Tóm lược chương
Sự chuẩn bị cho điểm đạo lần đầu đã có thể diễn ra dưới ảnh hưởng Thập Giá Cố Định. Thiên Bình giúp người học tự định vị bằng cách so sánh khách quan với công việc của những người khác, kể cả người cùng Cung, mà không biến so sánh thành cạnh tranh phàm ngã. Sự bất mãn với đời sống hướng ngoại có thể dẫn tới lời cầu thỉnh rời rạc, rồi tới chí nguyện nhất quán và đời sống thần bí. Huyền môn học phát triển trên nền ấy khi người học tìm hiểu có ý thức các lực đang vận hành. Sự trưởng thành của một bộ phận nhân loại được ví như men có thể làm cả khối bột dậy lên. Việc ít nhất một trong các Đấng Giải Thoát đáp ứng được liên hệ với sức cầu thỉnh…
- Tự biết mình và giai đoạn chuyển tiếp
- Từ bất mãn tới cầu thỉnh có kỷ luật
- Lời Cầu Thỉnh trong khủng hoảng thế giới
Commentary 140b
Tóm Tắt
§ Tự biết mình và giai đoạn chuyển tiếp
Sự chuẩn bị cho điểm đạo lần đầu đã có thể diễn ra dưới ảnh hưởng Thập Giá Cố Định. Thiên Bình giúp người học tự định vị bằng cách so sánh khách quan với công việc của những người khác, kể cả người cùng Cung, mà không biến so sánh thành cạnh tranh phàm ngã.
§ Từ bất mãn tới cầu thỉnh có kỷ luật
Sự bất mãn với đời sống hướng ngoại có thể dẫn tới lời cầu thỉnh rời rạc, rồi tới chí nguyện nhất quán và đời sống thần bí. Huyền môn học phát triển trên nền ấy khi người học tìm hiểu có ý thức các lực đang vận hành. Sự trưởng thành của một bộ phận nhân loại được ví như men có thể làm cả khối bột dậy lên.
§ Lời Cầu Thỉnh trong khủng hoảng thế giới
Việc ít nhất một trong các Đấng Giải Thoát đáp ứng được liên hệ với sức cầu thỉnh tập trung trong thời chiến. Hình ảnh Đấng Kỵ Sĩ được hiểu là Đức Christ với chức năng cứu độ và hành động khi luật pháp suy yếu. Phản ứng trước ngôn ngữ quyền năng và cái chết cho thấy sự khác biệt giữa muốn gìn giữ mọi hình thể và sẵn sàng để những hình thể cản trở điều thiện chấm dứt.
§ Thiện ích của toàn thể và ý định tập trung
Dù không biết hết hoàn cảnh của mọi dân tộc, người phụng sự vẫn có thể nhận ra những nguyên tắc có ích cho chỉnh thể. Việc tập hợp và giữ năng lượng, thay vì phân tán, được liên hệ với Vulcan và khả năng phối hợp của nhóm đệ tử. Cầu thỉnh hữu hiệu ở cấp này cần một hình tư tưởng rõ trên bình diện trí tuệ, vượt khỏi tiếng gọi chỉ dựa vào cảm xúc.
§ Sự dịch chuyển tập thể và thời gian ảnh hưởng của linh hồn
Các phong trào phản kháng bất công gợi câu hỏi liệu những bộ phận lớn của nhân loại đã bắt đầu rời Thập Giá Biến đổi hay chưa. Ở cấp cá nhân, ảnh hưởng Cung linh hồn có thể tiếp tục qua Tam Nguyên Tinh Thần sau khi thể nguyên nhân tan rã, ngay cả khi ảnh hưởng Thập Giá Chủ Yếu đang tăng.
Text EAA 140B – Văn bản EAA 140B
Esoteric Astrology – Chiêm Tinh Học Nội Môn
[1] When the time of transition from the Mutable Cross on to the Fixed Cross arrives, three things occur:
[1] Khi đến thời điểm chuyển tiếp từ Thập Giá Biến đổi sang Thập Giá Cố Định, ba điều xảy ra:
[2] 1. The influence of the four energies of the Mutable Cross have brought about a vast experience of life in form.
[2] 1. Ảnh hưởng của bốn năng lượng thuộc Thập Giá Biến đổi đã đem lại kinh nghiệm sâu rộng về sự sống trong hình tướng.
[3] 2. There is now a gradually growing and profound dissatisfaction awakening in the consciousness of the man making the transition. [4] He has exhausted material desire to a very great extent [5] and is no longer attracted by the Path of outgoing into matter; [6] the needs of the physical nature no longer dominate him; he is afraid of the impulses, emanating from the astral plane; [7] he is awake and active mentally and as a functioning personality. But he remains unsatisfied and is uncomfortably aware of it.
[3] 2. Giờ đây, trong tâm thức của người đang thực hiện sự chuyển tiếp, một nỗi bất mãn sâu sắc thức tỉnh và dần gia tăng. [4] Y đã gần như cạn hết dục vọng vật chất [5] và không còn bị thu hút vào Con Đường đi sâu vào vật chất; [6] những nhu cầu thuộc bản chất hồng trần không còn chi phối y; y e ngại những xung động phát ra từ cõi cảm dục; [7] y tỉnh thức và hoạt động về mặt trí tuệ cũng như với tư cách một phàm ngã đang vận hành. Nhưng y vẫn không mãn nguyện và cảm nhận rõ điều đó một cách bất an.
[8] 3. He turns to invocation. This process of invocation falls into two stages:
[8] 3. Y hướng đến khẩn cầu. Tiến trình khẩn cầu này gồm hai giai đoạn:
[9] a. The stage of aspiration, irregular and vague but gradually assuming power.
[9] a. Giai đoạn khát vọng, thất thường và mơ hồ nhưng dần có sức mạnh.
[10] b. The stage of mysticism, merging into occultism (the study of that which is hidden). [11] Duality is now consciously and uncomfortably recognised and the higher way and the spiritual vision is contacted. [12] Desire gives place to the vague promptings of what might be called love. [13] This is the movement in the personality of that divine emerging aspect. [14] It is this that he seeks to invoke. When this is adequately strong then true evocation (570) takes place and the disciple (for such the man now is) mounts the Fixed Cross.
[10] b. Giai đoạn thần bí học, hòa vào huyền bí học (nghiên cứu những điều ẩn giấu). [11] Giờ đây, con người nhận biết một cách có ý thức và bất an về nhị nguyên và tiếp xúc với con đường cao hơn cùng tầm nhìn tinh thần. [12] Dục vọng nhường chỗ cho những thôi thúc mơ hồ của điều có thể gọi là tình thương. [13] Đây là sự chuyển động trong phàm ngã của phương diện thiêng liêng đang xuất hiện ấy. [14] Chính điều này là điều y tìm cách khẩn cầu. Khi điều này đủ mạnh, sự gợi lên thực sự (570) diễn ra và người đệ tử (vì giờ đây y đã là đệ tử) bước lên Thập Giá Cố Định.
[15] The above is true of the individual disciple and also today of humanity as a whole, and—as I have oft told you—it is this process of invocation which is taking place in the human family. [16] This produces the present dire crisis. The two stages above outlined are present today in a general and potent sense in mankind.
[15] Những điều trên đúng với người đệ tử riêng lẻ và cả với toàn thể nhân loại ngày nay, và—như Tôi đã thường nói với các bạn—chính tiến trình khẩn cầu này đang diễn ra trong gia đình nhân loại. [16] Điều này tạo ra cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hiện nay. Ngày nay, hai giai đoạn vừa phác họa đang hiện diện trong nhân loại một cách phổ biến và mạnh mẽ.
[17] It was the recognition of these two stages in humanity which led me, under instruction from the Hierarchy, to give out—at widely separated points in time—two stanzas of a great occult mantram. [18] The first stanza, used in 1936, referred to the vague general aspiration of the mass of the people in the world, which is today more pronounced than ever before and becoming more focussed towards true well-being.
[17] Chính việc nhận biết hai giai đoạn này trong nhân loại đã khiến Tôi, theo chỉ thị của Thánh đoàn, công bố—vào hai thời điểm cách xa nhau—hai khổ của một mantram huyền bí vĩ đại. [18] Khổ thứ nhất, được sử dụng vào năm 1936, đề cập đến khát vọng chung còn mơ hồ của đông đảo dân chúng trên thế giới; ngày nay, khát vọng ấy rõ rệt hơn bao giờ hết và ngày càng tập trung vào phúc lợi đích thực.
THE GREAT INVOCATION
ĐẠI KHẤN NGUYỆN
[19] Let the Forces of Light bring illumination to mankind.
[19] Cầu xin các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại.
[20] Let the Spirit of Peace be spread abroad.
[20] Cầu xin Tinh thần Hòa Bình lan tỏa khắp nơi.
[21] May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.
[21] Cầu mong những người thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác.
[22] May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time.
[22] Cầu mong sự tha thứ của mọi người là chủ âm vào lúc này.
[23] Let power attend the efforts of the Great Ones.
[23] Cầu xin Quyền Năng hỗ trợ những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.
[24] So let it be, and help us to do our part.
[24] Cầu mong được như vậy, và xin giúp chúng con làm tròn phần việc của mình.
[25] The use of this first stanza was immediately successful and met with a full response from those good and well-meaning people whose focus is predominantly astral and aspirational, and whose aim is peace and quiet. [26] This peace and quiet provides the “area of consciousness” in which aspiration can flourish, physical and emotional comfort can be attained and the recognition of the mystical vision becomes possible.
[25] Việc sử dụng khổ thứ nhất này lập tức thành công và nhận được sự đáp ứng trọn vẹn từ những người tốt và có thiện ý, vốn chủ yếu tập trung vào cảm dục và khát vọng, với mục tiêu là hòa bình và yên ổn. [26] Sự hòa bình và yên ổn này tạo nên “phạm vi tâm thức” trong đó khát vọng có thể phát triển, con người có thể đạt được sự thoải mái về thể chất và cảm xúc, đồng thời có thể nhận biết linh ảnh thần bí.
(571)
(571)
[27] The second stanza was given out later and was intended to be a test and a “decision point in a time of crisis.”
[27] Khổ thứ hai được công bố sau đó, với dụng ý làm một thử thách và một “điểm quyết định trong thời kỳ khủng hoảng.”
[28] Let the Lords of Liberation issue forth.
[28] Cầu xin các Đấng Giải Thoát xuất hiện.
[29] Let Them bring succour to the sons of men.
[29] Cầu xin Các Ngài đem sự cứu giúp đến cho những người con của nhân loại.
[30] Let the Rider from the Secret Place come forth,
[30] Cầu xin Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi Ẩn Mật xuất hiện,
[31] And coming, save.
[31] Và khi đến, hãy cứu độ.
[32] Come forth, O Mighty One.
[32] Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
[33] Let the souls of men awaken to the Light,
[33] Cầu xin linh hồn của mọi người thức tỉnh trước Ánh Sáng,
[34] And may they stand with massed intent.
[34] Và cầu mong họ đứng vững với ý hướng hợp nhất.
[35] Let the fiat of the Lord go forth:
[35] Cầu xin sắc lệnh của Chúa Tể được ban ra:
[36] The end of woe has come!
[36] Thời đau khổ đã chấm dứt!
[37] Come forth, O Mighty One.
[37] Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
[38] The hour of service of the saving force has now arrived.
[38] Giờ phụng sự của mãnh lực cứu độ nay đã đến.
Let it be spread abroad, O Mighty One.
Cầu xin mãnh lực ấy lan tỏa khắp nơi, hỡi Đấng Đại Hùng.
[39] Let Light and Love and Power and Death
[39] Cầu xin Ánh Sáng, Tình Thương, Quyền Năng và Cái Chết
[40] Fulfil the purpose of the Coming One.
[40] Hoàn thành mục đích của Đấng Đang Đến.
[41] The WILL to save is here.
[41] Ý CHÍ cứu độ hiện diện nơi đây.
[42] The LOVE to carry forth the work is widely spread abroad.
[42] TÌNH THƯƠNG để thực hiện công việc đang lan tỏa khắp nơi.
[43] The ACTIVE AID of all who know the truth is also here.
[43] SỰ TRỢ GIÚP TÍCH CỰC của tất cả những ai biết chân lý cũng hiện diện nơi đây.
[44] Come forth, O mighty One, and blend these three.
[44] Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng, và hợp nhất ba điều này.
[45] Construct a great defending wall.
[45] Hãy dựng nên một bức tường bảo vệ vĩ đại.
[46] The rule of evil NOW must end.
[46] Sự thống trị của điều ác nay phải chấm dứt.
[47] It was offered, under this test, to the masses, but was intended primarily for the use of those aspirants and disciples who are not only mystics but who have made at least some small progress in their attempt to tread the occult way. [48] They are mentally focussed in their attitude; the higher way is recognised by them; the vision has been seen and they are now ready for something closer and more real. [49] The last stanza given is primarily, therefore, [50] for the use of those who have mounted, or are in process of mounting, the Fixed Cross.
[47] Trong khuôn khổ thử thách này, khổ ấy được đưa ra cho quần chúng, nhưng chủ yếu dành cho những người chí nguyện và đệ tử không chỉ là các nhà thần bí mà còn đã có ít nhiều tiến bộ trong nỗ lực bước trên con đường huyền bí. [48] Trong thái độ của mình, họ tập trung ở trí tuệ; họ đã nhận biết con đường cao hơn; họ đã thấy tầm nhìn và giờ đây sẵn sàng đón nhận điều gì đó gần gũi và thực hơn. [49] Vì vậy, khổ được công bố sau cùng chủ yếu [50] dành cho những người đã bước lên, hoặc đang trong tiến trình bước lên, Thập Giá Cố Định.
[51] It is for this reason that the use of the second part of (572) the Great Invocation was relatively limited. [52] It was repudiated (almost violently sometimes) by the emotional type of person who could see no further than the beauty of peace—the goal of expression upon the astral plane. [53] Their vision of the greater whole and of the evocation of the will-to-good (which is not the will-to-peace) was exceedingly limited and this through no fault of their own. It simply indicated their place upon the ladder of evolution and marked a relatively useful point of service, but one which is in process of being transcended. [54] The people in the world today are coming to realise (through suffering and its consequent reflection) [55] that there is something greater than peace [56] and that is the good of the whole, and not just individual, peaceful conditions or national peace. [57] This re-orientation of the human consciousness is brought about by the determined attitude of the souls of men, massed and blended, organised and focussed by the vision of the general welfare of humanity.
[51] Chính vì lý do này mà việc sử dụng phần thứ hai của (572)Đại Khấn Nguyện tương đối hạn chế. [52] Những người thiên về cảm xúc đã bác bỏ phần này (đôi khi gần như dữ dội), vì họ không thể nhìn xa hơn vẻ đẹp của hòa bình—mục tiêu biểu đạt trên cõi cảm dục. [53] Tầm nhìn của họ về tổng thể rộng lớn hơn và về việc gợi lên Ý Chí-hướng Thiện (vốn không phải là ý chí-hướng hòa bình) vô cùng hạn hẹp, và điều này không phải lỗi của họ. Điều đó chỉ cho thấy vị trí của họ trên thang tiến hóa và đánh dấu một điểm phụng sự tương đối hữu ích, nhưng họ đang trong tiến trình vượt qua điểm ấy. [54] Ngày nay, con người trên thế giới đang dần nhận ra (qua đau khổ và sự suy ngẫm nảy sinh từ đó) [55] rằng có một điều lớn lao hơn hòa bình [56] và đó là điều thiện của toàn thể, chứ không chỉ là hoàn cảnh yên bình của cá nhân hay hòa bình của quốc gia. [57] Sự tái định hướng này của tâm thức nhân loại xuất phát từ thái độ kiên quyết của các linh hồn con người, cùng quy tụ và hòa hợp, được tổ chức và tập trung nhờ tầm nhìn về phúc lợi chung của nhân loại.
[58] It was, however, essential that these distinctions in attitude should appear in their clarity and, therefore, we gave out the two stanzas of the Great Invocation separately and at different times. [59] You learnt thereby the difference of attitude between the mass of well-meaning people in the world, [60] and the correctly oriented attitudes of the intelligent aspirants and disciples. [61] This was necessary before wider action could later take place. [62] I would pause here and remind you that both groups are necessary: the first group—emotional and idealistic—have a part to play in focussing the mass fluid aspiration. [63] Their responsibility is to the general public. The other group of trained thinkers and people who are animated primarily by the will-to-good (which is of more importance in this world cycle than the will-to-peace) have a function to carry out in evoking hierarchical response in (573) reply to the aspiration of the first group. [64] They focus this aspiration on the mental plane, create a thoughtform embodying the objective and project the “call” which may reach the ears of the Lords of Liberation.
[58] Tuy nhiên, những khác biệt về thái độ này cần phải hiện rõ; vì vậy, chúng Tôi đã công bố riêng hai khổ của Đại Khấn Nguyện vào những thời điểm khác nhau. [59] Qua đó, các bạn đã học được sự khác biệt về thái độ giữa đông đảo những người có thiện ý trên thế giới, [60] và thái độ định hướng đúng đắn của những người chí nguyện và đệ tử thông tuệ. [61] Điều này là cần thiết trước khi có thể tiến hành hành động rộng lớn hơn về sau. [62] Tôi muốn dừng lại ở đây để nhắc các bạn rằng cả hai nhóm đều cần thiết: nhóm thứ nhất—thiên về cảm xúc và lý tưởng—có vai trò tập trung khát vọng còn linh động của quần chúng. [63] Trách nhiệm của họ là đối với công chúng nói chung. Nhóm kia, gồm những nhà tư tưởng đã qua rèn luyện và những người được thúc đẩy chủ yếu nhờ Ý Chí-hướng Thiện (trong chu kỳ thế giới này, điều đó quan trọng hơn ý chí-hướng hòa bình), có chức năng gợi lên sự đáp ứng của Thánh đoàn (573) đối với khát vọng của nhóm thứ nhất. [64] Họ tập trung khát vọng này trên cõi trí, tạo ra một hình tư tưởng hiện thân cho mục tiêu và phóng chiếu “lời kêu gọi” có thể thấu đến tai các Đấng Giải Thoát.
[65] The blended invocation and the united call from the different levels of the human consciousness will bring a mighty appeal to bear upon the hidden Centres of the “Saving Force.” [66] It is this united appeal which you must now organise. [67] Thus the mass of humanity will be stimulated to move off the Mutable Cross on to the Fixed Cross and the new world cycle, beginning in Aquarius (one arm of the Fixed Cross) will be definitely inaugurated by humanity itself.
[65] Sự khẩn cầu hòa hợp và lời kêu gọi hợp nhất từ những cấp độ khác nhau của tâm thức nhân loại sẽ tạo nên một lời thỉnh cầu mạnh mẽ tác động đến các Trung Tâm ẩn giấu của “Mãnh Lực Cứu Rỗi.” [66] Giờ đây, chính lời thỉnh cầu hợp nhất này là điều các bạn phải tổ chức. [67] Nhờ vậy, đông đảo nhân loại sẽ được thúc đẩy rời Thập Giá Biến đổi để bước lên Thập Giá Cố Định, và chính nhân loại sẽ dứt khoát khai mở chu kỳ thế giới mới, bắt đầu trong Bảo Bình (một nhánh của Thập Giá Cố Định).
[68] It might be said, therefore, that the Great Invocation as first given out was for the use of those who are crucified upon the Mutable Cross, the Cross of change, whilst the second invocation is for the use [69] of those who are crucified upon the Fixed Cross, the Cross of right orientation. [70] It is for the use of those men and women whose aim is the will-to-good, [71] who think in terms of world service and who are oriented towards light—the light of knowledge, the light of wisdom and understanding and the light of life itself.
[68] Vì vậy, có thể nói rằng Đại Khấn Nguyện khi mới được công bố dành cho những người chịu đóng đinh trên Thập Giá Biến đổi, Thập Giá của sự thay đổi, còn bài khấn nguyện thứ hai dành [69] cho những người chịu đóng đinh trên Thập Giá Cố Định, Thập Giá của sự định hướng đúng đắn. [70] Bài này dành cho những người nam và nữ lấy Ý Chí-hướng Thiện làm mục tiêu, [71] suy nghĩ theo tinh thần phụng sự thế gian và hướng về ánh sáng—ánh sáng của tri thức, ánh sáng của minh triết và sự thấu hiểu, cùng ánh sáng của chính sự sống.
[72] Upon the Fixed Cross, the united influence of its four streams of energy, when expressing themselves fully through an individual disciple and through the Hierarchy, produces likewise three emerging conditions:
[72] Trên Thập Giá Cố Định, ảnh hưởng hợp nhất của bốn dòng năng lượng của nó, khi biểu đạt trọn vẹn qua một đệ tử riêng lẻ và qua Thánh đoàn, cũng tạo ra ba trạng thái đang xuất hiện:
[73] 1. There is a vast experience of group life, group activity and group awareness. [74] The self-conscious man in Leo becomes the group conscious man in Aquarius.
[73] 1. Có kinh nghiệm sâu rộng về đời sống nhóm, hoạt động nhóm và nhận biết nhóm. [74] Con người có ngã thức trong Sư Tử trở thành con người có tâm thức nhóm trong Bảo Bình.
[75] 2. There arises in the consciousness of the disciple a vision of the “endless Way of which Nirvana is but the beginning.” (574)
[75] 2. Trong tâm thức người đệ tử xuất hiện một linh thị về “Con Đường vô tận mà Niết Bàn chỉ là khởi đầu.” (574)
[76] 3. He recognises his task of mediatorship which is the major task of the Hierarchy, mediating between Shamballa and Humanity. [77] He knows that he must carry forward the dual task of invocation and evocation simultaneously—[78] the evocation (through right invocation) of the will-to-good of the world thinkers and aspirants, and also the will-to-save of the Shamballa Lords, [79] via the Hierarchy, which he is in a position directly to approach. [80] I touch here on grave mysteries.
[76] 3. Y nhận biết nhiệm vụ trung gian của mình, vốn là nhiệm vụ chính của Thánh đoàn, làm trung gian giữa Shamballa và Nhân loại. [77] Y biết rằng mình phải đồng thời thực hiện nhiệm vụ kép là khẩn cầu và gợi lên—[78] thông qua sự khẩn cầu đúng đắn, gợi lên Ý Chí-hướng Thiện của các nhà tư tưởng và những người chí nguyện trên thế giới, đồng thời gợi lên ý chí cứu rỗi của các Đấng Chúa Tể Shamballa, [79] qua Thánh đoàn mà y có khả năng trực tiếp tiếp cận. [80] Ở đây, Tôi đề cập đến những huyền nhiệm trọng đại.
Esoteric Astrology Adventure 140B — The Three Crosses – Chiêm Tinh Học Nội Môn Hành trình khám phá 140B — Ba Thập Giá
Friends, we go on. We're at Esoteric Astrology Adventure number 140B, and we've been talking about the invocative sound that arises from each Cross as a transition is being prepared to move on to the next Cross. It's only when there comes a fulfilment of all the arms of a particular Cross that transition in consciousness can be made from one Cross to another.
Các bạn, chúng ta tiếp tục. Chúng ta đang ở Chiêm Tinh Học Nội Môn, Hành trình khám phá số 140B, và chúng ta đã bàn về âm thanh khẩn cầu phát ra từ mỗi Thập Giá khi sự chuyển tiếp sang Thập Giá kế tiếp đang được chuẩn bị. Chỉ khi tất cả các nhánh của một Thập Giá nhất định đều đạt đến sự viên mãn, sự chuyển tiếp trong tâm thức từ Thập Giá này sang Thập Giá khác mới có thể diễn ra.
[EAA-140B-F01] Đoạn về transition giữa các Cross và quá trình invocation. — video 00:01:02.
[EAA-140B-F01] Đoạn về sự chuyển tiếp giữa các Thập Giá và quá trình khẩn cầu. — đoạn phim 00:01:02.
This is so important:
Điều này rất quan trọng:
Only when the influence of all the four arms of each Cross has produced an effect in the subject is a transition in consciousness made from one Cross to another—
Chỉ khi ảnh hưởng của cả bốn nhánh của mỗi Thập Giá đã tạo ra tác động nơi đối tượng thì sự chuyển tiếp trong tâm thức từ Thập Giá này sang Thập Giá khác mới diễn ra—
We talked about Crosses as spheres of influence; completion is required, and we have to be rounded out with respect to each Cross. That's what we must do.
Chúng ta đã bàn về các Thập Giá như những khối cầu ảnh hưởng; cần phải có sự hoàn tất, và chúng ta phải phát triển trọn vẹn về mọi mặt liên quan đến từng Thập Giá. Đó là điều chúng ta phải làm.
[1] When the time of transition from the Mutable Cross on to the Fixed Cross arrives, three things occur:
[1] Khi đến thời điểm chuyển tiếp từ Thập Giá Biến đổi sang Thập Giá Cố Định, ba điều xảy ra:
Remember how important Pisces is as a sign of transition, not only from the Mutable to the Fixed Cross, but even later from the Fixed Cross to the Cardinal Cross.
Hãy nhớ Song Ngư quan trọng biết bao với tư cách một dấu hiệu chuyển tiếp, không chỉ từ Thập Giá Biến đổi sang Thập Giá Cố Định, mà về sau còn từ Thập Giá Cố Định sang Thập Giá Chủ Yếu.
Three things occur here at the time of transition. Of course, it's very timely, isn't it? Because so many human beings at this time are being prepared to make a transition from the Mutable Cross to the Fixed Cross. After all, the first initiation of humanity or a certain portion of it is imminent, and that is equivalent to the transition.
Ở đây, vào thời điểm chuyển tiếp, có ba điều xảy ra. Dĩ nhiên, điều này rất hợp thời, phải không? Vì vào lúc này, rất nhiều người đang được chuẩn bị để thực hiện bước chuyển tiếp từ Thập Giá Biến đổi sang Thập Giá Cố Định. Xét cho cùng, lần điểm đạo thứ nhất của nhân loại, hay của một bộ phận nhân loại, đã cận kề, và điều đó tương đương với bước chuyển tiếp này.
In fact, as people are preparing for that first initiation, they are, according to the Tibetan, in a sense, on the Fixed Cross already. It's, it's a little difficult to make an arbitrary line and say, take the first initiation, join the Fixed Cross, enter the kingdom of God. Those three things do go together, but there are these overlap periods, as I have been trying to explain.
Thật vậy, theo Chân sư Tây Tạng, khi đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất ấy, theo một nghĩa nào đó, người ta đã ở trên Thập Giá Cố Định rồi. Hơi khó để vạch một ranh giới tùy tiện rồi nói: tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất, bước lên Thập Giá Cố Định, đi vào Thiên Giới. Ba điều ấy quả thực đi cùng nhau, nhưng vẫn có những giai đoạn chồng lấn, như tôi đã cố gắng giải thích.
Perhaps a number of the people that we are dealing with in our astrological consultations will be in this overlap period. The thing is, to try to know oneself well enough to know where one really stands within the group and within the whole, and we see the Leo-Aquarius axis operating there.
Có lẽ một số người mà chúng ta tiếp xúc trong các buổi tư vấn chiêm tinh sẽ ở trong giai đoạn chồng lấn này. Điều cần làm là cố gắng hiểu bản thân đủ rõ để biết mình thực sự đứng ở đâu trong nhóm và trong toàn thể; ở đây, chúng ta thấy trục Sư Tử–Bảo Bình đang hoạt động.
Self-knowledge with considerable completeness is not easily achieved. But by using Libra and comparing oneself, not in any egoistic way, but simply in an objective way with other people in the world and what they are doing and people who may be on your ray and what they are doing and so forth, we can come to a pretty fair idea of where we stand and what we have to do.
Không dễ đạt được sự tự hiểu biết tương đối toàn diện. Nhưng bằng cách vận dụng Thiên Bình và so sánh bản thân một cách khách quan, không vì vị kỷ, với những người khác trên thế giới cùng những gì họ đang làm, với những người có thể cùng cung với mình cùng những gì họ đang làm, v.v., chúng ta có thể hình dung khá chính xác mình đang đứng ở đâu và phải làm gì.
Three things occur.
Có ba điều xảy ra.
[2] 1. The influence of the four energies of the Mutable Cross have brought about a vast experience of life in form.
[2] 1. Ảnh hưởng của bốn năng lượng thuộc Thập Giá Biến đổi đã đem lại kinh nghiệm sâu rộng về sự sống trong hình tướng.
Some people who were individualized twenty-one million years ago, so many of those individualized on Earth, are still on the Mutable Cross.
Một số người đã biệt ngã hóa cách đây hai mươi mốt triệu năm vẫn còn ở trên Thập Giá Biến đổi; trong số những người đã biệt ngã hóa trên Trái Đất, rất nhiều người vẫn như vậy.
It is vast. So it's, let's just say, millions of years of life in form. It's a long time compared to the amount of time that one spends on the Fixed Cross, the cross of shortest duration, just as the duration of the tenure of the Bodhisattva is the shortest when compared to that of the Mahachohan and the Manu.
Trải nghiệm ấy thật rộng lớn. Đó là hàng triệu năm sống trong hình tướng. Khoảng thời gian ấy rất dài so với thời gian một người ở trên Thập Giá Cố Định, thập giá có thời gian ngắn nhất, cũng như nhiệm kỳ của Đức Bồ Tát là ngắn nhất so với nhiệm kỳ của Đức MahaChohan và Đức Manu.
A vast experience of life in form.
Một trải nghiệm vô cùng rộng lớn về sự sống trong hình tướng.
[3] 2. There is now a gradually growing and profound dissatisfaction awakening in the consciousness of the man making the transition.
[3] 2. Giờ đây, trong tâm thức của người đang thực hiện sự chuyển tiếp, một nỗi bất mãn sâu sắc thức tỉnh và dần gia tăng.
However many thousands or millions that might be.
Dù số người ấy có thể lên đến bao nhiêu nghìn hay bao nhiêu triệu đi nữa.
[4] He has exhausted material desire to a very great extent
[4] Y đã gần như cạn hết dục vọng vật chất
The objects which are achieved through the pursuit of desire are found to be wanting; they do not satisfy the spirit.
Những đối tượng đạt được qua việc theo đuổi dục vọng đều tỏ ra thiếu hụt; chúng không thỏa mãn được tinh thần.
He has exhausted material desire to a very great extent
Y đã làm cạn kiệt dục vọng vật chất đến một mức độ rất lớn
[5] and is no longer attracted by the Path of outgoing into matter;
[5] và không còn bị thu hút vào Con Đường đi sâu vào vật chất;
He is no longer spiritually extroverted, however outgoing his personality may appear to be.
Y không còn hướng ngoại về mặt tinh thần, dù phàm ngã của y có vẻ cởi mở, hướng ngoại đến đâu.
[6] the needs of the physical nature no longer dominate him; he is afraid of the impulses, emanating from the astral plane;
[6] những nhu cầu thuộc bản chất hồng trần không còn chi phối y; y e ngại những xung động phát ra từ cõi cảm dục;
[7] he is awake and active mentally and as a functioning personality. But he remains unsatisfied and is uncomfortably aware of it.
[7] y tỉnh thức và hoạt động về mặt trí tuệ cũng như với tư cách một phàm ngã đang vận hành. Nhưng y vẫn không mãn nguyện và cảm nhận rõ điều đó một cách bất an.
The great dissatisfaction which occurs in the second ray integration formula, more people coming under that ray, is involved here. A kind of detachment from many objects of desire.
Nỗi bất mãn lớn lao xuất hiện trong công thức tích hợp của cung hai có liên quan ở đây; nhiều người hơn đang chịu ảnh hưởng của cung ấy. Đó là một dạng tách rời khỏi nhiều đối tượng của dục vọng.
This, as the Tibetan says, is often considered by the psychologist as a problem, but in fact is an indication of a certain achievement. We also have the prominence of Neptune with its divine discontent. The spirit always wants more until it finds itself and becomes, re-becomes itself.
Như Chân sư Tây Tạng nói, các nhà tâm lý học thường xem điều này là một vấn đề, nhưng thực ra nó cho thấy một thành tựu nhất định. Chúng ta cũng thấy Sao Hải Vương nổi bật với nỗi bất mãn thiêng liêng của nó. Tinh thần luôn muốn nhiều hơn nữa cho đến khi tìm thấy chính mình và lại trở về là chính mình.
[8] 3. He turns to invocation. This process of invocation falls into two stages:
[8] 3. Y hướng đến khẩn cầu. Tiến trình khẩn cầu này gồm hai giai đoạn:
[9] a. The stage of aspiration, irregular and vague but gradually assuming power.
[9] a. Giai đoạn khát vọng, thất thường và mơ hồ nhưng dần có sức mạnh.
This is reaching out in prayer and voice to something higher.
Đây là việc vươn lên bằng lời cầu nguyện và tiếng nói hướng đến một điều gì đó cao hơn.
[10] b. The stage of mysticism, merging into occultism (the study of that which is hidden).
[10] b. Giai đoạn thần bí học, hòa vào huyền bí học (nghiên cứu những điều ẩn giấu).
It's very simple, isn't it, what occultism really is? It's the study of all factors hidden and especially of hidden causes and of hidden values.
Huyền bí học thực sự là gì? Rất đơn giản, phải không? Đó là việc nghiên cứu mọi yếu tố ẩn giấu, đặc biệt là những nguyên nhân ẩn giấu và những giá trị ẩn giấu.
Presently hidden energies which must be made known, integrated and utilized.
Những năng lượng hiện còn ẩn giấu cần được nhận biết, tích hợp và sử dụng.
[11] Duality is now consciously and uncomfortably recognised and the higher way and the spiritual vision is contacted.
[11] Giờ đây, con người nhận biết một cách có ý thức và bất an về nhị nguyên và tiếp xúc với con đường cao hơn cùng tầm nhìn tinh thần.
All of this is going on before the first initiation, isn't it?
Tất cả những điều này đều diễn ra trước lần điểm đạo thứ nhất, phải không?
[12] Desire gives place to the vague promptings of what might be called love.
[12] Dục vọng nhường chỗ cho những thôi thúc mơ hồ của điều có thể gọi là tình thương.
[13] This is the movement in the personality of that divine emerging aspect.
[13] Đây là sự chuyển động trong phàm ngã của phương diện thiêng liêng đang xuất hiện ấy.
Especially on our planet with the second ray soul, isn't it so, and in our solar system.
Đặc biệt là trên hành tinh chúng ta, với linh hồn cung hai, phải không, và trong hệ mặt trời của chúng ta nữa.
[14] It is this that he seeks to invoke. When this is adequately strong then true evocation takes place and the disciple (for such the man now is) mounts the Fixed Cross.
[14] Chính điều này là điều y tìm cách khẩn cầu. Khi điều này đủ mạnh, sự gợi lên thực sự (570) diễn ra và người đệ tử (vì giờ đây y đã là đệ tử) bước lên Thập Giá Cố Định.
This is what discipleship is.
Địa vị đệ tử là như vậy.
Desire gives place to the vague promptings of what might be called love.
Dục vọng nhường chỗ cho những thôi thúc mơ hồ của điều có thể gọi là tình thương.
This is psychologically how to mount the Fixed Cross.
Về mặt tâm lý, đây là cách bước lên Thập Giá Cố Định.
It's not so technical. It simply tells us what has to be going on with sufficient strength of invocation to produce an evocation of love. An evocation of love must be produced by sufficiently strong invocation.
Điều này không quá phức tạp về mặt chuyên môn. Nó chỉ cho chúng ta biết điều gì cần diễn ra, với sức khẩn cầu đủ mạnh để gợi lên tình thương. Sự khẩn cầu phải đủ mạnh mới có thể gợi lên tình thương.
We see that the fifth petal is a petal of duality. First, perhaps of egotistical unity, but then of the discomfort when that proves wanting, and then the conflict between the two directions.
Chúng ta thấy cánh hoa thứ năm là một cánh hoa của tính nhị nguyên. Thoạt đầu, có lẽ đó là sự thống nhất vị kỷ, nhưng rồi đến nỗi khó chịu khi sự thống nhất ấy tỏ ra thiếu hụt, và sau đó là sự xung đột giữa hai hướng.
Finally the stage of aspiration is reached and even mysticism. Yes, as we move into the sixth petal, the first degree. I suppose quite a number of first degree people are mystics at first.
Cuối cùng, người ta đạt đến giai đoạn khát vọng, và cả thần bí học nữa. Đúng vậy, khi chúng ta tiến vào cánh hoa thứ sáu, bậc điểm đạo thứ nhất. Tôi cho rằng lúc đầu khá nhiều người ở bậc điểm đạo thứ nhất là những nhà thần bí.
It depends upon the ray, but they certainly do tend to separate the divine from the mundane, as if they are two very different things, and this is in a way the attitude of the mystic. So what have we here in summation? There's been a great deal of experience.
Điều đó tùy thuộc vào cung, nhưng chắc chắn họ có khuynh hướng tách biệt cái thiêng liêng với cái trần tục, như thể đó là hai điều rất khác nhau; theo một cách nào đó, đây chính là thái độ của nhà thần bí. Vậy tóm lại, ở đây chúng ta có gì? Đã có rất nhiều trải nghiệm.
There's a great emerging dissatisfaction, and in answer to this dissatisfaction, the individual turns to invocation, which at first is spotty and irregular, as an aspiration, and then a life of dedicated aspiration, or more consistent aspiration, the life of mysticism, which gradually merges into occultism, which is a real study of the factors before that had simply been felt.
Một nỗi bất mãn lớn lao đang trỗi dậy, và để đáp lại nỗi bất mãn này, cá nhân hướng đến sự khẩn cầu, thoạt đầu rời rạc và thất thường dưới dạng khát vọng, rồi đến một đời sống tận hiến cho khát vọng, hay một khát vọng bền bỉ hơn: đời sống thần bí học. Đời sống ấy dần hòa vào huyền bí học, tức là thực sự nghiên cứu những yếu tố mà trước đó người ta chỉ mới cảm nhận.
We move from feeling to sight when moving from mysticism to occultism. It's the transition in one way from Neptune to Uranus. It's this discomfort, this dissonance that the man has to be rid of.
Khi chuyển từ thần bí học sang huyền bí học, chúng ta chuyển từ cảm nhận sang thấy biết. Theo một phương diện, đó là bước chuyển tiếp từ Sao Hải Vương sang Sao Thiên Vương. Chính nỗi khó chịu này, sự bất hòa này, là điều con người phải thoát khỏi.
It is felt as a cognitive dissonance, and dissonance, we know, is that which has to be resolved; otherwise it tears the form apart.
Người ta cảm nhận nó như một sự bất hòa trong nhận thức, và như chúng ta biết, bất hòa là điều cần được hóa giải; nếu không, nó sẽ xé tan hình tướng.
The healer knows the place where dissonance is found. He also knows the power of sound and the sound which must be heard. (EH, tr. 709)
Người chữa lành biết nơi có sự bất hòa. Người ấy cũng biết quyền năng của âm thanh và âm thanh cần được nghe thấy. (EH, tr. 709)
This is the beginning of the fourth stanza for healing.
Đây là phần mở đầu của bài kệ thứ tư về chữa lành.
The healer has the objective of resolving the dissonance in the right way. It doesn't always bring healing to the form, but it can bring liberation to the spirit. So this is what is happening as one prepares to move onto the Fixed Cross.
Người chữa lành có mục tiêu hóa giải sự bất hòa theo cách đúng đắn. Điều đó không phải lúc nào cũng đem lại sự chữa lành cho hình tướng, nhưng có thể đem lại sự giải thoát cho tinh thần. Vì vậy, đây là điều đang diễn ra khi một người chuẩn bị bước lên Thập Giá Cố Định.
One passes through a stage of mysticism.
Người ta trải qua một giai đoạn thần bí học.
[15] The above is true of the individual disciple and also today of humanity as a whole, and—as I have oft told you—it is this process of invocation which is taking place in the human family.
[15] Những điều trên đúng với người đệ tử riêng lẻ và cả với toàn thể nhân loại ngày nay, và—như Tôi đã thường nói với các bạn—chính tiến trình khẩn cầu này đang diễn ra trong gia đình nhân loại.
We could call it prayer, upreaching, a call, a cry.
Chúng ta có thể gọi đó là lời cầu nguyện, sự vươn lên, lời kêu gọi, tiếng kêu.
Many things we could call it: prayer, upreaching, call, cry. The cry is a call.
Chúng ta có thể gọi bằng nhiều cách: lời cầu nguyện, sự vươn lên, lời kêu gọi, tiếng kêu. Tiếng kêu là một lời kêu gọi.
The cry is a call pretty much from the solar plexus and it is an appeal. The child cries and evokes the attention of the parent, and there is an analogy here to the parental part of ourselves, our higher nature.
Tiếng kêu là một lời kêu gọi phần lớn phát xuất từ tùng thái dương, và đó là một lời khẩn nài. Đứa trẻ khóc và gợi lên sự chú ý của cha mẹ; ở đây có một sự tương đồng với phần đóng vai trò cha mẹ trong chính chúng ta, tức bản chất cao cả của chúng ta.
[16] This produces the present dire crisis. The two stages above outlined are present today in a general and potent sense in mankind.
[16] Điều này tạo ra cuộc khủng hoảng nghiêm trọng hiện nay. Ngày nay, hai giai đoạn vừa phác họa đang hiện diện trong nhân loại một cách phổ biến và mạnh mẽ.
Certainly, minimally, humanity is the world aspirant.
Chắc chắn, ít nhất nhân loại cũng là người chí nguyện thế giới.
Even at times called the world disciple as if it's mental consciousness had been sufficiently focused to persistently seek the light with regularity and without excessive emotion. Well, there are all types of human beings. Minimally, humanity is the world aspirant.
Thậm chí đôi khi nhân loại còn được gọi là đệ tử thế giới, như thể tâm thức trí tuệ của nhân loại đã tập trung đủ để kiên trì tìm kiếm ánh sáng một cách đều đặn và không quá xúc động. Có đủ mọi loại người. Ít nhất, nhân loại cũng là người chí nguyện thế giới.
In its higher brackets it is the world disciple and its higher brackets it will become the world initiate, and it is the world disciple initiate, it will become the initiate of the first degree. The masters know the possible numbers, but apparently there are sufficient numbers to leaven the entire loaf as it were, to lift the human race up considerably as will be the case when the initiatory energies enter some of its members and are distributed to others.
Ở những tầng lớp cao hơn, nhân loại là đệ tử thế giới, và ở những tầng lớp cao hơn nữa, nhân loại sẽ trở thành điểm đạo đồ thế giới, và với tư cách đệ tử thế giới đang được điểm đạo, nhân loại sẽ trở thành điểm đạo đồ bậc một. Các Chân sư biết số người có thể đạt được điều đó, nhưng dường như có đủ người để làm dậy men cả khối bột, có thể nói như vậy, để nâng nhân loại lên đáng kể, như điều sẽ diễn ra khi các năng lượng điểm đạo đi vào một số thành viên của nhân loại rồi được phân phối đến những người khác.
[17] It was the recognition of these two stages in humanity which led me, under instruction from the Hierarchy, to give out—at widely separated points in time—two stanzas of a great occult mantram.
[17] Chính việc nhận biết hai giai đoạn này trong nhân loại đã khiến Tôi, theo chỉ thị của Thánh đoàn, công bố—vào hai thời điểm cách xa nhau—hai khổ của một mantram huyền bí vĩ đại.
Under instructions from the Hierarchy, instructions from his Master probably, his Master Koot Hoomi, and instructions from the Christ, permission granted I suppose by Sanat Kumara, who, yes, very definitely is involved in this. But at the time that this is being written, the last stanza, which I think required maybe the greatest permission, was not yet given out.
Theo chỉ thị của Thánh đoàn, có lẽ là chỉ thị từ Chân sư của Ngài, Chân sư Koot Hoomi, và chỉ thị từ Đức Christ, với sự cho phép, tôi cho là vậy, của Đức Sanat Kumara, Đấng quả thực có tham gia vào việc này. Nhưng vào thời điểm đoạn này được viết, bài kệ cuối cùng, mà tôi nghĩ có lẽ cần đến sự cho phép cao nhất, vẫn chưa được công bố.
[EAA-140B-F02] Đoạn về hai stanza của great occult mantram và lời bình của MDR. — video 00:15:08.
[EAA-140B-F02] Đoạn về hai bài kệ của mantram huyền bí vĩ đại và lời bình của MDR. — video 00:15:08.
[18] The first stanza, used in 1936, referred to the vague general aspiration of the mass of the people in the world, which is today more pronounced than ever before and becoming more focussed towards true well-being.
[18] Khổ thứ nhất, được sử dụng vào năm 1936, đề cập đến khát vọng chung còn mơ hồ của đông đảo dân chúng trên thế giới; ngày nay, khát vọng ấy rõ rệt hơn bao giờ hết và ngày càng tập trung vào phúc lợi đích thực.
This part of the text was written after 1936, and if he talks about the second stanza, it has been given out, it was written after 1940. I'm beginning to see the implications that the book is written earliest from the middle thirties, maybe from the later thirties and somewhat in the early 1940s, it would appear, before 1942.
Phần văn bản này được viết sau năm 1936, và nếu Ngài nói đến bài kệ thứ hai đã được công bố, thì phần này được viết sau năm 1940. Tôi bắt đầu thấy những hàm ý cho biết cuốn sách được viết sớm nhất từ giữa thập niên 1930, có lẽ từ cuối thập niên ấy, và có vẻ một phần được viết vào đầu thập niên 1940, trước năm 1942.
We have gathered before 1942. But it's a long book. The Great Invocation:
Chúng ta đã suy ra là trước năm 1942. Nhưng đây là một cuốn sách dài. Đại Khấn Nguyện:
[19] Let the Forces of Light bring illumination to mankind.
[19] Cầu xin các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại.
[20] Let the Spirit of Peace be spread abroad.
[20] Cầu xin Tinh thần Hòa Bình lan tỏa khắp nơi.
[21] May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.
[21] Cầu mong những người thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác.
[22] May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time.
[22] Cầu mong sự tha thứ của mọi người là chủ âm vào lúc này.
[23] Let power attend the efforts of the Great Ones.
[23] Cầu xin Quyền Năng hỗ trợ những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.
[24] So let it be, and help us to do our part.
[24] Cầu mong được như vậy, và xin giúp chúng con làm tròn phần việc của mình.
There is an analysis of this in Discipleship in the New Age, Volume II.
Có một phần phân tích về điều này trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập II.
We can go there if we wish. He really does talk about the high level of the Forces of Light and the Spirit of Peace. He is really an extra planetary being.
Chúng ta có thể tìm đọc ở đó nếu muốn. Ngài thực sự nói đến cấp độ cao của các Mãnh Lực Ánh Sáng và Đấng Tinh thần Hòa Bình. Ngài thực sự là một Đấng ngoài hành tinh.
I used to think it was a Shamballic being, but it is more extra-planetary, as is the Avatar of Synthesis. Though intra-systemic, I suspect, within our solar system but extra-planetary.
Tôi từng nghĩ đó là một Đấng thuộc Shamballa, nhưng đúng hơn, Ngài là một Đấng ngoài hành tinh, cũng như Đấng Hoá Thân Tổng Hợp. Tuy nhiên, tôi cho rằng Ngài vẫn ở trong hệ mặt trời của chúng ta, dù ở ngoài hành tinh.
This was the 1936 attempt. It was a strong year for the second ray to offset the possibility of the war. But it could not penetrate the furious onslaught of the Black Lodge as it had dominated the German psyche.
Đây là nỗ lực của năm 1936. Đó là một năm cung hai hoạt động mạnh mẽ nhằm hóa giải khả năng xảy ra chiến tranh. Nhưng nỗ lực ấy không thể xuyên qua cuộc tấn công dữ dội của Hắc đoàn, khi Hắc đoàn đã chi phối tâm lý người Đức.
It mobilized many but could not avert the war.
Nỗ lực ấy đã huy động được nhiều người nhưng không thể ngăn chặn chiến tranh.
Let power attend the efforts of the Great Ones.
Cầu xin Quyền Năng hỗ trợ những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.
So let it be, and help us to do our part.
Cầu mong được như vậy, và xin giúp chúng con làm tròn phần việc của mình.
[25] The use of this first stanza was immediately successful and met with a full response from those good and well-meaning people whose focus is predominantly astral and aspirational, and whose aim is peace and quiet.
[25] Việc sử dụng khổ thứ nhất này lập tức thành công và nhận được sự đáp ứng trọn vẹn từ những người tốt và có thiện ý, vốn chủ yếu tập trung vào cảm dục và khát vọng, với mục tiêu là hòa bình và yên ổn.
[26] This peace and quiet provides the “area of consciousness” in which aspiration can flourish, physical and emotional comfort can be attained and the recognition of the mystical vision becomes possible.
[26] Sự hòa bình và yên ổn này tạo nên “phạm vi tâm thức” trong đó khát vọng có thể phát triển, con người có thể đạt được sự thoải mái về thể chất và cảm xúc, đồng thời có thể nhận biết linh ảnh thần bí.
This stanza appealed to the mystics, the good, the well-meaning, the aspirational, but not so much to disciples who could see maybe—I'm sure it appealed to them, but the next stanza appealed to their ability to see the larger picture.
Bài kệ này thu hút những nhà thần bí, những người tốt lành, có thiện ý, có khát vọng, nhưng không thu hút nhiều bằng đối với các đệ tử có lẽ có thể thấy được—tôi chắc chắn nó cũng thu hút họ, nhưng bài kệ tiếp theo hướng đến khả năng thấy được bức tranh rộng lớn hơn của họ.
[27] The second stanza was given out later and was intended to be a test and a “decision point in a time of crisis.”
[27] Khổ thứ hai được công bố sau đó, với dụng ý làm một thử thách và một “điểm quyết định trong thời kỳ khủng hoảng.”
Definitely this section of the book was written after 1940. We do find parts of the Esoteric Astrology book being written in the forties apparently, but before 1942, and it would have taken quite a bit of work to do those first four hundred or so pages which are about the science of the zodiac, so I'm sure the 1930s were involved.
Chắc chắn phần này của cuốn sách được viết sau năm 1940. Dường như chúng ta quả thực thấy có những phần của cuốn Chiêm Tinh Học Nội Môn được viết vào thập niên 1940, nhưng trước năm 1942; và hẳn phải mất khá nhiều công sức để viết khoảng bốn trăm trang đầu về khoa học hoàng đạo, nên tôi chắc chắn việc biên soạn đã diễn ra cả trong thập niên 1930.
[EAA-140B-F03] Các dòng của stanza thứ hai bắt đầu Let the souls of men awake to the Light. — video 00:20:22.
[EAA-140B-F03] Các dòng của bài kệ thứ hai bắt đầu bằng Cầu xin linh hồn của mọi người thức tỉnh trước Ánh Sáng. — video 00:20:22.
We're pinpointing it, but as I say, if you want to know more exactly, you can speak to Keith Bailey, because I think he has the record on that. The second stanza appealing in the midst of war really, not before the war, not appealing to hope that there would be no war, but in the very midst of the onslaught:
Chúng ta đang xác định thời điểm ấy, nhưng như tôi đã nói, nếu muốn biết chính xác hơn, các bạn có thể trao đổi với Keith Bailey, vì tôi nghĩ ông có tư liệu ghi lại việc đó. Bài kệ thứ hai thực sự cất lên lời khẩn cầu giữa chiến tranh, không phải trước chiến tranh, không phải khẩn cầu với hy vọng sẽ không có chiến tranh, mà ngay giữa cuộc tấn công dữ dội:
[28] Let the Lords of Liberation issue forth.
[28] Cầu xin các Đấng Giải Thoát xuất hiện.
[29] Let Them bring succour to the sons of men.
[29] Cầu xin Các Ngài đem sự cứu giúp đến cho những người con của nhân loại.
[30] Let the Rider from the Secret Place come forth,
[30] Cầu xin Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi Ẩn Mật xuất hiện,
[31] And coming, save.
[31] Và khi đến, hãy cứu độ.
[32] Come forth, O Mighty One.
[32] Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
[33] Let the souls of men awaken to the Light,
[33] Cầu xin linh hồn của mọi người thức tỉnh trước Ánh Sáng,
[34] And may they stand with massed intent.
[34] Và cầu mong họ đứng vững với ý hướng hợp nhất.
[35] Let the fiat of the Lord go forth:
[35] Cầu xin sắc lệnh của Chúa Tể được ban ra:
[36] The end of woe has come!
[36] Thời đau khổ đã chấm dứt!
[37] Come forth, O Mighty One.
[37] Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.
[38] The hour of service of the saving force has now arrived.
[38] Giờ phụng sự của mãnh lực cứu độ nay đã đến.
[39] Let Light and Love and Power and Death
[39] Cầu xin Ánh Sáng, Tình Thương, Quyền Năng và Cái Chết
[40] Fulfil the purpose of the Coming One.
[40] Hoàn thành mục đích của Đấng Đang Đến.
[41] The WILL to save is here.
[41] Ý CHÍ cứu độ hiện diện nơi đây.
[42] The LOVE to carry forth the work is widely spread abroad.
[42] TÌNH THƯƠNG để thực hiện công việc đang lan tỏa khắp nơi.
[43] The ACTIVE AID of all who know the truth is also here.
[43] SỰ TRỢ GIÚP TÍCH CỰC của tất cả những ai biết chân lý cũng hiện diện nơi đây.
[44] Come forth, O mighty One, and blend these three.
[44] Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng, và hợp nhất ba điều này.
[45] Construct a great defending wall.
[45] Hãy dựng nên một bức tường bảo vệ vĩ đại.
[46] The rule of evil NOW must end.
[46] Sự thống trị của điều ác nay phải chấm dứt.
Some of you, if you're interested in these set to music, I have set the great invocations to music, and they can be acquired in one little CD, both in choir form and some of them in solo, solo form with a fine baritone. Well, we can see the appeal to the will of the Coming One, the Rider on the White Horse, the Christ, the Avatar will come forth, and sometimes it seems that one is even invoking Sanat Kumara here.
Với những ai quan tâm đến các bài này được phổ nhạc, tôi đã phổ nhạc các bài Đại Khấn Nguyện, và các bạn có thể tìm mua chúng trong một đĩa CD nhỏ, gồm các bản hợp xướng và một số bản đơn ca do một giọng nam trung xuất sắc trình bày. Chúng ta có thể thấy lời khẩn cầu hướng đến ý chí của Đấng Đang Đến, Đấng Kỵ Sĩ trên Bạch Mã, Đức Christ; Đấng Hoá Thân sẽ xuất hiện, và đôi khi dường như ở đây người ta còn đang khẩn cầu cả Đức Sanat Kumara.
The Lord, the Lord could seem to be Sanat Kumara, but the Christ in a way is the Mighty One, but he is the Lord of Love. He is to be supported by the first, second, and third ray, but he's rarely referred to as the Mighty One, even though he is. So, it seems the appeal is also to great first ray beings.
Chúa Tể ấy dường như có thể là Đức Sanat Kumara, nhưng theo một nghĩa nào đó, Đức Christ là Đấng Đại Hùng, dù Ngài là Chúa Tể của Tình Thương. Ngài cần sự hỗ trợ của cung một, cung hai và cung ba, nhưng hiếm khi được gọi là Đấng Đại Hùng, mặc dù Ngài thực sự là như vậy. Vì thế, dường như lời khẩn cầu cũng hướng đến những Đấng vĩ đại thuộc cung một.
The Lords of Liberation did issue forth, at least one of them issued forth. This invocation must have been very successful in a certain respect. I mean, DK tells us, he may not tell us in what manner the great tragedy was averted, but one of the Lords of Liberation did respond, and you do wonder whether the intense use of this invocation appealing to them directly did not have some potent effect when added to the desperate appeal of humans who were subject to the ravages of war.
Các Đấng Giải Thoát quả thực đã xuất hiện, ít nhất một trong Các Ngài đã xuất hiện. Theo một phương diện nào đó, bài khẩn cầu này hẳn đã rất thành công. Ý tôi là Chân sư DK cho chúng ta biết điều đó; có thể Ngài không cho biết thảm kịch lớn đã được ngăn chặn bằng cách nào, nhưng một trong các Đấng Giải Thoát quả thực đã đáp ứng, và người ta không khỏi tự hỏi liệu việc sử dụng mãnh liệt bài khẩn cầu trực tiếp hướng đến Các Ngài này có tạo ra một tác động mạnh mẽ nào đó hay không, khi cộng thêm lời khẩn nài tuyệt vọng của những người đang chịu cảnh chiến tranh tàn phá.
The Rider is certainly the Christ, and he is the Saviour, and in a way he is the Mighty One, the one who takes action whenever there is a withering of the law and an uprising of lawlessness on all sides: ‘Then I manifest myself from age to age for the salvation of such as do good, and the destruction of those who do evil.’ It's worded in various ways, and I'm somewhat paraphrasing there towards the end, but the one who comes forth, the Christ, since he is—he was, maybe he still is—the leader and the general commander of the Forces of Light.
Đấng Kỵ Sĩ chắc chắn là Đức Christ, và Ngài là Đấng Cứu Thế; theo một nghĩa nào đó, Ngài là Đấng Đại Hùng, Đấng hành động mỗi khi định luật suy tàn và tình trạng vô pháp nổi lên khắp nơi: ‘Bấy giờ Ta tự biểu hiện từ thời đại này sang thời đại khác để cứu độ những người làm điều thiện và tiêu diệt những kẻ làm điều ác.’ Câu này có nhiều cách diễn đạt, và về cuối tôi đã phần nào diễn ý, nhưng Đấng xuất hiện ấy, Đức Christ, vì Ngài là—Ngài đã từng là, có lẽ vẫn còn là—vị lãnh đạo và tổng chỉ huy của các Mãnh Lực Ánh Sáng.
He is, he had a great role during that war. So, he was a military leader in a way without being military, and the army was a great army of light and love, not a conventional army, and he was the leader of that. So, in a way, he would be a mighty one, of course.
Ngài đã đóng một vai trò lớn trong cuộc chiến ấy. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, Ngài là một nhà lãnh đạo quân sự dù không thuộc quân đội, và đạo quân ấy là một đạo quân vĩ đại của ánh sáng và tình thương, một đạo quân khác với quân đội thông thường, và Ngài là người lãnh đạo. Do đó, theo một nghĩa nào đó, dĩ nhiên Ngài là một Đấng Đại Hùng.
But there also seems to be an appeal to the first ray, to the Lords of Liberation on the first ray, and even to Sanat Kumara on the first ray. The Saving Force, as it is discussed, is a threefold force and involves light, love, and power, and involves the three planetary centers, humanity, Hierarchy, and Shamballa. But this is an invocation to a power needed to offset the attack of the forces of darkness.
Nhưng dường như cũng có lời kêu gọi hướng đến cung một, đến các Đấng Giải Thoát trên cung một, và thậm chí đến Sanat Kumara trên cung một. Mãnh Lực Cứu Rỗi, như đang được bàn đến, là một mãnh lực tam phân, bao gồm ánh sáng, tình thương và quyền năng, đồng thời liên quan đến ba trung tâm hành tinh: nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa. Nhưng đây là lời khẩn cầu hướng đến một quyền năng cần thiết để hóa giải cuộc tấn công của các mãnh lực bóng tối.
The end of the age, the power of Pluto, as we have been studying, the power of Scorpio and of Pluto bringing death to old forms of thought is here suggested. It's not just enough light, love, and power, but there must be a death to the old decaying Piscean civilization. Pluto, the Lord of Death, and hierarchical and esoteric ruler of the age of Pisces now coming to an end, fulfill the purpose of the Coming One who is the Christ.
Ở đây gợi lên sự kết thúc của kỷ nguyên, quyền năng của Sao Diêm Vương, như chúng ta đã nghiên cứu, quyền năng của Hổ Cáp và của Sao Diêm Vương mang lại cái chết cho những hình tướng tư tưởng cũ. Chỉ có đủ ánh sáng, tình thương và quyền năng thôi thì chưa đủ; nền văn minh Song Ngư cũ kỹ đang suy tàn phải chết đi. Sao Diêm Vương, Chúa Tể của Sự Chết, đồng thời là chủ tinh huyền giai và nội môn của kỷ nguyên Song Ngư hiện đang đi đến hồi kết, thực hiện mục đích của Đấng Đang Đến, tức Đức Christ.
We have here the three active, well, the three aspects of a great power. The first great force, there is will. It's the will to save.
Ở đây chúng ta có ba phương diện hoạt động của một quyền năng vĩ đại. Mãnh lực vĩ đại thứ nhất là ý chí. Đó là ý chí cứu rỗi.
The greatest of the world's saviors is actually Sanat Kumara, and the Christ reflects him. The love and the persistence to carry forth the work is in sufficient intensity to make the objectives of this invocation possible, and the goodwill, the active aid of all those who know the truth is also here.
Đấng vĩ đại nhất trong số các đấng cứu thế của thế gian thực ra là Sanat Kumara, và Đức Christ phản ánh Ngài. Tình thương và sự kiên trì để tiếp tục công việc có cường độ đủ mạnh để khiến các mục tiêu của lời khẩn cầu này trở nên khả thi; thiện chí, sự trợ giúp tích cực của tất cả những ai biết chân lý, cũng hiện diện ở đây.
The one who comes forth, I guess we have to call it the Christ here. He is a Mighty One as the leader of that great army.
Đấng xuất hiện, tôi đoán ở đây chúng ta phải gọi là Đức Christ. Ngài là một Đấng Đại Hùng trong cương vị người lãnh đạo đạo quân vĩ đại ấy.
Come forth, O mighty One, and blend these three.
Xin hãy xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng, và hợp nhất ba điều này.
The will to save, the love to carry forth the work, the active aid of those who know the truth. Christ, blend these.
Ý chí cứu rỗi, tình thương để tiếp tục công việc, sự trợ giúp tích cực của những ai biết chân lý. Xin Đức Christ hợp nhất những điều này.
Construct a great defending wall.
Hãy dựng nên một bức tường bảo vệ vĩ đại.
We're told of the Hierarchy and how it does protect humanity inasmuch as the Law allows. Certainly those who are preparing for the reappearance of the Christ, we're told, are protected. Master Morya said, ‘You will be amazed later when you see how we protected you.’
Chúng ta được biết về Thánh đoàn và cách Thánh đoàn bảo vệ nhân loại trong phạm vi Định luật cho phép. Chắc chắn, như chúng ta được biết, những ai đang chuẩn bị cho sự tái lâm của Đức Christ đều được bảo vệ. Chân sư Morya đã nói: ‘Sau này, các bạn sẽ kinh ngạc khi thấy Các Ngài đã bảo vệ các bạn như thế nào.’
It is a great fiat; it's a first ray Word of Power, the rule of evil—but that is what it was. As DK talks about it, Hitler and his evil gang.
Đó là một sắc lệnh vĩ đại; đó là một Quyền năng từ của cung một, sự thống trị của điều ác—nhưng đúng là như thế. Như Chân sư DK nói về điều đó, Hitler và bè lũ độc ác của ông ta.