Tóm lược chương
Nguyên mẫu có thể được giữ từ lúc đầu đến khi viên mãn, dù kế hoạch để đưa nó thành hiện thực phải thay đổi. Cái chết được xét như sự áp chế khiến tâm thức của một sự sống không thể biểu hiện. Ma Kết được liên hệ với khả năng vượt tình trạng ấy và đưa đời sống hình thể phù hợp với tổng hợp đã nhận biết. Sự chứng ngộ được liên hệ với cấp thứ năm của bình diện atma và được đặt xa hơn trực giác Bồ đề thông thường. Tri giác Shamballa hướng đến những phạm vi chỉ các Đấng trong tam giác Sao Kim, Sao Thủy và Trái Đất có thể cảm nhận. Hình ảnh điểm lửa lạnh trên đỉnh núi được xem là một tương ứng gần hơn với người điểm đạo trên Trái Đất. Đại Hùng…
- Ý chí thắng cái chết và mục đích bất biến
- Sự chứng ngộ và tri giác Shamballa
- Ba phương diện của bảy Cung
Commentary EAA 142d
Tóm Tắt
§ Ý chí thắng cái chết và mục đích bất biến
Nguyên mẫu có thể được giữ từ lúc đầu đến khi viên mãn, dù kế hoạch để đưa nó thành hiện thực phải thay đổi. Cái chết được xét như sự áp chế khiến tâm thức của một sự sống không thể biểu hiện. Ma Kết được liên hệ với khả năng vượt tình trạng ấy và đưa đời sống hình thể phù hợp với tổng hợp đã nhận biết.
§ Sự chứng ngộ và tri giác Shamballa
Sự chứng ngộ được liên hệ với cấp thứ năm của bình diện atma và được đặt xa hơn trực giác Bồ đề thông thường. Tri giác Shamballa hướng đến những phạm vi chỉ các Đấng trong tam giác Sao Kim, Sao Thủy và Trái Đất có thể cảm nhận. Hình ảnh điểm lửa lạnh trên đỉnh núi được xem là một tương ứng gần hơn với người điểm đạo trên Trái Đất.
§ Ba phương diện của bảy Cung
Đại Hùng Tinh được liên hệ với phương diện ý chí của cả bảy Cung, còn Tiểu Hùng Tinh và Thất Nữ được thử liên hệ lần lượt với tình thương và thông tuệ. Việc các hệ thống hành tinh có thể được thu hút về Sao Thổ theo những cách khác nhau được giữ ở mức suy đoán.
§ Các dòng sáng tạo trên cõi trần vũ trụ
Một Đấng vận dụng các chòm sao hoàng đạo như khí cụ được đặt vào sơ đồ các bình diện vũ trụ. Các luân xa và xoáy lực có thể biểu hiện ở nhiều bình diện, nên việc thấy chúng ở một cấp chưa đủ để xác định nguồn. Ý chí quy định được liên hệ với những dòng sáng tạo lớn đang biểu hiện trên cõi trần vũ trụ.
§ Những sao có thể truyền phương diện ý chí
Benetnasch, Alcyone và Sirius hoặc một sao Cung 1 trong nhóm địa phương được thử đặt vào một mô hình ba phương diện của ý chí. Một khả năng là mỗi chòm sao lớn vận dụng một sao phù hợp với Cung đang xét. Những tên sao này chỉ là các vị trí được thử trong mô hình.
Text EAA 142D – Văn bản EAA 142D
Esoteric Astrology – Chiêm Tinh Học Nội Môn
It is, finally, the will which conquers death. [1] This again must not be interpreted in terms of death as it affects the form nature of manifestation. [2] The note of synthesis and triumph—realised and complete—persists behind all that we can recognise as death. [3] This will is the principle of victory, [4] of the ultimate goal of life when fruition is achieved; [5] it is the final united success or unified conformity to a long foreseen purpose of spirit-matter, life-form, plus that something which is the dream and goal of the highest initiates in the Hierarchy to contact—the secret revelation of Shamballa itself. [6] More it is not possible to say. If Christ Himself is striving towards that knowledge, it is not possible for us to do more than speculate.
Cuối cùng, đó là ý chí chiến thắng sự chết. [1] Một lần nữa, không được diễn giải điều này theo nghĩa sự chết tác động đến bản chất hình tướng của sự biểu hiện. [2] Âm điệu của sự tổng hợp và chiến thắng—đã được chứng nghiệm và trọn vẹn—vẫn hiện diện đằng sau tất cả những gì chúng ta có thể nhận biết là sự chết. [3] Ý chí này là nguyên khí của chiến thắng, [4] của mục tiêu tối hậu của sự sống khi đạt đến thành tựu viên mãn; [5] đó là thành công hợp nhất cuối cùng, hay sự hòa hợp thống nhất với một mục đích của tinh thần-vật chất, sự sống-hình tướng đã được tiên liệu từ lâu, cộng thêm điều mà các điểm đạo đồ cao nhất trong Thánh đoàn hằng mơ ước và nhắm đến việc tiếp xúc—sự mặc khải bí mật của chính Shamballa. [6] Không thể nói thêm được nữa. Nếu chính Đức Christ còn đang nỗ lực hướng tới tri thức ấy, thì chúng ta cũng không thể làm gì hơn ngoài suy đoán.
[7] In these few words, I have sought to convey an idea of a vast subjective realisation. [8] What I am hinting at in reality is the objective of that “endless Way of which Nirvana itself is but the open door”—[9] the Way to the higher evolution for which our evolutionary process prepares mankind. [10] I am indicating what is the goal of all hierarchical endeavour. Mankind is so preoccupied with the attitude and effort of the Hierarchy as regards human welfare and guidance that the goal of the efforts of the Masters of the Wisdom is naturally overlooked. [11] It is in reality no concern of man. [12] Nevertheless, the picture of the divine Plan so oft emphasised in occult books and by occult teachers is distorted unless it is realised that just as humanity strives towards the Hierarchy, so that Hierarchy itself strives towards Shamballa. As the Old Commentary has it:
[7] Trong vài lời này, Tôi đã tìm cách truyền đạt một ý tưởng về một sự chứng nghiệm chủ quan bao la. [8] Thực ra, điều Tôi đang gợi ý là mục tiêu của “Con Đường vô tận mà chính Niết Bàn chỉ là cánh cửa mở vào”—[9] Con đường Tiến Hóa Cao Siêu mà tiến trình tiến hoá của chúng ta đang chuẩn bị cho nhân loại bước vào. [10] Tôi đang chỉ ra mục tiêu của mọi nỗ lực của Thánh đoàn. Nhân loại quá bận tâm đến thái độ và nỗ lực của Thánh đoàn đối với phúc lợi và việc hướng dẫn con người, đến nỗi đương nhiên bỏ qua mục tiêu trong những nỗ lực của các Chân sư Minh Triết. [11] Thực ra, đó không phải là điều con người cần quan tâm. [12] Tuy nhiên, bức tranh về Thiên Cơ thường được nhấn mạnh trong các sách huyền bí và qua lời các huấn sư huyền bí sẽ bị bóp méo nếu không nhận ra rằng, cũng như nhân loại nỗ lực hướng tới Thánh đoàn, chính Thánh đoàn cũng nỗ lực hướng tới Shamballa. Như Cổ Luận đã nói:
(594)
(594)
“[13] He who sees in the dark light of Shamballa penetrates to that which lies beyond our little sphere to that which can be sensed behind the holy triangle (Venus, Mercury, the Earth, A.A.B.). [14] There is to be found the point of radiant fire which shines within the eye (Taurus), which burns upon the mountain-top (Capricorn) and which the water cannot quench (Aquarius). These are the holiest three.”
“[13] Người thấy được trong ánh sáng tối của Shamballa thâm nhập vào điều nằm bên ngoài khối cầu nhỏ bé của chúng ta, vào điều có thể cảm nhận được đằng sau tam giác thánh thiện (Sao Kim, Sao Thủy, Trái Đất, A.A.B.). [14] Ở đó có thể tìm thấy điểm lửa rạng ngời chiếu sáng trong con mắt (Kim Ngưu), cháy trên đỉnh núi (Ma Kết) và nước không thể dập tắt (Bảo Bình). Đó là ba điều thiêng liêng nhất.”
[15] As we consider the seven rays as outlined in Tabulation X, I would have you bear in mind that we are viewing them as expressions of this threefold will. [16] We have studied them in some detail in my other books from the angle of consciousness and from the point of view as producing changes and expansions of consciousness in man, in nations and in races. [17] Now, as far as may be possible, we are going to consider these rays as they express the pure, living activity of Deity as it fulfils Itself in manifestation as pure incentive, directed impersonal energy, divine instinct which latter is a blend of instinctual force and intuitive energy. [18] It might be pointed out to those of you who have some measure of occult perception that this synthetic Life, being cosmic, emerges from cosmic planes and not systemic. Hence the difficulty in comprehending it.
[15] Khi xem xét bảy cung như đã phác họa trong Bảng X, Tôi muốn các bạn ghi nhớ rằng chúng ta đang nhìn chúng như những biểu hiện của ý chí tam phân này. [16] Trong những cuốn sách khác của Tôi, chúng ta đã nghiên cứu các cung ấy khá chi tiết từ góc độ tâm thức và từ quan điểm xem chúng tạo ra những biến đổi và mở rộng tâm thức nơi con người, các quốc gia và các giống dân. [17] Giờ đây, trong chừng mực có thể, chúng ta sẽ xem xét các cung này khi chúng biểu lộ hoạt động thuần khiết, sống động của Thượng đế, khi Ngài hoàn thành chính mình trong sự biểu hiện dưới dạng động cơ thúc đẩy thuần khiết, năng lượng phi cá nhân có định hướng, bản năng thiêng liêng—yếu tố sau cùng này là sự hòa trộn giữa mãnh lực bản năng và năng lượng trực giác. [18] Có thể chỉ ra cho những ai trong các bạn có được phần nào tri giác huyền bí rằng Sự Sống tổng hợp này, vốn mang bản chất vũ trụ, xuất phát từ các cõi vũ trụ chứ không phải các cõi của hệ mặt trời. Vì thế, việc thấu hiểu Sự Sống ấy thật khó khăn.
[19] 1. The conditioning will is the synthesis of the life of the cosmic physical plane [20] of which our seven planes are the seven subplanes. Until, therefore, the human consciousness is far more expanded than it is, it is not possible for man to understand this synthetic realisation.
[19] 1. Ý chí định hình là sự tổng hợp sự sống của cõi hồng trần vũ trụ, [20] mà bảy cõi của chúng ta là bảy cõi phụ của cõi ấy. Do đó, cho đến khi tâm thức con người mở rộng hơn hiện nay rất nhiều, con người vẫn chưa thể thấu hiểu sự chứng nghiệm tổng hợp này.
[21] 2. The will which brings fulfilment is the divine incentive (595) (impulse is not the correct term) [22] coming from the cosmic astral plane.
[21] 2. Ý chí mang lại thành tựu viên mãn là động cơ thúc đẩy thiêng liêng (595) (xung động không phải là thuật ngữ chính xác) [22] đến từ cõi cảm dục vũ trụ.
[23] 3. The will which conquers death is an outpouring from the cosmic mental plane.
[23] 3. Ý chí chiến thắng sự chết là một lần tuôn đổ từ cõi trí vũ trụ.
[24] From these three cosmic planes (embracing the sacred personality of the Logoi, solar and planetary) [25] come the united energies of the three constellations which control and energise our solar system: The Great Bear, the Pleiades and Sirius; [26] these work through the medium of the seven rays and these in turn express themselves through the twelve constellations which form the great zodiacal wheel.
[24] Từ ba cõi vũ trụ này (bao hàm phàm ngã thiêng liêng của các Thượng đế, cả Thái dương lẫn Hành tinh), [25] các năng lượng hợp nhất của ba chòm sao tuôn đến, kiểm soát và tiếp năng lượng cho hệ mặt trời của chúng ta: Đại Hùng, Thất Nữ và Thiên Lang; [26] các năng lượng này hoạt động thông qua bảy cung, và đến lượt mình, các cung biểu lộ qua mười hai chòm sao tạo thành bánh xe hoàng đạo vĩ đại.
Esoteric Astrology Adventure 142D — The Will Which Conquers Death and the Cosmic Planes – Hành Trình Khám Phá Chiêm Tinh Học Nội Môn 142D — Ý Chí Chiến Thắng Sự Chết và Các Cõi Vũ Trụ
This is the beginning of Esoteric Astrology Adventure number 142D, page 593. We've looked at three types of will, the will which conditions life and provides those great themes of manifestation, working through nations and races. It's kind of related on our Earth to the Manu's department.
Đây là phần mở đầu của Hành Trình Khám Phá Chiêm Tinh Học Nội Môn số 142D, trang 593. Chúng ta đã xem xét ba loại ý chí, trong đó có ý chí định hình sự sống và cung cấp những chủ đề lớn của sự biểu hiện, hoạt động thông qua các quốc gia và các giống dân. Trên Trái Đất của chúng ta, ý chí này phần nào liên quan đến ban của Đức Manu.
It's controlled, I think, later we will see by Aries. We've been working recently with the will which brings fulfillment. Some beautiful things are said about this and this underlies the purpose of all relationship.
Tôi nghĩ ý chí này chịu sự cai quản của Bạch Dương, như chúng ta sẽ thấy ở phần sau. Gần đây, chúng ta đang nghiên cứu ý chí mang lại sự viên mãn. Có những điều rất đẹp được nói về ý chí này, và nó làm nền tảng cho mục đích của mọi mối quan hệ.
The end is seen from the beginning. The standing wave of the form formulating archetype is seen from the beginning and sustained unchanged throughout the end, though the plans to bring it to fruition change all the time. It is the beginning and the end and maybe holds a key to seeing things in the Eternal Now where the past, present and future are all the same.
Kết cuộc được nhìn thấy ngay từ khởi đầu. Sóng dừng của nguyên mẫu tạo lập hình tướng được nhìn thấy ngay từ khởi đầu và duy trì bất biến cho đến tận cùng, dù các kế hoạch nhằm đưa nguyên mẫu ấy đến chỗ thành tựu luôn thay đổi. Nó là khởi đầu và kết thúc, và có lẽ nắm giữ một chìa khóa để nhìn mọi sự trong Hiện Tại Vĩnh Cửu, nơi quá khứ, hiện tại và tương lai đều là một.
Now we move into what may be the Capricornian expression, this Divine Will that we're trying to understand functions as the will which conquers death. What kind of death? In general, death to consciousness. The subjugation of the being consciousness of any individual or of any life so that it cannot express, that is death.
Giờ đây, chúng ta chuyển sang điều có thể là biểu hiện của Ma Kết: Ý Chí thiêng liêng mà chúng ta đang cố gắng thấu hiểu này hoạt động như ý chí chiến thắng sự chết. Sự chết nào? Nói chung, đó là sự chết đối với tâm thức. Việc khuất phục tâm thức hiện tồn của bất kỳ cá nhân hay sự sống nào đến mức tâm thức ấy không thể biểu lộ, đó chính là sự chết.
Capricorn is involved, I think, with the will that conquers death. Let's see what he says.
Tôi nghĩ Ma Kết có liên quan đến ý chí chiến thắng sự chết. Hãy xem Ngài nói gì.
[1] This again must not be interpreted in terms of death as it affects the form nature
[1] Một lần nữa, không được diễn giải điều này theo nghĩa sự chết tác động đến bản chất hình tướng của sự biểu hiện.
Yes, we're going to go right to formula number six, where we're talking about the death of these great conditioning ideas which shape civilization. We're not talking about the death of forms. Forms will fall apart as the great ideas fall apart.
Đúng vậy, chúng ta sẽ đi thẳng đến công thức số sáu, nơi chúng ta bàn về sự chết của những ý tưởng có ảnh hưởng lớn, vốn định hình nền văn minh. Chúng ta không nói về sự chết của các hình tướng. Các hình tướng sẽ tan rã khi những ý tưởng lớn tan rã.
Death as it conditions the form nature of manifestation? No.
Sự chết xét theo tác động của nó lên bản chất hình tướng của sự biểu hiện chăng? Không.
[2] The note of synthesis and triumph—realised and complete—persists behind all that we can recognise as death.
[2] Âm điệu của sự tổng hợp và chiến thắng—đã được chứng nghiệm và trọn vẹn—vẫn hiện diện đằng sau tất cả những gì chúng ta có thể nhận biết là sự chết.
The note of synthesis and triumph—realised and complete—persists behind all that we can recognise as death.
Âm điệu tổng hợp và chiến thắng—đã được chứng nghiệm và hoàn tất—vẫn tồn tại đằng sau tất cả những gì chúng ta có thể nhận biết là sự chết.
In other words, the liberation of spirit or life from any kind of customary limitation. I mean, there's always going to be, the universe itself is a huge limitation upon the absolute. It's the absolute infinitely limited.
Nói cách khác, đó là sự giải phóng tinh thần hay sự sống khỏi mọi loại giới hạn quen thuộc. Ý tôi là luôn sẽ có giới hạn; chính vũ trụ là một giới hạn khổng lồ đối với cái tuyệt đối. Đó là cái tuyệt đối chịu giới hạn đến vô cùng.
At least, I think so. At least it makes sense to me. But let's just say, the customary limitations to which spirit or life is subjected are lifted.
Ít nhất, tôi nghĩ như vậy. Ít nhất, điều đó có lý đối với tôi. Nhưng những giới hạn quen thuộc mà tinh thần hay sự sống phải chịu đều được dỡ bỏ.
They are destroyed, banished, eliminated. Let's call it this: triumph in synthesis, because it is only in synthesis that we have the ultimate triumph. When all things come together, not only in perfection of relationship but in perfect oneness, we have the triumph, and synthesis is that perfect oneness realized.
Chúng bị phá hủy, xua đi, loại bỏ. Hãy gọi điều này là chiến thắng trong sự tổng hợp, vì chỉ trong sự tổng hợp chúng ta mới có chiến thắng tối hậu. Khi mọi sự quy tụ, không chỉ trong sự hoàn hảo của mối quan hệ mà còn trong trạng thái nhất thể hoàn hảo, chúng ta có chiến thắng; và sự tổng hợp chính là trạng thái nhất thể hoàn hảo ấy được chứng nghiệm.
[3] This will is the principle of victory,
[3] Ý chí này là nguyên khí của chiến thắng,
Mars is exalted in Capricorn. At the summit, you know how it is, those who reach the summit, they climb a mountain and what they feel when they get to the top.
Sao Hỏa vượng ở Ma Kết. Ở đỉnh cao, các bạn biết cảm giác ấy thế nào: những người lên đến đỉnh, họ leo núi và cảm nhận được điều gì khi lên tới đó.
I saw this when we were at Mount Kailash fourteen, thirteen years ago in the Wesak Valley and going around the mountain. When one of our party got to the height of—it wasn't the height of Mount Kailash, but it was the height of the kora or the circumambulation of the mountain—he sang a victory song. It was good too.
Tôi đã thấy điều này khi chúng tôi ở núi Kailash mười bốn, mười ba năm trước tại thung lũng Wesak và đi vòng quanh núi. Khi một người trong đoàn chúng tôi lên đến điểm cao nhất—không phải đỉnh núi Kailash, mà là điểm cao nhất của lộ trình đi vòng quanh núi—ông đã hát một bài ca chiến thắng. Bài hát cũng hay lắm.
That's what he felt at the top. I didn't get to the top. I was riding a yak.
Đó là cảm xúc của ông khi lên đến đỉnh. Tôi không lên đến đỉnh. Tôi đang cưỡi một con bò yak.
The yak was not going to climb to the top. I'm very grateful for that white yak, purified bull, of course, on the last day of Taurus it was.
Con bò yak ấy sẽ không leo lên đỉnh. Tôi rất biết ơn con bò yak trắng đó, dĩ nhiên là một con bò đực đã được thanh luyện; hôm ấy là ngày cuối cùng của Kim Ngưu.
Something very, very fitting during that Taurus time. I told that story. The pictures look a lot worse than the feeling I have about riding that yak.
Một điều rất, rất phù hợp trong thời gian Kim Ngưu ấy. Tôi đã kể câu chuyện đó rồi. Hình ảnh trông đáng sợ hơn nhiều so với cảm giác của tôi khi cưỡi con bò yak ấy.
This will is the principle of victory,
Ý chí này là nguyên khí của chiến thắng,
[4] of the ultimate goal of life when fruition is achieved;
[4] của mục tiêu tối hậu của sự sống khi đạt đến thành tựu viên mãn;
It probably corresponds in some respect to samadhi, the peak, reaching the summit, all of the energies coming to the top of the head and giving a completed synthetic view.
Có lẽ, theo một phương diện nào đó, điều này tương ứng với trạng thái đại định, đỉnh cao, việc lên đến đỉnh, khi toàn bộ năng lượng hội tụ nơi đỉnh đầu và đem lại một cái nhìn tổng hợp hoàn chỉnh.
[5] it is the final united success or unified conformity to a long foreseen purpose of spirit-matter, life-form, plus that something which is the dream and goal of the highest initiates in the Hierarchy to contact—the secret revelation of Shamballa itself.
[5] đó là thành công hợp nhất cuối cùng, hay sự hòa hợp thống nhất với một mục đích của tinh thần-vật chất, sự sống-hình tướng đã được tiên liệu từ lâu, cộng thêm điều mà các điểm đạo đồ cao nhất trong Thánh đoàn hằng mơ ước và nhắm đến việc tiếp xúc—sự mặc khải bí mật của chính Shamballa.
You just have to admit that the Tibetan's words are brilliant. What you see here is really the abstract mind, fed by the intuition, perfectly expressing—he may say, ‘I'm frustrated by the words,’ but when you see what it took to conceive this kind of abstract thinking.
Các bạn phải thừa nhận rằng lời lẽ của Chân sư Tây Tạng thật xuất chúng. Điều các bạn thấy ở đây thực sự là trí trừu tượng, được trực giác nuôi dưỡng, đang biểu đạt một cách hoàn hảo—Ngài có thể nói: “Tôi cảm thấy bất lực vì ngôn từ”, nhưng hãy nhìn xem cần đến điều gì để hình thành lối tư duy trừu tượng như thế này.
This will is the principle of victory,
Ý chí này là nguyên khí của chiến thắng,
No more division of any kind. Always there are contending forces if you're talking about victory or defeat, but there are no more contending forces here.
Không còn bất kỳ sự chia rẽ nào nữa. Khi nói đến chiến thắng hay thất bại, luôn có những mãnh lực tranh chấp, nhưng ở đây không còn những mãnh lực tranh chấp nữa.
of the ultimate goal of life when fruition is achieved;
của mục tiêu tối hậu của sự sống khi sự thành tựu đã đạt được;
Not just the satisfaction of some forms or even the satisfaction of all forms, but the satisfaction of the life within all forms, which is a synthetic something or nothing.
Không chỉ là sự thỏa mãn của một vài hình tướng, hay thậm chí của mọi hình tướng, mà là sự thỏa mãn của sự sống bên trong mọi hình tướng, vốn là một cái gì đó tổng hợp, hoặc chẳng là gì cả.
it is the final united success or unified conformity to a long foreseen purpose of spirit-matter,
đó là thành công hợp nhất sau cùng, hay sự hòa hợp thống nhất với một mục đích của tinh thần-vật chất vốn đã được thấy trước từ lâu,
I mean unified conformity.
Ý tôi là sự hòa hợp thống nhất.
There is not one form or life or being involved which is not conforming, not one, and which does not realize itself to be the synthesis.
Không một hình tướng, sự sống hay sinh linh nào tham dự vào đó mà không hòa hợp, không một ai, và không nhận ra mình chính là sự tổng hợp.
What is any form? It's found its own common denominator. That common denominator is the synthesis underlying all the substance, the synthesis, the Being it's found. There is conformity to that which it is essentially.
Bất kỳ hình tướng nào là gì? Nó đã tìm thấy mẫu số chung của chính mình. Mẫu số chung ấy là sự tổng hợp nằm bên dưới toàn bộ chất liệu, sự tổng hợp, Bản Thể mà nó đã tìm thấy. Có sự hòa hợp với cái mà về bản chất nó chính là.
Conformity to that which it essentially is.
Sự hòa hợp với cái mà về bản chất nó chính là.
it is the final united success or unified conformity to a long foreseen purpose of spirit-matter,
đó là thành công hợp nhất sau cùng, hay sự hòa hợp thống nhất với một mục đích của tinh thần-vật chất vốn đã được thấy trước từ lâu,
Because they must reunite. Spirit-matter is a duality which is a oneness of life-form, because of the same thing as HPB tells us.
Bởi vì chúng phải tái hợp. Tinh thần-vật chất là một nhị nguyên vốn là sự nhất thể của sự sống-hình tướng, vì chúng là cùng một điều, như Bà HPB cho chúng ta biết.
plus that something which is the dream and goal of the highest initiates in the Hierarchy to contact—the secret revelation of Shamballa itself.
cộng thêm một điều gì đó mà việc tiếp xúc với nó là ước mơ và mục tiêu của các điểm đạo đồ cao nhất trong Thánh đoàn—sự mặc khải bí mật của chính Shamballa.
Capricorn will have something to do with this. If we're talking about the highest initiates in the Hierarchy, we're talking sixth and seventh degree initiates. We're saying Capricorn is involved in this perceived synthesis and in conformity of every aspect of form-life to this realized synthesis.
Ma Kết hẳn có liên quan đến điều này. Nếu nói về các điểm đạo đồ cao nhất trong Thánh đoàn, chúng ta đang nói đến các điểm đạo đồ bậc sáu và bậc bảy. Chúng ta đang nói rằng Ma Kết có liên quan đến sự tổng hợp được nhận biết này và đến sự hòa hợp của mọi phương diện hình tướng-sự sống với sự tổng hợp đã được chứng nghiệm ấy.
[6] More it is not possible to say. If Christ Himself is striving towards that knowledge, it is not possible for us to do more than speculate.
[6] Không thể nói thêm được nữa. Nếu chính Đức Christ còn đang nỗ lực hướng tới tri thức ấy, thì chúng ta cũng không thể làm gì hơn ngoài suy đoán.
Here we find Master DK speculating. I defined it before as this outreach of the abstract mind. I defined it better than I can right now, but seeking the confirmation of the intuition.
Ở đây, chúng ta thấy Chân sư DK đang suy đoán. Trước đây, tôi đã định nghĩa điều đó là sự vươn xa này của trí trừu tượng. Khi ấy tôi định nghĩa hay hơn khả năng hiện giờ, nhưng đó là việc tìm kiếm sự xác nhận của trực giác.
Speculation is not confirmation. Speculation finds its fulfilment in the confirmation of the intuition. It's a manas–Buddhi here, and people might say, ‘Why are you speculating? It's just a lot of hot air,’ but it's reaching towards something which is real.
Suy đoán không phải là xác nhận. Suy đoán tìm được sự viên mãn trong sự xác nhận của trực giác. Ở đây là một sự kết hợp manas–Bồ đề, và người ta có thể nói: “Tại sao các bạn lại suy đoán? Chỉ toàn lời nói suông”, nhưng đó là sự vươn tới một điều có thực.
[EAA-142D-F01] Các ghi chú MDR về speculation, archetype và intuition. — video 00:11:29.
[EAA-142D-F01] Các ghi chú MDR về suy đoán, nguyên mẫu và trực giác. — video 00:11:29.
Speculation is oriented towards the archetype and finds it eventually if speculation, I'll call it, entrains the intuition.
Suy đoán hướng về nguyên mẫu và cuối cùng tìm thấy nguyên mẫu nếu, tôi sẽ gọi như vậy, suy đoán đưa trực giác vào cùng nhịp.
It's like having to get into sync, into rhythm with the intuition, the thoughts approximate. As thoughts approximate intuition, the archetype is realized. As thoughts approximate intuition, the archetype is realized.
Giống như phải đồng bộ, hòa nhịp với trực giác, các tư tưởng tiến gần đến trực giác. Khi tư tưởng tiến gần đến trực giác, nguyên mẫu được nhận ra. Khi tư tưởng tiến gần đến trực giác, nguyên mẫu được nhận ra.
That's what we're trying to do. I keep on running on here. Speculation as a—Manly Hall has this word, but I'll just use it—as a discipline of realization.
Đó là điều chúng ta đang cố gắng thực hiện. Tôi cứ nói mãi ở đây. Suy đoán như một—Manly Hall dùng từ này, và tôi sẽ dùng nó—như một phương pháp rèn luyện để chứng nghiệm.
Manly Hall talked about the disciplines of realization. I'm just saying that reasoned expansive speculation is a discipline of realization. Reasoned expansive deep speculation is a discipline of realization.
Manly Hall đã nói về các phương pháp rèn luyện để chứng nghiệm. Tôi chỉ muốn nói rằng suy đoán có lý lẽ và mở rộng là một phương pháp rèn luyện để chứng nghiệm. Suy đoán có lý lẽ, mở rộng và sâu sắc là một phương pháp rèn luyện để chứng nghiệm.
Realization is found on the atmic plane and it's found on the fifth level of the atmic plane, and somehow it is a, a something that lies even beyond the normal intuition found on the Buddhic plane. Realization is the antechamber to perfection, which is found also on the Buddhic plane.
Sự chứng nghiệm hiện hữu trên cõi atma, và hiện hữu ở cấp độ thứ năm của cõi atma; theo một cách nào đó, đó là điều vượt cả trực giác thông thường trên cõi Bồ đề. Sự chứng nghiệm là tiền sảnh dẫn đến sự hoàn hảo, vốn cũng hiện hữu trên cõi Bồ đề.
[7] In these few words, I have sought to convey an idea of a vast subjective realisation.
[7] Trong vài lời này, Tôi đã tìm cách truyền đạt một ý tưởng về một sự chứng nghiệm chủ quan bao la.
You can feel Master DK reaching out to something here, far beyond our ken. Nobody is stopping in their attempt to apprehend reality.
Các bạn có thể cảm thấy Chân sư DK đang vươn tới một điều gì đó ở đây, vượt xa tầm hiểu biết của chúng ta. Không ai ngừng nỗ lực lĩnh hội thực tại.
[8] What I am hinting at in reality is the objective of that “endless Way of which Nirvana itself is but the open door”
[8] Thực ra, điều Tôi đang gợi ý là mục tiêu của “Con Đường vô tận mà chính Niết Bàn chỉ là cánh cửa mở vào”—
The atmic plane is the open door to what? The vastest subjective realization is that of the Universal Logos. That's so many trillions of years ahead and so forth for the returning forms.
Cõi atma là cánh cửa mở vào đâu? Sự chứng nghiệm nội tại bao la nhất là của Thượng đế Vũ Trụ. Đối với các hình tướng đang trở về, điều đó còn cách phía trước biết bao nghìn tỷ năm, và còn hơn thế nữa.
But Master DK seems to be intuiting here some kind of final realization. We can have vast subjective realizations and not even be galactic in our realization. But there's something beyond and beyond and beyond which is the ultimate realization of the one consciousness of cosmos.
Nhưng dường như ở đây Chân sư DK đang trực nhận một sự chứng nghiệm cuối cùng nào đó. Chúng ta có thể có những chứng nghiệm nội tại bao la mà sự chứng nghiệm của chúng ta vẫn chưa đạt đến tầm thiên hà. Nhưng có một điều vượt xa hơn nữa, hơn nữa và hơn nữa, đó là sự chứng nghiệm tối hậu của tâm thức duy nhất của vũ trụ.
That will belong to all of us because we are one thing. We're talking about the endless Way of which Nirvana is but the open door, and I talked about endless. Relatively endless.
Điều đó sẽ thuộc về tất cả chúng ta vì chúng ta là một. Chúng ta đang nói về Con Đường vô tận mà Niết Bàn chỉ là cánh cửa mở, và tôi đã nói về tính vô tận. Vô tận một cách tương đối.
It seems endless. There's only one endless way and if you follow the great breath, because you are the great breath, that's the endless way. But it's also beginningless.
Nó có vẻ vô tận. Chỉ có một con đường vô tận, và nếu các bạn đi theo hơi thở vĩ đại, bởi vì các bạn chính là hơi thở vĩ đại ấy, thì đó là con đường vô tận. Nhưng nó cũng không có khởi đầu.
What I am hinting at in reality is the objective of that “endless Way of which Nirvana itself is but the open door”
Thực ra, điều Tôi đang gợi ý là mục tiêu của “Con Đường vô tận mà chính Niết Bàn chỉ là cánh cửa mở” ấy
Always we human beings want to finalize things. We're concrete.
Con người chúng ta luôn muốn chốt mọi việc lại. Chúng ta thiên về cái cụ thể.
We want to say this is it, this is the end, heaven forever. but that would be a kind of hell, I'm afraid. Any limited form entertained forever as a content of consciousness would indicate that our consciousness is helled, held, hell.
Chúng ta muốn nói: chính là đây, đây là điểm kết thúc, thiên đường mãi mãi. Nhưng tôi e rằng đó sẽ là một kiểu địa ngục. Bất kỳ hình tướng hữu hạn nào được giữ mãi như một nội dung của tâm thức đều cho thấy tâm thức của chúng ta bị giam trong địa ngục, bị cầm giữ—địa ngục.
[9] the Way to the higher evolution for which our evolutionary process prepares mankind.
[9] Con đường Tiến Hóa Cao Siêu mà tiến trình tiến hoá của chúng ta đang chuẩn bị cho nhân loại bước vào.
Of course, Master DK has only taken that Way of the Higher Evolution so far into great realizations beyond anything we can imagine, all the way to absolute sonship and to the consciousness and Being of a Solar Logos. But there's also an eighth path and a ninth path, and he only mentions that they exist.
Dĩ nhiên, Chân sư DK mới chỉ trình bày Con đường Tiến Hóa Cao Siêu ấy đến những chứng nghiệm vĩ đại vượt xa mọi điều chúng ta có thể tưởng tượng, đến tận địa vị làm Con tuyệt đối và đến tâm thức cùng Bản Thể của một Thái dương Thượng đế. Nhưng còn có con đường thứ tám và con đường thứ chín, và Ngài chỉ đề cập rằng chúng tồn tại.
What are they? If they correspond to initiations, the eighth and ninth are higher than the seventh, sixth and so forth, and so maybe these paths are somehow still higher because now they are possible, and he only hints at them.
Chúng là gì? Nếu chúng tương ứng với các cuộc điểm đạo, thì lần thứ tám và thứ chín cao hơn lần thứ bảy, thứ sáu, v.v.; do đó, có lẽ những con đường này theo một cách nào đó còn cao hơn nữa, vì giờ đây chúng đã trở nên khả hữu, và Ngài chỉ gợi ý về chúng.
He simply says they're possible, and do they relate somehow to that for which Atlas and Pleione stand as the eighth and ninth in the configuration of the Pleiades?
Ngài chỉ nói rằng chúng khả hữu; và liệu chúng có liên quan theo một cách nào đó đến điều mà Atlas và Pleione đại diện, với tư cách là ngôi thứ tám và thứ chín trong cấu hình của Thất Nữ chăng?
[10] I am indicating what is the goal of all hierarchical endeavour. Mankind is so preoccupied with the attitude and effort of the Hierarchy as regards human welfare and guidance that the goal of the efforts of the Masters of the Wisdom is naturally overlooked.
[10] Tôi đang chỉ ra mục tiêu của mọi nỗ lực của Thánh đoàn. Nhân loại quá bận tâm đến thái độ và nỗ lực của Thánh đoàn đối với phúc lợi và việc hướng dẫn con người, đến nỗi đương nhiên bỏ qua mục tiêu trong những nỗ lực của các Chân sư Minh Triết.
Yes, we're very—how do you say? I want to say something stupid, manocentric. Anthropocentric. We are anthropos.
Đúng vậy, chúng ta rất—nói thế nào nhỉ? Tôi muốn dùng một từ ngớ ngẩn: lấy con người làm trung tâm. Duy nhân loại. Chúng ta là loài người.
We are very anthropocentric man or humanity is a measure of all things, and so we forget what the Masters are. They are parts of the whole and naturally in the great re-amalgamation they are going to be reaching out for something beyond our ken.
Chúng ta rất duy nhân loại: con người hay nhân loại là thước đo của vạn vật, nên chúng ta quên mất các Chân sư là ai. Các Ngài là những thành phần của toàn thể, và đương nhiên trong cuộc tái hợp nhất vĩ đại, Các Ngài sẽ vươn tới điều gì đó vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta.
We in a centralized manner fail to even think about what their interests may be, but DK has asked us, don't we think that there might be something of interest for such as he is and other Masters?
Do tập trung vào bản thân, chúng ta thậm chí không nghĩ đến những mối quan tâm của Các Ngài có thể là gì. Nhưng Chân sư DK đã hỏi chúng ta: chẳng lẽ chúng ta không nghĩ rằng có thể có điều gì đó đáng quan tâm đối với một Đấng như Ngài và các Chân sư khác sao?
[11] It is in reality no concern of man.
[11] Thực ra, đó không phải là điều con người cần quan tâm.
Of course that's true.
Dĩ nhiên, điều đó đúng.
With Pope, we have to say that ‘the proper study of mankind is man.’
Cùng với Pope, chúng ta phải nói rằng “đối tượng nghiên cứu thích hợp của nhân loại là con người”.
[12] Nevertheless, the picture of the divine Plan so oft emphasised in occult books and by occult teachers is distorted unless it is realised that just as humanity strives towards the Hierarchy, so that Hierarchy itself strives towards Shamballa. As the Old Commentary has it:
[12] Tuy nhiên, bức tranh về Thiên Cơ thường được nhấn mạnh trong các sách huyền bí và qua lời các huấn sư huyền bí sẽ bị bóp méo nếu không nhận ra rằng, cũng như nhân loại nỗ lực hướng tới Thánh đoàn, chính Thánh đoàn cũng nỗ lực hướng tới Shamballa. Như Cổ Luận đã nói:
[13] “He who sees in the dark light of Shamballa penetrates to that which lies beyond our little sphere to that which can be sensed behind the holy triangle
[13] Người thấy được trong ánh sáng tối của Shamballa thâm nhập vào điều nằm bên ngoài khối cầu nhỏ bé của chúng ta, vào điều có thể cảm nhận được đằng sau tam giác thánh thiện (Sao Kim, Sao Thủy, Trái Đất, A.A.B.).
Here is a holy triangle, and we're getting some pretty good information on it here because sometimes we could say Venus, Mars and the Earth, but Mars is not too holy. We've got two sacred planets and one becoming sacred planet, the Earth.
Ở đây có một tam giác thánh thiện, và chúng ta đang nhận được những thông tin khá giá trị về nó, vì đôi khi chúng ta có thể nói là Sao Kim, Sao Hỏa và Trái Đất, nhưng Sao Hỏa không thánh thiện cho lắm. Chúng ta có hai hành tinh thiêng liêng và một hành tinh đang trở nên thiêng liêng là Trái Đất.
This is an important hint.
Đây là một gợi ý quan trọng.
[14] There is to be found the point of radiant fire which shines within the eye (Taurus), which burns upon the mountain-top and which the water cannot quench (Aquarius). These are the holiest three.”
[14] Ở đó có thể tìm thấy điểm lửa rạng ngời chiếu sáng trong con mắt (Kim Ngưu), cháy trên đỉnh núi (Ma Kết) và nước không thể dập tắt (Bảo Bình). Đó là ba điều thiêng liêng nhất.”
Taurus, Capricorn and Aquarius, they are great illumination and the service resulting therefrom.
Kim Ngưu, Ma Kết và Bảo Bình: đó là sự soi sáng lớn lao và sự phụng sự phát sinh từ đó.
He who sees in the dark light of Shamballa penetrates to that which lies beyond our little sphere
Ai thấy trong ánh sáng tối của Shamballa thì thâm nhập vào điều nằm bên ngoài khối cầu nhỏ bé của chúng ta
Because the Shamballic perception takes us into the solar system and beyond, to that which can be sensed only by the holy triangle. The Lords of Venus, Mercury and Earth sense something there. Is it in Shamballa itself is to be found the point of radiant fire, or beyond, or what Shamballa admits us to, the point of radiant fire which shines within the eye?
Bởi vì tri giác Shamballa đưa chúng ta vào hệ mặt trời và xa hơn nữa, đến điều chỉ tam giác thánh thiện mới có thể cảm nhận. Các Đấng Chúa Tể của Sao Kim, Sao Thủy và Trái Đất cảm nhận được điều gì đó ở nơi ấy. Có phải ngay trong Shamballa có điểm lửa rạng ngời, hay ở bên ngoài, hay trong cõi mà Shamballa cho chúng ta bước vào—điểm lửa rạng ngời chiếu sáng trong con mắt ấy?
Maybe we're talking about the jewel in the lotus here, the bull that carries the fair jewel in its forehead, but maybe a point of radiant fire. Maybe this point is the eye of the bull, and maybe, possibly, Aldebaran.
Có lẽ ở đây chúng ta đang nói về Bảo Ngọc Trong Hoa Sen, con bò đực mang viên ngọc đẹp trên trán, nhưng cũng có thể là một điểm lửa rạng ngời. Có lẽ điểm này là mắt của con bò đực, và có lẽ, có thể là Aldebaran.
Maybe.
Có lẽ.
the point of radiant fire which shines within the eye, which burns upon the mountain-top and which the water cannot quench. These are the holiest three.”
điểm lửa rạng ngời chiếu sáng trong con mắt, cháy trên đỉnh núi và nước không thể dập tắt. Đây là ba dấu hiệu thánh thiện nhất.”
[EAA-142D-F02] Rule IX trong The Rays and the Initiations được MDR tìm và mở. — video 00:21:20.
[EAA-142D-F02] Quy luật IX trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo được MDR tìm và mở. — video 00:21:20.
But in a way, in a more circumscribed way, we are looking for the central point of the Planetary Logos, and we do have that in Rule IX:
Nhưng theo một cách nào đó, trong phạm vi giới hạn hơn, chúng ta đang tìm điểm trung tâm của Hành Tinh Thượng đế, và quả thật chúng ta có điều đó trong Quy luật IX:
Let the group know there are no other selves. Let the group know there is no colour, only light; (RI, tr. 22)
Hãy để nhóm biết rằng không có những bản ngã nào khác. Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; (RI, tr. 22)
It's the dark light that takes this place.
Chính ánh sáng tối thay thế ở đây.
are no other selves. Let the group know there is no colour, only light;
không có những bản ngã nào khác. Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng;
and then let darkness take the place of light, (RI, tr. 22)
và rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng, (RI, tr. 22)
That's it.
Chính là thế.
darkness take the place of light,
bóng tối thay thế ánh sáng,
hiding all difference, blotting out all form. (RI, tr. 22)
che giấu mọi khác biệt, xóa sạch mọi hình tướng. (RI, tr. 22)
Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when the Door first was passed. (RI, tr. 22)
Rồi—tại nơi tập trung nhất tâm, và ở điểm tối tăm nhất ấy—hãy để nhóm thấy một điểm lửa trong trẻo, lạnh lẽo, và trong ngọn lửa (ngay chính giữa tâm của nó), hãy để Đấng Điểm đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng có ngôi sao đã tỏa sáng khi Cánh Cửa lần đầu tiên được vượt qua. (RI, tr. 22)
That point of clear cold fire.
Điểm lửa trong trẻo, lạnh lẽo ấy.
This is analogous to what we are talking about here. We're seeing a point of fire.
Điều này tương đồng với điều chúng ta đang bàn ở đây. Chúng ta đang thấy một điểm lửa.
There is to be found the point of radiant fire which shines within the eye
Nơi đó có điểm lửa rạng ngời chiếu sáng trong con mắt
It's a lesser analogy, of course, right on our planet, which burns upon the mountaintop for the initiate on our planet because he's going to be met by that point of clear cold fire, who is the Planetary Logos, and which water cannot quench. These are the extraterrestrial influences, the extra influences which bring the Planetary Logos to us, he being a point of clear cold fire.
Dĩ nhiên, đó là một sự tương đồng ở quy mô nhỏ hơn, ngay trên hành tinh của chúng ta, cháy trên đỉnh núi đối với điểm đạo đồ trên hành tinh của chúng ta, vì y sẽ được điểm lửa trong trẻo, lạnh lẽo ấy đón gặp, Đấng chính là Hành Tinh Thượng đế, và nước không thể dập tắt. Đây là những ảnh hưởng ngoài Trái Đất, những ảnh hưởng từ bên ngoài đưa Hành Tinh Thượng đế đến với chúng ta, Ngài là một điểm lửa trong trẻo, lạnh lẽo.
This is Rule IX and page twenty-two. Good page.
Đây là Quy luật IX và trang hai mươi hai. Một trang hay.
A point of clear cold fire—when you see the same phrase, you just have to make the link. Point of clear cold fire, point of radiant fire, there it is:
Một điểm lửa trong trẻo, lạnh lẽo—khi thấy cùng một cụm từ, các bạn phải liên hệ chúng với nhau. Điểm lửa trong trẻo, lạnh lẽo, điểm lửa rạng ngời, chính là đây:
There is to be found the point of radiant fire which shines within the eye (Taurus),
Nơi đó có điểm lửa rạng ngời chiếu sáng trong con mắt (Kim Ngưu),
Taurus, remember, has such a close relationship to our Planetary Logos.
Hãy nhớ rằng Kim Ngưu có mối quan hệ rất mật thiết với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.
We have studied that before, just as it has to Sirius. Which burns upon the mountaintop, that fire is the fire of initiation, and which the water cannot quench. But the water is used to serve.
Chúng ta đã nghiên cứu điều đó trước đây, cũng như mối quan hệ mật thiết của Kim Ngưu với Sirius. Cháy trên đỉnh núi, ngọn lửa ấy là lửa điểm đạo, và nước không thể dập tắt. Nhưng nước được dùng để phụng sự.
These are the holiest three.”
Đây là ba dấu hiệu thánh thiện nhất.”
Anyway, they certainly have to do, as I said in the beginning, with the illumination and the distribution of the light which shines on Earth across the sea, which is Aquarius.
Dù sao, như tôi đã nói lúc đầu, chắc chắn chúng có liên quan đến sự soi sáng và sự phân phối ánh sáng chiếu trên Trái Đất, lan qua biển cả, điều này là Bảo Bình.
let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when the Door first was passed. (RI, tr. 22)
hãy để nhóm thấy một điểm lửa trong trẻo, lạnh lẽo, và trong ngọn lửa (ngay chính giữa tâm của nó), hãy để Đấng Điểm đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng có ngôi sao đã tỏa sáng khi Cánh Cửa lần đầu tiên được vượt qua. (RI, tr. 22)
These, this is what's happening on our Earth in response to the greater illumination and initiatory possibilities, which occur extra systemically. When we're talking here about the unfettered light of Shamballa, Taurus and Capricorn, the greatest light, the sublime light, they have to be involved. We saw how high Capricorn can take a person, finally, into the light of life itself.
Đây là điều đang xảy ra trên Trái Đất của chúng ta để đáp ứng sự soi sáng lớn lao hơn và những khả năng điểm đạo xuất hiện bên ngoài hệ mặt trời. Khi chúng ta nói ở đây về ánh sáng không bị ràng buộc của Shamballa, Kim Ngưu và Ma Kết, ánh sáng lớn lao nhất, ánh sáng siêu phàm, thì hai dấu hiệu ấy hẳn phải có liên quan. Chúng ta đã thấy cuối cùng Ma Kết có thể đưa một người lên cao đến mức nào, vào ánh sáng của chính sự sống.
[15] As we consider the seven rays as outlined in Tabulation X, I would have you bear in mind that we are viewing them as expressions of this threefold will.
[15] Khi xem xét bảy cung như đã phác họa trong Bảng X, Tôi muốn các bạn ghi nhớ rằng chúng ta đang nhìn chúng như những biểu hiện của ý chí tam phân này.
What this means.
Điều này có nghĩa là gì.
[EAA-142D-F03] Một phần Tabulation III về các nguồn năng lượng, chòm sao và các Hierarchies. — video 00:26:30.
[EAA-142D-F03] Một phần Bảng III về các nguồn năng lượng, chòm sao và các Huyền Giai. — video 00:26:30.
What does this mean? It means that the Great Bear express the will aspect of the seven rays. The seven rays are also expressed through the Little Bear, I think, and I think they're expressed also through the Pleiades, but not the will aspect, rather the love aspect and the intelligence aspect would be found respectively, and if we look at that sevenfold system, which may involve Sirius, we can ask, well, are we in some way a heart center? I mean, we've looked at ourselves as a solar plexus center.
Điều này có nghĩa là gì? Có nghĩa là Đại Hùng biểu lộ phương diện ý chí của bảy cung. Tôi nghĩ bảy cung cũng biểu lộ qua Tiểu Hùng, và tôi nghĩ chúng cũng biểu lộ qua Thất Nữ, nhưng không phải phương diện ý chí; thay vào đó, ta sẽ tìm thấy phương diện bác ái và phương diện trí thông minh theo thứ tự tương ứng. Nếu nhìn vào hệ thống thất phân ấy, có thể có liên quan đến Sirius, chúng ta có thể hỏi: theo một cách nào đó, chúng ta có phải là một trung tâm tim không? Ý tôi là chúng ta đã xem mình như một trung tâm tùng thái dương.
Are we in some way a heart center and is the solar plexus center other? And yet the seven solar systems of which ours is one have to do with magnetic energy. But can we say, oh my goodness, there are three, on page 50, there are three constellations above. Well, I'm going to turn there.
Theo một cách nào đó, chúng ta có phải là một trung tâm tim, còn trung tâm tùng thái dương là một trung tâm khác không? Tuy vậy, bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một trong số đó có liên quan đến năng lượng từ tính. Nhưng liệu chúng ta có thể nói: ôi, có ba chòm sao ở phía trên, trên trang 50 có ba chòm sao. Tôi sẽ mở đến đó.
Certain ideas occur. They only bring greater irresolution, unfortunately, but here they are. The dynamic energy is almost like Sirius, the Great Bear and the Pleiades.
Một vài ý tưởng xuất hiện. Đáng tiếc là chúng chỉ làm tăng sự bất định, nhưng chúng ở đây. Năng lượng năng động gần như là Sirius, Đại Hùng và Thất Nữ.
Are these all found in some way within the head? And for some reason, are the seven solar systems part of a chakra which represent the heart? Well, I don't know if that's the case yet, because the problem here is that it's Mars. Mars has not much to do with the heart, but Mars has everything to do with the solar plexus and even with the sacral center. So we're liable to find our seven solar systems at a lower stage.
Theo một cách nào đó, có phải tất cả những chòm sao này đều nằm trong đầu? Và vì một lý do nào đó, có phải bảy hệ mặt trời là thành phần của một luân xa đại diện cho tim? Tôi chưa biết có đúng như vậy không, vì vấn đề ở đây là Sao Hỏa. Sao Hỏa không liên quan nhiều đến tim, nhưng lại liên quan mật thiết đến tùng thái dương và cả trung tâm xương cùng. Vì vậy, có lẽ chúng ta sẽ tìm thấy bảy hệ mặt trời của mình ở một cấp thấp hơn.
I think so. How bright a constellation are we really? Well, when we look at it, maybe not terribly bright. Are we brighter than Sirius? Well, maybe Sirius is a part of ours.
Tôi nghĩ vậy. Chòm sao của chúng ta thực sự sáng đến mức nào? Khi nhìn vào, có lẽ không sáng lắm. Chúng ta có sáng hơn Sirius không? Có lẽ Sirius là một thành phần trong hệ của chúng ta.
Although up here, it seems to be distinct. I've talked about that particular, that particular quandary. It's a bit like Venus being within Saturn and yet belonging to Neptune.
Mặc dù ở trên này, dường như Sirius tách biệt. Tôi đã nói về vấn đề nan giải ấy. Nó hơi giống như Sao Kim nằm trong Sao Thổ mà lại thuộc về Sao Hải Vương.
[EAA-142D-F04] Chart VI về các planetary schemes và các chain, được MDR dùng trong phần absorption. — video 00:27:53.
[EAA-142D-F04] Sơ đồ VI về các hệ hành tinh và các dãy, được MDR dùng trong phần hấp thu. — video 00:27:53.
When we wonder how Venus will be absorbed, it's part of the Saturnian system. We find its planetary scheme there, and yet it's supposed to be absorbed into Neptune. So what's going on? Will it be first absorbed into Saturn and then absorbed into Neptune? It's kind of interesting because there's no direct line here to Neptune.
Khi chúng ta tự hỏi Sao Kim sẽ được hấp thu như thế nào, nó là một thành phần của hệ thống Sao Thổ. Chúng ta tìm thấy hệ hành tinh của nó ở đó, nhưng nó lại được cho là sẽ được hấp thu vào Sao Hải Vương. Vậy điều gì đang diễn ra? Liệu trước tiên nó sẽ được hấp thu vào Sao Thổ, rồi sau đó vào Sao Hải Vương chăng? Điều này khá thú vị vì ở đây không có đường nối trực tiếp đến Sao Hải Vương.
There's a line that passes through but no direct line, and that's a later type of absorption. So will there be some kind of differentiation in the absorption of these planetary schemes into Saturn and then a kind of a, an up-drawing from within all the schemes in Saturn to their final resting place? Or, or maybe, this is speculation obviously, but Saturn has to be absorbed into one or other of these, and maybe that absorption, maybe Saturn takes into Uranus certain of the planetary schemes like the Earth, let's say, maybe Mars and so forth, and maybe liberates the Venus scheme to be absorbed into Neptune. Well, this is a solar systemic lore, so there's no way we're going to do anything but suggest speculations.
Có một đường đi xuyên qua nhưng không có đường nối trực tiếp, và đó là một kiểu hấp thu diễn ra muộn hơn. Vậy liệu sẽ có một sự biến phân nào đó trong việc hấp thu các hệ hành tinh này vào Sao Thổ, rồi một kiểu thu hút lên trên, từ bên trong toàn bộ các hệ hành tinh thuộc Sao Thổ, đến nơi an nghỉ cuối cùng của chúng chăng? Hoặc có lẽ—rõ ràng đây là suy đoán—Sao Thổ phải được hấp thu vào một trong các hành tinh này, và có lẽ trong sự hấp thu ấy, Sao Thổ đưa vào Sao Thiên Vương một số hệ hành tinh, chẳng hạn như Trái Đất, có lẽ Sao Hỏa, v.v., và có lẽ giải phóng hệ hành tinh Sao Kim để nó được hấp thu vào Sao Hải Vương. Đây là tri thức về hệ mặt trời, nên chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc đưa ra những suy đoán.
As we consider the seven rays as outlined in Tabulation X, I would have you bear in mind that we are viewing them as expressions of this threefold will.
Khi xem xét bảy cung như được phác họa trong Bảng X, Tôi muốn các bạn ghi nhớ rằng chúng ta đang nhìn chúng như những biểu hiện của ý chí tam phân này.
I have to put down again what that means. This is the will that conditions life and is related to creation, the will to fulfillment, and the will which conquers death. So, from the Great Bear comes the will expression, but we have to consider that perhaps the constellations themselves have relation to the different aspects of the will.
Tôi phải ghi lại ý nghĩa của điều đó một lần nữa. Đây là ý chí định hình sự sống và liên quan đến sáng tạo, ý chí hướng đến sự viên mãn, và ý chí chiến thắng sự chết. Vì vậy, biểu hiện ý chí đến từ Đại Hùng, nhưng chúng ta phải xét đến khả năng chính các chòm sao có liên quan đến những phương diện khác nhau của ý chí.
We have already seen in one way—we haven't seen, we're anticipating it—but Aries will be related to the will that conditions life, Leo to the will to fulfilment, and Capricorn to the will which conquers death. But let's see how he goes on with this. This material is so abstract, I'm getting dizzy.
Theo một cách nào đó, chúng ta đã thấy—thật ra chưa thấy, chúng ta đang dự đoán—rằng Bạch Dương sẽ liên quan đến ý chí định hình sự sống, Sư Tử liên quan đến ý chí hướng đến sự viên mãn, và Ma Kết liên quan đến ý chí chiến thắng sự chết. Nhưng hãy xem Ngài tiếp tục triển khai điều này như thế nào. Nội dung này quá trừu tượng, tôi đang thấy chóng mặt.
I remember when I used to study 10 or 12 hours a day, insanity at the time, but I had just finished an operatic career, more or less finished, and I was really interested in getting into astrology and esotericism, and I had time to study, so I did study. I studied astrology endlessly until my head started to spin. I should have known something was wrong at that time.
Tôi nhớ thời mình thường học mười hoặc mười hai giờ mỗi ngày, thật điên rồ vào lúc đó, nhưng tôi vừa kết thúc sự nghiệp hát opera, ít nhiều là đã kết thúc, và tôi thực sự muốn đi sâu vào chiêm tinh học cùng huyền bí học. Tôi có thời gian để học nên đã học. Tôi học chiêm tinh không ngừng cho đến khi đầu óc bắt đầu quay cuồng. Đáng lẽ lúc ấy tôi phải biết rằng có điều gì đó không ổn.
It has since stopped spinning, but at the moment the combination of ongoing attention and hyperventilation is helping spin.
Từ đó đến nay, đầu óc tôi đã ngừng quay, nhưng lúc này, sự kết hợp giữa việc liên tục tập trung chú ý và thở quá mức đang khiến nó quay trở lại.
[16] We have studied them in some detail in my other books from the angle of consciousness and from the point of view as producing changes and expansions of consciousness in man, in nations and in races.
[16] Trong những cuốn sách khác của Tôi, chúng ta đã nghiên cứu các cung ấy khá chi tiết từ góc độ tâm thức và từ quan điểm xem chúng tạo ra những biến đổi và mở rộng tâm thức nơi con người, các quốc gia và các giống dân.
What have we studied here? The rays and the constellations we have studied.
Ở đây chúng ta đã nghiên cứu những gì? Chúng ta đã nghiên cứu các cung và các chòm sao.
[17] Now, as far as may be possible, we are going to consider these rays as they express the pure, living activity of Deity as it fulfils Itself in manifestation as pure incentive, directed impersonal energy, divine instinct which latter is a blend of instinctual force and intuitive energy.
[17] Giờ đây, trong chừng mực có thể, chúng ta sẽ xem xét các cung này khi chúng biểu lộ hoạt động thuần khiết, sống động của Thượng đế, khi Ngài hoàn thành chính mình trong sự biểu hiện dưới dạng động cơ thúc đẩy thuần khiết, năng lượng phi cá nhân có định hướng, bản năng thiêng liêng—yếu tố sau cùng này là sự hòa trộn giữa mãnh lực bản năng và năng lượng trực giác.
How much can we stand of these synthetic paragraphs which take the whole world in? Another synthetic paragraph. We've studied in the first part of the book the constellations, the rays; we've said in Esoteric Psychology, they enhance consciousness in a certain way.
Chúng ta có thể tiếp nhận đến đâu những đoạn văn tổng hợp bao trùm cả thế giới như thế này? Lại thêm một đoạn văn tổng hợp nữa. Trong phần đầu của cuốn sách, chúng ta đã nghiên cứu các chòm sao, các cung; chúng ta đã nói trong Tâm Lý Học Nội Môn rằng chúng nâng cao tâm thức theo một cách nhất định.
Also in The Destiny of the Nations, we've understood how they expand the consciousness in nations and races. We're dealing with rays and constellations as pure will, the rays and constellations as they relate to pure will.
Cũng trong Vận Mệnh của Các Quốc Gia, chúng ta đã thấu hiểu cách chúng mở rộng tâm thức trong các quốc gia và các giống dân. Chúng ta đang bàn về các cung và các chòm sao như ý chí thuần khiết, các cung và các chòm sao trong mối liên hệ với ý chí thuần khiết.
Now, as far as may be possible, we are going to consider these rays as they express the pure, living activity of Deity
Giờ đây, trong chừng mực có thể, chúng ta sẽ xem xét những cung này khi chúng biểu lộ hoạt động thuần khiết, sống động của Thượng đế
Living activity. I guess he's defining will here.
Hoạt động sống động. Tôi đoán ở đây Ngài đang định nghĩa ý chí.
Will is being defined in different ways, right? Is it not so? Will is being defined in various ways. Living activity of Deity as it fulfils itself in manifestation as pure incentive. Pure incentive is the living activity of Deity which moves into manifestation.
Ý chí đang được định nghĩa theo những cách khác nhau, đúng không? Chẳng phải vậy sao? Ý chí đang được định nghĩa theo nhiều cách. Hoạt động sống động của Thượng đế khi Ngài tự thành tựu trong sự biểu hiện dưới dạng động lực thúc đẩy thuần khiết. Động lực thúc đẩy thuần khiết là hoạt động sống động của Thượng đế đi vào biểu hiện.
Living activity of Deity aims towards manifestation and has in doing so a pure incentive. I'm moving things around, attempting to understand.
Hoạt động sống động của Thượng đế hướng tới sự biểu hiện và trong quá trình ấy có một động lực thúc đẩy thuần khiết. Tôi đang sắp xếp lại các ý, cố gắng thấu hiểu.
directed impersonal energy
năng lượng vô ngã có định hướng
That is will. That is will.
Đó là ý chí. Đó là ý chí.
divine instinct
bản năng thiêng liêng
Maybe all of us emanations are operating out of Divine Instinct because we don't have the complete intuitive conscious knowledge.
Có lẽ tất cả chúng ta, những xuất lộ, đều đang hoạt động từ Bản Năng Thiêng Liêng, vì chúng ta chưa có tri thức trực giác hữu thức trọn vẹn.
which latter is a blend of instinctual force
điều sau cùng này là sự hòa trộn giữa mãnh lực bản năng
A greater intelligence driving us unknowingly forward.
Một trí thông minh lớn lao hơn đang thúc đẩy chúng ta tiến tới mà chúng ta không hay biết.
and intuitive energy.
và năng lượng trực giác.
Intuitive instinct, we are told, is the keynote of the initiate of the second degree. This intuitive energy relates to the kind of instinct which is divine.
Chúng ta được cho biết rằng bản năng trực giác là chủ âm của điểm đạo đồ bậc hai. Năng lượng trực giác này liên quan đến loại bản năng thiêng liêng.
The Logos or whatever Logos we're talking about is heading in the right direction due to something innate. So there's something instinctual driven by a higher intelligence and also the intuitive energy is taking the Logos forward. Whatever Logos we may be speaking of here, maybe we're speaking of our Planetary Logos.
Thượng đế, hay bất kỳ Thượng đế nào chúng ta đang nói đến, đang đi đúng hướng nhờ một điều gì đó bẩm sinh. Vì vậy, có một yếu tố bản năng do một trí thông minh cao hơn thúc đẩy, đồng thời năng lượng trực giác cũng đưa Thượng đế tiến tới. Dù ở đây chúng ta đang nói đến Thượng đế nào, có lẽ chúng ta đang nói đến Hành Tinh Thượng đế của mình.
No, something much larger. We're speaking of the One About Whom Naught May Be Said in whom the zodiacal constellations are as major petals in the major center in the head, heart in the head center. So now we're going to look at will, pure will, which he defines in different terms.
Không, một Đấng lớn lao hơn nhiều. Chúng ta đang nói đến Đấng Bất Khả Tư Nghị, trong Ngài các chòm sao hoàng đạo giống như những cánh hoa chính trong trung tâm chính ở đầu, trung tâm tim trong đầu. Vì vậy, giờ đây chúng ta sẽ xem xét ý chí, ý chí thuần khiết, mà Ngài định nghĩa bằng những cách diễn đạt khác nhau.
these rays as they express the pure, living activity of Deity
những cung này khi chúng biểu lộ hoạt động thuần khiết, sống động của Thượng đế
Will and activity allied.
Ý chí và hoạt động liên kết với nhau.
as it fulfils Itself in manifestation as pure incentive,
khi Ngài tự thành tựu trong sự biểu hiện dưới dạng động lực thúc đẩy thuần khiết,
Incentive is the reason why something happens.
Động lực thúc đẩy là lý do khiến một điều gì đó xảy ra.
We have a reason, a Pure Reason, why this living activity is fulfilling itself in manifestation. We have a Pure Reason or incentive which is the reason why the living activity is fulfilling itself in manifestation. God has a vision unalloyed, has a pure energy, works with his pure energy.
Chúng ta có một lý do, một Lý Trí Thuần Khiết, giải thích vì sao hoạt động sống động này đang tự thành tựu trong biểu hiện. Chúng ta có một Lý Trí Thuần Khiết hay động cơ, vốn là lý do khiến hoạt động sống động tự thành tựu trong biểu hiện. Thượng đế có một tầm nhìn thuần khiết, có một năng lượng thuần khiết, và hoạt động bằng năng lượng thuần khiết của Ngài.
It works itself into manifestation, and well, maybe this will explain it, or at least it explains it a bit to me, that God, whatever Logos has a pure incentive or reason for seeking manifestation. what's your incentive for doing that? You ask somebody, why are you doing that? What's your incentive? Well, if I do that, this will be my reward.
Năng lượng ấy đi vào biểu hiện, và có lẽ điều này sẽ giải thích được, hoặc ít nhất cũng giải thích đôi chút cho tôi: Thượng đế, bất kể là Thượng đế nào, đều có một động cơ hay lý do thuần khiết để tìm kiếm sự biểu hiện. Động cơ nào khiến các bạn làm điều đó? Khi hỏi ai đó: “Tại sao bạn làm điều đó? Động cơ của bạn là gì?”, câu trả lời có thể là: “Nếu tôi làm điều đó, đây sẽ là phần thưởng của tôi.”
That reward, that achievement, that reaching is my incentive. God has a pure incentive. God, whatever Logos, has a pure incentive and therefore uses pure living activity of Deity to achieve that incentive.
Phần thưởng ấy, thành tựu ấy, việc đạt tới ấy là động cơ của tôi. Thượng đế có một động cơ thuần khiết. Thượng đế, bất kể là Thượng đế nào, đều có một động cơ thuần khiết và vì thế sử dụng hoạt động sống động thuần khiết của Thượng đế để đạt được điều mà động cơ ấy hướng tới.
That incentive is achieved through manifestation in a lower world. We're handling a lot of abstractions here, but we're going to be talking about energy from the will aspect.
Điều mà động cơ ấy hướng tới được thành tựu thông qua sự biểu hiện trong một cõi thấp hơn. Ở đây, chúng ta đang bàn đến nhiều điều trừu tượng, nhưng chúng ta sẽ nói về năng lượng từ phương diện ý chí.
[18] It might be pointed out to those of you who have some measure of occult perception that this synthetic Life, being cosmic, emerges from cosmic planes and not systemic. Hence the difficulty in comprehending it.
[18] Có thể chỉ ra cho những ai trong các bạn có được phần nào tri giác huyền bí rằng Sự Sống tổng hợp này, vốn mang bản chất vũ trụ, xuất phát từ các cõi vũ trụ chứ không phải các cõi của hệ mặt trời. Vì thế, việc thấu hiểu Sự Sống ấy thật khó khăn.
[EAA-142D-F05] Bản tô màu Evolution of a Solar Logos được MDR trình chiếu. — video 00:38:43.
[EAA-142D-F05] Bản tô màu Sự tiến hoá của một Thái dương Thượng đế được MDR trình chiếu. — video 00:38:43.
It seems to me that this Life is our local One About Whom Naught May Be Said. There is a chart, there it is.
Theo tôi, Sự Sống này là Đấng Bất Khả Tư Nghị trong khu vực của chúng ta. Có một biểu đồ, đây rồi.
This Being emerges from cosmic planes and uses the zodiacal constellations as instruments, and according to my calculation, this Being is not the highest triangle but a little green triangle here. Thanks, Keith, for making it green, little green triangle out of which the Great Bear and many other constellations come as chakras, but emerges from cosmic planes.
Sinh Mệnh này xuất phát từ các cõi vũ trụ và sử dụng các chòm sao hoàng đạo làm công cụ. Theo tính toán của tôi, Sinh Mệnh này không phải là tam giác cao nhất mà là tam giác nhỏ màu xanh lá cây ở đây. Cảm ơn Keith đã tô nó màu xanh lá cây, tam giác nhỏ màu xanh lá cây mà từ đó Đại Hùng và nhiều chòm sao khác xuất hiện như những luân xa; nhưng Sinh Mệnh này xuất phát từ các cõi vũ trụ.
I've worked long and hard on this. I could be mistaken, but according to scope, if the seven Rishis of the Great Bear are as a chakra in a triangle, they come out of a triangle, then what is the Life of that triangle? Even though it looks small, it contains the great chakras of which the Rishis of the Great Bear are one, being the seven head centres within the One About Whom Naught May Be Said. Why they are on the buddhic plane is a mystery to me.
Tôi đã dành nhiều thời gian và công sức nghiên cứu điều này. Tôi có thể nhầm, nhưng xét về quy mô, nếu bảy vị Hiền Triết của Đại Hùng giống như một luân xa trong một tam giác, nếu Các Ngài xuất phát từ một tam giác, thì Sự Sống của tam giác ấy là gì? Dù trông nhỏ bé, nó chứa những luân xa vĩ đại, trong đó các vị Hiền Triết của Đại Hùng là một luân xa, hợp thành bảy trung tâm đầu bên trong Đấng Bất Khả Tư Nghị. Vì sao Các Ngài ở trên cõi Bồ đề là một điều bí ẩn đối với tôi.
They look to me as if they belong on the atmic plane, but sometimes I think that any chakra which has made itself to one plane has had to be a vortex which also appears in some manner on a higher plane. Because vortices come from the Monadic plane, what this would mean is if we have vortices—thirty-five vortices of fire make a Master—if we have vortices on the buddhic plane, since the vortices began on the Monadic plane, they would have to also appear on the atmic plane on their way to the buddhic plane, and below and below they would make their way.
Theo tôi, dường như Các Ngài thuộc về cõi atma, nhưng đôi khi tôi nghĩ rằng bất kỳ luân xa nào đã hiện diện trên một cõi đều phải là một xoáy lực cũng xuất hiện theo cách nào đó trên một cõi cao hơn. Vì các xoáy lực xuất phát từ cõi chân thần, điều này có nghĩa là nếu chúng ta có các xoáy lực—ba mươi lăm xoáy lửa tạo thành một Chân sư—nếu chúng ta có các xoáy lực trên cõi Bồ đề, thì vì các xoáy lực bắt đầu trên cõi chân thần, chúng cũng phải xuất hiện trên cõi atma trong quá trình đi tới cõi Bồ đề, rồi tiếp tục đi xuống những cõi thấp hơn nữa.
We're getting there.
Chúng ta đang dần đi tới đó.
[19] 1. The conditioning will is the synthesis of the life of the cosmic physical plane
[19] 1. Ý chí định hình là sự tổng hợp sự sống của cõi hồng trần vũ trụ,
Of which our seven planes are seven what kind of planes? Systemic planes,
Trong đó, bảy cõi của chúng ta là bảy cõi thuộc loại nào? Các cõi hệ mặt trời,
[20] of which our seven planes are the seven subplanes. Until, therefore, the human consciousness is far more expanded than it is, it is not possible for man to understand this synthetic realisation.
[20] mà bảy cõi của chúng ta là bảy cõi phụ của cõi ấy. Do đó, cho đến khi tâm thức con người mở rộng hơn hiện nay rất nhiều, con người vẫn chưa thể thấu hiểu sự chứng nghiệm tổng hợp này.
But this is the will that conditions life in manifestation, right? Something like that, the will which conditions life in manifestation, conditioning the few great creative streams which work out in manifestation on the cosmic physical plane. What he's basically done here, if we find that we are going to relate the conditioning will as the synthesis of life of the cosmic plane, and we find that it's going to relate to Aries, then we're going to find that the synthesis of life upon the cosmic plane will relate to Aries. Life will relate to Aries.
Nhưng đây là ý chí định hình sự sống trong biểu hiện, đúng không? Đại khái như vậy, ý chí định hình sự sống trong biểu hiện, định hình một số ít những dòng sáng tạo lớn triển khai trong biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ. Về cơ bản, điều Ngài đã làm ở đây là: nếu chúng ta liên hệ ý chí định hình với sự tổng hợp sự sống của cõi vũ trụ, và thấy rằng ý chí ấy liên hệ với Bạch Dương, thì chúng ta sẽ thấy sự tổng hợp sự sống trên cõi vũ trụ có mối liên hệ với Bạch Dương. Sự sống sẽ liên hệ với Bạch Dương.
Let's see if it does. Our seven systemic planes are the seven subplanes of the cosmic plane. Seventh degree initiates are looking for consciousness upon the logoic plane, so you kind of wonder whether we can understand what's really being said here.
Hãy xem có đúng như vậy không. Bảy cõi hệ mặt trời của chúng ta là bảy cõi phụ của cõi vũ trụ. Các điểm đạo đồ bậc bảy đang tìm kiếm tâm thức trên cõi Thượng đế, nên chúng ta có phần tự hỏi liệu mình có thể thấu hiểu điều thực sự đang được nói tới ở đây hay không.
If the plane of resurrection is an Aries plane, it sets the tone for all of the seven cosmic subplanes here on the cosmic physical plane. So Aries and the seventh degree are united and the resurrection there until we become that have that kind of expanded consciousness. Can we even understand what he's talking about here? A little while ago, we talked about talking about states of consciousness towards which the Christ himself is striving.
Nếu cõi phục sinh là một cõi thuộc Bạch Dương, thì nó định ra âm điệu cho cả bảy cõi phụ vũ trụ ở đây, trên cõi hồng trần vũ trụ. Như vậy, Bạch Dương và bậc bảy hợp nhất, cùng với sự phục sinh ở đó, cho đến khi chúng ta trở thành điều ấy, có được loại tâm thức mở rộng ấy. Liệu chúng ta có thể thấu hiểu điều Ngài đang nói ở đây không? Cách đây ít lâu, chúng ta đã nói về những trạng thái tâm thức mà chính Đức Christ đang nỗ lực vươn tới.
It is amazing that the Tibetan gives us such a big picture, certainly beyond his own capacity to achieve. He's talking about planes that lie beyond planes to which he himself can venture, but he has the mind to do it.
Thật đáng kinh ngạc khi Chân sư Tây Tạng cho chúng ta một bức tranh rộng lớn đến vậy, chắc chắn vượt ngoài khả năng thành tựu của chính Ngài. Ngài đang nói về những cõi nằm vượt trên các cõi mà chính Ngài có thể đặt chân tới, nhưng Ngài có trí tuệ để làm điều đó.
[21] 2. The will which brings fulfilment is the divine incentive (impulse is not the correct term)
[21] 2. Ý chí mang lại thành tựu viên mãn là động cơ thúc đẩy thiêng liêng (595) (xung động không phải là thuật ngữ chính xác)
Because impulse suggests lack of control. Impulse suggests lack of control, but not incentive. There is a decision in moving towards that which is for one an incentive.
Vì xung lực gợi ý sự thiếu kiểm soát. Xung lực gợi ý sự thiếu kiểm soát, còn động cơ thì không. Có một quyết định trong việc tiến tới điều mà đối với một người là động cơ.
The will which brings fulfilment is the divine incentive
Ý chí mang lại sự thành tựu là động cơ thiêng liêng
I just want to ponder on the word ‘incentive.’ Why are you doing something? It's the why.
Tôi chỉ muốn suy ngẫm về từ “động cơ”. Tại sao các bạn làm một việc gì đó? Đó chính là lý do tại sao.
Incentive is the why which lies at the root of action deliberately undertaken. What is my incentive? What is my reward? What is the reason? What is my objective? What is my vision to be fulfilled? What do I see ahead? See ahead as some type of achievement or acquisition. That's the incentive.
Động cơ là lý do nằm ở gốc rễ của hành động được chủ ý thực hiện. Động cơ của tôi là gì? Phần thưởng của tôi là gì? Lý do là gì? Mục tiêu của tôi là gì? Tầm nhìn nào của tôi cần được hiện thực hoá? Tôi thấy điều gì ở phía trước? Thấy phía trước một dạng thành tựu hay một điều gì đó sẽ đạt được. Đó là động cơ.
That which brings fulfilment is the divine, the will which brings fulfilment is the Divine Incentive. It is also that which prods me towards the acquisition or realization of that which is to be—let me put it simply, the acquisition of that which is visioned as worth acquiring.
Điều mang lại sự thành tựu là điều thiêng liêng, ý chí mang lại sự thành tựu là Động Cơ Thiêng Liêng. Nó cũng là điều thúc giục tôi tiến tới việc đạt được hay chứng nghiệm điều sẽ hiện hữu—để tôi nói đơn giản hơn, đạt được điều mà trong tầm nhìn ta thấy là đáng đạt được.
It's the force, the prodding force which impels towards the, a desirable vision and its attainment. So incentive maybe is a, it's difficult to know here because incentives is, you say, what's my incentive? Well, it is that which I see. It's a vision.
Đó là mãnh lực, mãnh lực thúc giục hướng tới một tầm nhìn đáng mong muốn và việc thành tựu tầm nhìn ấy. Vậy có lẽ động cơ là… ở đây khó biết được, vì khi nói về động cơ, người ta hỏi: “Động cơ của tôi là gì?” Đó là điều tôi nhìn thấy. Đó là một tầm nhìn.
But then we sometimes say the incentive behind my action, the reason behind my action, and then we think of it as an impelling force. So in my view, the way this word is used, the incentive can push and the incentive can pull, attract, push or impel and can attract. But it is a great energy.
Nhưng rồi đôi khi chúng ta nói đến động cơ đằng sau hành động của mình, lý do đằng sau hành động của mình, và khi ấy chúng ta nghĩ về nó như một mãnh lực thúc đẩy. Vì thế, theo tôi, với cách dùng từ này, động cơ có thể đẩy và động cơ có thể kéo, thu hút, đẩy hay thúc đẩy, và có thể thu hút. Nhưng nó là một năng lượng lớn lao.
The will which brings fulfilment is the divine incentive
Ý chí mang lại sự thành tựu là động cơ thiêng liêng
[22] coming from the cosmic astral plane.
[22] đến từ cõi cảm dục vũ trụ.
What does this say to us? Leo will be connected with the cosmic astral plane.
Điều này cho chúng ta biết gì? Sư Tử sẽ liên hệ với cõi cảm dục vũ trụ.