← Discipleship in the New Age Vol – Alice A. Bailey

To J. S. P. – Gửi J. S. P.

To J. S. P. – Gửi J. S. P.

September 1937

Tháng Chín 1937

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

I have deferred giving you your personal instructions until this time as the quiet process of your integration in my group has been going forward with success. I felt it wise to wait. You [663] have had the difficult task of being admitted into a group which has been functioning as a unit for some time, and the amount of reading matter which you have had to master and the rhythm to which you have to adjust yourself has made your task a most difficult one. Your experience in group work, your open-minded attitude to other people, and the fact that (subjectively) you have belonged to this group ever since its inception has greatly helped. You have stepped into a position which has been yours subjectively for a long time. I am mentioning this persistent inner relation to me and to your group brothers so that you may realise that you have only to establish the outer links. The inner are already forged.

Tôi đã trì hoãn việc trao cho em các huấn thị cá nhân cho đến lúc này, vì tiến trình yên lặng của sự tích hợp em vào nhóm của tôi đã tiến triển thành công. Tôi cảm thấy chờ đợi là điều khôn ngoan. Em [663] đã có nhiệm vụ khó khăn là được nhận vào một nhóm đã hoạt động như một đơn vị trong một thời gian, và khối lượng tài liệu đọc mà em phải nắm vững, cùng nhịp điệu mà em phải điều chỉnh mình cho phù hợp, đã khiến nhiệm vụ của em trở nên hết sức khó khăn. Kinh nghiệm của em trong công việc nhóm, thái độ cởi mở của em đối với người khác, và sự kiện rằng về mặt chủ quan em đã thuộc về nhóm này ngay từ khi nhóm khởi đầu, đã giúp ích rất nhiều. Em đã bước vào một vị trí vốn thuộc về em về mặt chủ quan từ lâu. Tôi nhắc đến mối liên hệ nội tâm bền bỉ này với tôi và với các huynh đệ trong nhóm của em để em có thể nhận ra rằng em chỉ cần thiết lập các liên kết bên ngoài. Những liên kết bên trong đã được rèn đúc rồi.

The life of the disciple moves forward through moments of crisis. These crises produce two results:

Đời sống của đệ tử tiến tới qua những khoảnh khắc khủng hoảng. Những khủng hoảng này tạo ra hai kết quả:

1. The intensification of aspiration, if the disciple is still upon the Probationary Path, or the intensification of illumination if the disciple is nearing the Path of Accepted Discipleship, or is upon the Path itself.

1. Sự tăng cường khát vọng, nếu đệ tử vẫn còn trên Con Đường Dự Bị, hoặc sự tăng cường soi sáng nếu đệ tử đang gần Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận, hoặc đang ở trên chính Đường Đạo.

2. The achievement of a more stabilised attitude of detachment, based upon conscious personality renunciation, upon a right orientation of the personality to the soul (who is the one Master, the Light of Life) and to the Hierarchy of Servers. They will, therefore, produce an increasing power of control by the soul—the One Who knows no attachment and Who stands at-one with all souls in all forms.

2. Việc đạt được một thái độ tách rời ổn định hơn, dựa trên sự từ bỏ phàm ngã có ý thức, trên sự định hướng đúng đắn của phàm ngã về phía linh hồn, là Chân sư duy nhất, Ánh sáng của Sự Sống, và về phía Thánh Đoàn của những Người Phụng Sự. Do đó, chúng sẽ tạo ra một quyền năng kiểm soát ngày càng tăng của linh hồn — Đấng không biết đến ràng buộc và đứng hợp nhất với mọi linh hồn trong mọi hình tướng.

Such moments of crisis and of intensification, added to renunciation, have been your lot for years, have they not, my brother? They have swept your whole personality into an attitude of withdrawing from the things of the senses and to an earnest approach to the world of reality. In your life, since you came into incarnation this time, there have been four such moments, in the major sense—each of them preceded by a period of one-pointed aspiration, of painful and oft agonising detachment from all that the personality held dear. Each of them produced a subsequent reaction wherein it seemed that all was dark, and that aridity and stern struggle were the curious and undesirable result of sacrifice and of a recognised high point of illumination.

Huynh đệ của tôi, những khoảnh khắc khủng hoảng và tăng cường như thế, cộng thêm sự từ bỏ, đã là số phận của em trong nhiều năm, phải vậy không? Chúng đã cuốn toàn bộ phàm ngã của em vào một thái độ rút lui khỏi những sự vật của giác quan và hướng tới một sự tiếp cận nghiêm túc với thế giới của thực tại. Trong đời em, kể từ khi em nhập thể lần này, đã có bốn khoảnh khắc như thế theo nghĩa lớn — mỗi khoảnh khắc đều được đi trước bởi một thời kỳ khát vọng nhất tâm, tách rời đau đớn và thường thống khổ khỏi tất cả những gì phàm ngã quý yêu. Mỗi khoảnh khắc ấy đều tạo ra một phản ứng tiếp theo, trong đó dường như tất cả đều tối tăm, và sự khô cằn cùng cuộc tranh đấu nghiêm khắc là kết quả kỳ lạ và không mong muốn của sự hy sinh và của một điểm soi sáng cao đã được nhận biết.

[664] For you, as for so many disciples in this particular life cycle, the lesson has been to learn to move forward in spite of the activity of the pairs of opposites, paying no attention to the reactions of the senses and standing free and unafraid whether the experience being undergone is one of high import and of spiritual satisfaction, or is one of the “dead-level” happenings, where nothing brings joy and where only pain, fear and suspense are to be found. You must learn to move forward steadily between the pairs of opposites, saying to yourself: I am not this; I am not that; eternally, I am the Self.

[664] Đối với em, cũng như đối với rất nhiều đệ tử trong chu kỳ đời sống đặc biệt này, bài học là học cách tiến tới bất chấp hoạt động của các cặp đối cực, không chú ý đến các phản ứng của giác quan, và đứng tự do, không sợ hãi, dù kinh nghiệm đang trải qua là một kinh nghiệm có ý nghĩa cao cả và đem lại sự thỏa mãn tinh thần, hay là một trong những biến cố “bình lặng”, nơi không điều gì đem lại sự hoan hỉ và nơi chỉ có đau đớn, sợ hãi và treo lơ lửng. Em phải học cách tiến tới vững vàng giữa các cặp đối cực, tự nói với mình: Tôi không phải là cái này; tôi không phải là cái kia; vĩnh cửu, tôi là Chân Ngã.

These lessons you are learning (and learning with rapidity). You have now reached a point where you can learn them in a group—a group of fellow disciples who are undergoing the same experiences, who are oriented in the same direction, who are occupied with the same problems, and who are motivated by the same desire to serve. This means that you travel not alone, but are supported and sustained and strengthened by your group brothers. Those working in these groups will tell you that in spite of the difficulties and oft the increased problems of the spiritual life—the results of a renewed consecration and a more clearly defined service—the “comradeship of the Path” and the inspiration and love of the group do most certainly constitute a powerful help and bring a sense of life and love which negatives the ancient loneliness, and offsets the old solitary suffering.

Những bài học này em đang học, và học rất nhanh. Giờ đây em đã đạt đến một điểm nơi em có thể học chúng trong một nhóm — một nhóm các đệ tử đồng môn đang trải qua cùng những kinh nghiệm, được định hướng theo cùng một hướng, bận tâm với cùng những vấn đề, và được thúc đẩy bởi cùng một ước muốn phụng sự. Điều này có nghĩa là em du hành không một mình, mà được các huynh đệ trong nhóm nâng đỡ, duy trì và củng cố. Những người hoạt động trong các nhóm này sẽ nói với em rằng, bất chấp các khó khăn và thường là những vấn đề gia tăng của đời sống tinh thần — kết quả của một sự thánh hiến mới và một sự phụng sự được xác định rõ hơn — “tình đồng hành trên Đường Đạo” cùng cảm hứng và tình thương của nhóm chắc chắn tạo thành một trợ lực mạnh mẽ và đem lại một ý thức về sự sống và tình thương, vốn phủ định nỗi cô đơn cổ xưa và hóa giải nỗi đau khổ đơn độc cũ.

Carefully follow the work of the Full Moon Approach, for it will bring you much and you should enter, through its means, into closer contact with the inner spiritual Sun, the soul, and with all of us who, in our varying grades of discipleship, seek to serve our fellowmen. This Full Moon work involves the use of the creative imagination, the cultivation of the power to visualise, the intensification of the magnetic vibration of the ajna centre, and consequently of the pituitary body. This establishes a magnetic field for the interplay of the currents and energies which are brought into action by the activity of the head centre and of the pineal gland. These higher forces are brought in and utilised in the meditation processes followed by all the group.

Hãy cẩn thận theo dõi công việc Tiếp Cận Trăng Tròn, vì nó sẽ đem lại cho em nhiều điều, và qua phương tiện của nó, em nên bước vào sự tiếp xúc gần gũi hơn với Mặt trời tinh thần bên trong, tức linh hồn, và với tất cả chúng tôi, những người trong các cấp độ địa vị đệ tử khác nhau, đang tìm cách phụng sự đồng loại. Công việc Trăng Tròn này bao hàm việc sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo, việc vun bồi quyền năng hình dung, sự tăng cường rung động từ tính của trung tâm ajna, và do đó của tuyến yên. Điều này thiết lập một trường từ tính cho sự tương tác của các dòng lưu chuyển và năng lượng được đưa vào hoạt động bởi hoạt động của trung tâm đầu và tuyến tùng. Những mãnh lực cao hơn này được đưa vào và sử dụng trong các tiến trình tham thiền mà toàn thể nhóm theo đuổi.

I have nothing to say in connection with your life of service and activity. That will go on naturally, and as ever in the case [665] with all true aspirants, must be rendered with no thought of self but in an effort to meet the need of those within your environment who look to you for help—physical, emotional and mental—but always with a spiritual intent.

Tôi không có gì để nói liên quan đến đời sống phụng sự và hoạt động của em. Điều đó sẽ tiếp diễn một cách tự nhiên, và như luôn luôn trong trường hợp [665] của mọi người chí nguyện chân thật, phải được thực hiện mà không nghĩ đến bản thân, nhưng trong nỗ lực đáp ứng nhu cầu của những người trong môi trường của em, những người trông cậy nơi em để được giúp đỡ — về hồng trần, cảm xúc và trí tuệ — nhưng luôn luôn với một chủ đích tinh thần.

I will make some suggestions as to your personality problem, and I will outline for you some meditation work. I use the word “suggestions” advisedly, for I would have you realise from the very beginning of your work that I never give more than a hint or a clear suggestion, or point out a possible line of action. I suggest a mode of training and of meditation and then leave each of you free to accept the suggestion and to conform to the outlined ideas as may seem best to you.

Tôi sẽ đưa ra một vài gợi ý về vấn đề phàm ngã của em, và tôi sẽ phác thảo cho em một số công việc tham thiền. Tôi dùng từ “gợi ý” một cách có cân nhắc, vì tôi muốn em ngay từ khởi đầu công việc của em nhận ra rằng tôi không bao giờ đưa ra quá một ám chỉ hoặc một gợi ý rõ ràng, hay chỉ ra một đường lối hành động khả hữu. Tôi gợi ý một phương thức rèn luyện và tham thiền, rồi để mỗi em tự do chấp nhận gợi ý ấy và tuân theo các ý tưởng đã được phác thảo theo cách nào có vẻ tốt nhất đối với em.

I seek to give you a hint as to your ray influences, so that certain attitudes of mind and expressions of feeling-perception may be clarified for you. The five ray potencies which constitute your problem (and, with the soul, constitute also the mechanism of service through which the monad manifests), provide your field of opportunity and your main avenue of knowledge in the world of human expression.

Tôi tìm cách trao cho em một ám chỉ về các ảnh hưởng cung của em, để một số thái độ của thể trí và các biểu hiện của tri nhận qua cảm xúc có thể được làm sáng tỏ cho em. Năm quyền năng cung tạo thành vấn đề của em, và cùng với linh hồn cũng tạo thành bộ máy phụng sự qua đó chân thần biểu hiện, cung cấp cho em lĩnh vực cơ hội và đại lộ tri thức chính yếu của em trong thế giới biểu hiện nhân loại.

Your soul ray is the second ray.

Cung linh hồn của em là cung hai.

Your personality ray is the sixth ray, as you may have often suspected. This will link you closely by similarity of vibration with your brothers, D.H.B. and D.I.J.

Cung phàm ngã của em là cung sáu, như em có thể đã thường nghi ngờ. Điều này sẽ liên kết em chặt chẽ, do sự tương đồng rung động, với các huynh đệ của em là D.H.B. và D.I.J.

Your mental body is governed by the fourth ray, producing that love of art and literature which distinguishes you, and providing also that field of conflict which characterises your entire life. Harmony through conflict is the keynote of your life, with the soul ever aware of the basic harmony, but with the personality registering the conflict more definitely and more aware of the strife and the difficulties. Ever the mind has sought to control; ever the soul has endeavoured to carry increasing illumination, through the mind; ever the personal lower self has resisted that illumination and control. Is this not so, my brother?

Thể trí của em chịu sự cai quản của cung bốn, tạo ra tình yêu nghệ thuật và văn chương vốn làm em nổi bật, và cũng cung cấp lĩnh vực xung đột đặc trưng cho toàn bộ đời em. Hòa hợp qua xung đột là chủ âm của đời em, với linh hồn luôn luôn ý thức về sự hòa hợp căn bản, nhưng phàm ngã ghi nhận xung đột rõ rệt hơn và ý thức hơn về cuộc tranh chấp cùng các khó khăn. Thể trí luôn tìm cách kiểm soát; linh hồn luôn nỗ lực đem sự soi sáng ngày càng tăng qua thể trí; phàm ngã thấp kém luôn chống lại sự soi sáng và kiểm soát ấy. Chẳng phải vậy sao, huynh đệ của tôi?

Your astral body is closely linked with your soul and governed by the second ray, thus making for you the line of least resistance in this life. For you, the line of feeling-intuition, of astral-buddhic approach has been the way. It is right here that the fourth ray problem of your mind has its major difficulty [666] and this for the following reason: In this life your major vibration runs along the line of 2-4-6, producing the intensification of your second ray qualities and indicating the need for some balancing factor. The difficulty is helped, however, and the problem aided towards solution by the fact that your physical body is on the seventh ray, which brings in the vibration of the first ray line of energy, 1-5-7. This is of great assistance to you. Upon the physical plane, therefore, you have the task of balancing this preponderance of second ray attributes, qualities and rhythm.

Thể cảm dục của em liên kết chặt chẽ với linh hồn và chịu sự cai quản của cung hai, nhờ đó tạo cho em con đường ít trở ngại nhất trong đời này. Đối với em, con đường của cảm xúc-trực giác, của sự tiếp cận cảm dục-Bồ đề, đã là con đường. Chính tại đây vấn đề cung bốn của thể trí em có khó khăn chủ yếu [666], và điều này vì lý do sau: Trong đời này, rung động chính của em chạy dọc theo tuyến 2-4-6, tạo ra sự tăng cường các phẩm tính cung hai của em và chỉ ra nhu cầu về một yếu tố quân bình nào đó. Tuy nhiên, khó khăn được trợ giúp và vấn đề được hỗ trợ hướng tới giải pháp nhờ sự kiện rằng thể xác của em thuộc cung bảy, vốn đưa vào rung động của tuyến năng lượng cung một, 1-5-7. Điều này trợ giúp em rất nhiều. Vì vậy, trên cõi hồng trần, em có nhiệm vụ quân bình sự ưu thế của các thuộc tính, phẩm tính và nhịp điệu cung hai này.

Your rays, therefore, are:

Do đó, các cung của em là:

1. The ray of the soul—the second Ray of Love-Wisdom.

1. Cung của linh hồn — cung hai của Bác Ái – Minh Triết.

2. The ray of the personality—the sixth Ray of Devotion.

2. Cung của phàm ngã — cung sáu của Sùng tín.

3. The ray of the mental body—the fourth Ray of Harmony through Conflict.

3. Cung của thể trí — cung bốn của Hòa Hợp qua Xung Đột.

4. The ray of the astral body—the second Ray of Love-Wisdom.

4. Cung của thể cảm dục — cung hai của Bác Ái – Minh Triết.

5. The ray of the physical body—the seventh Ray of Ceremonial Order.

5. Cung của thể xác — cung bảy của Trật Tự Nghi Lễ.

You will find this of deep interest and, if rightly appreciated, it will produce fruitful development in your life.

Em sẽ thấy điều này có sự quan tâm sâu sắc, và nếu được đánh giá đúng, nó sẽ tạo ra sự phát triển phong phú trong đời em.

I suggest that you do the following meditation for a period of three months and then take up the group meditation. I have made your personal meditation very brief so that when you take up the group meditation it can constitute a preliminary exercise.

Tôi gợi ý rằng em thực hiện bài thiền sau đây trong thời kỳ ba tháng, rồi sau đó tiếp nhận bài thiền nhóm. Tôi đã làm cho bài thiền cá nhân của em rất ngắn, để khi em tiếp nhận bài thiền nhóm, nó có thể tạo thành một bài tập sơ khởi.

1. Continue with the simple breathing exercise you are now doing. It is of value to you in producing inner alignment and the harmonising of your bodies.

1. Tiếp tục bài tập thở đơn giản mà em hiện đang thực hiện. Nó có giá trị đối với em trong việc tạo ra sự chỉnh hợp bên trong và sự hòa hợp các thể của em.

2. Then, by an act of the will, withdraw the consciousness into the head and there visualise the inner radiant sun, formed by the merging of the lesser life of the personality with the radiant light in your soul. At the very centre of this life see the Self, the inner Christ or Buddha. Then focus your thought, without effort or strength, in this centre.

2. Rồi, bằng một hành vi của ý chí, hãy rút tâm thức vào trong đầu và tại đó hình dung mặt trời rạng rỡ bên trong, được hình thành bởi sự hòa nhập của sự sống nhỏ bé hơn của phàm ngã với ánh sáng rạng rỡ trong linh hồn em. Ở ngay trung tâm của sự sống này, hãy thấy Chân Ngã, Đức Christ hay Đức Phật bên trong. Rồi hãy tập trung tư tưởng của em, không gắng sức hay dùng sức mạnh, trong trung tâm này.

3. Next sound the O.M., breathing it out through the personality and carrying: [667]

3. Kế đó xướng O.M., thở nó ra qua phàm ngã và mang: [667]

a. Light to the mind.

a. Ánh sáng đến thể trí.

b. Peace to the astral body.

b. Bình an đến thể cảm dục.

c. Strength to the physical body.

c. Sức mạnh đến thể xác.

4. Finally, as the soul and the personality together, sound the O.M. again, once audibly and once inaudibly, thinking as you do so of the need of the world and the power of the soul to meet that need, through the medium of aspiration and discrimination.

4. Cuối cùng, với tư cách linh hồn và phàm ngã cùng nhau, hãy xướng O.M. một lần nữa, một lần thành tiếng và một lần không thành tiếng, trong khi làm như vậy hãy nghĩ đến nhu cầu của thế gian và quyền năng của linh hồn để đáp ứng nhu cầu ấy, qua trung gian của khát vọng và phân biện.

5. Continue then with any meditation such as you may feel the need of doing.

5. Sau đó hãy tiếp tục với bất cứ bài thiền nào mà em có thể cảm thấy cần thực hiện.

Have in the background of your consciousness the three words: joy, stability and the Plan.

Hãy giữ trong nền sau của tâm thức em ba từ: hoan hỉ, ổn định và Thiên Cơ.

~

~

MY BROTHER AND MY COMRADE: March 1938

HUYNH ĐỆ VÀ BẠN ĐỒNG HÀNH CỦA TÔI: Tháng Ba 1938

I have not much to say to you at this time for I gave you full and long instructions and several suggestions in the last communication. I would ask you to continue to study them and to go on pondering on their significance and their implications. There is much in them which you have not had the time to assimilate, for I gave you much, knowing that you could stand the pressure of my suggestion.

Tôi không có nhiều điều để nói với em vào lúc này, vì trong lần truyền đạt trước tôi đã trao cho em các huấn thị đầy đủ và dài, cùng nhiều gợi ý. Tôi xin em tiếp tục nghiên cứu chúng và tiếp tục suy ngẫm về thâm nghĩa và các hàm ý của chúng. Trong đó có nhiều điều em chưa có thời gian đồng hóa, vì tôi đã trao cho em nhiều điều, biết rằng em có thể chịu được áp lực của gợi ý của tôi.

You have made good progress in linking up with your group brothers. It is not an easy task to work in a group which has been functioning for some time and has already achieved a measure of subjective integration, but your group brothers are close to you and the consciousness of this fact is steadily growing in your mind.

Em đã đạt tiến bộ tốt trong việc liên kết với các huynh đệ trong nhóm của em. Làm việc trong một nhóm đã hoạt động một thời gian và đã đạt được một mức độ tích hợp chủ quan không phải là nhiệm vụ dễ dàng, nhưng các huynh đệ trong nhóm của em gần gũi với em, và tâm thức về sự kiện này đang tăng trưởng đều đặn trong thể trí em.

It may be of assistance to you and complete the information given in your first personal instructions, if I were to indicate the points of contact through which your soul and your personality primarily work:

Điều này có thể trợ giúp em và hoàn tất thông tin đã được trao trong các huấn thị cá nhân đầu tiên của em, nếu tôi chỉ ra những điểm tiếp xúc qua đó linh hồn và phàm ngã của em chủ yếu hoạt động:

1. In this incarnation, your ego or soul is seeking expression through your astral body. There lies for you the line of least resistance. This established contact will rapidly transmute sixth ray devotion into universal and non-critical love. It will give you what I might call horizontal inclusiveness as well as vertical one-pointedness. Ponder on this. [668]

1. Trong lần nhập thể này, chân ngã hay linh hồn của em đang tìm cách biểu hiện qua thể cảm dục của em. Ở đó nằm con đường ít trở ngại nhất đối với em. Sự tiếp xúc đã được thiết lập này sẽ nhanh chóng chuyển hoá lòng sùng tín cung sáu thành tình thương phổ quát và không phê phán. Nó sẽ trao cho em điều tôi có thể gọi là tính bao gồm theo chiều ngang cũng như tính nhất tâm theo chiều dọc. Hãy suy ngẫm về điều này. [668]

2. Your personality force is focussed in your seventh ray brain. This gives you the power to plan, to organise, and also the power to give form to ideas. Ponder also on this.

2. Mãnh lực phàm ngã của em được tập trung trong bộ não cung bảy của em. Điều này trao cho em quyền năng lập kế hoạch, tổ chức, và cũng là quyền năng trao hình tướng cho các ý tưởng. Cũng hãy suy ngẫm về điều này.

I would call your attention anew to the three key words, Joy, Stability, and the Plan; during the past year there have been many occasions when the Way of Joy has been for you a hard way to go. Yet it is one of the needed characteristics of discipleship, leading—as it does—to soul strength; it is an essential quality for all those second ray people who are oriented particularly to treading, at some future date and after initiation, the difficult way of all world saviours. It is valuable for you to distinguish between a World Saviour and the world saviours. I have given you here a deeply esoteric hint.

Tôi muốn nhắc lại sự chú ý của em đến ba từ khóa: Hoan hỉ, Ổn định, và Thiên Cơ; trong năm qua đã có nhiều dịp khi Con Đường Hoan Hỉ đối với em là một con đường khó đi. Tuy vậy, đó là một trong những đặc tính cần thiết của địa vị đệ tử, dẫn đến — như nó vốn vậy — sức mạnh linh hồn; đó là một phẩm tính thiết yếu cho tất cả những người cung hai được định hướng đặc biệt để, vào một ngày tương lai nào đó và sau điểm đạo, bước trên con đường khó khăn của mọi đấng cứu thế gian. Việc em phân biệt giữa một Đấng Cứu Thế Gian và những đấng cứu thế gian là điều có giá trị. Ở đây tôi đã trao cho em một ám chỉ huyền bí sâu xa.

Stability or steadfastness, which is the power to stand unmoving in the centre of your environment and in the midst of changing circumstance, will be tested out in you this year. To stand this test, your soul is challenging you. When, therefore, the need for quiet and poised strength arises and there come those moments when powerful action seems desirable or violent protest or words are deemed advisable, stand in steadfastness and recollect the need for poise, for patience and the desirability to await right indication of the way to go and the need for speech or for silence. This waiting will often change the direction of your intent and no action will then be taken but only that steady vision which sees the inner side and not the outer happening.

Sự ổn định hay kiên định, vốn là quyền năng đứng bất động ở trung tâm môi trường của em và giữa hoàn cảnh đổi thay, sẽ được thử thách nơi em trong năm nay. Để đứng vững trước thử thách này, linh hồn em đang thách thức em. Vì vậy, khi nhu cầu về sức mạnh yên lặng và cân bằng nảy sinh, và khi đến những khoảnh khắc mà hành động mạnh mẽ có vẻ đáng mong muốn, hoặc sự phản kháng dữ dội hay lời nói được cho là nên có, hãy đứng trong sự kiên định và nhớ lại nhu cầu về sự thăng bằng, về kiên nhẫn, và sự đáng mong muốn của việc chờ đợi chỉ dẫn đúng đắn về con đường phải đi, cũng như nhu cầu nói hay im lặng. Sự chờ đợi này thường sẽ thay đổi hướng của chủ đích em, và khi ấy sẽ không có hành động nào được thực hiện, mà chỉ có tầm nhìn vững vàng nhìn thấy phương diện bên trong chứ không phải biến cố bên ngoài.

Go in peace, my brother, and learn anew the comradeship of the Path.

Huynh đệ của tôi, hãy đi trong bình an, và học lại tình đồng hành của Đường Đạo.

~

~

MY BROTHER: February 1939

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI: Tháng Hai 1939

The tension of fear is great in the world today. People everywhere are living under great strain. Forget not that it is the few in every land (and when I say “in every land” I make no exception) who bring about world evil. But I would have you remember also that the will of the masses of the people unless misled, is towards good and understanding. I am talking here in connection with world affairs. Stand steady, therefore, and permit no thoughts of hatred and fear to find lodging in [669] your mind. Stand firmly for good, looking for it in all peoples and races and thus seek to swell the rising tide of those who aspire to right human relations, knowing that the potency of love rightly expressed is great and is—at this time—the only factor that can offset hate.

Sự căng thẳng của sợ hãi trong thế giới ngày nay rất lớn. Người ta ở khắp nơi đang sống dưới áp lực lớn. Đừng quên rằng chính một số ít người trong mỗi xứ sở, và khi tôi nói “trong mỗi xứ sở” tôi không loại trừ nơi nào, gây nên điều ác trên thế giới. Nhưng tôi cũng muốn em nhớ rằng ý chí của quần chúng nhân dân, nếu không bị dẫn dắt sai lầm, thì hướng về điều thiện và sự thấu hiểu. Ở đây tôi đang nói liên quan đến các sự vụ thế giới. Vì vậy, hãy đứng vững và đừng cho phép bất cứ tư tưởng hận thù và sợ hãi nào tìm được chỗ trú trong [669] thể trí em. Hãy kiên định đứng về điều thiện, tìm kiếm nó trong mọi dân tộc và nhân loại, và nhờ vậy hãy tìm cách làm dâng cao làn sóng đang lên của những người khát vọng các mối quan hệ nhân loại đúng đắn, biết rằng quyền năng của tình thương được biểu lộ đúng đắn là lớn lao và — vào lúc này — là yếu tố duy nhất có thể hóa giải hận thù.

In connection with this point, I would call your attention to the instructions given to D.I.J., for in them I refer to the similarity of your problems with hers and with those of D.H.B. You can, through this similarity (which is induced through the similarity of your rays), reinforce and strengthen each other and produce a triple unit of energy which will be of service to your group brothers. You three can from certain aspects meditate together each day.

Liên quan đến điểm này, tôi muốn lưu ý em đến các huấn thị đã trao cho D.I.J., vì trong đó tôi đề cập đến sự tương đồng giữa các vấn đề của em với của bạn ấy và với của D.H.B. Qua sự tương đồng này, do sự tương đồng của các cung của em gây nên, các em có thể củng cố và tăng cường lẫn nhau, đồng thời tạo ra một đơn vị năng lượng tam phân sẽ phụng sự các huynh đệ trong nhóm của em. Từ một vài phương diện, ba em có thể tham thiền cùng nhau mỗi ngày.

I would ask you that you take as your special work that subject which is today of such interest to you—the idea of death and proving the fact of immortality. Survival, my brother, has been proved. This has been the great task and the real achievement of the spiritualistic movement throughout the world. Immortality, however, has not been proved.

Tôi muốn yêu cầu em nhận lấy làm công việc đặc biệt của em đề tài ngày nay đang khiến em quan tâm sâu sắc — ý tưởng về cái chết và việc chứng minh sự kiện bất tử. Huynh đệ của tôi, sự tồn tại sau khi chết đã được chứng minh. Đây đã là nhiệm vụ lớn lao và thành tựu thật sự của phong trào thần linh học trên khắp thế giới. Tuy nhiên, sự bất tử chưa được chứng minh.

When you have further steeped yourself in the subject, approaching it in happiness and in the spirit of service, I will give you later some ideas upon which you might work. I will not do so now as I want you to read and think through into a greater clarity of vision and a clearer perception of what it is you are seeking to undertake. One reason why you can do this work is that all your rays are along the line of building and of religion. You can, therefore, approach the scene in a far more detached manner than if your rays were purely mental or along the line of the first ray which is the ray that always brings withdrawal and abstraction and is the ray of the destroyer or of death itself. Ponder on this. There is a connection with the first ray aspect which is will, and that of death. Death is now the result of the will of the soul. Eventually it has to be the result of the united will of the soul and the personality and when that happens there will be no fear of death. Ponder also on this.

Khi em đã thấm nhuần thêm nữa đề tài này, tiếp cận nó trong hạnh phúc và trong tinh thần phụng sự, về sau tôi sẽ trao cho em một vài ý tưởng mà em có thể làm việc với chúng. Tôi sẽ chưa làm như vậy bây giờ, vì tôi muốn em đọc và suy nghĩ thấu đáo để đạt đến một sự trong sáng lớn hơn của tầm nhìn và một sự tri nhận rõ ràng hơn về điều em đang tìm cách đảm nhận. Một lý do khiến em có thể làm công việc này là vì tất cả các cung của em đều theo tuyến xây dựng và tôn giáo. Vì vậy, em có thể tiếp cận quang cảnh ấy theo một cách tách rời hơn nhiều so với khi các cung của em thuần túy trí tuệ hoặc theo tuyến cung một, là cung luôn đem lại sự rút lui và trừu xuất, và là cung của kẻ hủy diệt hay của chính cái chết. Hãy suy ngẫm về điều này. Có một mối liên hệ giữa phương diện cung một, tức ý chí, và cái chết. Cái chết hiện nay là kết quả của ý chí của linh hồn. Cuối cùng, nó phải là kết quả của ý chí hợp nhất của linh hồn và phàm ngã, và khi điều đó xảy ra sẽ không còn sợ chết. Cũng hãy suy ngẫm về điều này.

One of your problems in connection with all spiritual and meditational work is to avoid becoming too abstract; spiritual achievement for you in this life will come through the blending [670] of the highest possible point of spiritual recognition with your enlightened mind and your physical brain consciousness. The keynote of this is, of course, alignment. Have this thought of alignment in your consciousness as you proceed with the following meditation:

Một trong các vấn đề của em liên quan đến mọi công việc tinh thần và tham thiền là tránh trở nên quá trừu tượng; thành tựu tinh thần đối với em trong đời này sẽ đến qua sự pha trộn [670] của điểm cao nhất có thể về sự nhận biết tinh thần với thể trí đã được soi sáng của em và tâm thức bộ não hồng trần của em. Chủ âm của điều này, dĩ nhiên, là sự chỉnh hợp. Hãy giữ tư tưởng về sự chỉnh hợp này trong tâm thức em khi em tiến hành bài thiền sau đây:

1. Sound the Sacred Word audibly, regarding yourself as the physical man and holding the thought of physical coordination.

1. Xướng Linh Từ Thiêng Liêng thành tiếng, xem mình là phàm nhân hồng trần và giữ tư tưởng về sự phối hợp hồng trần.

Interlude wherein you take six long slow breaths, thinking as you do so about coordination.

Khoảng lặng trong đó em hít thở sáu hơi dài và chậm, trong khi làm như vậy hãy nghĩ về sự phối hợp.

2. Sound the Sacred Word then inaudibly, regarding yourself as the astral-emotional man, holding whilst you do it the thought of the purification and the transmutation of desire.

2. Rồi xướng Linh Từ Thiêng Liêng không thành tiếng, xem mình là con người cảm dục-cảm xúc, trong khi làm điều đó giữ tư tưởng về sự thanh lọc và sự chuyển hoá dục vọng.

Interlude wherein you seek definitely to raise your consciousness higher and, whilst you are doing this, taking seven long slow breaths.

Khoảng lặng trong đó em dứt khoát tìm cách nâng tâm thức mình lên cao hơn, và trong khi làm điều này, hít thở bảy hơi dài và chậm.

3. Sound the Sacred Word inaudibly again, pondering this time upon the mind as the reflector of the light of the soul and endeavouring to hold the mind steady in that light.

3. Lại xướng Linh Từ Thiêng Liêng không thành tiếng, lần này suy ngẫm về thể trí như tấm gương phản chiếu ánh sáng của linh hồn và nỗ lực giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng ấy.

Interlude wherein you aspire to soul consciousness whilst taking ten long slow breaths, raising your consciousness as high as you can.

Khoảng lặng trong đó em khát vọng hướng tới tâm thức linh hồn trong khi hít thở mười hơi dài và chậm, nâng tâm thức em lên cao hết mức có thể.

4. Sound the Sacred Word this time as the soul, realising that the attention of the soul is definitely turned to the personality and that it seeks to control and dominate the personality.

4. Lần này xướng Linh Từ Thiêng Liêng với tư cách linh hồn, nhận ra rằng sự chú ý của linh hồn đã dứt khoát quay về phía phàm ngã và linh hồn tìm cách kiểm soát và chế ngự phàm ngã.

When doing the slow breathing, endeavour to sit erect without tension, and see to it that at no time, when inhaling, you inflate the abdomen, but that the abdomen is held drawn in towards the spine below the diaphragm.

Khi thực hiện hơi thở chậm, hãy nỗ lực ngồi thẳng mà không căng thẳng, và hãy bảo đảm rằng không lúc nào, khi hít vào, em làm phồng bụng, mà bụng được giữ kéo vào về phía cột sống bên dưới cơ hoành.

My blessing rests upon you, my brother. In these hard days remember with joy that the Hierarchy of spiritual forces stands.

Huynh đệ của tôi, phúc lành của tôi ở cùng em. Trong những ngày khó khăn này, hãy nhớ với sự hoan hỉ rằng Thánh Đoàn các mãnh lực tinh thần vẫn đứng vững.

NOTE: This disciple is still presumably active in the Tibetan’s Ashram and close to Him, but has disappeared in the chaos of the European war.

GHI CHÚ: Đệ tử này có lẽ vẫn còn hoạt động trong ashram của Chân sư Tây Tạng và gần gũi với Ngài, nhưng đã biến mất trong sự hỗn loạn của cuộc chiến châu Âu.

SECTION THREE

THE SIX STAGES OF DISCIPLESHIP

[673]

THE SIX STAGES OF DISCIPLESHIP— Sáu giai đoạn trên Đường Đạo

1. The stage wherein a disciple is contacted by the Master through another chela on the physical plane. This is the stage of “Little Chelaship.”

1. Giai đoạn mà một đệ tử được Chân Sư tiếp xúc xuyên qua một vị đệ tử khác ở cõi trần. Đó là giai đoạn “Tiểu Đệ Tử”

2. The stage wherein a higher disciple directs the chela from the egoic level. This is the stage called a “Chela in the Light.”

2. Giai đoạn mà một đệ tử cao hơn hướng dẫn đệ tử từ cấp độ chân ngã. Đây là giai đoạn được gọi là "Đệ Tử trong Ánh Sáng."

3. The stage wherein, according to necessity, the Master contacts the chela through:

3. Giai đoạn mà, theo nhu cầu, Chân sư liên lạc với đệ tử thông qua:

a. A vivid dream experience.

a. Một trải nghiệm giấc mơ sống động.

b. A symbolic teaching.

b. Một lời dạy biểu tượng.

c. A using of a thoughtform of the Master.

c. Việc sử dụng một hình tư tưởng của Chân sư.

d. A contact in meditation.

d. Một sự tiếp xúc trong thiền định.

e. A definite remembered interview in the Master’s Ashram.

e. Một cuộc gặp gỡ chắc chắn được ghi nhớ trong ashram của Chân sư.

This is definitely the stage of Accepted Disciple.

Đây chắc chắn là giai đoạn của Đệ Tử được Chấp nhận.

4. The stage wherein, having shown his wisdom in work, and his appreciation of the Master’s problem, the chela is taught how (in emergencies) to attract the Master’s attention and thus draw on His strength, knowledge and advice. This is an instantaneous happening, and practically takes none of the Master’s time. This stage has the peculiar name of a “Chela on the Thread” or sutratma.

4. Giai đoạn mà sau khi thể hiện minh triết trong công việc và đánh giá cao vấn đề của Chân sư, đệ tử được dạy (trong trường hợp khẩn cấp) cách thu hút sự chú ý của Chân sư và do đó dựa vào sức mạnh, kiến thức và lời khuyên của Ngài. Đây là một sự kiện tức thời, và thực tế không mất thời gian của Chân sư. Giai đoạn này có tên gọi đặc biệt là "Đệ tử trên đường dây" hay sutratma.

5. The stage wherein the chela is permitted to know the method whereby he may set up a vibration and call which will entitle him to an interview with the Master. This is only permitted to those trusted chelas who can be depended upon not to use the knowledge for anything except the need of the work; no personality reason or distress would prompt them to use it. At this stage the chela is called “one within the aura.”

5. Giai đoạn mà đệ tử được phép biết phương pháp mà họ có thể thiết lập rung động và lời kêu gọi sẽ cho phép họ được gặp Chân sư. Điều này chỉ được phép đối với những đệ tử đáng tin cậy, những người có thể tin tưởng rằng sẽ không sử dụng kiến thức cho bất cứ điều gì ngoại trừ nhu cầu của công việc; không có lý do cá nhân hay đau khổ nào sẽ thúc đẩy họ sử dụng nó. Ở giai đoạn này, đệ tử được gọi là "đệ tử trong hào quang.

6. The stage wherein the chela can get his Master’s ear at any time. He is in close touch always. This is the stage wherein a chela is being definitely prepared for an immediate initiation or, having taken initiation, is being given specialised [674] work to do in collaboration with his Master. The chela at this stage is described as “one within his Master’s heart.”

6. Giai đoạn mà người đệ tử có thể được Chân Sư lắng nghe vào bất cứ lúc nào. Y luôn luôn giao cảm mật thiết với Ngài. Đây là giai đoạn mà người đệ tử được chuẩn bị cho cuộc điểm đạo trước mắt hay đã được điểm đạo, đang được giao phó công tác đặc biệt [674] để thi hành trong sự hợp tác với Chân Sư của y. Giai đoạn này người đệ tử được mô tả là “Đệ Tử trong Tâm của Chân Sư”.

There is a later stage of still closer identification, where there is a blending of the Lights, but there is no adequate paraphrase of the terms used to cover the name. The six stages above mentioned have been paraphrased for occidental understanding and must in no way be considered as translations of the ancient terms.

Về sau có một giai đoạn đồng hóa với Chân Sư còn chặt chẽ hơn nữa, ở đó có một sự hòa hợp các Ánh Sáng, nhưng không có sự diễn giải thích hợp của thuật ngữ được dùng để thể hiện tên gọi. Sáu giai đoạn kể trên đã được diễn tả và đặt tên cho dễ hiểu đối với độc giả Tây phương, chớ không phải là dịch những danh từ cổ.

SIX WORDS FOR DISCIPLES— SÁU TỪ CHO CÁC ĐỆ TỬ

1. Recollection, resulting in concentration.

1. Sự hồi tưởng, đưa đến sự định trí.

2. Response, resulting in an interaction between higher and lower.

2. Sự đáp ứng, đưa đến một sự tương tác giữa cái cao và cái thấp.

3. Radiation, resulting in a sounding forth.

3. Sự phát xạ, đưa đến một sự phát ra âm thanh.

4. Respiration, resulting in creative work.

4. Hơi thở, đưa đến công việc sáng tạo.

5. Reunion, resulting in the at-one-ment.

5. Sự tái hòa hợp, đưa đến sự hợp nhất.

6. Reorientation, resulting in a clear vision of the Plan.

6. Sự tái định hướng, đưa đến một linh thị rõ ràng về Thiên Cơ.

THE SUBLIMATION OF THE FIVE HUMAN STAGES— SỰ THĂNG HOA CỦA NĂM GIAI ĐOẠN CỦA CON NGƯỜI

Stage I.

Giai đoạn I

The life has climbed the stairway long through daily use of form. Through the lesser three, with progress slow, the long path has been travelled. Another door stands open now. The words sound forth: “Enter upon the way of real desire.”

Sự sống đã leo lên cầu thang dài thông qua việc sử dụng hình tướng hàng ngày. Thông qua ba cái thấp hơn, với sự tiến bộ chậm chạp, con đường dài đã được đi qua. Một cánh cửa khác giờ đây đang mở ra. Những lời vang lên: "Hãy bước vào con đường của ham muốn thực sự."

The life, that only knows itself as form, enshrouds itself in vivid red, the red of known desire, and through the red all longed-for forms approach, are grasped and held, used and discarded, until the red changes to rose and rose to palest pink, and pink to white. Forth flowers then the pure white rose of life.

Sự sống, vốn chỉ biết đến bản thân như là hình tướng, bao phủ bản thân trong màu đỏ rực rỡ, màu đỏ của dục vọng đã biết, và thông qua màu đỏ, tất cả các hình tướng được khao khát đều đến gần, được nắm bắt và giữ lấy, sử dụng và vứt bỏ, cho đến khi màu đỏ chuyển sang màu hồng và màu hồng chuyển sang màu hồng nhạt nhất, và màu hồng chuyển sang màu trắng. Sau đó, bông hồng trắng tinh khiết của sự sống nở rộ.

The tiny rose of living life is seen in bud; not yet the full blown flower.

Bông hồng nhỏ bé của sự sống đang sống được nhìn thấy đang hé nở; vẫn chưa phải là bông hoa nở rộ hoàn toàn.

Stage II.

Giai đoạn II.

The picture changes form. Another voice, coming from close at hand utters another phrase. The life continues on its way. “Enter the field where children play and join their game.” Awakened to the game of life, the soul passes the gate. [675]

Bức tranh thay đổi hình dạng. Một giọng nói khác, đến từ gần đó, thốt ra một cụm từ khác. Sự sống tiếp tục con đường của mình. "Hãy bước vào cánh đồng nơi trẻ em chơi đùa và tham gia trò chơi của chúng." Thức tỉnh với trò chơi cuộc sống, linh hồn đi qua cánh cổng.

The field is green and on its broad expanse the many forms of the one moving Life disport themselves; they weave the dance of life, the many patterned forms God takes. The soul enters “the playground of the Lord” and plays thereon until he sees the star with five bright points, and says: “My Star.”

Cánh đồng có màu xanh lục và trên dải đất rộng lớn của nó, nhiều hình tướng của Sự sống di chuyển duy nhất đang vui đùa; chúng dệt nên vũ điệu của sự sống, nhiều hình tướng theo khuôn mẫu mà Thượng đế mang lấy. Linh hồn bước vào "sân chơi của Chúa" và chơi trên đó cho đến khi nhìn thấy ngôi sao với năm điểm sáng, và nói: "Ngôi sao của tôi."

Stage III.

Giai đoạn III.

The way of red desire fails. It loses its allure. The playground of the sons of God no longer holds appeal. The voice which has twice sounded from out the world of form sounds now within the heart. The challenge comes: “Prove thine own worth. Take to thyself the orange ball of thy one-pointed purpose.” Responsive to the sounded word, the living soul, immersed in form, emerges from the many forms and hews its onward way. The way of the destroyer comes, the builder and again the tearer down of forms. The broken forms hold not the power to satisfy. The soul’s own form is now the great desire, and thus there comes the entering of the playground of the mind.

Con đường của ham muốn màu đỏ thất bại. Nó mất đi sức hấp dẫn. Sân chơi của những người con của Thượng đế không còn giữ được sức hấp dẫn. Giọng nói đã hai lần vang lên từ thế giới hình tướng giờ đây vang lên trong tim. Thử thách đến: "Hãy chứng minh giá trị của chính ngươi. Hãy nắm lấy quả bóng màu cam của mục đích nhất tâm của ngươi." Đáp lại lời nói đã vang lên, linh hồn đang sống, đắm chìm trong hình tướng, thoát ra khỏi nhiều hình tướng và tiến lên con đường phía trước. Con đường của kẻ hủy diệt đến, người xây dựng và một lần nữa là kẻ xé nát hình tướng. Các hình tướng bị phá vỡ không giữ được sức mạnh để thỏa mãn. Hình tướng của chính linh hồn giờ đây là khát vọng lớn lao, và do đó, sự bước vào sân chơi của trí tuệ đến.

But in these dreams and fantasies, at times a vision comes—a vision of a folded lotus flower, close petalled, tightly sealed, lacking aroma yet, but bathed in cold blue light.

Nhưng trong những giấc mơ và tưởng tượng này, đôi khi một linh ảnh đến — một linh ảnh về một hoa sen khép lại, cánh hoa khép chặt, được niêm phong chặt chẽ, chưa có hương thơm, nhưng được tắm trong ánh sáng xanh lạnh lẽo.

Orange and blue in some more distant time will blended be, but far off yet the date. Their blending bathes the bud in light and causes future opening. Let the light shine.

Màu cam và màu xanh lam trong một thời gian xa hơn nữa sẽ được hòa trộn, nhưng ngày đó còn xa vời. Sự pha trộn của chúng tắm nụ hoa trong ánh sáng và khiến nó mở ra trong tương lai. Hãy để ánh sáng tỏa sáng.

Stage IV.

Giai đoạn IV.

Into the dark the life proceeds. A different voice seems to sound forth. “Enter the cave and find your own; walk in the dark and on your head carry a lighted lamp.” The cave is dark and lonely; cold is it and a place of many sounds and voices. The voices of the many sons of God, left playing on the playground of the Lord, make their appeal for light. The cave is long and narrow. The air is full of fog. The sound of running water meets the rushing sound of wind, and frequent roll of thunder.

Sự sống tiến vào bóng tối. Một giọng nói khác dường như vang lên. "Hãy vào hang động và tìm thấy chính mình; hãy bước đi trong bóng tối và trên đầu hãy mang theo một ngọn đèn sáng." Hang động tối tăm và cô đơn; nó lạnh lẽo và là nơi có nhiều âm thanh và giọng nói. Giọng nói của nhiều người con của Thượng đế, vẫn còn chơi đùa trên sân chơi của Chúa, kêu gọi ánh sáng. Hang động dài và hẹp. Không khí đầy sương mù. Âm thanh của nước chảy gặp âm thanh ào ạt của gió, và tiếng sấm rền thường xuyên.

Far off, dim and most vaguely seen, appears an oval opening, its colour blue. Stretched athwart this space of blue, a rosy cross is seen, and at the centre of the cross, where four [676] arms meet, a rose. Upon the upper limb, a vibrant diamond shines, within a star five-pointed.

Xa xa, mờ ảo và nhìn rất mơ hồ, xuất hiện một lối mở hình bầu dục, màu xanh lam. Trải dài trên khoảng không gian màu xanh lam này, một cây thập tự giá màu hồng được nhìn thấy, và ở trung tâm của cây thập tự giá, nơi bốn [676] cánh gặp nhau, một bông hồng. Trên nhánh trên, một viên kim cương rung động tỏa sáng, bên trong một ngôi sao năm cánh.

The living soul drives forward towards the cross which bars his way to life, revealed and known.

Linh hồn đang sống tiến về phía cây thập tự giá chắn ngang con đường dẫn đến sự sống, được tiết lộ và được biết đến.

Not yet the cross is mounted and, therefore, left behind. But onward goes the living soul, eyes fixed upon the cross, ears open to the wailing cries of all his brother souls.

Cây thập tự giá vẫn chưa được leo lên và do đó, bị bỏ lại phía sau. Nhưng linh hồn đang sống tiếp tục tiến lên, mắt nhìn chằm chằm vào cây thập tự giá, tai lắng nghe tiếng kêu than của tất cả các linh hồn huynh đệ của mình.

Stage V.

Giai đoạn V.

Out into radiant life and light! The cave is left behind; the cross is overturned; the way stands clear. The word sounds clear within the head and not within the heart. “Enter again the playground of the Lord and this time lead the games.” The way upon the second tier of stairs stands barred, this by the soul’s own act. No longer red desire governs all the life, but now the clear blue flame burns strong. Upon the bottom step of the barred way he turns back and passes down the stairs on to the playground, meeting dead shells built in an earlier stage, stepping upon forms discarded and destroyed, and holding forth the hands of helpfulness. Upon his shoulder sits the bird of peace; upon his feet the sandals of the messenger.

Hãy bước vào sự sống và ánh sáng rực rỡ! Hang động bị bỏ lại phía sau; cây thập tự giá bị lật đổ; con đường hiện ra rõ ràng. Lời nói vang lên rõ ràng trong đầu chứ không phải trong tim. "Hãy vào lại sân chơi của Chúa và lần này hãy dẫn dắt các trò chơi." Con đường trên tầng cầu thang thứ hai bị chặn lại, điều này do hành động của chính linh hồn. Khát vọng đỏ không còn chi phối toàn bộ sự sống, mà giờ đây ngọn lửa xanh trong vắt bùng cháy mạnh mẽ. Trên bậc thang dưới cùng của con đường bị chặn, Ngài quay lưng lại và đi xuống cầu thang đến sân chơi, gặp những lớp vỏ chết chóc được xây dựng trong giai đoạn trước đó, bước lên những hình tướng bị vứt bỏ và phá hủy, và chìa ra đôi tay giúp đỡ. Trên vai Ngài đậu con chim của hòa bình; trên chân Ngài là đôi dép của sứ giả.

Not yet the utter glory of the radiant life! Not yet the entering into everlasting peace! But still the work, and still the lifting of the little ones.

Vẫn chưa phải là vinh quang tột đỉnh của sự sống rực rỡ! Vẫn chưa phải là bước vào sự bình an vĩnh cửu! Nhưng vẫn là công việc, và vẫn là nâng đỡ những người bé nhỏ.

DISCIPLESHIP AND PAIN—CON ĐƯỜNG ĐỆ TỬ VÀ SỰ ĐAU KHỔ

“The sons of God, who know and see and hear (and knowing, know they know) suffer the pain of conscious limitation. Deep in the inmost depths of conscious being, their lost estate of liberty eats like a canker. Pain, sickness, poverty and loss are seen as such, and from them every son of God revolts. He knows that in himself, as once he was before he entered prisoner into form, he knew not pain. Sickness and death, corruption and disease, they touched him not. The riches of the universe were his, and naught he knew of loss.

Những người con của Thượng đế, những người biết, thấy và nghe (và biết rằng họ biết) chịu đựng nỗi đau của sự hạn chế có ý thức. Sâu trong tận cùng tâm thức, sự mất mát tự do gặm nhấm như một chứng ung nhọt. Nỗi đau, bệnh tật, nghèo khó và mất mát được nhận thức như thế, và mỗi người con của Thượng đế đều chống lại chúng. Y biết rằng trong chính mình, như một thời đã từng trước khi trở thành tù nhân trong hình tướng, y không biết đến đau khổ. Bệnh tật và cái chết, sự hủy hoại và bệnh dịch không chạm đến y. Sự giàu có của vũ trụ thuộc về y, và y không hề biết đến mất mát.

“The lives that enter into form along with lives self-conscious, the deva lives which build the forms indwelt by all the sons of God, they know not pain or loss or poverty. [677] The form decays, the other forms retire, and that which is required to nourish and keep strong the outer, lacks. But lacking also will and planned intent, they feel no aggravation and know not clear revolt.”

"Những sự sống bước vào hình tướng cùng với những sự sống tự ý thức, những sự sống thiên thần xây dựng nên những hình tướng được tất cả những người con của Thượng đế trú ngụ, chúng không biết đến nỗi đau hay mất mát hay nghèo đói. [677] Hình tướng suy tàn, những hình tướng khác rút lui, và những gì cần thiết để nuôi dưỡng và giữ cho bên ngoài mạnh mẽ, đều thiếu hụt. Nhưng cũng thiếu ý chí và ý định được lên kế hoạch, chúng không cảm thấy khó chịu và không biết đến sự nổi loạn rõ ràng."

A word about pain might be in place here, though I have naught of an abstruse nature to communicate anent the evolution of the human hierarchy through the medium of pain. The devas do not suffer pain as does mankind. Their rate of rhythm is steadier although in line with the Law. They learn through application to the work of building and through incorporation into the form of that which is built. They grow through appreciation of and joy in the forms built and the work accomplished. The devas build and humanity breaks and through the shattering of the forms man learns through discontent. Thus is acquiescence in the work of the greater Builders achieved. Pain is that upward struggle through matter which lands a man at the Feet of the Logos; pain is the following of the line of the greatest resistance and thereby reaching the summit of the mountain; pain is the smashing of the form and the reaching of the inner fire; pain is the cold of isolation which leads to the warmth of the central Sun; pain is the burning in the furnace in order finally to know the coolness of the water of life; pain is the journeying into the far country, resulting in the welcome to the Father’s Home; pain is the illusion of the Father’s disowning, which drives the prodigal straight to the Father’s heart; pain is the cross of utter loss, that renders back the riches of the eternal bounty; pain is the whip that drives the struggling builder to carry to utter perfection the building of the Temple.

Một vài lời về nỗi đau có thể được đề cập ở đây, mặc dù tôi không có gì mang tính trừu tượng để truyền đạt liên quan đến sự tiến hóa của Huyền Giai Nhân Loại thông qua phương tiện của nỗi đau. Các thiên thần không chịu đựng nỗi đau như nhân loại. Tốc độ nhịp điệu của họ ổn định hơn mặc dù phù hợp với Định luật. Họ học hỏi thông qua việc áp dụng vào công việc xây dựng và thông qua việc kết hợp vào hình tướng của những gì được xây dựng. Họ phát triển thông qua sự đánh giá cao và niềm vui trong các hình tướng được xây dựng và công việc đã hoàn thành. Các thiên thần xây dựng và nhân loại phá vỡ, và thông qua sự tan vỡ của các hình tướng, con người học hỏi qua sự bất mãn. Do đó, sự đồng thuận với công việc của các Đấng Xây Dựng vĩ đại hơn đã đạt được1. Nỗi đau là cuộc đấu tranh đi lên xuyên qua vật chất, đưa con người đến Dưới Chân của Thượng đế; nỗi đau là việc đi theo con đường có trở lực lớn nhất và nhờ đó đạt đến đỉnh núi; nỗi đau là sự phá vỡ hình tướng và việc chạm đến lửa bên trong; nỗi đau là cái lạnh của sự cô lập dẫn đến sự ấm áp của Mặt Trời Trung Tâm; nỗi đau là sự thiêu đốt trong lò lửa để cuối cùng cảm nhận được sự mát mẻ của nước sự sống; nỗi đau là hành trình đến vùng đất xa xôi, dẫn đến sự chào đón tại Nhà của Cha; nỗi đau là ảo tưởng về sự chối bỏ của Cha, đẩy người con hoang đàng thẳng đến trái tim của Cha; nỗi đau là cây thập giá của sự mất mát tận cùng, mang lại sự giàu có của ân huệ vĩnh cửu; nỗi đau là roi quất thúc đẩy người thợ xây đấu tranh để hoàn thiện tột cùng việc xây dựng Ngôi Đền.

The uses of pain are many, and they lead the human soul out of darkness into light, out of bondage into liberation, out of agony into peace. That peace, that light and that liberation, within the ordered harmony of the cosmos are for all the sons of men.

Công dụng của nỗi đau thì nhiều, chúng dẫn dắt linh hồn con người ra khỏi bóng tối đến với ánh sáng, ra khỏi sự ràng buộc đến với sự giải thoát, ra khỏi đau khổ đến với bình an. Sự bình an đó, ánh sáng đó và sự giải thoát đó, trong sự hài hòa có trật tự của vũ trụ là dành cho tất cả những người con của nhân loại.

FROM THE OLD COMMENTARY—TRÍCH TỪ CỔ LUẬN

“The assuaging waters cool. They slowly bring relief, abstracting form from all that can be touched. The quivering [678] fever heat of long repressed desire yields to the cooling draught. Water and pain negate each other. Long is the process of the cooling draught.

"Những dòng nước xoa dịu mang lại sự mát lành. Chúng dần dần đem đến sự nhẹ nhõm, tách hình tướng khỏi tất cả những gì có thể chạm đến. Cơn sốt run rẩy [678] của ham muốn đã bị đè nén lâu nhường chỗ cho dòng nước mát lành. Nước và nỗi đau triệt tiêu lẫn nhau. Quá trình của dòng nước mát lành kéo dài vô tận.

“The burning fire releases all that blocks the way of life. Bliss comes and follows after fire, as fire upon the waters. Water and fire together blend and cause the great Illusion. Fog is the product of mist and steam and noise, veiling the Light, hiding the Truth and shutting out the Sun.

“Ngọn lửa thiêu đốt giải phóng mọi thứ cản trở con đường của sự sống. Hạnh phúc đến và theo sau lửa, như lửa trên mặt nước. Nước và lửa cùng hòa quyện và tạo nên Đại Ảo Tưởng. Sương mù là sản phẩm của hơi nước, sương khói và tiếng động, che phủ Ánh Sáng, ẩn giấu Chân Lý và ngăn chặn ánh Mặt Trời.”

“The fire burns fiercely. Pain and the waters disappear. Cold, heat, the light of day, the radiance of the rising sun and perfect knowledge of the Truth appear.

"Lửa cháy dữ dội. Nỗi đau và nước biến mất. Cái lạnh, sức nóng, ánh sáng ban ngày, ánh sáng rực rỡ của mặt trời mọc và kiến thức hoàn hảo về Chân lý xuất hiện.

“This is the path for all who seek the Light. First form, and all its longing. Then pain. Then the assuaging waters and the appearance of a little fire. The fire grows, and heat is then active within the tiny sphere and does its fiery work. Moisture likewise is seen; dense fog, and to the pain is added sad bewilderment, for they who use the fire of mind during the early stage are lost within a light illusory.

"Đây là con đường dành cho tất cả những ai tìm kiếm Ánh sáng. Đầu tiên là hình tướng, và tất cả ham muốn của nó. Sau đó là nỗi đau. Sau đó là nước làm dịu và sự xuất hiện của một ngọn lửa nhỏ. Ngọn lửa lớn dần, và sức nóng sau đó hoạt động bên trong quả cầu nhỏ bé và thực hiện công việc rực lửa của nó. Độ ẩm cũng được nhìn thấy; sương mù dày đặc, và nỗi đau được thêm vào sự hoang mang buồn bã, vì những người sử dụng ngọn lửa của trí tuệ trong giai đoạn đầu bị lạc lối trong ánh sáng huyễn ảo.

“Fierce grows the heat; next comes the loss of power to suffer. When this stage has been outgrown, there comes the shining of the unobstructed Sun and the clear bright light of Truth. This is the path back to the hidden centre.

"Sức nóng tăng lên dữ dội; tiếp theo là sự mất khả năng chịu đựng đau khổ. Khi giai đoạn này đã được vượt qua, sự tỏa sáng của Mặt trời không bị cản trở và ánh sáng trong trẻo, rực rỡ của Chân lý sẽ đến. Đây là con đường trở về trung tâm tiềm ẩn.

“Use pain. Call for the fire, O Pilgrim, in a strange and foreign land. The waters wash away the mud and slime of nature’s growth. The fires burn the hindering forms which seek to hold the pilgrim back and so bring release. The living waters, as a river, sweep the pilgrim to the Father’s Heart. The fires destroy the veil, hiding the Father’s Face.”

"Hãy sử dụng nỗi đau. Hãy kêu gọi ngọn lửa, hỡi Khách hành hương, ở vùng đất xa lạ và xa xôi. Nước cuốn trôi bùn đất và chất nhờn của sự phát triển của tự nhiên. Lửa thiêu rụi những hình tướng cản trở đang tìm cách giữ chân người hành hương và do đó mang lại sự giải thoát. Dòng nước sống, như một dòng sông, cuốn người hành hương đến Trái tim của Cha. Lửa thiêu hủy bức màn che, che giấu Khuôn mặt của Cha."

DISCIPLESHIP AND ITS END—CON ĐƯỜNG ĐỆ TỬ VÀ MỤC TIÊU CỦA NÓ

There is a curious and ancient Atlantean chant which is no longer used but in those far off times was chanted by the initiate who took the third initiation—the consummating initiation of that period. It goes as follows. The translation of the symbols in which it was written necessitates the loss of rhythm and potency.

Có một bài thánh ca Atlantis cổ xưa và kỳ lạ không còn được sử dụng nữa nhưng trong những thời kỳ xa xưa đó đã được xướng lên bởi điểm đạo đồ đã thực hiện lần điểm đạo thứ ba — lần điểm đạo hoàn thiện của thời kỳ đó. Nó như sau. Việc dịch các biểu tượng mà nó được viết ra tất yếu phải mất đi nhịp điệu và sức mạnh.

“I stand between the Heavens and Earth! I vision God; I see the forms God took. I hate them both. Naught do [679] they mean to me, for one I cannot reach, and for the lower of the two I have no longer any love.

"Tôi đứng giữa Trời và Đất! Tôi hình dung Thượng đế; Tôi thấy những hình tướng mà Thượng đế đã khoác lấy. Tôi ghét cả hai. Chúng không [679] có ý nghĩa gì đối với tôi, vì một cái tôi không thể đạt được, và với điều thấp kém hơn tôi không còn bất kỳ tình yêu thương nào nữa.

“Torn I am. Space and its Life I cannot know, and so I want it not. Time and its myriad forms, I know too well. Pendant I hang betwixt the two, desiring neither.

"Tôi bị giằng xé. Tôi không thể biết Không Gian và Sự Sống của nó, và vì vậy tôi không cần nó. Thời gian và vô số hình tướng của nó, tôi biết quá rõ. Tôi treo đung đưa giữa cả hai, tôi không muốn cái nào.

“God from high Heaven speaks. There is a change. I hear with ear attentive, and, listening, turn my head. That which I visioned, yet visioning could not reach, is nearer to my heart. Old longings come again, yet die. Old chains of glamour snap. Forward I rush.

"Thượng đế từ Trời cao cất tiếng. Có một sự thay đổi. Tôi nghe với tai chăm chú, và lắng nghe, quay đầu lại. Điều mà tôi đã hình dung, nhưng hình dung vẫn không thể với tới, giờ đã gần với trái tim tôi hơn. Những khát khao cũ xưa lại đến, nhưng rồi chết đi. Những xiềng xích ảo cảm cũ kỹ đứt đoạn. Tôi lao về phía trước.

“Myriads of voices speak and halt me in my tracks. The thunder of the sounds of earth shuts out the voice of God. I turn me on my forward path, and vision once again the long held joys of earth, and flesh and kin. I lose the vision of eternal things. The voice of God dies out.

"Vô số giọng nói cất lên và ngăn tôi lại trên đường đi. Tiếng sấm của những âm thanh của trái đất át đi tiếng nói của Thượng đế. Tôi quay đầu lại trên con đường phía trước của mình, và một lần nữa hình dung những niềm vui lâu dài của trái đất, xác thịt và dòng họ. Tội đánh mất tầm nhìn về những điều vĩnh cửu. Tiếng nói của Thượng đế tắt dần.

“Torn again am I, but only for a little time. Backward and forward shifts my little self, e’en as a bird soars into heaven and settles back again upon the tree. Yet God, in His high place, outlasts the little bird. Thus do I know that God will victor be and later hold my mind and me in thrall.

"Tôi lại bị giằng xé, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Cái tôi nhỏ bé của Tôi dịch chuyển tới lui, giống như một con chim bay vút lên trời rồi lại đậu xuống cây. Nhưng Thượng đế, ở nơi cao vời của Ngài, tồn tại lâu hơn con chim nhỏ bé. Do đó, tôi biết rằng Thượng đế sẽ là người chiến thắng và sau này sẽ giữ tâm trí tôi và tôi trong sự kìm kẹp.

“Hark to the joyous paean that I chant; the work is done. My ear is deaf to all the calls of earth, except to that small voice of all the hidden souls within the outer forms, for they are as myself; with them I am at-one.

"Hãy lắng nghe bài ca chiến thắng mà tôi xướng lên; công việc đã hoàn thành. Tai tôi điếc với tất cả những lời kêu gọi của đất, ngoại trừ tiếng nói nhỏ bé đó của tất cả những linh hồn tiềm ẩn bên trong các hình tướng bên ngoài, vì họ giống như tôi; tôi hòa làm một với họ.

“God’s voice rings clear, and in its tones and overtones the little voices of the little forms dim and fade out. I dwell within a world of unity. I know all souls are one.

"Tiếng nói của Thượng đế vang lên rõ ràng, và trong âm sắc và âm bội của nó, những giọng nói nhỏ bé của những hình tướng nhỏ bé mờ dần và biến mất. Tôi trú ngụ trong một thế giới của sự hợp nhất. Tôi biết tất cả các linh hồn là một.

“Swept am I by the universal Life and as I sweep upon my onward way—the way of God—I see all lesser energies die out. I am the One; I, God. I am the form in which all forms are merged. I am the soul in which all souls are fused. I am the Life, and in that Life, all little lives remain.”

"Tôi bị cuốn theo Sự sống phổ quát và khi tôi cuốn theo con đường phía trước của mình — con đường của Thượng đế — tôi thấy tất cả những năng lượng thấp kém hơn đều lụi tàn. tôi là Đấng Duy nhất; Tôi, Thượng đế. Tôi là hình tướng mà trong đó tất cả các hình tướng được hợp nhất. Tôi là linh hồn mà trong đó tất cả các linh hồn được hợp nhất. Tôi là Sự sống, và trong Sự sống đó, tất cả những sự sống nhỏ bé vẫn còn."

These words, chanted in the ancient formulas on peculiar and selected notes, were most potent and brought definite results in certain ancient ceremonies that have long since died out. [680]

Những từ này, được xướng lên trong các công thức cổ xưa trên những nốt đặc biệt và được lựa chọn, rất mạnh mẽ và mang lại những kết quả nhất định trong một số nghi lễ cổ xưa đã lụi tàn từ lâu.

PART I (680-687)

The world today is going through a preparation period and an interlude of adjustment to the new world and the new order which is coming into being. This new world is verily a new creation and with its activities the Masters are today engaged, working as always through the medium of Their disciples. In this preparatory period, the Masters are today occupied, among other things, with preparing disciples for constructive work for service and eventually for initiation. They are consequently occupied with forming new groups of disciples who can gradually be integrated into existent groups and be available for world service. It is planned to do this on a large scale because of world need and the willingness of the world aspirants to take the personal risks, incident to this preparatory work.

Thế giới ngày nay đang trải qua một giai đoạn chuẩn bị và một giai đoạn chuyển tiếp để thích ứng với thế giới mới và trật tự mới đang hình thành. Thế giới mới này thực sự là một sáng tạo mới và các Chân sư ngày nay đang tham gia vào các hoạt động của nó, và như mọi khi, các Ngài hoạt động thông qua phương tiện là các đệ tử của mình. Trong giai đoạn chuẩn bị này, hiện nay các Chân sư đang bận rộn, cùng với những việc khác, trong việc chuẩn bị các đệ tử cho công việc kiến tạo để phụng sự và cuối cùng là để Điểm đạo. Do đó, các Ngài đang bận rộn với việc hình thành các nhóm đệ tử mới, những người có thể dần dần được hợp nhất vào các nhóm hiện có và sẵn sàng cho sự phụng sự thế giới. Việc này được lên kế hoạch thực hiện trên quy mô lớn vì nhu cầu của thế giới và sự sẵn lòng của những người chí nguyện thế giới để chấp nhận những rủi ro cá nhân, liên quan đến công việc chuẩn bị này.

There are certain very simple rules to which I would refer, and which form a foundation of truths which you already accept as necessary to all spiritual advancement. These are the accepted requirements and are recognised as present in all whom the Masters take in hand and weld into Their groups for service. They are:

Có một số quy tắc rất đơn giản mà tôi muốn đề cập và chúng tạo thành nền tảng của những sự thật mà bạn đã chấp nhận là cần thiết cho mọi sự tiến bộ tinh thần. Đây là những yêu cầu được chấp nhận và được công nhận là hiện diện trong tất cả những người mà các Chân sư nắm tay và kết hợp vào các nhóm của các Ngài để phụng sự. Đó là:

1. The recognised need to tune in, as far as the individual aspirant can, on world need as it is gradually emerging. It must be borne in mind that the requirements for those who will work at this bringing into being the new world will be of a different nature in many ways from the past. This must be carefully borne in mind. The world need must be approached mentally and spiritually and not emotionally. So many aspirants and would-be disciples are emotional; they shrink from the facing of existent facts and approach problems from their own preconceived ideas of service and their own established idealisms.

1. Nhu cầu được nhận ra để hoà hợp, trong chừng mực mà người chí nguyện cá nhân có thể làm được, với nhu cầu của thế giới khi nó đang dần dần xuất hiện. Cần phải ghi nhớ rằng các yêu cầu đối với những người sẽ làm việc trong việc mang thế giới mới này vào sự tồn tại sẽ có bản chất khác biệt theo nhiều cách so với quá khứ. Điều này phải được ghi nhớ cẩn thận. Nhu cầu của thế giới phải được tiếp cận về mặt trí tuệ và tinh thần chứ không phải về mặt cảm xúc. Có rất nhiều người chí nguyện và những người muốn trở thành đệ tử có tính cảm xúc; họ né tránh việc đối mặt với những sự thật hiện hữu và tiếp cận các vấn đề từ những ý tưởng định trước của họ về sự phụng sự và những lý tưởng đã được thiết lập của họ.

2. The achievement of a finer sense of values. Rest, amusement, idleness, argument and criticism have no real place in a disciple’s life for the next few years. A sane handling of the physical mechanism will be required, plus a divine indifference to personal feeling and health reactions. Complete dedication to the meeting of human need; [681] utter consecration to the Plan; intelligent cooperation with all whom you recognise to be senior disciples; adequate care to take right action in circumstances so that your efficiency is not impaired; the conservation of energy through silence and through that constant radiation which is based on self-forgetfulness—that is what is asked of the disciple in the world today, this is what the Hierarchy expects and this is what will eventually open the door of initiation. That door has to be opened more widely at this time by the accepted disciples of the world so that more and more of the human race may more easily enter. Self-interest will notopen it.

2. Việc đạt được ý thức tốt hơn về các giá trị. Nghỉ ngơi, giải trí, nhàn rỗi, tranh luận và chỉ trích không có chỗ đứng thực sự trong cuộc sống của một đệ tử trong vài năm tới. Việc xử lý khéo léo cơ chế thể xác sẽ được yêu cầu, cộng với sự thờ ơ thiêng liêng đối với cảm xúc cá nhân và các phản ứng sức khỏe. Sự cống hiến hoàn toàn để đáp ứng nhu cầu của con người; [681] sự tận hiến hoàn toàn cho Thiên Cơ; sự hợp tác thông minh với tất cả những người mà bạn công nhận là những đệ tử cấp cao; sự quan tâm đầy đủ để hành động đúng đắn trong các hoàn cảnh để hiệu quả của bạn không bị suy giảm; sự bảo tồn năng lượng thông qua sự im lặng và thông qua sự tỏa sáng liên tục dựa trên sự quên mình — đó là những gì được yêu cầu ở người đệ tử trên thế giới ngày nay, đây là điều mà Huyền Giai mong đợi và đây là điều cuối cùng sẽ mở ra cánh cửa điểm đạo. Cánh cửa đó phải được mở rộng hơn vào thời điểm này bởi các đệ tử được chấp nhận trên thế giới để ngày càng nhiều người trong nhân loại có thể dễ dàng bước vào hơn. Lợi ích cá nhân sẽ không mở ra cánh cửa đó.

3. The development of a fluidity of mind and attitude which will recognise the fact that—though the Plan stands—techniques, presentations, idealisms and methods must necessarily change. This is not an easy thing to do. The Plan, as I have outlined it to you in the past, was but a skeleton outline and simply an underlying basic structure. It was the steel scaffolding of the new world-to-be as regards that part of it which you could aid in materialising.

3. Sự phát triển của một tâm trí và thái độ linh hoạt sẽ nhận ra sự thật rằng — mặc dù Thiên Cơ vẫn đứng vững — các kỹ thuật, cách trình bày, lý tưởng và phương pháp nhất thiết phải thay đổi. Đây không phải là một điều dễ dàng để làm. Thiên Cơ, như tôi đã phác thảo cho các bạn trong quá khứ, chỉ là một phác thảo khung, và chỉ đơn giản là một cấu trúc cơ bản nền tảng. Đó là giàn giáo thép của thế giới mới sắp ra đời liên quan đến phần mà các bạn có thể hỗ trợ hiện thực hóa.

It is not easy for the average person to be fluid and to change details and methods in relation to that which has been taught in the past and about which he has evolved definite and distinct ideas. Are you, therefore, prepared to throw these overboard and work in the way which will meet the new world need under the new incoming influences?

Không dễ dàng gì cho một người bình thường để linh hoạt và thay đổi các chi tiết và phương pháp liên quan đến những gì đã được dạy trong quá khứ và về những gì họ đã phát triển những ý tưởng rõ ràng và riêng biệt. Do đó, bạn có sẵn sàng từ bỏ những điều này và làm việc theo cách sẽ đáp ứng nhu cầu của thế giới mới dưới những ảnh hưởng mới đang đến không?

The disciple upon whom the Master can most confidently depend is the one who can—in periods of change—preserve that which is good and fundamental while breaking from the past and add to it that which is of immediate service in the present. An attitude of spiritual compromise is right, needed and very rare to find. Most of the things about which there may be argument and contention among disciples concern methods and relative non-essentials; they deal with points of organisation. They are not so important as the inner unity of vision and the ability to concede where no wrong is involved and where a fellow worker fails to see the point. Disciples need to see to it that they do not hinder by any form of self-assertion, [682] or by the imposition of their own ideas or by any authoritarianism, based on past procedure. Ponder on this. The disciple who is sure that he is always right and who is confident that his interpretation of what is needed is infallibly correct and that others must be moulded into cooperation with his planned procedures can greatly hinder the good work. The task of the modern disciple is to sense need and then to meet it and this, again, is part of the new emerging technique of invocation and evocation.

Người đệ tử mà Chân sư có thể tin cậy nhất là người có thể — trong thời kỳ thay đổi — bảo tồn những gì tốt đẹp và cơ bản trong khi thoát khỏi quá khứ và thêm vào đó những gì có ích ngay lập tức trong hiện tại. Thái độ thỏa hiệp tinh thần là đúng đắn, cần thiết và rất hiếm khi tìm thấy. Hầu hết những điều có thể gây ra tranh cãi và xung đột giữa các đệ tử đều liên quan đến phương pháp và những thứ không thiết yếu tương đối; chúng đề cập đến các điểm về tổ chức. Chúng không quan trọng bằng sự thống nhất tầm nhìn bên trong và khả năng nhượng bộ khi không có sai lầm nào liên quan và khi một người bạn đồng hành không nhìn thấy vấn đề. Các đệ tử cần phải lưu ý rằng họ không cản trở bởi bất kỳ hình thức tự khẳng định nào, [682] hoặc bằng cách áp đặt ý tưởng của riêng họ hoặc bằng bất kỳ chủ nghĩa độc đoán nào, dựa trên thủ tục trong quá khứ. Hãy suy ngẫm về điều này. Người đệ tử chắc chắn rằng mình luôn đúng và tự tin rằng cách giải thích của y về những gì cần thiết là hoàn toàn chính xác, và những người khác phải được định hình để hợp tác với các thủ tục đã được lên kế hoạch của y, có thể cản trở rất nhiều công việc tốt. Nhiệm vụ của người đệ tử hiện đại là cảm nhận nhu cầu và sau đó đáp ứng nhu cầu đó và điều này, một lần nữa, là một phần của kỹ thuật khẩn cầu và khơi gợi mới nổi.

The life of a disciple is a gradual but steady moving in towards the centre, and accepted disciples are definitely a part of the Hierarchy. The Hierarchy is a place of fusion of all souls upon the higher levels of the mental plane. Just in so far as a person comes under soul impression, then soul control and final identification with the soul, just so far does he move towards the centre of fusion. As your love for humanity increases and your interest in yourself decreases, so will you move towards that centre of light and love where the Masters stand in spiritual being.

Cuộc sống của một đệ tử là một sự chuyển động dần nhưng ổn định vào trung tâm, và những đệ tử được chấp nhận chắc chắn là một phần của Thánh Đoàn. Thánh Đoàn là nơi dung hợp của tất cả các linh hồn trên các tầng cao của cõi trí. Khi một người chịu ảnh hưởng của linh hồn, sau đó là sự kiểm soát của linh hồn và cuối cùng là đồng nhất với linh hồn, thì họ tiến đến trung tâm dung hợp. Khi tình yêu thương của bạn đối với nhân loại tăng lên và sự quan tâm của bạn đối với bản thân giảm đi, thì bạn sẽ tiến đến trung tâm ánh sáng và tình yêu thương đó, nơi các Chân sư đứng trong sự hiện hữu tinh thần.

Later, we will consider the various stages of discipleship but in the meantime it is of value for you to focus your attention upon the relation of the Hierarchy to all accepted disciples. It is just because you are beginners that the whole subject evokes your deep interest. The beginner is full of questions upon all sorts of subjects. The trained disciple is so preoccupied with the Plan, so infused with love for his fellowmen that his entire orientation is towards the service of the Plan and not towards his own individual progress or towards the Master. The closer he gets to the centre and towards the Master, the less attention the Master pays him and the less he is occupied with thinking about the Master. In the early stages, he perhaps necessarily thinks much about his relation to the Hierarchy, to the Master and to his own soul. In the intermediate stage, he is occupied with the achieving of a sense of proportion and a right inner adjustment so that “he faces two ways and each way sees the same vision.” In the final stages when he is the disciple who is also the Master, his consciousness is absorbed into the will of the Creator; his attitude is one of unchanging love and his work is that of radiation—[683] a radiation which evokes activity in others, initiates a response from his fellowmen and carries the Plan the next step forward in meeting the immediate need of humanity.

Sau này, chúng ta sẽ xem xét các giai đoạn khác nhau của địa vị đệ tử, nhưng trong thời gian chờ đợi, điều có giá trị đối với các bạn là tập trung sự chú ý vào mối quan hệ giữa Thánh đoàn với tất cả các đệ tử được chấp nhận. Chính vì bạn là những người mới bắt đầu nên toàn bộ chủ đề này khơi dậy sự quan tâm sâu sắc của bạn. Người mới bắt đầu có rất nhiều câu hỏi về tất cả các loại chủ đề. Người đệ tử được đào tạo bận tâm đến Thiên Cơ, được thấm nhuần tình yêu thương đối với đồng loại đến mức toàn bộ định hướng của họ là hướng tới sự phụng sự Thiên Cơ chứ không phải hướng tới sự tiến bộ cá nhân của họ hoặc hướng tới Chân sư. Họ càng đến gần trung tâm và Chân sư, thì Chân sư càng ít chú ý đến họ và họ càng ít bận tâm đến việc nghĩ về Chân sư. Trong giai đoạn đầu, có lẽ họ nhất thiết phải suy nghĩ nhiều về mối quan hệ của họ với Thánh Đoàn, với Chân sư và với linh hồn của chính họ. Ở giai đoạn trung gian, họ bận rộn với việc đạt được ý thức về tỷ lệ và sự điều chỉnh bên trong đúng đắn để "họ đối mặt với hai hướng và mỗi hướng đều nhìn thấy cùng một tầm nhìn." Trong giai đoạn cuối cùng, khi y là người đệ tử đồng thời cũng là Chân sư, tâm thức của y được hấp thụ vào ý chí của Đấng Sáng Tạo; thái độ của y là một tình yêu thương bất biến và công việc của y là sự phát xạ — [683] một sự phát xạ khơi dậy hoạt động ở những người khác, khởi xướng một phản ứng từ đồng loại của họ và đưa Thiên Cơ tiến thêm một bước nữa trong việc đáp ứng nhu cầu trước mắt của nhân loại.

In this creative work to which I have referred above and to which all disciples can contribute, the work and the task of the Masters is to project into the world those thoughts and those formulated divine ideas, those concepts and significances which embody—at any one time—the immediate Plan for humanity. A Master, therefore, searches for those minds which are sensitive to this Plan. He is not primarily occupied in looking for people who are good—so-called. Self-forgetfulness and straight kindness means ever harmlessness and that connotes the utmost good. He seeks for those types of people who can respond in unison to that aspect of the Plan for which the Master is responsible and for those who can be taught to subordinate their personalities to its requirements. They have no selfish purposes and desire nothing but only to aid the Master and those senior disciples who may be working under His supervision at some aspect of the Plan. This involves, as I have pointed out, their training in adaptation, in the recognition of true values, in fluidity of ideas, and selfless work for their fellowmen.

Trong công việc sáng tạo mà tôi đã đề cập ở trên, mà tất cả các đệ tử đều có thể đóng góp, nhiệm vụ của các Chân sư là truyền tải vào thế giới những tư tưởng và những ý tưởng thiêng liêng đã được định hình, những khái niệm và ý nghĩa thể hiện—vào bất kỳ thời điểm nào—Thiên Cơ trước mắt dành cho nhân loại. Do đó, một Chân sư tìm kiếm những thể trí nhạy cảm với Thiên Cơ này. Ngài không chủ yếu tìm kiếm những người thường được coi là tốt. Sự quên mình và lòng tốt thẳng thắn luôn đồng nghĩa với tính vô tổn hại, và điều đó hàm ý điều tốt đẹp tối đa. Ngài tìm kiếm những người có thể đồng điệu đáp ứng với khía cạnh Thiên Cơ mà Chân sư chịu trách nhiệm và những người có thể được huấn luyện để đặt phàm ngã của mình phục tùng các yêu cầu của Thiên Cơ. Họ không có mục đích ích kỷ và không mong muốn gì khác ngoài việc hỗ trợ Chân sư và những đệ tử thâm niên có thể đang làm việc dưới sự giám sát của Ngài ở một khía cạnh nào đó của Thiên Cơ. Điều này, như tôi đã chỉ ra, bao gồm việc huấn luyện họ trong sự thích nghi, trong việc nhận ra các giá trị chân thực, trong sự linh hoạt về ý tưởng, và trong công việc vô ngã phục vụ đồng loại.

A Master’s group is not a place wherein disciples are taught to make their personality adjustment and soul contact. It is not a place where character discipline is imposed and right relations established between the personnel of a group of junior or senior disciples. The rules for instituting soul control are ancient and well-known. They have to be practised for long periods before the stage of accepted discipleship is reached. The contest with the lower nature and the building in of the needed qualities which are essential to the world worker are the normal theme of life experience and, therefore, humanity in its intelligent brackets is constantly and steadily undergoing this training. The capacity to work in collaboration with others at some directed piece of work is a part of the evolutionary process itself and is inevitable. I want to make entirely clear to you that the practices of a purificatory nature and the cultivated right habits of thought which are the major undertaking of an aspirant’s life are not the major undertaking of the disciple. [684] They are regarded as incidental and foundational; they concern the handling of the personal self and are the task of the individual soul and are carried forward under soul supervision and not under the supervision of a Master. What, therefore, is the contribution and work of the disciple?

Nhóm của một Chân sư không phải là nơi mà các đệ tử được dạy để điều chỉnh phàm ngã của họ và tiếp xúc với linh hồn. Nó không phải là nơi mà kỷ luật về tính cách được áp đặt và các mối quan hệ đúng đắn được thiết lập giữa các nhân sự của một nhóm đệ tử cấp dưới hoặc cấp cao. Các quy tắc để thiết lập sự kiểm soát của linh hồn đã có từ xa xưa và được biết rõ. Chúng phải được thực hành trong thời gian dài trước khi đạt đến giai đoạn đệ tử được chấp nhận. Cuộc đấu tranh với bản chất thấp kém và việc xây dựng những phẩm chất cần thiết cho người làm việc vì thế giới là chủ đề bình thường trong kinh nghiệm sống, và do đó, nhân loại trong những tầng lớp trí tuệ của mình không ngừng trải qua sự rèn luyện này. Năng lực làm việc hợp tác với những người khác trong một công việc được định hướng là một phần của tiến trình tiến hóa và là điều tất yếu. Tôi muốn làm rõ hoàn toàn với các bạn rằng, những thực hành mang tính chất thanh lọc và những thói quen tư duy đúng đắn được trau dồi—vốn là công việc chính trong cuộc đời của một người chí nguyện—không phải là công việc chính của một đệ tử. [684] Chúng được coi là phụ và cơ bản; chúng liên quan đến việc xử lý cái tôi cá nhân, là nhiệm vụ của linh hồn cá nhân và được thực hiện dưới sự giám sát của linh hồn chứ không phải dưới sự giám sát của một Chân sư. Vậy thì, sự đóng góp và công việc của người đệ tử là gì?

The group of every Master is distinguished by its thought content, contributed by the disciples and used by the Master in His work for humanity. Therefore, the thought life of every disciple must be conditioned by three factors:

Nhóm của mỗi Chân sư được phân biệt bởi nội dung tư tưởng của nó, do các đệ tử đóng góp và được Chân sư sử dụng trong công việc của Ngài vì nhân loại. Do đó, đời sống tư tưởng của mỗi đệ tử phải được điều hòa bởi ba yếu tố:

1. By its power. This is dependent upon right spiritual instinct, right understanding and interpretation of ideas and correct formulation of these ideas.

1. Bằng sức mạnh của nó. Điều này phụ thuộc vào bản năng tinh thần đúng đắn, sự thấu hiểu và giải thích đúng đắn về các ý tưởng và sự hình thành chính xác các ý tưởng này.

2. By its purity. This grows naturally out of a growing capacity for unlimited, non-separative love, clear vision and the unimpeded flow of soul force.

2. Bằng sự thuần khiết của nó. Điều này phát triển một cách tự nhiên từ năng lực ngày càng tăng đối với tình yêu thương vô hạn, không tách biệt, tầm nhìn rõ ràng và dòng chảy không bị cản trở của mãnh lực linh hồn.

3. By its correct precipitation. This precipitation of thought is due to clearly directed intent, to comprehension of the purpose for which a group of disciples exists, and an increasingly intelligent participation in the Master’s creative activity.

3. Bằng sự ngưng tụ chính xác của nó. Sự ngưng tụ tư tưởng này là do ý định được định hướng rõ ràng, do sự thấu hiểu mục đích tồn tại của một nhóm đệ tử và sự tham gia ngày càng thông minh vào hoạt động sáng tạo của Chân sư.

The group of a Master is a focus of power, built up by the Master in three ways:

Nhóm của một Chân sư là một tiêu điểm của sức mạnh, được Chân sư xây dựng theo ba cách:

1. By the potency of His Own thought life, evoked by His response to the united hierarchical purpose and a growing ability to respond to Shamballa.

1. Bằng tiềm năng của đời sống tư tưởng của chính Ngài, được khơi dậy bởi sự đáp ứng của Ngài đối với mục đích hợp nhất của Huyền Giai và khả năng ngày càng tăng để đáp ứng Shamballa.

2. By His ability to integrate the centre of power (His group for which He has made Himself responsible) into the immediate activity of the Hierarchy.

2. Bằng khả năng của Ngài để tích hợp trung tâm sức mạnh (nhóm của Ngài mà Ngài đã tự chịu trách nhiệm) vào hoạt động trực tiếp của Huyền Giai.

3. By His wisdom in His choice of collaborators. His group of disciples will be effective in world service and useful to His Superiors just in so far as He employs judgment in gathering together the men and women whom He is preparing for initiation.

3. Bằng sự thông thái của Ngài trong việc lựa chọn cộng sự. Nhóm đệ tử của Ngài sẽ hoạt động hiệu quả trong việc phụng sự thế giới và hữu ích cho các Bậc Trưởng Thượng của Ngài chỉ khi Ngài sử dụng khả năng phán đoán trong việc tập hợp những người nam và nữ mà Ngài đang chuẩn bị cho việc điểm đạo.

I use the word “initiation” here because I want all disciples who read my words to realise that initiation is not something which they undergo as a result of any training which they may receive from a Master or because they have reached a certain [685] stage of advanced evolution. It is a process of continuing integration into centres of force, i.e., into a Master’s group, into the Hierarchy as a whole and consciously, and—as disciples attain adeptship—into Shamballa. You can see, therefore, that a Master can be greatly hindered or aided in His work for humanity by His choice of disciples. They should ponder on this fact because in so doing the process of decentralisation will proceed more rapidly and their love and service will consequently increase with a paralleling certainty and surety.

Tôi sử dụng từ "điểm đạo" ở đây bởi vì tôi muốn tất cả các đệ tử đọc những lời của tôi nhận ra rằng điểm đạo không phải là điều mà họ trải qua do kết quả của bất kỳ sự đào tạo nào mà họ có thể nhận được từ một Chân sư hoặc bởi vì họ đã đạt đến một [685] giai đoạn tiến hóa nhất định. Đó là một quá trình tích hợp liên tục vào các trung tâm mãnh lực, tức là vào nhóm của một Chân sư, vào toàn bộ Huyền Giai một cách có ý thức, và — khi các đệ tử đạt đến bậc Chân sư — vào Shamballa. Do đó, các bạn có thể thấy rằng một Chân sư có thể bị cản trở hoặc được hỗ trợ rất nhiều trong công việc vì nhân loại của Ngài bởi sự lựa chọn các đệ tử. Các đệ tử nên suy ngẫm về thực tế này, bởi vì khi làm như vậy, quá trình phi tập trung hóa sẽ diễn ra nhanh hơn, và tình thương cùng sự phụng sự của họ sẽ gia tăng một cách chắc chắn và vững vàng song hành.

I would have all disciples grasp this clearly and so get into their consciousness the idea of contribution, watching their thought life with care, so that there may be in it that which will increase the potency and purity of the ideal which at any time is dominating the group and which will be of such a quality that it will precipitate that “pool of thought” with which all disciples can be in rapport and entitled to use.

Tôi mong muốn tất cả các đệ tử nắm bắt rõ điều này và đưa vào tâm thức của mình ý niệm về sự đóng góp, chú ý cẩn thận đến đời sống tư tưởng của họ, để trong đó có những điều sẽ gia tăng sức mạnh và sự trong sáng của lý tưởng đang chi phối nhóm vào bất kỳ thời điểm nào. Lý tưởng này phải mang chất lượng đủ để tạo thành "kho tư tưởng" mà tất cả các đệ tử có thể hòa nhập và có quyền sử dụng.

I would have you also remember that a Master’s group is a centre of energy into which the disciple is precipitated and that its effect upon him, as a personality, is eliminative and evocative. Those two words cover the life of every disciple. They are singularly descriptive of what is happening to humanity, as the process (so long foretold) of externalising the Hierarchy and restoring the Mysteries upon the outer plane, is slowly proceeding. The Hierarchy is essentially the group of the Lord of the World; it is His Ashram. In this statement lies the enunciation of a relatively new truth as far as human knowledge is concerned. Before the Hierarchy can work more openly and with fuller recognition by mankind, there must be the elimination of all hate and all sense of separateness and the evocation of good will and right human relations as the result of the activities of all disciples. The widespread recognition of the evil of the present war and of errors in every national policy make it possible eventually to produce a general attitude which will clear the way for the needed right adjustments. It is the same process of awakening and of consequent strife which disciples experience in their individual lives and which prepare them for the stage of accepted disciple.

Tôi cũng mong các bạn nhớ rằng một nhóm của Chân sư là một trung tâm năng lượng mà đệ tử được ngưng tụ vào, và tác động của nó lên y, với tư cách là một phàm ngã, mang tính loại trừ và khơi gợi. Hai từ này bao quát đời sống của mọi đệ tử. Chúng đặc biệt mô tả điều đang diễn ra với nhân loại, khi tiến trình (đã được tiên đoán từ lâu) về sự ngoại hiện của Thánh đoàn và sự khôi phục các Huyền Nhiệm trên cõi ngoại hiện đang từ từ tiến triển. Thánh đoàn thực chất là nhóm của Đấng Chúa Tể Thế Giới; đó là Ashram của Ngài. Trong tuyên bố này ẩn chứa một chân lý tương đối mới xét về mặt tri thức nhân loại. Trước khi Thánh đoàn có thể hoạt động công khai hơn và được nhân loại công nhận đầy đủ hơn, cần phải loại trừ mọi hận thù và cảm giác chia rẽ, đồng thời khơi gợi thiện chí và mối quan hệ đúng đắn giữa con người như một kết quả của các hoạt động từ tất cả các đệ tử. Sự nhận thức rộng rãi về cái ác của cuộc chiến hiện tại và những sai lầm trong mọi chính sách quốc gia cuối cùng sẽ giúp tạo ra một thái độ chung, qua đó mở đường cho những điều chỉnh cần thiết. Đó cùng là quá trình của sự thức tỉnh và của xung đột hệ quả mà các đệ tử trải qua trong đời sống cá nhân của họ, chuẩn bị cho họ bước vào giai đoạn của đệ tử chính thức.

The vortex of force into which the disciple is plunged (by right of his own effort and the decision of his Master) gives him [686] a needed training in the handling of those energies which are the substance of all creation, thus enabling him to contribute to the creation of the new world. There is always a new world in process of forming; the keynote of the work of every disciple can be summed up in the familiar words: “Behold, I make all things new.”

Vòng xoáy mãnh lực mà người đệ tử bị cuốn vào (bằng nỗ lực của chính mình và quyết định của Chân sư của mình) mang lại cho người đó [686] sự đào tạo cần thiết trong việc xử lý những năng lượng vốn là chất liệu của mọi sự sáng tạo, do đó cho phép người đó đóng góp vào việc tạo ra thế giới mới. Luôn luôn có một thế giới mới đang trong quá trình hình thành; chủ âm của công việc của mỗi đệ tử có thể được tóm tắt trong những từ quen thuộc: "Hãy xem, tôi làm mới mọi vật."

PART II (TRANG 687-692)

Two questions always arise the moment the stage of discipleship is discussed: the problem of occult obedience and the nature of the vision. I would like to deal with these right at the beginning of any help which I may be able to give you. What is this occult obedience which a Master is supposed to exact? Today, the Masters are dealing with the highly mental type of disciple who believes in the freedom of the human will and consciousness and who resents the imposition of any so-called authority. The intellectual man will not accept any infringement of his freedom, and in this he is basically right. He objects to having to obey. This is today axiomatic. Out of this fundamental question, lesser ones arise which I would like to cite. Has the disciple to obey the slightest hint which the Master may give? Must every request and suggestion be accepted? Must all that a Master says be accepted as true and infallibly correct? Is the disciple wrong when he refuses (if he does) to recognise the Master’s point of view and the statements He may make? Will the fact of Accepted Discipleship limit his freedom of opinion or choice, coerce his judgment and make him simply a replica in thought of the Master’s thought? These are questions of importance.

Hai câu hỏi luôn nảy sinh khi giai đoạn đệ tử được thảo luận: vấn đề về sự tuân phục huyền linh và bản chất của tầm nhìn. Tôi muốn đề cập đến những vấn đề này ngay từ đầu, như một phần của bất kỳ sự giúp đỡ nào mà tôi có thể cung cấp cho các bạn. Tuân phục huyền linh là gì mà một Chân sư được cho là phải đòi hỏi? Ngày nay, các Chân sư đang làm việc với những đệ tử có xu hướng trí tuệ cao, tin tưởng vào sự tự do của ý chí và của tâm thức con người, đồng thời phản đối bất kỳ quyền lực nào gọi là áp đặt. Con người trí thức không chấp nhận bất kỳ sự xâm phạm nào đến tự do của mình, và điều này cơ bản là đúng. Y phản đối việc phải tuân theo. Đây là một sự thật hiển nhiên trong thời đại ngày nay. Từ câu hỏi cơ bản này, nhiều câu hỏi phụ khác nảy sinh mà tôi muốn liệt kê. Đệ tử có phải tuân theo từng gợi ý nhỏ nhất mà Chân sư có thể đưa ra không? Liệu mọi yêu cầu và đề nghị đều phải được chấp nhận không? Mọi điều mà một Chân sư nói có phải được xem là đúng và không bao giờ sai lầm không? Đệ tử có sai không nếu y từ chối (nếu có) công nhận quan điểm của Chân sư và những tuyên bố Ngài đưa ra? Việc được công nhận là một đệ tử có giới hạn tự do ý kiến hoặc lựa chọn của y, ép buộc sự phán đoán của y và làm cho y chỉ là bản sao của tư tưởng Chân sư không? Đây là những câu hỏi quan trọng.

The obedience required is obedience to the Plan. It is not obedience to the Master, no matter what many old-style occult schools may say. The obedience which is asked of you is based on your growing recognition of the Plan for humanity, as it emerges in your consciousness through the processes of meditation and through definite service, based upon a growing love of your fellowmen.

Sự tuân phục được yêu cầu là tuân phục Thiên Cơ. Đó không phải là tuân phục Chân sư, bất kể nhiều trường phái huyền linh cũ có nói gì. Sự tuân phục mà các bạn được yêu cầu dựa trên sự nhận thức ngày càng tăng về Thiên Cơ đối với nhân loại, khi nó xuất hiện trong tâm thức của các bạn thông qua quá trình tham thiền và qua sự phụng sự rõ ràng, dựa trên tình thương ngày càng lớn đối với đồng loại của mình.

The obedience demanded is that of the personality to the soul as soul knowledge, soul light and soul control become [687] increasingly potent in the mind and brain reactions of the disciple. This whole problem of occult obedience would not arise at all if the rapport between soul and personality or between the disciple and the Master was complete and soundly established. The entire question is based upon the blindness and lack of knowledge of the disciple. As the rapport becomes more firmly established, no fundamental divergences of opinion can appear; the aims of the soul and the personality blend and fuse; the objectives before the disciple and the Master become identical, and the group life conditions the service rendered by both of them. It is, therefore, the limitations of the disciple which prompt the question and his fear that too much may be asked of him by the Master and his soul. Is this not true, my brother? It is the holding on to your personality interpretations, wishes and ideas which leads you to draw back from the word obedience. It is your liking for yourself and for your own point of view which—literally and factually—makes you afraid of a too prompt acquiescence in the known suggestions of the Masters. I would have you remember that suggestion is all that a Master ever makes to a disciple, even though He may make positive statements about human affairs. These statements may be entirely correct; the neophyte, however, is usually too blind or prejudiced by his own individual point of view to accept them. Obedience can only be rendered when there is a developed understanding and an inclusive vision; if that is lacking, the passing of time will adjust the matter.

Sự tuân phục được yêu cầu ở đây là sự tuân phục của phàm ngã đối với linh hồn, khi tri thức linh hồn, ánh sáng linh hồn và sự kiểm soát của linh hồn ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn trong các phản ứng của thể trí và bộ não của đệ tử. Toàn bộ vấn đề về sự tuân phục huyền linh sẽ không hề nảy sinh nếu mối liên kết giữa linh hồn và phàm ngã, hoặc giữa đệ tử và Chân sư, được hoàn toàn thiết lập và vững chắc. Toàn bộ câu hỏi này dựa trên sự mù quáng và thiếu tri thức của đệ tử. Khi mối liên kết này được củng cố hơn, sẽ không có sự khác biệt cơ bản nào về quan điểm xuất hiện; các mục tiêu của linh hồn và phàm ngã hòa hợp và hợp nhất; các mục tiêu trước mắt của đệ tử và Chân sư trở nên đồng nhất, và đời sống nhóm định hình công việc phụng sự của cả hai. Do đó, chính những hạn chế của đệ tử đã khơi lên câu hỏi này, cùng với nỗi sợ rằng Chân sư và linh hồn có thể đòi hỏi quá nhiều ở y. Điều này có đúng không, huynh đệ của tôi? Chính việc bám víu vào những diễn giải, mong muốn và ý tưởng của phàm ngã đã khiến các bạn lùi bước trước từ "tuân phục." Chính sự yêu thích bản thân và quan điểm cá nhân của mình, một cách thực tế và cụ thể, khiến bạn sợ phải chấp nhận quá nhanh những gợi ý rõ ràng của các Chân sư. Tôi muốn các bạn nhớ rằng tất cả những gì một Chân sư đưa ra cho một đệ tử chỉ là gợi ý, dù Ngài có thể đưa ra những tuyên bố tích cực về các vấn đề nhân sinh. Những tuyên bố này có thể hoàn toàn chính xác; tuy nhiên, người sơ cơ thường quá mù quáng hoặc bị định kiến bởi quan điểm cá nhân của mình để chấp nhận chúng. Sự tuân phục chỉ có thể được thực hiện khi có sự thấu hiểu được phát triển và một tầm nhìn bao quát; nếu điều đó còn thiếu, thì thời gian sẽ điều chỉnh vấn đề này.

This brings up the question of the vision, its nature and extension. Is this vision, which must exist before the disciple seeks admittance into a Master’s group, a gradually unfolding process or an unconscious remembering of something once sensed and seen? Here lies the crux of the problem. Let me explain. The vision is a symbolic way of experiencing revelation. The gradual unfoldment of each of the five senses brought a steady emerging revelation of God’s world and a constantly extending vision. The development of sight brought a synthetic aptitude to focus the results of all lesser visions brought to the point of revelation by the other four senses. Then comes a vision, revealed by the “common sense” of the mind. This [688] demonstrates in its most developed stage as world perception where human affairs are concerned, and frequently works out in the vast personality plans of the world leaders in the various fields of human living. But the vision with which you should be concerned is to become aware of what the soul knows and what the soul sees, through the use of the key to soul vision—the intuition. That key can only be used intelligently and consciously when personality affairs are dropping below the threshold of consciousness.

Điều này đặt ra câu hỏi về tầm nhìn, bản chất và phạm vi của nó. Tầm nhìn này, điều phải tồn tại trước khi một đệ tử tìm kiếm sự chấp nhận vào nhóm của một Chân sư, là một quá trình dần hé lộ hay là một sự nhớ lại vô thức về điều gì đó từng cảm nhận và nhìn thấy? Đây chính là mấu chốt của vấn đề. Hãy để tôi giải thích. Tầm nhìn là cách biểu tượng để trải nghiệm sự mặc khải. Sự hé lộ dần dần của từng giác quan trong năm giác quan mang lại sự mặc khải liên tục về thế giới của Thượng Đế và một tầm nhìn ngày càng mở rộng. Sự phát triển của thị giác mang lại khả năng tổng hợp để tập trung các kết quả của tất cả những tầm nhìn nhỏ hơn mà bốn giác quan khác mang lại. Sau đó, xuất hiện một tầm nhìn, được tiết lộ bởi "giác quan chung" của thể trí. Điều này thể hiện ở giai đoạn phát triển cao nhất như một nhận thức thế giới, nơi các vấn đề của nhân loại được quan tâm, và thường thể hiện trong các kế hoạch cá nhân rộng lớn của những nhà lãnh đạo thế giới trong các lĩnh vực sống khác nhau của con người. Nhưng tầm nhìn mà các bạn nên quan tâm là nhận thức được những gì linh hồn biết và nhìn thấy, thông qua việc sử dụng chìa khóa để đạt được tầm nhìn linh hồn—trực giác. Chìa khóa này chỉ có thể được sử dụng một cách thông minh và có ý thức khi các vấn đề của phàm ngã đang giảm xuống dưới ngưỡng tâm thức.

I would ask you: How much of your present so-called vision is dependent upon what others have seen and how much you discovered for yourself by climbing arduously and earnestly the Mount of Vision and (from that eminence which you have arrived at alone) looking out over the horizon towards the next peak of attainment for humanity? A disciple becomes an Accepted Disciple when he starts climbing towards the vision, towards the mountain top; he can also register consciously what he has seen and then begins to do something constructive towards materialising it. This, many throughout the world are beginning to do. A man becomes a World Disciple in the technical sense when the vision is to him an important and determining fact in his consciousness and one to which all his daily efforts are subordinated. He needs no one to reveal the Plan to him. He knows. His sense of proportion is adjusted to the revelation and his life is dedicated to bringing the vision into factual existence—in collaboration with his group.

Tôi muốn hỏi các bạn: Bao nhiêu phần trong cái gọi là tầm nhìn hiện tại của các bạn phụ thuộc vào những gì người khác đã thấy và bao nhiêu là những gì các bạn tự mình phát hiện ra thông qua việc leo một cách gian khổ và nghiêm túc lên Ngọn Núi Tầm Nhìn và (từ đỉnh cao mà bạn đã tự mình đạt đến) nhìn ra đường chân trời hướng tới đỉnh cao tiếp theo mà nhân loại cần đạt được? Một đệ tử trở thành Đệ Tử Chính Thức khi y bắt đầu leo lên tầm nhìn, hướng tới đỉnh núi; y cũng có thể ghi nhận một cách có ý thức những gì y đã thấy và sau đó bắt đầu làm điều gì đó mang tính xây dựng để biến nó thành hiện thực. Điều này, nhiều người trên toàn thế giới đang bắt đầu làm. Một người trở thành Đệ Tử Thế Giới theo nghĩa kỹ thuật khi tầm nhìn trở thành một sự thật quan trọng và quyết định trong tâm thức của y, và là điều mà mọi nỗ lực hàng ngày của y đều phải phục tùng. Y không cần ai tiết lộ Thiên Cơ cho mình. Y biết. Ý thức tỉ lệ của y được điều chỉnh với sự mặc khải và cuộc sống của y được dành để biến tầm nhìn đó thành hiện thực—phối hợp với nhóm của mình.

It is, therefore, a gradually unfolding process up to a certain stage. After that stage has been reached, it is no longer the vision which is the dominant factor but the field of experience, of service and of achievement. Ponder on this. Some day you will understand. There is both an unconscious deflection towards the vision and a conscious orientation towards it. There is one aspect of the vision which is oft forgotten by many disciples. That is the necessity—inherent in the right appreciation of the vision itself—for each who records it to become “bestowers of the vision.” The moment that that takes place, the whole situation changes. Through the thoughts of all beginners runs the note of striving after the vision, of searching for it, of ability or inability to contact it and, frequently, [689] the distortion of the vision by defining it in terms of already imparted truths. The attitude of the neophyte is, therefore, based upon the need for vision, upon individual, personal need. But (upon the path of Accepted Discipleship) the disciple must get away from this because it is the path of spontaneous unconscious self-forgetfulness. The vision, once seen, becomes so important, that how you feel about it and your adherence to it seemingly fades out. You become absorbed in the vision and this absorption takes place upon the physical plane. Both mind and brain are preoccupied with what the soul knows and that is ever vision for the personality.

Do đó, đó là một tiến trình dần dần hé mở cho đến một giai đoạn nhất định. Sau khi giai đoạn đó đã đạt được, không còn là tầm nhìn chi phối nữa mà là lĩnh vực kinh nghiệm, phụng sự và thành tựu. Hãy suy ngẫm về điều này. Một ngày nào đó, các bạn sẽ thấu hiểu. Có cả sự lệch hướng vô thức về phía tầm nhìn và sự định hướng có ý thức về phía đó. Có một khía cạnh của tầm nhìn thường bị nhiều đệ tử lãng quên. Đó là sự cần thiết — vốn có trong sự thấu hiểu đúng đắn về chính tầm nhìn đó — để mỗi người ghi nhận nó trở thành “người ban phát tầm nhìn.” Ngay khoảnh khắc điều đó xảy ra, toàn bộ tình huống thay đổi. Trong tư tưởng của tất cả những người mới bắt đầu đều vang lên nốt nhạc của sự khao khát đạt được tầm nhìn, sự tìm kiếm nó, khả năng hoặc không có khả năng tiếp xúc với nó và, thường xuyên, sự bóp méo tầm nhìn bằng cách định nghĩa nó theo những chân lý đã được truyền đạt trước đó. Do đó, thái độ của người sơ cơ dựa trên nhu cầu về tầm nhìn, trên nhu cầu cá nhân, riêng tư. Nhưng (trên con đường Đệ tử Chính Thức), đệ tử phải vượt qua điều này bởi vì đó là con đường của sự tự quên mình một cách tự nhiên và vô thức. Tầm nhìn, một khi đã được thấy, trở nên quan trọng đến mức cảm giác của bạn về nó và sự gắn bó của bạn với nó dường như mờ nhạt đi. Bạn trở nên hoàn toàn nhập vào tầm nhìn và sự nhập tâm này diễn ra trên cõi trần. Cả tâm trí và bộ não đều bận tâm đến những gì linh hồn biết và đó luôn là tầm nhìn đối với phàm ngã.

I referred above to the existence of disciples and of world disciples. A world disciple is a man or woman who has made real progress in the adjustment between the particular and the universal, between the specific and the general and between his own sphere of environal conditions and the outer world of needy souls. The problem with which such disciples are occupied is not the adjustment of relations between the inner spiritual man, the soul and its instrument, the personal lower self. Their major interest is how to fulfil the immediate personality obligation and, at the same time, produce an effect upon the environing world of men because of a strong inner compulsion and the need they feel to shoulder the service and the responsibility of their Master and His group. These men and women are always accepted disciples in the academic sense of the term and are able to render themselves receptive to spiritual impression; they do this, if they choose, at will. They are integrated people from the personality angle and susceptible at all times to soul contact. They are not yet perfect, for they are not yet Masters; the fourth initiation still lies ahead for them but their own imperfections are not their major point of soul attack or their major preoccupation; world need and world demand for spiritual and psychic aid rank paramount in their consciousness. They are clear-visioned as to people but they are basically non-critical; the recognition of imperfection is automatic with them but in no way negates loving understanding and readiness to assist on any level where the need appears to be of importance. [690] World disciples think in terms of groups with a steadily developing measure of inclusiveness. Their own group, their own circle of co-workers and their own field of service are seen by them in right proportion because they are not divorced from the environing All. They are active focal points for the Forces of Light in the three worlds of human endeavour and are to be found in every field and school of thought.

Trên đây tôi có đề cập đến sự tồn tại của những đệ tử và đệ tử thế giới. Một đệ tử thế giới là một người nam hay nữ đã có những tiến bộ thật sự trong việc điều chỉnh giữa cái đặc thù và cái phổ quát, giữa cái cụ thể và cái chung, và giữa phạm vi của những điều kiện môi trường của riêng y với thế giới bên ngoài của những linh hồn túng thiếu. Vấn đề mà các đệ tử như vậy bận tâm không phải là sự điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người tinh thần bên trong, là linh hồn, và công cụ của nó, là phàm ngã có tính cá nhân. Mối quan tâm chính của họ là làm thế nào để thực hiện nghĩa vụ trước mắt của phàm ngã, cùng lúc đó, tạo ra một hiệu ứng đối với thế giới con người xung quanh, vì một sự cưỡng bách mạnh mẽ bên trong, và nhu cầu mà họ cảm thấy để gánh vác công việc phụng sự, và trách nhiệm của Chân Sư của y và nhóm của Ngài. Những người nam và nữ này luôn luôn là những đệ tử chính thức theo ý nghĩa học thuật của thuật ngữ này, và có thể khiến bản thân dễ tiếp nhận đối với ấn tượng tinh thần; họ làm điều này một cách tùy ý, nếu họ chọn như vậy. Họ là những người được tích hợp từ góc độ phàm ngã và luôn luôn nhạy cảm với sự tiếp xúc linh hồn. Họ chưa hoàn hảo, vì họ chưa phải là Chân sư; lần điểm đạo thứ tư vẫn còn ở phía trước họ, nhưng những khiếm khuyết của riêng họ không phải là điểm tấn công chính của linh hồn họ, cũng không phải là mối bận tâm chính của họ; nhu cầu của thế giới và yêu cầu của thế giới về sự trợ giúp tinh thần và tâm linh chiếm vị trí tối cao trong tâm thức của họ. Họ có tầm nhìn rõ ràng về con người nhưng về cơ bản, họ không phê phán; sự nhận thức về sự không hoàn hảo là điều tự nhiên đối với họ nhưng không hề phủ nhận sự thấu hiểu yêu thương và sự sẵn sàng trợ giúp ở bất kỳ mức độ nào khi nhu cầu đó dường như quan trọng. [690] Các đệ tử thế giới nghĩ về các nhóm với một mức độ phát triển tính bao gồm ngày càng tăng. Nhóm riêng của họ, nhóm của giới đồng nghiệp của riêng họ, và lĩnh vực phụng sự của riêng họ được họ nhìn thấy theo đúng tỷ lệ, vì họ không tách biệt khỏi Tổng Thể chung quanh. Họ là những tiêu điểm tích cực cho các Lực Lượng Ánh sáng trong ba cõi nỗ lực của con người, và sẽ được tìm thấy trong mỗi lĩnh vực và trường phái tư tưởng.

I am not going to define for you active discipleship as ordinarily understood. Every esoteric student knows its significance, its implications and its responsibilities. I seek to develop in you that sense of world need and that capable usefulness which will make each of you who read and understand my words a disciple in truth and in deed. The primary task of the Masters is to develop in Their disciples a world sense which will enable them to see the immediate situation against the background of the past, illumined by the light of knowledge of the Plan which always concerns the future—except for those rare spirits who think ever in terms of the whole. The blueprints for the immediate plan are in the hands of the world disciples; the working out of these plans under the inspiration and help of the world disciples is in the hands of all accepted disciples everywhere. Neither world disciples or accepted disciples are mystical visionaries or vague idealists but men and women who are intelligently and practically seeking to make the ideal plan a factual experiment and success on earth. Such is the task in which all of you have the opportunity to help. Your ability to become world disciples eventually is dependent upon your capacity to decentralise yourselves and to forget your personalities. This forgetting involves not only your own personalities but also the personalities of your fellow disciples and co-workers and of all you meet. It means, also, that in the future you go forward into a greater measure of service, impelled thereto by the fire of love in your hearts for your fellowmen.

Tôi sẽ không định nghĩa cho các bạn về địa vị đệ tử tích cực như thường được hiểu. Mỗi người học viên huyền môn đều biết ý nghĩa, hàm ý và trách nhiệm của nó. Tôi tìm cách phát triển trong các bạn tâm thức về nhu cầu của thế giới và sự hữu ích có năng lực, điều này sẽ khiến mỗi người trong các bạn, những người đọc và thấu hiểu lời tôi, trở thành một đệ tử chân chính cả về mặt lý thuyết lẫn hành động. Nhiệm vụ chính của các Chân sư là phát triển trong các đệ tử của Ngài tâm thức về thế giới, điều này sẽ giúp họ nhìn thấy tình hình hiện tại trong bối cảnh của quá khứ, được soi sáng bởi ánh sáng của tri thức về Thiên Cơ, luôn liên quan đến tương lai — ngoại trừ đối với những linh hồn hiếm hoi luôn suy nghĩ theo quan điểm của toàn thể. Những bản thiết kế cho kế hoạch trước mắt nằm trong tay các đệ tử của thế giới; việc thực hiện những kế hoạch này dưới sự cảm hứng và trợ giúp của các đệ tử thế giới nằm trong tay tất cả các đệ tử chính thức ở khắp mọi nơi. Cả các đệ tử thế giới lẫn các đệ tử chính thức đều không phải là những nhà thần bí mơ mộng hay những nhà lý tưởng mơ hồ, mà là những người nam và nữ đang tìm cách thực hiện kế hoạch lý tưởng một cách thông minh và thực tiễn, biến nó thành một thử nghiệm thực tế và thành công trên trần gian. Đó chính là nhiệm vụ mà tất cả các bạn có cơ hội đóng góp. Khả năng trở thành các đệ tử thế giới của các bạn cuối cùng phụ thuộc vào năng lực của các bạn trong việc phân ly bản thân và quên đi phàm ngã của mình. Sự quên này không chỉ bao gồm phàm ngã của chính các bạn mà còn bao gồm phàm ngã của các bạn đồng môn và cộng sự, cũng như của tất cả những người mà các bạn gặp gỡ. Nó cũng có nghĩa là trong tương lai, các bạn sẽ tiến về phía trước trong sự phụng sự lớn hơn, được thúc đẩy bởi ngọn lửa yêu thương trong trái tim mình dành cho những người đồng loại.

One factor that should be touched upon here is that frequently disciples handicap themselves because, not having learnt to forget their personalities, they have an attitude of deep concern over demonstrated past failures and a consciousness of very real inadequacy. They become over preoccupied [691] with the personnel of the group and not with the group soul. You, as disciples, are too preoccupied with the inter-personality relationship and are not sufficiently focussed upon the group-soul and upon the Master, the centre and the focal point of energy of the group. If you would reject all criticism, if you cultivate the joy of relationship and seek ever to participate together in whatever spiritual blessing may be outpoured for the helping of the world, if you seek to contact the Master as a group, if you are in a position to know your group, and if you tune out all anxiety as to success or non-success in the apportioned service, you would greatly aid in the task with which the Master of any group is confronted. The needed fusion can always take place among disciples when they meet on the level of the soul and when the service to be rendered is the dominant factor and not so much the how of rendering it; for this each disciple is independently responsible.

Một yếu tố nên được đề cập đến ở đây, đó là các đệ tử thường xuyên gây cản trở cho chính họ vì đã không học cách quên đi phàm ngã của họ, họ lại có một thái độ quan tâm sâu sắc đến những thất bại xảy ra trong quá khứ, và một tâm thức về sự không thỏa đáng rất thực. Họ trở nên quá bận tâm [691] với nhân sự của nhóm chứ không phải với linh hồn của nhóm. Các bạn, với tư cách là các đệ tử, quá bận tâm đến mối quan hệ giữa các phàm ngã mà không tập trung đầy đủ vào linh hồn nhóm và vào Chân Sư, là trung tâm và tâm điểm của năng lượng nhóm. Nếu bạn loại bỏ mọi lời chỉ trích, nếu bạn nuôi dưỡng niềm vui của mối quan hệ và luôn tìm cách tham gia cùng nhau vào bất kỳ việc ban phước tâm linh nào có thể được tuôn ra để giúp đỡ thế giới, nếu bạn tìm cách tiếp xúc với Chân Sư dưới tư cách một nhóm, nếu bạn ở trong một vị trí hiểu biết nhóm của bạn, và nếu bạn không để ý đến mọi sự lo lắng về thành công hay không thành công trong phần việc phụng sự được phân bổ, bạn sẽ hỗ trợ rất nhiều cho nhiệm vụ mà Chân Sư của bất kỳ nhóm nào phải đối mặt. Sự hợp nhất cần thiết có thể luôn luôn diễn ra giữa các đệ tử khi họ gặp nhau ở cấp độ của linh hồn, và khi việc phụng sự cần thực hiện là yếu tố vượt trội, chứ không phải là cách thể hiện nó; vì mỗi đệ tử chịu trách nhiệm độc lập đối với điều này.

The Master does not train a group of men and women to be good and obedient disciples, carrying out His wishes and working out His purposes. He is training them eventually to take initiation and become Masters themselves and He never loses sight of this objective. You, as disciples, have, therefore, to learn to handle force and to draw energies into the destined area of service and this is a fact you must constantly have in mind. Disciples are chosen by the Master because, in spite of any or all personality limitations, they respond in their individual measure to the immediate vision of the united Hierarchy and to the methods which They propose to employ in materialising this vision. The hierarchical vision (as far as you can understand it) is the response of the Masters to the higher impression to which They are subjected and to which They accord Their assent according to ray and not according to point of development. The Master recognises those who recognise the Plan and are trying (with full or with qualified dedication) to help bring it about. He then stimulates them as a group, because they have identity of vision and dedication; this enables them, under that stimulation and inspiration, to become more effective in the chosen (self-chosen) line of service. I would have you, therefore, ponder carefully upon the following recognitions: [692]

Chân Sư không đào tạo một nhóm nam nữ thành đệ tử tốt và ngoan ngoãn, thể hiện các ước muốn của Ngài và thực hiện các mục đích của Ngài. Ngài đang huấn luyện họ để cuối cùng được điểm đạo và trở thành chính các Chân Sư, và Ngài không bao giờ quên mục tiêu này. Do đó, các bạn, với cương vị là đệ tử, phải học cách xử lý mãnh lực và thu hút năng lượng vào khu vực phụng sự được trù định, và đây là một thực tế mà bạn phải liên tục có trong trí. Các đệ tử được Chân Sư chọn là vì, mặc dù có bất kỳ hoặc tất cả các giới hạn của phàm ngã, họ đáp ứng trong mức độ cá nhân của họ với tầm nhìn trước mắt của Thánh Đoàn thống nhất và với các phương pháp mà các Ngài đề xuất sử dụng để hiện thực hóa tầm nhìn này. Tầm nhìn của Thánh đoàn (trong phạm vi mà các bạn có thể hiểu được) là sự đáp ứng của các Chân sư đối với sự ấn tượng cao hơn mà các Ngài tiếp nhận và đồng thuận theo cung, chứ không phải theo mức độ phát triển. Chân sư nhận ra những ai nhận thức được Thiên Cơ và đang cố gắng (với sự tận tụy trọn vẹn hoặc có điều kiện) để giúp thực hiện nó. Sau đó, Ngài kích thích họ như một nhóm, bởi vì họ có sự đồng nhất về tầm nhìn và sự tận tụy; điều này cho phép họ, dưới sự kích thích và cảm hứng đó, trở nên hiệu quả hơn trong lĩnh vực phụng sự đã được lựa chọn (do tự họ lựa chọn). Vì vậy, tôi muốn các bạn suy ngẫm cẩn thận về những nhận thức sau đây: [692]

1. The recognition of the vision.

1. Nhận thức về tầm nhìn.

2. The recognition of the Plan, for vision and Plan are not the same.

2. Nhận thức về Thiên Cơ, vì tầm nhìn và Thiên Cơ Không giống nhau.

3. The recognition which the Master accords to a group of dedicated aspirants when He accepts them as His disciples.

3. Sự công nhận mà Chân Sư ban cho một nhóm người chí nguyện tận tụy khi Ngài thâu nhận họ làm đệ tử của Ngài.

4. Your recognition of the Master’s ideas as goals to future endeavour.

4. Nhận thức của bạn về những ý tưởng của Chân Sư như là các mục tiêu cho nỗ lực tương lai.

5. Your recognition of each other as souls and servers.

5. Nhận thức của các bạn với nhau như là những linh hồn và những người phụng sự.

When these recognitions are properly understood, there will then be eventual recognition, by the Hierarchy, of a group of disciples who can be used as a channel through which spiritual energy, light and love can be poured into a needy and agonising world. The group will then be endowed with power to serve but it will not be power given to it by the Master. It will be a potency which it has engendered itself. This power which disciples wield comes as a response to a life rightly lived and love fully given. There is a great law which can be embodied in the words “to those who give all, all is given.” This is true of the individual disciple and of a Master’s group. Most aspirants to discipleship today do not know or realise this law; they do not give freely and fully either to the work of the Hierarchy or to those who need. Until they do, they limit their effectiveness and shut the door on supply, not only for themselves but for the group with which they are affiliated in service. Herein lies responsibility. The clue to supply is personality harmlessness and the dedication of all individual resources to the service of the Great Ones, without restraint and spontaneously. When you, as a disciple, try to live harmlessly—in thought and word and deed—and when nothing is held back materially, emotionally or from the angle of time, when physical strength is so given and the gift of all resources is accompanied with happiness, then the disciple will have all that is needed to carry on his work and the same is true of all working groups of servers. Such is the law. Perfection is not yet possible, it is needless for me to say, but greater effort on your part to give and serve is possible.

Khi những nhận thức này được hiểu đúng, thì khi ấy sẽ có sự công nhận cuối cùng của Thánh Đoàn về một nhóm đệ tử có thể được sử dụng như một vận hà mà qua đó năng lượng tinh thần, ánh sáng và bác ái có thể được tuôn đổ vào một thế giới thiếu thốn và đau khổ. Chừng đó, nhóm sẽ được ban cho quyền năng để phụng sự, nhưng đó sẽ không phải là Chân Sư trao quyền năng đó cho nhóm. Đó sẽ là một uy lực mà nhóm đã tự tạo ra cho nó. Quyền năng mà các đệ tử sử dụng xuất hiện như một sự đáp ứng với một cuộc đời được sống một cách đúng đắn và tình yêu được ban ra trọn vẹn. Có một định luật vĩ đại có thể được thể hiện trong các lời sau, "những người cho đi tất cả, sẽ được ban cho tất cả." Điều này đúng với cá nhân đệ tử và cũng đúng với nhóm của một Chân Sư. Hầu hết những người chí nguyện trên đường đệ tử ngày nay không biết hoặc không nhận thức định luật này; họ không cung cấp thoải mái và đầy đủ hoặc cho công việc của Thánh Đoàn, hoặc cho những người cần. Chỉ đến khi họ làm điều này, bằng không họ sẽ giới hạn hiệu quả của họ và đóng cánh cửa cung cấp, không chỉ cho bản thân họ mà còn cho nhóm mà họ có liên kết trong việc phụng sự. Đây là trách nhiệm. Manh mối để đạt được sự cung ứng là sự vô tổn hại của phàm ngã và sự hiến dâng tất cả các nguồn lực cá nhân vào sự phụng sự cho các Đấng Cao Cả, một cách tự nhiên và không giới hạn. Khi các bạn, với tư cách là đệ tử, cố gắng sống vô tổn hại — trong tư tưởng, lời nói và hành động — và khi không giữ lại bất cứ điều gì về mặt vật chất, cảm xúc hay thời gian, khi sức mạnh thể chất được dâng hiến và món quà từ tất cả các nguồn lực đi kèm với niềm hạnh phúc, thì người đệ tử sẽ có tất cả những gì cần thiết để thực hiện công việc của mình và điều này cũng đúng với tất cả các nhóm phụng sự đang làm việc. Đó là định luật. Sự hoàn hảo chưa thể đạt được, điều này không cần tôi phải nói, nhưng nỗ lực lớn hơn từ phía các bạn để cho đi và phụng sự là điều có thể thực hiện được.

The time will, therefore, surely come when you will, as individuals and as part of a Master’s group, [693] subordinate your personal lives to the need of humanity and to the intention of the Master. You will be and not struggle so hard to be; you will give and not fight constantly the tendency not to give; you will forget your physical bodies and not give so much attention to them (and the result will be better health); you will think and not live so deeply in the world of feeling; you will sanely and wisely and as a normal procedure put the work of the Master and of service first.

Do đó, thời điểm chắc chắn sẽ đến, khi bạn, với tư cách là những cá nhân và là một phần của nhóm của một Chân Sư, sẽ đặt cuộc sống cá nhân của các bạn ở dưới nhu cầu của nhân loại và theo mục đích của Chân Sư. Các bạn sẽ trở thành và không đấu tranh quá khó khăn để trở thành; các bạn sẽ cho đi và không chiến đấu liên tục với xu hướng không cho; các bạn sẽ quên thể xác của các bạn và không chú ý nhiều đến chúng (và kết quả sẽ là có sức khỏe tốt hơn); bạn sẽ tư duy và không sống quá sâu trong thế giới cảm giác; bạn sẽ hoàn toàn lành mạnh và khôn ngoan, và như một tiến trình bình thường, đặt công việc của Chân Sư và của việc phụng sự lên hàng đầu.

What is that work? To provide a working intelligent and consecrated group of servers through whom hierarchical plans can be carried forward and to demonstrate, upon the physical plane, a focal point of spiritual energy. This can then be employed by the Hierarchy to help humanity everywhere, particularly in this time of crisis. The plans of the Hierarchy, as they embody the will of Shamballa, can be and are carried out; the process, however, is either a conscious one or an unconscious mass response to impression. Among the disciples of the world, the response and subsequent activity is a conscious one and leads to intelligent undertakings.

Công việc đó là gì? Cung cấp một nhóm người phụng sự hoạt động, thông minh và tận hiến, mà qua họ, các kế hoạch của Thánh Đoàn có thể được tiến hành, và thể hiện trên cõi trần một tiêu điểm của năng lượng tâm linh. Khi đó, Thánh Đoàn có thể sử dụng nhóm để giúp nhân loại ở khắp mọi nơi, đặc biệt là trong thời điểm khủng hoảng này. Các kế hoạch của Thánh Đoàn, khi chúng thể hiện ý chí của Shamballa, có thể và được thực hiện; tuy nhiên, quá trình này hoặc là một sự đáp ứng hữu thức, hoặc là một sự đáp ứng của quần chúng một cách vô thức đối với ấn tượng. Trong số các đệ tử của thế giới, thì sự đáp ứng và hoạt động tiếp theo là một hoạt động hữu thức và dẫn đến các chủ trương thông minh.

The task of the Master is to evoke from His disciples such a depth of consecrated love and such a realisation of today’s opportunity that the personality aspects of their lives will fade out in their consciousness and their main preoccupation will be: What must be my service at this time? What are the non-essential things in my life to which I should pay no attention? What is the task to be done? Who are the people I can help? Which aspects of the Master’s work should I endeavour to give the most help at this time? These questions must all meet with a balanced, intelligent and non-fanatical response and answer.

Nhiệm vụ của Chân Sư là gợi lên từ các đệ tử của Ngài một tình yêu hiến dâng sâu sắc và một nhận thức về cơ hội của ngày nay sao cho các khía cạnh phàm ngã trong cuộc sống của họ sẽ mờ dần trong tâm thức của họ và mối bận tâm chính của họ sẽ là: Tôi phải phụng sự gì trong thời gian này? Những điều không thiết yếu nào trong cuộc sống của tôi mà tôi không nên chú ý đến? Nhiệm vụ phải làm là gì? Những người tôi có thể giúp đỡ là ai? Những khía cạnh nào trong công việc của Chân Sư mà tôi nên nỗ lực giúp đỡ nhiều nhất vào lúc này? Tất cả những câu hỏi này phải được giải đáp một cách cân bằng, thông minh và không cuồng tín.

PART III (trang 693-709)

In considering this whole subject of discipleship there are certain things of which I would like to remind you. If you will reflect upon them you will find they may change somewhat your idea of what constitutes discipleship but they will also enrich your general concept anent this subject.

Khi xem xét toàn bộ chủ đề về địa vị đệ tử, có một số điều mà tôi muốn nhắc nhở các bạn. Nếu các bạn suy ngẫm về chúng, các bạn sẽ thấy chúng có thể thay đổi phần nào quan niệm của các bạn về việc thế nào là đệ tử, nhưng đồng thời chúng cũng sẽ làm phong phú thêm khái niệm tổng quát của các bạn về chủ đề này.

The first point which I would like to bring out is that accepted disciples are in training for initiation. If, when they [694] approach the Path of Discipleship they fail to grasp this fact and to give the fullest cooperation, they postpone the time of that initiation. Their grasp of the fact will be demonstrated in the intensity of their proffered service. Planned service is one of the modes of the training. Disciples in the early stages of their work are apt to be primarily interested in themselves and in their own reactions and attitudes to the Master. The fact that they are working in a Master’s group seems to them the fact of paramount importance.

Điểm đầu tiên mà tôi muốn nêu ra là các đệ tử chính thức đang được huấn luyện để đạt điểm đạo. Khi họ [694] tiếp cận Con Đường Đệ Tử, nếu họ không nắm bắt được sự thật này và không hợp tác một cách trọn vẹn nhất, họ sẽ trì hoãn thời điểm của lần điểm đạo đó. Sự nắm bắt sự thật này sẽ được thể hiện qua cường độ của sự phụng sự mà họ hiến dâng. Sự phụng sự được hoạch định là một trong những phương thức của việc huấn luyện. Các đệ tử trong những giai đoạn đầu của công việc thường có khuynh hướng chủ yếu quan tâm đến bản thân và những phản ứng cũng như thái độ của chính mình đối với Chân sư. Việc họ đang làm việc trong nhóm của một Chân sư dường như là điều quan trọng hàng đầu đối với họ.

The second thing which I would like to point out is that there is a great difference between a Master’s group and His Ashram. This is seldom realised. Many people can be found in a Master’s group but the personnel of His Ashram is picked out of that of the group. In a group, the Master is in touch with and aware of the aspiring disciple and he has had a definite contact with Him, but this has involved a personality as well as a soul relation. But in an Ashram only that is to be found within the sphere of influence of an Ashram which is of the soul. Nothing of the personality is allowed to enter in—personality reactions, disabilities, limitations, personality thoughts and all that is material and connected with the lower nature, never reaches the Ashram at all. In the early stages, therefore, of a disciple’s work, it is possible that there is little or nothing that the disciple will be able to contribute of any kind for a long time. Only those positively sensed intuitions and those definite soul impressions and impulses which the disciple may succeed in evoking (through meditation and growing purity of intention) can contribute anything to the life of the Ashram. There is consequently a law which protects the Ashram from your limitations. I have been using the word “Ashram” quite definitely in my effort to lead you to discriminate between a group and an Ashram. An Ashram is basically formed of those who through their knowledge, devotion and service have worked their way out of a group into an inner centre where the Master’s energy, wisdom and effort is more easily available. In order to work their way from the group into the Ashram, disciples will need most carefully to discriminate between their high grade personality inclinations, their [695] responses to truth and ideals and their true soul reactions, spiritual wisdom and intuitive perception.

Điều thứ hai mà tôi muốn chỉ ra là có một sự khác biệt lớn giữa nhóm của một Chân sư và Ashram của Ngài. Điều này hiếm khi được nhận thức. Nhiều người có thể thuộc về nhóm của một Chân sư, nhưng các thành viên của Ashram của Ngài được chọn lọc từ chính nhóm đó. Trong một nhóm, Chân sư có liên hệ với và nhận thức về người chí nguyện, và người đó đã có một mối liên hệ xác định với Ngài, nhưng điều này bao gồm cả mối quan hệ với phàm ngã lẫn linh hồn. Tuy nhiên, trong một Ashram, chỉ những gì thuộc về linh hồn mới có mặt trong phạm vi ảnh hưởng của nó. Không có gì thuộc về phàm ngã được phép đi vào—những phản ứng của phàm ngã, những khuyết điểm, giới hạn, những tư tưởng của phàm ngã và tất cả những gì liên quan đến bản chất thấp đều không bao giờ chạm đến Ashram. Do đó, trong những giai đoạn đầu của công việc một đệ tử, có thể sẽ có rất ít hoặc không có gì mà đệ tử có thể đóng góp trong một thời gian dài. Chỉ những trực giác được cảm nhận rõ ràng và những ấn tượng, xung động của linh hồn mà đệ tử có thể khơi gợi được (thông qua tham thiền và sự tinh khiết ngày càng tăng của ý định) mới có thể đóng góp điều gì đó cho đời sống của Ashram. Do đó, có một định luật bảo vệ Ashram khỏi những giới hạn của các bạn. Tôi đã sử dụng từ “Ashram” một cách hoàn toàn có chủ đích trong nỗ lực dẫn dắt các bạn phân biệt giữa một nhóm và một Ashram. Một Ashram về cơ bản được hình thành bởi những người, thông qua kiến thức, sự tận tụy và phụng sự, đã tự vượt thoát khỏi một nhóm để bước vào một trung tâm bên trong, nơi mà năng lượng, minh triết và nỗ lực của Chân sư trở nên dễ dàng tiếp cận hơn. Để có thể từ nhóm bước vào Ashram, các đệ tử cần phải rất cẩn trọng phân biệt giữa những xu hướng cao cấp của phàm ngã, các phản ứng của họ đối với chân lý và lý tưởng, và những phản ứng thực sự của linh hồn, minh triết tinh thần, cũng như khả năng trực giác.

The third point which I would like to bring out is that disciples when they form part of an Ashram are subjecting themselves to a greatly increased pressure and are in a position to participate in much wider distribution of energy than heretofore. Today, as the Coming One nears the earth and draws closer to humanity, and as the inflow of spiritual energy from Shamballa into the hierarchical Centre becomes greater, there is a great keying up of human receptivity and a greatly augmented stimulation is taking place with varying effects. This involves an intensified aspiration and spiritual determination. It also signifies an opportunity of an unprecedented nature.

Điểm thứ ba mà tôi muốn nêu ra là các đệ tử, khi họ trở thành một phần của Ashram, đang tự đặt mình vào một áp lực gia tăng đáng kể và ở vào vị trí để tham gia vào sự phân phối năng lượng rộng rãi hơn so với trước đây. Ngày nay, khi Đấng Đang Đến đến gần trái đất và tiếp cận gần hơn với nhân loại, và khi dòng năng lượng tinh thần từ Shamballa chảy vào trung tâm của Thánh đoàn ngày càng lớn hơn, sự tăng cường đáng kể về khả năng tiếp nhận của nhân loại và sự kích thích mạnh mẽ đang diễn ra, mang lại các hiệu ứng khác nhau. Điều này liên quan đến một khát vọng mãnh liệt hơn và một quyết tâm tinh thần mạnh mẽ hơn. Nó cũng báo hiệu một cơ hội có tính chất chưa từng có.

You have been told that when the Buddha came and worked on earth, many aspirants entered the ranks of accepted disciples and many disciples took one or other of the major initiations. There was, therefore, a definite shift of the personnel of the Hierarchy and a great expansion towards Shamballa and, at the same time, towards humanity. When the Christ made His appearance on earth, there was a similar and still greater climaxing effort which culminated in the inclusion of disciples in the Masters’ inner Ashrams. Hitherto, these Ashrams had been kept for those who had taken the first initiation. Before the time of Christ only those who had taken the first initiation and were initiate formed the Ashram. Owing, however, to the growing sensitivity of humanity, it was then decided that disciples could be admitted into the Ashrams and so be mentally and astrally en rapport with the inner group and begin to form part of the Master’s sphere of directed influence.

Bạn đã được biết rằng khi Đức Phật đến và làm việc trên trái đất, nhiều người chí nguyện đã bước vào hàng ngũ các đệ tử chính thức và nhiều đệ tử đã đạt một hoặc vài điểm đạo quan trọng. Do đó, có một sự thay đổi rõ rệt trong nhân sự của Thánh đoàn và một sự mở rộng lớn hướng tới Shamballa và đồng thời hướng tới nhân loại. Khi Đức Christ xuất hiện trên trần gian, cũng có một nỗ lực đỉnh cao tương tự và thậm chí lớn hơn, dẫn đến việc đưa các đệ tử vào các Ashram nội tại của Chân sư. Trước đây, các Ashram này chỉ dành cho những người đã đạt điểm đạo bậc một. Trước thời Đức Christ, chỉ những người đã đạt điểm đạo bậc một và là điểm đạo đồ mới được hình thành Ashram. Tuy nhiên, nhờ vào sự nhạy cảm ngày càng tăng của nhân loại, lúc đó đã quyết định rằng các đệ tử có thể được nhận vào các Ashram và qua đó thiết lập sự hòa điệu tinh thần và cảm xúc với nhóm nội tại và bắt đầu trở thành một phần trong phạm vi ảnh hưởng của Chân sư.

This is the opportunity which is held out today before the aspirants and probationary disciples. This effort might be termed an externalisation of the Ashram. You have been told that it is the intention of the Hierarchy to restore the Mysteries on earth. This is the first step towards that objective. If this embryonic externalisation succeeds in functioning and if those participating in this new effort manage to work with unity, love and understanding, and if this proves so strong as to withstand all disintegrating forces, then it may be possible later to increase the membership, power and size of any Ashram. [696] This lies entirely in the hands of the group. Every new person who is put in touch with the Ashram becomes a definite responsibility. The work of integration and of absorption lies with the Ashram and not with the individual. This is not easily apparent until disciples are accepted and integral parts of the Ashram. Such disciples constitute a definite problem.

Đây là cơ hội hiện hữu ngày nay trước các người chí nguyện và đệ tử dự bị. Nỗ lực này có thể được gọi là sự ngoại hiện của Ashram. Các bạn đã được cho biết rằng Thánh đoàn có ý định khôi phục lại các Bí nhiệm trên trái đất. Đây là bước đầu tiên hướng tới mục tiêu đó. Nếu sự ngoại hiện sơ khai này hoạt động thành công và nếu những người tham gia vào nỗ lực mới này có thể làm việc với sự hợp nhất, tình thương và sự thấu hiểu, và nếu điều này đủ mạnh để chống lại tất cả các mãnh lực phân rã, thì sau này có thể tăng thêm thành viên, quyền năng và quy mô của bất kỳ Ashram nào. [696] Điều này hoàn toàn nằm trong tay của nhóm. Mỗi người mới được kết nối với Ashram trở thành một trách nhiệm rõ ràng. Công việc tích hợp và hấp thụ thuộc về Ashram và không thuộc về cá nhân. Điều này không dễ nhận ra cho đến khi các đệ tử được chấp nhận và trở thành một phần không thể thiếu của Ashram. Những đệ tử như vậy tạo thành một vấn đề rõ ràng.

The question now arises: How does a Master form and organise His Ashram or inner group of which the personnel is provided from the outer group of aspirants? It must surely be apparent to you that a Master, in forming His Ashram, proceeds as automatically as does the Creator. He meditates; He visualises; He speaks and that which He seeks to create and to materialise (in line with the hierarchical Plan) begins to take form. By the power of His focussed and directed thought, He attracts to Him those whose type of mind synchronises with His, because of ray, karmic relationships, point in evolution and love for humanity. In the words focus and direction lie the key to any technique or method of contributing to what I might here call the reservoir of thought which is an Ashram. It is a sustained focus, plus a dynamic direction which makes this reservoir of thought contributory to world service and creatively effective. The important thing for an accepted disciple to grasp is what the Master is seeking to accomplish through the medium of His group. This entails, finally, the enquiry, in the mind of the disciple, as to whether he thinks, focusses and works along lines similar to that of the Master. How close is the disciple to the Master’s thoughts? The Master is prevented by occult law from using any pressure or power in the effort to swing the minds of those whom He is influencing into unison with His. He may not impose His will upon the disciple; His desires, aspirations and wishes must not be the enforced directing agency in the lives of those with whom He is in touch. He may impress their minds with what He feels is needed in periods of world crisis. He can express to them what He feels should be done. But it remains for the disciple to decide and prove. Disciples are in a Master’s group because of similarity of ideas, even though they sense and express those ideas far less clearly than He does and see the vision as through a glass darkly. But their innate convictions are [697] basically the same and their task is to discover the points of contact, the analogous idealism for the group effort and then to submerge their entire individual lives and activities in the recognised effort. Behind this effort stands the Master—an initiating and distributing centre of power.

Câu hỏi được đặt ra bây giờ là: Làm thế nào một Chân sư hình thành và tổ chức Ashram hay nhóm nội tại của Ngài, mà nhân sự được cung cấp từ nhóm bên ngoài của các người chí nguyện? Chắc chắn rằng các bạn có thể nhận thấy rằng một Chân sư, khi hình thành Ashram của Ngài, hành động một cách tự động giống như Đấng Sáng Tạo. Ngài tham thiền; Ngài hình dung; Ngài nói, và những gì Ngài tìm cách sáng tạo và hiện thực hóa (phù hợp với Thiên Cơ của Thánh đoàn) bắt đầu thành hình. Bằng quyền năng của tư tưởng tập trung và được định hướng của Ngài, Ngài thu hút về phía Ngài những người có loại tư duy đồng điệu với Ngài, dựa trên cung, mối quan hệ nhân quả, cấp độ tiến hóa và tình thương dành cho nhân loại. Trong các từ khóa “tập trung” và “định hướng” có chìa khóa cho bất kỳ kỹ thuật hay phương pháp nào nhằm đóng góp vào những gì tôi có thể gọi là kho chứa tư tưởng, chính là một Ashram. Chính sự tập trung bền bỉ, cộng với định hướng năng động, làm cho kho chứa tư tưởng này trở thành nguồn đóng góp cho sự phụng sự thế gian và hiệu quả sáng tạo. Điều quan trọng mà một đệ tử chính thức cần hiểu là Chân sư đang tìm cách đạt được điều gì thông qua nhóm của Ngài. Điều này cuối cùng dẫn đến câu hỏi trong trí đệ tử: liệu y có tư duy, tập trung và làm việc theo cùng phương hướng với Chân sư không? Tư duy của đệ tử gần gũi với tư tưởng của Chân sư đến mức nào? Định Luật huyền linh ngăn cản Chân sư sử dụng bất kỳ áp lực hoặc quyền năng nào để buộc các tâm trí mà Ngài đang ảnh hưởng phải hòa hợp với Ngài. Ngài không thể áp đặt ý chí của Ngài lên đệ tử; những khát vọng, ước muốn và mong muốn của Ngài không thể là tác nhân chỉ đạo bắt buộc trong cuộc sống của những người mà Ngài có liên hệ. Ngài có thể tạo ấn tượng lên tâm trí của họ những gì Ngài cảm thấy là cần thiết trong thời kỳ khủng hoảng thế giới. Ngài có thể bày tỏ với họ những gì Ngài cảm thấy nên làm. Nhưng quyết định cuối cùng và sự thể hiện đều thuộc về đệ tử. Các đệ tử có mặt trong nhóm của Chân sư bởi sự tương đồng ý tưởng, mặc dù họ cảm nhận và thể hiện những ý tưởng đó ít rõ ràng hơn Ngài và nhìn thấy tầm nhìn một cách mờ nhạt. Nhưng niềm tin bẩm sinh của họ về cơ bản là giống nhau, và nhiệm vụ của họ là khám phá những điểm tiếp xúc, lý tưởng tương đồng cho nỗ lực nhóm, và sau đó hòa nhập toàn bộ cuộc sống và các hoạt động cá nhân vào nỗ lực đã được nhận ra. Đằng sau nỗ lực này là Chân sư—một trung tâm khởi xướng và phân phối quyền năng.

Every Ashram or inner group is essentially a reservoir of thought and that reservoir has for its spring or source, the ideas, dreams, vision and aspiration of the Master. This is impulsed by His monadic potency, influenced by the One Who is His Master and developed and fed by His experience, unfolded as His wisdom grew and His capacity to further the hierarchical Plan had been dedicated, used and increased. Then it becomes a clear pool of thought, augmented and fed from the spring of many lives, from the pure vision and consecrated dreams of many disciples.

Mỗi Ashram hoặc nhóm nội tại về bản chất là một kho chứa tư tưởng, và kho chứa này có nguồn gốc từ các ý tưởng, giấc mơ, tầm nhìn và khát vọng của Chân sư. Nó được thúc đẩy bởi năng lượng chân thần của Ngài, chịu ảnh hưởng từ Đấng là Chân Sư của Ngài và được phát triển, nuôi dưỡng bởi kinh nghiệm của Ngài, vốn mở rộng khi minh triết của Ngài tăng trưởng và khả năng phục vụ Thiên Cơ của Thánh đoàn của Ngài được tận hiến, sử dụng và gia tăng. Sau đó, nó trở thành một hồ tư tưởng trong sáng, được làm giàu và nuôi dưỡng từ dòng chảy của nhiều kiếp sống, từ tầm nhìn thuần khiết và những giấc mơ tận hiến của nhiều đệ tử.

To this reservoir of pure thought, every pledged disciple is asked to make his contribution and, if he can do so, it will enable the Ashram to meet the need and help every aspirant to pass off the Probationary Path on to the Path of Accepted Discipleship. Every centre or focus of power has a definite sphere of influence and a true, active Ashram is a positive force within the centre which we call humanity.

Với kho chứa tư tưởng thuần khiết này, mỗi đệ tử đã thệ nguyện được yêu cầu đóng góp phần của mình và, nếu y có thể làm như vậy, điều này sẽ giúp Ashram đáp ứng nhu cầu và giúp mỗi người chí nguyện vượt qua Con Đường Dự Bị để bước vào Con Đường Đệ Tử Chính Thức. Mỗi trung tâm hoặc điểm tập trung quyền năng có một phạm vi ảnh hưởng nhất định và một Ashram thực sự, năng động là một mãnh lực tích cực trong trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại.

The disciple now naturally and rightly questions how thought power and spiritual instinct are related, how they can work constructively and how their interdependence demonstrates. I wonder how I can make the idea clear to you? Let me first call your attention to the fact that it is instinct which leads a disciple to respond to a Master’s call or note, to His vibration and to His group. Instinct, in its early stages, is the name given to the response of the material mechanism to its environing material world—the three worlds of human evolution. Later, upon the evolutionary ladder, the mind appears as an interpreting agency and the nature of the mechanism and of the environment is slowly understood. The relationships become clarified. Spiritual instinct is the capacity of the soul to register contact with the Hierarchy of which the soul is inherently a part, just as in the body a man’s mechanical, instinctual responses, reactions and reflexes are an integral part of the material mechanism. In the case of the spiritual instincts, [698] it is the intuition which interprets and illumines the mind. The power of thought as employed in the work of the Ashram is dependent upon the power of the disciple to focus and raise the conscious mind, to contact the soul and evoke the intuition. When that has been successfully done, then comes the unison of the three factors: mental illumination, soul impulse and intuitive perception. This triple combination will produce that type of thought which will be effective in activity, productive of the Plan, conducive to selflessness and motivated by love.

Bây giờ, một cách tự nhiên và chính đáng, người đệ tử đặt câu hỏi về cách quyền năng tư tưởng và bản năng tinh thần liên quan với nhau, cách chúng có thể làm việc mang tính xây dựng và cách sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng được thể hiện. Tôi tự hỏi làm thế nào tôi có thể làm rõ ý tưởng này cho các bạn? Trước tiên hãy để tôi hướng sự chú ý của các bạn đến thực tế rằng chính bản năng dẫn một đệ tử đáp lại lời kêu gọi hoặc âm điệu của Chân sư, rung động của Ngài và nhóm của Ngài. Bản năng, trong giai đoạn đầu, là tên gọi của sự đáp ứng của bộ máy vật chất đối với thế giới vật chất xung quanh—ba cõi tiến hóa của con người. Sau này, trên thang tiến hóa, thể trí xuất hiện như một cơ quan giải thích và bản chất của bộ máy cùng với môi trường dần dần được hiểu rõ. Các mối quan hệ trở nên sáng tỏ. Bản năng tinh thần là khả năng của linh hồn ghi nhận sự tiếp xúc với Huyền Giai mà linh hồn vốn dĩ thuộc về, giống như trong cơ thể, các phản ứng, phản xạ bản năng cơ học của con người là một phần không thể tách rời của bộ máy vật chất. Trong trường hợp các bản năng tinh thần, chính trực giác là thứ giải thích và soi sáng tâm trí. Quyền năng tư tưởng được sử dụng trong công việc của Ashram phụ thuộc vào khả năng của đệ tử tập trung và nâng cao tâm trí ý thức, để tiếp xúc với linh hồn và khơi dậy trực giác. Khi điều đó được thực hiện thành công, sự hòa hợp của ba yếu tố sẽ xảy ra: sự soi sáng của tâm trí, động lực từ linh hồn và nhận thức trực giác. Sự kết hợp ba yếu tố này sẽ tạo ra loại tư tưởng mang tính hiệu quả trong hoạt động, sản sinh Thiên Cơ, dẫn đến sự vô ngã và được thúc đẩy bởi tình thương.

According to the ability of the group, as a whole, to function under the impetus of the spiritual instinct will be the success of the Master to carry out His plans through the medium of the group. Under divine law, He may not work alone; He cannot work alone. He can inspire, teach, ask for cooperation and give guidance as to the needed work. Beyond that, no Master may go. In this world cycle, the work of the Hierarchy is conditioned by the disciples, and they can well understand, therefore, why the last fetter cast off by a Master is irritation! No initiate can form a true Ashram until all capacity to misunderstand, to express irritation and to criticise has vanished. The power of thought of a Master, if misused, could be a potent destructive force. He must be able to trust Himself before His Ashram can run on right lines and with safety.

Tuỳ theo khả năng của nhóm như một tổng thể, vận hành dưới sự thúc đẩy của bản năng tinh thần, điều đó sẽ quyết định sự thành công của Chân sư trong việc thực hiện kế hoạch của Ngài thông qua nhóm. Theo luật thiêng liêng, Ngài không thể làm việc một mình; Ngài không được phép làm việc một mình. Ngài có thể truyền cảm hứng, giảng dạy, yêu cầu sự hợp tác và hướng dẫn về công việc cần thiết. Ngoài những điều đó, không Chân sư nào được phép đi xa hơn. Trong chu kỳ thế gian này, công việc của Thánh đoàn bị điều kiện hóa bởi các đệ tử, và do đó họ có thể hiểu rõ tại sao ràng buộc cuối cùng mà một Chân sư loại bỏ là sự bực dọc! Không điểm đạo đồ nào có thể hình thành một Ashram chân chính cho đến khi mọi khả năng hiểu sai, biểu hiện sự bực dọc và chỉ trích đã biến mất. Quyền năng tư tưởng của một Chân sư, nếu bị lạm dụng, có thể trở thành một mãnh lực hủy diệt mạnh mẽ. Ngài phải có khả năng tin tưởng vào chính mình trước khi Ashram của Ngài có thể vận hành theo đúng đường hướng và an toàn.

In this work of assembling the necessary thought power for constructive work, the etheric web is definitely involved. It leads then to a reorganisation of the web. Academic explanations do not help the student to understand this. When the mind (the instrument of thought) is the vehicle of soul life, soul light and soul love, and the etheric web is responsive to the inflow of energy from the mind, then the reorganisation of the individual etheric web takes place. The individual etheric body is only a part, an aspect, of the etheric web of humanity; the steady reorganisation of the many parts leads to a transformation of the whole, when enough time has elapsed.

Trong công việc tập hợp quyền năng tư tưởng cần thiết cho công việc xây dựng, mạng lưới dĩ thái chắc chắn liên quan. Điều này dẫn đến sự tái tổ chức của mạng lưới. Những giải thích mang tính học thuật không giúp học viên hiểu được điều này. Khi tâm trí (công cụ của tư tưởng) là phương tiện của đời sống linh hồn, ánh sáng linh hồn và tình thương linh hồn, và mạng lưới dĩ thái phản ứng với sự tuôn tràn năng lượng từ tâm trí, thì sự tái tổ chức mạng lưới dĩ thái cá nhân sẽ diễn ra. Thể dĩ thái cá nhân chỉ là một phần, một khía cạnh, của mạng lưới dĩ thái của nhân loại; sự tái tổ chức bền bỉ của nhiều phần dẫn đến sự biến đổi toàn bộ, khi đủ thời gian trôi qua.

The medium through which this takes place is the Mind. The mind creates or formulates those thoughtforms (or embodied energies) which express, upon the mental plane, the measure of the disciple’s understanding of the Plan, and his [699] ability to convey the embodied mental energy to the etheric body—unimpeded by the emotional nature or by any lower upsurging desire.

Phương tiện thông qua đó điều này diễn ra là Thể Trí. Thể trí tạo ra hoặc hình thành các hình tư tưởng (hoặc các năng lượng được biểu hiện) phản ánh, trên cõi trí, mức độ hiểu biết của đệ tử về Thiên Cơ, và khả năng của y trong việc truyền tải năng lượng trí tuệ được biểu hiện đến thể dĩ thái—không bị cản trở bởi bản chất cảm xúc hoặc bởi bất kỳ ham muốn thấp nào trỗi lên.

The etheric body is a web of light energy, impulsed or motivated by the type or the quality of the energies to which it responds, from the angle of evolutionary development. It might be stated that:

Thể dĩ thái là một mạng lưới năng lượng ánh sáng, được thúc đẩy hoặc động viên bởi loại hoặc chất lượng của các năng lượng mà nó phản ứng, từ góc nhìn tiến hóa. Có thể nói là:

1. Unevolved or savage man responds simply to prana or physical energy, vitalising the appetites of the lower nature, developing the instincts and thus laying the foundation of a physical vehicle as the outer garment of the soul. At this stage, intellect is embryonic; the physical appetites and the five senses are dominating factors. All this is due to the activity of prana as it pours through the etheric or vital body.

1. Con người chưa tiến hóa hoặc hoang dã chỉ phản ứng với prana hoặc năng lượng vật chất, làm sống động các ham muốn của bản chất thấp, phát triển các bản năng và do đó đặt nền móng cho một thể xác như là trang phục bên ngoài của linh hồn. Ở giai đoạn này, trí tuệ đang ở trạng thái phôi thai; các ham muốn vật chất và năm giác quan là những yếu tố thống trị. Tất cả điều này là do hoạt động của prana khi nó tuôn qua thể dĩ thái hoặc thể sinh lực.

2. Average man is impulsed by desire which is an energy, emanating from world desire and which—developing or organising the astral body—generates desire-energy. It pours into the vital body and galvanises physical man into those activities which will lead to the satisfaction of desire. This is a parallel process to the work of prana, impelling the animal instinctive nature into activity. These necessarily parallel and produce conflict—the first clash (within the man) of the pair of opposites. Gradually, the pranic energy becomes automatic in its activity; the shift of the consciousness is into the astral or desire body and the functioning of the instinctual nature drops below the threshold of the consciousness. Man then focusses his life in the astral vehicle and his etheric body becomes animated by the potent inflow of desire-energy.

2. Người trung bình bị thúc đẩy bởi ham muốn, vốn là một năng lượng phát xuất từ thế giới ham muốn, và thông qua việc phát triển hoặc tổ chức thể cảm dục, tạo ra năng lượng ham muốn. Năng lượng này tuôn vào thể sinh lực và kích thích con người vật lý hành động để thỏa mãn ham muốn. Đây là một quá trình song song với công việc của prana, thúc đẩy bản năng động vật hành động. Những điều này tất yếu tạo ra sự song song và xung đột—cuộc đụng độ đầu tiên (bên trong con người) của cặp đối lập. Dần dần, năng lượng prana trở nên tự động trong hoạt động của nó; tâm thức chuyển sang thể cảm dục hoặc thể ham muốn và bản năng tự nhiên rơi xuống dưới ngưỡng ý thức. Con người sau đó tập trung cuộc sống của mình vào thể cảm dục, và thể dĩ thái của y trở nên sống động nhờ dòng năng lượng ham muốn mạnh mẽ.

3. The developed man, with an integrated personality, gradually brings the etheric body under the control of mental energy and his physical plane activity is not then so much implemented by instinct or desire as by thought energy, dedicated to and expressing the nature of the man’s plan. This plan indicates increasingly his intelligent desire—selfish in the early stages, complex and dualistic in the intermediate stages but slowly responding to the world plan and to the divine intent for humanity. [700]

3. Người phát triển, với một phàm ngã tích hợp, dần dần đưa thể dĩ thái dưới sự kiểm soát của năng lượng trí tuệ và các hoạt động trên cõi trần của y sau đó không còn được thực hiện chủ yếu bởi bản năng hay ham muốn, mà bởi năng lượng tư tưởng, được dành cho và biểu hiện bản chất kế hoạch của y. Kế hoạch này ngày càng chỉ ra ham muốn thông minh của y—ích kỷ ở giai đoạn đầu, phức tạp và nhị nguyên trong các giai đoạn trung gian, nhưng dần dần đáp ứng với kế hoạch thế giới và ý định thiêng liêng cho nhân loại.

4. Finally, when the power of the Triangles (the spiritual name given in The Secret Doctrine to the soul) is being imposed upon the personality, then their energy supersedes the other energies and the personality—focussed now in the mind and responsive to soul impression—expresses upon the physical plane, through the medium of the physical brain and the body, the intent, potency and nature of the all-inclusive soul.

4. Cuối cùng, khi quyền năng của Các Tam Giác (tên gọi tinh thần được dùng trong Giáo Lý Bí Nhiệm để chỉ linh hồn) được áp đặt lên phàm ngã, thì năng lượng của chúng vượt qua các năng lượng khác và phàm ngã—giờ tập trung vào thể trí và phản ứng với ấn tượng từ linh hồn—biểu hiện trên cõi trần, thông qua phương tiện não bộ vật lý và cơ thể, ý định, quyền năng và bản chất của linh hồn toàn diện.

The individual etheric web galvanises the automatic physical body into activity. The energies, controlling the physical body through the medium of the etheric web, are the four mentioned above. The conflict in the brain consciousness of the evolving human unit begins to assume importance when the man starts to recognise these controlling energies, their source and their effects.

Thể dĩ thái cá nhân kích hoạt thể xác tự động đi vào hoạt động. Các năng lượng, điều khiển thể xác thông qua trung gian là thể dĩ thái, là bốn loại năng lượng đã được đề cập ở trên. Xung đột trong tâm thức não bộ của đơn vị nhân loại tiến hóa bắt đầu trở nên quan trọng khi con người bắt đầu nhận ra những năng lượng điều khiển này, nguồn gốc và ảnh hưởng của chúng.

It is immediately obvious that the work of the disciple is, therefore, almost entirely within the realm of energy and forces. The study of occultism is the study of forces and of their origin and effects. An Ashram is a place wherein this study enters the laboratory or experimental stage. The disciple is supposed to be in process of becoming aware of the forces and energies which condition him as an individual; these originate within himself and produce changes and specific effects in his life-expression upon the physical plane. When he knows himself to be the “Life and the lives” (as The Secret Doctrine puts it), a sum total of forces and a controlling energy, then he can be a world disciple and work significantly in an Ashram.

Hiển nhiên rằng công việc của đệ tử hầu như hoàn toàn nằm trong lĩnh vực năng lượng và mãnh lực. Nghiên cứu huyền linh học là nghiên cứu về các mãnh lực, nguồn gốc và ảnh hưởng của chúng. Một Ashram là nơi mà nghiên cứu này bước vào giai đoạn thí nghiệm hoặc thực hành. Đệ tử được giả định là đang trong quá trình nhận thức các mãnh lực và năng lượng điều kiện hóa mình với tư cách cá nhân; những năng lượng này bắt nguồn từ chính y và tạo ra những thay đổi cùng các hiệu ứng cụ thể trong biểu hiện đời sống của y trên cõi trần. Khi y biết mình là “Sự Sống và các sự sống” (như Giáo Lý Bí Nhiệm nêu), một tổng thể các mãnh lực và một năng lượng kiểm soát, khi đó y có thể trở thành một đệ tử thế giới và làm việc một cách ý nghĩa trong một Ashram.

It will be apparent to you, therefore, that when a disciple enters into an Ashram and works in closer relation with his Master than heretofore, he begins to collaborate as far as is in him with his fellow disciples; then you have (in terms of occultism) a repetition of the relation between the “Life” of the group (in this case, the Master) and “the lives” (in this case, the disciples), of the central energy and the responding forces. From the Master’s angle of the group problem, duality enters into the group expression. He, the central energy, must work through the forces. From the angle of the disciple, a force (which is himself) is brought into relation with other forces; [701] it must, at the same time, become responsive to an energy, that of the Master. This response comes through the recognition of identity of purpose, of origin and of nature, but not identity in the field of expression. You can see, therefore, that an Ashram is, indeed, a very vortex of forces, set in motion by the many types of energy within the ring-pass-not of the Ashram itself. The basic principles of dualism make themselves felt as the energy of spirit makes its impact upon soul force and personality force. Forget not that a Master expresses monadic energy, whilst disciples in His group are seeking to express soul energy and are doing so, in some measure, through their love and service. To this soul energy, they add personality force which arises from their being, as yet, focussed in the personality life, even whilst aspiring to soul consciousness. Herein lies their usefulness from the Master’s point of view and herein lies their difficulty and—at times—their failure.

Hiển nhiên rằng, khi một đệ tử gia nhập một Ashram và làm việc gần gũi hơn với Chân sư của mình so với trước đây, y bắt đầu hợp tác với các đệ tử đồng môn của mình trong khả năng có thể; khi đó, bạn có (theo thuật ngữ huyền linh học) một sự lặp lại mối quan hệ giữa “Sự Sống” của nhóm (trong trường hợp này là Chân sư) và “các sự sống” (trong trường hợp này là các đệ tử), giữa năng lượng trung tâm và các mãnh lực phản ứng. Từ góc nhìn của Chân sư đối với vấn đề nhóm, nhị nguyên bước vào biểu hiện của nhóm. Ngài, năng lượng trung tâm, phải làm việc thông qua các mãnh lực. Từ góc nhìn của đệ tử, một mãnh lực (chính y) được đưa vào mối quan hệ với các mãnh lực khác; [701] đồng thời, nó phải trở nên đáp ứng với một năng lượng, đó là năng lượng của Chân sư. Sự đáp ứng này đến từ việc nhận ra sự đồng nhất về mục đích, nguồn gốc và bản chất, nhưng không đồng nhất trong lĩnh vực biểu hiện. Do đó, bạn có thể thấy rằng một Ashram thực sự là một cơn lốc mãnh lực, được khởi động bởi nhiều loại năng lượng bên trong vòng-giới-hạn của chính Ashram. Các nguyên tắc cơ bản của nhị nguyên tự thể hiện khi năng lượng tinh thần tác động lên mãnh lực linh hồn và mãnh lực phàm ngã. Đừng quên rằng một Chân sư biểu hiện năng lượng chân thần, trong khi các đệ tử trong nhóm của Ngài đang tìm cách biểu hiện năng lượng linh hồn và đang làm như vậy, ở một mức độ nào đó, thông qua tình thương và phụng sự của họ. Với năng lượng linh hồn này, họ bổ sung mãnh lực phàm ngã, phát sinh từ việc họ vẫn còn tập trung vào đời sống phàm ngã, ngay cả khi đang khao khát ý thức linh hồn. Đây là điểm mà họ hữu ích từ góc nhìn của Chân sư, và cũng là điểm mà họ gặp khó khăn và—đôi khi—thất bại.

Disciples within the Master’s group or the Master’s Ashram have a potent effect upon each other, for everything in their nature is accentuated. The Master has to watch carefully to see that He does not unduly stimulate the disciples’ vehicles through the very fact of His relation to them.

Các đệ tử trong nhóm của Chân sư hoặc trong Ashram của Chân sư có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau, vì mọi điều trong bản chất của họ đều được nhấn mạnh. Chân sư phải quan sát cẩn thận để đảm bảo rằng Ngài không kích thích quá mức các thể của đệ tử thông qua mối quan hệ của Ngài với họ.

The individual disciple has, therefore, to watch the effect of three groups of energies which all make an impact upon him:

Mỗi đệ tử cá nhân, do đó, phải quan sát tác động của ba nhóm năng lượng, tất cả đều ảnh hưởng đến y:

1. Those within his own nature (physical, emotional and mental) and those which come to him from his own soul.

1. Những năng lượng trong bản chất của chính y (vật lý, cảm xúc và trí tuệ) và những năng lượng đến từ linh hồn của y.

2. Those which make an impact upon him as they come to him from other members of the Ashram or group. This effect will be dependent upon his being detached where he himself is concerned and thus responsive to what comes from them. The occult law is that the more you love the more you can respond to and include the point of view, the nature and the force of your fellowmen. This is vitally true also of a group of disciples. What protects most disciples from too great a sensitivity is their preoccupation with themselves and with their own development. [702]

2. Những năng lượng ảnh hưởng đến y khi chúng đến từ các thành viên khác trong Ashram hoặc nhóm. Hiệu ứng này sẽ phụ thuộc vào việc y có thể tách rời khỏi chính bản thân mình hay không, và do đó có thể đáp ứng với những gì đến từ họ. Định Luật huyền linh là: bạn càng yêu thương, bạn càng có thể đáp ứng và bao gồm quan điểm, bản chất và mãnh lực của những người đồng môn. Điều này cũng đặc biệt đúng với một nhóm đệ tử. Điều bảo vệ hầu hết các đệ tử khỏi sự nhạy cảm quá mức là sự bận tâm của họ với chính bản thân mình và sự phát triển cá nhân của họ.

3. Those transmuted forces which come to the disciple from the Master or are definitely transmitted to him by the Master.

3. Những mãnh lực được chuyển hóa đến đệ tử từ Chân sư hoặc được Chân sư truyền trực tiếp cho y.

The goal for all work done by disciples, either in group formation or in the Ashram, is the expression, within the group, of the causal creative process. This is summed up in the words which I have already quoted to you “the Life and the lives.” You have the analogous idea and its sequence of effects in the realisation that the Master (spirit or Monad) reflects Himself in or inspires the disciple (soul) and the latter is thus enabled to demonstrate soul activity upon the physical plane.

Mục tiêu của tất cả các công việc được thực hiện bởi các đệ tử, dù trong nhóm hay trong Ashram, là biểu hiện trong nhóm quá trình sáng tạo nhân quả. Điều này được tóm tắt trong những lời tôi đã trích dẫn với các bạn: “Sự Sống và các sự sống.” Bạn có ý tưởng tương tự và chuỗi các hiệu ứng của nó trong việc nhận ra rằng Chân sư (tinh thần hoặc Chân thần) phản chiếu Ngài trong hoặc truyền cảm hứng cho đệ tử (linh hồn), và từ đó đệ tử có thể biểu hiện hoạt động của linh hồn trên cõi trần.

Teaching on Ashram—

Giáo lý về Ashram

I would like to consider in greater detail the nature of a Master’s group, sometimes called an Ashram. It might be valuable if I endeavoured to define an Ashram to you and so leave you with a clear idea of the difference between a Master’s particular group, and the many outer groups which, though working under His inspiration and upon the Plan, are not definitely and technically His Ashram.

Tôi muốn xem xét chi tiết hơn về bản chất của nhóm Chân sư, đôi khi được gọi là Ashram. Có thể sẽ hữu ích nếu tôi cố gắng định nghĩa Ashram với các bạn và để lại một ý tưởng rõ ràng về sự khác biệt giữa nhóm cụ thể của Chân sư và nhiều nhóm bên ngoài, mặc dù làm việc dưới sự cảm hứng của Ngài và phù hợp với Thiên Cơ, nhưng rõ ràng và về mặt kỹ thuật không phải là Ashram của Ngài.

An Ashram is a subjective fusion of individuals and not of personalities, gathered together for service purposes. It is a blending of individual activity into one whole—a whole which is united on objective and vision but which may (and frequently does) have differing methods and techniques. The work of the Ashram is essentially the presentation to the world of those service purposes which are carried forward as seems best to the individual disciple, under the “impression of the Master” and with the cooperation of His group. A group of disciples is not pledged to do the same type of work in the same way and at the same time. They are pledged to work under the inspiration of their soul, as their souls may direct and dictate, strengthened by contact with the Master and with each other. They are related to each other through identity of vision and of vibration, plus mutual respect and complete freedom—particularly the latter.

Một Ashram là sự hợp nhất chủ quan của các cá nhân, chứ không phải của các phàm ngã, được tập hợp lại với mục đích phụng sự. Đó là sự hòa trộn các hoạt động cá nhân thành một tổng thể—một tổng thể được thống nhất về mục tiêu và tầm nhìn, nhưng có thể (và thường) sử dụng các phương pháp và kỹ thuật khác nhau. Công việc của Ashram về cơ bản là trình bày cho thế giới các mục đích phụng sự, được thực hiện theo cách phù hợp nhất với từng đệ tử cá nhân, dưới “ấn tượng của Chân sư” và với sự hợp tác của nhóm Ngài. Một nhóm đệ tử không cam kết thực hiện cùng một loại công việc theo cùng một cách và cùng một thời điểm. Họ cam kết làm việc dưới sự truyền cảm hứng của linh hồn mình, như linh hồn của họ chỉ dẫn và chỉ đạo, được củng cố bởi sự tiếp xúc với Chân sư và với nhau. Họ liên kết với nhau thông qua sự đồng nhất về tầm nhìn và rung động, cùng với sự tôn trọng lẫn nhau và sự tự do hoàn toàn—đặc biệt là điều sau.

As you ponder on this, I would ask you to realise that an Ashram is not a group of people, working under the tutelage of some Master. This is an important point to remember. It is—as said earlier—a magnetic point of tension, a fusion of [703] energies, directed towards a common centre and involving two magnetic factors:

Khi bạn suy ngẫm về điều này, tôi mong bạn nhận ra rằng một Ashram không phải là một nhóm người, làm việc dưới sự dạy bảo của một Chân sư nào đó. Đây là một điểm quan trọng cần ghi nhớ. Ashram—như đã nói trước đây—là một điểm căng thẳng từ trường, một sự hợp nhất [703] các năng lượng, hướng về một trung tâm chung và bao gồm hai yếu tố từ tính:

1. A united urge towards group formation upon the mental plane. This is the higher correspondence to the herd instinct of the animal world and of the world of men, but is of a spiritual nature and quite differently motivated. The lower herd instinct is motivated largely by the instinct of self-preservation; the higher by the recognition of the immortal nature of the soul, and by the instinct to serve even with the sacrifice of oneself. The law of “death unto life” controls. When the magnetic pull of the group is adequately strong, then comes the death of the personality life. Until, therefore, the group of disciples in all its parts expresses this outgoing sacrificial urge, it is not an Ashram.

1. Một sự thúc đẩy hợp nhất hướng tới việc hình thành nhóm trên cõi trí. Đây là sự tương ứng cao hơn với bản năng bầy đàn của thế giới động vật và của thế giới con người, nhưng mang tính chất tinh thần và có động lực hoàn toàn khác biệt. Bản năng bầy đàn thấp hơn chủ yếu được thúc đẩy bởi bản năng tự bảo tồn; trong khi đó, bản năng cao hơn được thúc đẩy bởi sự nhận thức về bản chất bất tử của linh hồn và bởi bản năng phụng sự, ngay cả khi phải hy sinh bản thân. Định luật “chết để sống” kiểm soát. Khi sức hút từ tính của nhóm đủ mạnh, khi đó xảy ra cái chết của đời sống phàm ngã. Vì vậy, cho đến khi nhóm các đệ tử với tất cả thành viên của mình biểu lộ được khát vọng hy sinh hướng ngoại này, nó chưa phải là một Ashram.

2. The magnetic pull of the positive centre at the very heart of the group; that means the magnetic pull of the Master. As you well know, theoretically at least, at the centre of the Ashram stands ever the Master, or else an initiate or a world disciple. His task is to blend and fuse the energies, tendered and proffered by the group (under the urge to serve) and to indicate the field of service. The mode of this instinctual activity is called occult obedience and this is voluntarily rendered and unitedly followed. When any group—working in this way under a Master—is moved by one spiritual impulse and functions through one firm organisation (like electrons around the positive nucleus in an atom), the potency of the group will become immediately effective and not before.

2. Sức hút từ tính của trung tâm dương ở ngay trung tâm của nhóm; điều đó có nghĩa là sức hút từ tính của Chân sư. Như các bạn đã biết rõ, ít nhất là về mặt lý thuyết, ở trung tâm của Ashram luôn có Chân sư, hoặc một điểm đạo đồ, hoặc một đệ tử thế giới. Nhiệm vụ của Ngài là hòa trộn và dung hợp các năng lượng, được nhóm dâng hiến và cung cấp (dưới sự thúc đẩy để phụng sự) và chỉ ra lĩnh vực phụng sự. Phương thức của hoạt động bản năng này được gọi là sự vâng phục huyền linh và điều này được tự nguyện thực hiện và được tuân theo một cách hợp nhất. Khi bất kỳ nhóm nào—hoạt động theo cách này dưới sự hướng dẫn của một Chân sư—được thúc đẩy bởi một xung lực tinh thần và vận hành thông qua một tổ chức vững chắc (như các electron xoay quanh hạt nhân dương trong một nguyên tử), mãnh lực của nhóm sẽ trở nên hiệu quả ngay lập tức và không thể trước đó.

I would at this point indicate to you that the so-called inner Ashram is to the outer group what the soul and its vision is to the individual disciple, working in his personality vehicles. It is the place of interior resort. Disciples can, therefore, grasp their growth towards fusion as an Ashram (in process of physical exteriorisation) by the development of their spiritual recognition of the inner group potency and their facility to contact the Master—both as individuals or in group formation.

Tại thời điểm này, tôi muốn chỉ ra với các bạn rằng cái gọi là Ashram nội tại đối với nhóm ngoại tại giống như linh hồn và tầm nhìn của nó đối với người đệ tử cá nhân, khi y làm việc thông qua các thể phàm ngã của mình. Đó là nơi nương tựa bên trong. Do đó, các đệ tử có thể nắm bắt sự phát triển của họ hướng tới sự dung hợp như một Ashram (trong quá trình ngoại hiện vật lý) thông qua việc phát triển sự nhận thức tinh thần về mãnh lực của nhóm nội tại và khả năng liên lạc với Chân sư—cả dưới tư cách cá nhân lẫn trong đội hình nhóm.

One of the things which a Master has to do is to teach His disciples to study and register truthfully their usual point of [704] daily focus. This constitutes the true introspective training, and when followed sanely and wisely leads to the realisation of the true, persistent, inner level of consciousness; it fosters also a recognition of the need to overcome limitation (frequently not the limitations usually registered) and the necessity for breaking the barriers imposed by the personality. This whole process might be summed up in the following words: The purpose of the Ashram and the training which it gives is to enable the disciple to live truly on every plane which he has succeeded in opening up to his consciousness. It is important to remember that no one is integrated into an Ashram until he has pierced beyond the confines of the purely personal levels of awareness; until he is sensitive to the ray and quality of the Master of the Ashram, and until he is normally soul conscious. The achievement of this involves great responsibility, and it is the shouldering of this responsibility which brings about the first indications of what I might call “ashramic consciousness”—a consciousness devoid of self-interest and always preoccupied with the essentials of spiritual living.

Một trong những điều mà một Chân sư phải làm là dạy các đệ tử của Ngài nghiên cứu và ghi nhận một cách trung thực điểm tập trung thông thường của họ trong [704] đời sống hàng ngày. Đây chính là sự huấn luyện nội quán thực sự, và khi được thực hiện một cách khôn ngoan và lành mạnh, nó dẫn đến sự nhận thức về mức độ tâm thức nội tại thực sự, bền bỉ; đồng thời thúc đẩy sự nhận biết về nhu cầu vượt qua các giới hạn (thường không phải là những giới hạn mà đệ tử thường ghi nhận) và sự cần thiết phải phá vỡ các rào cản do phàm ngã áp đặt. Toàn bộ quá trình này có thể được tóm tắt trong những lời sau: Mục đích của Ashram và sự huấn luyện mà nó cung cấp là để giúp đệ tử sống thực sự trên mọi cõi mà y đã mở ra trong tâm thức của mình. Điều quan trọng cần ghi nhớ là không ai được hợp nhất vào một Ashram cho đến khi y vượt qua được những giới hạn của các mức độ nhận thức thuần túy cá nhân; cho đến khi y trở nên nhạy cảm với cung và phẩm chất của Chân sư của Ashram, và cho đến khi y bình thường có ý thức linh hồn. Việc đạt được điều này đòi hỏi trách nhiệm lớn lao, và chính việc gánh vác trách nhiệm này mang lại những dấu hiệu đầu tiên của điều mà tôi có thể gọi là “tâm thức ashram” — một tâm thức không còn quan tâm vào bản thân và luôn tập trung vào những yếu tố cốt yếu của đời sống tinh thần.

The primary preoccupation of chelas at the beginning of their technical training is of a very varied nature and the Ashram life is usually merely an interesting background for daily experience and not the factor of importance which it should be, and not the main interest in the foreground of the consciousness. The necessities of daily living, the many and diverse family contacts, the resentments against life and its impacts, a dislike of criticism and of being misunderstood, the many problems of character, the pressures of psychic unfoldment and the pettinesses2 of circumstance frequently loom3 so large that awareness of the Ashram and its life is only an occasional inspiration instead of a fixed habit of life. The ability to make comparisons to the detriment4 of others (particularly of one’s own fellow disciples or of one’s own circumstances), the fear to let go and throw all one is and has [những gì mà y có] into the life of the Ashram, foreboding5 as to the future and a host of mental thoughtforms, plus undue attention to the cyclic life of the physical body, present the Master with an appalling picture of the liabilities with which He is confronted. The factor of the attitude of the Master is one which disciples are very [705] apt to forget because they are so basically interested in themselves and in their reactions and problems.

Mối bận tâm chính của các đệ tử ở giai đoạn đầu huấn luyện kỹ thuật của họ có bản chất rất đa dạng và đời sống Ashram thường chỉ đơn thuần là một bối cảnh thú vị cho trải nghiệm hàng ngày, chứ không phải là yếu tố quan trọng như lẽ ra nó phải là, và không phải là mối quan tâm chính ở tiền cảnh của tâm thức. Những nhu cầu của đời sống hàng ngày, các mối liên hệ gia đình đa dạng, sự oán giận đối với cuộc sống và các tác động của nó, sự không thích bị phê bình và bị hiểu lầm, nhiều vấn đề về tính cách, áp lực của sự khai mở tâm linh và những hoàn cảnh nhỏ nhặt thường nổi bật đến mức sự nhận thức về Ashram và đời sống của nó chỉ thỉnh thoảng mang lại cảm hứng thay vì là một thói quen cố định trong đời sống. Khả năng so sánh gây bất lợi cho người khác (đặc biệt là các đệ tử đồng môn hoặc hoàn cảnh của chính mình), nỗi sợ buông bỏ và dồn toàn bộ những gì mình có vào đời sống Ashram, những lo âu về tương lai và một loạt các hình tư tưởng trí tuệ, cùng với sự chú ý quá mức đến chu kỳ đời sống thể xác, mang đến cho Chân sư một bức tranh đáng sợ về những hạn chế mà Ngài phải đối mặt. Thái độ của Chân sư là một yếu tố mà các đệ tử [705] rất dễ quên vì họ quá cơ bản quan tâm đến bản thân mình, phản ứng và các vấn đề của họ.

It might here be noted that disciples in an Ashram are primarily occupied with world affairs. As a group they are pledged to world work; as individuals, they are learning so to work. Would-be disciples need to distinguish between the effect (magnetic and dynamic) of the group and the conscious effort which the group may make, under united desire and the direction of the Master, to reach the minds of those directing world affairs and world happenings. The outer happenings are, to a certain point, predictable; they are the precipitated effects of hidden causes which lie deep in the subconsciousness of humanity. These can be noted and (up to a certain point) offset or stimulated by the group potency. This is one of the major tasks of the Hierarchy. The Masters work in the light and in the realm of causes. Disciples are as yet necessarily involved in the world of effects and, therefore, of illusion.

Cần lưu ý rằng các đệ tử trong một Ashram chủ yếu quan tâm đến các vấn đề thế giới. Như một nhóm, họ cam kết làm công việc cho thế giới; còn với tư cách cá nhân, họ đang học cách làm việc như vậy. Những người muốn trở thành đệ tử cần phân biệt giữa tác động (từ tính và năng động) của nhóm và nỗ lực có ý thức mà nhóm có thể thực hiện, dưới sự khao khát hợp nhất và sự hướng dẫn của Chân sư, để tiếp cận tâm trí của những người điều hành các công việc và sự kiện trên thế giới. Các sự kiện bên ngoài, đến một mức độ nào đó, có thể được dự đoán; chúng là các hiệu quả được ngưng tụ từ những nguyên nhân ẩn giấu nằm sâu trong tiềm thức của nhân loại. Những điều này có thể được nhận biết và (ở một mức độ nhất định) hóa giải hoặc kích thích bởi mãnh lực của nhóm. Đây là một trong những nhiệm vụ chính của Thánh đoàn. Các Chân sư làm việc trong ánh sáng và trong cõi nguyên nhân. Các đệ tử, cho đến nay, vẫn tất yếu bị cuốn vào thế giới của các hiệu quả và, do đó, của ảo tưởng.

To work dominantly with the focal points of spiritual energy upon the outer plane immediately involves certain factors:

Để làm việc chủ yếu với các điểm tập trung năng lượng tinh thần trên cõi bên ngoài ngay lập tức đòi hỏi một số yếu tố:

1. A deep unerring love which “sees” in the light. Love is truly the revealer.

1. Một tình thương sâu sắc, không sai lạc, vốn thứ “thấy” trong ánh sáng. Tình thương thực sự là yếu tố soi sáng.

2. The power to withdraw completely, as individuals and as a group, from the world of physical reactions, emotional biases, and to work purely on mental levels. There the disciple is focussed in his lower mind, but consciously oriented towards the soul and is becoming increasingly sensitive to the intuition and towards the vision and the Plan, as well as towards the group soul and to the Master—all in this order of response.

2. Quyền năng rút lui hoàn toàn, cả với tư cách cá nhân và nhóm, khỏi thế giới của các phản ứng trần gian, thiên kiến cảm xúc, và làm việc thuần túy trên các cấp độ trí tuệ. Ở đó, đệ tử tập trung trong hạ trí của mình, nhưng được định hướng có ý thức về phía linh hồn và ngày càng nhạy cảm với trực giác, với “tầm nhìn và Thiên Cơ”, cũng như đối với linh hồn nhóm và Chân sư—tất cả theo thứ tự đáp ứng này.

3. Next follows the power, as a group, to formulate the desired thought-effect in such a manner that it will reach the mind or the soul of those you seek to contact, to project the thoughtform, built in such a way that it will be of the type and quality needed to evoke response, and so meet the need of those the disciple is seeking to help and strengthen. The projected thoughtform will embody the light and love, as well as the idea of the group in conformity with group vision. [706]

3. Tiếp theo là năng lực, như một nhóm, để hình thành tư tưởng được mong muốn theo cách mà nó sẽ tiếp cận được thể trí hoặc linh hồn của những người mà các bạn tìm cách tiếp xúc, để phóng chiếu hình tư tưởng, được xây dựng theo cách thức phù hợp với loại hình và phẩm chất cần thiết nhằm gợi lên phản hồi, và như vậy đáp ứng được nhu cầu của những người mà đệ tử đang tìm cách giúp đỡ và củng cố. Hình tư tưởng được phóng chiếu sẽ bao hàm ánh sáng và tình thương, cũng như ý tưởng của nhóm, phù hợp với tầm nhìn của nhóm.

For how many is this kind of work possible? Not many, as yet. Disciples are usually more preoccupied with their desire to help than with the scientific techniques of helping. They need to take the desire for granted and then forget about it. I would ask all disciples at this time to make it their major effort to see the vision clear; to recognise, and know for what they are, those who are in high position, guiding humanity and whose responsibility it is to lead humanity out of slavery into freedom. Aid them with love because they are where they are through their individual destiny and the guidance of their souls. Life must be seen truly and faced as it is—not realistically from the world standpoint but realistically from the standpoint of the soul, whose vision is long and inclusive and who sees life as it is.

Có bao nhiêu người có thể thực hiện công việc này? Hiện tại, không nhiều. Các đệ tử thường bị chi phối nhiều hơn bởi khát vọng giúp đỡ của họ hơn là bởi các kỹ thuật khoa học trong việc giúp đỡ. Họ cần coi khát vọng đó là điều hiển nhiên và sau đó quên nó đi. Tôi mong muốn tất cả các đệ tử trong thời điểm này nỗ lực chính yếu để thấy rõ tầm nhìn; nhận biết và hiểu đúng bản chất của những người đang ở vị trí cao, dẫn dắt nhân loại và chịu trách nhiệm đưa nhân loại thoát khỏi cảnh nô lệ để đến với tự do. Hãy trợ giúp họ bằng tình thương vì họ đang ở vị trí của họ do định mệnh cá nhân và sự hướng dẫn của linh hồn họ. Cuộc sống phải được nhìn nhận một cách chân thật và đối mặt với nó như nó vốn có—không phải thực tế từ quan điểm thế gian, mà là thực tế từ quan điểm của linh hồn, với tầm nhìn dài hạn, bao gồm mọi thứ, và thấy cuộc sống như nó thật sự là.

The acceptance of facts is one of the first duties of a disciple. In the task of aiding humanity, as a part of the Master’s group or Ashram, the fact that there are men and women placed in positions of power to carry out the divine plan is one of the first to be faced. This must be done uncritically, avoiding constant recognition of their limitations, with an understanding of their problem, with realisation of the call of their souls to yours and the pouring upon them of a constant stream of “loving understanding.” They are more advanced disciples than you are—little as this may be realised. They are—consciously or unconsciously—under the “impression” of the Masters; there is little that the average disciple can do for them in moulding their thought or in shaping their decisions. I refer of course to the leaders of the Forces of Light upon the outer physical plane. But disciples and aspirants can surround them with a guarding wall of light and love; they can refrain from handicapping them with thoughts of criticism which can swell the tide of criticism which the worldly minded pour out upon them. As to attempting to reach and influence the leaders of the forces of materialism, I would ask you to refrain. It can more easily be done because the personality of the disciple will provide an open door of approach. But they are far stronger than the average disciple and the task would, therefore, be one of extreme danger. [707]

Việc chấp nhận thực tế là một trong những nhiệm vụ đầu tiên của một đệ tử. Trong nhiệm vụ hỗ trợ nhân loại, với tư cách là một phần của nhóm hoặc Ashram của Chân sư, thực tế rằng có những người nam và nữ được đặt vào các vị trí quyền lực để thực hiện Thiên Cơ là một trong những thực tế đầu tiên cần được đối mặt. Điều này phải được thực hiện một cách không phê phán, tránh việc liên tục nhận ra những giới hạn của họ, với sự thấu hiểu vấn đề của họ, với nhận thức về lời kêu gọi từ linh hồn của họ tới linh hồn của bạn và việc tuôn đổ lên họ một dòng chảy liên tục của “sự thấu hiểu yêu thương”. Họ là những đệ tử tiên tiến hơn bạn—dù điều này ít được nhận ra. Họ—có ý thức hoặc vô thức—đang chịu sự “ấn tượng” của các Chân sư; có rất ít điều mà đệ tử trung bình có thể làm cho họ trong việc định hình tư tưởng hoặc quyết định của họ. Tất nhiên Tôi đang nói đến các nhà lãnh đạo của Các Lực Lượng Ánh Sáng trên cõi trần. Nhưng các đệ tử và người chí nguyện có thể bao bọc họ trong một bức tường ánh sáng và tình thương; các bạn có thể kiềm chế không làm họ bị cản trở bởi những suy nghĩ phê phán, những suy nghĩ này có thể làm gia tăng dòng chảy phê phán mà những người thế tục đổ dồn lên họ. Còn về việc cố gắng tiếp cận và ảnh hưởng các nhà lãnh đạo của các mãnh lực vật chất, tôi yêu cầu bạn kiềm chế. Điều này có thể dễ dàng hơn vì phàm ngã của đệ tử sẽ cung cấp một cánh cửa mở để tiếp cận. Nhưng họ mạnh mẽ hơn nhiều so với đệ tử trung bình và nhiệm vụ này, do đó, sẽ là một nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm.

In the Aquarian Age (which is now so near, relatively speaking), there will be an externalisation of the inner Ashram upon the outer plane. Disciples, initiates and world disciples will meet for the first time in human history as disciples, recognising each other and recognising the Master of their group. The inner Ashram is a focus of souls, free and unlimited; the outer Ashram—under the future Aquarian experiment—will be composed of a focus of personalities and souls. Limitation will, therefore, exist; responsibility will require conscious recognition and there will be a necessary slowing down of both action and perception in the outer space-time world.

Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình (hiện đang rất gần, nói một cách tương đối), sẽ có sự ngoại hiện của Ashram nội tại lên cõi ngoài. Các đệ tử, điểm đạo đồ và các đệ tử thế giới sẽ lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại gặp gỡ nhau với tư cách là các đệ tử, nhận ra nhau và nhận ra Chân sư của nhóm họ. Ashram nội tại là một trung tâm của các linh hồn, tự do và không bị giới hạn; Ashram ngoại hiện—trong thí nghiệm tương lai của Kỷ Nguyên Bảo Bình—sẽ bao gồm một trung tâm của các phàm ngã và linh hồn. Do đó, sẽ có những hạn chế; trách nhiệm sẽ đòi hỏi sự nhận thức có ý thức và sẽ có sự chậm lại cần thiết của cả hành động và nhận thức trong thế giới không gian-thời gian bên ngoài.

The true Ashram (of which the coming outer Ashrams will be but reflections) is not for lower concrete mind discussion. It is a focal point of receptivity; it embraces the effort to establish mutual contact through an united recognition of the vision, of the esoteric basis of life and the laws governing action. It is not a place, however, for long and silent meditation processes, for it is a point of tension where, together, the Ageless Wisdom in its more esoteric aspects is discussed, where the nature of soul relationship is recognised and where the fusion of auras and the inter-blending of the “Triangles” goes forward consciously. An Ashram is the state of mind of a spiritual group. It is a point of united thought; it is a centre for the clarification of the vision and not of physical plane methods of work. As disciples learn to integrate themselves into a Master’s Ashram, they discover that the first thing they have to do is to establish a basic harmony between themselves and their fellow disciples and to reinforce the contact between their own souls, the ashramic group and the Master. Then they learn to comprehend—through discussion and experiment—the nature of the energies which are seeking world expression, and the nature of the forces which must be reduced to powerlessness, if these new incoming energies are to prove effective in bringing about the desired changes under the Plan.

Ashram chân thực (mà các Ashram ngoại hiện sắp tới sẽ chỉ là phản ánh) không phải là chủ đề để bàn luận bằng hạ trí cụ thể. Đây là một điểm tập trung tiếp nhận; nó bao hàm nỗ lực thiết lập sự tiếp xúc lẫn nhau thông qua sự công nhận thống nhất về tầm nhìn, cơ sở huyền linh của sự sống và các định luật chi phối hành động. Tuy nhiên, nó không phải là nơi dành cho các quá trình tham thiền dài và im lặng, mà là một điểm của sự tập trung, nơi Minh Triết Ngàn Đời trong các khía cạnh huyền linh hơn của nó được thảo luận cùng nhau, nơi bản chất của mối quan hệ linh hồn được nhận ra và nơi sự hòa nhập của các hào quang và sự hòa trộn của các “Tam giác” diễn ra một cách có ý thức. Một Ashram là trạng thái trí tuệ của một nhóm tinh thần. Nó là một điểm của tư duy thống nhất; nó là trung tâm để làm sáng tỏ tầm nhìn chứ không phải các phương pháp làm việc trên cõi trần. Khi các đệ tử học cách tích hợp mình vào một Ashram của Chân sư, họ nhận ra rằng điều đầu tiên họ phải làm là thiết lập sự hòa hợp cơ bản giữa họ và các đệ tử đồng môn của mình và củng cố sự tiếp xúc giữa linh hồn của họ, nhóm ashram và Chân sư. Sau đó, họ học cách hiểu—thông qua thảo luận và thực nghiệm—bản chất của các năng lượng đang tìm kiếm biểu hiện thế giới, và bản chất của các mãnh lực cần phải được vô hiệu hóa, nếu các năng lượng mới đang đến này có thể mang lại những thay đổi mong muốn theo Thiên Cơ.

They learn also that there is no weakness and no strength in themselves, as individuals, which may not be submitted to the group “gaze”; thus they arrive at the stripping away of all the “veils” which prevent the clear light of the soul from shining [708] forth. The goal of all work done in the Ashram of any of the Masters is Truth—on all levels and at all times. As disciples learn thus to work from the point or centre of light, understanding and truth into which they are being steadily integrated, their exoteric usefulness and effective service will be greatly increased; they will—as a group—know what has to be done and find eventually that it is done.

Họ cũng học được rằng không có sự yếu kém hay sức mạnh nào trong bản thân họ, với tư cách cá nhân, mà không thể được đưa ra trước “cái nhìn” của nhóm; nhờ đó, họ đạt tới việc lột bỏ tất cả các “màn che” ngăn cản ánh sáng rõ ràng của linh hồn chiếu rọi. Mục tiêu của mọi công việc được thực hiện trong Ashram của bất kỳ Chân sư nào là Chân lý—trên mọi cấp độ và vào mọi thời điểm. Khi các đệ tử học cách làm việc từ điểm hoặc trung tâm ánh sáng, sự hiểu biết và chân lý mà họ đang dần được hòa nhập, tính hữu ích ngoại hiện và khả năng phụng sự hiệu quả của họ sẽ tăng lên rất nhiều; Với tư cách một nhóm, họ sẽ biết cần phải làm gì và cuối cùng nhận thấy rằng điều đó đã được hoàn thành.

The major task of the Master in the early stages of training His disciple is to bring to an end the period of the disciple’s intense preoccupation with himself, with his service, with his reaction to the Master or the promise of future contact with the Master, with his own ideas anent discipleship and his personal interpretations of truth. The Master takes a group of people with fixed ideas (which they are entirely sure are correct, being the best and highest they have been able to grasp to date) and with the conviction that they have reached a point where they have registered certain spiritual values and concepts, where they have evolved their own formulations of truth and where they are eagerly demanding the next step. The first thing, therefore, which He has to do is (using a strong and perhaps a strange phrase) to blast them wide open, give them a deep sense of insecurity as to the formulas and symbols of the lower concrete mind and so prepare them for the reception of newer and higher approaches to truth. This is frequently brought about by forcing them to question all the conclusions of the past.

Nhiệm vụ chính của Chân sư trong các giai đoạn đầu đào luyện đệ tử của Ngài là chấm dứt thời kỳ đệ tử bị ám ảnh mạnh mẽ với chính mình, với sự phụng sự của mình, với phản ứng của y đối với Chân sư hoặc lời hứa về sự tiếp xúc trong tương lai với Chân sư, với các ý tưởng riêng của y về địa vị đệ tử và các diễn giải cá nhân của y về chân lý. Chân sư tiếp nhận một nhóm người với các ý tưởng cố định (mà họ hoàn toàn chắc chắn là đúng, vì đó là những điều tốt nhất và cao nhất mà họ có thể nắm bắt được đến thời điểm hiện tại) cùng với niềm tin rằng họ đã đạt đến điểm mà họ đã ghi nhận được các giá trị và khái niệm tinh thần nhất định, nơi họ đã phát triển các công thức chân lý của riêng mình và nơi họ đang nồng nhiệt yêu cầu bước tiếp theo. Do đó, điều đầu tiên Ngài phải làm (sử dụng một cụm từ mạnh mẽ và có lẽ lạ lẫm) là “phá vỡ” họ hoàn toàn, mang đến cho họ một cảm giác bất an sâu sắc đối với các công thức và biểu tượng của hạ trí cụ thể và chuẩn bị họ để đón nhận các cách tiếp cận mới mẻ và cao hơn đối với chân lý. Điều này thường được thực hiện bằng cách buộc họ phải đặt câu hỏi về tất cả những kết luận của quá khứ.

We have all—disciples and initiates of all degrees—to enter the secret place of initiation with a sense of blindness (or loss of direction) and with a feeling of complete destitution. The disciple needs to bear in mind that he has to become “a moving point and hence a line”; he ascends towards the Hierarchy and assumes the correct spiritual attitude but, at the same time, he descends into what he erroneously regards as the depth of human difficulty and iniquity (if necessary), preserving always his spiritual integrity but learning three important lessons:

Chúng ta—các đệ tử và điểm đạo đồ ở mọi cấp độ—đều phải bước vào nơi bí mật của điểm đạo với cảm giác mù lòa (hoặc mất phương hướng) và với cảm giác hoàn toàn trơ trọi. Người đệ tử cần ghi nhớ rằng y phải trở thành “một điểm chuyển động và do đó là một đường thẳng”; y thăng lên hướng tới Thánh đoàn và tiếp nhận thái độ tinh thần đúng đắn, nhưng đồng thời y cũng đi xuống vào điều mà y sai lầm coi là chiều sâu của khó khăn và bất công của nhân loại (nếu cần thiết), luôn duy trì sự chính trực tinh thần của mình nhưng học được ba bài học quan trọng:

1. The recognition that he shares all human tendencies, good and bad, and hence is able to serve.

1. Nhận ra rằng y chia sẻ mọi khuynh hướng của con người, tốt và xấu, do đó có thể phụng sự.

2. The discovery that the thing which he most despises and fears is the thing which exists most strongly in him, but [709] which is as yet unrecognised. He discovers also that he has to explore and know these despised and feared areas of consciousness so that they become eventually an asset, instead of something to be avoided. He learns to fear nothing; he is all things; he is a human being but he is also a mystic, an occultist, a psychic and a disciple. And—because of all these acquired states of consciousness—he becomes eventually a Master. He has “mastered” all stages and states of awareness.

2. Khám phá ra rằng điều mà y khinh miệt và sợ hãi nhất chính là điều tồn tại mạnh mẽ nhất trong y, nhưng [709] hiện tại chưa được nhận biết. Y cũng khám phá rằng y phải khám phá và hiểu rõ những lĩnh vực tâm thức mà y khinh miệt và sợ hãi để cuối cùng chúng trở thành tài sản thay vì điều cần tránh. Y học cách không sợ hãi bất cứ điều gì; y là mọi thứ; y là một con người nhưng cũng là một nhà thần bí, một nhà huyền bí, một người thông linh và một đệ tử. Và—nhờ tất cả những trạng thái tâm thức đạt được này—cuối cùng y trở thành một Chân sư. Y đã “thành thạo” mọi giai đoạn và trạng thái của nhận thức.

3. The uselessness of past attitudes and dogmatic ways of looking at life and people (based usually on tradition and circumstance) when they separate him from his fellowmen.

3. Sự vô ích của các thái độ cũ và cách nhìn mang tính giáo điều về cuộc sống và con người (thường dựa trên truyền thống và hoàn cảnh) khi chúng tách biệt y khỏi đồng loại của mình.

When he has really learnt these three things, he is initiate.

Khi y đã thực sự học được ba điều này, y là điểm đạo đồ.