← EAA – Chapter VII Phần 1

Tiếp nhận ý chí qua thỉnh nguyện và đáp ứng — Commentary EAA 143a

Tóm lược chương

Năm bước truyền, tiếp nhận, hấp thụ, liên hệ và hoạt động sống động có thể được đọc trên hình chày kim cương ở trang 610. Thầy MDR đề xuất cách đọc này để theo dõi đường đi của ý chí, từ năng lượng được thỉnh nguyện cho đến sự đáp ứng làm chuyển biến đời sống. Việc biết các loại Cung giữ vai trò gì trong toàn thể cũng có thể chuyển đối kháng giữa các nhóm thành hợp tác. Trên đường hướng Cung Một, thiên cơ dẫn về thiên ý và ý chí. Nếu đời sống hiện hữu cả ở đây lẫn nơi ta quen xem là cõi bên kia, sự chết có thể được hiểu như sự mất khả năng tiếp xúc trong một vận cụ nhất định. Linh từ khẳng định của Chân sư Morya được liên hệ với việc phá bỏ…


Commentary EAA 143a

Tóm Tắt

§ Tiếp nhận ý chí qua thỉnh nguyện và đáp ứng

Năm bước truyền, tiếp nhận, hấp thụ, liên hệ và hoạt động sống động có thể được đọc trên hình chày kim cương ở trang 610. Thầy MDR đề xuất cách đọc này để theo dõi đường đi của ý chí, từ năng lượng được thỉnh nguyện cho đến sự đáp ứng làm chuyển biến đời sống. Việc biết các loại Cung giữ vai trò gì trong toàn thể cũng có thể chuyển đối kháng giữa các nhóm thành hợp tác.

§ Cung Một và cái chết của sự phủ định

Trên đường hướng Cung Một, thiên cơ dẫn về thiên ý và ý chí. Nếu đời sống hiện hữu cả ở đây lẫn nơi ta quen xem là cõi bên kia, sự chết có thể được hiểu như sự mất khả năng tiếp xúc trong một vận cụ nhất định. Linh từ khẳng định của Chân sư Morya được liên hệ với việc phá bỏ sự phủ định ấy và mở đường cho sự thành tựu của Cung Hai.

§ Sự thành tựu và nguyên mẫu

Ý chí đem cái ở dưới vào tương ứng với nguyên mẫu vốn đã có trong thế giới Hiện Hữu. Hình ảnh một sóng dừng của thiên ý giúp phân biệt khuôn mẫu bền vững với các giai đoạn thực hiện trong thời gian. Nỗ lực nhận biết nguyên mẫu vì thế khác với việc cố kéo dài một hình thức đã hoàn tất nhiệm vụ.

§ Bảy cách biểu lộ lực và tác động

Bảng trong Vận Mệnh Các Quốc Gia giúp đọc các Cung qua lực, năng lượng, hành động và kiểu người được tạo thành. Giáo dục biểu lộ ý chí tiến hóa, còn cái đẹp có thể phá giới hạn vốn ngăn sự sống biểu hiện. Việc liên hệ các hoạt động này với từng Cung giúp nhận ra động lực phía sau hình thức hoạt động.

§ Hài hòa, trực giác và sự giải thoát

Ở Cung Bốn, việc luyện khả năng lắng nghe trong chữa trị làm rõ quan hệ giữa hài hòa và trực giác. Một hình thể hài hòa có thể được duy trì như khí cụ, nhưng đối với tinh thần đang tiến tới, trạng thái cân bằng cũng có thể trở thành tĩnh tại. Một khe mở do hài hòa tạo ra có thể cho sự sống thoát khỏi hình thức và nhận thêm năng lượng để tiến bước.

Text EAA 143A — Esoteric Astrology – Văn bản EAA 143A — Chiêm Tinh Học Nội Môn

[1] In considering this process, I would have you study Tabulation X, for it is a symbolic form, embodying what I seek to convey. [2] I would point out that the will aspect—as it is embodied in the rays and transmitted by the constellations—works out destructively when concentrated through an orthodox planet and constructively when concentrated through an esoteric planet. [3] Here you have the secret guide to the significance of death and immortality. [4] This is something which the average astrologer will be unable to prove because the cycles involved are too long; [5] intuitively he can however grasp the probability of my proposition. [6] May I again remind you that our theme is the divine plan, purpose and will; [7] it is not the evolution of consciousness, or of the second aspect of divinity. It concerns spirit and not soul. [8] We are attempting in some measure to formulate the life of the Father, the will of the Monad and the purpose of Spirit. [9] In all these (the three aspects of the will) lies germinating the seed of the next solar system, [10] the third, and the fruition of the Personality Manifestation of the Logos. [11] We need, therefore, to formulate the interpretation of the seven rays in terms of will and not of love or consciousness. This we will now attempt to do.

[1] Khi xem xét tiến trình này, Tôi muốn các bạn nghiên cứu Bảng X, vì đó là một hình thức biểu tượng, hàm chứa điều Tôi tìm cách truyền đạt. [2] Tôi muốn chỉ ra rằng phương diện ý chí—như nó hiện thân trong các cung và được các chòm sao truyền dẫn—tác động theo hướng hủy diệt khi tập trung qua một hành tinh chính thống, và theo hướng kiến tạo khi tập trung qua một hành tinh nội môn. [3] Ở đây, các bạn có sự chỉ dẫn bí mật để thấu hiểu thâm nghĩa của cái chết và sự bất tử. [4] Đây là điều mà nhà chiêm tinh thông thường sẽ không thể chứng minh, vì các chu kỳ liên quan quá dài; [5] tuy nhiên, bằng trực giác, y có thể nắm bắt tính khả dĩ của luận điểm Tôi nêu ra. [6] Tôi xin nhắc lại với các bạn rằng chủ đề của chúng ta là Thiên Cơ, mục đích và ý chí thiêng liêng; [7] chủ đề ấy không phải là sự tiến hoá của tâm thức, hay của phương diện thứ hai của thiên tính. Nó liên quan đến tinh thần chứ không phải linh hồn. [8] Trong một chừng mực nào đó, chúng ta đang cố gắng diễn đạt thành khái niệm sự sống của Chúa Cha, ý chí của Chân Thần và mục đích của Tinh Thần. [9] Chính trong tất cả những điều này (ba phương diện của ý chí), hạt giống của hệ mặt trời kế tiếp đang nảy mầm, [10] tức hệ mặt trời thứ ba, cùng sự thành tựu viên mãn của Biểu Hiện Phàm Ngã của Thượng đế. [11] Do đó, chúng ta cần xây dựng cách diễn giải bảy cung theo ý chí, chứ không theo bác ái hay tâm thức. Giờ đây, chúng ta sẽ cố gắng thực hiện điều này.

[12] RAY I.—The energy of Will or Power. This ray is outstandingly related to that aspect of will which conquers death. [13] It is nevertheless the Ray of the Destroyer. [14] In this connection, I would remind you that the human attitude that death is the destroyer presents a limited and erroneous point of view. [15] The first ray destroys death because in reality there is no such thing; [16] the concept is all part of the Great Illusion, is a limitation of the human consciousness, and is basically connected with the brain and not with the heart, strange as that may seem to you. [17] It is in a very true sense “a figment of the imagination.” Ponder on this. [18] The abolition of death and of the destruction of form is a manifestation of Ray I, [19] for it brings about in reality the death of negation [20] and the inauguration of true activity. [21] It is the energy which can be called “divine incentive”; [22] it is the life in the seed which destroys successively all forms in order that realised fruition may eventuate. [23] That is the clue to Ray I. It is the Will which initiates.

[12] CUNG I.—Năng lượng của Ý Chí hay Quyền Năng. Cung này có mối liên hệ đặc biệt nổi bật với phương diện ý chí chinh phục cái chết. [13] Tuy nhiên, đây vẫn là Cung của Đấng Hủy Diệt. [14] Về điều này, Tôi muốn nhắc các bạn rằng quan niệm của con người xem cái chết là kẻ hủy diệt thể hiện một góc nhìn hạn hẹp và sai lầm. [15] Cung một hủy diệt cái chết vì trên thực tế không hề có điều như vậy; [16] khái niệm ấy hoàn toàn là một phần của Đại Ảo Tưởng, là một giới hạn của tâm thức con người, và về căn bản gắn liền với bộ não chứ không phải trái tim, dù điều này có vẻ lạ lùng đối với các bạn. [17] Theo một nghĩa rất xác thực, đó là “một sản phẩm hư cấu của sự tưởng tượng.” Hãy suy ngẫm về điều này. [18] Việc xóa bỏ cái chết và sự hủy diệt hình tướng là một biểu hiện của Cung I, [19] vì trên thực tế, cung này đem lại cái chết của sự phủ định [20] và mở đầu hoạt động chân thực. [21] Đó là năng lượng có thể gọi là “động lực thiêng liêng”; [22] đó là sự sống trong hạt giống, lần lượt hủy diệt mọi hình tướng để sự kết trái viên mãn có thể thành hiện thực. [23] Đó là manh mối để thấu hiểu Cung I. Đó là Ý Chí khởi xướng.

[24] Today, as regards humanity, its highest realisation is initiation.

[24] Ngày nay, đối với nhân loại, sự chứng nghiệm cao nhất của năng lượng ấy là điểm đạo.

[25] RAY II.—The energy of Love-Wisdom. [26] This basic energy is the will to unify, to synthesise, [27] to produce coherence and mutual attraction and to establish relationships, but—remember this—relationships which are entirely apart from the consciousness of relation or the realisation of unity. [28] It is the fact of unification as seen from the beginning [29] and as existing ever and forever in the Mind of God Whose will embraces past, present and future and Whose mind does not think in terms of evolution or of process. [30] The process is inherent in the seed; the evolutionary urge is the inevitable accompaniment of life in manifestation. [31] It is the Will to unification.

[25] CUNG II.—Năng lượng của Bác Ái – Minh Triết. [26] Năng lượng căn bản này là ý chí hợp nhất, tổng hợp, [27] tạo nên sự cố kết và thu hút lẫn nhau, cùng thiết lập các mối liên hệ, nhưng—hãy nhớ điều này—đó là những mối liên hệ hoàn toàn tách biệt với tâm thức về sự liên hệ hay sự nhận biết tính hợp nhất. [28] Đó là thực tại hợp nhất, như được nhìn nhận ngay từ khởi đầu [29] và như vẫn luôn tồn tại mãi mãi trong Trí của Thượng đế, Đấng có ý chí bao hàm quá khứ, hiện tại và tương lai, và có trí tuệ không tư duy theo tiến hoá hay tiến trình. [30] Tiến trình vốn có sẵn trong hạt giống; thôi thúc tiến hoá là điều tất yếu đi kèm sự sống đang biểu hiện. [31] Đó là Ý Chí hướng đến hợp nhất.

[32] Today, as regards humanity, its highest expression is the mystical vision.

[32] Ngày nay, đối với nhân loại, biểu hiện cao nhất của năng lượng ấy là linh ảnh thần bí.

[33] RAY III.—The energy of Active Intelligence. [34] This is the will of conditioned purpose. [35] The factors which are working out through its medium are the forceful carrying forward of the recognised plan [36] with a goal intelligently conceived and an active incentive which carries the process intelligently forward on the strength of its own momentum. [37] Again I would remind you that I am dealing not [38] with human consciousness but with the sum total of that undertaking which makes matter subservient to and adaptable to the basic idea in the mind of God. [39] And no human being is as yet able to conceive of that idea. [40] No one knows what is the will of God or what is the nature of His intelligent purpose. [41] It is the Will to evolution.

[33] CUNG III.—Năng lượng của Trí Tuệ Hoạt Động. [34] Đây là ý chí của mục đích đã được định hình. [35] Các yếu tố đang triển khai qua trung gian của năng lượng này là việc xúc tiến mạnh mẽ Thiên Cơ đã được nhận biết [36] với một mục tiêu được quan niệm một cách thông minh và một động lực tích cực, nhờ chính đà thúc đẩy của mình mà đưa tiến trình tiến tới một cách thông minh. [37] Một lần nữa, Tôi xin nhắc các bạn rằng Tôi không bàn đến [38] tâm thức con người, mà bàn đến toàn bộ công cuộc khiến vật chất phục tùng và thích ứng với ý tưởng căn bản trong Trí của Thượng đế. [39] Và cho đến nay, chưa một con người nào có khả năng quan niệm được ý tưởng ấy. [40] Không ai biết Ý Chí của Thượng Đế là gì, hay bản chất mục đích thông tuệ của Ngài là gì. [41] Đó là Ý Chí hướng đến tiến hoá.

[42] Today, as regards humanity, its highest expression is education, or progressive development through experience.

[42] Ngày nay, đối với nhân loại, biểu hiện cao nhất của năng lượng ấy là giáo dục, hay sự phát triển từng bước qua kinh nghiệm.

[43] RAY IV.—The energy of Harmony through Conflict. [44] This is fundamentally the will to destroy limitation. [45] This is not the same thing as the will to destroy negation as in the case of Ray I, [46] but is an allied aspect of that. [47] I am not referring to the consciousness aspect which recognises and profits by such struggle. [48] I am referring to the energy, inherent in all forms and peculiarly strong in humanity (because man is self-conscious), [49] which produces inevitably and unavoidably the struggle between life and that which it has chosen as a limitation; this eventually shatters or breaks up [50] that limitation the moment that a point of real harmony or at-one-ment has been reached. [51] Esoterically it might be said that the moment that form (limitation) and life balance each other a rift immediately appears and through it flows a fresh outpouring of the will. [52] Christ had to die because He had achieved harmony with the will of God and then “the veil of the Temple was rent in twain from the top to the bottom.” [53] The significance of this fresh inflow of the Will will now appear; the stage is set anew for a fresh and renewed activity of the living principle. [54] As far as humanity is concerned the “seeds of death” emerge through the medium of this Ray [55] and the Grim Reaper, Death, is but an aspect of this will, conditioned by the fourth ray and emerging from the fourth plane. [56] Death is an act of the intuition, transmitted by the soul to the personality and then acted upon in conformity to the divine will by the individual will. This is the Will to harmonisation.

[43] CUNG IV.—Năng lượng của Hài Hòa qua Xung Đột. [44] Về căn bản, đây là ý chí hủy diệt giới hạn. [45] Điều này không giống với ý chí hủy diệt sự phủ định như trong trường hợp Cung I, [46] nhưng là một phương diện liên hệ mật thiết với ý chí ấy. [47] Tôi không đề cập đến phương diện tâm thức vốn nhận biết và hưởng lợi từ cuộc đấu tranh như thế. [48] Tôi đang đề cập đến năng lượng vốn có trong mọi hình tướng và đặc biệt mạnh mẽ trong nhân loại (vì con người có ngã thức), [49] năng lượng này tất yếu và không thể tránh khỏi sẽ tạo ra cuộc đấu tranh giữa sự sống và điều mà sự sống đã chọn làm giới hạn cho mình; cuối cùng, cuộc đấu tranh ấy làm tan vỡ hay phá tan [50] giới hạn đó ngay khi đạt đến một điểm hài hòa hay hợp nhất thực sự. [51] Xét một cách huyền bí, có thể nói rằng ngay khi hình tướng (giới hạn) và sự sống cân bằng với nhau, một khe nứt lập tức xuất hiện, và qua đó tuôn chảy một lần tuôn đổ mới của ý chí. [52] Đức Christ đã phải chết vì Ngài đã đạt đến sự hài hòa với Ý Chí của Thượng Đế, và rồi “bức màn của Đền Thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới.” [53] Giờ đây, thâm nghĩa của dòng Ý Chí mới tuôn vào này sẽ hiện rõ; bối cảnh lại được chuẩn bị cho một hoạt động mới mẻ và đổi mới của nguyên khí sống động. [54] Đối với nhân loại, những “hạt giống của cái chết” xuất hiện qua trung gian của Cung này [55] và Tử Thần mang lưỡi hái, tức Cái Chết, chỉ là một phương diện của ý chí này, chịu tác động định hình của cung bốn và xuất hiện từ cõi thứ tư. [56] Cái chết là một hành vi của trực giác, được linh hồn truyền đến phàm ngã, rồi ý chí cá nhân thực hiện hành vi ấy phù hợp với ý chí thiêng liêng. Đây là Ý Chí hướng đến hài hòa.

[57] Today, its highest expression as regards humanity is the intuition, [58] as it works out through group activity. Death always releases the individual into the group.

[57] Ngày nay, đối với nhân loại, biểu hiện cao nhất của năng lượng ấy là trực giác, [58] khi trực giác thể hiện qua hoạt động nhóm. Cái chết luôn giải phóng cá nhân để hòa vào nhóm.

Esoteric Astrology Adventure 143A — The Will Aspect of Rays One to Four – Hành trình Khám phá Chiêm Tinh Học Nội Môn 143A — Phương diện Ý chí của các Cung Một đến Bốn

Hello friends. Here we are at Esoteric Astrology Adventure number 143a, page 596. Excuse me, I've been talking quite a bit today here.

Xin chào các bạn. Chúng ta đang đến với Chiêm Tinh Học Nội Môn, Hành trình Khám phá số 143a, trang 596. Xin thứ lỗi, hôm nay tôi đã nói khá nhiều ở đây.

DK summarizes this process, this process of receiving the will, and I've wondered whether it can be related to five stages which can be placed on the dorje, on page 610, Transmission. Reception. Absorption. Relation and Living Activity.

Chân sư DK tóm lược tiến trình này, tiến trình tiếp nhận ý chí, và tôi đã tự hỏi liệu có thể liên hệ tiến trình ấy với năm giai đoạn có thể được đặt trên chày kim cang, ở trang 610 hay không, Truyền dẫn. Tiếp nhận. Hấp thụ. Liên hệ và Hoạt động Sống động.

And this I have discussed in the last last part of the last program. But it all boils down to the idea that you have tremendous mysteries here.

Tôi đã bàn về điều này trong phần cuối của chương trình trước. Nhưng tất cả đều quy về ý tưởng rằng ở đây có những huyền nhiệm vô cùng lớn lao.

The method is one of Invocation and Evocation.

Phương pháp này là Khẩn Cầu và Gợi Lên.

The method of accessing the will. And there is one of the most important clues to the evolutionary process through invocation and response of evocation.

Phương pháp tiếp cận ý chí. Và đó là một trong những manh mối quan trọng nhất để thấu hiểu tiến trình tiến hoá thông qua sự khẩn cầu và sự đáp ứng của việc gợi lên.

If we look at it, we realize that on the moon chain and in an earlier system animal man aspired. There was no intervention of the solar angels and so it was that there was an evocation of the highest aspect of his nature. And a causal body was formed and the union of spirit and matter proceeded.

Nếu xem xét điều này, chúng ta nhận ra rằng trên Dãy Mặt Trăng và trong một hệ thống trước đó, người thú đã có khát vọng vươn lên. Không có sự can thiệp của các Thái dương Thiên Thần, và do đó phương diện cao nhất trong bản chất của y đã được gợi lên. Một thể nguyên nhân đã hình thành, và sự hợp nhất giữa tinh thần và vật chất tiếp diễn.

There's the key to the mystery of time and space,

Đó là chìa khóa dẫn vào huyền nhiệm của thời gian và không gian,

That is mystifying. I've thought much about the mystery of time and space but very little in concern concerning this dorje diagram.

Điều đó thật khó hiểu. Tôi đã suy nghĩ nhiều về huyền nhiệm của thời gian và không gian, nhưng rất ít về sơ đồ chùy kim cương này.

The dorje diagram is this one or let's say this one. And we have reviewed some of the possible modes of transmission here involving greater sources than simply one star of the Great Bear. And the key, the solution to all problems, and I discussed that in terms of the ring-pass-not in which we live.

Sơ đồ chùy kim cương là hình này, hoặc hình này. Và chúng ta đã xem xét một số phương thức truyền dẫn khả dĩ ở đây, liên quan đến những nguồn lớn hơn chỉ một ngôi sao của chòm Đại Hùng. Còn chìa khóa, giải pháp cho mọi vấn đề, tôi đã bàn đến trong mối liên hệ với vòng-giới-hạn mà chúng ta đang sống bên trong.

And how the problems of that ring-pass-not may indeed be addressed by understanding the energies that are available to the ring-pass-not and how they what sources they come from and how they reach the point of focus on which we are living and where our problems are found. But as DK tells us the factor which is of major importance is that the whole matter is an expression of focussed Will.

Và cách chúng ta thực sự có thể giải quyết các vấn đề của vòng-giới-hạn ấy bằng cách thấu hiểu những năng lượng sẵn có cho vòng-giới-hạn, chúng đến từ những nguồn nào, và chúng đến điểm hội tụ nơi chúng ta đang sống và nơi các vấn đề của chúng ta tồn tại như thế nào. Nhưng như Chân sư DK cho chúng ta biết, yếu tố có tầm quan trọng chủ yếu là toàn bộ vấn đề này là một biểu hiện của Ý Chí tập trung.

And that's precisely what this section of the book is dealing with.

Và đó chính là điều mà phần này của cuốn sách đang đề cập.

[1] In considering this process, I would have you study Tabulation X, for it is a symbolic form, embodying what I seek to convey.

[1] Khi xem xét tiến trình này, Tôi muốn các bạn nghiên cứu Bảng X, vì đó là một hình thức biểu tượng, hàm chứa điều Tôi tìm cách truyền đạt.

And we have been doing that quite a bit have we not.

Và chúng ta đã làm điều đó khá nhiều, phải không?

I would have you study Tabulation X,

Tôi muốn các bạn nghiên cứu Bảng X,

We'll put it right there.

Chúng ta sẽ đặt nó ngay ở đó.

for it is a symbolic form, embodying what I seek to convey.

vì đó là một hình tướng biểu tượng, thể hiện điều Tôi tìm cách truyền đạt.

And what I've done with Tabulation X is I've talked about some different ways of viewing this tabulation different ways of understanding it with greater sources conveying the rays than simply one star of the Great Bear. As I say, until I'm corrected, it kind of offends my sense of proportion.

Với Bảng X, tôi đã bàn về một số cách nhìn khác nhau đối với bảng này, những cách thấu hiểu khác nhau về nó, trong đó những nguồn lớn hơn truyền dẫn các cung, chứ không chỉ một ngôi sao của chòm Đại Hùng. Như tôi đã nói, cho đến khi có người chỉnh lại cách hiểu của tôi, điều đó vẫn phần nào trái với ý thức về tỉ lệ của tôi.

Cung

Các chòm sao

Các hành tinh chính thống

Các hành tinh nội môn

Ray

Constellations

Planets Orthodox

Planets Esoteric

I.

Ý Chí hay Quyền Năng

Bạch Dương.

Cừu đực....

Sao Hỏa.....

Sao Thủy

Will or Power

Aries.

The Ram....

Mars.....

Mercury

Sư Tử.

Sư tử....

Mặt Trời..

Mặt Trời

Leo.

The Lion....

The Sun..

The Sun

Ma Kết.

Dê....

Sao Thổ....

Sao Thổ

Capricorn.

The Goat....

Saturn....

Saturn

II.

Bác Ái – Minh Triết

Song Tử.

Cặp song sinh...

Sao Thủy..

Sao Kim

II.

Love-Wisdom

Gemini.

The Twins...

Mercury..

Venus

Xử Nữ.

Trinh nữ...

Sao Thủy..

Mặt Trăng

Virgo.

The Virgin...

Mercury..

The Moon

Song Ngư.

Những con cá...

Sao Mộc....

Sao Diêm Vương

Pisces.

The Fishes...

Jupiter....

Pluto

III.

Trí Tuệ Hoạt Động

Cự Giải.

Cua....

Mặt Trăng.

Sao Hải Vương

III.

Active Intelligence

Cancer.

The Crab....

The Moon.

Neptune

Thiên Bình.

Cái cân...

Sao Kim....

Sao Thiên Vương

Libra.

The Scales...

Venus....

Uranus

Ma Kết.

Dê....

Sao Thổ....

Sao Thổ

Capricorn.

The Goat....

Saturn....

Saturn

IV.

Hài Hòa thông qua

Kim Ngưu.

Bò đực....

Sao Kim....

Vulcan

IV.

Harmony through

Taurus.

The Bull....

Venus....

Vulcan

Xung Đột

Hổ Cáp.

Bọ cạp.

Sao Hỏa.....

Sao Hỏa

Conflict

Scorpio.

The Scorpion.

Mars.....

Mars

Nhân Mã.

Cung thủ...

Sao Mộc....

Trái Đất

Sagittarius.

The Archer...

Jupiter....

The Earth

V.

Khoa Học Cụ Thể

Sư Tử.

Sư tử....

Mặt Trời..

Mặt Trời

Concrete Science

Leo.

The Lion....

The Sun..

The Sun

Nhân Mã.

Cung thủ...

Sao Mộc....

Trái Đất

Sagittarius.

The Archer...

Jupiter....

The Earth

Bảo Bình.

Người mang

Aquarius.

The Water

nước......

Sao Thiên Vương...

Sao Mộc

Carrier......

Uranus...

Jupiter

VI.

Sùng Tín. Chủ Nghĩa Lý Tưởng

Xử Nữ.

Trinh nữ...

Sao Thủy..

Mặt Trăng

VI.

Devotion. Idealism

Virgo.

The Virgin...

Mercury..

The Moon

Nhân Mã.

Cung thủ...

Sao Mộc....

Trái Đất

Sagittarius.

The Archer...

Jupiter....

The Earth

Song Ngư.

Những con cá...

Sao Mộc....

Sao Diêm Vương

Pisces.

The Fishes...

Jupiter....

Pluto

VII.

Trật Tự Nghi Lễ

Bạch Dương.

Cừu đực....

Sao Hỏa.....

Sao Thủy

VII.

Ceremonial Order

Aries.

The Ram....

Mars.....

Mercury

Cự Giải.

Cua....

Mặt Trăng.

Sao Hải Vương

Cancer.

The Crab....

The Moon.

Neptune

Ma Kết.

Dê....

Sao Thổ....

Sao Thổ

Capricorn.

The Goat....

Saturn....

Saturn

Whenever I see a diagram in which the tail is wagging the dog in which a lesser power is somehow controlling a greater power. I worry about it a bit and I try to find another solution.

Mỗi khi thấy một sơ đồ trong đó cái đuôi lại vẫy con chó, nghĩa là một quyền năng nhỏ hơn bằng cách nào đó lại kiểm soát một quyền năng lớn hơn, tôi hơi băn khoăn và cố tìm một giải pháp khác.

[2] I would point out that the will aspect—as it is embodied in the rays and transmitted by the constellations—works out destructively when concentrated through an orthodox planet and constructively when concentrated through an esoteric planet.

[2] Tôi muốn chỉ ra rằng phương diện ý chí—như nó hiện thân trong các cung và được các chòm sao truyền dẫn—tác động theo hướng hủy diệt khi tập trung qua một hành tinh chính thống, và theo hướng kiến tạo khi tập trung qua một hành tinh nội môn.

I guess the orthodox planets tend to feed the elemental nature which rebels against the inner soul directive. So this is an interesting idea. All the rays we're told that the rays on the lower turn of the spiral they hate and kill each other.

Tôi đoán các hành tinh ngoại môn có khuynh hướng nuôi dưỡng bản chất hành khí vốn chống lại sự chỉ đạo của linh hồn bên trong. Vì vậy, đây là một ý tưởng thú vị. Chúng ta được cho biết rằng tất cả các cung, ở vòng xoắn ốc thấp, đều căm ghét và sát hại lẫn nhau.

You know and we see the antagonism of the ray types until they really understand each other which takes yet a while. You think about Christianity's attack upon the ray 5 group and the ray 7 group simultaneously and there's even attacks by the sixth ray upon the second ray group. But when greater understanding arises about the place which each one of them is to play in the scheme of things then there will be cooperation rather than this instinctive antagonism.

Và chúng ta thấy sự đối kháng giữa những người thuộc các cung khác nhau, cho đến khi họ thực sự thấu hiểu nhau, mà điều đó còn cần khá nhiều thời gian. Hãy nghĩ đến việc Kitô giáo đồng thời công kích nhóm cung năm và nhóm cung bảy; thậm chí còn có những cuộc công kích của cung sáu nhằm vào nhóm cung hai. Nhưng khi có sự thấu hiểu sâu sắc hơn về vai trò mà mỗi nhóm phải đảm nhận trong trật tự chung, thì sẽ có sự hợp tác thay cho sự đối kháng mang tính bản năng này.

So this is something to consider. The ray energies as transmitted by the constellations works out destructively when concentrated through an orthodox planet and constructively when concentrated through an esoteric planet.

Vì vậy, đây là điều cần suy xét. Những năng lượng cung do các chòm sao truyền dẫn tác động theo hướng hủy diệt khi tập trung qua một hành tinh ngoại môn, và theo hướng kiến tạo khi tập trung qua một hành tinh nội môn.

The soul is the builder.

Linh hồn là đấng kiến tạo.

The soul is constructive. The personality under Mars is often destructive. All right.

Linh hồn có tính kiến tạo. Phàm ngã dưới ảnh hưởng của Sao Hỏa thường có tính hủy diệt.

[3] Here you have the secret guide to the significance of death and immortality.

[3] Ở đây, các bạn có sự chỉ dẫn bí mật để thấu hiểu thâm nghĩa của cái chết và sự bất tử.

Very big very deep issues here.

Đây là những vấn đề rất lớn, rất sâu sắc.

[4] This is something which the average astrologer will be unable to prove because the cycles involved are too long;

[4] Đây là điều mà nhà chiêm tinh thông thường sẽ không thể chứng minh, vì các chu kỳ liên quan quá dài;

And we have not studied these yet. We've really been studying astrology scientifically well. Have we ever.

Và chúng ta vẫn chưa nghiên cứu những chu kỳ này. Chúng ta đã thực sự nghiên cứu chiêm tinh học một cách khoa học chưa? Đã bao giờ chưa?

It's only in our day and age just a few hundred years. Maybe in the ancient Chaldean times there was much more science and much longer periods in which to arrive at astrological judgments.

Trong thời đại chúng ta, việc ấy mới chỉ diễn ra vài trăm năm. Có lẽ vào thời Chaldea cổ đại, tính khoa học cao hơn nhiều và người ta có những khoảng thời gian dài hơn nhiều để đi đến các nhận định chiêm tinh.

[5] intuitively he can however grasp the probability of my proposition.

[5] tuy nhiên, bằng trực giác, y có thể nắm bắt tính khả dĩ của luận điểm Tôi nêu ra.

Now does this mean that death is associated with the destructive forces and immortality and the sustainment of harmony in the vehicle with the constructive forces. We are reminded exactly is it of law number is it law number six in esoteric healing. Let's check this out.

Vậy điều này có nghĩa là cái chết gắn với các mãnh lực hủy diệt, còn sự bất tử và việc duy trì sự hài hòa trong hiện thể gắn với các mãnh lực kiến tạo chăng? Điều này nhắc chúng ta nhớ đến định luật số mấy nhỉ—có phải định luật số sáu trong Trị Liệu Huyền Môn không? Chúng ta hãy kiểm tra.

The under the behest under the under the see under the behest behest B-E-H-E-S-T Well, I'm just going to look up B-E-H-E-S-T And let's see how we do. All right, one two, three, four five six it is at the behest. That's why I failed to get it.

Theo sự chỉ đạo... theo mệnh lệnh. Tôi sẽ tra cụm “theo mệnh lệnh” và xem kết quả thế nào. Một, hai, ba, bốn, năm, sáu—đúng là “theo mệnh lệnh”. Đó là lý do tôi đã không tìm được.

When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower personal self, then you have disease, ill health and death.

Khi những năng lượng kiến tạo của linh hồn hoạt động trong thân thể, sẽ có sức khỏe, sự tương tác trong sạch và hoạt động đúng đắn. Khi các đấng kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những vị hoạt động dưới sự kiểm soát của mặt trăng, theo mệnh lệnh của phàm ngã thấp, thì có bệnh tật, sức khỏe kém và cái chết.

I think we can certainly correlate this statement with what is just being said with the ray and constellational energies coming through the non-sacred planets giving us destruction.

Tôi nghĩ chắc chắn chúng ta có thể liên hệ phát biểu này với điều vừa nói: những năng lượng của các cung và các chòm sao đi qua các hành tinh không thiêng liêng, đem lại sự hủy diệt.

Ill health disease and death and the disintegration of the form and possibly immortality when there is a constantly constructive force. One may have wondered how some of the masters can choose a conscious immortality in a vehicle if they deem it wise to do so. So we will be unable to prove, he says, but

Sức khỏe kém, bệnh tật, cái chết và sự tan rã của hình tướng; và có thể là sự bất tử khi có một mãnh lực liên tục kiến tạo. Có lẽ người ta từng tự hỏi làm sao một số Chân sư có thể chọn sự bất tử hữu thức trong một hiện thể, nếu Các Ngài xét thấy làm như vậy là sáng suốt. Vì vậy, Ngài nói rằng chúng ta sẽ không thể chứng minh, nhưng

[6] May I again remind you that our theme is the divine plan, purpose and will;

[6] Tôi xin nhắc lại với các bạn rằng chủ đề của chúng ta là Thiên Cơ, mục đích và ý chí thiêng liêng;

In this juncture, let's see at this point at this point,

Ở chỗ này, tại thời điểm này,

[7] it is not the evolution of consciousness, or of the second aspect of divinity.

[7] chủ đề ấy không phải là sự tiến hoá của tâm thức, hay của phương diện thứ hai của thiên tính. Nó liên quan đến tinh thần chứ không phải linh hồn.

Divine plan, purpose and will, it's along the first ray line. That's the line along which at this time we are studying.

Thiên Cơ, thiên ý và ý chí, điều đó đi theo đường lối cung một. Đó là đường lối mà lúc này chúng ta đang nghiên cứu.

[8] We are attempting in some measure to formulate the life of the Father, the will of the Monad and the purpose of Spirit.

[8] Trong một chừng mực nào đó, chúng ta đang cố gắng diễn đạt thành khái niệm sự sống của Chúa Cha, ý chí của Chân Thần và mục đích của Tinh Thần.

All of these are equivalent terms in a way especially when capitalized father, monad, and spirit. We are trying to formulate the life of the father aspect, the will of the monad, and the purpose of the spirit.

Theo một nghĩa nào đó, tất cả những thuật ngữ này đều tương đương, nhất là khi viết hoa: Cha, Chân Thần và Tinh Thần. Chúng ta đang cố gắng diễn đạt sự sống của phương diện Cha, ý chí của chân thần và thiên ý của tinh thần.

Father, monad, and spirit are so close to the essence of being that the will tends sometimes to be conflated with the idea of being since it is the first expression of being.

Cha, chân thần và tinh thần gần với tinh túy của bản thể đến mức đôi khi người ta có khuynh hướng đồng nhất ý chí với ý tưởng về bản thể, vì ý chí là biểu hiện đầu tiên của bản thể.

[9] In all these (the three aspects of the will) lies germinating the seed of the next solar system,

[9] Chính trong tất cả những điều này (ba phương diện của ý chí), hạt giống của hệ mặt trời kế tiếp đang nảy mầm,

It will be a first ray solar system, which will mean that although the soul ray of our Solar Logos will remain the second ray necessarily, its personality ray will probably be the first.

Đó sẽ là một hệ mặt trời cung một, nghĩa là mặc dù cung linh hồn của Thái dương Thượng đế chúng ta tất yếu vẫn là cung hai, cung phàm ngã của Ngài có lẽ sẽ là cung một.

I suspect that's how it will happen.

Tôi ngờ rằng mọi việc sẽ diễn ra như thế.

[10] the third, and the fruition of the Personality Manifestation of the Logos.

[10] tức hệ mặt trời thứ ba, cùng sự thành tựu viên mãn của Biểu Hiện Phàm Ngã của Thượng đế.

Well, the fruition of the personality manifestation, it's now a second ray personality that can come to fruition under the will to fulfillment.

Về sự thành tựu viên mãn của biểu hiện phàm ngã, hiện nay đó là một phàm ngã cung hai, có thể đạt đến thành tựu viên mãn dưới tác động của ý chí hướng đến sự viên mãn.

But anyway, we're speaking of that subtle quality which will be responsible for the type of life lived in the next solar system. Of course, this is trillions of years ahead according to the Brahmanic chronology.

Dù sao, chúng ta đang nói đến phẩm tính tinh tế sẽ quyết định loại sự sống trong hệ mặt trời kế tiếp. Dĩ nhiên, theo niên đại học Bà-la-môn, điều này còn cách chúng ta hàng nghìn tỉ năm.

[11] We need, therefore, to formulate the interpretation of the seven rays in terms of will and not of love or consciousness. This we will now attempt to do.

[11] Do đó, chúng ta cần xây dựng cách diễn giải bảy cung theo ý chí, chứ không theo bác ái hay tâm thức. Giờ đây, chúng ta sẽ cố gắng thực hiện điều này.

So it will be abstruse, of course, formulation of the of the seven ray energies energies in terms of the will. the One About Whom Naught May Be Said and the seven solar systems of which ours is one.

Dĩ nhiên, việc diễn đạt những năng lượng của bảy cung theo ý chí sẽ rất khó hiểu. Đấng Bất Khả Tư Nghị và bảy hệ mặt trời, trong đó hệ của chúng ta là một.

Okay. Ray one. The ray of will and power.

Cung một. Cung của ý chí và quyền năng.

[12] RAY I.—The energy of Will or Power. This ray is outstandingly related to that aspect of will which conquers death.

[12] CUNG I.—Năng lượng của Ý Chí hay Quyền Năng. Cung này có mối liên hệ đặc biệt nổi bật với phương diện ý chí chinh phục cái chết.

Thus related to Capricorn.

Do đó, có liên hệ với Ma Kết.

[13] It is nevertheless the Ray of the Destroyer.

[13] Tuy nhiên, đây vẫn là Cung của Đấng Hủy Diệt.

How, if it destroys, can it conquer death? We know it destroys that which brings death to being—consciousness.

Nếu hủy diệt, làm sao nó có thể chinh phục cái chết? Chúng ta biết nó hủy diệt những gì mang cái chết đến cho bản thể—tâm thức.

[14] In this connection, I would remind you that the human attitude that death is the destroyer presents a limited and erroneous point of view.

[14] Về điều này, Tôi muốn nhắc các bạn rằng quan niệm của con người xem cái chết là kẻ hủy diệt thể hiện một góc nhìn hạn hẹp và sai lầm.

Really says DK.

Chân sư DK thực sự nói như vậy.

It is just the reverse.

Sự thật hoàn toàn ngược lại.

[15] The first ray destroys death because in reality there is no such thing;

[15] Cung một hủy diệt cái chết vì trên thực tế không hề có điều như vậy;

This is an amazing statement and again relates to formula number number six.

Đây là một phát biểu đáng kinh ngạc và một lần nữa có liên hệ với công thức số sáu.

There is no such thing as death he is saying and the first ray destroys, I suppose, the illusion of death.

Ngài đang nói rằng không có cái gọi là cái chết, và tôi cho rằng cung một hủy diệt ảo tưởng về cái chết.

[16] the concept is all part of the Great Illusion, is a limitation of the human consciousness, and is basically connected with the brain and not with the heart,

[16] khái niệm ấy hoàn toàn là một phần của Đại Ảo Tưởng, là một giới hạn của tâm thức con người, và về căn bản gắn liền với bộ não chứ không phải trái tim, dù điều này có vẻ lạ lùng đối với các bạn.

As love in a way overcomes death. Love conquers all.

Vì theo một nghĩa nào đó, tình thương vượt thắng cái chết. Tình thương chinh phục tất cả.

Love puts us on both sides of the barrier at the same time and the brain is that which gives us a fragmented picture of life and divides things one from another. So when we can, I'll go over here, when we can overcome the sense of division we are a long way on the path to overcoming death. So it the concept of death is all part of the great illusion more related to the brain which cannot pervade.

Tình thương đặt chúng ta đồng thời ở cả hai phía của rào chắn, còn bộ não đem lại cho chúng ta một bức tranh phân mảnh về sự sống và chia tách mọi thứ với nhau. Vì vậy, khi có thể—tôi sẽ chuyển sang đây—khi có thể vượt qua cảm giác chia tách, chúng ta đã tiến một chặng dài trên con đường vượt thắng cái chết. Do đó, quan niệm về cái chết hoàn toàn là một phần của đại ảo tưởng, có liên hệ nhiều hơn với bộ não vốn không thể thấm khắp.

The heart can pervade and I think we should give that idea. The heart can pervade the isolation which death seems to impose. The vanishing which death seems to impose.

Trái tim có thể thấm khắp, và tôi nghĩ chúng ta nên nêu lên ý tưởng ấy. Trái tim có thể thấm khắp sự cô lập mà cái chết dường như áp đặt. Sự biến mất mà cái chết dường như áp đặt.

There is this place there's here and then there is there and death is always considered to be a kind of there but here and there are really equivalent ideas. So

Có nơi này, có ở đây, rồi có ở kia; và cái chết luôn được xem là một dạng “ở kia”, nhưng ở đây và ở kia thực ra là những ý tưởng tương đương. Vì vậy,

[17] It is in a very true sense “a figment of the imagination.” Ponder on this.

[17] Theo một nghĩa rất xác thực, đó là “một sản phẩm hư cấu của sự tưởng tượng.” Hãy suy ngẫm về điều này.

So when we use our imagination to conceive of the different places there are in cosmos and the different planes it is a limitation. When we have accurate perception of the things which are of the states which are apparently separated from each other and which the imagination imagines as separate then we will be on both sides of the veil at the same time and in a sense the veil will cease to exist. The brain and I think the imagination reinforced the idea of the reality of the veil.

Vì vậy, khi dùng sự tưởng tượng để hình dung những nơi khác nhau trong vũ trụ và các cõi khác nhau, đó là một giới hạn. Khi tri giác chính xác về những trạng thái dường như tách biệt nhau, mà sự tưởng tượng hình dung là riêng rẽ, chúng ta sẽ đồng thời ở cả hai phía của bức màn, và theo một nghĩa nào đó, bức màn sẽ không còn tồn tại. Bộ não, và tôi nghĩ cả sự tưởng tượng, đã củng cố ý tưởng rằng bức màn là có thật.

The customary imagination reinforces the thought of the reality of the veil between the world of the so-called living and the world of the dead. So we have to train our imagination to be the intuition and not allow the imagination to be subject to that which the brain reveals to it. Train the imagination to be an instrument of the intuition.

Sự tưởng tượng thông thường củng cố ý nghĩ rằng bức màn giữa thế giới của những người được gọi là đang sống và thế giới của người chết là có thật. Vì vậy, chúng ta phải rèn luyện sự tưởng tượng để nó trở thành trực giác, và không để sự tưởng tượng lệ thuộc vào những gì bộ não cho nó thấy. Hãy rèn luyện sự tưởng tượng để nó trở thành một công cụ của trực giác.

Imagination, yes. The abolition of death and of the destruction of form.

Đúng vậy, sự tưởng tượng. Việc xóa bỏ cái chết và sự hủy diệt hình tướng.

[18] The abolition of death and of the destruction of form is a manifestation of Ray I,

[18] Việc xóa bỏ cái chết và sự hủy diệt hình tướng là một biểu hiện của Cung I,

So we will, what will we do? We will we will break the boundaries which imagination imagines as real. Love knows these boundaries are not real. The law of attraction, the law of magnetism can overcome these artificial boundaries of perception.

Vậy chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta sẽ phá vỡ những ranh giới mà sự tưởng tượng hình dung là có thật. Tình thương biết những ranh giới ấy không có thật. Định luật hấp dẫn, định luật từ điện có thể vượt qua những ranh giới nhân tạo này của tri giác.

There are artificial artificial boundaries of perception which can be negated through intuition and love. Artificial, okay.

Có những ranh giới nhân tạo của tri giác mà trực giác và tình thương có thể phủ định. Nhân tạo.

[19] for it brings about in reality the death of negation

[19] vì trên thực tế, cung này đem lại cái chết của sự phủ định

That's why Master Morya uses the term Master M. Master M tells us that the great mantra is yes, yes, yes and equivalent in a way to the meaning of the OM. This is a first-ray mantra, which inclines to bring about the death of negation. Death, as usually understood, says we cannot be in contact.

Đó là lý do Chân sư Morya dùng thuật ngữ ấy—Chân sư M. Chân sư M. cho chúng ta biết rằng mantram vĩ đại là “có, có, có”, và theo một nghĩa nào đó, tương đương với ý nghĩa của OM. Đây là một mantram cung một, có khuynh hướng đem lại cái chết của sự phủ định. Cái chết, như người ta thường hiểu, nói rằng chúng ta không thể tiếp xúc.

Death tells us we cannot be in contact with those who have disappeared. But magic magic will make possible the contact as love does. And as any method for penetrating the very penetrable veils, which usually we cannot penetrate.

Cái chết nói với chúng ta rằng chúng ta không thể tiếp xúc với những người đã biến mất. Nhưng huyền thuật sẽ khiến việc tiếp xúc trở nên khả dĩ, cũng như tình thương và bất cứ phương pháp nào giúp xuyên qua những bức màn vốn hoàn toàn có thể xuyên qua, nhưng thường chúng ta lại không xuyên qua được.

[20] and the inauguration of true activity.

[20] và mở đầu hoạt động chân thực.

So what it brings about the reality, in reality, the death of negation. Death, as usually understood, seems a great negation of presence.

Vì vậy, trên thực tế, điều nó đem lại là cái chết của sự phủ định. Cái chết, như người ta thường hiểu, dường như là một sự phủ định lớn lao đối với sự hiện diện.

Think of death as usually understood as as a great negation of presence. But the presence is everywhere present. And we will negate the thought, the thought that it is not.

Hãy nghĩ về cái chết, theo cách hiểu thông thường, như một sự phủ định lớn lao đối với sự hiện diện. Nhưng sự hiện diện có mặt khắp nơi. Và chúng ta sẽ phủ định ý nghĩ rằng sự hiện diện không có mặt khắp nơi.

So we are everywhere simultaneously. Let's put it like this. Omnipresence goes a long way to negate the seeming reality of death.

Vậy chúng ta đồng thời có mặt ở khắp nơi. Hãy diễn đạt như thế này: sự toàn tại góp phần rất lớn vào việc phủ định tính có thật bề ngoài của cái chết.

Because when people die, they go somewhere else, so it seems. And we lose all contact. And what if we are there already? And what if they are here? And what if there is no elsewhere? Death is the great elsewhere, isn't it? Let's call it else.

Bởi vì khi chết, người ta đi đến một nơi khác, ít nhất có vẻ là như vậy. Và chúng ta mất mọi liên lạc. Nhưng nếu chúng ta đã ở đó thì sao? Nếu họ đang ở đây thì sao? Nếu không có một nơi nào khác thì sao? Cái chết là “nơi khác” lớn lao ấy, phải không? Hãy gọi nó là “khác”.

And what if, through the realization of the of the presence, there is no elsewhere? Then what happens to death? What happens to death if we can, at any time, dial up the dead, contact the dead, see the dead, see the dead in their in their present vehicle, just the way, perhaps, they can see us, . Then the illusion of the elsewhere-ness of death disappears. The illusion of the elsewhere-ness, I know a terrible word, of death disappears.

Và nếu nhờ nhận biết sự hiện diện mà không còn “nơi khác” thì sao? Khi ấy, điều gì xảy ra với cái chết? Điều gì xảy ra với cái chết nếu bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể gọi cho người chết, tiếp xúc với người chết, nhìn thấy người chết trong hiện thể hiện tại của họ, có lẽ cũng như cách họ có thể nhìn thấy chúng ta? Khi ấy, ảo tưởng rằng cái chết thuộc về một nơi khác sẽ biến mất. Ảo tưởng về “tính ở nơi khác”—tôi biết đó là một cách nói rất tệ—của cái chết sẽ biến mất.

And what do we have here?

Và ở đây chúng ta có gì?

the inauguration of true activity.

sự khởi đầu của hoạt động đích thực.

[21] It is the energy which can be called “divine incentive”;

[21] Đó là năng lượng có thể gọi là “động lực thiêng liêng”;

We dealt with this before and we talked about divine incentive being impulsed from the astral plane in terms of the will to fulfillment.

Trước đây, chúng ta đã đề cập đến điều này và đã nói về động lực thúc đẩy thiêng liêng được khơi phát từ cõi cảm dục dưới dạng ý chí hướng đến sự viên mãn.

See, death is a great partialization. It fragments our perception. So, we can put it like this, that death is based upon the fragmentation of perception.

Cái chết là một sự chia cắt lớn lao. Nó phân mảnh tri giác của chúng ta. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng cái chết dựa trên sự phân mảnh của tri giác.

When that fragmentation is overcome and one can see life whole, in all of its subtlety, as well as the more gross impressions, then where is death? When everything is here, then where is death? It is not. So, the inauguration, It is the energy which can be called “divine incentive”;

Khi vượt qua sự phân mảnh ấy và có thể nhìn thấy sự sống một cách toàn vẹn, trong tất cả sự tinh tế của nó cũng như những ấn tượng thô hơn, thì cái chết ở đâu? Khi mọi thứ đều ở đây, thì cái chết ở đâu? Nó không tồn tại. Vậy, sự khởi đầu, Đó là năng lượng có thể gọi là “động lực thúc đẩy thiêng liêng”;

, and I believe we're talking about here, about ray 1 energy, right? Ray 1 energy.

, và tôi tin rằng ở đây chúng ta đang nói về năng lượng cung một, đúng không? Năng lượng cung một.

[22] it is the life in the seed which destroys successively all forms in order that realised fruition may eventuate.

[22] đó là sự sống trong hạt giống, lần lượt hủy diệt mọi hình tướng để sự kết trái viên mãn có thể thành hiện thực.

So, this is ray 1 leading to ray 2 fulfillment.

Vậy đây là cung một dẫn đến sự thành tựu viên mãn của cung hai.

[23] That is the clue to Ray I. It is the Will which initiates.

[23] Đó là manh mối để thấu hiểu Cung I. Đó là Ý Chí khởi xướng.

And it always is creating the new, so is very connected with Aries and with Uranus, and with the Pluto in a way, and with Vulcan creating the new as well. It brings about that which hitherto had not been.

Và nó luôn tạo ra cái mới, nên có liên hệ rất mật thiết với Bạch Dương và Sao Thiên Vương, theo một nghĩa nào đó còn với Sao Diêm Vương, và cả với Vulcan cũng đang tạo ra cái mới. Nó đem lại điều trước đó chưa từng hiện hữu.

So, it initiates that which hitherto had not been, or had not been perceived. So, DK is giving us a different view of these rays, not so much in their consciousness aspect, but in their relation to the will, what they actually accomplish in time and in space. So, the energy of will and power outstandingly related to the will which conquers death.

Vì vậy, nó khởi xướng điều trước đó chưa từng hiện hữu, hoặc chưa từng được tri giác. Như vậy, Chân sư DK đang cho chúng ta một cách nhìn khác về các cung này, không thiên về phương diện tâm thức của chúng, mà về mối liên hệ của chúng với ý chí, về điều chúng thực sự thực hiện trong thời gian và không gian. Vậy, năng lượng của ý chí và quyền năng có mối liên hệ nổi bật với ý chí chinh phục cái chết.

When we look at the second ray,

Khi chúng ta xem xét cung hai,

[24] Today, as regards humanity, its highest realisation is initiation.

[24] Ngày nay, đối với nhân loại, sự chứng nghiệm cao nhất của năng lượng ấy là điểm đạo.

Well, after all, if this ray 1, if ray 1, from the perspective of will, is the will to initiate, then initiation is the highest realization. Because, through initiation, we have self-initiated a new dimension to enter.

Xét cho cùng, nếu cung một, nhìn từ góc độ ý chí, là ý chí khởi xướng, thì điểm đạo là sự chứng nghiệm cao nhất. Bởi vì qua điểm đạo, chúng ta đã tự khởi xướng một chiều kích mới để bước vào.

Through initiation, we have self, well, maybe I should put it this way, self-initiated the process of entering into a new dimension. Ah, initiation.

Qua điểm đạo, chúng ta đã tự—có lẽ tôi nên nói thế này—tự khởi xướng tiến trình bước vào một chiều kích mới. À, điểm đạo.

Okay.

Được rồi.

[25] RAY II.—The energy of Love-Wisdom.

[25] CUNG II.—Năng lượng của Bác Ái – Minh Triết.

From the, again, always from the perspective of will.

Một lần nữa, luôn luôn từ góc độ ý chí.

[26] This basic energy is the will to unify, to synthesise,

[26] Năng lượng căn bản này là ý chí hợp nhất, tổng hợp,

That's why I say that synthesis is the second aspect of the will. I relate the will to good and the will to synthesis as both expressions of the second aspect of the will.

Đó là lý do tôi nói rằng sự tổng hợp là phương diện thứ hai của ý chí. Tôi xem Ý Chí-hướng Thiện và ý chí hướng đến sự tổng hợp đều là những biểu hiện của phương diện thứ hai của ý chí.

[27] to produce coherence and mutual attraction and to establish relationships, but—remember this—relationships which are entirely apart from the consciousness of relation or the realisation of unity.

[27] tạo nên sự cố kết và thu hút lẫn nhau, cùng thiết lập các mối liên hệ, nhưng—hãy nhớ điều này—đó là những mối liên hệ hoàn toàn tách biệt với tâm thức về sự liên hệ hay sự nhận biết tính hợp nhất.

I guess. What we could call them is simply factual relationships. So, the will to bring together, to unify, to make all things one, to produce that magnetic attraction which holds things together and prevents fragmentation, prevents fragmentation.

Tôi đoán vậy. Chúng ta có thể gọi chúng đơn giản là các mối quan hệ trên thực tế. Vậy, đó là ý chí quy tụ, hợp nhất, làm cho vạn vật thành một, tạo ra sức hút từ tính gắn kết mọi sự và ngăn ngừa sự phân mảnh, ngăn ngừa sự phân mảnh.

We have mutual attraction and the ending in harmony of the factor of rebuff.

Chúng ta có sức hút tương hỗ và yếu tố khước từ cuối cùng được hóa giải trong hài hòa.

and to establish relationships, but—remember this—relationships which are entirely apart from the consciousness of relation or the realisation of unity.

và thiết lập các mối quan hệ, nhưng—hãy nhớ điều này—đó là những mối quan hệ hoàn toàn tách biệt với tâm thức về mối liên hệ hay sự nhận biết tính hợp nhất.

Simply factual.

Đơn giản là những sự thật.

[28] It is the fact of unification as seen from the beginning

[28] Đó là thực tại hợp nhất, như được nhìn nhận ngay từ khởi đầu

In, well, let's call it in the divine standing wave of purpose.

Trong cái mà chúng ta hãy gọi là sóng dừng thiêng liêng của thiên ý.

[29] and as existing ever and forever in the Mind of God Whose will embraces past, present and future and Whose mind does not think in terms of evolution or of process.

[29] và như vẫn luôn tồn tại mãi mãi trong Trí của Thượng đế, Đấng có ý chí bao hàm quá khứ, hiện tại và tương lai, và có trí tuệ không tư duy theo tiến hoá hay tiến trình.

Well, in terms of being, pure being, there is no evolution or process.

Xét về bản thể, bản thể thuần túy, không có tiến hoá hay tiến trình.

Or, I really want to say progress as well. This is a very relative idea. When there is limitation and fragmentation, then we think in terms of evolution and progress or process.

Thật ra, tôi cũng muốn nói đến sự tiến bộ nữa. Đây là một ý tưởng rất tương đối. Khi có giới hạn và phân mảnh, chúng ta mới suy nghĩ theo tiến hoá và tiến bộ hay tiến trình.

But, in the world of being, there is but one reality which is changeless. That, of course, is the great intuition which we must come upon gradually and make an ongoing perception, a continuous perception, a continuity of realized synthesis. This is what we have to achieve.

Nhưng trong Thế Giới Bản Thể, chỉ có một thực tại bất biến. Dĩ nhiên, đó là trực giác lớn lao mà chúng ta phải dần dần đạt tới và biến thành một tri giác thường xuyên, một tri giác liên tục, một sự liên tục trong nhận biết về tính tổng hợp. Đây là điều chúng ta phải đạt được.

So, there is unification from the beginning because the purpose holds all things in unification and only in the fragmentation of the lower worlds do we have a kind of incoherent separativeness. The mind of God holds ever this factual unity. Let's say that.

Vậy, sự hợp nhất đã có ngay từ khởi đầu, vì thiên ý giữ vạn vật trong sự hợp nhất; chỉ trong sự phân mảnh của các cõi thấp mới có một dạng chia rẽ thiếu gắn kết. Trí của Thượng đế luôn duy trì sự hợp nhất trên thực tế này.

The mind of God, holds ever the realization of factual unity synthesis. So, this mind embraces the past, present, and future. Of course, what is God here? Is it some limited being or are we talking about the God of the entire universe or of all universes?

Trí của Thượng đế luôn duy trì sự nhận biết về sự hợp nhất, sự tổng hợp trên thực tế. Vậy, trí tuệ này bao trùm quá khứ, hiện tại và tương lai. Dĩ nhiên, Thượng đế ở đây là gì? Đó là một Sinh Mệnh hữu hạn nào đó, hay chúng ta đang nói về Thượng đế của toàn thể vũ trụ hoặc của mọi vũ trụ?

Whose will embraces past, present and future and Whose mind does not think in terms of evolution or of process.

Đấng có ý chí bao trùm quá khứ, hiện tại và tương lai, và có trí tuệ không tư duy theo tiến hoá hay tiến trình.

It thinks in terms of the, of bringing that which is below into conformity with that which is above. It thinks of bringing that which is below into conformity with that which is above. Above in the, in the world of being is the alpha omega archetype.

Trí tuệ ấy tư duy theo hướng đưa những gì ở dưới vào sự phù hợp với những gì ở trên. Trí tuệ ấy nghĩ đến việc đưa những gì ở dưới vào sự phù hợp với những gì ở trên. Ở trên, trong Thế Giới Bản Thể, là nguyên mẫu bao gồm cả khởi nguyên lẫn chung cuộc.

And all that is apparently out of alignment with the archetype must be brought into alignment with the archetype. Is this really evolution or is it simply a grand experiment in the play, the dance, the song, the music of the creator resolving all apparent dissonance into harmony with the archetype and into finally identity with the archetype.

Và tất cả những gì có vẻ chưa chỉnh hợp với nguyên mẫu đều phải được đưa vào sự chỉnh hợp với nguyên mẫu. Đây thực sự là tiến hoá, hay chỉ là một cuộc thử nghiệm vĩ đại trong trò diễn, điệu múa, bài ca, âm nhạc của Đấng Sáng Tạo, hóa giải mọi bất hòa có vẻ hiện hữu thành sự hài hòa với nguyên mẫu, và cuối cùng thành sự đồng nhất với nguyên mẫu?

[30] The process is inherent in the seed; the evolutionary urge is the inevitable accompaniment of life in manifestation.

[30] Tiến trình vốn có sẵn trong hạt giống; thôi thúc tiến hoá là điều tất yếu đi kèm sự sống đang biểu hiện.

The evolutionary urge. Yes.

Thôi thúc tiến hoá. Đúng vậy.

What is evolution really? It's the unfoldment of form or see it's the, well, unfoldment. Okay. Unfoldment or arrangement of form until it becomes archetypal.

Tiến hoá thực sự là gì? Đó là sự khai mở của hình tướng, hay sự khai mở hoặc sắp xếp hình tướng cho đến khi nó trở thành nguyên mẫu.

Again, the seed is mentioned. Interesting about the seed. It is it is the life in the seed which destroys successively all forms in order that realised fruition may eventuate.

Một lần nữa, hạt giống lại được nhắc đến. Điều thú vị về hạt giống. Đó là chính sự sống trong hạt giống lần lượt hủy diệt mọi hình tướng để sự thành tựu trọn vẹn có thể trở thành hiện thực.

And by fruition, we probably mean the ever more perfect expression of the fullness of life through adequate forms. Of course, no form will ever be adequate. So there has to be a return to the realization of life as the only substance, substance.

Và với sự thành tựu trọn vẹn, có lẽ chúng ta muốn nói đến sự biểu hiện ngày càng hoàn hảo hơn của sự sống viên mãn qua những hình tướng thích hợp. Dĩ nhiên, sẽ không có hình tướng nào hoàn toàn thích hợp. Vì vậy, phải trở về với nhận biết rằng sự sống là chất liệu duy nhất, chất liệu.

So

Vậy

[31] It is the Will to unification.

[31] Đó là Ý Chí hướng đến hợp nhất.

We use these in our full moon all the time, full moon work. These types of will can come from the different souls and their rays, but they in a way have a much higher origin than the soul.

Chúng ta luôn sử dụng những điều này trong công việc trăng tròn của mình. Những loại ý chí này có thể đến từ các linh hồn khác nhau và các cung của các linh hồn ấy, nhưng theo một nghĩa nào đó, nguồn gốc của chúng cao hơn linh hồn rất nhiều.

[32] Today, as regards humanity, its highest expression is the mystical vision.

[32] Ngày nay, đối với nhân loại, biểu hiện cao nhất của năng lượng ấy là linh ảnh thần bí.

Which I suppose is the vision of the factual unity, which purpose embraces. All right, then we go on to

Tôi cho rằng đó là linh ảnh về sự hợp nhất trên thực tế mà thiên ý bao trùm. Sau đó, chúng ta chuyển sang

[33] RAY III.—The energy of Active Intelligence.

[33] CUNG III.—Năng lượng của Trí Tuệ Hoạt Động.

Also called abstract intelligence, also called creative intelligence.

Cũng được gọi là trí thông tuệ trừu tượng, cũng được gọi là trí thông tuệ sáng tạo.

[34] This is the will of conditioned purpose.

[34] Đây là ý chí của mục đích đã được định hình.

Well, it's purpose subject to conditions, I suppose. Purpose, which is Uranian is subject to conditions which are correlated with Saturn.

Tôi cho rằng đó là thiên ý chịu sự chi phối của các điều kiện. Thiên ý, vốn thuộc về Sao Thiên Vương, chịu sự chi phối của những điều kiện tương quan với Sao Thổ.

The will of condition purpose, maybe we'll see more what he means here. Active intelligence is ever actively arranging the contents of a universal consciousness until they come into right relationship, gelling with, with resonant to and gelling with and conforming to the ever held archetype in the world of being held by the mind or ideation of God. These factors which are working out through the medium, it's medium,

Ý chí của thiên ý chịu tác động của các điều kiện; có lẽ chúng ta sẽ thấy rõ hơn điều Ngài muốn nói ở đây. Trí thông tuệ hoạt động luôn tích cực sắp xếp những nội dung của một tâm thức vũ trụ cho đến khi chúng đi vào mối quan hệ đúng đắn, cộng hưởng, kết hợp và phù hợp với nguyên mẫu mà Trí hay hoạt động hình thành ý tưởng của Thượng đế luôn duy trì trong Thế Giới Bản Thể. Những yếu tố đang triển khai thông qua nó, thông qua chính nó,

[35] The factors which are working out through its medium are the forceful carrying forward of the recognised plan

[35] Các yếu tố đang triển khai qua trung gian của năng lượng này là việc xúc tiến mạnh mẽ Thiên Cơ đã được nhận biết

Because it's forceful because it's still connected with the first ray.

Điều này mạnh mẽ vì nó vẫn liên kết với cung một.

the forceful carrying forward of the recognised plan

sự thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện Thiên Cơ đã được nhận biết

[36] with a goal intelligently conceived and an active incentive which carries the process intelligently forward on the strength of its own momentum.

[36] với một mục tiêu được quan niệm một cách thông minh và một động lực tích cực, nhờ chính đà thúc đẩy của mình mà đưa tiến trình tiến tới một cách thông minh.

Well, a great abstract mind is at work here who has seen very much of the concrete examples of this working out and is then able to put the process into, convincing abstract terms. the energy of active intelligence, this is the will of conditioned purpose, purpose subject to conditions.

Ở đây, một trí trừu tượng vĩ đại đang hoạt động, đã thấy rất nhiều ví dụ cụ thể về sự triển khai này, và nhờ đó có thể diễn đạt tiến trình bằng những khái niệm trừu tượng đầy sức thuyết phục. Năng lượng của trí thông tuệ hoạt động: đây là ý chí của thiên ý chịu tác động của các điều kiện, thiên ý chịu sự chi phối của các điều kiện.

And let's just say that, plan subjects purpose to conditions and to time and space in a way in the world of being purpose exists, from beginning to end and in a way outside the developmental realms of time and space, it is simply sustained.

Thiên Cơ đặt thiên ý dưới sự chi phối của các điều kiện, của thời gian và không gian. Theo một nghĩa nào đó, trong Thế Giới Bản Thể, thiên ý tồn tại từ đầu đến cuối và phần nào ở ngoài các lĩnh vực phát triển của thời gian và không gian; nó đơn giản được duy trì.

The factors which are working out through its medium are the forceful carrying forward

Những yếu tố đang triển khai thông qua nó là sự thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện

So it's on the hard line rays of the recognized plan.

Vậy, điều này thuộc về các cung theo tuyến cương của Thiên Cơ đã được nhận biết.

The actions which must be taken to manifest purpose, the actions which must be taken to manifest purpose with a goal intelligently conceived. So it's doable in terms of the law of economy. We can put that in doable in terms of the law of economy and an active incentive which carries the process intelligently forward on the strength of its own momentum.

Những hành động phải thực hiện để biểu hiện thiên ý, những hành động phải thực hiện để biểu hiện thiên ý với một mục tiêu được hình thành bằng trí thông tuệ. Vì vậy, điều này khả thi xét theo Định luật Tiết Kiệm. Chúng ta có thể thêm vào: khả thi xét theo Định luật Tiết Kiệm và một động lực tích cực đưa tiến trình tiến lên một cách thông tuệ bằng chính đà vận động của nó.

Meaning, we have here what's called the, using the line of least resistance and, intelligently avoiding friction, which increases momentum and the use of momentum, in, carrying the process forward. I don't think I've ever seen the Tibetan write quite so abstractly, as in this latter part, when dealing with the great abstracting power of the will.

Nghĩa là ở đây chúng ta có điều được gọi là sử dụng con đường ít trở ngại nhất và tránh ma sát một cách thông tuệ, nhờ đó gia tăng đà vận động và sử dụng đà ấy để đưa tiến trình tiến lên. Tôi không nghĩ mình từng thấy Chân sư Tây Tạng viết trừu tượng đến thế như trong phần sau này, khi bàn đến quyền năng trừu xuất vĩ đại của ý chí.

[37] Again I would remind you that I am dealing not

[37] Một lần nữa, Tôi xin nhắc các bạn rằng Tôi không bàn đến

We do need to be reminded, don't we, that I am not dealing

Chúng ta quả thực cần được nhắc nhở, phải không, rằng Tôi không đề cập

[38] with human consciousness but with the sum total of that undertaking which makes matter subservient to and adaptable to the basic idea in the mind of God.

[38] tâm thức con người, mà bàn đến toàn bộ công cuộc khiến vật chất phục tùng và thích ứng với ý tưởng căn bản trong Trí của Thượng đế.

I'm dealing with the sum total of that undertaking, which makes matter subservient to an adaptable to the basic idea in the mind of God. So we are, manipulating matter for the sake of its conformity to the sustained archetype, which is purpose.

Tôi đề cập đến toàn bộ công cuộc khiến vật chất phục tùng và thích ứng với ý tưởng căn bản trong Trí của Thượng đế. Vậy, chúng ta đang vận dụng vật chất để nó phù hợp với nguyên mẫu luôn được duy trì, vốn chính là thiên ý.

[39] And no human being is as yet able to conceive of that idea.

[39] Và cho đến nay, chưa một con người nào có khả năng quan niệm được ý tưởng ấy.