Trích nội dung chương
[43] I would remind you here that sustained effort is the seed of synthesis, the cause of achievement and that which finally overcomes death. [43] Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng nỗ lực bền bỉ là hạt giống của sự tổng hợp, là nguyên nhân của thành tựu và là điều cuối cùng vượt thắng sự chết.
All initiates must and eventually do express dynamic, creative will,
Tất cả các điểm đạo đồ đều phải biểu lộ, và cuối cùng thực sự biểu lộ, ý chí năng động, sáng tạo,
Which I think correlates with Aries,
Điều mà tôi nghĩ có sự tương quan với Bạch Dương,
a focussed purpose
một mục đích tập trung
Again, with Aries,
Một lần nữa, với Bạch Dương,
which expresses only the will-to-good
chỉ biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện
Our expression, the will to express, is only the Will-to-good.
Sự biểu lộ của chúng ta, ý chí biểu lộ, chỉ là Ý Chí-hướng Thiện.
Let's put it like this: the will to express works out only in the expression of the Will-to-good.
Chúng ta hãy diễn đạt thế này: ý chí biểu lộ chỉ được thực thi qua sự biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện.
[43] I would remind you here that sustained effort is the seed of synthesis, the cause of achievement and that which finally overcomes death.
[43] Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng nỗ lực bền bỉ là hạt giống của sự tổng hợp, là nguyên nhân của thành tựu và là điều cuối cùng vượt thắng sự chết.
This is one of those statements which shows up again and which is so often quoted among the students of the Tibetan.
Đây là một trong những phát biểu xuất hiện trở lại và rất thường được các đạo sinh của Chân sư Tây Tạng trích dẫn.
I would remind you here that sustained effort
Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng nỗ lực bền bỉ
Continuity of effort, as Master Morya says, ‘I give you the joy of endless labor,’
Sự liên tục của nỗ lực, như Chân sư Morya nói: “Tôi ban cho các bạn sự hoan hỉ của công việc không ngừng,”
is the seed of synthesis,
là hạt giống của sự tổng hợp,
I suppose then what it means is discontinuity prevents the realization of synthesis. Discontinuity prevents the realization of synthesis.
Vậy tôi cho rằng điều này hàm ý sự gián đoạn ngăn cản việc chứng nghiệm sự tổng hợp. Sự gián đoạn ngăn cản việc chứng nghiệm sự tổng hợp.
[44] Death is really deterioration in time and space and is due to the tendency of matter-spirit to isolate itself, whilst in manifestation (from the standpoint of consciousness).
[44] Sự chết thực ra là sự suy thoái trong thời gian và không gian, do khuynh hướng tự cô lập của vật chất–tinh thần trong khi biểu hiện (xét từ quan điểm tâm thức).
Disease and death are the result of two active forces.
Bệnh tật và cái chết là kết quả của hai mãnh lực đang hoạt động.
One is the will which says to its instrument, ‘I draw the essence’—it doesn't say that at all, does it? ‘I draw the essence back,’ something like that.
Một là ý chí nói với công cụ của mình: “Ta thu tinh chất”—câu ấy đâu có nói như thế, phải không? “Ta thu hồi tinh chất”, đại loại như vậy.
[EAA-146A-F04] Màn hình nguồn được MDR mở khi bàn về Life và death. — video 00:34:51.
[EAA-146A-F04] Màn hình nguồn được MDR mở khi bàn về sự sống và cái chết. — video 00:34:51.
One is the will of the soul
Một là ý chí của linh hồn,
The other is ‘Return to me.’ I think we can find this, and it correlates very well. They're the result—disease and death are the result of two active forces.
Mãnh lực kia là “Hãy trở về với ta.” Tôi nghĩ chúng ta có thể tìm thấy đoạn này, và nó có sự tương quan rất rõ. Chúng là kết quả—bệnh tật và cái chết là kết quả của hai mãnh lực đang hoạt động.
One is the will of the soul
Một là ý chí của linh hồn,
which says to its instrument: I draw the essence back.
nói với công cụ của mình: Ta thu hồi tinh chất.
That's correct.
Đúng vậy.
The other is the magnetic power of the planetary Life which says to the life within the atomic structure: The hour of reabsorption has arrived. Return to me. Thus, under cyclic law, do all forms act. (EH, tr. 248)
Mãnh lực kia là quyền năng từ tính của sự sống hành tinh, nói với sự sống bên trong cấu trúc nguyên tử: Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta. Như vậy, mọi hình tướng đều hoạt động theo định luật chu kỳ. (EH, tr. 248)
This is the tendency of matter to isolate itself. That's what we're talking about here.
Đây là khuynh hướng tự cô lập của vật chất. Đó là điều chúng ta đang nói đến ở đây.
This is Esoteric Healing, page 248.
Đây là Trị Liệu Huyền Môn, trang 248.
We're trying to understand what disease and death are, and why this disintegration, why the negation of the power to hold. This is what is asked of the First Ray Lord:
Chúng ta đang cố gắng thấu hiểu bệnh tật và cái chết là gì, và vì sao có sự tan rã này, vì sao quyền năng duy trì lại bị phủ định. Đây là điều được hỏi Đấng Chúa Tể Cung một:
Why the negation of the power to hold? Why death, Oh Mighty Son of God? (EP I, tr. 63)
Vì sao quyền năng duy trì lại bị phủ định? Vì sao có cái chết, hỡi Con của Thượng đế Hùng Mạnh? (EP I, tr. 63)
Why this negation? Due to the tendency of matter-spirit to isolate itself whilst in manifestation, from perception of consciousness.
Vì sao có sự phủ định này? Do khuynh hướng của vật chất–tinh thần tự cô lập, trong khi biểu hiện, khỏi sự nhận biết của tâm thức.
If we could always perceive all states of matter simultaneously, where would death be? This isolation of matter, this throwing back the magnetic power of the planetary life, which has the atomic structure be reabsorbed. It pulls away from consciousness and frees consciousness or it cuts its connection with consciousness and the consciousness will no longer perceive it. Nor will it obey the behests of consciousness.
Nếu chúng ta luôn có thể đồng thời nhận biết mọi trạng thái của vật chất, thì cái chết sẽ ở đâu? Sự cô lập này của vật chất, sự khước từ quyền năng từ tính của sự sống hành tinh, vốn khiến cấu trúc nguyên tử được tái hấp thu. Nó rút khỏi tâm thức và giải phóng tâm thức, hoặc cắt đứt mối liên hệ với tâm thức, và tâm thức sẽ không còn nhận biết nó nữa. Nó cũng sẽ không tuân theo những mệnh lệnh của tâm thức.
[45] This sustained effort of the Logos is what keeps all forms in manifestation and preserves even the life aspect as the integrating factor in form building and—which is equally an act of the sustaining will—can abstract or withdraw the life consciousness intact at the close of a cycle of manifestation.
[45] Chính nỗ lực bền bỉ này của Thượng đế giữ cho mọi hình tướng tiếp tục biểu hiện, đồng thời bảo toàn cả phương diện sự sống như nhân tố tích hợp trong việc xây dựng hình tướng; và nỗ lực ấy—cũng là một hành động của ý chí duy trì—có thể trừu xuất hay triệt thoái tâm thức sự sống một cách nguyên vẹn khi một chu kỳ biểu hiện kết thúc.
That's very important, that the life consciousness remain intact.
Điều rất quan trọng là tâm thức sự sống vẫn nguyên vẹn.
All initiates must and eventually do express dynamic, creative will, a focussed purpose which expresses only the will-to-good and also that sustained effort which brings fulfilment.
Mọi điểm đạo đồ đều phải biểu lộ, và cuối cùng quả thực đều biểu lộ, ý chí năng động, sáng tạo, một mục đích tập trung chỉ biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện, cùng với nỗ lực bền bỉ mang lại sự thành tựu.
Three things, all initiates, three things they express, and sustained effort is the seed of synthesis that overcomes death.
Ba điều, mọi điểm đạo đồ đều biểu lộ ba điều, và nỗ lực bền bỉ là hạt giống của sự tổng hợp giúp vượt thắng cái chết.
Death is deterioration in time and space. It's due to the tendency of matter-spirit to isolate itself. Maybe matter from spirit and spirit from matter.
Cái chết là sự suy hoại trong thời gian và không gian. Nó bắt nguồn từ khuynh hướng tự cô lập của vật chất–tinh thần. Có lẽ là vật chất tách khỏi tinh thần và tinh thần tách khỏi vật chất.
Could that be the case? What of consciousness? Matter from spirit-consciousness and spirit from matter-consciousness. This sustained effort of the Logos—I guess I should make these three together. We have dynamic creative will, focused purpose expressing as the Will-to-good and the sustained effort which brings fulfilment.
Liệu có phải như vậy không? Còn tâm thức thì sao? Vật chất tách khỏi tinh thần–tâm thức và tinh thần tách khỏi vật chất–tâm thức. Nỗ lực bền bỉ này của Thượng đế—tôi đoán mình nên đặt cả ba điều này cạnh nhau. Chúng ta có ý chí năng động, sáng tạo, mục đích tập trung biểu lộ thành Ý Chí-hướng Thiện và nỗ lực bền bỉ mang lại sự thành tựu.
Just this deterioration in time and space due to the tendency of matter-spirit to isolate itself, and both especially from consciousness.
Chính sự suy hoại này trong thời gian và không gian là do khuynh hướng tự cô lập của vật chất–tinh thần, và đặc biệt là cả hai đều tách khỏi tâm thức.
This sustained effort of the Logos
Nỗ lực bền bỉ này của Thượng đế
The third factor,
Nhân tố thứ ba,
is what keeps all forms in manifestation and preserves even the life aspect as the integrating factor
chính là điều giữ mọi hình tướng trong trạng thái biểu hiện và bảo tồn ngay cả phương diện sự sống như nhân tố tích hợp
Life aspect, we can call it also the vital aspect,
Phương diện sự sống, chúng ta cũng có thể gọi đó là phương diện sinh lực,
as the integrating factor in form building and—which is equally an act of the sustaining will
như nhân tố tích hợp trong việc xây dựng hình tướng, và—cũng là một hành động của ý chí duy trì
which is equally an act of the sustaining will
cũng là một hành động của ý chí duy trì
can abstract or withdraw the life consciousness intact at the close of a cycle of manifestation.
có thể trừu xuất hoặc triệt thoái tâm thức sự sống nguyên vẹn vào lúc kết thúc một chu kỳ biểu hiện.
[46] Death and limitation are synonymous terms.
[46] Sự chết và sự giới hạn là những thuật ngữ đồng nghĩa.
Once there is omnipresence, omni-anything, death cannot exist because the limitations have been transcended.
Một khi có sự toàn tại, hay sự toàn vẹn về bất cứ phương diện nào, cái chết không thể tồn tại vì những giới hạn đã được vượt qua.
There is the gate of death, and it is a barrier against the consciousnesses of those who here remain in form, and a barrier which cannot be repassed against the consciousness of one who has passed through but one time. You may pass but not repass except under the most extraordinary circumstances.
Có cánh cổng tử vong, và đó là một rào cản đối với tâm thức của những người còn ở lại đây trong hình tướng, đồng thời là một rào cản mà tâm thức của người đã đi qua dù chỉ một lần không thể vượt ngược trở lại. Người ta có thể đi qua nhưng không thể trở lại, trừ những hoàn cảnh hết sức khác thường.
Death and limitation are synonymous terms.
Cái chết và sự giới hạn là những thuật ngữ đồng nghĩa.
[47] When the consciousness is focussed in form and identified entirely with the principle of limitation, it regards freedom from form life as death;
[47] Khi tâm thức tập trung trong hình tướng và hoàn toàn đồng hoá với nguyên khí giới hạn, nó xem sự giải thoát khỏi đời sống hình tướng là sự chết;
It is identified with the vehicle; it thinks that it will not exist if the vehicle does not exist,
Nó đồng hóa với hiện thể; nó nghĩ rằng mình sẽ không tồn tại nếu hiện thể không tồn tại,
[48] but, as evolution proceeds, the consciousness shifts increasingly into awareness of that which is not form and into the realm of that which is transcendent or into the world of the abstract, i.e., into that which is abstracted from form and focussed in itself.
[48] nhưng khi tiến hoá tiếp diễn, tâm thức ngày càng chuyển sang nhận biết những gì không phải hình tướng, và đi vào lĩnh vực của những gì siêu việt, hay vào thế giới trừu tượng, tức là vào những gì được trừu xuất khỏi hình tướng và tập trung trong chính nó.
As evolution proceeds, this happens,
Khi tiến hoá tiếp diễn, điều này xảy ra,
[49] This, by the way is a definition of meditation from the angle of goal and achievement.
[49] Nhân đây, xét từ góc độ mục tiêu và thành tựu, đó là một định nghĩa về tham thiền.
Death and meditation then are going to be equivalent. Death and right meditation.
Vậy cái chết và tham thiền sẽ tương đương nhau. Cái chết và tham thiền đúng đắn.
[50] A man can truly meditate when he begins to use the mind, the reflection of the will aspect, and employs it in its three aspects: as initiating his entrance into the world of souls, as conditioning his personality life and as enforcing and eventually bringing about a full expression of soul purpose.
[50] Một người có thể thực sự tham thiền khi bắt đầu sử dụng thể trí, vốn là phản ánh của phương diện ý chí, và vận dụng nó trong ba phương diện: khởi phát việc y bước vào thế giới linh hồn, định hình đời sống phàm ngã của y, và thúc đẩy, rồi cuối cùng đem lại sự biểu lộ trọn vẹn mục đích của linh hồn.
A man can truly meditate when he begins to use the mind, the reflection of the will aspect, and employs it in its three aspects:
Một người có thể thực sự tham thiền khi y bắt đầu sử dụng thể trí, sự phản chiếu của phương diện ý chí, và vận dụng nó theo ba phương diện:
This is what happens in meditation.
Đây là điều xảy ra trong tham thiền.
as initiating his entrance into the world of souls, as conditioning his personality life
khởi mở lối vào thế giới linh hồn cho y, định hình đời sống phàm ngã của y
That's the second,
Đó là phương diện thứ hai,
and as enforcing and eventually bringing about a full expression of soul purpose.
và thúc đẩy rồi cuối cùng mang lại sự biểu lộ trọn vẹn mục đích của linh hồn.
I suppose through the personality.
Tôi cho rằng điều đó diễn ra qua phàm ngã.
[51] This results in the complete overcoming of death. I am bringing this whole concept down into terms of the microcosm even though it will be obvious that only the pledged disciple in preparation for initiation can begin to grasp some of the significant implications.
[51] Điều này dẫn đến (616) việc hoàn toàn vượt thắng sự chết. Tôi đang diễn đạt toàn bộ khái niệm này bằng những thuật ngữ thuộc tiểu thiên địa, mặc dù rõ ràng chỉ người đệ tử đã cam kết và đang chuẩn bị điểm đạo mới có thể bắt đầu lĩnh hội một số hàm ý sâu xa.
To be initiated is to die to one's limitations of one's former life.
Được điểm đạo là chết đi đối với những giới hạn của cuộc sống trước đây của mình.
The overcoming of death. Even though we're talking about the creative aspect of the will, he seems also to be branching into the other aspects of the will.
Sự vượt thắng cái chết. Dù chúng ta đang nói về phương diện sáng tạo của ý chí, dường như Ngài cũng đang mở rộng sang những phương diện khác của ý chí.
Initiating his entrance into the world of souls. Meditation and death have many things in common. They initiate entrance into the world of souls, and they bring about a recharging, reconditioning of the consciousness, so that eventually, with full expression, the soul purpose may be manifested. That's the purpose of reincarnation.
Khởi mở lối vào thế giới linh hồn cho y. Tham thiền và cái chết có nhiều điểm chung. Chúng khởi mở lối vào thế giới linh hồn, đồng thời mang lại sự tái tiếp năng lượng và tái định hình tâm thức, để cuối cùng mục đích của linh hồn có thể biểu hiện trọn vẹn. Đó là mục đích của sự tái sinh.
Let us say that meditation and death have points in common, and they certainly leave behind limitation. Death transcends limitation.
Tham thiền và cái chết có những điểm chung, và chắc chắn cả hai đều bỏ lại sự giới hạn phía sau. Cái chết vượt qua sự giới hạn.
The consciousness which emerges at death transcends limitation even though those who are dying may not realize this and meditation transcends limitation. Death and right meditation let's just say both transcend limitation.
Tâm thức xuất hiện vào lúc chết vượt qua sự giới hạn, dù những người đang hấp hối có thể không nhận ra điều này; tham thiền cũng vượt qua sự giới hạn. Cái chết và tham thiền đúng đắn đều vượt qua sự giới hạn.
[52] Perhaps I can best sum up the keynote of the first Ray of Will or Power, as it seeks expression as dynamic purpose on Earth and in relation to the human being, by quoting or paraphrasing the Old Commentary.
[52] Có lẽ Tôi có thể tóm lược rõ nhất chủ âm của cung một, cung Ý Chí hay Quyền Năng, khi cung này tìm cách biểu lộ thành mục đích năng động trên Trái Đất và trong mối liên hệ với con người, bằng cách trích dẫn hoặc diễn ý Cổ Luận.
[53] “The Transcendent One, the Life, the Whole, the All
[53] Đấng Siêu Việt, Sự Sống, Toàn Thể, Tất Cả
All equivalent terms.
Tất cả đều là những thuật ngữ tương đương.
Being descends to manifest, we are told. God is.
Chúng ta được dạy rằng Bản Thể giáng xuống để biểu hiện. Thượng đế hiện hữu.
“The Transcendent One, the Life, the Whole, the All
“Đấng Siêu Việt, Sự Sống, Toàn Thể, Tất Cả
[54] entered into communion with Itself and by this act became a vital point of life and focussed power.
[54] đi vào sự giao cảm với chính Mình và qua hành động ấy trở thành một điểm sinh động của sự sống và quyền năng tập trung.
I think what we can see here is that the point appeared, appeared in that which had no point.
Tôi nghĩ điều chúng ta có thể thấy ở đây là điểm ấy đã xuất hiện, xuất hiện trong cái vốn không có điểm nào.
“The Transcendent One, the Life, the Whole, the All
“Đấng Siêu Việt, Sự Sống, Toàn Thể, Tất Cả
I suppose this is intra-universal creation.
Tôi cho rằng đây là sự sáng tạo bên trong vũ trụ.
I don't know if we're speaking about the ultimate becoming of the universe, although the universe is a point, and every point is next to nothing and therefore an ultimate negligibility. But that's the ongoing theme which I have been thinking about, and I always try to find places where this theme has some connection.
Tôi không biết liệu chúng ta có đang nói về sự trở thành tối hậu của vũ trụ hay không, mặc dù vũ trụ là một điểm, và mọi điểm đều gần như không là gì, do đó là một sự nhỏ bé không đáng kể đến mức tối hậu. Nhưng đó là chủ đề xuyên suốt mà tôi vẫn suy ngẫm, và tôi luôn cố tìm những chỗ có mối liên hệ nào đó với chủ đề này.
entered into communion with Itself and by this act became a vital point of life and focussed power.
đã hiệp thông với chính Mình và qua hành động này trở thành một điểm sự sống đầy sinh lực và quyền năng tập trung.
The Universal Logos is a vital point of life and focused power.
Thượng đế Vũ Trụ là một điểm sự sống đầy sinh lực và quyền năng tập trung.
[55] I am and I am not. Greater than This is That; smaller than That is This.
[55] Tôi hiện hữu và Tôi không hiện hữu. Cái Kia lớn hơn Cái Này; Cái Này nhỏ hơn Cái Kia.
So small that I think I'm justified in calling it the ultimate negligibility.
Nhỏ bé đến mức tôi nghĩ mình có cơ sở khi gọi đó là sự nhỏ bé không đáng kể đến mức tối hậu.
[56] But That must show to This the nature of the whole, and showing prove itself unto Itself.
[56] Nhưng Cái Kia phải cho Cái Này thấy bản chất của toàn thể, và qua việc cho thấy ấy, tự chứng tỏ mình với chính Mình.
Which is one of the outer proof of Itself to Itself.
Đó là một trong những bằng chứng bên ngoài mà chính Nó đưa ra cho chính Nó.
A reason for creation. Being descends to manifest.
Một lý do cho sự sáng tạo. Bản Thể giáng xuống để biểu hiện.
I am and I am not.
Ta hiện hữu và Ta không hiện hữu.
Greater than This is That;
Cái Kia lớn lao hơn Cái Này;
This is any particularity. Any particularity.
Cái Này là bất kỳ cái riêng biệt nào. Bất kỳ cái riêng biệt nào.
smaller than That is This.
Cái Này nhỏ bé hơn Cái Kia.
Infinitely small.
Nhỏ bé vô cùng.
But That must show to This the nature of the whole, and showing prove itself unto Itself.
Nhưng Cái Kia phải cho Cái Này thấy bản chất của toàn thể, và qua việc hiển lộ ấy, chứng tỏ chính Mình với chính Mình.
The Itself has to be the That which shows. Strangely enough, that Itself is related to That, and Itself is related to This.
“Chính Mình” phải là Cái Kia đang hiển lộ. Thật lạ là “chính Mình” ấy liên hệ với Cái Kia, và “chính Mình” cũng liên hệ với Cái Này.
But That must show to This the nature of the whole, and showing prove itself unto Itself.
Nhưng Cái Kia phải cho Cái Này thấy bản chất của toàn thể, và qua việc hiển lộ ấy, chứng tỏ chính Mình với chính Mình.
Anyway, what this can mean, in proving Itself unto Itself, is to prove that Itself, This, is in fact Itself, which is That. When we look out and we see the contents of consciousness, we have to somehow find a way to prove that everything we have become is the one thing which became it, and we must absorb every content of consciousness into wholeness which we are.
Dù sao, khi nói đến việc chứng tỏ chính Mình với chính Mình, điều này có thể có nghĩa là chứng tỏ rằng chính Mình ấy, Cái Này, thực ra là chính Mình vốn là Cái Kia. Khi nhìn ra ngoài và thấy những nội dung của tâm thức, bằng cách nào đó chúng ta phải tìm ra cách chứng tỏ rằng mọi điều chúng ta đã trở thành đều là một thực tại duy nhất đã trở thành những điều ấy, và chúng ta phải hấp thu mọi nội dung của tâm thức vào tính toàn thể vốn là chính chúng ta.
showing prove itself unto Itself.
qua việc hiển lộ ấy, chứng tỏ chính Mình với chính Mình.
In other words, for so long, for so long, This is not seen as an emanation of That, and this state of incomplete realization must end.
Nói cách khác, từ rất lâu, rất lâu rồi, Cái Này không được nhìn nhận là một phát xạ của Cái Kia, và trạng thái nhận biết chưa trọn vẹn này phải chấm dứt.
[57] I, the beginning am. I am the outward and the inward Way and back into the point of concentration and from the point I turn again unto Myself, carrying within my heart of love that which I, the One, have served and that for which I sacrifice Myself.”
[57] Tôi là khởi nguyên. Tôi là Đường Đạo hướng ra ngoài và hướng vào trong, rồi trở về điểm tập trung; và từ điểm ấy, Tôi lại quay về với chính Mình, mang trong trái tim bác ái của Tôi những gì mà Tôi, Đấng Duy Nhất, đã phụng sự và những gì mà vì đó Tôi hy sinh chính Mình.”
This is all about the reabsorption of This into That. The outward Way produces This; the inward Way reconfirms That.
Tất cả điều này đều nói về sự tái hấp thu Cái Này vào Cái Kia. Con Đường hướng ngoại tạo ra Cái Này; Con Đường hướng nội tái xác nhận Cái Kia.
This point of concentration which was created when I began to—what does it say?—contemplate Myself.
Điểm tập trung này đã được tạo ra khi Ta bắt đầu—đoạn ấy nói thế nào nhỉ?—chiêm ngưỡng chính Mình.
entered into communion with Itself and by this act became a vital point of life and focussed power.
đã hiệp thông với chính Mình và qua hành động này trở thành một điểm sự sống đầy sinh lực và quyền năng tập trung.
Back into the point of concentration, or back into the vital point of focused power created through the communion of That with Itself.
Trở về điểm tập trung, hay trở về điểm quyền năng tập trung đầy sinh lực đã được tạo ra qua sự hiệp thông của Cái Kia với chính Mình.
back into the point of concentration and from the point I turn again unto Myself, carrying within my heart of love that which I, the One, have served
rồi trở về điểm tập trung; từ điểm ấy, Ta lại quay về với chính Ta, mang trong trái tim bác ái của Ta những gì mà Ta, Đấng Duy Nhất, đã phụng sự
In other words, all the emanations of Myself,
Nói cách khác, mọi phát xạ của chính Ta,
and that for which I sacrifice Myself.”
và những gì mà vì chúng Ta hi sinh chính Mình.”
Capital M. The contents of consciousness which I have become I carry back into My synthesized nature, and I suppose I should be using a word like capital M, My synthesized nature.
Chữ M viết hoa. Những nội dung của tâm thức mà Ta đã trở thành, Ta mang trở về bản chất tổng hợp của Ta, và tôi cho rằng mình nên dùng một từ có chữ M viết hoa, “bản chất tổng hợp của Ta”.
[58] In the process of sacrifice, that which is the sustaining Whole, the inner core of all life and the principle of integration, realises within Itself the following stages in consciousness:
[58] Trong tiến trình hy sinh, Toàn Thể duy trì vạn hữu, cốt lõi bên trong của mọi sự sống và nguyên khí tích hợp, chứng nghiệm trong chính Mình những giai đoạn tâm thức sau đây:
Sacrifice, basically this is what happens: sacrifice returns the many parts unto the whole in full consciousness. Sacrifice is not about being less, as Master Morya says. It's not about becoming less, but about re-becoming more, the very whole.
Về căn bản, đây là điều xảy ra trong sự hi sinh: sự hi sinh đưa nhiều thành phần trở về với toàn thể trong tâm thức trọn vẹn. Như Chân sư Morya nói, hi sinh không phải là trở nên ít hơn. Đó không phải là trở nên ít hơn, mà là trở lại thành nhiều hơn, thành chính toàn thể.
That's what sacrifice is. If we could but realize it, it's a loosening of our consciousness from form. It's the loosening of engagement with limitations.
Hi sinh là như vậy. Giá mà chúng ta có thể nhận ra điều đó: đây là sự nới lỏng mối ràng buộc giữa tâm thức chúng ta với hình tướng. Đây là sự nới lỏng mối gắn kết với những giới hạn.
Sacrifice is the loosening of engagement with limitation and/or with lesser self-perceptions, because that's essentially what all limitation is.
Hi sinh là sự nới lỏng mối gắn kết với sự giới hạn và/hoặc với những nhận thức hạn hẹp hơn về bản thân, vì về căn bản mọi sự giới hạn đều là như vậy.
It's a non-registration of the wholeness of self. It's an act of perception. Limitation is an act of partial perception.
Đó là việc không ghi nhận tính toàn thể của bản ngã. Đó là một hành vi nhận thức. Sự giới hạn là một hành vi nhận thức phiến diện.
[EAA-146A-F05] Ghi chú MDR về sacrifice và sự giới hạn. — video 00:54:41.
[EAA-146A-F05] Ghi chú MDR về sự hi sinh và sự giới hạn. — video 00:54:41.
In the process of sacrifice, that which is the sustaining Whole,
Trong tiến trình hi sinh, Toàn Thể duy trì,
Which every one of us is,
Vốn là chính mỗi người chúng ta,
the inner core of all life
cốt lõi bên trong của mọi sự sống
The core of all life, the heart of all life, which we call the essence of life, which is sometimes called simply life. Yes, sometimes called simply life,
Cốt lõi của mọi sự sống, trái tim của mọi sự sống, điều chúng ta gọi là tinh túy của sự sống, đôi khi chỉ gọi đơn giản là sự sống. Đúng vậy, đôi khi chỉ gọi đơn giản là sự sống,
and the principle of integration, realises within Itself the following stages in consciousness:
và nguyên khí tích hợp, chứng nghiệm trong chính Mình những giai đoạn tâm thức sau đây:
[59] 1. It knows Itself as the transcending will, the will which sees the entire process from the point of initiation,
[59] 1. Toàn Thể biết chính Mình là ý chí siêu việt, ý chí nhìn thấy toàn bộ tiến trình từ thời điểm khởi phát,
Sees the entire purpose from beginning to end,
Nhìn thấy toàn bộ mục đích từ đầu đến cuối,
[60] but which limits itself to the gradual expression of that will
[60] nhưng tự giới hạn mình vào việc dần dần biểu lộ ý chí ấy
In time,
Trong thời gian,
[61] on account of the limitations of those aspects of Itself whose consciousness is not that of the Whole.
[61] do những giới hạn của các phương diện thuộc chính Mình (617) mà tâm thức chưa phải là tâm thức của Toàn Thể.
It knows Itself as the transcending will,
Toàn Thể ấy biết chính Mình là ý chí siêu việt,
In the process of sacrifice, that which is the sustaining Whole,
Trong tiến trình hi sinh, Toàn Thể duy trì,
Which is Being, Being in its undifferentiated wholeness,
Vốn là Bản Thể, Bản Thể trong tính toàn thể chưa biến phân,
the inner core of all life and the principle of integration, realises within Itself the following stages in consciousness:
cốt lõi bên trong của mọi sự sống và nguyên khí tích hợp, chứng nghiệm trong chính Mình những giai đoạn tâm thức sau đây:
These are realizations of stages of consciousness. The great Being, which we are,
Đây là những chứng nghiệm về các giai đoạn tâm thức. Sinh Mệnh vĩ đại vốn là chính chúng ta,
It knows Itself as the transcending will, the will which sees the entire process from the point of initiation, but which limits itself to the gradual expression of that will
Toàn Thể ấy biết chính Mình là ý chí siêu việt, ý chí nhìn thấy toàn bộ tiến trình từ thời điểm khởi phát, nhưng tự giới hạn vào sự biểu lộ dần dần ý chí ấy
In time and through space,
Trong thời gian và xuyên qua không gian,
on account of the limitations of those aspects of Itself whose consciousness is not that of the Whole.
do những giới hạn của các phương diện thuộc chính Mình mà tâm thức chưa phải là tâm thức của Toàn Thể.
This is a voluntary self-limitation for the sake of parts, fragments, unrealized fragments. Voluntary self-limitation for the sake of the, let's call it, fragmented lives.
Đây là sự tự giới hạn tự nguyện vì các thành phần, các mảnh, những mảnh chưa nhận biết. Sự tự giới hạn tự nguyện vì những gì ta có thể gọi là các sự sống phân mảnh.
[62] That which initiates, sees the end from the beginning and works towards the goal in progressive stages,
[62] Đấng khởi phát nhìn thấy kết cuộc ngay từ khởi đầu và hướng đến mục tiêu qua các giai đoạn tiến triển, không vì chính Mình
Not for Itself, because it's already there,
Không phải vì chính Mình, bởi đã ở đó rồi,
[63] but for those aspects which are still limited, unaware, blind and unseeing and unreasoning.
[63] mà vì những phương diện vẫn còn giới hạn, thiếu nhận biết, mù quáng, không thấy và không biết suy xét.
The fullness of Being realizes the aspects of Itself which are in a state of very partial realization of Being.
Sự viên mãn của Bản Thể nhận biết những phương diện của chính Mình đang ở trong trạng thái chứng nghiệm Bản Thể hết sức phiến diện.
The fullness of Being realizes the presence of those aspects of Itself which do not dwell in the fullness of Being.
Sự viên mãn của Bản Thể nhận biết sự hiện diện của những phương diện thuộc chính Mình chưa an trú trong sự viên mãn của Bản Thể.
for those aspects which are still limited, unaware, blind and unseeing and unreasoning.
vì những phương diện vẫn còn giới hạn, chưa nhận biết, mù lòa, không thấy và không suy xét.
This great Life, it's what it is.
Sự Sống vĩ đại này, chính là như vậy.
Being knows Itself as,
Bản Thể biết chính Mình là,
[64] 2. It knows Itself as the transmitting will,
[64] 2. Toàn Thể biết chính Mình là ý chí truyền tải,
This is in the place of the constellations,
Điều này ở vị trí của các chòm sao,
[65] working from the point of synthesis, stepping down the energies distributed, in line with the creative, evolutionary plan.
[65] hoạt động từ điểm tổng hợp, hạ giảm các năng lượng được phân phối cho phù hợp với Thiên Cơ sáng tạo và tiến hoá.
Form, under the third ray, must limit the full possibilities expressed above.
Dưới tác động của cung ba, hình tướng phải giới hạn những khả năng trọn vẹn đã được trình bày ở trên.
Form is always a limitation.
Hình tướng luôn là một sự giới hạn.
[66] This, the Life of our planet, carried forward in three major stages, particularly from the consciousness angle; that is via Shamballa, the Hierarchy and Humanity.
[66] Sự Sống của hành tinh chúng ta đã thực hiện điều này qua ba giai đoạn chính, đặc biệt xét từ góc độ tâm thức; tức là thông qua Shamballa, Thánh đoàn và Nhân Loại.
There was a stepping-down process, the life of our planet, a stepped-down nature of Being, in three phases. Before us are the phases Shamballa, Hierarchy, Humanity, a descent from the head to the heart to the ajna or the throat,
Đã có một tiến trình hạ giảm, sự sống của hành tinh chúng ta, một bản chất của Bản Thể đã được hạ giảm, qua ba giai đoạn. Trước mắt chúng ta là các giai đoạn Shamballa, Thánh đoàn, Nhân loại, một sự giáng xuống từ đầu đến tim, rồi đến ajna hoặc cổ họng,
[67] From thence the transmitting Life moves outward into all the other kingdoms of nature. Each great centre is, therefore, a transmitting agency.
[67] Từ đó, Sự Sống truyền tải hướng ra ngoài, đi vào tất cả các giới khác trong thiên nhiên. Do đó, mỗi trung tâm lớn đều là một tác nhân truyền tải.
Being, this is all part of what we call ‘Being descends to manifest.’ Every centre is transmitting the life of Being.
Bản Thể, tất cả điều này đều thuộc về điều chúng ta gọi là “Bản Thể giáng xuống để biểu hiện”. Mỗi trung tâm đều đang truyền dẫn sự sống của Bản Thể.
Every centre is transmitting the life of Being, however gradually that life is being transmitted and however much subject to time.
Mỗi trung tâm đều đang truyền dẫn sự sống của Bản Thể, dù sự sống ấy được truyền dẫn dần dần đến đâu và chịu sự chi phối của thời gian đến mức nào.
[68] The fourth Creative Hierarchy, the human Kingdom, is the agent through which eventually the energies of Shamballa and of the Hierarchy will be focussed for the redeeming of the life of all the sub-human kingdoms.
[68] Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, giới nhân loại, là tác nhân mà thông qua đó, cuối cùng các năng lượng của Shamballa và Thánh đoàn sẽ tập trung để cứu chuộc sự sống của tất cả các giới dưới nhân loại.
When we have solved our own personality problems as a family, a family kingdom, then we can turn to the lesser groupings and ensure that they can receive the full measure of that which is transmitted from the One Being.
Khi đã giải quyết những vấn đề phàm ngã của chính mình với tư cách một gia đình, một giới như một gia đình, chúng ta có thể hướng đến những tập hợp thấp hơn và bảo đảm rằng chúng có thể tiếp nhận trọn vẹn những gì được truyền dẫn từ Đấng Duy Nhất.
[69] This can only take place when humanity can work with the focussed will,
[69] Điều này chỉ có thể diễn ra khi nhân loại có thể vận dụng ý chí tập trung,
How will humanity work with Vulcan and the mineral kingdom?
Nhân loại sẽ làm việc với Vulcan và giới kim thạch như thế nào?
This can only take place when humanity can work with the focussed will,
Điều này chỉ có thể diễn ra khi nhân loại có thể làm việc với ý chí tập trung,
[70] engendered by the life of Shamballa, inspired by love, fostered by the Hierarchy and expressed through the intellect which humanity itself has developed— all of these used dynamically and consciously under the pressure of that which is higher and greater than Shamballa itself.
[70] do sự sống của Shamballa khơi sinh, do tình thương truyền cảm hứng, do Thánh đoàn nuôi dưỡng và biểu lộ qua trí năng mà chính nhân loại đã phát triển—tất cả những điều này đều được vận dụng một cách năng động và có ý thức dưới sức thúc đẩy của điều cao cả và vĩ đại hơn chính Shamballa.
The Planetary Logos and the Solar Logos and Sirius particularly, but finally the Pleiades, which are, I think, in our local cosmic system, the ultimate source. It knows Itself as the transmitting will. This great Being, Being knows Itself as things as it descends. It knows Itself as the transcending will, a will which does not have to be applied below, but is by choice for the sake of those Beings whose consciousness is not yet that of the whole, and then as the transmitting will,
Hành Tinh Thượng đế, Thái dương Thượng đế và đặc biệt là Sirius, nhưng cuối cùng là Pleiades, mà tôi nghĩ là nguồn cội tối hậu trong hệ thống vũ trụ cục bộ của chúng ta. Toàn Thể ấy biết chính Mình là ý chí truyền dẫn. Sinh Mệnh vĩ đại này, Bản Thể biết chính Mình là những thực tại khác nhau khi giáng xuống. Bản Thể biết chính Mình là ý chí siêu việt, một ý chí không nhất thiết phải được vận dụng ở bên dưới, nhưng tự nguyện làm như vậy vì những Sinh Mệnh mà tâm thức chưa phải là tâm thức của toàn thể, rồi biết chính Mình là ý chí truyền dẫn,
stepping down the energies distributed, in line with the creative, evolutionary plan.
hạ giảm các năng lượng được phân phối, phù hợp với Thiên Cơ sáng tạo và tiến hoá.
This is not so much about Purpose as it is about Plan. The transmitting will is more about Plan than Purpose.
Điều này thiên về Thiên Cơ hơn là Thiên Ý. Ý chí truyền dẫn liên quan đến Thiên Cơ nhiều hơn Thiên Ý.
This, the Life of our planet, carried forward in three major stages,
Sự Sống của hành tinh chúng ta đã tiến hành điều này qua ba giai đoạn chính,
Particularly the work with the creative evolutionary Plan, and the emergence of these three kingdoms was part of the Plan.
Đặc biệt là công việc với Thiên Cơ sáng tạo và tiến hoá, và sự xuất hiện của ba giới này là một phần của Thiên Cơ.
From thence the transmitting Life moves outward
Từ đó, Sự Sống truyền dẫn đi ra ngoài
From establishing Shamballa, Hierarchy and Humanity, it moves outward into the other kingdoms and groupings and centres, into the other kingdoms, groupings and centres.
Từ việc thiết lập Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại, sự sống ấy đi ra ngoài, vào các giới, các tập hợp và các trung tâm khác, vào các giới, các tập hợp và các trung tâm khác.
Each great centre is, therefore, a transmitting agency.
Do đó, mỗi trung tâm lớn đều là một cơ quan truyền dẫn.
It's receiving and transmitting. The fourth Creative Hierarchy, the human kingdom, is the agent through which Shamballa and Hierarchy will eventually bring about the redemption of the sub-human kingdoms. But humanity can only find its proper place on the planet when it uses the will. Humanity can only find its proper place on the planet when it finds the will and works with the will.
Nó tiếp nhận và truyền dẫn. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, giới nhân loại, là tác nhân mà qua đó cuối cùng Shamballa và Thánh đoàn sẽ mang lại sự cứu chuộc cho các giới dưới nhân loại. Nhưng nhân loại chỉ có thể tìm được vị trí thích hợp của mình trên hành tinh khi sử dụng ý chí. Nhân loại chỉ có thể tìm được vị trí thích hợp của mình trên hành tinh khi tìm thấy ý chí và làm việc với ý chí.
Vulcan is so important here, and the other planets which rule the different kingdoms. But Vulcan certainly with the mineral kingdom, and that's one of the first with which we are going to work. We've reached the point—I seem to be running over a bit—but this will be the end of Esoteric Astrology Adventure number 146A.
Vulcan rất quan trọng ở đây, cùng với các hành tinh khác cai quản những giới khác nhau. Nhưng chắc chắn Vulcan liên hệ với giới kim thạch, và đó là một trong những giới đầu tiên mà chúng ta sẽ làm việc cùng. Chúng ta đã đến điểm này—dường như tôi đã nói quá giờ một chút—nhưng đây sẽ là phần kết thúc của Hành Trình Chiêm Tinh Học Nội Môn số 146A.
We are on page 617 already. We're making progress, and beginning of Esoteric Astrology Adventure 146B, page 617. We are in a section which will require much rereading.
Chúng ta đã đến trang 617. Chúng ta đang tiến triển, và phần mở đầu của Hành Trình Chiêm Tinh Học Nội Môn 146B, trang 617. Chúng ta đang ở trong một phần sẽ cần đọc lại nhiều lần.
So far we've been descending via transcending, transmitting, transforming, transfiguring and the receiver, but we've only gone through the elaboration of the transcending will, which sacrifices itself, and the transmitting will which distributes—that's the word there—energy through the various centres through which it is the purpose of the transcending will to express. In our next section, we will get into the transforming will. He is descending in order so we can understand this whole process of relating the One to the Many and the Many to the One.
Cho đến lúc này, chúng ta đã đi xuống qua các ý chí siêu việt, truyền dẫn, chuyển đổi, biến hình và bên tiếp nhận, nhưng mới chỉ xem xét phần giải thích chi tiết về ý chí siêu việt, vốn hi sinh chính mình, và ý chí truyền dẫn, vốn phân phối—đó là từ được dùng ở đây—năng lượng qua những trung tâm khác nhau mà ý chí siêu việt có chủ đích biểu lộ qua đó. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ đi vào ý chí chuyển đổi. Ngài đang trình bày theo trình tự đi xuống để chúng ta có thể thấu hiểu toàn bộ tiến trình liên hệ Đấng Duy Nhất với cái đa thù và cái đa thù với Đấng Duy Nhất.
We'll be back shortly.
Chúng ta sẽ sớm trở lại.