← EAA – Chapter VII Phần 1

Ý chí như động lực phía sau năng lượng — Commentary EAA 143b

Tóm lược chương

Bảy cách biểu lộ thiên ý được xét từ phía sức thúc đẩy và khả năng sắp đặt. Ý chí Cung Năm liên hệ với năng lực định hình các kiểu hoạt động thông minh đã có trong vật chất, vốn được phát triển mạnh trong hệ mặt trời trước. Sự phân biệt này giúp thấy ý chí hoạt động ngay trong những quy luật mà một nhà huyền môn học cách sử dụng. Một ý tưởng có thể quy tụ vật chất và định hướng quá trình tạo hình. Cảm nhận về sự thiếu hụt có thể phát ra lực từ hút để tìm điều bổ sung, trong khi ý chí tập trung vào mục tiêu theo một hướng rất khó lay chuyển. Hai vận động ấy có thể đi cùng nhau nhưng thể hiện hai cách tác động khác nhau. Trong Hiện Tại Vĩnh…


Commentary EAA 143b

Tóm Tắt

§ Ý chí như động lực phía sau năng lượng

Bảy cách biểu lộ thiên ý được xét từ phía sức thúc đẩy và khả năng sắp đặt. Ý chí Cung Năm liên hệ với năng lực định hình các kiểu hoạt động thông minh đã có trong vật chất, vốn được phát triển mạnh trong hệ mặt trời trước. Sự phân biệt này giúp thấy ý chí hoạt động ngay trong những quy luật mà một nhà huyền môn học cách sử dụng.

§ Năng lực tạo hình của ý tưởng

Một ý tưởng có thể quy tụ vật chất và định hướng quá trình tạo hình. Cảm nhận về sự thiếu hụt có thể phát ra lực từ hút để tìm điều bổ sung, trong khi ý chí tập trung vào mục tiêu theo một hướng rất khó lay chuyển. Hai vận động ấy có thể đi cùng nhau nhưng thể hiện hai cách tác động khác nhau.

§ Ý tưởng đã thành tựu và sự thể hiện trong thời gian

Trong Hiện Tại Vĩnh Cửu, nguyên mẫu được xét như một sự kiện đã hoàn tất. Ở các cõi thấp, cùng một ý tưởng phải được thực hiện qua thời gian bằng nhịp điệu có phối hợp và tư tưởng được duy trì. Điều mà con người lấy làm nguyên mẫu cho công việc của mình chỉ là một tương ứng hạn chế với nguyên mẫu trong trí tuệ thiêng liêng.

§ Tính mẫn cảm và tính kiên định của ý chí

Khả năng tiếp nhận và đáp ứng có giá trị riêng, trong khi xung lực ý chí có thể tiếp tục hướng tới đích mà rất ít bị những tác động khác làm chệch hướng. Thầy MDR khảo sát tương quan này khi đối chiếu các cách biểu lộ của Cung Sáu và Cung Bảy, từ sự chuyên chú vào lý tưởng đến việc thực hiện nó thành hình thức có nhịp điệu.

§ Các chủ âm của bảy Đấng và sự tổng hợp

Các chủ âm được đọc như những tác động gây ra biểu lộ, duy trì tiến trình và đưa toàn thể tới kết quả. Áp lực phá vỡ hình thức có thể phát sinh từ sự bất mãn của tinh thần đối với giới hạn đang giam giữ nó. Ở mức tổng hợp, tâm thức nhận ra tính nhất thể vốn có, thay vì tạo ra tính nhất thể ấy bằng hoạt động riêng.

Text EAA 143B – Văn bản EAA 143B

Esoteric Astrology – Chiêm Tinh Học Nội Môn

[1] RAY V.—The energy of Concrete Science or Knowledge. [2] To understand this expression of the divine will, [3] the student should bear in mind the occult aphorism that “matter is spirit at its lowest point of manifestation and spirit is matter at its highest.” [4] Basically this is the will which produces concretion and yet at the same time constitutes the point at which spirit and matter are balanced and co-equal. [5] That is the reason why human perfection is carried forward consciously upon the mental plane, the fifth plane; this is brought about by the fifth ray and upon this plane liberation takes place at the time of the fifth initiation. [6] This is the will which is inherent in substance and which actuates all atoms of which all forms are made. [7] It is closely related to the first solar system even whilst liberating members of the human family who will constitute the nucleus around which the third solar system is constructed. [8] The energy of this ray is intelligence; [9] it is the seed of consciousness but not of consciousness as we understand it; it is the inherent (600) life of matter and the will to work intelligently; [10] it is that living something for which we have no name which was the product of the first solar system. [11] It is one of the major assets of God, the Father [12] and also of the human Monad. This is the Will to Action.

[1] CUNG V.—Năng lượng của Khoa Học Cụ Thể hay Tri Thức. [2] Để thấu hiểu biểu hiện này của ý chí thiêng liêng, [3] đạo sinh nên ghi nhớ châm ngôn huyền bí rằng “vật chất là tinh thần ở điểm biểu hiện thấp nhất, và tinh thần là vật chất ở điểm biểu hiện cao nhất.” [4] Về căn bản, đây là ý chí tạo ra sự cụ thể hoá, nhưng đồng thời cũng tạo thành điểm mà tại đó tinh thần và vật chất cân bằng và ngang hàng với nhau. [5] Đó là lý do vì sao con người tiến tới sự hoàn thiện một cách có ý thức trên cõi trí, cõi thứ năm; cung năm đem lại điều này, và trên cõi này, sự giải thoát diễn ra vào lần điểm đạo thứ năm. [6] Đây là ý chí vốn có trong chất liệu và thúc đẩy mọi nguyên tử cấu thành mọi hình tướng hoạt động. [7] Ý chí này liên hệ mật thiết với hệ mặt trời thứ nhất, ngay cả khi đang giải phóng những thành viên của gia đình nhân loại sẽ hợp thành hạt nhân mà hệ mặt trời thứ ba được xây dựng quanh đó. [8] Năng lượng của cung này là trí tuệ; [9] đó là hạt giống của tâm thức, nhưng không phải tâm thức theo cách chúng ta thấu hiểu; đó là sự sống (600) vốn có trong vật chất và ý chí hoạt động một cách thông minh; [10] đó là một điều gì đó sống động mà chúng ta chưa có tên gọi, vốn là sản phẩm của hệ mặt trời thứ nhất. [11] Đó là một trong những tài sản chủ yếu của Thượng đế Ngôi Cha [12] và cũng của Chân thần con người. Đây là Ý Chí hướng tới Hành Động.

[13] Today, as regards humanity, its highest expression is liberation—through death or initiation.

[13] Ngày nay, đối với nhân loại, biểu hiện cao nhất của ý chí này là sự giải thoát—qua cái chết hoặc điểm đạo.

[14] RAY VI.—The energy of Devotion or of Idealism. [15] This is the will which embodies God’s idea. [16] It provides the motive power behind the working out of whatever may be the purpose of creation. [17] What that purpose is we have not as yet the faintest idea. [18] An ideal is related to the consciousness aspect as far as human beings are concerned. An idea is related to the will aspect. [19] This ray embodies a dominant potency. [20] It expresses God’s desire and is the basic energy emanating from the cosmic astral plane. [21] It conceals the mystery which is to be found in the relationship of the will and desire. [22] Desire is related to consciousness. Will is not. [23] We are not, however, dealing with consciousness but with that impersonal force which drives forward through all the seven planes of our solar system [24] and which makes the idea of God a consummated fact in the Eternal Now. [25] Does that statement mean much to you? [26] I would surmise that it means but little; it is a basic statement of occult fact anent energy as it expresses itself through humanity in a manner which is unique and peculiar. [27] I would here remind you of a statement in The Secret Doctrine that “an Idea is a Being incorporeal which has no subsistence by itself but gives figure and form unto shapeless matter and becomes the cause of the manifestation.” [28] This statement takes you straight back to God (601) the Father, to the Monad, to the One. [29] It is related, consequently, to the Will and not to consciousness. Consciousness is per se the recognition of a progressive plan. The Will is the cause, the energising Principle, Life, Being. This is the Will to Causation.

[14] CUNG VI.—Năng lượng của Sùng Tín hay của Chủ Nghĩa Lý Tưởng. [15] Đây là ý chí hiện thân cho ý tưởng của Thượng đế. [16] Ý chí này cung cấp động lực đứng sau việc thực hiện mục đích của sự sáng tạo, bất kể mục đích ấy là gì. [17] Chúng ta vẫn chưa có chút ý niệm nào về mục đích ấy. [18] Đối với con người, một lý tưởng liên hệ với phương diện tâm thức. Một ý tưởng liên hệ với phương diện ý chí. [19] Cung này hiện thân cho một quyền năng chi phối. [20] Nó biểu lộ dục vọng của Thượng đế và là năng lượng căn bản phát xạ từ cõi cảm dục vũ trụ. [21] Nó che giấu bí nhiệm nằm trong mối quan hệ giữa ý chí và dục vọng. [22] Dục vọng liên hệ với tâm thức. Ý chí thì không. [23] Tuy nhiên, chúng ta đang bàn đến mãnh lực vô ngã thúc đẩy xuyên suốt cả bảy cõi của hệ mặt trời chúng ta, chứ không bàn đến tâm thức, [24] và mãnh lực ấy biến ý tưởng của Thượng đế thành một sự kiện đã hoàn tất trong Hiện Tại Vĩnh Cửu. [25] Phát biểu ấy có nhiều ý nghĩa đối với các bạn không? [26] Tôi cho rằng nó chỉ có rất ít ý nghĩa; đó là một phát biểu căn bản về sự kiện huyền bí liên quan đến năng lượng khi năng lượng ấy biểu lộ qua nhân loại theo một cách độc đáo và đặc thù. [27] Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn về một phát biểu trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng “một Ý Tưởng là một Sinh Mệnh vô hình thể, không tự tồn tại nhưng mang lại đường nét và hình tướng cho vật chất vô định hình và trở thành nguyên nhân của sự biểu hiện.” [28] Phát biểu này đưa các bạn trở lại thẳng với Thượng đế (601) Ngôi Cha, với Chân thần, với Đấng Duy Nhất. [29] Do đó, nó liên hệ với Ý Chí chứ không phải với tâm thức. Chính tâm thức là sự nhận biết một Thiên Cơ đang dần triển khai. Ý Chí là nguyên nhân, là Nguyên Khí tiếp sinh lực, là Sự Sống, là Bản Thể. Đây là Ý Chí hướng tới việc Tạo Nhân.

[30] Today, as regards humanity, its highest expression is idealism, the incentive and cause of human activity.

[30] Ngày nay, đối với nhân loại, biểu hiện cao nhất của ý chí này là chủ nghĩa lý tưởng, động lực và nguyên nhân của hoạt động con người.

[31] RAY VII.—This is the energy of Ceremonial Order. [32] It is an expression of the will which drives through into outer manifestation; [33] it is that which embodies both the periphery and the point at the centre. [34] It is the will to “ritualistic synthesis,” [35] if I might so word it. It is Necessity which is the prime conditioning factor of the divine nature—[36] the necessity to express itself; [37] the necessity to manifest in an orderly rhythmic manner; [38] the necessity to embrace “that which is above and that which is below” and, through the medium of this activity, to produce beauty, order, perfect wholes and right relationships. [39] It is the driving energy which Being emanates as It appears and takes form and lives. It is the Will towards Expression.

[31] CUNG VII.—Đây là năng lượng của Trật Tự Nghi Lễ. [32] Đây là một biểu hiện của ý chí thúc đẩy tiến vào sự biểu hiện bên ngoài; [33] đó là điều hiện thân cho cả chu vi lẫn điểm ở trung tâm. [34] Đó là ý chí hướng tới “sự tổng hợp qua nghi lễ,” [35] nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy. Chính Tính Tất Yếu là yếu tố chủ yếu định hình bản chất thiêng liêng—[36] sự tất yếu phải tự biểu lộ; [37] sự tất yếu phải biểu hiện một cách có trật tự và nhịp điệu; [38] sự tất yếu phải bao hàm “điều ở trên và điều ở dưới” và, thông qua hoạt động này, tạo ra vẻ đẹp, trật tự, những tổng thể hoàn hảo và những mối quan hệ đúng đắn. [39] Đó là năng lượng thúc đẩy mà Sinh Mệnh phát xạ khi biểu hiện, khoác lấy hình tướng và sống. Đó là Ý Chí hướng tới Biểu Lộ.

[40] Today, as regards humanity, its highest expression is organisation.

[40] Ngày nay, đối với nhân loại, biểu hiện cao nhất của ý chí này là tổ chức.

[41] In the above statements anent the rays, you can see that the full circle of their activity is complete from the angle of God the Father; [42] the will to initiate manifestation and its attendant progressive expression meets the will towards full achievement [43] and the energy of Being itself arrives—in time and space today (in the mind of God) at full consummation.

[41] Trong những phát biểu trên về các cung, các bạn có thể thấy rằng toàn bộ chu kỳ hoạt động của chúng đã hoàn tất xét từ góc độ của Thượng đế Ngôi Cha; [42] ý chí khởi phát sự biểu hiện và sự biểu lộ tiến triển đi kèm gặp gỡ ý chí hướng tới thành tựu trọn vẹn [43] và năng lượng của chính Bản Thể đạt đến—trong thời gian và không gian hiện nay (trong Trí của Thượng đế)—sự hoàn tất trọn vẹn.

[44] 3. The Keynotes of the Seven Rays and the Will Aspect.

[44] 3. Các Chủ Âm của Bảy Cung và Phương Diện Ý Chí.

(602)

(602)

[45] The keynotes of these seven Rays are, therefore, as they constitute the revelation of seven Great Beings:

[45] Do đó, các chủ âm của bảy Cung này, khi chúng tạo thành sự mặc khải của bảy Sinh Mệnh Vĩ Đại, là:

[46] Initiation. Unification. Evolution. Harmonisation. Action. Causation. Expression.

[46] Điểm Đạo. Hợp Nhất. Tiến Hoá. Hài Hoà. Hành Động. Tạo Nhân. Biểu Lộ.

Esoteric Astrology Adventure 143B — Will, Causation, Expression and the Seven Keynotes – Hành Trình Khám Phá Chiêm Tinh Học Nội Môn 143B — Ý Chí, Sự Tạo Nhân, Sự Biểu Đạt và Bảy Chủ Âm

This is the beginning of Esoteric Astrology Adventure number 143B. We're on page 599; we've almost reached that magical page 600. I feel like the horse approaching the finish line, but of course there's always the appendix, and the appendix is long, some sixty-five pages of necessary material. We've been talking about the way the will aspect of the rays works through what we are calling here force, energy, action, and the realm of the occultist.

Đây là phần mở đầu của Hành Trình Khám Phá Chiêm Tinh Học Nội Môn số 143B. Chúng ta đang ở trang 599; chúng ta gần đến trang 600 kỳ diệu ấy rồi. Tôi cảm thấy mình như con ngựa đang tiến đến đích, nhưng dĩ nhiên vẫn còn phần phụ lục, và phần phụ lục khá dài, khoảng sáu mươi lăm trang tư liệu cần thiết. Chúng ta đã bàn về cách phương diện ý chí của các cung vận hành qua những gì ở đây chúng ta gọi là mãnh lực, năng lượng, hành động và lĩnh vực của nhà huyền bí học.

We're not talking about the consciousness aspect now, we're talking about the power that propels, the power behind the ability to arrange. We're talking about the prime mover here and not receptivity.

Lúc này chúng ta không bàn về phương diện tâm thức, mà bàn về quyền năng thúc đẩy, quyền năng đằng sau khả năng sắp đặt. Ở đây chúng ta đang bàn về động lực đầu tiên, chứ không phải tính tiếp nhận.

[1] RAY V.—The energy of Concrete Science or Knowledge.

[1] CUNG V.—Năng lượng của Khoa Học Cụ Thể hay Tri Thức.

It's very related to the first ray, of course.

Dĩ nhiên, nó có liên hệ rất mật thiết với cung một.

[2] To understand this expression of the divine will,

[2] Để thấu hiểu biểu hiện này của ý chí thiêng liêng,

That's what we're doing. We are trying to understand seven expressions of the Divine Will.

Đó là điều chúng ta đang làm. Chúng ta đang cố gắng thấu hiểu bảy biểu hiện của Ý Chí thiêng liêng.

[3] the student should bear in mind the occult aphorism that “matter is spirit at its lowest point of manifestation and spirit is matter at its highest.”

[3] đạo sinh nên ghi nhớ châm ngôn huyền bí rằng “vật chất là tinh thần ở điểm biểu hiện thấp nhất, và tinh thần là vật chất ở điểm biểu hiện cao nhất.”

You could wonder whether spirit is really life. Life is always the fourth point, isn't it? Life is the fourth something, hovering, or in the centre, as we have been told. Let's see where that is.

Các bạn có thể tự hỏi liệu tinh thần có thực sự là sự sống hay không. Sự sống luôn là điểm thứ tư, phải vậy không? Sự sống là một điều gì đó thứ tư, lơ lửng hoặc ở trung tâm, như chúng ta đã được cho biết. Hãy xem đoạn ấy ở đâu.

[EAA-143B-F01] MDR mở mục về Life trong bản sách điện tử. — video 00:02:56.

[EAA-143B-F01] MDR mở mục về Sự sống trong bản sách điện tử. — video 00:02:56.

We've just been here, Treatise on the Seven Rays, Volume III. Life, what is life? Let's look at this and repeat:

Chúng ta vừa xem chỗ này, Luận về Bảy Cung, Tập III. Sự sống, sự sống là gì? Hãy xem và đọc lại đoạn này:

The word “life” in this triplicity of terms refers to life as humanity understands it. The word “life” to which I here refer is the life to which H.P.B. refers as that which synthesises spirit, soul and body. It is in reality that fourth something which hovers behind all manifestation and behind all objects, (EA, tr. 591)

Từ “sự sống” trong bộ ba thuật ngữ này chỉ sự sống theo cách nhân loại thấu hiểu. Từ “sự sống” mà Tôi đề cập ở đây là sự sống mà H.P.B. nói đến như điều tổng hợp tinh thần, linh hồn và thân thể. Thực ra, đó là một điều gì đó thứ tư, lơ lửng đằng sau mọi biểu hiện và đằng sau mọi đối tượng, (EA, tr. 591)

It really is the point in the triangle, or the highest point of the tetrahedron, perhaps.

Thực sự, đó là điểm trong tam giác, hoặc có lẽ là đỉnh cao nhất của tứ diện.

It hovers behind all manifestation, and even spirit is part of manifestation. Spirit as the first aspect of divinity, but not as life. Sometimes the word ‘spirit’ is used interchangeably with life, but we have to be very discriminating, very careful there.

Nó lơ lửng đằng sau mọi biểu hiện, và ngay cả tinh thần cũng thuộc về sự biểu hiện. Tinh thần với tư cách phương diện thứ nhất của thiên tính, chứ không phải với tư cách sự sống. Đôi khi từ “tinh thần” được dùng thay cho sự sống, nhưng ở đây chúng ta phải hết sức phân biện, hết sức thận trọng.

all qualified expressions of divinity and which is hinted at in the Bhagavad Gita in the words: “Having pervaded this whole universe with a fragment of Myself, I,

mọi biểu hiện mang phẩm tính của thiên tính, và điều ấy được gợi lên trong Chí Tôn Ca qua những lời: “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một phần của chính Ta, Ta,

Presumably I, life,

Có lẽ “Ta” ở đây là sự sống,

remain.” (EA, tr. 591)

vẫn còn lại.” (EA, tr. 591)

It's the all-pervading, sustaining something, isn't it? Ray 5.

Đó là một điều gì đó thấm nhuần và duy trì tất cả, phải vậy không? Cung năm.

[4] Basically this is the will which produces concretion and yet at the same time constitutes the point at which spirit and matter are balanced and co-equal.

[4] Về căn bản, đây là ý chí tạo ra sự cụ thể hoá, nhưng đồng thời cũng tạo thành điểm mà tại đó tinh thần và vật chất cân bằng và ngang hàng với nhau.

Thus relating it to Libra, ruled by Venus, Ray 5. The will which produces concretion. We call it also the will to act, I guess, or the will to action.

Do đó, nó liên hệ với Thiên Bình, do Sao Kim, cung năm, cai quản. Ý chí tạo ra sự kết tụ. Tôi nghĩ chúng ta cũng gọi đó là ý chí hành động, hay ý chí hướng tới hành động.

[5] That is the reason why human perfection is carried forward consciously upon the mental plane, the fifth plane; this is brought about by the fifth ray and upon this plane liberation takes place at the time of the fifth initiation.

[5] Đó là lý do vì sao con người tiến tới sự hoàn thiện một cách có ý thức trên cõi trí, cõi thứ năm; cung năm đem lại điều này, và trên cõi này, sự giải thoát diễn ra vào lần điểm đạo thứ năm.

This is kind of interesting. The Master does become the Master of the three lower worlds, but in what way? The fifth plane, the higher mental plane, and there is the destruction of the causal body, the debris of which, you might say, is not dispersed until the fifth initiation, and maybe there is a scattering of the debris and a revelation and liberation simultaneously, perhaps. Scattering of the causal debris and a liberation and revelation simultaneously.

Điều này khá thú vị. Quả thực, Chân sư trở thành Đấng làm chủ ba cõi thấp, nhưng theo cách nào? Cõi thứ năm, cõi thượng trí, và tại đó diễn ra sự hủy diệt thể nguyên nhân; có thể nói rằng mãi đến lần điểm đạo thứ năm, những tàn dư của thể ấy mới phân tán. Và có lẽ sự phân tán các tàn dư, sự mặc khải và sự giải thoát diễn ra đồng thời. Sự phân tán những tàn dư của thể nguyên nhân cùng với sự giải thoát và sự mặc khải diễn ra đồng thời.

[6] This is the will which is inherent in substance and which actuates all atoms of which all forms are made.

[6] Đây là ý chí vốn có trong chất liệu và thúc đẩy mọi nguyên tử cấu thành mọi hình tướng hoạt động.

It is a sustaining energy, but what does it mean by ‘actuates,’ I suppose? What does it do? Does it somehow stimulate the movement of these atoms or the modes in which they combine?

Đó là một năng lượng duy trì, nhưng tôi tự hỏi “thúc đẩy hoạt động” hàm ý gì? Nó làm gì? Bằng cách nào đó, nó có kích thích sự chuyển động của những nguyên tử này hoặc những phương thức kết hợp của chúng không?

[7] It is closely related to the first solar system even whilst liberating members of the human family who will constitute the nucleus around which the third solar system is constructed.

[7] Ý chí này liên hệ mật thiết với hệ mặt trời thứ nhất, ngay cả khi đang giải phóng những thành viên của gia đình nhân loại sẽ hợp thành hạt nhân mà hệ mặt trời thứ ba được xây dựng quanh đó.

It is closely related to the first ray, which will be prominent in the next solar system.

Nó có liên hệ mật thiết với cung một, cung sẽ nổi trội trong hệ mặt trời kế tiếp.

[8] The energy of this ray is intelligence;

[8] Năng lượng của cung này là trí tuệ;

Very related then to the third ray, of course.

Vậy dĩ nhiên nó có liên hệ rất mật thiết với cung ba.

[9] it is the seed of consciousness but not of consciousness as we understand it; it is the inherent life of matter and the will to work intelligently;

[9] đó là hạt giống của tâm thức, nhưng không phải tâm thức theo cách chúng ta thấu hiểu; đó là sự sống (600) vốn có trong vật chất và ý chí hoạt động một cách thông minh;

Notice the word ‘work’ there; that's also found in connection with the third ray.

Hãy lưu ý từ “làm việc” ở đó; từ này cũng xuất hiện trong mối liên hệ với cung ba.

Sometimes the fifth ray is considered to be a kind of expression of the third ray.

Đôi khi cung năm được xem là một dạng biểu hiện của cung ba.

[10] it is that living something for which we have no name which was the product of the first solar system.

[10] đó là một điều gì đó sống động mà chúng ta chưa có tên gọi, vốn là sản phẩm của hệ mặt trời thứ nhất.

It seems like it's intelligence in matter.

Dường như đó là trí thông minh trong vật chất.

Intelligence in matter.

Trí thông minh trong vật chất.

[11] It is one of the major assets of God, the Father

[11] Đó là một trong những tài sản chủ yếu của Thượng đế Ngôi Cha

On the first aspect, because the fifth is related to the first.

Thuộc phương diện thứ nhất, bởi cung năm liên hệ với cung một.

[12] and also of the human Monad. This is the Will to Action.

[12] và cũng của Chân thần con người. Đây là Ý Chí hướng tới Hành Động.

I wonder if we can say, it is the will to action in matter-form.

Tôi tự hỏi liệu chúng ta có thể nói rằng đó là ý chí hành động trong vật chất–hình tướng hay không.

[13] Today, as regards humanity, its highest expression is liberation—through death or initiation.

[13] Ngày nay, đối với nhân loại, biểu hiện cao nhất của ý chí này là sự giải thoát—qua cái chết hoặc điểm đạo.

These are abstruse ideas. Thus it is connected with Ray 1, the highest expression of which is initiation.

Đây là những ý tưởng thâm áo. Như vậy, nó liên hệ với cung một, mà biểu hiện cao nhất là điểm đạo.

In a way, initiation is death. It is dying to or leaving behind previous limitation. Initiation is death.

Theo một nghĩa nào đó, điểm đạo là cái chết. Đó là chết đi đối với, hay bỏ lại phía sau, giới hạn trước kia. Điểm đạo là cái chết.

It is a dying to or leaving behind former limitations. It may be the will to concretion, but it was not an easy paragraph, was it? Let's just ponder on it just a little bit more.

Đó là chết đi đối với, hay bỏ lại phía sau, những giới hạn trước kia. Đây có thể là ý chí kết tụ, nhưng đoạn văn ấy không dễ hiểu, phải vậy không? Chúng ta hãy suy ngẫm thêm một chút.

upon this plane liberation takes place at the time of the fifth initiation.

trên cõi ấy, sự giải thoát diễn ra vào lần điểm đạo thứ năm.

Usually it's considered the fourth, but we have to consider the fourth and fifth as one unit. By the time of the fifth initiation, there is a revelatory clearing, a clearing which allows revelation. Initiation.

Thông thường người ta cho rằng đó là lần thứ tư, nhưng chúng ta phải xem lần thứ tư và thứ năm là một đơn vị. Đến lần điểm đạo thứ năm, có một sự dọn sạch mang lại mặc khải, một sự dọn sạch cho phép mặc khải diễn ra. Điểm đạo.

This is the will which is inherent in substance, inherent in matter-substance, inherent in a certain kind of energy, and which actuates or determines, let's call it, determines the intelligent patterns of action for all atoms of which all forms are made. There is an intelligence in matter, and this fifth ray is very connected with it, and this was brought to a point of development in the previous solar system.

Đây là ý chí vốn có trong chất liệu, vốn có trong vật chất–chất liệu, vốn có trong một loại năng lượng nhất định, và thúc đẩy hoạt động hay quyết định—chúng ta hãy gọi như vậy—quyết định những mô hình hành động thông minh cho mọi nguyên tử cấu thành mọi hình tướng. Có một trí thông minh trong vật chất, và cung năm này liên hệ rất mật thiết với nó; trong hệ mặt trời trước, trí thông minh ấy đã đạt đến một mức phát triển nhất định.

There is intelligence in matter.

Có trí thông minh trong vật chất.

It is closely related to the first solar system even whilst liberating members of the human family who will constitute the nucleus around which the third solar system is constructed.

Nó có liên hệ mật thiết với hệ mặt trời thứ nhất, ngay cả khi giải thoát những thành viên của gia đình nhân loại, những người sẽ cấu thành hạt nhân mà hệ mặt trời thứ ba được xây dựng quanh đó.

Then we have to ask, does this mean—I've got something crazy to say here.

Vậy chúng ta phải hỏi, điều này có hàm ý—ở đây tôi có một điều khá khác thường muốn nói.

Does this mean the liberation of first ray monads? Now think about Master Hilarion, the Chohan Hilarion, who is powerfully on the fifth ray, but it doesn't seem that he is so in his soul, but more on the Monadic plane as the Chohan of the fifth ray, and yet, he is one of those, we are told, who takes the kingdom of heaven by storm as do essentially first ray monads. Can it be that this type of energy was important in liberating this great soul, and may it be that in the next solar system, which will be strongly under the first ray, that he will be one of those who is important in the process of that next solar system.

Điều này có hàm ý sự giải thoát của các chân thần cung một không? Hãy nghĩ đến Chân sư Hilarion, Đức Chohan Hilarion, Đấng chịu ảnh hưởng rất mạnh của cung năm, nhưng dường như linh hồn Ngài không thuộc cung ấy, mà đúng hơn là trên cõi chân thần, với tư cách Đức Chohan của cung năm. Tuy nhiên, chúng ta được cho biết rằng Ngài là một trong những Đấng giành lấy Thiên Giới bằng sức mạnh mãnh liệt, như các chân thần có bản chất thuộc cung một vẫn làm. Liệu loại năng lượng này có đóng vai trò quan trọng trong việc giải thoát linh hồn vĩ đại ấy không? Và liệu trong hệ mặt trời kế tiếp, vốn sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cung một, Ngài có thể là một trong những Đấng giữ vai trò quan trọng trong tiến trình của hệ mặt trời ấy không?

Because those who will constitute the nucleus around which the third solar system is constructed, they are first ray monads, largely. We're told that maybe they don't undergo so much opportunity here and so much development, and that a certain cultivated nucleus is being created for the next solar system.

Bởi những vị sẽ cấu thành hạt nhân mà hệ mặt trời thứ ba được xây dựng quanh đó phần lớn là các chân thần cung một. Chúng ta được cho biết rằng có lẽ ở đây Các Ngài không có nhiều cơ hội và không phát triển nhiều đến thế, và rằng một hạt nhân được vun bồi nhất định đang hình thành cho hệ mặt trời kế tiếp.

Who will they be? These first ray monads will be transferred there, and there they will have their true expression. One thinks of the first and fifth ray together as having to do with the liberation of atomic energy. When you look at the atomic bomb and so forth, it seemed to come out of the first ray ashram, but the fifth ray was very much involved in it.

Các Ngài sẽ là những ai? Những chân thần cung một này sẽ chuyển dịch đến đó, và tại đó Các Ngài sẽ có được sự biểu hiện đích thực. Người ta nghĩ đến cung một và cung năm cùng liên quan đến sự giải phóng năng lượng nguyên tử. Khi xem xét bom nguyên tử và những thứ tương tự, dường như nó xuất phát từ ashram cung một, nhưng cung năm cũng tham gia rất sâu vào đó.

This mastery of energy,

Sự làm chủ năng lượng này,

I mastered energy for I am energy itself. (EP I, tr. 417)

Tôi đã làm chủ năng lượng vì Tôi chính là năng lượng. (EP I, tr. 417)

The mastery of energy is what liberates these members of the human family. Liberated through the mastery of energy.

Chính sự làm chủ năng lượng giải thoát những thành viên này của gia đình nhân loại. Giải thoát qua sự làm chủ năng lượng.

I mastered energy for I am energy itself.

Tôi đã làm chủ năng lượng vì Tôi chính là năng lượng.

The Master and the mastered are but One. (EP I, tr. 417)

Chân sư và đối tượng được làm chủ chỉ là Một. (EP I, tr. 417)

This fits very well, of course, with that whole idea of, as we've been seeing, force energy action, the occultist. We're also told that the fifth ray types are the true occultists, and here, Master DK says of the first ray types that they are the occultist.

Dĩ nhiên, điều này rất phù hợp với toàn bộ ý tưởng mà chúng ta đã xem xét: mãnh lực, năng lượng, hành động, nhà huyền bí học. Chúng ta cũng được cho biết rằng những người thuộc cung năm là những nhà huyền bí học đích thực, và ở đây Chân sư DK nói rằng những người thuộc cung một là nhà huyền bí học.

There's a very close connection between the fifth and the first ray, and through the mastery of energy, and not so much through consciousness, the first ray type, which will be a nucleus in the next solar system, can be liberated and prepared for that. The mastery of energy. There are some fifth ray people I know, when they hear that mantra, I mastered energy for I am energy itself. The Master and the mastered are but One., they're very happy.

Có một mối liên hệ rất mật thiết giữa cung năm và cung một, và qua sự làm chủ năng lượng, hơn là qua tâm thức, người thuộc cung một—sẽ là một hạt nhân trong hệ mặt trời kế tiếp—có thể được giải thoát và chuẩn bị cho điều ấy. Sự làm chủ năng lượng. Tôi biết một số người thuộc cung năm rất vui khi nghe câu mantram ấy, Tôi đã làm chủ năng lượng vì Tôi chính là năng lượng. Chân sư và đối tượng được làm chủ chỉ là Một., họ rất vui.

They have heard that mantra. It has a great sense of power. Well, these are, we're into very abstruse matters, and I'm sure you agree that in terms of the abstractions which he is laboriously formulating here, in the best words he can choose, this is the book for that.

Họ đã nghe câu mantram ấy. Nó mang một cảm nhận quyền năng rất lớn. Chúng ta đang đi vào những vấn đề hết sức thâm áo, và tôi chắc các bạn đồng ý rằng, xét đến những điều trừu tượng mà Ngài đang nhọc công diễn đạt ở đây bằng những từ ngữ tốt nhất Ngài có thể lựa chọn, đây chính là cuốn sách dành cho những điều ấy.

Of course it makes it difficult for me and maybe for some others to really comment or explain or give relevant associations. So this is very much like, the highest expression is very much like the first ray, and interestingly enough, the first ray is associated with death too. But its highest expression is initiation, but I've tried to explain that initiation is death to former ignorance, death to former ignorance.

Dĩ nhiên, điều đó khiến tôi, và có lẽ cả một số người khác, khó thực sự bình luận, giải thích hay đưa ra những liên hệ thích hợp. Vì vậy, biểu hiện cao nhất này rất giống với cung một; và khá thú vị là cung một cũng gắn liền với cái chết. Nhưng biểu hiện cao nhất của nó là điểm đạo, và tôi đã cố gắng giải thích rằng điểm đạo là cái chết đối với sự vô minh trước kia, cái chết đối với sự vô minh trước kia.

[14] RAY VI.—The energy of Devotion or of Idealism.

[14] CUNG VI.—Năng lượng của Sùng Tín hay của Chủ Nghĩa Lý Tưởng.

Such a different slant on these things. It's not about consciousness, it's about force, action, energy.

Một góc nhìn thật khác về những điều này. Ở đây đang bàn về mãnh lực, hành động, năng lượng, chứ không phải tâm thức.

[15] This is the will which embodies God’s idea.

[15] Đây là ý chí hiện thân cho ý tưởng của Thượng đế.

It embodies it, and God's idea is part of the purpose, or maybe responsible for the purpose.

Nó hiện thân ý tưởng ấy, và ý tưởng của Thượng đế là một phần của mục đích, hoặc có lẽ là điều làm nảy sinh mục đích.

[16] It provides the motive power behind the working out of whatever may be the purpose of creation.

[16] Ý chí này cung cấp động lực đứng sau việc thực hiện mục đích của sự sáng tạo, bất kể mục đích ấy là gì.

Sure enough, the motive power, a keen, keen desire and motive power, identical here.

Quả vậy, động lực—một dục vọng mãnh liệt, rất mãnh liệt, và động lực—ở đây là một.

[17] What that purpose is we have not as yet the faintest idea.

[17] Chúng ta vẫn chưa có chút ý niệm nào về mục đích ấy.

We're still speaking of the Planetary Logos.

Chúng ta vẫn đang nói về Hành Tinh Thượng đế.

[18] An ideal is related to the consciousness aspect as far as human beings are concerned. An idea is related to the will aspect.

[18] Đối với con người, một lý tưởng liên hệ với phương diện tâm thức. Một ý tưởng liên hệ với phương diện ý chí.

An idea is a great formative power. Idea is a great formative power.

Ý tưởng là một quyền năng tạo hình vĩ đại. Ý tưởng là một quyền năng tạo hình vĩ đại.

We're told that, what is it, nothing is so strong as an idea whose time has come. This links it with the inevitability and thus with the power of the first ray. So the idea of the idea, or the idea can be linked to the first ray.

Chúng ta được cho biết rằng không gì mạnh bằng một ý tưởng khi thời điểm của nó đã đến. Điều này liên kết nó với tính tất yếu, và do đó với quyền năng của cung một. Vì vậy, quan niệm về ý tưởng, hay chính ý tưởng, có thể liên kết với cung một.

The inevitability of the idea connects with the invincibility of the first ray, and we know that there is much connection between the sixth ray and the first ray, just as there is in a different way between the fifth ray and the first ray.

Tính tất yếu của ý tưởng liên hệ với tính bất khả chiến bại của cung một, và chúng ta biết rằng có nhiều mối liên hệ giữa cung sáu và cung một, cũng như giữa cung năm và cung một, dù theo một cách khác.

[19] This ray embodies a dominant potency.

[19] Cung này hiện thân cho một quyền năng chi phối.

Today at least, and still has, as I recall, some 21,000 years to run in one of its larger cycles.

Ít nhất là ngày nay, và theo tôi nhớ, nó vẫn còn khoảng 21.000 năm nữa trong một chu kỳ lớn của nó.

[20] It expresses God’s desire and is the basic energy emanating from the cosmic astral plane.

[20] Nó biểu lộ dục vọng của Thượng đế và là năng lượng căn bản phát xạ từ cõi cảm dục vũ trụ.

If from the cosmic astral plane, it will then be related to the will to fulfilment, through which I propose Sirius, Leo and Jupiter, and at least which involves Leo and the astral permanent atom that Leo rules systemically. It's an energy arising in the desire body of the Planetary Logos.

Nếu xuất phát từ cõi cảm dục vũ trụ, nó sẽ liên hệ với ý chí thành tựu; về điều này, tôi đề xuất mối liên hệ với Sirius, Sư Tử và Sao Mộc, và ít nhất cũng có liên quan đến Sư Tử cùng nguyên tử trường tồn cảm dục mà Sư Tử cai quản trong hệ mặt trời. Đó là một năng lượng phát sinh trong thể dục vọng của Hành Tinh Thượng đế.

[21] It conceals the mystery which is to be found in the relationship of the will and desire.

[21] Nó che giấu bí nhiệm nằm trong mối quan hệ giữa ý chí và dục vọng.

This sixth ray type of will conceals this relationship.

Loại ý chí cung sáu này che giấu mối quan hệ ấy.

[22] Desire is related to consciousness. Will is not.

[22] Dục vọng liên hệ với tâm thức. Ý chí thì không.

There we have a great statement. One feels sentiently one's incompleteness, and there is a magnetic energy going forth which seeks to solve that incompleteness.

Ở đây chúng ta có một phát biểu lớn lao. Qua cảm nhận, con người nhận biết sự chưa trọn vẹn của mình, và một năng lượng từ tính phóng ra, tìm cách khắc phục sự chưa trọn vẹn ấy.

But there is no real incompleteness and will knows that. So will, well, there is a will to fulfillment, of course, but the will operates from the center of being, which is never incomplete. Being can never be incomplete.

Nhưng thực sự không có sự chưa trọn vẹn nào, và ý chí biết điều ấy. Dĩ nhiên có một ý chí thành tựu, nhưng ý chí vận hành từ trung tâm của bản thể, vốn không bao giờ thiếu sự trọn vẹn. Bản thể không bao giờ có thể thiếu sự trọn vẹn.

Being is what it is forever. But desire is the relationship of the fragment to the whole and the sensing of the overpowering nature of the whole in relation to the fragment, and it is the desire, the desire is related to the movement which seeks wholeness.

Bản thể mãi mãi là chính nó. Nhưng dục vọng là mối quan hệ giữa mảnh nhỏ với toàn thể và là sự cảm nhận bản chất áp đảo của toàn thể trong tương quan với mảnh nhỏ; dục vọng liên hệ với sự chuyển động tìm kiếm tính toàn vẹn.

He is related to the movement which seeks wholeness. Will is already established in that which does not change and which is whole. But still more pondering is needed here.

Nó liên hệ với sự chuyển động tìm kiếm tính toàn vẹn. Ý chí đã an lập trong điều bất biến và toàn vẹn. Nhưng ở đây vẫn cần suy ngẫm thêm.

Desire is related to consciousness. When do you desire? Well, when you become sentiently aware. When do you will? Will is a different factor here altogether.

Dục vọng liên hệ với tâm thức. Khi nào con người có dục vọng? Khi con người nhận biết qua cảm nhận. Khi nào con người vận dụng ý chí? Ở đây, ý chí là một yếu tố hoàn toàn khác.

But more pondering. It's such a terse statement. Will is not related to consciousness.

Nhưng cần suy ngẫm thêm. Thật là một phát biểu cô đọng. Ý chí không liên hệ với tâm thức.

Will is insensitive in that respect, brooking no interference. See, the definition of will, I wish I could find that immediately. The whole idea is it's a relentless movement which sees the objective and sees nought else and deflects nought else, and is insensitive to anything that may impinge upon it other than it totally concentrated upon the realization of that which is intended.

Về phương diện ấy, ý chí không nhạy cảm, không dung thứ bất kỳ sự can thiệp nào. Về định nghĩa ý chí, tôi ước mình có thể tìm ra ngay. Toàn bộ ý tưởng là: đó là một sự chuyển động không ngừng nghỉ, chỉ thấy mục tiêu mà không thấy gì khác và không để điều gì khác làm chệch hướng; nó không nhạy cảm với bất cứ điều gì có thể tác động đến nó, mà hoàn toàn tập trung vào việc thực hiện điều đã định.

[23] We are not, however, dealing with consciousness but with that impersonal force which drives forward through all the seven planes of our solar system

[23] Tuy nhiên, chúng ta đang bàn đến mãnh lực vô ngã thúc đẩy xuyên suốt cả bảy cõi của hệ mặt trời chúng ta, chứ không bàn đến tâm thức,

You see, it's force again.

Các bạn thấy đó, lại là mãnh lực.

[24] and which makes the idea of God a consummated fact in the Eternal Now.

[24] và mãnh lực ấy biến ý tưởng của Thượng đế thành một sự kiện đã hoàn tất trong Hiện Tại Vĩnh Cửu.

In a way, the one who perceives only purpose does not perceive process.

Theo một nghĩa nào đó, người chỉ nhận thức mục đích thì không nhận thức tiến trình.

The One who sees purpose does not perceive process. Plan, however, is related to process. Purpose is the sustainment of that which is in the beginning to the end, and Plan is full of mutation.

Đấng thấy mục đích thì không nhận thức tiến trình. Tuy nhiên, Thiên Cơ liên hệ với tiến trình. Mục đích là sự duy trì điều vốn có từ khởi đầu cho đến tận cùng, còn Thiên Cơ thì đầy những biến đổi.

This is quite a statement. This type of will in relation to the sixth ray, which I suppose is the will to cause, is that impersonal force which drives forward through all the seven planes of our solar system. Seems to have much of the sixth ray in it, but it's driving down. It's a desire from the cosmic astral plane to render an idea manifest, and which makes the idea of God a consummated fact in the Eternal Now. It also makes the idea of God a factor, I suppose, on the outer planes as well.

Đây là một phát biểu đáng chú ý. Loại ý chí liên hệ với cung sáu này, mà tôi cho là ý chí tạo nhân, chính là mãnh lực vô ngã thúc đẩy tiến tới xuyên qua cả bảy cõi của hệ mặt trời chúng ta. Dường như nó mang nhiều đặc điểm của cung sáu, nhưng nó thúc đẩy đi xuống. Đó là dục vọng từ cõi cảm dục vũ trụ nhằm làm cho một ý tưởng biểu hiện, và làm cho ý tưởng của Thượng đế trở thành một sự kiện đã thành tựu trong Hiện Tại Vĩnh Cửu. Tôi cho rằng nó cũng làm cho ý tưởng của Thượng đế trở thành một yếu tố trên các cõi bên ngoài.

But that needs more pondering, indeed, more pondering. So it has nothing to do with the desire to be completed in some way. It originates from the desire of God, which we call the Will of God, the desire is on the cosmic astral plane, and it is going to, through this desire, there will be a kind of fulfillment of that idea appropriate to every one of the planes.

Nhưng điều ấy cần được suy ngẫm thêm, quả thực cần suy ngẫm thêm. Vì vậy, nó không liên quan đến dục vọng muốn được hoàn thiện theo một cách nào đó. Nó bắt nguồn từ dục vọng của Thượng đế, mà chúng ta gọi là Ý Chí của Thượng Đế; dục vọng ấy ở trên cõi cảm dục vũ trụ, và qua dục vọng này, ý tưởng ấy sẽ đạt đến một dạng thành tựu thích hợp với từng cõi.

But a consummated fact in the Eternal Now, well, the idea is always in the Eternal Now, it does not change. Whatever does not change is in the Eternal Now. If we could prove that nothing ever changes, all would be the Eternal Now.

Nhưng một sự kiện đã thành tựu trong Hiện Tại Vĩnh Cửu—ý tưởng luôn ở trong Hiện Tại Vĩnh Cửu, nó không thay đổi. Bất cứ điều gì không thay đổi đều ở trong Hiện Tại Vĩnh Cửu. Nếu có thể chứng minh rằng không có gì từng thay đổi, thì tất cả sẽ là Hiện Tại Vĩnh Cửu.

If we could prove that there is no change, and I think Zeno and Parmenides tried to do this, there is no change, then all would be perceived in the Eternal Now.

Nếu có thể chứng minh rằng không có sự thay đổi, và tôi nghĩ Zeno cùng Parmenides đã cố gắng làm điều này—rằng không có sự thay đổi—thì tất cả sẽ được nhận thức trong Hiện Tại Vĩnh Cửu.

[25] Does that statement mean much to you?

[25] Phát biểu ấy có nhiều ý nghĩa đối với các bạn không?

Probably not.

Có lẽ là không.

[26] I would surmise that it means but little; it is a basic statement of occult fact anent energy as it expresses itself through humanity in a manner which is unique and peculiar.

[26] Tôi cho rằng nó chỉ có rất ít ý nghĩa; đó là một phát biểu căn bản về sự kiện huyền bí liên quan đến năng lượng khi năng lượng ấy biểu lộ qua nhân loại theo một cách độc đáo và đặc thù.

Does one not get the sense that DK has really—I can't say that he's talking down to us. It's not exactly that, But he's talking in a language which usually is calculated to induce understanding in the student. But when the hope of understanding has vanished, as it seems to have vanished in relation to these willed paragraphs, he tries to formulate these things in a truer sense, and then you really, then you really see his mind fly.

Có phải chúng ta cảm thấy rằng Chân sư DK thực sự đã—tôi không thể nói rằng Ngài đang nói với chúng ta bằng giọng bề trên. Không hẳn như vậy. Nhưng Ngài đang nói bằng một ngôn ngữ thường được lựa chọn để giúp đạo sinh thấu hiểu. Tuy nhiên, khi hy vọng thấu hiểu đã biến mất, như dường như đã biến mất đối với những đoạn văn về ý chí này, Ngài cố gắng diễn đạt những điều ấy theo một ý nghĩa chân thực hơn, và bấy giờ các bạn thực sự thấy thể trí Ngài bay bổng.

He's not limited by our understanding, which is rather hopeless. He's simply doing the best he can to express it, and if we can understand it, that's fine, but he doesn't hold out much hope for it.

Ngài không bị giới hạn bởi sự thấu hiểu khá vô vọng của chúng ta. Ngài chỉ đang làm hết sức để diễn đạt điều ấy; nếu chúng ta có thể thấu hiểu thì tốt, nhưng Ngài không đặt nhiều hy vọng vào điều đó.

[27] I would here remind you of a statement in The Secret Doctrine that “an Idea is a Being incorporeal which has no subsistence by itself but gives figure and form unto shapeless matter and becomes the cause of the manifestation.”

[27] Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn về một phát biểu trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng “một Ý Tưởng là một Sinh Mệnh vô hình thể, không tự tồn tại nhưng mang lại đường nét và hình tướng cho vật chất vô định hình và trở thành nguyên nhân của sự biểu hiện.”

There's the hint, right there: an idea as the cause of manifestation. That, I think, is very clear, inasmuch as we're going to deal with a type of will here that is related to it.

Gợi ý nằm ngay ở đó: ý tưởng là nguyên nhân của sự biểu hiện. Tôi nghĩ điều ấy rất rõ ràng, bởi ở đây chúng ta sẽ bàn đến một loại ý chí liên hệ với nó.

[28] This statement takes you straight back to God the Father, to the Monad, to the One.

[28] Phát biểu này đưa các bạn trở lại thẳng với Thượng đế (601) Ngôi Cha, với Chân thần, với Đấng Duy Nhất.

Also related to the six, because it's on the sixth plane from below.

Cũng liên hệ với số sáu, bởi ở trên cõi thứ sáu tính từ dưới lên.

[29] It is related, consequently, to the Will and not to consciousness. Consciousness is per se the recognition of a progressive plan. The Will is the cause, the energising Principle, Life, Being. This is the Will to Causation.

[29] Do đó, nó liên hệ với Ý Chí chứ không phải với tâm thức. Chính tâm thức là sự nhận biết một Thiên Cơ đang dần triển khai. Ý Chí là nguyên nhân, là Nguyên Khí tiếp sinh lực, là Sự Sống, là Bản Thể. Đây là Ý Chí hướng tới việc Tạo Nhân.

That's really clear, isn't it? We have an excellent summation there. I know maybe no one will ever read this, but at least, for the moment for us, it will stand out as larger, the will to causation.

Điều ấy thật rõ ràng, phải vậy không? Ở đây chúng ta có một sự tổng kết xuất sắc. Tôi biết có lẽ sẽ chẳng ai đọc điều này, nhưng ít nhất, vào lúc này, đối với chúng ta, nó sẽ hiện lên nổi bật hơn: ý chí tạo nhân.

Consciousness is per se the recognition of a progressive plan.

Chính tâm thức là sự nhận biết một Thiên Cơ đang tiến triển.

Consciousness has to do with registration, with receptivity.

Tâm thức liên quan đến sự ghi nhận, đến tính tiếp nhận.

Consciousness has to do with registration, has to do with registration, with receptivity. But the will is driving forward and is not stopping to register. It has only the visioned objective in mind.

Tâm thức liên quan đến sự ghi nhận, liên quan đến sự ghi nhận, đến tính tiếp nhận. Nhưng ý chí thúc đẩy tiến tới và không dừng lại để ghi nhận. Nó chỉ hướng đến mục tiêu đã được hình dung.

The particular pattern which must be created. It is impervious to, undeflected by registrations. Will per se is impervious to and undeflected by registrations and by sensitivity.

Mô hình cụ thể phải được tạo ra. Nó không chịu tác động, không chệch hướng vì những ghi nhận. Chính ý chí không chịu tác động và không chệch hướng vì những ghi nhận và tính nhạy cảm.

[EAA-143B-F02] Màn hình nguồn được MDR mở trong phần đối chiếu ý nghĩa Will. — video 00:27:50.

[EAA-143B-F02] Màn hình nguồn được MDR mở trong phần đối chiếu ý nghĩa Ý Chí. — video 00:27:50.

If I can just find that in The Rays and the Initiations, I think maybe I can find it, and then we'll see what I mean. The word is ‘oblivious.’ Oblivious.

Nếu tôi có thể tìm thấy đoạn ấy trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, tôi nghĩ có lẽ mình tìm được, và rồi chúng ta sẽ thấy tôi muốn nói gì. Từ ấy là “không hay biết.” Không hay biết.

Just see in this definition of the will whether there is time for sensitivity and registration.

Hãy xem trong định nghĩa này về ý chí liệu có thời gian dành cho tính nhạy cảm và sự ghi nhận hay không.

I know not how else to express these ideas. It is a blinding conviction

Tôi không biết còn cách nào khác để diễn đạt những ý tưởng này. Đó là một xác tín chói lòa

Right there, registration is dispensed with.

Ngay ở đó, sự ghi nhận đã được gạt bỏ.

of an unalterable will,

về một ý chí bất biến,

This is the Shamballa effect.

Đây là tác động của Shamballa.

Of the unalterable will, we will learn something now.

Giờ đây chúng ta sẽ học được đôi điều về ý chí bất biến ấy.

carrying all before it, oblivious of time and space,

cuốn theo tất cả trên đường tiến của nó, không hay biết đến thời gian và không gian,

I suppose all the impacts from time and space.

Tôi cho rằng đó là mọi tác động từ thời gian và không gian.

aware only of intensity of direction, and carrying with it two major qualifications or basic recognitions to the initiate: a sense of essential being which obliterates all the actions and reactions

chỉ nhận biết cường độ của sự định hướng, và mang theo hai đặc tính chính yếu hay hai nhận biết căn bản cho điểm đạo đồ: một cảm thức về bản thể cốt yếu, xóa bỏ mọi hành động và phản ứng

That's what consciousness is based upon, action and reaction.

Đó là nền tảng của tâm thức: hành động và phản ứng.

obliterates all the actions and reactions

xóa bỏ mọi hành động và phản ứng

of time and space, and a focussed will-to-good which is so dynamic in its effect that evil disappears. Evil is after all only an impelling sense of difference, leading inevitably to separative action. (RI, tr. 175–176)

của thời gian và không gian, cùng một Ý Chí-hướng Thiện tập trung, có tác động mãnh liệt đến mức cái ác biến mất. Suy cho cùng, cái ác chỉ là một cảm thức thôi thúc về sự khác biệt, tất yếu dẫn đến hành động chia rẽ. (RI, tr. 175–176)

Evil, the upside-down star, the Law of Cleavage, the fifth ray. We have to be careful with that fifth ray because it can cause, along with the first ray, an impelling sense of difference. But this particular definition, I think, deserves to be carried into our...

Cái ác, ngôi sao đảo ngược, Định luật Phân Ly, cung năm. Chúng ta phải thận trọng với cung năm ấy, bởi cùng với cung một, nó có thể gây ra một cảm thức thôi thúc về sự khác biệt. Nhưng tôi nghĩ định nghĩa cụ thể này xứng đáng được đưa vào phần... của chúng ta.

The Rays and the Initiations, pages 175 and 176. These are imported texts.

Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, trang 175 và 176. Đây là những văn bản được nhập vào.

[30] Today, as regards humanity, its highest expression is idealism, the incentive and cause of human activity.

[30] Ngày nay, đối với nhân loại, biểu hiện cao nhất của ý chí này là chủ nghĩa lý tưởng, động lực và nguyên nhân của hoạt động con người.

Notice how often Master DK is using this term ‘incentive.’

Hãy lưu ý Chân sư DK thường xuyên dùng thuật ngữ “động lực thúc đẩy” đến mức nào.

[EAA-143B-F03] Màn hình Will to Causation và ghi chú về idealism. — video 00:30:40.

[EAA-143B-F03] Màn hình Ý Chí Tạo Nhân và ghi chú về chủ nghĩa lý tưởng. — video 00:30:40.

We get the idea of a great force, the cause, the energizing principle, life, Being, which drives through all the planes and brings what may be an ideal on the cosmic astral plane into the form of an idea on the cosmic physical plane. Because what is an ideal above may take shape as an idea below, if we're talking about the change of cosmic planes.

Chúng ta có được ý niệm về một mãnh lực vĩ đại, nguyên nhân, nguyên khí tiếp năng lượng, sự sống, Bản Thể, thúc đẩy xuyên qua mọi cõi và đưa điều có thể là một lý tưởng trên cõi cảm dục vũ trụ vào hình thức của một ý tưởng trên cõi hồng trần vũ trụ. Bởi điều là lý tưởng ở trên có thể thành hình như một ý tưởng ở dưới, nếu chúng ta đang nói đến sự chuyển đổi giữa các cõi vũ trụ.

that impersonal force which drives forward through all the seven planes

mãnh lực vô ngã thúc đẩy tiến tới xuyên qua cả bảy cõi

You wonder about forward, but forward, downward, forward, whichever way, driving through all the degrees of increasing, lowering of vibration or increasing density. Driving through this lowering of frequency, and which makes the idea, we might say forces the idea of God to become a consummated fact in the Eternal Now.

Các bạn có thể tự hỏi về “tiến tới”, nhưng tiến tới, đi xuống, tiến tới—dù theo hướng nào—vẫn thúc đẩy xuyên qua mọi mức độ mà rung động ngày càng hạ thấp hay mật độ ngày càng gia tăng. Thúc đẩy xuyên qua sự hạ thấp tần số này, và làm cho ý tưởng—có thể nói là buộc ý tưởng của Thượng đế—trở thành một sự kiện đã thành tựu trong Hiện Tại Vĩnh Cửu.

Whatever is on the lower planes is conceived in the Eternal Now. It has to become factual instead of simply in the World of Being. Oh, let's, let's put it like this.

Bất cứ điều gì trên các cõi thấp đều được thai nghén trong Hiện Tại Vĩnh Cửu. Nó phải trở thành sự kiện thực tế thay vì chỉ ở trong Thế Giới Bản Thể. Chúng ta hãy diễn đạt thế này.

That which remains in the World of Being is not factual in the three lower worlds. So, this is a great and driving, impelling cause coming from the cosmic astral plane. All right.

Điều còn ở trong Thế Giới Bản Thể thì chưa phải là sự kiện thực tế trong ba cõi thấp. Vì vậy, đây là một nguyên nhân vĩ đại, thúc đẩy và thôi thúc, đến từ cõi cảm dục vũ trụ.

[31] RAY VII.—This is the energy of Ceremonial Order.

[31] CUNG VII.—Đây là năng lượng của Trật Tự Nghi Lễ.

Magic, ritualistic decency, interesting names.

Huyền thuật, sự đúng mực trong nghi lễ, những tên gọi thú vị.

[32] It is an expression of the will which drives through into outer manifestation;

[32] Đây là một biểu hiện của ý chí thúc đẩy tiến vào sự biểu hiện bên ngoài;

In that respect, it's somewhat like the sixth ray, except maybe the will to cause stops on the lower astral plane, and the desire becomes strong enough at that point to ensure that there will be manifestation.

Về phương diện ấy, nó phần nào giống cung sáu, ngoại trừ việc có lẽ ý chí tạo nhân dừng lại trên cõi cảm dục thấp, và tại điểm ấy dục vọng trở nên đủ mạnh để bảo đảm sự biểu hiện sẽ diễn ra.

[33] it is that which embodies both the periphery and the point at the centre.

[33] đó là điều hiện thân cho cả chu vi lẫn điểm ở trung tâm.

Therefore it is radius will and, in that sense, radiatory will, from the centre to the periphery.

Do đó, nó là ý chí theo bán kính, và theo nghĩa ấy là ý chí bức xạ, từ trung tâm ra chu vi.

[34] It is the will to “ritualistic synthesis,”

[34] Đó là ý chí hướng tới “sự tổng hợp qua nghi lễ,”

What a wonderful description of that which comes together and is realized as being a unity because the rhythms are so well attuned to each other.

Thật là một cách mô tả tuyệt vời về những gì hội tụ lại và được nhận biết là một thể thống nhất, bởi các nhịp điệu hòa điệu với nhau tốt đến thế.

We have here harmonious or well-coordinated rhythms.

Ở đây chúng ta có những nhịp điệu hài hòa hay phối hợp nhịp nhàng.

[35] if I might so word it. It is Necessity which is the prime conditioning factor of the divine nature

[35] nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy. Chính Tính Tất Yếu là yếu tố chủ yếu định hình bản chất thiêng liêng—

The Son of Necessity. It is necessary that the will manifest itself and emerge on the outer plane.

Con của Tính Tất Yếu. Ý chí tất yếu phải biểu hiện và xuất hiện trên cõi bên ngoài.

It is necessary that the will or purpose manifest on the outer plane.

Ý chí hay mục đích tất yếu phải biểu hiện trên cõi bên ngoài.

[36] the necessity to express itself;

[36] sự tất yếu phải tự biểu lộ;

What we're saying here is that the will must be expressed.

Điều chúng ta đang nói ở đây là ý chí phải được biểu đạt.

The will or purpose of God must be expressed through and through.

Ý chí hay mục đích của Thượng đế phải được biểu đạt xuyên suốt.

[37] the necessity to manifest in an orderly rhythmic manner;

[37] sự tất yếu phải biểu hiện một cách có trật tự và nhịp điệu;

We would say just as the archetype is, because the archetype is a coherent, harmonious form in which the parts are rhythmically coordinated. It is sustained by the thought of God.

Chúng ta sẽ nói rằng phải đúng như nguyên mẫu, bởi nguyên mẫu là một hình tướng mạch lạc, hài hòa, trong đó các phần phối hợp với nhau theo nhịp điệu. Tư tưởng của Thượng đế duy trì hình tướng ấy.

It is a sustained thought of God, a sustained thought of whatever creator, a sustained thought of whatever creator.

Đó là một tư tưởng được duy trì của Thượng đế, một tư tưởng được duy trì của bất kỳ đấng sáng tạo nào, một tư tưởng được duy trì của bất kỳ đấng sáng tạo nào.

[38] the necessity to embrace “that which is above and that which is below” and, through the medium of this activity, to produce beauty, order, perfect wholes and right relationships.

[38] sự tất yếu phải bao hàm “điều ở trên và điều ở dưới” và, thông qua hoạt động này, tạo ra vẻ đẹp, trật tự, những tổng thể hoàn hảo và những mối quan hệ đúng đắn.

There's a lot of perfection in this, even though that's related to the fourth ray.

Có rất nhiều tính hoàn hảo trong điều này, dù tính hoàn hảo liên hệ với cung bốn.

Perfection is a fourth ray concept, but at the same time it is much associated with the seventh ray.

Tính hoàn hảo là một khái niệm thuộc cung bốn, nhưng đồng thời cũng gắn liền mật thiết với cung bảy.

[39] It is the driving energy which Being emanates as It appears and takes form and lives. It is the Will towards Expression.

[39] Đó là năng lượng thúc đẩy mà Sinh Mệnh phát xạ khi biểu hiện, khoác lấy hình tướng và sống. Đó là Ý Chí hướng tới Biểu Lộ.

There are so many statements here which give a clear idea of these abstruse forms of the will. They have to be read and reread, and so often the word ‘driving’ is used. Even the seventh ray type of will, a driving energy which Being, the life, emanates as it appears.

Ở đây có rất nhiều phát biểu đem lại một ý niệm rõ ràng về những dạng ý chí thâm áo này. Cần đọc đi đọc lại chúng, và từ “thúc đẩy” xuất hiện rất thường xuyên. Ngay cả loại ý chí cung bảy cũng là một năng lượng thúc đẩy mà Bản Thể, sự sống, phát xạ khi xuất hiện.

Being descends to manifest, we are told, and takes form and lives. Let's see, when we go back up here to the sixth ray, the word, see the idea of driving forward through space is so strong. Here's the word drives again in relation to the sixth ray, driving forward through space.

Chúng ta được cho biết rằng Bản Thể giáng xuống để biểu hiện, khoác lấy hình tướng và sống. Hãy xem, khi quay lại phần cung sáu ở trên, ý tưởng về sự thúc đẩy tiến tới xuyên qua không gian hiện lên rất mạnh mẽ. Đây, từ “thúc đẩy” lại xuất hiện trong mối liên hệ với cung sáu, thúc đẩy tiến tới xuyên qua không gian.

The will is progressive, the will is deflective, the will does not stop to receive, the will moves from its center to the realization of the objective, and here this type of will is a magical will carrying the idea of God right out onto the outer plane. The incentive is there with the sixth ray, but the force which penetrates to the outer plane is this seventh type of will. This is the will force which penetrates to the outer plane.

Ý chí luôn tiến tới, ý chí làm chuyển hướng, ý chí không dừng lại để tiếp nhận, ý chí chuyển động từ trung tâm của nó đến việc hiện thực hóa mục tiêu; và ở đây, loại ý chí này là một ý chí huyền thuật, đưa ý tưởng của Thượng đế ra tận cõi bên ngoài. Động lực thúc đẩy hiện diện nơi cung sáu, nhưng mãnh lực xuyên thấu đến cõi bên ngoài chính là loại ý chí thứ bảy này. Đây là mãnh lực ý chí xuyên thấu đến cõi bên ngoài.

[40] Today, as regards humanity, its highest expression is organisation.

[40] Ngày nay, đối với nhân loại, biểu hiện cao nhất của ý chí này là tổ chức.

A perfect replication of the idea, rhythmically enacted so that it really reflects the idea which is the archetype. We have ideas which have to be realized on the outer plane, and the idea that we want to see manifested is, in a sense, the archetype. It's not a true archetype in the mind of God, but for us it's an archetype.

Một sự tái hiện hoàn hảo ý tưởng, được thực hiện theo nhịp điệu để thực sự phản ánh ý tưởng vốn là nguyên mẫu. Chúng ta có những ý tưởng cần được hiện thực hóa trên cõi bên ngoài, và theo một nghĩa nào đó, ý tưởng mà chúng ta muốn thấy biểu hiện chính là nguyên mẫu. Đó không phải là một nguyên mẫu đích thực trong Trí của Thượng đế, nhưng đối với chúng ta, đó là một nguyên mẫu.

[41] In the above statements anent the rays, you can see that the full circle of their activity is complete from the angle of God the Father;

[41] Trong những phát biểu trên về các cung, các bạn có thể thấy rằng toàn bộ chu kỳ hoạt động của chúng đã hoàn tất xét từ góc độ của Thượng đế Ngôi Cha;

The driving forces which create purposeful arrangements. These types of will are the driving forces which create purposeful arrangements which are the reflections of archetypes sustained by the mind of God in the World of Being.

Những mãnh lực thúc đẩy tạo nên các sự sắp xếp có mục đích. Những loại ý chí này là các mãnh lực thúc đẩy tạo nên những sự sắp xếp có mục đích, phản ánh các nguyên mẫu mà Trí của Thượng đế duy trì trong Thế Giới Bản Thể.

In the above statements anent the rays, you can see that the full circle of their activity is complete from the angle of God the Father;

Trong những phát biểu trên về các cung, các bạn có thể thấy rằng toàn bộ chu trình hoạt động của chúng đã hoàn tất khi xét từ góc độ Thượng đế Ngôi Cha;

That which purpose demands is actuated by seven aspects of will. That which purpose demands is actuated by these seven types of will, the driving force which creates right arrangement.

Bảy phương diện của ý chí đưa những gì mục đích đòi hỏi vào hoạt động. Bảy loại ý chí này đưa những gì mục đích đòi hỏi vào hoạt động; đó là mãnh lực thúc đẩy tạo nên sự sắp xếp đúng đắn.

The driving force which creates, let's make it purposeful relationship, or arrangement. Seven types of impulsion toward a fixed pattern.

Mãnh lực thúc đẩy tạo nên—hãy gọi đó là mối quan hệ có mục đích, hay sự sắp xếp có mục đích. Bảy loại xung lực hướng tới một mô hình cố định.

Seven types of impulsion towards a fixed pattern. From the angle of God,

Bảy loại xung lực hướng tới một mô hình cố định. Từ góc độ của Thượng đế,

[42] the will to initiate manifestation and its attendant progressive expression meets the will towards full achievement

[42] ý chí khởi phát sự biểu hiện và sự biểu lộ tiến triển đi kèm gặp gỡ ý chí hướng tới thành tựu trọn vẹn

That's the Ray 1 type, the will to initiate manifestation. I think this is Ray 1 type of will, the will to initiate, and its attendant progressive expression meets the will towards full achievement.

Đó là loại ý chí cung một, ý chí khởi xướng sự biểu hiện. Tôi nghĩ đây là loại ý chí cung một, ý chí khởi xướng; và sự biểu lộ ngày càng phát triển đi kèm gặp gỡ ý chí hướng tới sự thành tựu trọn vẹn.

[43] and the energy of Being itself arrives—in time and space today (in the mind of God) at full consummation.

[43] và năng lượng của chính Bản Thể đạt đến—trong thời gian và không gian hiện nay (trong Trí của Thượng đế)—sự hoàn tất trọn vẹn.

At least the mind of God perceives the fullness of the consummation, even though we with our limited perception do not perceive in the Eternal Now. Ideas exist in the Eternal Now, but their actuation on the lower planes may be subject to the processes of time.

Ít nhất, Trí của Thượng đế nhận thức được sự viên mãn trọn vẹn, mặc dù với nhận thức hạn hẹp của mình, chúng ta không nhận thức trong Hiện Tại Vĩnh Cửu. Các ý tưởng tồn tại trong Hiện Tại Vĩnh Cửu, nhưng việc đưa chúng vào hoạt động trên các cõi thấp có thể chịu sự chi phối của những tiến trình thời gian.

Wow, we have taken an abstract trip here, haven't we? And of course it makes me think, goodness, is it not necessary to ponder, ponder, ponder, ponder on this relatively short section which seems like just another listing of the rays until you begin to read it and discover that the listing is given in an entirely different mode. Extraordinary, and it takes the kind of an antahkaranic approach, kind of an abstracted approach where these ideas are realities, are touching a world in which ideas are realities, to come to any realization of what he's talking about.

Chúng ta vừa trải qua một hành trình trừu tượng, phải không? Và dĩ nhiên, điều đó khiến tôi nghĩ: thật vậy, chẳng phải cần suy ngẫm, suy ngẫm, suy ngẫm, suy ngẫm về phần tương đối ngắn này sao? Thoạt nhìn, nó dường như chỉ là một bản liệt kê nữa về các cung, cho đến khi các bạn bắt đầu đọc và khám phá rằng bản liệt kê ấy được trình bày theo một cách hoàn toàn khác. Thật phi thường, và phải có một cách tiếp cận thông qua antahkarana, một cách tiếp cận trừu tượng, trong đó những ý tưởng này là các thực tại, tiếp xúc với một thế giới nơi các ý tưởng là thực tại, thì mới có thể phần nào nhận ra điều Ngài đang nói.

He's talking about the cosmic ethers and that which brings the structures of the cosmic ethers into full expression in the mosaic worlds. Upon the cosmic ethers are the standing waves we call purpose and archetypes, sustained by the thoughtful attention of whatever creator may be concerned. Even we little human creators, we know that if we don't keep the original plan in mind or the original purpose in mind that everything is going to deviate when it comes to manifesting that purpose or that pattern.

Ngài đang nói về các dĩ thái vũ trụ và điều đưa những cấu trúc của các dĩ thái vũ trụ đến sự biểu lộ trọn vẹn trong các thế giới khảm ghép. Trên các dĩ thái vũ trụ là những sóng dừng mà chúng ta gọi là mục đích và nguyên mẫu, được duy trì nhờ sự chú tâm đầy suy tưởng của đấng sáng tạo hữu quan, bất kể đó là ai. Ngay cả chúng ta, những người sáng tạo nhỏ bé thuộc nhân loại, cũng biết rằng nếu không ghi nhớ kế hoạch ban đầu hoặc mục đích ban đầu, thì mọi thứ sẽ chệch hướng khi biểu hiện mục đích hay mô hình ấy.

The idea of purpose and pattern are inseparable to me. All that towards which purpose tends is the realization of a pattern or the actualization of a pattern. Well, when you're confronted with this kind of material, you say, well, how much farther can you go? Really? I mean, DK is laying out things that are, that he does not expect will be easily apprehended.

Đối với tôi, ý niệm về mục đích và mô hình không thể tách rời nhau. Tất cả những gì mục đích hướng tới đều là sự hiện thực hóa một mô hình hay việc đưa một mô hình thành hiện thực. Khi đối diện với loại tài liệu này, người ta tự hỏi: thật sự còn có thể đi xa hơn đến đâu nữa? Ý tôi là Chân sư DK đang trình bày những điều mà Ngài không trông đợi chúng ta sẽ dễ dàng lĩnh hội.