Tóm lược chương
Công thức hội nhập Cung Hai mở đầu cho việc xét tình thương như một cách biểu lộ ý chí. Khi thị kiến trở nên rõ, ước muốn thực hiện nó gia tăng và thỉnh nguyện ý chí. Đức Phật và Đức Christ được liên hệ lần lượt với nguyên lý trí tuệ và nguyên lý tình thương vũ trụ để cho thấy thị kiến có thể dẫn tới tác động rộng hơn cá nhân. Ý chí khai mở, đem lại thành tựu và chiến thắng cái chết được khảo sát trong quan hệ với ba Cung chính. Có thể tự xét mình qua những cách ý chí bắt đầu hoạt động, thay vì chỉ nhận biết chúng như khái niệm. Cung Hai có liên hệ sâu với hy sinh, song cách hy sinh của nó khác với cách Cung Một giải phóng sự sống. Hình ảnh…
- Tình thương như một khía cạnh của ý chí
- Ba phương diện ý chí của Cung Hai
- Sự tuôn đổ từ Shamballa
Commentary EAA 147a
Tóm Tắt
§ Tình thương như một khía cạnh của ý chí
Công thức hội nhập Cung Hai mở đầu cho việc xét tình thương như một cách biểu lộ ý chí. Khi thị kiến trở nên rõ, ước muốn thực hiện nó gia tăng và thỉnh nguyện ý chí. Đức Phật và Đức Christ được liên hệ lần lượt với nguyên lý trí tuệ và nguyên lý tình thương vũ trụ để cho thấy thị kiến có thể dẫn tới tác động rộng hơn cá nhân.
§ Ba phương diện ý chí của Cung Hai
Ý chí khai mở, đem lại thành tựu và chiến thắng cái chết được khảo sát trong quan hệ với ba Cung chính. Có thể tự xét mình qua những cách ý chí bắt đầu hoạt động, thay vì chỉ nhận biết chúng như khái niệm. Cung Hai có liên hệ sâu với hy sinh, song cách hy sinh của nó khác với cách Cung Một giải phóng sự sống.
§ Sự tuôn đổ từ Shamballa
Hình ảnh tuôn đổ gợi tính chất Bảo Bình, nhưng động cơ được xét ở đây là ý chí của Đấng hành tinh phía sau đời sống Shamballa. Tiến trình điểm đạo dần hé lộ sự sống và các khả năng chưa được biết dưới cuộc điểm đạo thứ ba. Các dạng ý chí phân hóa vẫn là những biến thể trong một ý chí và một Chân Thần.
§ Quan hệ đúng và tính trong suốt
Tương quan đúng về tần số có thể làm mất tính mờ đục, giúp nhìn xuyên qua những gì trước đó che khuất. Che giấu có thể có mục đích bảo hộ, trong khi quan hệ sai tiếp tục tạo màn che không cần thiết. Sự biến hình của Đức Christ được dùng để gợi một biểu lộ cao của ánh sáng, dù cách liên hệ với những cuộc điểm đạo trước đó còn mang tính suy xét.
§ Song Tử và điều vượt lên hai đối cực
Song Tử đặt ra nhiệm vụ tìm điều không thuộc riêng bên nào của cặp đối cực. Khi trí tuệ và trực giác hoạt động cùng nhau, các mối quan hệ bớt che khuất nhất thể mà vẫn giữ được sự khác biệt. Sự phân nhánh của ba lực từ mỗi đỉnh cũng gợi vì sao một tam giác có thể biểu lộ theo chín phương diện.
Text EAA 147A – Văn bản EAA 147A
Esoteric Astrology – Chiêm Tinh Học Nội Môn
[1] But humanity has to see that which must be loved before that power of the will is sufficiently evoked. [2] Then the vision can become a manifestation and a fact in expression.
[1] Nhưng nhân loại phải thấy điều cần được yêu thương trước khi quyền năng ấy của ý chí được gợi lên đầy đủ. [2] Khi đó, tầm nhìn có thể trở thành một sự biểu hiện và một thực tại được biểu lộ.
[3] It is here that the wonder of the work of Christ, the Lord of Love emerges into our consciousness. He makes it very clear that this love which He demonstrated was an aspect of the will, [4] functioning through the medium of the second ray; this powerful love released into the world the (624) cosmic principle of love. [5] Again the three aspects of the divine will can be seen functioning through the second ray:
[3] Chính ở đây, sự kỳ diệu trong công việc của Đức Christ, Chúa Tể của Tình Thương, hiện lên trong tâm thức chúng ta. Ngài cho thấy hết sức rõ ràng rằng tình thương mà Ngài thể hiện là một phương diện của ý chí, [4] hoạt động qua trung gian cung hai; tình thương mạnh mẽ này đã giải phóng vào thế gian (624) nguyên khí bác ái vũ trụ. [5] Một lần nữa, có thể thấy ba phương diện của Ý Chí thiêng liêng hoạt động qua cung hai:
[6] 1. The will-to-initiate or to condition demonstrates in Christ’s work [7] as He inaugurates the era wherein it became possible for the kingdom of God to appear on Earth. In reality, this will be a demonstration of the fusion of the two centres, Humanity and the Hierarchy. [8] By fusion, I mean their complete reciprocal at-one-ment. [9] It will inaugurate an era wherein—through increased capacity to see the vision [10] and increased power to identify oneself with the vision—a race of men will be produced whose life expression will be that of love-wisdom.
[6] 1. Ý chí khởi xướng hay định hình thể hiện trong công việc của Đức Christ [7] khi Ngài khai mở kỷ nguyên trong đó Thiên Giới có thể xuất hiện trên Trái Đất. Trên thực tế, đây sẽ là một biểu hiện của sự dung hợp giữa hai trung tâm, Nhân Loại và Thánh đoàn. [8] Khi nói đến sự dung hợp, Tôi muốn nói đến sự hợp nhất hoàn toàn và tương hỗ giữa hai trung tâm ấy. [9] Điều đó sẽ khai mở một kỷ nguyên trong đó—nhờ khả năng thấy được tầm nhìn ngày càng tăng [10] và quyền năng đồng hoá bản thân với tầm nhìn ngày càng lớn—một nhân loại sẽ xuất hiện mà sự biểu lộ đời sống sẽ là Bác Ái – Minh Triết.
[11] 2. The will which brings fulfilment demonstrates through the second ray by the means of that driving force which enables the second ray soul steadily to achieve its goal, relentlessly pushing forward, permitting itself no let-up or leeway until the desired goal is reached. [12] This is a different expression to the will of the first ray which is dynamic and which crashes forward in spite of all obstacles; [13] the latter does not require [14] the slower methods of the steady drive.
[11] 2. Ý chí mang lại sự viên mãn thể hiện qua cung hai bằng mãnh lực thúc đẩy giúp linh hồn cung hai bền bỉ đạt tới mục tiêu, không ngừng tiến lên, không cho phép mình chùng bước hay chệch hướng cho đến khi đạt được mục tiêu mong muốn. [12] Đây là một cách biểu lộ khác với ý chí cung một, vốn năng động và lao mạnh về phía trước bất chấp mọi chướng ngại; [13] ý chí cung một không cần đến [14] những phương pháp chậm hơn của sự thúc đẩy bền bỉ.
[15] 3. It is also the will which conquers death because of its intense love of reality and of that “persistent One” who exists behind all phenomena.
[15] 3. Đó cũng là ý chí chiến thắng cái chết nhờ tình thương mãnh liệt dành cho thực tại và cho “Đấng trường tồn” hiện hữu đằng sau mọi hiện tượng.
[16] In the Old Commentary this type of will—the will-to-love—is spoken of in the following terms:
[16] Trong Cổ Luận, loại ý chí này—Ý Chí-Yêu Thương—được nói đến bằng những lời sau:
“[17] The Transcendent One said: I am alone. I must arise and seek with ceaseless urge, that which produces completion, round out my circle whole, intensify My life [18] and make Me truly One, and this because I recognise the Two. I must have union with my other self, the self I dimly sense. (625)
“[17] Đấng Siêu Việt phán: Ta đơn độc. Ta phải trỗi dậy và tìm kiếm với niềm thôi thúc không ngừng điều mang lại sự hoàn tất, làm trọn vẹn vòng tròn của Ta, tăng cường sự sống của Ta [18] và khiến Ta thực sự là Một, bởi Ta nhận biết Hai. Ta phải hợp nhất với bản ngã khác của Ta, bản ngã mà Ta cảm nhận lờ mờ. (625)
[19] Unto My heart I drew that other One and drawing thus I gave enlightenment; I dowered with enrichments; I freely gave.”
[19] Ta thu hút Đấng kia vào tâm Ta, và qua sự thu hút ấy, Ta ban sự giác ngộ; Ta ban tặng sự phong phú; Ta cho đi một cách tự do.”
[20] This embodies not the mystical vision of the other one but the will aspect of the planetary Logos, the incentive behind the life of Shamballa. [21] It is the Lord of Sacrifice Who speaks. [22] The keynote of sacrifice or the “process of making whole” runs through all that concerns the will aspect as it functions through the medium of the seven rays; [23] this becomes beautifully apparent in the activity of the second ray as it is the channel for the will of God.
[20] Điều này thể hiện phương diện ý chí của Hành Tinh Thượng đế, động lực đằng sau sự sống của Shamballa, chứ không phải linh ảnh thần bí về đấng kia. [21] Chính Chúa Tể của Sự Hi Sinh đang lên tiếng. [22] Chủ âm hi sinh hay “tiến trình làm cho toàn vẹn” xuyên suốt mọi điều liên quan đến phương diện ý chí khi phương diện này hoạt động qua trung gian bảy cung; [23] điều này hiện rõ một cách đẹp đẽ trong hoạt động của cung hai, vì cung này là kênh dẫn Ý Chí của Thượng Đế.
[24] It knows itself as the transcending will because behind its expression of cosmic love (attracting, fusing and producing cohesion) lies a synthetic vision of divine Intention. [25] It differentiates between process and goal, between initiation and that which is revealed by the initiatory process and that is something which as yet is unknown to initiates below the third degree. [26] Herein lies the distinction between the Christ and the Buddha. [27] The latter revealed the process, but the Christ embodied in Himself both goal and process. [28] He revealed the cosmic principle of love [29] and by its means—embodied in Himself—He produced effects also and momentous changes in the world through those presented to Him for initiation.
[24] Nó biết mình là chính ý chí siêu việt vì đằng sau sự biểu lộ tình thương vũ trụ của nó (thu hút, dung hợp và tạo nên sự cố kết) là một tầm nhìn tổng hợp về Ý Định thiêng liêng. [25] Nó phân biệt giữa tiến trình và mục tiêu, giữa điểm đạo và điều mà tiến trình điểm đạo mặc khải; đó là điều mà cho đến nay các điểm đạo đồ dưới cấp độ thứ ba vẫn chưa biết. [26] Chính trong đó có sự khác biệt giữa Đức Christ và Đức Phật. [27] Đức Phật đã mặc khải tiến trình, còn Đức Christ thể hiện trong chính Ngài cả mục tiêu lẫn tiến trình. [28] Ngài đã mặc khải nguyên khí bác ái vũ trụ [29] và nhờ nguyên khí ấy—hiện thân trong chính Ngài—Ngài cũng tạo ra những hiệu quả cùng những biến đổi trọng đại trên thế giới thông qua những người được đưa đến trước Ngài để được điểm đạo.
[30] The second ray knows itself as the transmitting will [31] because through its means something passes between the pair of opposites (spirit-matter) which draws them together until eventually they form one blended whole. [32] This is a basic mystery—the basic mystery of initiation and concerns the at-oning will which functions through love. [33] Its lowest expression and its most material symbol is the love between the sexes.
[30] Cung hai biết mình là ý chí truyền dẫn [31] vì nhờ nó, một điều gì đó truyền qua giữa cặp đối cực (tinh thần–vật chất), thu hút chúng lại gần nhau cho đến khi cuối cùng chúng tạo thành một toàn thể hòa quyện. [32] Đây là một huyền nhiệm căn bản—huyền nhiệm căn bản của điểm đạo, và liên quan đến ý chí hợp nhất hoạt động qua tình thương. [33] Biểu lộ thấp nhất và biểu tượng mang tính vật chất nhất của nó là tình yêu giữa hai giới.
(626)
(626)
[34] It knows itself likewise as the transforming will [35] because the entire evolutionary process (which is, in the last analysis, the working out of the inter-relation between God and His world, between cause and effect and between Life and form) is based upon the transformation brought about by divine attraction. [36] This enables “spirit to mount upon the shoulders of matter,” as H.P.B. expresses it, and forces matter to achieve the purification which will lead it eventually to act as a transparent medium for the revelation of divinity.
[34] Tương tự, nó biết mình là ý chí chuyển đổi [35] vì toàn bộ tiến trình tiến hoá (xét cho cùng, chính là sự triển khai mối tương quan giữa Thượng đế và thế giới của Ngài, giữa nguyên nhân và kết quả, giữa Sự Sống và hình tướng) đều dựa trên sự chuyển đổi do sức hút thiêng liêng tạo nên. [36] Điều này giúp “tinh thần vươn lên trên đôi vai của vật chất”, như cách diễn đạt của H.P.B., và buộc vật chất đạt đến sự thanh luyện, để cuối cùng vật chất có thể trở thành một trung gian trong suốt cho sự mặc khải thiên tính.
[37] It knows itself finally as the will which transfigures. [38] It was this transfiguration which Christ manifested [39] when He emerged before the startled eyes of His disciples as Light Incarnate and “was transfigured before them.”
[37] Cuối cùng, nó biết mình là ý chí tạo nên sự biến hình. [38] Chính sự biến hình này mà Đức Christ đã thể hiện [39] khi Ngài xuất hiện trước đôi mắt kinh ngạc của các đệ tử Ngài như Ánh Sáng Nhập Thể và “đã biến hình trước mặt họ”.
[40] The entire process of transcendence, resulting in transfiguration, [41] is worked out in relation to the second ray by the combined influences of the three constellations through which this ray chooses by an “act of its sufficient will to act in time and space.” [42] Let us look at them for a moment:
[40] Toàn bộ tiến trình siêu việt, dẫn đến sự biến hình, [41] diễn ra trong mối liên hệ với cung hai nhờ những ảnh hưởng kết hợp của ba chòm sao mà qua đó cung này lựa chọn, bằng một “hành vi của ý chí tự đầy đủ nơi nó, để hoạt động trong thời gian và không gian”. [42] Chúng ta hãy xem xét các chòm sao ấy trong giây lát:
[43] 1. GEMINI. This is the great symbolic constellation of the Two Brothers, expressing the interplay between the dualities. Because it is governed by Mercury and Venus, [44] you have the light of the intuition and of the mind blended together into one illuminated whole, [45] typical of the fusion of spirit-matter [46] and the demonstration of their essential oneness. [47] Gemini, as you know, is the sign of divine interplay and it is the life of the Father (of spirit and of will) which flows through the Two Brothers, [48] through the polar opposites, making them one in reality though two in manifestation. [49] Their real nature as the “elder brother and the prodigal son” is revealed by the intuition when it takes hold of the mind. [50] But it is the will to love which governs the relationship and which finally brings about divine synthesis. (627)
[43] 1. SONG TỬ. Đây là chòm sao mang tính biểu tượng vĩ đại của Hai Huynh Đệ, biểu lộ sự tương tác giữa các cặp nhị nguyên. Vì Sao Thủy và Sao Kim cai quản chòm sao này, [44] các bạn có ánh sáng của trực giác và của thể trí hòa quyện thành một toàn thể được soi sáng, [45] tiêu biểu cho sự dung hợp tinh thần–vật chất [46] và sự thể hiện tính nhất thể cốt yếu của chúng. [47] Như các bạn biết, Song Tử là dấu hiệu của sự tương tác thiêng liêng, và chính sự sống của Cha (của tinh thần và ý chí) tuôn chảy qua Hai Huynh Đệ, [48] qua hai cực đối lập, khiến họ là một trong thực tại dù là hai trong biểu hiện. [49] Trực giác mặc khải bản chất thực sự của họ là “người anh và đứa con hoang đàng” khi trực giác nắm quyền chi phối thể trí. [50] Nhưng chính Ý Chí-Yêu Thương cai quản mối quan hệ ấy và cuối cùng mang lại sự tổng hợp thiêng liêng. (627)
Esoteric Astrology Adventure 147A — The Second Ray Will and the Two Brothers of Gemini – Chiêm Tinh Học Nội Môn Hành trình khám phá 147A — Ý chí cung hai và Hai Huynh Đệ của Song Tử
Hello, friends. We are continuing with Esoteric Astrology Adventure number 147A. We closed last time with a brilliant definition of love as an aspect of will, a point very little realized by the mass of men. The will is the first aspect, so the second and third have to be a part of it, just as the third aspect is an aspect of the second.
Xin chào các bạn. Chúng ta tiếp tục Chiêm Tinh Học Nội Môn, Hành trình khám phá số 147A. Lần trước, chúng ta kết thúc với một định nghĩa xuất sắc về tình thương như một phương diện của ý chí, một điều mà đại đa số con người rất ít nhận ra. Ý chí là phương diện thứ nhất, nên phương diện thứ hai và thứ ba phải là một phần của nó, cũng như phương diện thứ ba là một phương diện của phương diện thứ hai.
It is the will to draw into itself or the will to attract into itself, and this will, when exerted toward that which is not material, we, in reaction to the differentiating mind, call Love.
Đó là ý chí thu hút vào trong mình hay ý chí hấp dẫn vào trong mình; và khi ý chí này hướng đến những gì không thuộc vật chất, chúng ta, trong sự phản ứng đối với thể trí phân chia, gọi đó là Tình thương.
I pointed out the second ray integration formula,
Tôi đã chỉ ra công thức tích hợp của cung hai,
The love of love must dominate, not love of being loved. (EP II, tr. 355) The power to draw unto oneself must dominate, but into the worlds of form that power must some day fail to penetrate.
Tình yêu đối với tình thương phải chiếm ưu thế, chứ không phải sự yêu thích được yêu. (EP II, tr. 355) Quyền năng thu hút về mình phải chiếm ưu thế, nhưng một ngày kia quyền năng ấy phải không còn thâm nhập vào các cõi hình tướng.
He's saying the same thing there.
Ở đó, Ngài cũng đang nói cùng một điều.
This is the first step towards a deeper search. (EP II, tr. 355)
Đây là bước đầu tiên hướng đến một cuộc tìm kiếm sâu xa hơn. (EP II, tr. 355)
Love is not for the form. Love is the attraction for that which is not material, and drawing into oneself and merging with that which is the consciousness of the individual, of the other individual or group or humanity, or the Being itself of the other individual, group or humanity. We are moving on.
Tình thương không dành cho hình tướng. Tình thương là sự hấp dẫn đối với những gì không thuộc vật chất, là thu hút vào trong mình và hòa nhập với tâm thức của cá nhân, của cá nhân khác, của nhóm hay nhân loại, hoặc với chính Bản Thể của cá nhân khác, nhóm hay nhân loại. Chúng ta tiếp tục.
We are in that section where we are dealing with the expression of the will. In this case it's a second ray expression. There's been a tremendous emphasis upon this during the past 350 years, going back to perhaps 1575, which was the time when—1925 to 1575, 350 years.
Chúng ta đang ở phần bàn về sự biểu lộ của ý chí. Trong trường hợp này, đó là một sự biểu lộ của cung hai. Điều này đã được nhấn mạnh rất nhiều trong 350 năm qua, có lẽ tính ngược về năm 1575, là thời điểm khi—từ 1925 đến 1575, 350 năm.
We're in the approximate period. The two great exponents are the two best-known Teachers, the two great exponents of the second ray, and the two Masters who have attempted to awaken humanity in the West to a realization of Hierarchy are Master K.H. and Master Morya. The keynotes of this second ray, the keynotes of this kind of will:
Chúng ta đang nói đến khoảng thời gian xấp xỉ ấy. Hai vị đại biểu vĩ đại là hai Huấn sư được biết đến nhiều nhất, hai vị đại biểu vĩ đại của cung hai; và hai Chân sư đã nỗ lực khơi dậy nơi nhân loại phương Tây sự nhận biết về Thánh đoàn là Chân sư KH và Chân sư Morya. Các chủ âm của cung hai này, các chủ âm của loại ý chí này:
illumination, of vision, of sight or of spiritual perception and of the fusion of the occidental or the mystic way are dominant in this cycle.
sự soi sáng, tầm nhìn, khả năng thấy hay tri giác tinh thần, và sự dung hợp của con đường phương Tây hay con đường thần bí đang chiếm ưu thế trong chu kỳ này.
The Buddha was the great Messenger. He summed up in Himself, as far as humanity was concerned, the light of wisdom. He radiated the light of wisdom. He guaranteed the fruition that came from the past, and with the Christ He was able to say, ‘I am the light of the world.’
Đức Phật là Sứ Giả vĩ đại. Xét trong phạm vi nhân loại, Ngài đã hội tụ trong chính mình ánh sáng minh triết. Ngài tỏa ra ánh sáng minh triết. Ngài bảo đảm sự thành tựu bắt nguồn từ quá khứ, và cùng với Đức Christ, Ngài có thể nói: ‘Ta là ánh sáng của thế gian.’
The Christ went farther and demonstrated the cosmic principle of love, and this was the sentence that we listened to. It is the will,
Đức Christ đã tiến xa hơn và thể hiện nguyên khí bác ái vũ trụ; đó chính là câu mà chúng ta đã nghe. Đó là ý chí,
Love is an aspect of the will
Tình thương là một phương diện của ý chí
It is the will to draw into itself or the will to attract into itself, and this will, when exerted toward that which is not material, we, in reaction to the differentiating mind, call Love.
Đó là ý chí thu hút vào trong mình hay ý chí hấp dẫn vào trong mình; và khi ý chí này hướng đến những gì không thuộc vật chất, chúng ta, trong sự phản ứng đối với thể trí phân chia, gọi đó là Tình thương.
[1] But humanity has to see that which must be loved before that power of the will is sufficiently evoked.
[1] Nhưng nhân loại phải thấy điều cần được yêu thương trước khi quyền năng ấy của ý chí được gợi lên đầy đủ.
humanity has to see that which must be loved
nhân loại phải thấy điều cần được yêu thương
[2] Then the vision can become a manifestation and a fact in expression.
[2] Khi đó, tầm nhìn có thể trở thành một sự biểu hiện và một thực tại được biểu lộ.
The second aspect of the will is associated with the vision.
Phương diện thứ hai của ý chí gắn liền với tầm nhìn.
Initiation for the first aspect; the second aspect, vision. We have the will to initiate, and initiation, and we have the will to unify, and vision. How shall humanity see? The methods for inducing soul control, the second one is called the Quality of the Hidden Vision.
Sự khởi xướng ứng với phương diện thứ nhất; tầm nhìn ứng với phương diện thứ hai. Chúng ta có ý chí khởi xướng và sự khởi xướng, rồi có ý chí hợp nhất và tầm nhìn. Nhân loại sẽ thấy bằng cách nào? Trong các phương pháp đưa đến sự kiểm soát của linh hồn, phương pháp thứ hai được gọi là Phẩm Tính của Tầm Nhìn Ẩn Giấu.
How shall that vision be presented? Then when the vision is seen, desire to attain becomes very strong, and its growing intensity evokes the will.
Tầm nhìn ấy sẽ được trình bày như thế nào? Khi thấy được tầm nhìn, lòng mong muốn đạt đến trở nên rất mạnh mẽ, và cường độ ngày càng tăng của nó gợi lên ý chí.
[3] It is here that the wonder of the work of Christ, the Lord of Love emerges into our consciousness. He makes it very clear that this love which He demonstrated was an aspect of the will,
[3] Chính ở đây, sự kỳ diệu trong công việc của Đức Christ, Chúa Tể của Tình Thương, hiện lên trong tâm thức chúng ta. Ngài cho thấy hết sức rõ ràng rằng tình thương mà Ngài thể hiện là một phương diện của ý chí,
We have the will to love, in fact, and DK is always counselling that we must find a way to do this, to make this a guiding factor in our lives.
Thật vậy, chúng ta có Ý Chí-Yêu Thương, và Chân sư DK luôn khuyên rằng chúng ta phải tìm cách thực hiện điều này, biến nó thành một yếu tố dẫn dắt cuộc sống của mình.
He makes it very clear that this love which He demonstrated was an aspect of the will,
Ngài cho thấy rất rõ rằng tình thương mà Ngài đã thể hiện là một phương diện của ý chí,
[4] functioning through the medium of the second ray; this powerful love released into the world the cosmic principle of love.
[4] hoạt động qua trung gian cung hai; tình thương mạnh mẽ này đã giải phóng vào thế gian (624) nguyên khí bác ái vũ trụ.
As I said, and has been said, Christ experienced a cosmic touch, came into touch with the cosmic principle of love. It's always the cosmic; it has to do with the cosmic plane, with the cosmic astral plane, the true source of love for our system. Maybe the words ‘cosmic touch’ will bring us where we want to go. There seems to be one place.
Như tôi đã nói, và như người ta đã nói, Đức Christ đã trải nghiệm một sự tiếp xúc vũ trụ, đã tiếp xúc với nguyên khí bác ái vũ trụ. Luôn là vũ trụ; điều này liên quan đến cõi vũ trụ, đến cõi cảm dục vũ trụ, nguồn tình thương đích thực của hệ chúng ta. Có lẽ những từ ‘sự tiếp xúc vũ trụ’ sẽ đưa chúng ta đến chỗ muốn tìm. Dường như có một chỗ.
On the Way of Descending Approaches, the Buddha from the mental plane and also upon it, embodied in Himself the blazing enlightenment which is the result of a rare occurrence—a Cosmic Touch. He challenged the people to the Path of Light, of which knowledge and wisdom are two aspects. These, when brought into relationship with each other, produce the light. (EP II, tr. 277–278)
Trên Con Đường của Những Sự Tiếp Cận Giáng Hạ, Đức Phật, từ cõi trí và cả trên cõi ấy, đã thể hiện trong chính mình sự giác ngộ rực sáng, kết quả của một biến cố hiếm có—một Sự Tiếp Xúc Vũ Trụ. Ngài kêu gọi con người dấn bước trên Con Đường Ánh Sáng, mà tri thức và minh triết là hai phương diện. Khi được đặt trong mối liên hệ với nhau, cả hai tạo ra ánh sáng. (EP II, tr. 277–278)
Knowledge and wisdom.
Tri thức và minh triết.
In a curious and esoteric manner, therefore, the Buddha embodied in Himself the force and activity of the third ray,
Do đó, theo một cách kỳ lạ và huyền bí, Đức Phật đã thể hiện trong chính mình mãnh lực và hoạt động của cung ba,
In a curious and esoteric manner,
Theo một cách kỳ lạ và huyền bí,
of the third aspect of divinity—the divine cosmic principle of Intelligence. By its fusion with the ray of our solar system (the ray of Love) He expressed perfectly the significance of light in matter, of the intelligence principle as found in form, (EP II, tr. 278)
của phương diện thứ ba của thiên tính—nguyên khí Trí Thông Tuệ vũ trụ thiêng liêng. Nhờ sự dung hợp của nguyên khí ấy với cung của hệ mặt trời chúng ta (cung Bác Ái), Ngài đã biểu lộ hoàn hảo thâm nghĩa của ánh sáng trong vật chất, của nguyên khí trí thông tuệ hiện diện trong hình tướng, (EP II, tr. 278)
And so forth.
Và cứ thế.
Then came the next great Avatar, the Christ, Who, enfolding in Himself all that the Buddha had of light and wisdom (being fully enlightened in the occult and spiritual sense) on the Ray of Descending Approach, embodied also the peace of inclusiveness, which comes from the Touch of Divine Acquiescence. He was the embodied force of submission, and He carried the divine approach to the astral plane, the plane of feeling. (EP II, tr. 278)
Rồi đến Đấng Hoá Thân vĩ đại kế tiếp, Đức Christ. Trên Cung Tiếp Cận Giáng Hạ, Ngài bao hàm trong chính mình tất cả ánh sáng và minh triết mà Đức Phật có (đã hoàn toàn giác ngộ theo nghĩa huyền bí và tinh thần), đồng thời thể hiện sự bình an của tính bao gồm, vốn đến từ Sự Tiếp Xúc của Sự Thuận Theo Thiêng Liêng. Ngài là hiện thân của mãnh lực thuận phục, và Ngài đã đưa sự tiếp cận thiêng liêng đến cõi cảm dục, cõi của cảm xúc. (EP II, tr. 278)
We're constantly told about the Christ and the cosmic principle of love, and here we have the cosmic principle of intelligence, and we relate it to a touch, I assume, of the cosmic mental plane. It's Esoteric Psychology II, 277–278.
Chúng ta liên tục được nghe về Đức Christ và nguyên khí bác ái vũ trụ; còn ở đây, chúng ta có nguyên khí trí thông tuệ vũ trụ, và tôi cho rằng chúng ta liên hệ nó với một sự tiếp xúc từ cõi trí vũ trụ. Đó là Tâm Lý Học Nội Môn II, 277–278.
This speaks of the Buddha's touch, and it suggests by association the touch that the Christ experienced, a cosmic touch. In this esoteric manner, this suggests the monad:
Đoạn này nói về sự tiếp xúc của Đức Phật, và qua sự liên tưởng, gợi đến sự tiếp xúc mà Đức Christ đã trải nghiệm, một sự tiếp xúc vũ trụ. Cách diễn đạt huyền bí này gợi đến chân thần:
In a curious and esoteric manner, therefore, the Buddha embodied in Himself the force and activity of the third ray, (EP II, tr. 278)
Do đó, theo một cách kỳ lạ và huyền bí, Đức Phật đã thể hiện trong chính mình mãnh lực và hoạt động của cung ba, (EP II, tr. 278)
As I've said before, the word esoteric often suggests the monad. It does on page 420, 421, when speaking of the esoteric ray of Uranus, Neptune and Saturn. Obviously it's the Monadic ray.
Như tôi đã nói trước đây, từ huyền bí thường gợi đến chân thần. Điều đó đúng ở trang 420, 421, khi nói về cung nội môn của Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Thổ. Hiển nhiên, đó là cung chân thần.
We have to piece together certain statements that are made. I want to just say that here,
Chúng ta phải ghép nối một số phát biểu đã được đưa ra. Tôi chỉ muốn nói rằng ở đây,
In a curious and esoteric manner,
Theo một cách kỳ lạ và huyền bí,
Representing the monad,
Đại diện cho chân thần,
the Buddha embodied in Himself the force and activity of the third ray, of the third aspect of divinity—the divine cosmic principle of Intelligence. (EP II, tr. 278)
Đức Phật đã thể hiện trong chính mình mãnh lực và hoạt động của cung ba, của phương diện thứ ba của thiên tính—nguyên khí Trí Thông Tuệ vũ trụ thiêng liêng. (EP II, tr. 278)
Cosmic principle of intelligence, and the Christ, we are told, embodied the cosmic principle of love.
Nguyên khí trí thông tuệ vũ trụ; còn Đức Christ, như chúng ta được biết, đã thể hiện nguyên khí bác ái vũ trụ.
Both the Christ and the Buddha had touches of cosmic energy.
Cả Đức Christ lẫn Đức Phật đều đã có những sự tiếp xúc với năng lượng vũ trụ.
[5] Again the three aspects of the divine will can be seen functioning through the second ray:
[5] Một lần nữa, có thể thấy ba phương diện của Ý Chí thiêng liêng hoạt động qua cung hai:
Through each ray, one, two, three, three aspects of divinity are functioning.
Thông qua từng cung một, hai, ba, ba phương diện của thiên tính đang hoạt động.
[6] 1. The will-to-initiate or to condition demonstrates in Christ’s work
[6] 1. Ý chí khởi xướng hay định hình thể hiện trong công việc của Đức Christ
The will to fulfilment.
Ý chí hướng đến sự viên thành.
This is an important factor here. We have first, second and third ray will, and we are dealing with three aspects of each of these.
Đây là một yếu tố quan trọng. Chúng ta có ý chí cung một, cung hai và cung ba, và đang bàn đến ba phương diện của mỗi loại ý chí này.
We have the will to initiate, the will to unify, and the will to overcome death, or, let's say, the will that conquers death. You can wonder whether these three aspects of the will could be connected with each one of the seven rays, each one of the zodiacal triangles.
Chúng ta có ý chí khởi xướng, ý chí hợp nhất và ý chí vượt thắng sự chết, hay ý chí chinh phục sự chết. Các bạn có thể tự hỏi liệu ba phương diện này của ý chí có thể liên hệ với từng cung trong bảy cung, từng tam giác hoàng đạo hay không.
We will see that the will to initiate, to unify, to conquer death will, I suspect, work through the third ray. Could we continue that with the rays of attribute? Or is this triple demonstration only found in the rays of aspect? If we continue with the rays of attribute, which DK does not do, just as He does not give more than three fusion formulas, then we would have 21, which again is an appealing number, and seems to complete the sequence. But of course, the rays of attribute are derivative of the rays of aspect, as we have been discussing. There was a pretty good proof there, I remember, a few programs back, of the second and third ray combining to make the sixth.
Tôi cho rằng chúng ta sẽ thấy ý chí khởi xướng, hợp nhất và chinh phục sự chết hoạt động thông qua cung ba. Chúng ta có thể tiếp tục như thế với các cung thuộc tính không? Hay sự thể hiện tam phân này chỉ có trong Các Cung Trạng Thái? Nếu tiếp tục với các cung thuộc tính, điều mà Chân sư DK không làm, cũng như Ngài không đưa ra hơn ba công thức dung hợp, thì chúng ta sẽ có 21, một con số cũng rất hấp dẫn và dường như hoàn tất chuỗi này. Nhưng dĩ nhiên, như chúng ta đã bàn, các cung thuộc tính bắt nguồn từ Các Cung Trạng Thái. Tôi nhớ, cách đây vài chương trình, có một minh chứng khá thuyết phục về việc cung hai và cung ba kết hợp để tạo thành cung sáu.
I think I pointed that out, but one will have to go looking for it. Always when you find something, it's best to nail it and put it right where you can find it again, because a missing piece may stay missing for a long time and be right under your nose, of course.
Tôi nghĩ mình đã chỉ ra điều đó, nhưng sẽ phải tìm lại. Mỗi khi tìm thấy điều gì, tốt nhất là ghi lại cho chắc và đặt ngay ở nơi có thể tìm lại, vì dĩ nhiên, một mảnh ghép còn thiếu có thể cứ thiếu rất lâu dù ở ngay trước mắt.
Now we're talking about the great second ray, and the will to initiate in terms of the great second ray.
Giờ đây, chúng ta đang nói về cung hai vĩ đại và ý chí khởi xướng xét theo cung hai vĩ đại ấy.
1. The will-to-initiate or to condition
1. Ý chí khởi xướng hay định hình
As we say, will to condition life, as it's sometimes called,
Như chúng ta nói, ý chí định hình sự sống, như đôi khi người ta gọi,
demonstrates in Christ’s work
thể hiện trong công việc của Đức Christ
[7] as He inaugurates the era wherein it became possible for the kingdom of God to appear on Earth. In reality, this will be a demonstration of the fusion of the two centres, Humanity and the Hierarchy.
[7] khi Ngài khai mở kỷ nguyên trong đó Thiên Giới có thể xuất hiện trên Trái Đất. Trên thực tế, đây sẽ là một biểu hiện của sự dung hợp giữa hai trung tâm, Nhân Loại và Thánh đoàn.
The three and the two will fuse, and this is already happening via the New Group of World Servers.
Ba và hai sẽ dung hợp, và điều này đã đang diễn ra thông qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
[8] By fusion, I mean their complete reciprocal at-one-ment.
[8] Khi nói đến sự dung hợp, Tôi muốn nói đến sự hợp nhất hoàn toàn và tương hỗ giữa hai trung tâm ấy.
When He says something like ‘complete reciprocal at-one-ment,’ you see Him masterfully using words.
Khi Ngài nói những điều như ‘sự hợp nhất hoàn toàn và tương hỗ’, các bạn thấy Ngài sử dụng ngôn từ một cách bậc thầy.
Do we not sense the energy of Gemini? The reciprocity of Gemini.
Chẳng phải chúng ta cảm nhận được năng lượng của Song Tử sao? Tính tương hỗ của Song Tử.
[9] It will inaugurate an era wherein—through increased capacity to see the vision
[9] Điều đó sẽ khai mở một kỷ nguyên trong đó—nhờ khả năng thấy được tầm nhìn ngày càng tăng
That's what we're doing.
Đó là điều chúng ta đang làm.
A lot of our work is that, isn't it? Students of esotericism, isn't it that? To see the vision and to present the vision to others so they can become inspired by the vision and desire it so keenly that their will is evoked.
Phần lớn công việc của chúng ta là như vậy, phải không? Đối với các đạo sinh huyền bí học, chẳng phải là như vậy sao? Thấy được tầm nhìn và trình bày tầm nhìn ấy cho người khác để nó truyền cảm hứng cho họ, khiến họ mong muốn nó tha thiết đến mức ý chí của họ được gợi lên.
It will inaugurate an era wherein—through increased capacity to see the vision
Điều đó sẽ khai mở một kỷ nguyên trong đó—nhờ khả năng thấy được tầm nhìn ngày càng tăng
[10] and increased power to identify oneself with the vision—a race of men will be produced whose life expression will be that of love-wisdom.
[10] và quyền năng đồng hoá bản thân với tầm nhìn ngày càng lớn—một nhân loại sẽ xuất hiện mà sự biểu lộ đời sống sẽ là Bác Ái – Minh Triết.
Remember, earlier we talked about the second and fourth ray as the rays which are becoming at least expressive in the human kingdom and also in the Occident. The hope here lies within the Occident, as the East has given the Occident what it needs to go further, just as the Buddha has given the Christ what He needs to go further.
Hãy nhớ rằng trước đó chúng ta đã nói về cung hai và cung bốn như những cung đang ít nhất cũng biểu lộ trong giới nhân loại và cả ở phương Tây. Niềm hy vọng ở đây nằm ở phương Tây, vì phương Đông đã trao cho phương Tây những gì cần thiết để tiến xa hơn, cũng như Đức Phật đã trao cho Đức Christ những gì Ngài cần để tiến xa hơn.
Regarding the will that brings fulfilment in terms of the second ray, the three aspects of will are considered in relation to the three major rays.
Về ý chí mang lại sự viên thành xét theo cung hai, ba phương diện của ý chí được xem xét trong mối liên hệ với ba cung chính.
[11] 2. The will which brings fulfilment demonstrates through the second ray by the means of that driving force which enables the second ray soul steadily to achieve its goal, relentlessly pushing forward, permitting itself no let-up or leeway until the desired goal is reached.
[11] 2. Ý chí mang lại sự viên mãn thể hiện qua cung hai bằng mãnh lực thúc đẩy giúp linh hồn cung hai bền bỉ đạt tới mục tiêu, không ngừng tiến lên, không cho phép mình chùng bước hay chệch hướng cho đến khi đạt được mục tiêu mong muốn.
Would you think that of the second ray type? No let-up, no leeway.
Các bạn có nghĩ người cung hai lại như vậy không? Không chùng xuống, không lơi lỏng.
It's a sentence I like often to quote: a steady push forward, holding on, not releasing one's grip, slowly moving forward. But it's a driving force, and the word drive is oftentimes used in association with the first ray and the sixth ray, and here it is used in association with the second. Steadily achieving its goal, the wise use of slow action, but steadily moving forward, relentlessly pushing forward, permitting itself no let-up, no leeway until the desired goal is reached.
Đó là một câu tôi thường thích trích dẫn: một sự thúc đẩy bền bỉ về phía trước, kiên trì, không buông lỏng, chậm rãi tiến tới. Nhưng đó là một mãnh lực thúc đẩy, và từ thúc đẩy thường gắn với cung một và cung sáu, còn ở đây lại gắn với cung hai. Vững bước đạt đến mục tiêu, sử dụng hành động chậm rãi một cách khôn ngoan, nhưng vẫn đều đặn tiến tới, không ngừng thúc đẩy về phía trước, không cho phép mình chùng xuống hay lơi lỏng cho đến khi đạt được mục tiêu mong muốn.
It's almost like it has some qualities of the sixth ray from which it came in one sense, has some qualities of the sixth ray from which it came, also from the fourth.
Gần như nó có một số phẩm tính của cung sáu mà nó bắt nguồn, theo một nghĩa nào đó, có một số phẩm tính của cung sáu mà nó bắt nguồn, cũng như từ cung bốn.
[12] This is a different expression to the will of the first ray which is dynamic and which crashes forward in spite of all obstacles;
[12] Đây là một cách biểu lộ khác với ý chí cung một, vốn năng động và lao mạnh về phía trước bất chấp mọi chướng ngại;
I think this is a colourful expression which is fairly easy to remember: the dynamic crashing-through-the-wall will. I guess second ray types don't like to run against a wall and break it down, or that steady, relentless, constant driving force applied until the goal is reached.
Tôi nghĩ đây là một cách diễn đạt sinh động, khá dễ nhớ: ý chí năng động lao xuyên qua bức tường. Tôi đoán những người cung hai không thích lao vào một bức tường để phá đổ nó, hay mãnh lực thúc đẩy đều đặn, không ngừng, liên tục ấy được vận dụng cho đến khi đạt được mục tiêu.
When you're wondering about the kind of will that is manifesting through you, here are some excellent descriptions.
Khi các bạn tự hỏi loại ý chí nào đang biểu hiện thông qua mình, đây là một số mô tả rất hay.
[13] the latter does not require
[13] ý chí cung một không cần đến
The slower method. The speed factor is always connected with the first ray, and can be somewhat reduced when connected with the second ray.
Phương pháp chậm hơn. Yếu tố tốc độ luôn gắn với cung một, và có thể giảm đi phần nào khi gắn với cung hai.
the latter does not require [14] the slower methods of the steady drive.
[14] những phương pháp chậm hơn của sự thúc đẩy bền bỉ.
But test yourself and see where you stand with these methods of will as the will becomes active.
Nhưng hãy tự kiểm nghiệm và xem mình ở đâu trong những phương pháp vận dụng ý chí này khi ý chí bắt đầu hoạt động.
[15] 3. It is also the will which conquers death because of its intense love of reality and of that “persistent One” who exists behind all phenomena.
[15] 3. Đó cũng là ý chí chiến thắng cái chết nhờ tình thương mãnh liệt dành cho thực tại và cho “Đấng trường tồn” hiện hữu đằng sau mọi hiện tượng.
Intense love of the Presence which persists forever. That is the one Reality, and all appearances and disappearances do not touch the persistent One. All appearances and disappearances do not touch the persistent One.
Tình yêu mãnh liệt đối với Hiện Diện trường tồn mãi mãi. Đó là Thực Tại duy nhất, và mọi sự xuất hiện hay biến mất đều không tác động đến Đấng trường tồn. Mọi sự xuất hiện hay biến mất đều không tác động đến Đấng trường tồn.
[EAA-147A-F01] Ghi chú MDR về persistent One và will chinh phục sự chết. — video 00:21:28.
[EAA-147A-F01] Ghi chú MDR về Đấng trường tồn và ý chí chinh phục sự chết. — video 00:21:28.
I think we have to see the pattern of what Master DK is doing. One day—and maybe it's been done. I just saw recently a person who had laid out a very intricate picture of the lotuses of our solar system. It was obviously one of those meticulous and tireless efforts.
Tôi nghĩ chúng ta phải thấy được mô hình trong những gì Chân sư DK đang làm. Một ngày nào đó—và có lẽ điều này đã được thực hiện rồi. Gần đây, tôi vừa thấy một người đã trình bày một bức hình rất phức tạp về các hoa sen trong hệ mặt trời của chúng ta. Hiển nhiên, đó là một trong những nỗ lực tỉ mỉ và không mệt mỏi.
One has to have patience when approaching such things, just as one has to have patience when approaching commentaries like this. But the one constant and good thing is that Master DK's words are always there. Even if we don't agree with what I'm saying about it, there are His words, and one can ponder oneself.
Cần có lòng kiên nhẫn khi tiếp cận những điều như thế, cũng như cần có lòng kiên nhẫn khi tiếp cận những bài bình giảng như thế này. Nhưng điều tốt đẹp luôn hiện hữu là lời của Chân sư DK vẫn luôn ở đó. Ngay cả khi chúng ta không đồng ý với những gì tôi nói về chúng, lời của Ngài vẫn ở đó, và mỗi người có thể tự suy ngẫm.
Just stop the machine and ponder. It has intense love of Reality and of that persistent One, the persistent One who is the Reality.
Chỉ cần dừng máy và suy ngẫm. Nó có tình yêu mãnh liệt đối với Thực Tại và đối với Đấng trường tồn ấy, Đấng trường tồn vốn là Thực Tại.
[16] In the Old Commentary this type of will—the will-to-love—is spoken of in the following terms:
[16] Trong Cổ Luận, loại ý chí này—Ý Chí-Yêu Thương—được nói đến bằng những lời sau:
The will to unify is equivalent to the will to love.
Ý chí hợp nhất tương đương với Ý Chí-Yêu Thương.
[17] “The Transcendent One said: I am alone. I must arise and seek with ceaseless urge, that which produces completion, round out my circle whole, intensify My life
[17] Đấng Siêu Việt phán: Ta đơn độc. Ta phải trỗi dậy và tìm kiếm với niềm thôi thúc không ngừng điều mang lại sự hoàn tất, làm trọn vẹn vòng tròn của Ta, tăng cường sự sống của Ta
I bet it's intensify. I'll bet.
Tôi chắc đó là tăng cường. Tôi tin là vậy.
intensify My life
tăng cường Sự sống của Ta
[18] and make Me truly One, and this because I recognise the Two. I must have union with my other self, the self I dimly sense.
[18] và khiến Ta thực sự là Một, bởi Ta nhận biết Hai. Ta phải hợp nhất với bản ngã khác của Ta, bản ngã mà Ta cảm nhận lờ mờ. (625)
[19] Unto My heart I drew that other One and drawing thus I gave enlightenment; I dowered with enrichments; I freely gave.”
[19] Ta thu hút Đấng kia vào tâm Ta, và qua sự thu hút ấy, Ta ban sự giác ngộ; Ta ban tặng sự phong phú; Ta cho đi một cách tự do.”
This tells us how the magnetic power of the second ray works: attracting, and in the attracting,
Điều này cho chúng ta biết quyền năng từ tính của cung hai hoạt động như thế nào: thu hút, và trong sự thu hút ấy,
Unto My heart I drew that other One
Ta thu hút Đấng kia vào tâm Ta
That other One is all the others as one. All others as one.
Đấng kia là tất cả những người khác như một. Tất cả những người khác như một.
and drawing thus I gave enlightenment; I dowered with enrichments; I freely gave.”
và khi thu hút như thế, Ta ban sự giác ngộ; Ta ban tặng sự phong phú; Ta tự do cho đi.”
Remember, we talked about, in Esoteric Healing, giving too much. The second ray gives too much.
Hãy nhớ rằng trong Trị Liệu Huyền Môn, chúng ta đã nói về việc cho đi quá nhiều. Cung hai cho đi quá nhiều.
This is a problem for disease. I guess that's the entirety of it.
Đây là một vấn đề liên quan đến bệnh tật. Tôi đoán đó là toàn bộ nội dung.
DK seems to be telling us how certain types of will are equivalent. In this case, the will to love, the will to unify, and the pursuing of the vision, which is highly motivating. The vision of unity motivates to achieve the unity.
Dường như Chân sư DK đang cho chúng ta biết một số loại ý chí tương đương với nhau như thế nào. Trong trường hợp này là Ý Chí-Yêu Thương, ý chí hợp nhất và sự theo đuổi tầm nhìn, vốn tạo động lực rất mạnh mẽ. Tầm nhìn về sự hợp nhất thúc đẩy việc đạt đến sự hợp nhất.
Here is the fulfilment. It will be fulfilled, and it will not relent until it is fulfilled, and it will stay on its path until the fulfilment is achieved.
Đây là sự viên thành. Nó sẽ được hoàn tất, và sẽ không chùng xuống cho đến khi hoàn tất; nó sẽ tiếp tục trên con đường của mình cho đến khi đạt được sự viên thành.
The Transcendent One is the monad, or the monad of any of the Beings we're talking about, the One who can see the end from the beginning and the One who is above the worlds in which initiatives and effects are being worked out.
Đấng Siêu Việt là chân thần, hay chân thần của bất kỳ Sinh Mệnh nào mà chúng ta đang nói đến, Đấng có thể thấy kết cuộc ngay từ khởi đầu và Đấng vượt trên các cõi trong đó những sự khởi xướng và các kết quả đang diễn ra.
There is a highly abstracted status here.
Ở đây có một trạng thái trừu tượng rất cao.
[20] This embodies not the mystical vision of the other one but the will aspect of the planetary Logos, the incentive behind the life of Shamballa.
[20] Điều này thể hiện phương diện ý chí của Hành Tinh Thượng đế, động lực đằng sau sự sống của Shamballa, chứ không phải linh ảnh thần bí về đấng kia.
What is incentive? Incentive is that which makes any being move. It is attractive and it is impelling. We can have the incentive ahead of us as a vision to be achieved, or the incentive is that which pushes us forward.
Động lực là gì? Động lực là điều khiến bất kỳ sinh linh nào chuyển động. Nó vừa thu hút vừa thôi thúc. Động lực có thể ở phía trước chúng ta như một tầm nhìn cần đạt đến, hoặc là điều thúc đẩy chúng ta tiến lên.
[21] It is the Lord of Sacrifice Who speaks.
[21] Chính Chúa Tể của Sự Hi Sinh đang lên tiếng.
There is a strong connection of the second ray with sacrifice. Also the first ray, differently.
Có một mối liên hệ mạnh mẽ giữa cung hai và sự hi sinh. Cung một cũng vậy, nhưng theo cách khác.
Connection of the second ray with sacrifice.
Mối liên hệ giữa cung hai và sự hi sinh.
[22] The keynote of sacrifice or the “process of making whole” runs through all that concerns the will aspect as it functions through the medium of the seven rays;
[22] Chủ âm hi sinh hay “tiến trình làm cho toàn vẹn” xuyên suốt mọi điều liên quan đến phương diện ý chí khi phương diện này hoạt động qua trung gian bảy cung;
This is so interesting.
Điều này thật thú vị.
We've been told that sacrifice is the process of making sacred. It is not only then the process of making sacred, but the process of making whole. Forgive me, here I go again, but I just have to put that in the Alice Bailey extracts on page 625.
Chúng ta được cho biết rằng hi sinh là tiến trình làm cho thiêng liêng. Vậy đó không chỉ là tiến trình làm cho thiêng liêng, mà còn là tiến trình làm cho trọn vẹn. Xin thứ lỗi, tôi lại làm vậy nữa, nhưng tôi phải đưa điều này vào các trích đoạn Alice Bailey ở trang 625.
Keynotes of sacrifice as the process of making whole, and that is in Esoteric Astrology, 625. While I'm doing this, you can ponder on the keynote and make it more meaningful to yourself.
Các chủ âm của sự hi sinh như tiến trình làm cho trọn vẹn, và điều đó nằm trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, 625. Trong lúc tôi làm việc này, các bạn có thể suy ngẫm về chủ âm ấy để nó trở nên có ý nghĩa hơn với mình.
Sometimes I think I should just slow down, and then of course it would take forever. Not really forever, but too long a time, given the other things to be done.
Đôi khi tôi nghĩ mình nên chậm lại, và rồi dĩ nhiên sẽ mất cả một thời gian vô tận. Thực ra không phải vô tận, nhưng quá lâu, xét đến những việc khác cần làm.
This whole idea of giving is so powerful. Take a look here. This is from Esoteric Healing, and we see how the Great One, the second ray Ray Lord,
Toàn bộ ý tưởng về sự cho đi này thật mạnh mẽ. Hãy xem ở đây. Đoạn này trích từ Trị Liệu Huyền Môn, và chúng ta thấy Đấng Cao Cả, Đấng Chúa Tể Cung hai, đã
poured His life throughout all parts and every aspect of manifestation. (EH, tr. 299) He poured His life,
tuôn đổ sự sống của Ngài khắp mọi phần và mọi phương diện của sự biểu hiện. (EH, tr. 299) Ngài đã tuôn đổ sự sống của Ngài,
From the center to the periphery and from the periphery to the center He rushed, carrying abundance of life, energizing all forms of Himself, producing excess of movement, endless extension, abundant growth and undue haste. (EH, tr. 299)
Từ trung tâm đến chu vi và từ chu vi về trung tâm, Ngài lao đi, mang theo sự sống dồi dào, tiếp năng lượng cho mọi hình tướng của chính Ngài, tạo ra sự vận động quá mức, sự mở rộng vô tận, sự tăng trưởng phong phú và sự vội vã quá độ. (EH, tr. 299)
Imagine that, haste for the second ray.
Hãy tưởng tượng điều đó, sự vội vã ở cung hai.
He knew not what He wanted because He wanted all, desired all, attracted all and gave to all too much.” (EH, tr. 299)
Ngài không biết mình muốn gì vì Ngài muốn tất cả, khao khát tất cả, thu hút tất cả và cho tất cả quá nhiều.” (EH, tr. 299)
It's almost amusing, and there are types of behaviour here associated with the second ray which you might not suspect.
Điều này gần như khá vui, và ở đây có những kiểu hành vi gắn với cung hai mà các bạn có thể không ngờ đến.
Undue haste, running. Usually, I suppose, that's once this second ray type is really motivated. We learn that it can lack love and speed.
Vội vã quá độ, chạy. Tôi cho rằng thường là như vậy khi người cung hai này thực sự có động lực. Chúng ta được biết rằng người cung hai có thể thiếu tình thương và tốc độ.
We learn that in Esoteric Psychology I, unless, of course, it's really motivated. But there we are on page 299, and I think it's worth putting here,
Chúng ta biết điều đó trong Tâm Lý Học Nội Môn I, dĩ nhiên trừ khi người ấy thực sự có động lực. Nhưng đó là ở trang 299, và tôi nghĩ nên đưa vào đây,
I freely gave.”
Ta tự do cho đi.”
Esoteric Healing, 299.
Trị Liệu Huyền Môn, 299.
The Great One poured His life throughout all parts (EH, tr. 299)
Đấng Cao Cả đã tuôn đổ sự sống của Ngài khắp mọi phần (EH, tr. 299)
Outpouring. It's very Aquarian in a way, isn't it? The Old Commentary is extraordinary, telling us the things that seem to be always so. We're not talking about the mystical vision, but the will aspect of the Planetary Logos, the incentive behind the life of Shamballa.
Sự tuôn đổ. Theo một cách nào đó, điều này mang đậm tính Bảo Bình, phải không? Cổ Luận thật phi thường, cho chúng ta biết những điều dường như luôn đúng như vậy. Chúng ta không nói về linh ảnh thần bí, mà về phương diện ý chí của Hành Tinh Thượng đế, động lực đằng sau sự sống của Shamballa.
It is the Lord of Sacrifice Who speaks.
Chính Chúa Tể của Sự Hi Sinh đang nói.
The keynote of sacrifice or the “process of making whole”
Chủ âm của sự hi sinh hay “tiến trình làm cho trọn vẹn”
We say, by giving to all who need to be fulfilled. I would say that the will to fulfilment has a particular connection with the second ray, but it is found as an aspect of all the first three types of will.
Chúng ta nói, bằng cách cho đi đến tất cả những ai cần được viên thành. Tôi cho rằng ý chí hướng đến sự viên thành có mối liên hệ đặc biệt với cung hai, nhưng nó hiện diện như một phương diện của cả ba loại ý chí đầu tiên.
Will to initiate, will to unify, will to evolve. We'll see how He does this.
Ý chí khởi xướng, ý chí hợp nhất, ý chí tiến hoá. Chúng ta sẽ thấy Ngài thực hiện điều này như thế nào.
The keynote of sacrifice or the “process of making whole” runs through all that concerns the will aspect as it functions through the medium of the seven rays;
Chủ âm của sự hi sinh hay “tiến trình làm cho trọn vẹn” xuyên suốt mọi điều liên quan đến phương diện ý chí khi nó hoạt động thông qua bảy cung;
[23] this becomes beautifully apparent in the activity of the second ray as it is the channel for the will of God.
[23] điều này hiện rõ một cách đẹp đẽ trong hoạt động của cung hai, vì cung này là kênh dẫn Ý Chí của Thượng Đế.
Sacrifice, giving, making whole, completing, fulfilling. It's a Jupiterian, solar, Sirian mode of behaviour.
Hi sinh, cho đi, làm cho trọn vẹn, hoàn tất, viên thành. Đó là một cách hành xử mang tính Sao Mộc, Mặt Trời và Sao Thiên Lang.
[EAA-147A-F02] Ghi chú về các mức transcending, transmitting, transforming và transfiguring will. — video 00:32:58.
[EAA-147A-F02] Ghi chú về các mức ý chí siêu việt, truyền dẫn, chuyển đổi và biến hình. — video 00:32:58.
It knows itself—here is the way in which the Being who embodies this type of will will know itself in various ways: as the transcending will, the transmitting will, the transforming will and the transfiguring. It's all pretty intricate here. We have to get the structure.
Nó tự biết mình—đây là cách Sinh Mệnh hiện thân cho loại ý chí này tự biết mình theo những cách khác nhau: như ý chí siêu việt, ý chí truyền dẫn, ý chí chuyển đổi và ý chí biến hình. Mọi điều ở đây khá phức tạp. Chúng ta phải nắm được cấu trúc.
It would be better to lay this out visually, of course.
Dĩ nhiên, sẽ tốt hơn nếu trình bày điều này bằng hình ảnh.
[24] It knows itself as the transcending will because behind its expression of cosmic love (attracting, fusing and producing cohesion) lies a synthetic vision of divine Intention.
[24] Nó biết mình là chính ý chí siêu việt vì đằng sau sự biểu lộ tình thương vũ trụ của nó (thu hút, dung hợp và tạo nên sự cố kết) là một tầm nhìn tổng hợp về Ý Định thiêng liêng.
Always the vision is found here with the second ray.
Ở đây, tầm nhìn luôn hiện diện cùng với cung hai.
Jupiter is a great second ray planet. It's a planet of vision. Interesting that Sagittarius, though, which is a Lord of vision and intuition, is not conveying the second ray, though it does work through Jupiter and has the Sun as one of its decanate rulers.
Sao Mộc là một hành tinh cung hai vĩ đại. Đó là một hành tinh của tầm nhìn. Tuy nhiên, điều thú vị là Nhân Mã, vốn là một Chúa Tể của tầm nhìn và trực giác, lại không truyền dẫn cung hai, dù cung này hoạt động thông qua Sao Mộc và có Mặt Trời là một trong các chủ tinh thập độ của nó.
[25] It differentiates between process and goal, between initiation and that which is revealed by the initiatory process and that is something which as yet is unknown to initiates below the third degree.
[25] Nó phân biệt giữa tiến trình và mục tiêu, giữa điểm đạo và điều mà tiến trình điểm đạo mặc khải; đó là điều mà cho đến nay các điểm đạo đồ dưới cấp độ thứ ba vẫn chưa biết.
that which is revealed by the initiatory process
điều mà tiến trình điểm đạo mặc khải
What is revealed? What do we know or can imagine? Life itself? The initiatory process and that which is something which as yet is unknown to initiates below the third degree.
Điều gì được mặc khải? Chúng ta biết gì hay có thể hình dung điều gì? Chính Sự sống chăng? Tiến trình điểm đạo và điều ấy, vốn là điều mà cho đến nay các điểm đạo đồ dưới cấp ba vẫn chưa biết.
[26] Herein lies the distinction between the Christ and the Buddha.
[26] Chính trong đó có sự khác biệt giữa Đức Christ và Đức Phật.
[27] The latter revealed the process, but the Christ embodied in Himself both goal and process.
[27] Đức Phật đã mặc khải tiến trình, còn Đức Christ thể hiện trong chính Ngài cả mục tiêu lẫn tiến trình.
Of course the Buddha did give the process, but He also, did He not, embody the great light and the great wisdom?
Dĩ nhiên, Đức Phật đã trao truyền tiến trình, nhưng chẳng phải Ngài cũng đã thể hiện ánh sáng vĩ đại và minh triết vĩ đại sao?
[28] He revealed the cosmic principle of love
[28] Ngài đã mặc khải nguyên khí bác ái vũ trụ
Where did He get that? This is from the cosmic astral plane,
Ngài đã có được điều đó từ đâu? Điều này đến từ cõi cảm dục vũ trụ,
[29] and by its means—embodied in Himself—He produced effects also and momentous changes in the world through those presented to Him for initiation.
[29] và nhờ nguyên khí ấy—hiện thân trong chính Ngài—Ngài cũng tạo ra những hiệu quả cùng những biến đổi trọng đại trên thế giới thông qua những người được đưa đến trước Ngài để được điểm đạo.
We might say that the Christ drew others, as the One, into Himself, just as it tells us in the Old Commentary above, when looking at the definition of love, and they were uplifted, enlightened, made whole. This whole-making and the second ray. This is the transcending will. Of course these things have to be pondered and pondered, because behind this expression of cosmic love is the synthetic vision, the vision of what the higher will intends.
Chúng ta có thể nói rằng Đức Christ, với tư cách Đấng Duy Nhất, đã thu hút những người khác vào trong chính Ngài, đúng như Cổ Luận ở trên cho chúng ta biết khi xem xét định nghĩa về tình thương; và họ được nâng cao, soi sáng, trở nên toàn vẹn. Sự làm cho toàn vẹn này gắn với cung hai. Đây là ý chí siêu việt. Dĩ nhiên, phải suy ngẫm đi suy ngẫm lại về những điều này, vì đằng sau sự biểu lộ tình thương vũ trụ này là linh thị tổng hợp, linh thị về điều mà ý chí cao cả hơn dự định thực hiện.
The synthetic vision of what the higher will intends.
Linh thị tổng hợp về điều mà ý chí cao cả hơn dự định thực hiện.
It differentiates between process and goal,
Nó phân biệt giữa tiến trình và mục tiêu,
The goal is higher,
Mục tiêu cao hơn,
between initiation and that which is revealed by the initiatory process and that is something which as yet is unknown to initiates
giữa điểm đạo và điều mà tiến trình điểm đạo mặc khải, và đó là điều mà cho đến nay các điểm đạo đồ vẫn chưa biết
That which is revealed, and the goal, are the two highest things mentioned here, higher than process. DK seems to think that particularly the Buddha revealed process, though to me it seems that He embodied Himself the great light and a great wisdom.
Điều được mặc khải và mục tiêu là hai điều cao nhất được nhắc đến ở đây, cao hơn tiến trình. Dường như Chân sư DK cho rằng Đức Phật đặc biệt mặc khải tiến trình, mặc dù đối với tôi, dường như chính Ngài đã hiện thân cho ánh sáng vĩ đại và minh triết lớn lao.
He revealed the cosmic principle of love and by its means—embodied in Himself
Ngài mặc khải nguyên khí tình thương vũ trụ và nhờ nguyên khí ấy—hiện thân trong chính Ngài
He embodied this cosmic principle. He produced effects also and momentous changes in the world. Maybe we're looking at the changes actually produced by the Christ or the Buddha.
Ngài hiện thân cho nguyên khí vũ trụ này. Ngài cũng tạo ra những tác động và những biến đổi trọng đại trên thế giới. Có lẽ chúng ta đang xem xét những biến đổi mà Đức Christ hoặc Đức Phật đã thực sự tạo ra.
[30] The second ray knows itself as the transmitting will
[30] Cung hai biết mình là ý chí truyền dẫn
It's all one monad and it's all one will, right, with variation.
Tất cả đều là một chân thần duy nhất và một ý chí duy nhất, với những biến thể.
All one monad, Being, acting through differentiations of the one will, or its one will. The second ray Being—I mean, as I go over this, I just say, why don't we live with this for a few years? I've never had to be quite so careful about it, and it only reveals to me that I have not been careful enough.
Tất cả đều là một chân thần duy nhất, một Sinh Mệnh, hoạt động qua những biến phân của ý chí duy nhất, hay ý chí duy nhất của mình. Sinh Mệnh cung hai—khi xem xét lại điều này, tôi chỉ muốn nói rằng chúng ta hãy sống cùng nó trong vài năm. Tôi chưa từng phải xem xét điều này kỹ lưỡng đến thế, và điều đó chỉ cho tôi thấy rằng mình vẫn chưa đủ cẩn trọng.
the transmitting will [31] because through its means something passes between the pair of opposites (spirit-matter) which draws them together until eventually they form one blended whole.
[31] vì nhờ nó, một điều gì đó truyền qua giữa cặp đối cực (tinh thần–vật chất), thu hút chúng lại gần nhau cho đến khi cuối cùng chúng tạo thành một toàn thể hòa quyện.
A transmission of a magnetic something. Before, we had related the transmitting will to the Monadic ray. Of course, the transcending One has that ray, but the transcending One has to communicate something to the transmitting One, who carries it farther into the five worlds or whatever worlds are lower.
Sự truyền dẫn một điều gì đó mang từ tính. Trước đây, chúng ta đã liên hệ ý chí truyền dẫn với cung chân thần. Dĩ nhiên, Đấng siêu việt có cung ấy, nhưng Đấng siêu việt phải truyền đạt một điều gì đó cho Đấng truyền dẫn, Đấng mang điều đó đi xa hơn vào năm cõi giới hoặc bất cứ cõi giới nào thấp hơn.
[32] This is a basic mystery—the basic mystery of initiation and concerns the at-oning will which functions through love.
[32] Đây là một huyền nhiệm căn bản—huyền nhiệm căn bản của điểm đạo, và liên quan đến ý chí hợp nhất hoạt động qua tình thương.
Some beautiful things are said here.
Ở đây có những lời thật đẹp.
[33] Its lowest expression and its most material symbol is the love between the sexes.
[33] Biểu lộ thấp nhất và biểu tượng mang tính vật chất nhất của nó là tình yêu giữa hai giới.
Symbol. One must disengage from attraction to the symbol and utilize the symbol to evoke a still higher meaning of that which the symbol embodies. This is the basic mystery, the mystery of initiation. Something goes forth from the Initiator which draws the opposites together.
Biểu tượng. Người ta phải thoát khỏi sức thu hút của biểu tượng và sử dụng biểu tượng để gợi lên một ý nghĩa còn cao hơn của điều mà biểu tượng ấy hiện thân. Đây là huyền nhiệm căn bản, huyền nhiệm của điểm đạo. Một điều gì đó phát ra từ Đấng Điểm đạo, thu hút các đối cực lại với nhau.
We can say the Initiator is the transmitter, and something goes forth from the Initiator which draws the opposites together, and perhaps we can say that the candidate for initiation is drawn into the Initiator and experiences what the Initiator experiences, at least for that time. Then it has to be sustained. We rise up and enter a new point of tension, and then it has to be somehow held and worked out in the lower worlds.
Chúng ta có thể nói Đấng Điểm đạo là Đấng truyền dẫn, và một điều gì đó phát ra từ Đấng Điểm đạo, thu hút các đối cực lại với nhau; có lẽ chúng ta có thể nói rằng ứng viên điểm đạo được thu hút vào trong Đấng Điểm đạo và trải nghiệm điều mà Đấng Điểm đạo trải nghiệm, ít nhất là trong thời gian ấy. Sau đó, trải nghiệm này phải được duy trì. Chúng ta vươn lên và đi vào một điểm tập trung nhất tâm mới, rồi phải bằng cách nào đó giữ vững điểm ấy và thể hiện nó trong các cõi thấp.
This is, of course, the challenge. One would almost want to ponder every point.
Dĩ nhiên, đây là thách thức. Người ta gần như muốn suy ngẫm từng điểm một.
The second ray knows itself as the transmitting will because through its means
Cung hai biết mình là ý chí truyền dẫn vì nhờ nó
Through this will, as it transmits the second ray,
Thông qua ý chí này, khi nó truyền dẫn cung hai,