.

168. With the cultivation of still more subtle forms of sight, the spherical forms still subtler vehicles will be revealed.

168. Với sự trau dồi những hình thức thị giác còn vi tế hơn nữa, các hình cầu của những vận cụ còn vi tế hơn sẽ được tiết lộ.

169. There are ways of negating the usual visual tendencies of the material eye. These must be explored and cultivated.

169. Có những cách để phủ nhận các khuynh hướng thị giác thông thường của mắt vật chất. Những cách ấy phải được khảo sát và trau dồi.

S9S3 Part I

TCF 1098-1102

TCF 1097-1102

Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ chuyển tải ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi mới nghiên cứu phần Bình Luận

V. MOTION AND THE FORM-BUILDING IMPULSE

V. CHUYỂN ĐỘNG VÀ XUNG LỰC XÂY DỰNG HÌNH TƯỚNG

1. Motion and the Mental Sheath.

1. Chuyển động và thể trí.

In the first section of this treatise we dealt somewhat with various phases of activity when considering "fire by friction," and the fiery motion of substance itself.

Trong phần thứ nhất của bộ luận này, chúng ta đã phần nào bàn đến các giai đoạn khác nhau của hoạt động khi xem xét "Lửa ma sát", và chuyển động rực lửa của chính chất liệu.

1. We must always remember that Master DK differentiates “substance” from “matter”. Both are forms of energy-force, but when differentiated, substance is more subtle and substands that which is considered to be matter.

1. Chúng ta phải luôn nhớ rằng Chân sư DK phân biệt “chất liệu” với “vật chất”. Cả hai đều là những hình thức của mãnh lực-năng lượng, nhưng khi được phân biệt, chất liệu thì vi tế hơn và nâng đỡ điều được xem là vật chất.

2. The two words, however, are not always used with perfect discrimination.

2. Tuy nhiên, hai từ này không phải lúc nào cũng được dùng với sự phân biện hoàn toàn chính xác.

We will only touch on some further aspects of the matter, for it is necessary that the student should bear in mind certain [Page 1098] things. He should endeavour to ascertain the relationship between the universal mind (or the systemic mind)

Chúng ta sẽ chỉ đề cập đến một vài phương diện khác nữa của vấn đề, vì điều cần thiết là đạo sinh phải ghi nhớ một số [Page 1098] điều. Y nên cố gắng xác định mối liên hệ giữa Trí Tuệ Vũ Trụ (hay trí tuệ hệ thống)

3. We see here that the term “universal” does not relate to the entire Universe, but only to our solar system. We must be alert to this specialized use of this word.

3. Ở đây chúng ta thấy rằng từ “vũ trụ” không liên hệ đến toàn thể Vũ trụ, mà chỉ đến hệ mặt trời của chúng ta. Chúng ta phải tỉnh táo trước cách dùng chuyên biệt này của từ ấy.

and cosmic mind,

và trí tuệ vũ trụ,

4. In this case “cosmic mind” is of a nature vaster than “universal mind”.

4. Trong trường hợp này “trí tuệ vũ trụ” có bản chất bao la hơn “Trí Tuệ Vũ Trụ”.

and seek to comprehend the purpose of the mental sheath, which is one of the most interesting of the various bodies on account of its fiery gaseous constitution.

và tìm cách thấu hiểu mục đích của thể trí, vốn là một trong những thể lý thú nhất trong các thể khác nhau do cấu tạo khí thể rực lửa của nó.

5. Given the evolutionary status of the modern disciples, the mental sheath is of greatest importance.

5. Xét theo tình trạng tiến hoá của các đệ tử hiện đại, thể trí có tầm quan trọng lớn nhất.

He should also seek to bring about through meditation that mental control and alignment which will result in stabilisation, and a responsiveness to causal impression.

Y cũng nên tìm cách, qua tham thiền, mang lại sự kiểm soát trí tuệ và sự chỉnh hợp sẽ dẫn đến ổn định hóa, cùng sự đáp ứng đối với ấn tượng nguyên nhân.

6. If the fiery, gaseous condition of the mental vehicle is too volatile, there will be insufficient mental stabilisation to receive causal impression.

6. Nếu tình trạng rực lửa, khí thể của thể trí quá dễ biến động, sẽ không có đủ sự ổn định trí tuệ để tiếp nhận ấn tượng nguyên nhân.

7. In the system of Raja Yoga, one of the first requirements is the achievement of mental control and alignment.

7. Trong hệ thống Raja Yoga, một trong những đòi hỏi đầu tiên là đạt được sự kiểm soát trí tuệ và sự chỉnh hợp.

This will lead to the transmission of egoic instruction to the man on the physical plane.

Điều này sẽ dẫn đến sự truyền đạt huấn thị chân ngã đến con người trên cõi hồng trần.

8. If there is to be “egoic instruction” there must be the necessary stabilization and causal impression. I wonder if we have pondered with sufficient care the question of causal impression. Do we actually receive it? Do we recognize it when there is impression?

8. Nếu phải có “huấn thị chân ngã” thì phải có sự ổn định cần thiết và ấn tượng nguyên nhân. Tôi tự hỏi liệu chúng ta đã suy xét đủ cẩn trọng về vấn đề ấn tượng nguyên nhân hay chưa. Chúng ta có thực sự tiếp nhận nó không? Chúng ta có nhận ra khi có ấn tượng hay không?

Certain points in connection with the mental sheath require emphasising, though it is not our purpose to do more than call attention to their nature. Under the law of correspondence, the student should be able to arrive at certain conclusions and judge wisely the assignment of purpose and place to the particular set of lunar pitris who form the vehicle.

Một số điểm liên quan đến thể trí cần được nhấn mạnh, dù mục đích của chúng ta không phải làm gì hơn ngoài việc lưu ý đến bản chất của chúng. Theo định luật tương ứng, đạo sinh phải có khả năng đi đến một số kết luận và phán đoán một cách minh triết về sự quy định mục đích và vị trí cho tập hợp đặc thù các thái âm tổ phụ tạo thành vận cụ.

9. It would seem that Master DK is speaking specifically of the lower manasic vehicle, though we must remain alert to see whether He includes the three higher subplanes of the mental plane.

9. Có vẻ như Chân sư DK đang nói riêng về vận cụ manas thấp, dù chúng ta phải luôn tỉnh táo để xem liệu Ngài có bao gồm ba cõi phụ cao hơn của cõi trí hay không.

10. We note the plural: there is more than one lunar pitris involved in the constitution of the mental vehicle.

10. Chúng ta lưu ý số nhiều: có hơn một thái âm tổ phụ tham gia vào cấu tạo của thể trí.

The mental body is composed of only four types of essence, whereas the astral body and the physical are formed of seven types.

Thể trí chỉ được cấu thành từ bốn loại tinh chất, trong khi thể cảm dục và thể xác được tạo thành từ bảy loại.

11. No, it is clear that by “mental sheath” He means only that which we call the “lower mind”.

11. Không, rõ ràng là khi nói “thể trí” Ngài chỉ muốn nói đến điều mà chúng ta gọi là “hạ trí”.

12. When speaking of the various types of devas, the term “essence” is often used to characterize them. Perhaps this is because such devas are an essential aspect of any form within the three lower worlds.

12. Khi nói về các loại thiên thần khác nhau, từ “tinh chất” thường được dùng để đặc trưng cho họ. Có lẽ là vì các thiên thần như thế là một phương diện cốt yếu của bất kỳ hình tướng nào trong ba cõi thấp.

13. Can we say that the “set” of devas who compose the mental vehicle is a fourfold set?

13. Chúng ta có thể nói rằng “tập hợp” các thiên thần cấu thành vận cụ trí tuệ là một tập hợp tứ phân chăng?

The devas who compose this body are grouped together as "the cohorts of the fourth order"

Các thiên thần cấu thành thể này được nhóm lại với nhau như "các đoàn quân của cấp thứ tư"

14. The term “cohorts” is also frequently used to denote associated devas.

14. Từ “đoàn quân” cũng thường được dùng để chỉ các thiên thần liên kết với nhau.

15. There are certainly four categories of such devas.

15. Chắc chắn có bốn loại thiên thần như thế.

and have a close connection with that group of cosmic Lives who (through the impress of their influence upon solar matter) are responsible for the fact that our solar system is a system of the fourth order.

và có một liên hệ mật thiết với nhóm các Sự sống vũ trụ mà (qua dấu ấn ảnh hưởng của họ trên vật chất thái dương) chịu trách nhiệm về sự kiện rằng hệ mặt trời của chúng ta là một hệ thống thuộc cấp thứ tư.

16. Are we to suppose that the cosmic Lives here mentioned have a close association with the four lower cosmic subplanes of the cosmic mental plane?

16. Chúng ta có nên giả định rằng các Sự sống vũ trụ được nhắc đến ở đây có liên hệ mật thiết với bốn cõi phụ vũ trụ thấp của cõi trí vũ trụ hay không?

17. We must search the meaning of “solar matter”. May it be that type of matter utilized by our Solar Logos as He demonstrates His solar system upon the cosmic physical plane?

17. Chúng ta phải truy tìm ý nghĩa của “vật chất thái dương”. Có thể đó là loại vật chất được Thái dương Thượng đế của chúng ta sử dụng khi Ngài biểu lộ hệ mặt trời của Ngài trên cõi hồng trần vũ trụ chăng?

18. We are looking for the nature of the parallel suggested.

18. Chúng ta đang tìm bản chất của sự song hành được gợi ý.

This group of Lives is manipulated and controlled, in the macrocosmic sense, from cosmic mental levels via the central spiritual sun, and through what is called in esoteric parlance "the fourth solar cavity."

Nhóm các Sự sống này được thao tác và kiểm soát, theo ý nghĩa đại thiên địa, từ các cấp độ trí tuệ vũ trụ qua Mặt trời Tinh thần Trung Ương, và qua điều được gọi trong thuật ngữ huyền bí là "khoang thái dương thứ tư."

19. The occultism is profound. When we speak of the Central Spiritual Sun in this context, we do not mean Alcyone, but rather the monadic nature of the Solar Logos.

19. Huyền bí học ở đây thật sâu xa. Khi nói đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương trong ngữ cảnh này, chúng ta không có ý nói Alcyone, mà đúng hơn là bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế.

20. The word “via” is very important. One could almost think that that which the Tibetan calls the “central spiritual sun” is on a level hierarchically lower than the cosmic mental plane, though logically this cannot be the case.

20. Từ “qua” rất quan trọng. Người ta gần như có thể nghĩ rằng điều mà Chân sư Tây Tạng gọi là “Mặt trời Tinh thần Trung Ương” ở trên một cấp bậc thấp hơn cõi trí vũ trụ, dù về mặt logic điều này không thể là như vậy.