← EAA – Chapter V-VI

Cầu thỉnh và trách nhiệm đối với vận mệnh — Commentary 140c

Tóm lược chương

Những can thiệp Shamballa thời Lemuria và Atlantis có thể do Hành Tinh Thượng đế quyết định, trong khi nhân loại hiện nay có vai trò tích cực hơn qua cầu thỉnh. Thiên Cơ, mục đích và ý chí trở thành những gì con người có thể chủ động kêu gọi, với trách nhiệm tương ứng đối với hướng đi chung. Việc các Đấng Giải Thoát can thiệp được nối với khả năng chuyển hướng năng lượng khám phá khoa học, giúp những người tìm tri thức chân chính và quan hệ đúng đắn. Ý chí cứu độ được liên hệ với Shamballa và Sanat Kumara, mở rộng cách hiểu vốn thường chỉ đặt chức năng cứu độ nơi Đức Christ và Thánh đoàn. Tầm quan trọng của chủ tinh nội môn được lý giải…


Commentary 140c

Tóm Tắt

§ Cầu thỉnh và trách nhiệm đối với vận mệnh

Những can thiệp Shamballa thời Lemuria và Atlantis có thể do Hành Tinh Thượng đế quyết định, trong khi nhân loại hiện nay có vai trò tích cực hơn qua cầu thỉnh. Thiên Cơ, mục đích và ý chí trở thành những gì con người có thể chủ động kêu gọi, với trách nhiệm tương ứng đối với hướng đi chung.

§ Khoa học, quan hệ đúng đắn và ý chí cứu độ

Việc các Đấng Giải Thoát can thiệp được nối với khả năng chuyển hướng năng lượng khám phá khoa học, giúp những người tìm tri thức chân chính và quan hệ đúng đắn. Ý chí cứu độ được liên hệ với Shamballa và Sanat Kumara, mở rộng cách hiểu vốn thường chỉ đặt chức năng cứu độ nơi Đức Christ và Thánh đoàn.

§ Chủ tinh và việc thay đổi hệ quy chiếu

Tầm quan trọng của chủ tinh nội môn được lý giải bằng khả năng ảnh hưởng của Thập Giá Cố Định còn tiếp diễn khi ảnh hưởng Thập Giá Chủ Yếu đang tăng. Câu hỏi vì sao chủ tinh Huyền Giai không xuất hiện trong phần đang xét vẫn để mở. Việc học chiêm tinh nội môn đòi hỏi thời gian để các hình tư tưởng mới thay thế hoặc bao hàm những gì còn giá trị trong hệ thống cũ.

§ Ý chí tinh thần và dục vọng

Ý chí phát xuất từ cấp hiện hữu bền vững qua các biến đổi hoàn cảnh, nên có thể giữ hướng lâu hơn sức thúc đẩy của dục vọng. Trong tình thế chiến tranh, ngọn lửa của Ý Chí-hướng Thiện phải đối diện với dục vọng ích kỷ đã được tổ chức ở quy mô tập thể. Quyết tâm mạnh tự nó chưa chứng tỏ nguồn của lực là tinh thần.

§ Nhận biết thiên tính và bảo toàn khả năng phụng sự

Khi mục đích bắt nguồn từ sự nhận biết thiên tính nội tại, nguyên mẫu bền vững có thể định hướng những cấu hình thấp hơn. Hy sinh trong chiến tranh đã bảo toàn cơ hội học hỏi và phụng sự cho người đến sau, kể cả khi người hy sinh không thể hình dung đầy đủ tương lai mà họ giúp mở ra.

Text EAA 140C – Văn bản EAA 140C

Esoteric Astrology – Chiêm Tinh Học Nội Môn

[1] There awakens in him, therefore, a vague determination at first which gives place in time to an evocation of the will in himself. [2] This eventually puts him en rapport with the will aspect of Deity as it emanates and is stepped down from Shamballa, via the Hierarchy, into which spiritual organisation he is being gradually integrated through experience upon the Fixed Cross. [3] It might here be pointed out that:

[1] Do đó, trong y thoạt đầu thức tỉnh một quyết tâm mơ hồ, rồi theo thời gian nhường chỗ cho sự khơi dậy ý chí trong chính y. [2] Cuối cùng, điều này đưa y vào sự giao cảm với phương diện ý chí của Thượng đế khi ý chí ấy phát xạ từ Shamballa và được giảm cường độ qua Thánh đoàn, tổ chức tinh thần mà y đang dần dần tích hợp vào nhờ trải nghiệm trên Thập Giá Cố Định. [3] Ở đây có thể chỉ ra rằng:

[4] a. Experience upon the Mutable Cross integrates a man into the centre which we call Humanity.

[4] a. Trải nghiệm trên Thập Giá Biến đổi tích hợp con người vào trung tâm mà chúng ta gọi là Nhân Loại.

[5] b. Experience upon the Fixed Cross integrates the disciple into the second planetary Centre which we call the Hierarchy.

[5] b. Trải nghiệm trên Thập Giá Cố Định tích hợp đệ tử vào Trung tâm hành tinh thứ hai mà chúng ta gọi là Thánh đoàn.

[6] c. Experience upon the Cardinal Cross integrates the initiate into the primary planetary Centre to which we give the name Shamballa.

[6] c. Trải nghiệm trên Thập Giá Chủ Yếu tích hợp điểm đạo đồ vào Trung tâm hành tinh chủ yếu mà chúng ta đặt tên là Shamballa.

[7] He eventually becomes a radiating centre of spiritual will, affecting humanity and evoking its will-to-good; [8] he blends this into the Hierarchy as far as he can, fusing this human will into hierarchical activity in an effort to evoke response from Shamballa. (575)

[7] Cuối cùng, y trở thành một trung tâm tỏa chiếu ý chí tinh thần, tác động đến nhân loại và khơi dậy Ý Chí-hướng Thiện của nhân loại; [8] trong khả năng của mình, y hòa nhập ý chí này vào Thánh đoàn, dung hợp ý chí nhân loại này vào hoạt động của Thánh đoàn trong một nỗ lực khơi dậy sự đáp ứng từ Shamballa. (575)

[9] 3. The Cross of the Risen Christ.

[9] 3. Thập Giá của Đức Christ Phục Sinh.

[10] More upon this subject I may not give to you, nor will it profit for me to enlarge upon the conditions which emerge in the consciousness of the initiate upon the Cardinal Cross. [11] My words would be meaningless. Most of you are in the transition state wherein you are stabilising your individual will, and are attempting increasingly to express it in the will-to-good. [12] I would have you deeply realise that if the will-to-peace is conditioning you, [13] then you are still working on emotional levels and your work will then have to be with the first stanza of the Great Invocation and with its distribution to the masses. [14] If it is the will-to-good which influences and directs you, then to the awakening of mass aspiration [15] you must add the task of evoking the response to world need in the thinkers and aspirants through the medium of the second stanza, blending the two approaches in an effort to evoke—via the Hierarchy—the will-to-save of Shamballa.

[10] Tôi không thể cung cấp thêm cho các bạn về chủ đề này, và việc Tôi trình bày rộng hơn về những trạng thái xuất hiện trong tâm thức của điểm đạo đồ trên Thập Giá Chủ Yếu cũng sẽ không mang lại lợi ích gì. [11] Những lời của Tôi sẽ không có ý nghĩa gì đối với các bạn. Phần lớn các bạn đang ở trong trạng thái chuyển tiếp, trong đó các bạn đang ổn định ý chí cá nhân và ngày càng cố gắng biểu lộ ý chí ấy thành Ý Chí-hướng Thiện. [12] Tôi muốn các bạn nhận ra sâu sắc rằng nếu ý chí hướng tới hòa bình đang định hình các bạn, [13] thì các bạn vẫn đang hoạt động trên các cấp độ cảm xúc, và khi ấy công việc của các bạn phải gắn với khổ thứ nhất của Đại Khấn Nguyện cùng việc phổ biến khổ ấy đến quần chúng. [14] Nếu Ý Chí-hướng Thiện ảnh hưởng và định hướng các bạn, thì bên cạnh việc đánh thức khát vọng của quần chúng, [15] các bạn phải thêm nhiệm vụ khơi dậy nơi những người tư duy và những người chí nguyện sự đáp ứng đối với nhu cầu của thế giới thông qua khổ thứ hai, kết hợp hai cách tiếp cận trong một nỗ lực khơi dậy—qua Thánh đoàn—ý chí cứu rỗi của Shamballa.

CHAPTER VII - The Rays, Constellations and Planets

CHƯƠNG VII - Các Cung, Các Chòm Sao và Các Hành Tinh

(As per Tabulation X)

(Theo Bảng X)

(579)

(579)

[16] We come now to our last discussion upon the zodiac and its relation to the seven rays. [17] We have been occupied with the signs and their effects, and with the new and deeply esoteric astrology [18] which will gradually supersede the present mundane astrology. [19] By the end of this century, it will have won its rightful place in human thought. [20] One thing you must constantly bear in mind. Now that the war is over, [21] and that time of acute trial and tribulation has come to an end, a great spiritual awakening (of a quality and a nature quite unpredictable today) will arrive. [22] The war will have taught humanity many lessons and have torn the veil of self away from many eyes. [23] Values which have been hitherto expressed and understood only by those whose “eyes are on God” will be the goal and the desire of untold thousands; [24] true understanding between men and between nations will be a longed for objective. What humanity determines to have, it ever succeeds in achieving. [25] This is an occult law, for desire is as yet the strongest force in the world; [26] organised, unified desire was the basic reason for the appalling early successes of the Axis. [27] The only factor which can successfully oppose desire is Will, [28] using the word in its spiritual connotation and as an expression of the first great divine aspect. [29] There was little of that organised, spiritual will shown by the (580) allies; [30] they were animated naturally by desire for victory, desire for the arrival of the end of this all-engulfing world cataclysm, by desire for peace and the return of stability, the desire to end war once and for all and to break its constantly recurring cycle, and a steadily mounting desire to bring to a finish the terrible toll of suffering, of cruelty, of death, of starvation and of fear which is gripping humanity by the throat in the attempt to strangle out its life.

[16] Giờ đây, chúng ta đi đến phần thảo luận cuối cùng về Hoàng đạo và mối liên hệ của nó với bảy cung. [17] Chúng ta đã bàn đến các dấu hiệu cùng những tác động của chúng, và nền chiêm tinh học mới mang tính nội môn sâu sắc [18] sẽ dần dần thay thế nền chiêm tinh học thế tục hiện nay. [19] Đến cuối thế kỷ này, nền chiêm tinh học ấy sẽ giành được vị trí xứng đáng trong tư tưởng nhân loại. [20] Có một điều các bạn phải luôn ghi nhớ. Giờ đây, khi chiến tranh đã kết thúc, [21] và thời kỳ thử thách cùng khổ nạn khốc liệt ấy đã chấm dứt, một sự thức tỉnh tinh thần lớn lao sẽ đến, với phẩm tính và bản chất hoàn toàn không thể dự đoán vào lúc này. [22] Chiến tranh hẳn đã dạy cho nhân loại nhiều bài học và xé bỏ tấm màn bản ngã khỏi nhiều đôi mắt. [23] Những giá trị mà cho đến nay chỉ những người có “đôi mắt hướng về Thượng đế” mới biểu lộ và thấu hiểu sẽ trở thành mục tiêu và niềm khao khát của vô số người; [24] sự thấu hiểu đích thực giữa con người với nhau và giữa các quốc gia sẽ là một mục tiêu được mong mỏi. Điều gì nhân loại quyết tâm có được, nhân loại luôn đạt được. [25] Đây là một định luật huyền bí, vì dục vọng cho đến nay vẫn là mãnh lực mạnh nhất trên thế giới; [26] dục vọng có tổ chức và thống nhất là nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thành công ban đầu kinh hoàng của phe Trục. [27] Yếu tố duy nhất có thể chống lại dục vọng một cách hữu hiệu là Ý Chí, [28] dùng từ này theo hàm nghĩa tinh thần và như một biểu hiện của phương diện thiêng liêng vĩ đại thứ nhất. [29] Phe (580) Đồng Minh đã thể hiện rất ít ý chí tinh thần có tổ chức ấy; [30] dĩ nhiên, họ được thôi thúc bởi mong muốn chiến thắng, mong muốn ngày chấm dứt cơn đại họa đang nhấn chìm toàn thế giới này sớm đến, mong muốn hòa bình và sự ổn định trở lại, mong muốn chấm dứt chiến tranh một lần và mãi mãi, phá vỡ chu kỳ không ngừng tái diễn của nó, cùng mong muốn ngày càng mãnh liệt nhằm chấm dứt những tổn thất khủng khiếp do đau khổ, tàn bạo, chết chóc, đói khát và sợ hãi gây ra—những điều đang siết cổ nhân loại, hòng bóp nghẹt sự sống của nhân loại.

[31] 1. The Nature of the Will––Underlying Cosmic Purpose.

[31] 1. Bản Chất của Ý Chí––Thiên Ý Vũ Trụ Làm Nền Tảng.

[32] But all this determination is in most cases simply the expression of a fixed and united desire. [33] It is not the organised use of the will. [34] The secret of the will lies in the recognition of the divine nature of man. [35] Only this can evoke the true expression of the will. [36] It has in fact to be evoked by the soul, as it dominates the human mind and controls the personality. [37] The secret of the will is also closely tied in with the recognition of the unconquerable nature of goodness and the inevitability of the ultimate triumph of good. [38] This is not determination; it is not whipping up and stimulating desire so that it can be transmuted into will; [39] it is not an implacable, unshakable, immovable focussing of all energies in the need to triumph (the enemies of the Forces of Light are adept at that). [40] Victory for the allies did lie in the effort to produce this focussing with better effect than the enemy. [41] The use of the will is not expressed by an iron fixation to stand steady and not yield to evil forces. [42] Determination, the focussing of energy and the demonstration of an all-out effort towards victory were only (where the allies are concerned) the expression of a one-pointed desire for peace and for an ending of (581) the trouble. [43] This type of effort is something which the masses can give and which they did give on both sides in this conflict.

[32] Nhưng trong phần lớn trường hợp, toàn bộ quyết tâm này chỉ là biểu hiện của một dục vọng kiên định và thống nhất. [33] Đó không phải là việc vận dụng ý chí có tổ chức. [34] Bí mật của ý chí nằm trong việc nhận biết bản chất thiêng liêng của con người. [35] Chỉ điều này mới có thể khơi dậy sự biểu lộ đích thực của ý chí. [36] Thực ra, linh hồn phải khơi dậy ý chí ấy khi linh hồn chi phối thể trí con người và kiểm soát phàm ngã. [37] Bí mật của ý chí cũng gắn liền mật thiết với việc nhận biết bản chất bất khả chiến bại của tính thiện và tính tất yếu của chiến thắng cuối cùng của điều thiện. [38] Đây không phải là quyết tâm; cũng không phải là việc kích động và kích thích dục vọng để chuyển hoá nó thành ý chí; [39] cũng không phải là sự tập trung toàn bộ năng lượng một cách không khoan nhượng, không lay chuyển, bất lay chuyển vào nhu cầu phải chiến thắng (những kẻ thù của các Mãnh Lực Ánh Sáng rất thành thạo việc đó). [40] Chiến thắng của phe Đồng Minh quả thực nằm trong nỗ lực tạo ra sự tập trung này với hiệu quả cao hơn đối phương. [41] Việc vận dụng ý chí không thể hiện qua sự cố chấp sắt đá nhằm đứng vững và không khuất phục các mãnh lực tà ác. [42] Quyết tâm, sự tập trung năng lượng và việc thể hiện nỗ lực hết sức để giành chiến thắng chỉ là (đối với phe Đồng Minh) biểu hiện của một dục vọng nhất tâm hướng tới hòa bình và sự chấm dứt (581) tình trạng khốn khó. [43] Đây là loại nỗ lực mà quần chúng có thể thực hiện, và họ đã thực sự thực hiện ở cả hai phía trong cuộc xung đột này.

[44] There is, however, a plus, a something else, which swung the tide of victory on to the side of the Allies. [45] It came through an unrealized effort to understand and express the quality of spiritual Will; [46] it was the manifestation of that divine energy which made the first divine aspect of will or power what it is; it is that which is the distinctive feature of the Shamballa force; it is that peculiar and distinctive quality of divinity which is so different that even Christ Himself was unable to express it with facility and understanding.

[44] Tuy nhiên, có một yếu tố bổ sung, một điều gì khác, đã làm xoay chuyển cục diện chiến thắng về phía Đồng Minh. [45] Điều ấy đến từ một nỗ lực mà họ không nhận biết, nhằm thấu hiểu và biểu lộ phẩm tính của Ý Chí tinh thần; [46] đó là sự biểu hiện của năng lượng thiêng liêng đã làm nên bản chất của phương diện thiêng liêng thứ nhất—ý chí hay quyền năng; đó là nét đặc trưng của mãnh lực Shamballa; đó là phẩm tính đặc thù và riêng biệt của thiên tính, khác biệt đến mức ngay cả chính Đức Christ cũng không thể biểu lộ phẩm tính ấy một cách dễ dàng và thấu hiểu.

Esoteric Astrology Adventure 140C — The Three Crosses and the Nature of the Will – Hành trình khám phá Chiêm Tinh Học Nội Môn 140C — Ba Thập Giá và Bản chất của Ý chí

Everyone, we're going on to Esoteric Astrology Adventure number 140C, and we've been looking at some of the emerging effects on the Fixed Cross: the vast experience of group life and group activity, the realization in consciousness of a vision of the endless Way of which Nirvana is but the beginning, that sense of endless and ongoing progress, and the task of mediatorship. As Hierarchy mediates between Shamballa and humanity, so the individual knows that he must also mediate. He carries on the task of invocation and evocation.

Thưa các bạn, chúng ta tiếp tục với Hành trình khám phá Chiêm Tinh Học Nội Môn số 140C. Chúng ta đã xem xét một số hiệu quả đang xuất hiện trên Thập Giá Cố Định: kinh nghiệm rộng lớn về đời sống nhóm và hoạt động nhóm, sự chứng nghiệm trong tâm thức một tầm nhìn về Đường Đạo vô tận mà Niết Bàn chỉ là bước khởi đầu, cảm nhận về sự tiến bộ vô tận và liên tục ấy, cùng nhiệm vụ làm trung gian. Cũng như Thánh đoàn làm trung gian giữa Shamballa và nhân loại, cá nhân biết rằng mình cũng phải làm trung gian. Y đảm nhận nhiệm vụ Khẩn Cầu và Gợi Lên.

He seeks to invoke and thus evoke the world thinkers and aspirants, and he is also involved to some measure in invoking the will to save of the Shamballa Lords. This in a way, I suppose, is more the function of Hierarchy, but some disciples are involved in this as well in their cooperation with Hierarchy.

Y tìm cách khẩn cầu và qua đó gợi lên sự đáp ứng của các nhà tư tưởng và những người chí nguyện trên thế giới; đồng thời, ở một mức độ nào đó, y cũng tham gia khẩn cầu ý chí cứu rỗi của các Đấng Chúa Tể Shamballa. Tôi cho rằng, theo một nghĩa nào đó, đây chủ yếu là chức năng của Thánh đoàn, nhưng một số đệ tử cũng tham gia công việc này khi hợp tác với Thánh đoàn.

[1] There awakens in him, therefore, a vague determination at first which gives place in time to an evocation of the will in himself.

[1] Do đó, trong y thoạt đầu thức tỉnh một quyết tâm mơ hồ, rồi theo thời gian nhường chỗ cho sự khơi dậy ý chí trong chính y.

A vague determination which gives place eventually to the evocation of the will in himself.

Một quyết tâm mơ hồ, cuối cùng nhường chỗ cho sự gợi lên ý chí trong chính y.

This happens on the Fixed Cross, and we certainly have signs of determination there. There's much strength in these signs. Just think of them, Taurus and determination, Leo and self-confidence, Scorpio and the accumulation of power, and Aquarius somehow synthesizing all of these under Uranus.

Điều này xảy ra trên Thập Giá Cố Định, và chắc chắn chúng ta thấy những biểu hiện của sự quyết tâm ở đó. Các dấu hiệu hoàng đạo này hàm chứa nhiều sức mạnh. Hãy nghĩ đến Kim Ngưu và sự quyết tâm, Sư Tử và sự tự tin, Hổ Cáp và sự tích lũy quyền năng, cùng Bảo Bình, bằng cách nào đó, tổng hợp tất cả những điều này dưới ảnh hưởng của Sao Thiên Vương.

[2] This eventually puts him en rapport with the will aspect of Deity as it emanates and is stepped down from Shamballa, via the Hierarchy, into which spiritual organisation he is being gradually integrated through experience upon the Fixed Cross.

[2] Cuối cùng, điều này đưa y vào sự giao cảm với phương diện ý chí của Thượng đế khi ý chí ấy phát xạ từ Shamballa và được giảm cường độ qua Thánh đoàn, tổ chức tinh thần mà y đang dần dần tích hợp vào nhờ trải nghiệm trên Thập Giá Cố Định.

That's important, gradual integration into Hierarchy on the Fixed Cross. He is being put en rapport with the will aspect of Deity.

Điều đó rất quan trọng: sự tích hợp dần dần vào Thánh đoàn trên Thập Giá Cố Định. Y đang được đưa vào sự tương thông với phương diện ý chí của Thượng đế.

The Fixed Cross, although it does not endure for a long time in the history of the evolution of the human being, is extremely important in helping him make the transition into the next kingdom and takes him onward towards the possibility of transition into the kingdom of planetary lives at Chohanship. But the Fixed Cross does not extend that far.

Mặc dù Thập Giá Cố Định không kéo dài lâu trong lịch sử tiến hoá của con người, nó vô cùng quan trọng trong việc giúp y chuyển tiếp vào giới kế tiếp và đưa y tiến tới khả năng chuyển tiếp vào giới của Các Sự Sống Hành tinh ở quả vị Đế Quân. Nhưng Thập Giá Cố Định không vươn xa đến mức ấy.

By the time one is a Master and moving beyond that, it is the Monadic ray which is really all-important.

Khi một người đã là Chân sư và đang tiến xa hơn nữa, cung chân thần mới thực sự có tầm quan trọng tối cao.

[3] It might here be pointed out that:

[3] Ở đây có thể chỉ ra rằng:

[4] a. Experience upon the Mutable Cross integrates a man into the centre which we call Humanity.

[4] a. Trải nghiệm trên Thập Giá Biến đổi tích hợp con người vào trung tâm mà chúng ta gọi là Nhân Loại.

Maybe some of the very early examples of those upon the Mutable Cross are not really integrated; they're even closer to the animal kingdom although they are human.

Có lẽ một số người ở những giai đoạn rất sơ khai trên Thập Giá Biến đổi chưa thực sự tích hợp; họ còn gần với giới động vật hơn, mặc dù đã là con người.

Maybe this took place really in earlier times when there were those who were simply bud lotuses and they did not have one petal open. Now we're told that everyone, every human being on this planet has at least one petal open.

Có lẽ điều này thực sự xảy ra vào những thời kỳ xa xưa hơn, khi có những người chỉ là những nụ hoa sen, chưa có một cánh hoa nào khai mở. Giờ đây, chúng ta được cho biết rằng mỗi người, mỗi con người trên hành tinh này, đều có ít nhất một cánh hoa đã khai mở.

[5] b. Experience upon the Fixed Cross integrates the disciple into the second planetary Centre which we call the Hierarchy.

[5] b. Trải nghiệm trên Thập Giá Cố Định tích hợp đệ tử vào Trung tâm hành tinh thứ hai mà chúng ta gọi là Thánh đoàn.

[EAA-140C-F01] Sơ đồ Solar and Planetary Hierarchies được MDR mở đối chiếu. — video 00:04:22.

[EAA-140C-F01] Sơ đồ Các Huyền Giai Thái Dương và Hành Tinh được MDR mở đối chiếu. — video 00:04:22.

So that large circle that we may remember, this is the circle that shows us that we are in fact within the boundary of the Hierarchy. In a way of course the entire planetary Hierarchy here could even be a red circle. It does include Sanat Kumara.

Vòng tròn lớn mà có lẽ chúng ta còn nhớ chính là vòng tròn cho thấy chúng ta thực sự ở trong ranh giới của Thánh đoàn. Dĩ nhiên, theo một nghĩa nào đó, toàn bộ Thánh đoàn hành tinh ở đây thậm chí có thể là một vòng tròn màu đỏ. Vòng tròn ấy bao gồm cả Sanat Kumara.

The way it's laid out we use Hierarchy in a larger sense and not in a specific sense.

Theo cách trình bày này, chúng ta dùng từ Thánh đoàn theo nghĩa rộng hơn, chứ không theo nghĩa chuyên biệt.

[6] c. Experience upon the Cardinal Cross integrates the initiate into the primary planetary Centre to which we give the name Shamballa.

[6] c. Trải nghiệm trên Thập Giá Chủ Yếu tích hợp điểm đạo đồ vào Trung tâm hành tinh chủ yếu mà chúng ta đặt tên là Shamballa.

We have three types of experience, three types of integration.

Chúng ta có ba loại kinh nghiệm, ba loại tích hợp.

A synthesis is created with these energies which makes a person or an individual firmly a part of the three planetary centers sequentially. If we do not feel ourselves yet integrated into the Hierarchy then surely we are on the Fixed Cross. We are by no means ready to be integrated into Shamballa.

Những năng lượng này tạo nên một sự tổng hợp, khiến một người hay một cá nhân lần lượt trở thành một thành phần vững chắc của ba trung tâm hành tinh. Nếu chúng ta chưa cảm thấy mình đã tích hợp vào Thánh đoàn thì chắc chắn chúng ta đang ở trên Thập Giá Cố Định. Chúng ta hoàn toàn chưa sẵn sàng để tích hợp vào Shamballa.

[7] He eventually becomes a radiating centre of spiritual will, affecting humanity and evoking its will-to-good;

[7] Cuối cùng, y trở thành một trung tâm tỏa chiếu ý chí tinh thần, tác động đến nhân loại và khơi dậy Ý Chí-hướng Thiện của nhân loại;

That is one of his tasks as a mediator facing humanity, invoking humanity and thus evoking its will-to-good.

Đó là một trong những nhiệm vụ của y với tư cách một trung gian hướng về nhân loại, khẩn cầu nhân loại và qua đó gợi lên Ý Chí-hướng Thiện của nhân loại.

[8] he blends this into the Hierarchy as far as he can, fusing this human will into hierarchical activity in an effort to evoke response from Shamballa.

[8] trong khả năng của mình, y hòa nhập ý chí này vào Thánh đoàn, dung hợp ý chí nhân loại này vào hoạt động của Thánh đoàn trong một nỗ lực khơi dậy sự đáp ứng từ Shamballa. (575)

He is looking below to look above to help below. He's looking below and evoking the will-to-good in humanity, and as much as he can within himself also, he seeks to fuse the human will or the developing will-to-good in his own nature in order to evoke response from Shamballa. If a sufficient number of human beings are animated by the will-to-good, then there is a greater chance that Shamballa may be evoked in a way which will affect humanity positively.

Y nhìn xuống dưới để hướng lên trên nhằm giúp đỡ bên dưới. Y nhìn xuống dưới và gợi lên Ý Chí-hướng Thiện trong nhân loại; đồng thời, trong khả năng của mình, y cũng tìm cách dung hợp ý chí nhân loại, hay Ý Chí-hướng Thiện đang phát triển trong chính bản chất mình, để gợi lên sự đáp ứng từ Shamballa. Nếu có đủ số người được Ý Chí-hướng Thiện thôi thúc, thì khả năng gợi lên sự đáp ứng từ Shamballa theo cách tác động tích cực đến nhân loại sẽ lớn hơn.

Sometimes there have been interventions by Shamballa in the ancient Lemurian days and Atlantean days and probably these interventions were not the result of invocation from humanity but they were decisions made by the supervisory Planetary Logos. Maybe they were evoked in some way by the Hierarchy of the time but now humanity plays a much bigger role in determining its own destiny. Shamballa is the place of destiny, the monad is that which has destiny, the monad is part of Shamballa.

Đôi khi, Shamballa đã can thiệp trong những thời đại Lemuria và Atlantis xa xưa, và có lẽ những lần can thiệp ấy không phải là kết quả của sự khẩn cầu từ nhân loại, mà là những quyết định của Hành Tinh Thượng đế đang giám sát. Có lẽ Thánh đoàn thời ấy đã gợi lên những sự can thiệp đó bằng một cách nào đó, nhưng giờ đây nhân loại đóng vai trò lớn hơn nhiều trong việc quyết định vận mệnh của chính mình. Shamballa là nơi của vận mệnh, chân thần là chủ thể mang vận mệnh, chân thần là một phần của Shamballa.

We are now becoming responsible for our fate, for our destiny as we invoke the Plan, the purpose, the higher will. These things, the words plan, purpose, will, they now mean something to the higher type of human being and we are involved in calling them, quote, down. So the second of the invocations there, really, ‘Let Light and Love and Power and Death fulfil the purpose of the Coming One’, I mean we are calling down these great energies and we are doing so with deliberation and we are participating in their view of the world and we are decentralized and no longer looking for the strictly personal solution.

Giờ đây, chúng ta đang trở nên có trách nhiệm với số phận, với vận mệnh của mình khi khẩn cầu Thiên Cơ, Thiên Ý và ý chí cao siêu. Những điều này, những từ Thiên Cơ, Thiên Ý, ý chí, giờ đây có ý nghĩa đối với mẫu người cao hơn, và chúng ta đang tham gia vào việc gọi những điều ấy “xuống”. Vì vậy, thực ra, trong bài khấn nguyện thứ hai ở đó, “Cầu xin Ánh Sáng, Tình Thương, Quyền Năng và Cái Chết Hoàn thành mục đích của Đấng Đang Đến.”, chúng ta đang triệu thỉnh những năng lượng vĩ đại này giáng xuống, và chúng ta làm điều đó một cách có chủ đích; chúng ta đang tham dự vào cách Các Ngài nhìn thế giới, đã phi tập trung vào bản thân và không còn tìm kiếm giải pháp thuần tuý cho cá nhân.

It would be so interesting to know just what effect that invocation had on the response of the Lords of Liberation. DK is very mysterious about their response. He doesn't say how the withdrawal of the Hierarchy was avoided.

Sẽ rất thú vị nếu biết được bài khấn nguyện ấy đã tác động ra sao đến sự đáp ứng của các Đấng Giải Thoát. Chân sư DK nói rất kín đáo về sự đáp ứng của Các Ngài. Ngài không cho biết bằng cách nào việc Thánh đoàn rút lui đã được ngăn chặn.

If you think about it, that Hierarchy that we trust so much and which has been so instrumental in bringing the Wisdom to humanity, it almost withdrew from the human sphere of influence because they believed that humanity would go down. Those are the words the Tibetan uses, and they are shocking words. I'm always shocked.

Nếu suy ngẫm về điều đó, các bạn sẽ thấy Thánh đoàn mà chúng ta tin cậy đến thế, và đã đóng vai trò trọng yếu đến thế trong việc mang minh triết đến cho nhân loại, đã suýt rút khỏi phạm vi ảnh hưởng nơi nhân loại, vì Các Ngài tin rằng nhân loại sẽ thất bại. Đó là những từ Chân sư Tây Tạng sử dụng, và chúng thật gây chấn động. Tôi luôn cảm thấy chấn động.

Believed. I always refresh my mind with this sobering reminder:

Đã tin như vậy. Tôi luôn nhắc lại trong trí mình lời nhắc nhở khiến người ta phải tỉnh ngộ này:

[EAA-140C-F02] Đoạn sách về will, humanity và Cross of the Risen Christ. — video 00:09:55.

[EAA-140C-F02] Đoạn sách về ý chí, nhân loại và Thập Giá của Đức Christ Phục Sinh. — video 00:09:55.

the plans for a closer contact with the evolutionary process in the three worlds and the effort to blend and fuse the two divine centres, the Hierarchy and Humanity, into one working, collaborating whole seemed doomed to destruction. Their fusion would have meant the appearance of the Kingdom of God on earth; (EXH, tr. 493–494)

những kế hoạch nhằm tiếp xúc mật thiết hơn với tiến trình tiến hoá trong ba cõi giới, cùng nỗ lực hoà nhập và dung hợp hai trung tâm thiêng liêng, Thánh đoàn và Nhân loại, thành một toàn thể cùng hoạt động và hợp tác, dường như đã bị định sẵn phải tan vỡ. Sự dung hợp của hai trung tâm ấy hẳn sẽ có nghĩa là Thiên Giới xuất hiện trên Trái Đất; (EXH, tr. 493–494)

Which was well anticipated in the first books before the Second World War broke out.

Điều này đã được trông đợi rất nhiều trong những cuốn sách đầu tiên, trước khi Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ.

the obstacles to this fusion, owing to the active tension of the dark forces, seemed at that time insuperable; (EXH, tr. 493–494)

vào thời điểm ấy, những chướng ngại đối với sự dung hợp này, do sức căng đang phát huy tác dụng của các mãnh lực bóng tối, dường như không thể vượt qua; (EXH, tr. 493–494)

we believed that man would go down to defeat, (EXH, tr. 493–494)

chúng ta tin rằng con người sẽ đi đến thất bại, (EXH, tr. 493–494)

We, we the Hierarchy.

Chúng ta, tức là chúng ta, Thánh đoàn.

owing to his selfishness and his misuse of the principle of free will. We made all preparations to withdraw, and yet at the same time we struggled to get humanity to choose rightly and to see the issues clearly. (EXH, tr. 493–494)

do tính ích kỷ và việc lạm dụng nguyên khí tự do ý chí của mình. Chúng ta đã chuẩn bị mọi việc để rút lui, nhưng đồng thời vẫn đấu tranh để nhân loại lựa chọn đúng đắn và nhìn rõ các vấn đề. (EXH, tr. 493–494)

It's such a drama. One day maybe, can it be well dramatized? Maybe a movie, a film could be directed by Steven Spielberg if he thought that such things were realities or sufficiently evocative.

Thật là một tấn kịch. Có lẽ một ngày nào đó, liệu người ta có thể thể hiện nó thật hay trên sân khấu hay màn ảnh chăng? Có lẽ Steven Spielberg có thể đạo diễn một bộ phim nếu ông cho rằng những điều như thế là có thật hoặc đủ sức gợi cảm hứng.

The necessity to withdraw was averted. I may not say in what manner, beyond telling you that the Lords of Liberation took certain unexpected steps. (EXH, tr. 494)

Tình thế buộc phải rút lui đã được ngăn chặn. Tôi không được phép nói bằng cách nào, ngoài việc cho các bạn biết rằng các Đấng Giải Thoát đã thực hiện một số bước đi bất ngờ. (EXH, tr. 494)

This They were led to do owing to the invocative powers of humanity, used consciously by all those upon the side of the will-to-good and unconsciously by all men of goodwill. (EXH, tr. 494)

Các Ngài đã được dẫn dắt để làm điều này nhờ những quyền năng khẩn cầu của nhân loại, mà tất cả những người đứng về phía Ý Chí-hướng Thiện đã sử dụng một cách có ý thức, còn tất cả những người thiện chí đã sử dụng một cách vô thức. (EXH, tr. 494)

Basically it was a dual invocation of the kind the Tibetan discussed, the invocation correlated with the first of the Great Invocation stanzas and that correlated with the second.

Về cơ bản, đó là một sự khẩn cầu kép thuộc loại Chân sư Tây Tạng đã bàn đến: sự khẩn cầu tương ứng với khổ thứ nhất của Đại Khấn Nguyện và sự khẩn cầu tương ứng với khổ thứ hai.

Owing to these steps, the efforts of those fighting in the realm of science for the establishing of true knowledge and right human relations were aided. The trend of the power to know and to discover (a definite form of energy) was deflected away from the demanding evocative minds of those seeking to destroy the world of men, leading to a form of mental paralysis. Those seeking to emphasise the right values and to save humanity were simultaneously stimulated to the point of success. (EXH, tr. 494)

Nhờ những bước đi này, nỗ lực của những người đang đấu tranh trong lĩnh vực khoa học để thiết lập tri thức chân chính và những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người đã nhận được sự trợ giúp. Dòng năng lực hiểu biết và khám phá—một dạng năng lượng xác định—đã được chuyển hướng ra khỏi những thể trí đang đòi hỏi và gợi gọi của những kẻ tìm cách huỷ diệt thế giới loài người, dẫn đến một dạng tê liệt trí tuệ. Đồng thời, những người tìm cách đề cao các giá trị đúng đắn và cứu nhân loại đã được kích thích đến mức đạt được thành công. (EXH, tr. 494)

This connection of the first and the fifth ray. The fifth ray ashram was involved. The atomic power also is closely related to the first ray ashram.

Đây là mối liên hệ giữa cung một và cung năm. Ashram cung năm đã tham gia. Năng lượng nguyên tử cũng liên hệ chặt chẽ với ashram cung một.

The Lords of Liberation are first ray beings. A deflection was in some way engineered. The allies and all related people would have gone down had the forces of materialism discovered and implemented the secrets of atomic energy first.

Các Đấng Giải Thoát là những Sinh Mệnh cung một. Bằng một cách nào đó, Các Ngài đã thực hiện một sự chuyển hướng. Phe Đồng Minh và tất cả những người liên quan hẳn đã thất bại nếu các mãnh lực duy vật khám phá và ứng dụng những bí mật của năng lượng nguyên tử trước.

That was an imminent possibility. This is maybe the most dramatic event of which we are aware in this whole teaching: basically, the saving of humanity by the Lords of Liberation through this deflecting power.

Đó là một khả năng cận kề. Có lẽ đây là sự kiện kịch tính nhất mà chúng ta biết trong toàn bộ giáo huấn này: về cơ bản, các Đấng Giải Thoát đã cứu nhân loại qua quyền năng chuyển hướng ấy.

After so much work, so much hope, after founding the Theosophical Society, releasing the Ageless Wisdom into the consciousness of humanity, to have to come to that point in the 1940s when the Hierarchy actually believed humanity would go down to destruction. I mean, I don't, I can't think of more sobering thoughts. What do they think now? When they look at countries with maybe, affected deeply by ideology, having atomic weapons, what do they think now? Well, time will tell.

Sau biết bao công sức, biết bao hy vọng, sau khi thành lập Hội Thông Thiên Học, truyền Minh Triết Ngàn Đời vào tâm thức nhân loại, vậy mà lại phải đi đến thời điểm ấy trong thập niên 1940, khi Thánh đoàn thực sự tin rằng nhân loại sẽ đi đến diệt vong. Tôi không thể nghĩ ra điều gì khiến người ta phải tỉnh ngộ hơn thế. Bây giờ Các Ngài nghĩ gì? Khi nhìn vào những quốc gia có lẽ đang chịu ảnh hưởng sâu sắc của ý thức hệ và sở hữu vũ khí nguyên tử, bây giờ Các Ngài nghĩ gì? Thời gian sẽ trả lời.

[9] 3. The Cross of the Risen Christ.

[9] 3. Thập Giá của Đức Christ Phục Sinh.

This is the Cardinal Cross.

Đây là Thập Giá Chủ Yếu.

[10] More upon this subject I may not give to you, nor will it profit for me to enlarge upon the conditions which emerge in the consciousness of the initiate upon the Cardinal Cross.

[10] Tôi không thể cung cấp thêm cho các bạn về chủ đề này, và việc Tôi trình bày rộng hơn về những trạng thái xuất hiện trong tâm thức của điểm đạo đồ trên Thập Giá Chủ Yếu cũng sẽ không mang lại lợi ích gì.

So little is said of the will, so little is said of the first aspect of divinity and of the structures which express and mediate that energy.

Có quá ít điều được nói đến về ý chí, về phương diện thứ nhất của thiên tính và về những cấu trúc biểu hiện, làm trung gian cho năng lượng ấy.

So little is said of the monad compared to that which is said of the soul.

Có quá ít điều được nói đến về chân thần so với những điều được nói đến về linh hồn.

[11] My words would be meaningless. Most of you are in the transition state wherein you are stabilising your individual will, and are attempting increasingly to express it in the will-to-good.

[11] Những lời của Tôi sẽ không có ý nghĩa gì đối với các bạn. Phần lớn các bạn đang ở trong trạng thái chuyển tiếp, trong đó các bạn đang ổn định ý chí cá nhân và ngày càng cố gắng biểu lộ ý chí ấy thành Ý Chí-hướng Thiện.

I mean, this is still a transition in a way from the Mutable Cross to the Fixed Cross. Most of those for whom he is writing are in the initial stages of the Fixed Cross, and some more well established, and some, maybe some, preparing to leave the Fixed Cross. He does give hints, after all, for those who are initiates of the fourth degree, even.

Theo một nghĩa nào đó, đây vẫn là sự chuyển tiếp từ Thập Giá Biến đổi sang Thập Giá Cố Định. Phần lớn những người mà Ngài viết cho đang ở các giai đoạn đầu của Thập Giá Cố Định; một số đã đứng vững hơn, và có lẽ một số đang chuẩn bị rời Thập Giá Cố Định. Xét cho cùng, Ngài quả có đưa ra những gợi ý, thậm chí cho cả những điểm đạo đồ bậc bốn.

We're told that the book, the Yoga Sutras of Patanjali, the third and fourth book are read by those who are masters. So there is some instruction here, quite deeply veiled I suspect, that is given for high initiates, but most are not yet firm in their will to good.

Chúng ta được cho biết rằng các Chân sư đọc quyển thứ ba và thứ tư của bộ Kinh Yoga của Patanjali. Vì vậy, ở đây có một số huấn thị dành cho các điểm đạo đồ cao cấp mà tôi ngờ là được che giấu rất sâu, nhưng phần lớn mọi người vẫn chưa vững vàng trong Ý Chí-hướng Thiện của mình.

[12] I would have you deeply realise that if the will-to-peace is conditioning you,

[12] Tôi muốn các bạn nhận ra sâu sắc rằng nếu ý chí hướng tới hòa bình đang định hình các bạn,

He's trying to bring, I think, certain pacifists around.

Tôi nghĩ Ngài đang cố gắng khiến một số người theo chủ nghĩa hoà bình thay đổi quan điểm.

As among the readers of these books could have been found those who simply wished for the peace to return and the great attack to go away.

Bởi trong số độc giả của những cuốn sách này có thể có những người chỉ mong hoà bình trở lại và cuộc tấn công lớn chấm dứt.

if the will-to-peace is conditioning you,

nếu ý chí hướng đến hoà bình đang định hình các bạn,

[13] then you are still working on emotional levels and your work will then have to be with the first stanza of the Great Invocation and with its distribution to the masses.

[13] thì các bạn vẫn đang hoạt động trên các cấp độ cảm xúc, và khi ấy công việc của các bạn phải gắn với khổ thứ nhất của Đại Khấn Nguyện cùng việc phổ biến khổ ấy đến quần chúng.

There's nothing wrong with it.

Điều đó không có gì sai.

This is very good, and even today, if goodwill could be more generally stimulated in the hearts and minds of men, still good today.

Điều này rất tốt, và ngay cả ngày nay, nếu thiện chí có thể được khơi dậy rộng rãi hơn trong trái tim và thể trí của con người, thì điều đó vẫn tốt.

[14] If it is the will-to-good which influences and directs you, then to the awakening of mass aspiration

[14] Nếu Ý Chí-hướng Thiện ảnh hưởng và định hướng các bạn, thì bên cạnh việc đánh thức khát vọng của quần chúng,

Which is still a responsibility.

Đó vẫn là một trách nhiệm.

[15] you must add the task of evoking the response to world need in the thinkers and aspirants through the medium of the second stanza, blending the two approaches in an effort to evoke—via the Hierarchy—the will-to-save of Shamballa.

[15] các bạn phải thêm nhiệm vụ khơi dậy nơi những người tư duy và những người chí nguyện sự đáp ứng đối với nhu cầu của thế giới thông qua khổ thứ hai, kết hợp hai cách tiếp cận trong một nỗ lực khơi dậy—qua Thánh đoàn—ý chí cứu rỗi của Shamballa.

Interesting to think of the will to save as connected with Shamballa. Normally we think of the Christ and the Hierarchy as the saviors, but the greatest of all the saviors is Sanat Kumara, and this we must remember, is Sanat Kumara. Where is our work? And now, of course, the third stanza had been given out, and five years later—they were given out at wide intervals, but of course the war had to be won before the third stanza could be given out, and even then, would it have been given out if the Christ himself had not decided to reappear in bodily form? That was a great intended sacrifice, and it's in process now, and in response to that sacrifice, the evocation was the giving out of the third and greatest stanza, the invocation for power and light, probably stored in Shamballa for ages.

Thật thú vị khi nghĩ rằng ý chí cứu rỗi có liên hệ với Shamballa. Thông thường, chúng ta nghĩ đến Đức Christ và Thánh đoàn như những đấng cứu rỗi, nhưng đấng cứu rỗi vĩ đại nhất trong tất cả là Sanat Kumara; và chúng ta phải nhớ điều này: đó là Sanat Kumara. Công việc của chúng ta nằm ở đâu? Giờ đây, dĩ nhiên, khổ thứ ba đã được ban ra, năm năm sau—các khổ ấy được ban ra cách nhau những khoảng thời gian dài; nhưng dĩ nhiên phải thắng cuộc chiến trước khi có thể ban ra khổ thứ ba. Và ngay cả khi ấy, liệu khổ này có được ban ra nếu chính Đức Christ không quyết định tái lâm trong hình hài thân xác? Đó là một sự hi sinh lớn lao mà Ngài chủ định thực hiện, và hiện nay sự hi sinh ấy đang diễn ra. Đáp lại sự hi sinh ấy, sự gợi lên đã dẫn đến việc ban ra khổ thứ ba và vĩ đại nhất, bài khấn nguyện cầu quyền năng và ánh sáng, có lẽ đã được lưu giữ tại Shamballa từ bao thời đại.

When we think of the steps that have been taken to protect humanity and the Planet, they are astonishing, and one day we will find ourselves in such a position, perhaps, where we are the protectors and the sustainers of the guardian wall. Perhaps the animal kingdom at present will not fall into such evil ways as has the humanity at present. Perhaps when the animal kingdom individualizes more thoroughly in the fifth round, there will be more of Manas to direct the way, and less of desire.

Khi chúng ta nghĩ đến những bước đi đã được thực hiện để bảo vệ nhân loại và Hành tinh, chúng thật đáng kinh ngạc; và có lẽ một ngày nào đó, chúng ta sẽ ở vào vị trí những người bảo vệ và duy trì bức tường hộ trì. Có lẽ giới động vật hiện nay sẽ không sa vào những đường lối xấu xa như nhân loại hiện nay. Có lẽ khi giới động vật biệt ngã hóa đầy đủ hơn trong cuộc tuần hoàn thứ năm, trí tuệ sẽ đóng vai trò lớn hơn trong việc dẫn đường, còn dục vọng sẽ ít hơn.

We will see. Every period holds its own problems for solution, and as the old saying goes, ‘Sufficient unto the day is the evil thereof.’ We handle what we have to handle now, and we cannot worry about, for instance, what we will have to handle at the Judgment Day, where I'm sure that some of us will be participating in one mode or another. We are into Chapter VII now.

Chúng ta sẽ thấy. Mỗi thời kỳ đều có những vấn đề riêng cần giải quyết, và như câu ngạn ngữ xưa: “Ngày nào có đủ nỗi khổ của ngày ấy.” Chúng ta xử lý những gì phải xử lý lúc này, và không thể lo lắng, chẳng hạn, về những gì chúng ta sẽ phải xử lý vào Ngày Phán Xét, khi tôi chắc rằng một số người trong chúng ta sẽ tham gia theo cách này hay cách khác. Giờ đây, chúng ta đã sang Chương VII.

I wish we had a table of contents in the beginning of this. I'd have to go through the book in order to determine the chapters, but we have been passing rapidly through chapters in the second part of the book, beginning on page 404 or 407, and now we come to a larger consideration which relates to systemic and cosmic matters. We had Tabulation X, and maybe we should look at Tabulation X.

Tôi ước gì ở đầu phần này có một mục lục. Tôi sẽ phải xem qua cuốn sách để xác định các chương, nhưng chúng ta đã đi khá nhanh qua các chương trong phần thứ hai của cuốn sách, bắt đầu ở trang 404 hoặc 407; giờ đây chúng ta đi đến một nội dung khảo sát rộng hơn, liên quan đến những vấn đề của hệ mặt trời và vũ trụ. Chúng ta đã có Bảng X, và có lẽ chúng ta nên xem Bảng X.

I think on page 590 we will get what we need. We're not there yet.

Tôi nghĩ ở trang 590 chúng ta sẽ tìm được điều mình cần. Chúng ta chưa đến đó.

[EAA-140C-F03] Bảng The Rays, Constellations and Planets (Tabulation X), phần Gemini, Virgo, Pisces và các sign tiếp theo. — video 00:21:47.

[EAA-140C-F03] Bảng Các Cung, Các Chòm Sao và Các Hành Tinh (Bảng X), phần Song Tử, Xử Nữ, Song Ngư và các dấu hiệu tiếp theo. — video 00:21:47.

This is as per Tabulation X. Let us look up Tabulation X and what it gives us.

Điều này theo Bảng X. Chúng ta hãy tìm Bảng X và xem bảng ấy cung cấp những gì.

This is a more complete—well, I think it's been given before.

Đây là một bản đầy đủ hơn—tôi nghĩ nó đã được đưa ra trước đây.

Here we do have Tabulation X. There's the list, of course, of the constellations, their ray, and the Planets which are orthodox and esoteric.

Ở đây chúng ta có Bảng X. Dĩ nhiên, có danh sách các chòm sao, cung của chúng và các Hành tinh cai quản theo chiêm tinh học chính thống và nội môn.

The hierarchical ruler is not included here. One can wonder why, but if the esoteric ruler is connected with the Fixed Cross, and if the Fixed Cross persists in its power, even as the Cardinal Cross is becoming stronger after the fourth initiation, we can see why the esoteric ruler is so important. But also, I would think the hierarchical ruler will begin to be effective to a certain degree, even after the third initiation, and then I suppose very effective for the master who thinks in terms of syntheses and wholes.

Chủ tinh huyền giai không được đưa vào đây. Người ta có thể tự hỏi tại sao, nhưng nếu chủ tinh nội môn liên hệ với Thập Giá Cố Định, và nếu Thập Giá Cố Định vẫn duy trì quyền năng ngay cả khi Thập Giá Chủ Yếu trở nên mạnh hơn sau lần điểm đạo thứ tư, thì chúng ta có thể thấy tại sao chủ tinh nội môn lại quan trọng đến vậy. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng chủ tinh huyền giai sẽ bắt đầu phát huy tác dụng ở một mức độ nhất định ngay sau lần điểm đạo thứ ba, rồi tôi cho rằng sẽ phát huy tác dụng rất mạnh đối với Chân sư, Đấng tư duy theo các sự tổng hợp và những toàn thể.

The whole work in thinking about the Crosses has been to think in terms of the simultaneous synthesis of a number of energies.

Toàn bộ công việc suy ngẫm về các Thập Giá là tư duy về sự tổng hợp đồng thời của một số năng lượng.

[16] We come now to our last discussion upon the zodiac and its relation to the seven rays.

[16] Giờ đây, chúng ta đi đến phần thảo luận cuối cùng về Hoàng đạo và mối liên hệ của nó với bảy cung.

I mean, in terms of Tabulation X, I've gone through it extensively in various places.

Ý tôi là, về Bảng X, tôi đã trình bày rất kỹ ở nhiều nơi.

Perhaps it will have to be dug up a bit, but I don't think there's much more that I can say about it per se, and we are coming to it again in another presentation on page 590.

Có lẽ sẽ phải tìm lại đôi chút, nhưng tôi không nghĩ mình còn có thể nói thêm nhiều về chính bảng này, và chúng ta sẽ trở lại với nó trong một bài trình bày khác ở trang 590.

[17] We have been occupied with the signs and their effects, and with the new and deeply esoteric astrology

[17] Chúng ta đã bàn đến các dấu hiệu cùng những tác động của chúng, và nền chiêm tinh học mới mang tính nội môn sâu sắc

We can tell how deep it really is by this last section, can't we, by the sections that began on page 404, 407?

Qua phần cuối này, qua những phần bắt đầu ở trang 404, 407, chúng ta có thể thấy môn học ấy thực sự sâu sắc đến mức nào, phải không?

[18] which will gradually supersede the present mundane astrology.

[18] sẽ dần dần thay thế nền chiêm tinh học thế tục hiện nay.

[19] By the end of this century, it will have won its rightful place in human thought.

[19] Đến cuối thế kỷ này, nền chiêm tinh học ấy sẽ giành được vị trí xứng đáng trong tư tưởng nhân loại.

Perhaps from their perspective it has. At least I know among quite a number of esoteric astrologers who are working in this way, it has established its value.

Có lẽ theo quan điểm của Các Ngài, điều đó đã xảy ra. Ít nhất, tôi biết rằng trong số khá nhiều nhà chiêm tinh học nội môn đang làm việc theo cách này, môn học ấy đã khẳng định được giá trị của mình.

Maybe even in more conventional astrology conventions, astrological conventions, there is always given a little place for the presentation of esoteric astrology, probably viewed with a good deal of skepticism by those who have spent their whole life working in the exoteric astrology. I feel very grateful. I still see myself reaching for that old book in the Gnostica bookstore back in, I think it was in the early 1970s, late 1960s.

Có lẽ ngay cả tại những hội nghị chiêm tinh học truyền thống hơn, người ta vẫn luôn dành một chút chỗ cho việc trình bày chiêm tinh học nội môn, có lẽ với khá nhiều hoài nghi từ những người đã dành cả đời làm việc trong lĩnh vực chiêm tinh học ngoại môn. Tôi cảm thấy rất biết ơn. Tôi vẫn thấy lại hình ảnh mình với tay lấy cuốn sách cũ ấy trong hiệu sách Gnostica hồi đó, tôi nghĩ là vào đầu những năm 1970, cuối những năm 1960.

I remember, as I said, it had pencil marks all over; the person really hadn't gone beyond page 50, just meandering pencil marks. Maybe I should have bought a new one, but I bought that and used it until it fell apart. I'm so grateful that I'd been a student of astrology already for, well, maybe an avid student of astrology for maybe only four years from 1965.

Như tôi đã nói, tôi nhớ cuốn sách đầy những nét bút chì; người ấy thực sự chưa đọc quá trang 50, chỉ có những nét bút chì ngoằn ngoèo. Có lẽ tôi nên mua một cuốn mới, nhưng tôi đã mua cuốn ấy và dùng cho đến khi nó rã ra. Tôi rất biết ơn vì trước đó mình đã là một đạo sinh chiêm tinh học, có lẽ chỉ mới say mê nghiên cứu chiêm tinh học được khoảng bốn năm, kể từ năm 1965.

Then a few years later, I ran into esoteric astrology. I still kept reading the normal astrology. I think it was hard to do something with esoteric astrology unless your entire thought form has to change and how many people will have the patience to go through a process in which their astrological view of the world will undergo a radical shift.

Rồi vài năm sau, tôi gặp chiêm tinh học nội môn. Tôi vẫn tiếp tục đọc chiêm tinh học thông thường. Tôi nghĩ thật khó vận dụng chiêm tinh học nội môn nếu toàn bộ hình tư tưởng của mình chưa thay đổi, và có bao nhiêu người đủ kiên nhẫn trải qua một tiến trình trong đó cách nhìn thế giới theo chiêm tinh học của họ sẽ chuyển biến tận gốc?

But I kept the book and forced myself to read it by teaching the subject, which is often a way to go, and gradually, gradually, it began to supplant the older thought forms, but it was not easy, and I still wanted to retain much of what the older thought forms meant until I found that those older thought forms, the ones that were of value, were contained within the esoteric astrological thought form.

Nhưng tôi giữ cuốn sách và buộc mình đọc nó bằng cách giảng dạy môn học này, vốn thường là một cách để tiến bước, và dần dần, dần dần, nó bắt đầu thay thế những hình tư tưởng cũ. Nhưng điều đó không dễ dàng, và tôi vẫn muốn giữ lại nhiều ý nghĩa của những hình tư tưởng cũ, cho đến khi tôi nhận thấy rằng những hình tư tưởng cũ có giá trị đều nằm trong hình tư tưởng chiêm tinh học nội môn.

That's where I stand today. what, devoted to this book or to the knowledge behind it or to the master behind the knowledge, and so it goes, feeling that there's really something here for humanity and we have to think it into the consciousness of human beings. Even if we just let them know their Ascendant, Sun and Moon and what it can mean for the future, present, and past, that's something.

Đó là lập trường của tôi hôm nay: tận tâm với cuốn sách này, hay với tri thức đằng sau nó, hay với Chân sư đằng sau tri thức ấy, và cứ thế tiếp tục, với cảm nhận rằng ở đây thực sự có điều gì đó dành cho nhân loại, và chúng ta phải dùng tư tưởng đưa điều ấy vào tâm thức con người. Ngay cả khi chúng ta chỉ cho họ biết Điểm mọc, Mặt Trời và Mặt Trăng của họ, cùng ý nghĩa có thể có của những yếu tố ấy đối với tương lai, hiện tại và quá khứ, thì đó cũng là một điều có ích.

[20] One thing you must constantly bear in mind. Now that the war is over,

[20] Có một điều các bạn phải luôn ghi nhớ. Giờ đây, khi chiến tranh đã kết thúc,

Aha! When was all this written? When was it written? Or was it over on the inner side? Because we've seen that some of the sections were written, let's just say, after 1940. Some obviously had to be written before 1940, some before 1942.

À! Toàn bộ những điều này được viết khi nào? Được viết khi nào? Hay chiến tranh đã kết thúc ở phía bên trong? Vì chúng ta đã thấy rằng một số phần được viết sau năm 1940. Hiển nhiên, một số phần hẳn phải được viết trước năm 1940, một số trước năm 1942.

This one:

Câu này:

Now that the war is over,

Giờ đây, khi chiến tranh đã kết thúc,

But what does that mean? Does that mean over on the inner side or physically and technically over?

Nhưng điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là kết thúc ở phía bên trong, hay thực sự kết thúc trên cõi hồng trần và về mặt chính thức?

[21] and that time of acute trial and tribulation has come to an end, a great spiritual awakening (of a quality and a nature quite unpredictable today) will arrive.

[21] và thời kỳ thử thách cùng khổ nạn khốc liệt ấy đã chấm dứt, một sự thức tỉnh tinh thần lớn lao sẽ đến, với phẩm tính và bản chất hoàn toàn không thể dự đoán vào lúc này.

[22] The war will have taught humanity many lessons and have torn the veil of self away from many eyes.

[22] Chiến tranh hẳn đã dạy cho nhân loại nhiều bài học và xé bỏ tấm màn bản ngã khỏi nhiều đôi mắt.

In other words, this is the damaging, you might say, the tearing away of the blinding ahamkara principle, that principle of limited I-ness. Is all form of I-ness limited? Maybe not.

Nói cách khác, có thể nói đây là sự phá vỡ, sự xé bỏ nguyên khí chấp ngã gây mù quáng, nguyên khí của cái tôi giới hạn ấy. Có phải mọi hình thức của cái tôi đều giới hạn không? Có lẽ không.

Maybe there's a non-specific I-ness which is the same as Being, which is not limited.

Có lẽ có một cái tôi không mang tính riêng biệt, đồng nhất với Bản Thể, vốn không giới hạn.

[23] Values which have been hitherto expressed and understood only by those whose “eyes are on God” will be the goal and the desire of untold thousands;

[23] Những giá trị mà cho đến nay chỉ những người có “đôi mắt hướng về Thượng đế” mới biểu lộ và thấu hiểu sẽ trở thành mục tiêu và niềm khao khát của vô số người;

Indeed, we did see this great conscious awakening.

Quả thật, chúng ta đã chứng kiến sự thức tỉnh hữu thức lớn lao này.

Or awakening of consciousness.

Hay sự thức tỉnh của tâm thức.

[24] true understanding between men and between nations will be a longed for objective. What humanity determines to have, it ever succeeds in achieving.

[24] sự thấu hiểu đích thực giữa con người với nhau và giữa các quốc gia sẽ là một mục tiêu được mong mỏi. Điều gì nhân loại quyết tâm có được, nhân loại luôn đạt được.

This will go as well for the individual over incarnations; it is an encouraging thought. What the individual determines to have, it ever succeeds in achieving.

Điều này cũng đúng với cá nhân qua các kiếp lâm phàm; đó là một tư tưởng đầy khích lệ. Điều cá nhân quyết tâm có được, cá nhân luôn thành công trong việc đạt được.

[25] This is an occult law, for desire is as yet the strongest force in the world;

[25] Đây là một định luật huyền bí, vì dục vọng cho đến nay vẫn là mãnh lực mạnh nhất trên thế giới;

Within our still astrally polarized Planetary Logos and his planetary scheme, and within our still astrally polarized Solar Logos.

Trong Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Đấng vẫn còn phân cực cảm dục, và trong hệ hành tinh của Ngài, cũng như trong Thái dương Thượng đế của chúng ta, Đấng vẫn còn phân cực cảm dục.

This is an occult law, for desire is as yet the strongest force in the world;

Đây là một định luật huyền bí, vì cho đến nay dục vọng vẫn là mãnh lực mạnh nhất trên thế giới;

[26] organised, unified desire was the basic reason for the appalling early successes of the Axis.

[26] dục vọng có tổ chức và thống nhất là nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thành công ban đầu kinh hoàng của phe Trục.

organised, unified desire

dục vọng có tổ chức và thống nhất

Aries. Again, Germany ruled by Aries.

Bạch Dương. Một lần nữa, nước Đức do Bạch Dương cai quản.

Aries being a sign of early success, can it sustain what it begins? That's the thing. Aries is a sign of, let's call it early success. But it evokes from its aggressions often the repercussions from those signs which are ruled by Libra.

Bạch Dương là một dấu hiệu của thành công ban đầu, liệu nó có thể duy trì những gì mình khởi xướng không? Đó là vấn đề. Bạch Dương là một dấu hiệu của điều mà ta có thể gọi là thành công ban đầu. Nhưng những hành động xâm lấn của nó thường khơi dậy phản ứng từ những dấu hiệu do Thiên Bình cai quản.

The other hemisphere of the chart, the western hemisphere of the chart, and there is the backlash, which frequently equilibrizes the whole situation and neutralizes the early gains, and thus it was the early gains of Germany and its allies were neutralized by the response of Britain, the United States, Russia, and so forth.

Ở bán cầu bên kia của lá số, bán cầu phía tây của lá số, có sự phản công, thường tái lập cân bằng cho toàn bộ tình hình và hóa giải những thành quả ban đầu. Và quả đúng như vậy, những thành quả ban đầu của Đức cùng các đồng minh đã bị hóa giải trước sự đáp ứng của Anh, Hoa Kỳ, Nga, v.v.

Those nations particularly undertook the resistance against the Axis powers. They never were conquered. France resisted, of course, and there were resistance movements in Denmark and other places of which I'm aware.

Đặc biệt, những quốc gia ấy đã đứng lên kháng cự các cường quốc phe Trục. Họ chưa từng bị chinh phục. Dĩ nhiên, Pháp đã kháng cự, và theo tôi biết, cũng có những phong trào kháng chiến ở Đan Mạch cùng những nơi khác.

But they were conquered. They were subdued. Russia, England, United Kingdom, and America never were.

Nhưng họ đã bị chinh phục. Họ đã bị khuất phục. Nga, Anh, Vương quốc Anh và Mỹ thì chưa từng.

They resisted early on. Perhaps not fast enough. England did.

Họ đã kháng cự từ sớm. Có lẽ chưa đủ sớm. Anh đã làm như vậy.

But England by itself, or UK by itself, was not strong enough. It needed the closing in of Russia from the east and the United States from the west, and then the three could be effective in stopping the Ariesian aggression.

Nhưng chỉ riêng Anh, hay chỉ riêng Vương quốc Anh, thì không đủ mạnh. Cần có Nga áp sát từ phía đông và Hoa Kỳ từ phía tây, khi ấy ba nước mới có thể ngăn chặn hữu hiệu sự xâm lược mang tính Bạch Dương.

Aries is sometimes a sign of aggression.

Đôi khi Bạch Dương là một dấu hiệu của sự xâm lược.

[27] The only factor which can successfully oppose desire is Will,

[27] Yếu tố duy nhất có thể chống lại dục vọng một cách hữu hiệu là Ý Chí,

A great statement, an important statement.

Một lời khẳng định lớn lao, một lời khẳng định quan trọng.

[28] using the word in its spiritual connotation and as an expression of the first great divine aspect.

[28] dùng từ này theo hàm nghĩa tinh thần và như một biểu hiện của phương diện thiêng liêng vĩ đại thứ nhất.

A higher type of will, not simply as the limited individual will.

Một loại ý chí cao hơn, chứ không đơn thuần là ý chí cá nhân giới hạn.

[29] There was little of that organised, spiritual will shown by the allies;

[29] Phe (580) Đồng Minh đã thể hiện rất ít ý chí tinh thần có tổ chức ấy;

Little at first. He's looking retrospectively. Maybe, in fact, at this writing, the war had ended.

Lúc đầu thì ít. Ngài đang nhìn lại quá khứ. Có lẽ trên thực tế, vào lúc viết những dòng này, chiến tranh đã kết thúc.

I think he did write in segments, and these segments might have been separated from each other at wide intervals. I know there was a time when for two years he wrote no letters to his group. So serious was the condition in the world.

Tôi nghĩ Ngài đã viết thành từng phần, và những phần này có thể cách nhau những khoảng thời gian dài. Tôi biết có một thời kỳ suốt hai năm Ngài không viết thư cho nhóm của Ngài. Tình hình thế giới nghiêm trọng đến thế.

He began by writing every six months, and by the time we were in the middle of the 1940s, there was a place where a two-year period elapsed with no writings. I'm sure the Masters were greatly preoccupied, and one can only wonder how. One day we will know.

Ban đầu, Ngài viết sáu tháng một lần, nhưng đến giữa những năm 1940, có một quãng thời gian hai năm trôi qua mà không có bài viết nào. Tôi chắc rằng các Chân sư vô cùng bận tâm, và người ta chỉ có thể tự hỏi Các Ngài bận tâm như thế nào. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ biết.

There was little of that organised, spiritual will shown by the allies;

Phe Đồng Minh ít thể hiện ý chí tinh thần có tổ chức ấy;

[30] they were animated naturally by desire for victory, desire for the arrival of the end of this all-engulfing world cataclysm, by desire for peace and the return of stability, the desire to end war once and for all and to break its constantly recurring cycle, and a steadily mounting desire to bring to a finish the terrible toll of suffering, of cruelty, of death, of starvation and of fear which is gripping humanity by the throat in the attempt to strangle out its life.

[30] dĩ nhiên, họ được thôi thúc bởi mong muốn chiến thắng, mong muốn ngày chấm dứt cơn đại họa đang nhấn chìm toàn thế giới này sớm đến, mong muốn hòa bình và sự ổn định trở lại, mong muốn chấm dứt chiến tranh một lần và mãi mãi, phá vỡ chu kỳ không ngừng tái diễn của nó, cùng mong muốn ngày càng mãnh liệt nhằm chấm dứt những tổn thất khủng khiếp do đau khổ, tàn bạo, chết chóc, đói khát và sợ hãi gây ra—những điều đang siết cổ nhân loại, hòng bóp nghẹt sự sống của nhân loại.

Powerful words, and we see the desire of the Allies.

Những lời mạnh mẽ, và chúng ta thấy mong muốn của phe Đồng Minh.

Yes, but not enough, right? Not enough. So this is where he starts to go into a discussion of the nature of the will, because will would be required, and will works from the center outwards. Desire is often a magnetic reaching for something in the outer world and drawing it to oneself.

Đúng, nhưng chưa đủ, phải không? Chưa đủ. Vì vậy, đây là lúc Ngài bắt đầu đi vào thảo luận về bản chất của ý chí, bởi ý chí là điều cần có, và ý chí hoạt động từ trung tâm hướng ra ngoài. Dục vọng thường là một sự vươn tới mang tính từ tính để nắm lấy điều gì đó trong thế giới bên ngoài và kéo nó về với mình.

A will is something that will not deflect its vision from anything but the inevitable victory. Will is undeflectable and it is undeviating and invincible because it comes from the very source of power within one's own nature. It comes from that which is immortal, from that which is true being and will survive all reconfigurations of circumstance.

Ý chí sẽ không chuyển tầm nhìn sang bất cứ điều gì ngoài chiến thắng tất yếu. Ý chí không thể bị bẻ hướng, không chệch đường và bất khả chiến bại, bởi nó xuất phát từ chính cội nguồn quyền năng trong bản chất của mỗi người. Nó xuất phát từ điều bất tử, từ Bản Thể chân thực, điều sẽ tồn tại qua mọi sự tái định hình của hoàn cảnh.

The fire of desire has to be fought with the fire of the will, especially of the will to good. It is the will to good which had to oppose the selfish desire, will to good opposing the selfish desire of the Axis powers. The looming religious war, of which DK speaks at a time when probably no one could conceive what its outlines would be, will also call for will on the part of those who seek to preserve human freedom against religious medievalism.

Phải dùng lửa của ý chí để chống lại lửa của dục vọng, đặc biệt là lửa của Ý Chí-hướng Thiện. Chính Ý Chí-hướng Thiện đã phải chống lại dục vọng ích kỷ, Ý Chí-hướng Thiện chống lại dục vọng ích kỷ của các cường quốc phe Trục. Cuộc chiến tranh tôn giáo đang thấp thoáng hiện ra, mà Chân sư DK đã nói đến vào thời điểm có lẽ chưa ai hình dung nổi diện mạo của nó, cũng sẽ đòi hỏi ý chí từ những người tìm cách bảo vệ tự do của con người trước tư tưởng tôn giáo thời trung cổ.

We still have that battle ahead of us.

Trận chiến ấy vẫn còn ở phía trước chúng ta.

[31] 1. The Nature of the Will––Underlying Cosmic Purpose.

[31] 1. Bản Chất của Ý Chí––Thiên Ý Vũ Trụ Làm Nền Tảng.

[32] But all this determination is in most cases simply the expression of a fixed and united desire.

[32] Nhưng trong phần lớn trường hợp, toàn bộ quyết tâm này chỉ là biểu hiện của một dục vọng kiên định và thống nhất.

Determination is an aspect of will which is closer to desire than is true and pure will of a spiritual nature.

Sự quyết tâm là một phương diện của ý chí gần với dục vọng hơn so với ý chí chân thực và thuần khiết mang bản chất tinh thần.

[33] It is not the organised use of the will.

[33] Đó không phải là việc vận dụng ý chí có tổ chức.

The principle of organization has to enter.

Nguyên khí tổ chức phải tham gia.

The seventh ray has to enter, both ray one and ray seven, and really the whole hard-line ray.

Cung bảy phải tham gia, cả cung một lẫn cung bảy, và thực ra là toàn bộ tuyến cung cứng.

[34] The secret of the will lies in the recognition of the divine nature of man.

[34] Bí mật của ý chí nằm trong việc nhận biết bản chất thiêng liêng của con người.

When we know we are divine, when we know we are Being, when we know that Being will always prevail and cannot be touched, untouched, unmoved, unafraid.

Khi chúng ta biết mình là thiêng liêng, khi chúng ta biết mình là Bản Thể, khi chúng ta biết rằng Bản Thể sẽ luôn thắng thế và không thể bị tác động, không chịu tác động, không lay chuyển, không sợ hãi.

You turn to page 285 of Discipleship in the New Age and you see:

Các bạn mở đến trang 285 của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới và sẽ thấy:

Pure Being IS—unknown and unafraid, untouched, for aye unchanged. (DINA II, tr. 285)

Bản Thể thuần khiết HIỆN HỮU—không ai biết đến và không hề sợ hãi, không chịu tác động, mãi mãi bất biến. (DINA II, tr. 285)

Utterly reliable, utterly invincible.

Hoàn toàn đáng tin cậy, hoàn toàn bất khả chiến bại.

untouched, immutably the same. God IS. (DINA II, tr. 285)

không chịu tác động, mãi mãi vẫn như vậy. Thượng đế HIỆN HỮU. (DINA II, tr. 285)

That which we are forever is. When one can realize that and rely upon that, the secret of the will is the assertion of the immortal nature of Being.

Điều mà chúng ta là, mãi mãi hiện hữu. Khi người ta có thể nhận ra điều đó và nương tựa vào đó, bí mật của ý chí là sự khẳng định bản chất bất tử của Bản Thể.

When that is realized, then one becomes invincible because one is identified with that which is invincible. The form is never invincible, but that which has become the form, some say created, but more become the form, is invincible.

Khi nhận ra điều đó, người ta trở nên bất khả chiến bại vì đã đồng hoá với điều bất khả chiến bại. Hình tướng không bao giờ bất khả chiến bại, nhưng điều đã trở thành hình tướng—một số người nói là đã tạo ra hình tướng, nhưng đúng hơn là đã trở thành hình tướng—thì bất khả chiến bại.

[35] Only this can evoke the true expression of the will.

[35] Chỉ điều này mới có thể khơi dậy sự biểu lộ đích thực của ý chí.

We have to realize our immortality, the immortality of our divine essence. When this is realized, and it rarely is realized at first, we can begin to evoke the true expression of the will.

Chúng ta phải nhận ra tính bất tử của mình, tính bất tử của tinh túy thiêng liêng nơi mình. Khi nhận ra điều này, mà lúc đầu hiếm khi nhận ra được, chúng ta có thể bắt đầu gợi lên sự biểu hiện chân thực của ý chí.

[36] It has in fact to be evoked by the soul, as it dominates the human mind and controls the personality.

[36] Thực ra, linh hồn phải khơi dậy ý chí ấy khi linh hồn chi phối thể trí con người và kiểm soát phàm ngã.

When one realizes oneself as an immortal unit of consciousness, one can evoke, and as a soul-identified being dominate the human mind and control the personality. As a soul-identified being, that's what we have to realize ourselves as.

Khi nhận ra mình là một đơn vị tâm thức bất tử, người ta có thể gợi lên, và với tư cách một sinh linh đồng hoá với linh hồn, chi phối thể trí con người và kiểm soát phàm ngã. Một sinh linh đồng hoá với linh hồn, đó là điều chúng ta phải nhận ra về chính mình.

Then the major victories of Aries are possible because Aries will overcome all things through its identification with Being, but not through lower forms of formal aggression.

Khi ấy, những chiến thắng lớn lao của Bạch Dương trở nên khả thi, vì Bạch Dương sẽ vượt qua mọi điều nhờ đồng hoá với Bản Thể, chứ không nhờ những hình thức xâm lấn thấp kém ở cấp độ hình tướng.

[37] The secret of the will is also closely tied in with the recognition of the unconquerable nature of goodness and the inevitability of the ultimate triumph of good.

[37] Bí mật của ý chí cũng gắn liền mật thiết với việc nhận biết bản chất bất khả chiến bại của tính thiện và tính tất yếu của chiến thắng cuối cùng của điều thiện.

One has to have deep faith first, and then realization.

Trước hết, người ta phải có đức tin sâu sắc, rồi mới đến sự chứng nghiệm.

The good is that which arises from the perception of God. It is the archetype which is set forth by the creative power of God, whatever God it may be, and this archetype will prevail over all lesser configurations.

Điều thiện là điều nảy sinh từ sự tri giác Thượng đế. Đó là nguyên mẫu mà quyền năng sáng tạo của Thượng đế đặt ra, dù là Thượng đế nào, và nguyên mẫu này sẽ thắng thế trước mọi cấu hình thấp hơn.

We have so many relationships in the lower world which are not in alignment with this archetypal creation of God. But the archetype outlasts the lower creations.

Chúng ta có rất nhiều mối quan hệ trong thế giới thấp không chỉnh hợp với sự sáng tạo nguyên mẫu này của Thượng đế. Nhưng nguyên mẫu tồn tại lâu hơn những tạo vật thấp kém.

Thus do I know that God will victor be and later hold my mind and me in thrall. (DINA I, tr. 679)

Nhờ vậy, tôi biết rằng Thượng đế sẽ chiến thắng và sau đó sẽ hoàn toàn chế ngự thể trí tôi cùng chính tôi. (DINA I, tr. 679)

A deep faith in the outcome, based upon a sense of purpose, abiding archetypal purpose, will be strong enough to overcome the temporary aggressions of lower forms animated by desire.

Một đức tin sâu sắc vào kết quả, dựa trên ý thức về mục đích, mục đích nguyên mẫu bền vững, sẽ đủ mạnh để vượt qua những sự xâm lấn nhất thời của các hình tướng thấp do dục vọng thúc đẩy.

[38] This is not determination; it is not whipping up and stimulating desire so that it can be transmuted into will;

[38] Đây không phải là quyết tâm; cũng không phải là việc kích động và kích thích dục vọng để chuyển hoá nó thành ý chí;

Which it can.

Điều mà dục vọng có thể làm được.

[39] it is not an implacable, unshakable, immovable focussing of all energies in the need to triumph (the enemies of the Forces of Light are adept at that).

[39] cũng không phải là sự tập trung toàn bộ năng lượng một cách không khoan nhượng, không lay chuyển, bất lay chuyển vào nhu cầu phải chiến thắng (những kẻ thù của các Mãnh Lực Ánh Sáng rất thành thạo việc đó).

So is the Black Lodge.

Hắc đoàn cũng vậy.