Trích nội dung chương
“I want to go back to the high heavenly worlds where I can be more my true self. I don’t want to continue subjected to the conditions of the lower life,” or sometimes as translated: “I know this is my last incarnation.” Why? Because it’s so painful here, and “I know this is my last incarnation.” “Tôi muốn trở về các cõi trời cao, nơi tôi có thể sống đúng với bản chất chân thật của mình hơn. Tôi không muốn tiếp tục chịu những điều kiện của sự sống thấp hơn,” hoặc đôi khi được diễn đạt thành: “Tôi biết đây là kiếp nhập thể cuối cùng của tôi.” Tại sao? Bởi ở đây quá đau đớn, và “Tôi biết đây là kiếp nhập thể cuối cùng của tôi.”
“I want to go back to the high heavenly worlds where I can be more my true self. I don’t want to continue subjected to the conditions of the lower life,” or sometimes as translated: “I know this is my last incarnation.” Why? Because it’s so painful here, and “I know this is my last incarnation.”
“Tôi muốn trở về các cõi trời cao, nơi tôi có thể sống đúng với bản chất chân thật của mình hơn. Tôi không muốn tiếp tục chịu những điều kiện của sự sống thấp hơn,” hoặc đôi khi được diễn đạt thành: “Tôi biết đây là kiếp nhập thể cuối cùng của tôi.” Tại sao? Bởi ở đây quá đau đớn, và “Tôi biết đây là kiếp nhập thể cuối cùng của tôi.”
Not very rational.
Không hợp lý cho lắm.
“He sought the Throne on high and Him who sat thereon. (EP II, pp. 98–99)
“Ngài tìm đến Thánh Ngai trên cao và Đấng ngự trên đó. (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 98–99)
Which I believe will be the logos.
Tôi tin rằng Đấng ấy là Thượng đế.
He said “I sought not this. I looked for peace, for light, for scope to serve, to prove my love and to reveal my power. Light there is none. Peace is not found. Let me return.” (EP II, pp. 98–99)
Ngài nói: “Tôi không tìm kiếm điều này. Tôi tìm sự bình an, ánh sáng, phạm vi để phụng sự, để chứng tỏ tình thương và bộc lộ quyền năng của mình. Không có ánh sáng. Không tìm thấy bình an. Xin cho Tôi trở về.” (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 98–99)
He would have to generate these things from himself, would he not? It's as if he thought there would be more assistance to his intention than there actually was.
Ngài sẽ phải tự tạo ra những điều này từ chính mình, phải không? Dường như Ngài đã nghĩ rằng ý định của mình sẽ nhận được nhiều sự trợ giúp hơn thực tế.
But He Who sat upon the Throne turned not his head. (EP II, pp. 98–99)
Nhưng Đấng ngự trên Thánh Ngai không ngoảnh đầu. (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 98–99)
The Solar Logos did not, it seems, acknowledge the request to return and abandon the incarnation that was taken.
Dường như Thái dương Thượng đế không đáp lại lời thỉnh cầu được trở về và từ bỏ kiếp nhập thể đã nhận lấy.
He seemed not e’en to listen nor to hear. (EP II, pp. 98–99)
Dường như Ngài thậm chí không lắng nghe, cũng chẳng nghe thấy. (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 98–99)
But as is often the case, something circumstantial happens which turns the mind and intention of the one who would return.
Nhưng như thường xảy ra, một sự việc trong hoàn cảnh xuất hiện, làm chuyển hướng thể trí và ý định của người muốn trở về.
I remember in the sixth ray formula
Tôi nhớ trong công thức cung sáu
“How shall I break my tunnel down? How can I find a way?” No answer came.... (EP II, pp. 170–171)
“Làm sao tôi phá bỏ đường hầm của mình? Làm sao tôi tìm được một lối đi?” Không có lời đáp.... (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 170–171)
Another pilgrim in the dark came up, and groping, found the Follower. “Lead me and others to the Light,” (EP II, pp. 170–171)
Một người hành hương khác trong bóng tối tiến đến, và qua dò dẫm, tìm thấy Người Đi Theo. “Hãy dẫn tôi và những người khác đến Ánh sáng,” (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 170–171)
And the follower had no choice but to acquiesce out of understanding, pity, compassion.
Và người đi theo không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thuận theo vì thấu hiểu, thương xót và từ bi.
Having trodden that road himself, he was now in a position to become a leader, no longer the follower. So, circumstances indicated what must be done.
Vì chính y đã đi trên con đường ấy, giờ đây y có thể trở thành người dẫn đường, không còn là người đi theo nữa. Như vậy, hoàn cảnh chỉ ra điều phải làm.
But from the lower sphere of darkness and of pain (EP II, pp. 98–99)
Nhưng từ khối cầu thấp hơn của bóng tối và khổ đau (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 98–99)
I suppose the lower sphere is very much the three lower systemic worlds, although from another perspective we can consider it the 18 lower subplanes, which are systemic.
Tôi cho rằng khối cầu thấp hơn này rất có thể là ba cõi thấp thuộc hệ mặt trời, mặc dù từ một góc nhìn khác, chúng ta có thể xem đó là 18 cõi phụ thấp hơn thuộc hệ mặt trời.
from the lower sphere of darkness and of pain
từ khối cầu thấp hơn của bóng tối và khổ đau
a voice came forth and cried: “We suffer here. We seek the light. We need the glory of an entering God. (EP II, pp. 98–99)
một tiếng nói vang lên và kêu rằng: “Chúng tôi chịu đau khổ nơi đây. Chúng tôi tìm ánh sáng. Chúng tôi cần vinh quang của một Thượng đế đang tiến vào. (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 98–99)
[I can find no other words except these last two to express the ancient symbol from which I am translating.] (EP II, pp. 98–99)
[Tôi không tìm được từ nào khác ngoài hai từ cuối này để diễn đạt biểu tượng cổ xưa mà Tôi đang dịch.] (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 98–99)
The Tibetan has learned to read these things and we will have to learn this type of interpretation as well.
Chân sư Tây Tạng đã học cách đọc những điều này, và chúng ta cũng sẽ phải học cách diễn giải như thế.
Lift us to Heaven. Enter, O Lord, the tomb. (EP II, pp. 98–99)
Xin nâng chúng tôi lên Thiên giới. Lạy Chúa Tể, xin bước vào ngôi mộ. (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 98–99)
The tomb as the lower worlds—the resurrection of the Master Jesus from the lower worlds, the dense worlds, into the etheric worlds.
Ngôi mộ là các cõi thấp—sự phục sinh của Chân sư Jesus từ các cõi thấp, các cõi đậm đặc, lên các cõi dĩ thái.
Enter, O Lord, the tomb.
Lạy Chúa Tể, xin bước vào ngôi mộ.
Raise us into the light and make the sacrifice. Break down for us the prison wall and enter into pain.” (EP II, pp. 98–99)
Xin nâng chúng tôi vào ánh sáng và thực hiện sự hy sinh. Xin phá đổ bức tường ngục tù cho chúng tôi và bước vào khổ đau.” (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 98–99)
Rather irresistible words, and one can think of those who may call out to us in a similar way and who, when we were self-aware monads contemplating the great journey, called to us in a similar manner.
Những lời khá khó cưỡng, và người ta có thể nghĩ đến những Đấng có thể kêu gọi chúng ta theo cách tương tự, những Đấng đã gọi chúng ta như thế khi chúng ta còn là những chân thần tự nhận biết, đang chiêm ngưỡng cuộc hành trình vĩ đại.
In a way we are part of the descent, being cells within the Planetary Logos, part of his descent into the lower worlds of pain.
Theo một cách nào đó, chúng ta là một phần của sự giáng xuống, vì là những tế bào bên trong Hành Tinh Thượng Đế, chúng ta tham dự vào sự giáng xuống của Ngài vào những cõi thấp đầy đau khổ.
The Lord of Life returned. He liked it not, and hence the pain.” (EP II, pp. 98–99)
Chúa Tể của Sự Sống đã trở lại. Ngài không thích điều đó, và vì thế mà có đau khổ.” (Tâm Lý Học Nội Môn II, tr. 98–99)
Because there is resistance against the task, and the pain we experience has something to do psychologically on a planetary level with the attitude of our Planetary Logos as a divine rebel, and to a certain extent all of us are sharing that attitude, because we are, in a sense, no matter where our monadic origin may be, we are aspects at this time of his nature.
Bởi vì có sự kháng cự đối với nhiệm vụ, và xét về mặt tâm lý ở cấp độ hành tinh, nỗi đau chúng ta trải nghiệm có liên quan đến thái độ của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta như một Đấng phản kháng thiêng liêng. Ở một mức độ nào đó, tất cả chúng ta đều chia sẻ thái độ ấy, bởi vì, theo một nghĩa nào đó, bất kể nguồn gốc chân thần của chúng ta ở đâu, hiện nay chúng ta đều là những phương diện của bản chất Ngài.
This was worth studying because there is an entering God and we are an entering God in our own little microcosmic way, and we enter and re-enter and re-enter all for the purpose of better fitting ourselves to carry out this uplifting redemptive process. It rather turns motive on its ear, doesn't it? I mean we so often think in terms of ourselves and our particular microcosmic requirements and not in terms of the service that we are offering others.
Điều này đáng nghiên cứu vì có một Thượng đế đang đi vào, và theo cách thức tiểu thiên địa nhỏ bé của mình, chúng ta cũng là một Thượng đế đang đi vào. Chúng ta đi vào, rồi lại đi vào, rồi lại đi vào, tất cả đều nhằm làm cho mình thích hợp hơn để thực hiện tiến trình cứu chuộc và nâng cao này. Điều đó gần như đảo ngược cách nhìn về động cơ, phải không? Tôi muốn nói rằng chúng ta thường nghĩ đến bản thân và những nhu cầu tiểu thiên địa riêng của mình, chứ không nghĩ đến sự phụng sự mà chúng ta dành cho người khác.
[13] In themselves, rebirth and reincarnation are misleading terms and
[13] Chính các thuật ngữ tái sinh và luân hồi là những [Page 325] thuật ngữ gây hiểu lầm, và
He gives a much better way of understanding it.
Ngài đưa ra một cách thấu hiểu điều này tốt hơn nhiều.
[14] “cyclic impulsion,” “intelligent purposeful repetition” and “conscious in-breathing and out-breathing” would describe more accurately this cosmic process.
[14] “xung động theo chu kỳ”, “sự lặp lại thông minh có chủ đích” và “sự hít vào và thở ra có ý thức” sẽ mô tả tiến trình vũ trụ này chính xác hơn.
Because we are parts of greater deities who have taken on a great redemptive role within the substance of the Solar Logos, and he as well, and on it goes.
Bởi vì chúng ta là những phần của các Thượng đế vĩ đại hơn, những Đấng đã đảm nhận một vai trò cứu chuộc lớn lao trong chất liệu của Thái dương Thượng đế; Ngài cũng vậy, và cứ thế tiếp diễn.
The process is cosmic in as much as great deities do as we do, and we do as we do because we are part of the process in which they are involved. We are involved ourselves in an incarnation of a Planetary Logos and he is involved.
Tiến trình này mang tính vũ trụ vì các Thượng đế vĩ đại cũng làm như chúng ta, và chúng ta làm như vậy vì chúng ta là một phần của tiến trình mà Các Ngài tham dự. Chính chúng ta đang tham dự vào một lần lâm phàm của Hành Tinh Thượng Đế, và Ngài cũng đang tham dự.
As a kind of an aspect or chakra of the Solar Logos he is involved in that process of “cyclic impulsion,” “intelligent purposeful repetition” and “conscious in-breathing and out-breathing” which the Solar Logos has undertaken probably on behalf of the still greater cyclic impulsion of the Cosmic Logos and on it goes.
Như một phương diện hay luân xa của Thái dương Thượng đế, Ngài tham dự vào tiến trình “sự thúc đẩy theo chu kỳ”, “sự lặp lại thông minh có mục đích” và “sự hít vào và thở ra hữu thức” mà Thái dương Thượng đế đã đảm nhận, có lẽ để phục vụ sự thúc đẩy theo chu kỳ còn lớn lao hơn của Thượng đế Vũ Trụ, và cứ thế tiếp diễn.
[15] It is, however, difficult for you to grasp this idea, for it necessitates the ability to identify oneself with the One Who thus breathes—the planetary Logos—and the entire theme must therefore remain relatively obscure until initiation has been taken.
[15] Tuy nhiên, các bạn khó nắm bắt ý tưởng này, vì điều đó đòi hỏi khả năng đồng hoá bản thân với Đấng thở như vậy—Hành Tinh Thượng Đế—và do đó toàn bộ chủ đề này phải còn tương đối mơ hồ cho đến khi được điểm đạo.
What is the implication here? I suppose the implication is that initiation is the process of identifying with the Planetary Logos. The Planetary Logos is in process of in-breathing and out-breathing. He is sending certain of his cells into the lower worlds, and he retracts them.
Ở đây hàm ý là gì? Tôi cho rằng hàm ý là điểm đạo chính là tiến trình đồng hoá với Hành Tinh Thượng Đế. Hành Tinh Thượng Đế đang trong tiến trình hít vào và thở ra. Ngài đưa một số tế bào của mình vào những cõi thấp, rồi thu chúng lại.
This is part of his redemptive mission. We are part of the redemptive mission of this entering God.
Đây là một phần trong sứ mệnh cứu chuộc của Ngài. Chúng ta là một phần trong sứ mệnh cứu chuộc của Thượng đế đang đi vào này.
[16] Esoterically speaking, the point of greatest interest lies in the fact that it is group rebirth which is taking place all the time and that the incarnation of the individual is only incidental to this greater happening.
[16] Xét về mặt huyền bí, điểm đáng quan tâm nhất nằm ở sự kiện rằng chính sự tái sinh nhóm đang diễn ra mọi lúc và sự nhập thể của cá nhân chỉ là một sự kiện phụ trong diễn biến lớn lao hơn này.
We cyclically return with those of our own ray, cyclically returning with those on our soul ray. But the cycles do interpenetrate because the cycles are different, and there will come a time, or has come a time, when individuals on all the different rays have spent time in incarnation together.
Chúng ta trở lại theo chu kỳ cùng những người thuộc cung của mình, trở lại theo chu kỳ cùng những người thuộc cung linh hồn của mình. Nhưng các chu kỳ quả thực xuyên thấm lẫn nhau vì chúng khác nhau, và sẽ đến một thời điểm, hoặc đã có một thời điểm, khi những cá nhân thuộc tất cả các cung khác nhau cùng sống trong sự lâm phàm.
Perhaps at the moment we are not sharing incarnational space with so many of those on the fourth ray, if we are, let us say, part of this great second ray redemptive process. But there will be a time, or has been a time, when the two and four have been incarnated together, or the two and five, and the two and seven, and so forth.
Có lẽ hiện nay chúng ta không cùng chia sẻ không gian lâm phàm với nhiều người thuộc cung bốn, nếu chẳng hạn chúng ta là một phần của tiến trình cứu chuộc vĩ đại thuộc cung hai này. Nhưng sẽ có một thời điểm, hoặc đã có một thời điểm, khi cung hai và cung bốn cùng lâm phàm, hoặc cung hai và cung năm, cung hai và cung bảy, v.v.
Groups are coming in according to cyclic spans which are known, I suppose, more fully internally. The cyclic span of 500 years is correlated with the second ray but then so must 50-year cycles. The span of 900 years and hence 90-year cycles will be associated with the third ray, and cycles of 100 years or a thousand years or even 10 years associated with the first. So all the different ray types manage to spend incarnational time in each other's presence, one way or another, and at some time or another. All incarnational types spend time in incarnational presence with each other.
Các nhóm đang đi vào theo những khoảng chu kỳ mà, tôi cho rằng, bên trong người ta biết đầy đủ hơn. Khoảng chu kỳ 500 năm tương ứng với cung hai, nhưng các chu kỳ 50 năm hẳn cũng vậy. Khoảng 900 năm, và do đó các chu kỳ 90 năm, gắn với cung ba; còn các chu kỳ 100 năm, một nghìn năm hay thậm chí 10 năm gắn với cung một. Vì vậy, tất cả những kiểu người thuộc các cung khác nhau đều có thể cùng hiện diện trong thời gian lâm phàm, bằng cách này hay cách khác, vào lúc này hay lúc khác. Tất cả những kiểu người lâm phàm đều có thời gian cùng hiện diện trong sự lâm phàm.
Maybe I should say here all soul ray types because I think it is largely on the basis of soul ray that they come in. Remember we're in the Cancerian chapter and we're discussing the great law of cyclic impulsion, of intelligent purposeful repetition. You know, we have here rotary motion to a degree and Cancer is the third ray sign.
Có lẽ ở đây tôi nên nói là tất cả những kiểu người theo cung linh hồn, vì tôi nghĩ rằng phần lớn họ đi vào dựa trên cung linh hồn. Hãy nhớ rằng chúng ta đang ở chương Cự Giải và đang bàn về định luật vĩ đại của sự thúc đẩy theo chu kỳ, của sự lặp lại thông minh có mục đích. Các bạn biết đấy, ở đây chúng ta có chuyển động quay ở một mức độ nào đó, và Cự Giải là dấu hiệu cung ba.
But this rotary motion is also spiral-cyclic, in a way, because there's always a rising which is intended to occur based upon greater spiritual success in each successive incarnation.
Nhưng theo một cách nào đó, chuyển động quay này cũng mang tính chu kỳ xoắn ốc, vì luôn có một sự vươn lên được dự định sẽ xảy ra, dựa trên thành tựu tinh thần lớn hơn trong mỗi lần lâm phàm kế tiếp.
[17] This has been largely ignored or forgotten because of the intense and selfish interest in personal experience and living, evidenced in the speculative details
[17] Điều này phần lớn đã bị bỏ qua hoặc lãng quên vì sự quan tâm mãnh liệt và ích kỷ đến trải nghiệm và đời sống cá nhân, thể hiện qua những chi tiết suy đoán
It doesn't dignify the consideration of past lives with a word other than speculative.
Ngài không đề cao việc xem xét các tiền kiếp bằng một từ nào khác ngoài “suy đoán”.
evidenced in the speculative details
thể hiện trong những chi tiết mang tính suy đoán