Tóm lược chương
Độ sáng của Procyon và các sao khác được đặt bên cạnh khả năng mỗi thực thể có một cấp phát triển riêng trong vũ trụ có thứ bậc. So sánh với Sao Kim cho thấy hình ảnh rực sáng khi nhìn từ Trái Đất có thể gây nhầm. Vì vậy, liên hệ giữa độ sáng nội tại và mức phát triển vẫn là giả thuyết. Hoạt động thông tuệ biểu lộ qua vật chất hình thể, trong khi tình thương thiêng liêng đòi hỏi một cách nhận biết khác. Sơ đồ truyền lực cho thấy năng lượng Shamballa đi tới Trái Đất, nhưng chưa cho biết sự phân phối sau khi tiếp nhận. Một hình chày kim cương bổ sung được hình dung để suy nghĩ về giai đoạn còn thiếu. Ý chí quy định phương diện sự sống đặt…
- Giới hạn của phép suy từ độ sáng
- Từ vật chất hình thể đến ý chí quy định sự sống
- Nguyên mẫu và các xu hướng lớn
Commentary EAA 142c
Tóm Tắt
§ Giới hạn của phép suy từ độ sáng
Độ sáng của Procyon và các sao khác được đặt bên cạnh khả năng mỗi thực thể có một cấp phát triển riêng trong vũ trụ có thứ bậc. So sánh với Sao Kim cho thấy hình ảnh rực sáng khi nhìn từ Trái Đất có thể gây nhầm. Vì vậy, liên hệ giữa độ sáng nội tại và mức phát triển vẫn là giả thuyết.
§ Từ vật chất hình thể đến ý chí quy định sự sống
Hoạt động thông tuệ biểu lộ qua vật chất hình thể, trong khi tình thương thiêng liêng đòi hỏi một cách nhận biết khác. Sơ đồ truyền lực cho thấy năng lượng Shamballa đi tới Trái Đất, nhưng chưa cho biết sự phân phối sau khi tiếp nhận. Một hình chày kim cương bổ sung được hình dung để suy nghĩ về giai đoạn còn thiếu.
§ Nguyên mẫu và các xu hướng lớn
Ý chí quy định phương diện sự sống đặt điều kiện cho sự biểu hiện sáng tạo qua hình thể. Điều đang xét là hướng biểu hiện của các tập hợp lớn như dân tộc, giống dân hoặc lục địa, thay vì từng biến cố riêng. Các nguyên mẫu được hiểu như những ý tưởng quy định xu thế chung của một thời kỳ.
§ Sirius, Sao Mộc và sức tạo hình của lý tưởng
Sirius, Sao Mộc và Sư Tử được nối một cách thăm dò với Kriya-Shakti, khả năng làm cho lý tưởng thiêng liêng có hình thức biểu hiện. Vai trò của Sao Mộc được xét trong tương quan với bình diện Chân Thần và câu hỏi ý niệm nguyên mẫu được truyền vào sự sống biểu hiện thế nào.
§ Ý chí đưa đến viên mãn
Sự viên mãn đòi hỏi quan hệ giữa những phần còn có thể được đưa vào chỉnh thể, nên khác với một tổng hợp tuyệt đối không có phần. Con người cảm thấy tính phân mảnh và tìm sự hoàn tất qua phần việc của mình trong một biểu hiện lớn hơn. Đích được thấy từ đầu có thể định hướng các thử nghiệm sáng tạo cho tới khi trực giác cho thấy cách kết hợp thích hợp.
Text EAA 142C – Văn bản EAA 142C
Esoteric Astrology – Chiêm Tinh Học Nội Môn
[1] We are considering the expression of the Shamballa force in terms of Will, i.e., of divine purpose, [2] latent in the mind of God [3] since the beginning of time and the dawn of creation. [4] In God’s mind, that idea is seen whole and complete. [5] In manifestation it is a gradual, self-revealing evolutionary and demonstrated activity. We know somewhat of the intelligence aspect of God. It is revealed in the living activity of substance. [6] Of the love of that Great Thinker, [7] we are learning slowly and its revelation has reached the stage where the human mind can contrast its (591) mode of living activity with the visioned and sensed love of Deity, expressed as yet by the desire for right human relations and right treatment of all that is non-human. [8] Of the will and purpose of God, humanity knows nothing, [9] for the individual will or the collective human will which could act as interpreter, revealer and also serve as a mode of contact, is dedicated to selfishness and blind to the higher reaches of divine expression. [10] Mankind’s so-called acquiescence in the will of God is based on his wish life, on his negativity and on the visions of the saints. [11] Their keynote was submission and their highest point of spiritual contact was still tinged with dualism and still conditioned by modes of human interpretation.
[1] Chúng ta đang xem xét sự biểu lộ của mãnh lực Shamballa dưới dạng Ý Chí, tức là Thiên Ý, [2] tiềm ẩn trong Trí của Thượng đế [3] từ khởi thủy của thời gian và buổi bình minh của công cuộc sáng tạo. [4] Trong Trí của Thượng đế, ý tưởng ấy được nhìn thấy một cách toàn vẹn và hoàn chỉnh. [5] Trong biểu hiện, đó là một hoạt động tiến hoá dần dần, tự mặc khải và thể hiện thành thực tế. Chúng ta biết phần nào về phương diện trí tuệ của Thượng đế. Phương diện này hiển lộ trong hoạt động sống động của chất liệu. [6] Về tình thương của Đấng Tư Tưởng Vĩ Đại ấy, [7] chúng ta đang chậm rãi học hỏi, và sự mặc khải tình thương ấy đã tiến đến giai đoạn mà thể trí con người có thể đối chiếu (591) phương thức hoạt động sống động của mình với tình thương của Thượng đế mà con người đã thấy trong tầm nhìn và cảm nhận được; cho đến nay, tình thương ấy biểu lộ qua ước muốn có những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và cách đối xử đúng đắn với mọi sự sống ngoài nhân loại. [8] Về ý chí và mục đích của Thượng đế, nhân loại không biết gì, [9] vì ý chí cá nhân hay ý chí tập thể của nhân loại, vốn có thể đóng vai trò diễn giải, mặc khải và cũng có thể làm phương thức tiếp xúc, lại dồn vào tính ích kỷ và mù quáng trước những tầm cao của sự biểu lộ thiêng liêng. [10] Điều gọi là sự thuận theo ý chí của Thượng đế ở nhân loại dựa trên đời sống ước muốn, tính thụ động của con người và những linh ảnh của các vị thánh. [11] Chủ âm của các vị ấy là sự phục tùng, và ngay cả điểm tiếp xúc tinh thần cao nhất của họ vẫn nhuốm màu nhị nguyên luận và vẫn chịu ảnh hưởng của những cách diễn giải của con người.
[12] Under the occult method, we must begin with the universal and the whole; in time the individual and the particular will stand revealed, [13] but in relation to the whole. [14] It should be possible, through a study of the seven rays and their related constellations and their transmitting agents, the planets, to gain some general idea of the pouring through of the Shamballa energy as emerging purpose on the physical plane.
[12] Theo phương pháp huyền bí, chúng ta phải bắt đầu từ cái phổ quát và toàn thể; theo thời gian, cái cá biệt và riêng biệt sẽ hiển lộ, [13] nhưng trong mối liên hệ với toàn thể. [14] Hẳn chúng ta có thể, qua việc nghiên cứu bảy cung, các chòm sao liên hệ với chúng và những tác nhân truyền dẫn của chúng là các hành tinh, có được một ý niệm khái quát về dòng năng lượng Shamballa tuôn chảy xuyên qua, biểu lộ thành mục đích đang xuất hiện trên cõi hồng trần.
[15] I have earlier referred to three major expressions of the will aspect. [16] There is will, as the conditioner of the life aspect. [17] This refers not to events, happenings and occurrence, but to the nature of the life manifestations in any cycle, through any nation or race, where humanity is concerned. [18] This refers also to the broad and general lines which at any time upon the planet are setting the pace for the evolution of forms [19] and which basically concerns the force and endurance of the life as it manifests through and creates those external conditions which are qualified and expressed in terms of life, of quality and appearance. [20] The word “life” in this triplicity of terms refers to life as (592) humanity understands it. [21] The word “life” to which I here refer is the life to which H.P.B. refers as that which synthesises spirit, soul and body. (See The Secret Doctrine, I. 81). [22] It is in reality that fourth something [23] which hovers behind all manifestation and behind all objects, all qualified expressions of divinity and which is hinted at in the Bhagavad Gita in the words: “Having pervaded this whole universe with a fragment of Myself, I remain.”
[15] Trước đây, Tôi đã đề cập đến ba biểu lộ chính của phương diện ý chí. [16] Có ý chí với vai trò định hình phương diện sự sống. [17] Điều này không nói đến các biến cố, sự kiện hay những việc xảy ra, mà nói đến bản chất của những biểu hiện sự sống trong bất kỳ chu kỳ nào, thông qua bất kỳ quốc gia hay giống dân nào, trong phạm vi liên quan đến nhân loại. [18] Điều này cũng nói đến những đường hướng rộng lớn và tổng quát đang, vào bất kỳ thời điểm nào trên hành tinh, ấn định nhịp độ tiến hoá của các hình tướng [19] và về cơ bản liên quan đến mãnh lực cùng sức bền của sự sống khi sự sống biểu hiện qua và tạo ra những điều kiện bên ngoài mang phẩm tính và biểu lộ dưới dạng sự sống, phẩm tính và sắc tướng. [20] Từ “sự sống” trong bộ ba thuật ngữ này chỉ sự sống theo cách (592) nhân loại thấu hiểu. [21] Từ “sự sống” mà Tôi đề cập ở đây là sự sống mà H.P.B. nói đến như cái tổng hợp tinh thần, linh hồn và thân thể. (Xem Giáo Lý Bí Nhiệm, I. 81). [22] Thực ra, đó là một yếu tố thứ tư [23] ẩn hiện đằng sau mọi biểu hiện và mọi đối tượng, mọi biểu lộ mang phẩm tính của thiên tính, và được ám chỉ trong Chí Tôn Ca qua những lời: “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một phần của Chính Ta, Ta vẫn tồn tại.”
[24] There is next the will which brings fulfilment. This is the basis of all relationships and all processes of inter-relation in our solar system [25] and (as far as humanity is concerned) in the planet. [26] It is the prime factor in bringing about the inevitability of the divine consummation; [27] it is the cause of all fruition of all forms on all planes and of divine intention; [28] it is that which lies back of consciousness itself. [29] I know not how else to express this in words [30] and having done so they prove wholly inadequate. [31] There is a faint, dim, uncertain reflection of this will-fulfilment in the joy of achievement as registered by a human being who finds his heart’s desire. [32] Long processes of evolution precede this fulfilment and long experience of the living activity of the will of God as Life. [33] This concentrated evolutionary effort, this undeviating purpose has called forth more than desire and more than the will-to-be-active. [34] There is a realised achievement [35] from the very start [36] for this is the divine will-to-completion [37] which precedes the creative effort. [38] It is the synthesis of creation, or persistent endeavour, [39] adherence to vision and complete sacrifice, and all of these in terms of divine experienced experiment, if I might so formulate the idea. [40] Remember, therefore, that all through these experiences of the divine will runs the thread of a fulfilled synthesis. [41] This is more than cohesion in time and space; [42] it is more (593) than the principle of privation about which H.P.B. speaks, [43] and more than self-imposed limitation. [44] It is the end seen from the beginning; it is alpha and omega producing the completed whole and the perfect fruition of the divine will.
[24] Tiếp đến là loại ý chí mang lại sự viên mãn. Đây là nền tảng của mọi mối quan hệ và mọi tiến trình tương quan trong hệ mặt trời của chúng ta [25] và trên hành tinh này (trong phạm vi liên quan đến nhân loại). [26] Đó là yếu tố chủ yếu khiến sự hoàn thành viên mãn thiêng liêng trở thành điều tất yếu; [27] đó là nguyên nhân khiến mọi hình tướng trên mọi cõi và ý định thiêng liêng đều đạt thành quả; [28] đó là điều nằm đằng sau chính tâm thức. [29] Tôi không biết còn cách nào khác để diễn đạt điều này bằng lời [30] và sau khi đã diễn đạt như vậy, những lời ấy tỏ ra hoàn toàn bất cập. [31] Có một sự phản ánh mờ nhạt, lờ mờ và không rõ rệt của ý chí mang lại sự viên mãn này trong sự hoan hỉ trước thành tựu mà một người cảm nhận khi đạt được điều lòng mình mong muốn. [32] Trước sự viên mãn này là những tiến trình tiến hoá lâu dài và kinh nghiệm lâu dài về hoạt động sống động của ý chí Thượng đế với tư cách là Sự Sống. [33] Nỗ lực tiến hoá tập trung này, mục đích không chệch hướng này đã khơi dậy một điều vượt hơn dục vọng và vượt hơn ý chí muốn hoạt động. [34] Có một thành tựu đã được nhận biết rõ ràng [35] ngay từ khởi đầu [36] vì đây là ý chí thiêng liêng hướng đến sự hoàn tất [37] vốn có trước nỗ lực sáng tạo. [38] Đó là sự tổng hợp của công cuộc sáng tạo, hay nỗ lực bền bỉ, [39] sự kiên trì theo đuổi tầm nhìn và sự hi sinh trọn vẹn; tất cả những điều này đều xét theo một cuộc thử nghiệm đã qua trải nghiệm thiêng liêng, nếu Tôi có thể diễn đạt ý tưởng ấy như vậy. [40] Vì vậy, hãy nhớ rằng xuyên suốt mọi trải nghiệm này của ý chí thiêng liêng là sợi dây của một sự tổng hợp đã hoàn tất. [41] Điều này vượt hơn sự cố kết trong thời gian và không gian; [42] nó vượt (593) hơn nguyên khí về sự thiếu vắng mà H.P.B. nói đến, [43] và vượt hơn sự giới hạn tự đặt ra. [44] Đó là kết cục được nhìn thấy ngay từ khởi đầu; đó là khởi đầu và kết thúc cùng tạo nên toàn thể hoàn chỉnh và thành quả hoàn hảo của ý chí thiêng liêng.
Esoteric Astrology Adventure 142C — Life, Archetype and the Will to Fulfilment – Chiêm Tinh Học Nội Môn Hành Trình Khám Phá 142C — Sự Sống, Nguyên Mẫu và Ý Chí Hướng Đến Sự Viên Mãn
Friends, here we are at the beginning of Esoteric Astrology Adventure number 142C, page 590. We've been looking at the relative magnitudes of stars, absolute luminosities or solar luminosities and apparent luminosities.
Thưa các bạn, chúng ta đang bắt đầu Chiêm Tinh Học Nội Môn, Hành Trình Khám Phá số 142C, trang 590. Chúng ta đã xem xét cấp sao tương đối của các ngôi sao, độ sáng tuyệt đối hay độ sáng tính theo đơn vị Mặt Trời, và độ sáng biểu kiến.
The absolute luminosity, I suppose, has more to do with viewing the star from the same distance. The visual magnitude has something to do with viewing the star from our present position in this solar system, and we've been trying to look at which are the constellations within the One About Whom Naught May Be Said which may be most developed.
Tôi cho rằng độ sáng tuyệt đối liên quan nhiều hơn đến việc quan sát các ngôi sao từ cùng một khoảng cách. Cấp sao thị giác có liên quan đến việc quan sát ngôi sao từ vị trí hiện tại của chúng ta trong hệ mặt trời này; và chúng ta đã cố gắng xem xét những chòm sao nào bên trong Đấng Bất Khả Tư Nghị có thể phát triển nhất.
Within these constellations, we have also been looking at which of the stars are most developed, telling us something about the actual evolution of the constellational Lord, perhaps. When we find, let's just say, that our Sun is a star within a local cosmic, and that all the stars associated with it are more luminous than our Sun, I compared that to the way in which Megrez, the fourth in position, hence related to yellow, in the Great Bear is the least luminous in the Great Bear.
Trong những chòm sao này, chúng ta cũng đã xem xét những ngôi sao nào phát triển nhất; có lẽ điều đó cho chúng ta biết đôi điều về sự tiến hoá thực sự của Đấng Chúa Tể chòm sao. Khi nhận thấy rằng Mặt Trời của chúng ta là một ngôi sao trong một hệ vũ trụ cục bộ, và tất cả các ngôi sao liên kết với nó đều sáng hơn Mặt Trời của chúng ta, tôi đã so sánh điều đó với việc Megrez, ngôi sao ở vị trí thứ tư và do đó liên hệ với màu vàng trong Đại Hùng, là ngôi sao kém sáng nhất trong Đại Hùng.
This way, it's 14 times more luminous than the sun, but Dubhe in the Great Bear is something 200-something times more luminous. Some of the immense stars in Orion, they're like over 100,000 times more luminous than our sun, and it depends.
Theo cách nhìn này, nó sáng gấp 14 lần Mặt Trời, nhưng Dubhe trong Đại Hùng sáng gấp hơn 200 lần. Một số ngôi sao khổng lồ trong Lạp Hộ sáng gấp hơn 100.000 lần Mặt Trời của chúng ta; con số còn tùy trường hợp.
I don't think astronomers really know. They know there's some kind of factor of 100,000 there or more, and some have said there's 300,000 times greater luminosity.
Tôi không nghĩ các nhà thiên văn học thực sự biết rõ. Họ biết hệ số vào khoảng 100.000 lần hoặc hơn, và một số người nói độ sáng lớn hơn tới 300.000 lần.
One has to order the Starry Night program to be sure of that. But anyway, our Sun is a tiny little being, and within the local system of stars, Sirius is twenty-five times more luminous, Vega forty times more luminous, Fomalhaut sixteen times more luminous, Altair ten times more luminous, Alpha Centauri comparable, 1.5 times more luminous.
Muốn biết chắc điều đó, cần đặt mua chương trình Starry Night. Dù sao, Mặt Trời của chúng ta cũng là một Sinh Mệnh rất bé nhỏ; và trong hệ sao cục bộ, Sirius sáng gấp hai mươi lăm lần, Vega sáng gấp bốn mươi lần, Fomalhaut sáng gấp mười sáu lần, Altair sáng gấp mười lần; Alpha Centauri thì tương đương, sáng gấp 1,5 lần.
What does this say about the being who is here evolving when the heart centre and the sacral centre are the least developed of all? Procyon is six times, something like that, six times more luminous. Anyway, is it true then that the luminosity of stars relative to our own Sun tells us something about the internal development of the being of the star? Or does it simply tell us something about the stage of evolution that that star has reached in its cycle, meaning that later it may be more luminous than it is now? That's something that we have to consider. We're off here in the stellar lore, and we're making assumptions about the relative degree of development of the Solar Logoi.
Điều này cho biết gì về Sinh Mệnh đang tiến hoá nơi đây, khi trung tâm tim và trung tâm xương cùng lại kém phát triển nhất trong tất cả các trung tâm? Procyon sáng gấp sáu lần, vào khoảng như vậy, gấp sáu lần. Vậy liệu có đúng là độ sáng của các ngôi sao so với Mặt Trời của chúng ta cho biết đôi điều về sự phát triển bên trong của Sinh Mệnh ngôi sao ấy không? Hay nó chỉ cho biết đôi điều về giai đoạn tiến hoá mà ngôi sao ấy đã đạt tới trong chu kỳ của nó, nghĩa là về sau nó có thể sáng hơn hiện nay? Đó là điều chúng ta phải cân nhắc. Ở đây, chúng ta đang đi vào tri thức về các vì sao và đưa ra những giả định về mức độ phát triển tương đối của các Thái dương Thượng đế.
It's shaky ground at best, but at least we're thinking in that direction because we know in a hierarchical universe every entity has a different stage of development. How can we base the relative development of stars? If we were to look at Venus from our Earth, it's an object of great luminosity, but we know that there are other Planetary Logoi in our solar system which are of higher spiritual status than Venus, though not necessarily as unfolded within its own range of possible unfoldment. Luminosity may have something to do with it.
Cơ sở ấy cùng lắm cũng chỉ là bấp bênh, nhưng ít nhất chúng ta đang suy nghĩ theo hướng đó, vì chúng ta biết rằng trong một vũ trụ có thứ bậc, mỗi thực thể đều ở một giai đoạn phát triển khác nhau. Chúng ta có thể dựa vào đâu để xác định sự phát triển tương đối của các ngôi sao? Nếu quan sát Sao Kim từ Trái Đất, chúng ta thấy đó là một thiên thể rất sáng; nhưng chúng ta biết trong hệ mặt trời còn có những Hành Tinh Thượng đế khác có địa vị tinh thần cao hơn Sao Kim, dù không nhất thiết đã khai mở nhiều bằng Sao Kim trong phạm vi khai mở khả hữu của chính mình. Độ sáng có thể có liên quan phần nào.
But when you're looking at the planets themselves, they shine by reflected light. They don't shine by their own light. So we cannot use luminosity as the test.
Nhưng khi quan sát chính các hành tinh, chúng tỏa sáng nhờ ánh sáng phản chiếu. Chúng không tỏa sáng bằng ánh sáng riêng. Vì vậy, chúng ta không thể dùng độ sáng làm tiêu chuẩn đánh giá.
We know Venus is so important to us because it seems very luminous from our particular position, but in terms of the status of the planet within the entire solar system, we cannot suggest that luminosity tells us the relative status in the sight of the Solar Logos. We know that the Logoi of the three synthesizing planets have got to be the most developed spiritually because they have the greatest function spiritually and are sort of the last man standing in terms of absorption at the end of the solar system.
Chúng ta biết Sao Kim rất quan trọng đối với mình vì từ vị trí cụ thể của chúng ta, nó có vẻ rất sáng; nhưng xét địa vị của hành tinh trong toàn bộ hệ mặt trời, chúng ta không thể cho rằng độ sáng cho biết địa vị tương đối của nó trong mắt Thái dương Thượng đế. Chúng ta biết các Thượng đế của ba hành tinh tổng hợp hẳn phải phát triển nhất về tinh thần, vì Các Ngài có chức năng tinh thần lớn nhất và có thể nói là những vị còn lại sau cùng trong tiến trình hấp thu vào lúc kết thúc hệ mặt trời.
Light and radiation may tell us something about stars and maybe about constellations, but they do not necessarily tell us anything about the relative development of planets. That we have to gather from other sources, from the functions, as we can understand those functions of the planets in the solar system.
Ánh sáng và bức xạ có thể cho biết đôi điều về các ngôi sao, và có lẽ cả các chòm sao, nhưng không nhất thiết cho biết điều gì về sự phát triển tương đối của các hành tinh. Chúng ta phải thu thập hiểu biết ấy từ những nguồn khác, từ các chức năng của những hành tinh trong hệ mặt trời, trong chừng mực chúng ta có thể thấu hiểu những chức năng ấy.
[1] We are considering the expression of the Shamballa force in terms of Will, i.e., of divine purpose,
[1] Chúng ta đang xem xét sự biểu lộ của mãnh lực Shamballa dưới dạng Ý Chí, tức là Thiên Ý,
Here, this is very interesting and important, that will and Divine Purpose are made equivalent. Will and Divine Purpose, or Divine Plan, are made equivalent here, and is this necessarily so? Sometimes the will is considered as that which contains Divine Purpose, and sometimes it is the executor of Divine Purpose, a raw energy.
Ở đây có một điều rất thú vị và quan trọng: ý chí và Thiên Ý được xem là tương đương. Ở đây, Ý Chí và Thiên Ý, hay Thiên Cơ, được xem là tương đương; nhưng có nhất thiết như vậy không? Đôi khi ý chí được xem là cái chứa đựng Thiên Ý, và đôi khi lại là cái thực thi Thiên Ý, một năng lượng nguyên sơ.
Sometimes will is the power which makes Divine Purpose manifest. At other times, will is equivalent to Divine Purpose. What is the Will of God? What is the purpose of God? These are seen as equivalent questions.
Đôi khi ý chí là quyền năng khiến Thiên Ý biểu hiện. Những lúc khác, ý chí lại tương đương với Thiên Ý. Ý Chí của Thượng Đế là gì? Mục đích của Thượng đế là gì? Đây được xem là những câu hỏi tương đương.
in terms of Will, i.e., of divine purpose,
dưới góc độ Ý Chí, tức Thiên Ý,
[2] latent in the mind of God
[2] tiềm ẩn trong Trí của Thượng đế
Purpose is in the mind of God.
Thiên Ý nằm trong Trí của Thượng đế.
[3] since the beginning of time and the dawn of creation.
[3] từ khởi thủy của thời gian và buổi bình minh của công cuộc sáng tạo.
We could say that purpose emerges from the mind of God.
Chúng ta có thể nói rằng Thiên Ý xuất hiện từ Trí của Thượng đế.
[4] In God’s mind, that idea is seen whole and complete.
[4] Trong Trí của Thượng đế, ý tưởng ấy được nhìn thấy một cách toàn vẹn và hoàn chỉnh.
This is what we call our standing wave, an idea or archetype as a standing wave, sustained by the Will of God and conceived in the mind of God, and we mean the Planetary Logos in this case.
Đây là điều chúng ta gọi là sóng dừng: một ý tưởng hay nguyên mẫu như một sóng dừng, do Ý Chí của Thượng Đế duy trì và hình thành trong Trí của Thượng đế; trong trường hợp này, chúng ta muốn nói đến Hành Tinh Thượng đế.
[5] In manifestation it is a gradual, self-revealing evolutionary and demonstrated activity. We know somewhat of the intelligence aspect of God. It is revealed in the living activity of substance.
[5] Trong biểu hiện, đó là một hoạt động tiến hoá dần dần, tự mặc khải và thể hiện thành thực tế. Chúng ta biết phần nào về phương diện trí tuệ của Thượng đế. Phương diện này hiển lộ trong hoạt động sống động của chất liệu.
If we wish to look at the matter-substance aspect of God, it will reveal his intelligence.
Nếu chúng ta muốn xem xét phương diện vật chất–chất liệu của Thượng đế, phương diện ấy sẽ bộc lộ trí thông tuệ của Ngài.
[6] Of the love of that Great Thinker,
[6] Về tình thương của Đấng Tư Tưởng Vĩ Đại ấy,
Whatever, are we talking about the Planetary Logos, Solar Logos, greater Logos?
Dù là trường hợp nào, chúng ta đang nói đến Hành Tinh Thượng đế, Thái dương Thượng đế hay một Thượng đế cao cả hơn?
Of the love of that Great Thinker,
Về tình thương của Đấng Tư Tưởng Vĩ Đại ấy,
[7] we are learning slowly and its revelation has reached the stage where the human mind can contrast its mode of living activity with the visioned and sensed love of Deity, expressed as yet by the desire for right human relations and right treatment of all that is non-human.
[7] chúng ta đang chậm rãi học hỏi, và sự mặc khải tình thương ấy đã tiến đến giai đoạn mà thể trí con người có thể đối chiếu (591) phương thức hoạt động sống động của mình với tình thương của Thượng đế mà con người đã thấy trong tầm nhìn và cảm nhận được; cho đến nay, tình thương ấy biểu lộ qua ước muốn có những mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và cách đối xử đúng đắn với mọi sự sống ngoài nhân loại.
We know by looking at matter-form something of the intelligence aspect of God.
Qua việc quan sát vật chất–hình tướng, chúng ta biết đôi điều về phương diện trí thông tuệ của Thượng đế.
If we look at matter-form, we know something of the intelligence of God. But if we're thinking about the love of that Great Thinker, and notice how he emphasizes the third aspect of divinity there, we are reaching the stage where the human mind can contrast its mode of living activity with the visioned and sensed love of Deity, expressed as yet by the desire for right relations and treatment of all that is non-human. The great love of God comes upon us at times, and we have certain desires which seem to be informed by the love of God.
Nếu quan sát vật chất–hình tướng, chúng ta biết đôi điều về trí thông tuệ của Thượng đế. Nhưng nếu suy nghĩ về tình thương của Đấng Tư Tưởng Vĩ Đại ấy — và hãy lưu ý cách Ngài nhấn mạnh phương diện thứ ba của thiên tính ở đây — thì chúng ta đang tiến đến giai đoạn mà thể trí con người có thể đối chiếu phương thức hoạt động sống động của mình với tình thương của Thượng đế mà mình đã thấy trong linh thị và cảm nhận được; cho đến nay, tình thương ấy biểu lộ qua lòng mong muốn có những mối quan hệ đúng đắn và đối xử đúng đắn với tất cả những gì không thuộc nhân loại. Đôi lúc tình thương vĩ đại của Thượng đế đến với chúng ta, và chúng ta có những ước muốn dường như thấm nhuần tình thương của Thượng đế.
But it is less frequently experienced, perhaps, than the intelligence of God.
Nhưng có lẽ chúng ta ít trải nghiệm tình thương ấy hơn trí thông tuệ của Thượng đế.
[8] Of the will and purpose of God, humanity knows nothing,
[8] Về ý chí và mục đích của Thượng đế, nhân loại không biết gì,
It is conceived in the divine mind; maybe a few hints are given.
Điều ấy hình thành trong trí tuệ thiêng liêng; có lẽ chúng ta được ban cho một vài gợi ý.
[9] for the individual will or the collective human will which could act as interpreter, revealer and also serve as a mode of contact, is dedicated to selfishness and blind to the higher reaches of divine expression.
[9] vì ý chí cá nhân hay ý chí tập thể của nhân loại, vốn có thể đóng vai trò diễn giải, mặc khải và cũng có thể làm phương thức tiếp xúc, lại dồn vào tính ích kỷ và mù quáng trước những tầm cao của sự biểu lộ thiêng liêng.
When our true and higher will is developed, then we will have an instrument which can act as interpreter of the will of the One in Whom we live and have our being. Maybe not. The One in Whom? The One in Whom we live and has his being—the One in Whom we live and have our being.
Khi ý chí chân thực và cao siêu của chúng ta phát triển, chúng ta sẽ có một công cụ có thể diễn giải ý chí của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống và hiện tồn. Có lẽ không phải vậy. Đấng mà trong Ngài? Đấng mà trong Ngài chúng ta sống và Ngài hiện tồn—Đấng mà trong Ngài chúng ta sống và hiện tồn.
[10] Mankind’s so-called acquiescence in the will of God is based on his wish life, on his negativity and on the visions of the saints.
[10] Điều gọi là sự thuận theo ý chí của Thượng đế ở nhân loại dựa trên đời sống ước muốn, tính thụ động của con người và những linh ảnh của các vị thánh.
But not on his own experience, right? But not on man's own experience.
Nhưng không dựa trên trải nghiệm của chính con người, phải không? Không dựa trên trải nghiệm của chính con người.
[11] Their keynote was submission and their highest point of spiritual contact was still tinged with dualism and still conditioned by modes of human interpretation.
[11] Chủ âm của các vị ấy là sự phục tùng, và ngay cả điểm tiếp xúc tinh thần cao nhất của họ vẫn nhuốm màu nhị nguyên luận và vẫn chịu ảnh hưởng của những cách diễn giải của con người.
Sometimes we talk about God immanent.
Đôi khi chúng ta nói đến Thượng đế nội tại.
I think we could talk about will immanent or love immanent, we do. We say the love of God is within us and we could also say the Will of God is within us, and that would be an idea that is not tinged with dualism.
Tôi nghĩ chúng ta có thể nói đến ý chí nội tại hay tình thương nội tại; thực ra chúng ta vẫn nói như vậy. Chúng ta nói tình thương của Thượng đế ở bên trong mình, và cũng có thể nói Ý Chí của Thượng Đế ở bên trong mình; đó sẽ là một ý tưởng không nhuốm màu nhị nguyên luận.
When we acquiesce to the Will of God, we hope in our wish life that something good will happen. We don't know how to express the Will of God and we hope that the Will of God will be beneficial to us in our form life, and the saints have acquiesced and we think we can acquiesce too.
Khi thuận theo Ý Chí của Thượng Đế, trong đời sống ước muốn, chúng ta hy vọng một điều tốt đẹp nào đó sẽ xảy ra. Chúng ta không biết cách biểu lộ Ý Chí của Thượng Đế và hy vọng Ý Chí của Thượng Đế sẽ có lợi cho mình trong đời sống hình tướng; các vị thánh đã thuận theo, và chúng ta nghĩ mình cũng có thể thuận theo.
Acquiesce with non-understanding. So we tend to acquiesce in a state of non-understanding to the Will of God. But it's not our own experience and we say we can't understand these things, it's too powerful for us, let us simply give in and give up and God will have his will.
Thuận theo mà không thấu hiểu. Vì vậy, chúng ta có xu hướng thuận theo Ý Chí của Thượng Đế trong trạng thái không thấu hiểu. Nhưng đó không phải trải nghiệm của chính chúng ta; chúng ta nói rằng mình không thể thấu hiểu những điều này, chúng quá mạnh mẽ đối với mình, nên cứ đơn giản là nhượng bộ, buông xuôi, và Thượng đế sẽ thực hiện ý chí của Ngài.
This is coming out of the powerlessness and lack of understanding of the human being. We have really, the truth of it is, intelligence immanent in man, divine intelligence immanent, divine love, God as love immanent, God as will immanent in us because there really is no duality between God and us. We actually are an expression of the Deity, not just a creation but an expression, and therefore of the same substance as God.
Điều này xuất phát từ sự bất lực và thiếu thấu hiểu của con người. Sự thật là chúng ta có trí thông tuệ nội tại trong con người, trí thông tuệ thiêng liêng nội tại, tình thương thiêng liêng, Thượng đế nội tại như tình thương, Thượng đế nội tại như ý chí trong chúng ta, vì thực sự không có tính nhị nguyên giữa Thượng đế và chúng ta. Chúng ta thực sự là một biểu lộ của Thượng đế, không chỉ là một tạo vật mà là một biểu lộ, và do đó có cùng chất liệu với Thượng đế.
We're of the same substance as any God. Oh yes, this is quite a section. He's trying to prime us for the discussion of the will and I went off on a bit of a tangent there trying to look at what were the most powerful beings in our local Cosmic Logos and hence the most powerful chakras at the time and what were the most powerful beings in our local super-constellational Logos and hence the most powerful chakras in the super-constellational Logos.
Chúng ta có cùng chất liệu với bất kỳ Thượng đế nào. Đúng vậy, đây là một phần rất đáng chú ý. Ngài đang cố gắng chuẩn bị cho chúng ta bước vào cuộc thảo luận về ý chí; còn tôi đã hơi đi xa khỏi chủ đề khi cố gắng xem xét những Sinh Mệnh nào mạnh mẽ nhất trong Vũ Trụ Thượng đế cục bộ của chúng ta, và do đó những luân xa nào mạnh mẽ nhất vào lúc này; cũng như những Sinh Mệnh nào mạnh mẽ nhất trong Thượng đế siêu chòm sao cục bộ của chúng ta, và do đó những luân xa nào mạnh mẽ nhất trong Thượng đế siêu chòm sao ấy.
This would tell us something about how far through its development any one of these Logoi may be. We're told that our Solar Logos is half way through and our Planetary Logos is half way through. What about our local Cosmic Logos? If indeed the higher chakras are more expressive and developed and radiant, maybe it's more than half way through, maybe.
Điều này sẽ cho chúng ta biết đôi điều về việc mỗi Thượng đế trong số này có thể đã tiến xa đến đâu trong sự phát triển của mình. Chúng ta được cho biết rằng Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đều đã đi được nửa chặng đường. Còn Vũ Trụ Thượng đế cục bộ của chúng ta thì sao? Nếu quả thực các luân xa cao biểu lộ mạnh mẽ hơn, phát triển hơn và tỏa sáng hơn, có lẽ Ngài đã đi được hơn nửa chặng đường, có lẽ vậy.
But I don't see how that could be if our sun is the heart center and is not very luminous. It could tell us something about the ray of our local constellational Logos, and in our super-constellational Logoi, what are the most brilliant of the chakras? It could tell us something about that level of development.
Nhưng tôi không thấy điều đó có thể đúng như thế nào nếu Mặt Trời của chúng ta là trung tâm tim mà lại không sáng lắm. Điều ấy có thể cho chúng ta biết đôi điều về cung của Thượng đế chòm sao cục bộ của chúng ta; còn trong các Thượng đế siêu chòm sao của chúng ta, những luân xa nào rực sáng nhất? Điều ấy có thể cho chúng ta biết đôi điều về cấp độ phát triển đó.
If, Draco is pretty strong and if it represents Kundalini, it could tell us something about the relative development of our One About Whom Naught May Be Said. But what is really the heart center? If it's Orion, then the heart center is very, very strong and our local One About Whom Naught May Be Said, whatever its rays may be, is very highly developed. Contrast the idea that Orion is the heart center of our local One About Whom Naught May Be Said, which it may or may not be.
Nếu Thiên Long khá mạnh và đại diện cho hỏa xà, điều đó có thể cho biết đôi điều về sự phát triển tương đối của Đấng Bất Khả Tư Nghị của chúng ta. Nhưng đâu mới thực sự là trung tâm tim? Nếu đó là Lạp Hộ, thì trung tâm tim rất, rất mạnh, và Đấng Bất Khả Tư Nghị cục bộ của chúng ta, bất kể các cung của Ngài là gì, đã phát triển rất cao. Hãy đối chiếu điều đó với ý tưởng cho rằng Lạp Hộ là trung tâm tim của Đấng Bất Khả Tư Nghị cục bộ của chúng ta, dù điều này có thể đúng hoặc không.
Some people say, it's more the solar plexus and that would tell a story too. If Orion were the solar plexus, then we'd have, and being so developed, we'd have a solar plexus focused, One About Whom Naught May Be Said, much like our Solar Logos. Now if Venus is the solar plexus, we'd have a very developed planet, Venus the solar plexus of our solar system, very highly developed solar plexus center in our local, in our sun, in our Solar Logos.
Một số người nói Lạp Hộ thiên về tùng thái dương hơn, và điều đó cũng cho biết đôi điều. Nếu Lạp Hộ là tùng thái dương và đã phát triển đến thế, thì chúng ta sẽ có một Đấng Bất Khả Tư Nghị tập trung ở tùng thái dương, rất giống Thái dương Thượng đế của chúng ta. Còn nếu Sao Kim là tùng thái dương, thì chúng ta có một hành tinh rất phát triển: Sao Kim, tùng thái dương của hệ mặt trời chúng ta, một trung tâm tùng thái dương phát triển rất cao trong Mặt Trời, trong Thái dương Thượng đế của chúng ta.
Orion, could that be comparable? Or is Orion the heart center telling us that our local One About Whom Naught May Be Said is highly developed in one of the higher chakras? I guess this is the kind of thing that members of the astrological department of Hierarchy could speculate on far more meaningfully than we could. I just have the habit of speculation, which is a reaching out of the mind towards, the reasoned reaching out of the mind towards intuitive confirmation. That's what it is to me.
Lạp Hộ có thể tương đương như vậy không? Hay Lạp Hộ là trung tâm tim, cho biết Đấng Bất Khả Tư Nghị cục bộ của chúng ta đã phát triển cao ở một trong các luân xa cao? Tôi đoán đây là loại vấn đề mà các thành viên thuộc ban chiêm tinh của Thánh đoàn có thể suy biện một cách có ý nghĩa hơn chúng ta rất nhiều. Tôi chỉ có thói quen suy biện, tức là sự vươn tới của thể trí, sự vươn tới có lý lẽ của thể trí nhằm tìm kiếm sự xác nhận bằng trực giác. Đối với tôi, suy biện là như vậy.
[EAA-142C-F01] Định nghĩa speculation được MDR ghi thêm trên màn hình. — video 00:19:51.
[EAA-142C-F01] Định nghĩa suy biện được MDR ghi thêm trên màn hình. — video 00:19:51.
Speculation: the reasoned reaching out of the abstract mind towards the possibility of intuitive confirmation. That's how, at least it seems to me.
Suy biện: sự vươn tới có lý lẽ của trí trừu tượng hướng đến khả năng được trực giác xác nhận. Ít nhất đối với tôi, dường như là như vậy.
[12] Under the occult method, we must begin with the universal and the whole; in time the individual and the particular will stand revealed,
[12] Theo phương pháp huyền bí, chúng ta phải bắt đầu từ cái phổ quát và toàn thể; theo thời gian, cái cá biệt và riêng biệt sẽ hiển lộ,
But this takes patience.
Nhưng điều này đòi hỏi sự kiên nhẫn.
[13] but in relation to the whole.
[13] nhưng trong mối liên hệ với toàn thể.
But in relation to the whole, not just in isolation.
Nhưng phải trong mối liên hệ với toàn thể, chứ không chỉ riêng lẻ.
[14] It should be possible, through a study of the seven rays and their related constellations and their transmitting agents, the planets, to gain some general idea of the pouring through of the Shamballa energy as emerging purpose on the physical plane.
[14] Hẳn chúng ta có thể, qua việc nghiên cứu bảy cung, các chòm sao liên hệ với chúng và những tác nhân truyền dẫn của chúng là các hành tinh, có được một ý niệm khái quát về dòng năng lượng Shamballa tuôn chảy xuyên qua, biểu lộ thành mục đích đang xuất hiện trên cõi hồng trần.
When it reaches to the Earth, it's going to reach to Shamballa because the Great Bear is connected with Shamballa. The Great Bear is connected to Shamballa, and in Shamballa, under the Law of Assembly, these energies are gathered.
Khi đến Trái Đất, năng lượng ấy sẽ đến Shamballa, vì Đại Hùng liên kết với Shamballa. Đại Hùng liên kết với Shamballa, và tại Shamballa, theo Định luật Tập Hợp, những năng lượng này được quy tụ.
It should be possible, through a study of the seven rays
Qua việc nghiên cứu bảy cung, hẳn chúng ta có thể
He didn't say seven stars, did he? But whichever, wherever the rays come from and however powerful they may be, certainly there are rays more powerful than that coming through the Great Bear. Maybe coming through the hub of the wheel, the hub of the wheel maybe being the Pleiades and maybe through the head centers of the One About Whom Naught May Be Said and through the heart in the head center. These rays will be found to come forth.
Ngài không nói bảy ngôi sao, phải không? Nhưng bất kể đó là những cung nào, đến từ đâu và mạnh đến mức nào, chắc chắn có những cung mạnh hơn cung truyền qua Đại Hùng. Có lẽ chúng đến qua trục bánh xe; trục bánh xe có thể là Thất Nữ, và có lẽ qua các trung tâm đầu của Đấng Bất Khả Tư Nghị, cũng như qua trung tâm tim trong đầu. Chúng ta sẽ nhận thấy những cung này phát ra từ đó.
Anyway, we know that there have to be constellational rays which are of greater power than the rays of Solar Logoi within those constellations. It just stands to reason.
Dù sao, chúng ta biết hẳn phải có những cung của chòm sao mang quyền năng lớn hơn các cung của những Thái dương Thượng đế bên trong các chòm sao ấy. Điều đó hoàn toàn hợp lý.
It should be possible, through a study of the seven rays and their related constellations
Qua việc nghiên cứu bảy cung và các chòm sao liên hệ với chúng, hẳn chúng ta có thể
He's not saying signs here.
Ở đây Ngài không nói đến các dấu hiệu.
[EAA-142C-F02] Diagram Four: Ray One qua Aries, Leo, Capricorn và các hành tinh đến Trái Đất. — video 00:19:35.
[EAA-142C-F02] Sơ đồ Bốn: Cung một qua Bạch Dương, Sư Tử, Ma Kết và các hành tinh đến Trái Đất. — video 00:19:35.
and their transmitting agents, the planets, to gain some general idea of the pouring through of the Shamballa energy as emerging purpose on the physical plane.
và những tác nhân truyền dẫn của chúng là các hành tinh, đạt được một ý niệm khái quát nào đó về dòng năng lượng Shamballa tuôn chảy xuyên qua, biểu lộ thành mục đích đang xuất hiện trên cõi hồng trần.
Because whatever pours through into Shamballa—page 610 again—this will be received by Shamballa. The receiving point here is really Shamballa, where all the planetary energies and stellar energies come, even if they are not particularly attuned to Shamballa.
Vì bất cứ điều gì tuôn chảy vào Shamballa — lại là trang 610 — đều sẽ được Shamballa tiếp nhận. Điểm tiếp nhận ở đây thực sự là Shamballa, nơi mọi năng lượng hành tinh và năng lượng tinh tú đều đến, ngay cả khi chúng không đặc biệt hòa điệu với Shamballa.
Certainly Aries, Leo and Capricorn are much connected with Shamballa, but it is Shamballa where the energies are gathered and organized and then distributed to lesser centres.
Chắc chắn Bạch Dương, Sư Tử và Ma Kết có liên hệ rất mật thiết với Shamballa; nhưng chính tại Shamballa, các năng lượng được quy tụ, tổ chức rồi phân phối đến những trung tâm nhỏ hơn.
We can gain some general idea of the pouring through of the Shamballa energy as emerging purpose on the physical plane. We are shown nothing lower than the Earth as the receptor, but we could draw another dorje to plot the distribution and reception of the energies received as shown on page 610, whatever figure that may be. Diagram IV, Diagrams III and IV, because III is a general diagram and IV is a specific diagram dealing with the first ray.
Chúng ta có thể đạt được một ý niệm khái quát nào đó về dòng năng lượng Shamballa tuôn chảy xuyên qua, biểu lộ thành mục đích đang xuất hiện trên cõi hồng trần. Hình minh họa không cho thấy nơi tiếp nhận nào thấp hơn Trái Đất, nhưng chúng ta có thể vẽ thêm một chày kim cang để biểu thị sự phân phối và tiếp nhận những năng lượng đã nhận được, như hình ở trang 610, bất kể đó là hình số mấy. Sơ đồ IV, các Sơ đồ III và IV, vì III là sơ đồ tổng quát, còn IV là sơ đồ cụ thể đề cập đến cung một.
[15] I have earlier referred to three major expressions of the will aspect.
[15] Trước đây, Tôi đã đề cập đến ba biểu lộ chính của phương diện ý chí.
We remember it was, well I think it's going to be called the will to create, the will to fulfillment and the will which conquers death, and we looked at that just a little while ago. The first one has to do with the life aspect.
Chúng ta nhớ đó là — tôi nghĩ chúng sẽ được gọi là — ý chí sáng tạo, ý chí hướng đến sự viên mãn và ý chí chinh phục sự chết; chúng ta vừa xem xét điều đó cách đây không lâu. Biểu lộ thứ nhất liên quan đến phương diện sự sống.
[EAA-142C-F03] Ba biểu hiện chính của Will và các liên hệ Aries, Leo, Capricorn do MDR ghi. — video 00:24:00.
[EAA-142C-F03] Ba biểu hiện chính của Ý Chí và các liên hệ với Bạch Dương, Sư Tử, Ma Kết do MDR ghi. — video 00:24:00.
There it is:
Đây rồi:
1. The Will which conditions the life aspect. (EA, tr. 583)
1. Ý Chí định hình phương diện sự sống. (EA, tr. 583)
That's the first one.
Đó là biểu lộ thứ nhất.
I have earlier referred to three major expressions of the will aspect.
Trước đây Tôi đã đề cập đến ba biểu lộ chính của phương diện ý chí.
Obviously this is going to be one of the most important and least understood areas of the text, I think.
Tôi nghĩ rõ ràng đây sẽ là một trong những phần quan trọng nhất và ít được thấu hiểu nhất của bản văn.
The will which conditions the life aspect provides the conditions through which the life aspect must express, we might say, because it's how the life aspect expresses creatively, creatively through form. Then the will which brings fulfilment of right human relations, it's sometimes just called the will which brings fulfilment. It has to do with the second aspect of divinity to which Leo is so connected, interestingly, when comparing the three fire signs.
Có thể nói ý chí định hình phương diện sự sống cung cấp những điều kiện mà qua đó phương diện sự sống phải biểu lộ, vì đây là cách phương diện sự sống biểu lộ một cách sáng tạo, sáng tạo qua hình tướng. Tiếp đến là ý chí mang lại sự viên mãn cho các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người; đôi khi nó chỉ được gọi là ý chí mang lại sự viên mãn. Nó liên quan đến phương diện thứ hai của thiên tính, vốn gắn bó mật thiết với Sư Tử — một điều thú vị khi so sánh ba dấu hiệu hành hỏa.
The will which finally conquers death, connected with the sixth formula in DINA II. Let's look at that just for a moment, Formula VI.
Ý chí cuối cùng chinh phục sự chết liên hệ với công thức thứ sáu trong DINA II. Chúng ta hãy xem qua điều đó một chút, Công Thức VI.
[EAA-142C-F04] Formula VI trong Discipleship in the New Age Volume II được MDR mở. — video 00:23:20.
[EAA-142C-F04] Công Thức VI trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập II được MDR mở. — video 00:23:20.
Concerns Death. The constructive work of the Destroyer aspect. The "passing" of zodiacal and other cycles. (DINA II, tr. 345)
Liên quan đến Sự Chết. Công việc kiến tạo của phương diện Hủy Diệt. Sự “qua đi” của các chu kỳ hoàng đạo và những chu kỳ khác. (DINA II, tr. 345)
It makes sure that we are not contained within that which has died.
Nó bảo đảm rằng chúng ta không bị giam giữ trong những gì đã chết.
It's a deduction from the other five, and there's going to be more ideas about it elsewhere. But the will that conquers death, it conquers the stifling effect of outmoded form so that the life-consciousness within can be free.
Đây là một suy luận rút ra từ năm công thức kia, và ở những phần khác sẽ có thêm các ý tưởng về điều này. Nhưng ý chí chinh phục sự chết khắc phục tác động ngột ngạt của hình tướng lỗi thời, để sự sống–tâm thức bên trong có thể được tự do.
[16] There is will, as the conditioner of the life aspect.
[16] Có ý chí với vai trò định hình phương diện sự sống.
That's going to be related to Aries.
Điều đó sẽ liên hệ với Bạch Dương.
[17] This refers not to events, happenings and occurrence, but to the nature of the life manifestations in any cycle, through any nation or race, where humanity is concerned.
[17] Điều này không nói đến các biến cố, sự kiện hay những việc xảy ra, mà nói đến bản chất của những biểu hiện sự sống trong bất kỳ chu kỳ nào, thông qua bất kỳ quốc gia hay giống dân nào, trong phạm vi liên quan đến nhân loại.
It's not a small matter.
Đây không phải chuyện nhỏ.
It refers to the nature of life manifestations. How does the life aspect manifest in any cycle through these larger configurations of nation and race where humanity is concerned?
Điều này đề cập đến bản chất của những biểu hiện sự sống. Trong phạm vi liên quan đến nhân loại, phương diện sự sống biểu hiện như thế nào trong bất kỳ chu kỳ nào, qua những tập hợp lớn hơn là quốc gia và nhân loại?
[18] This refers also to the broad and general lines which at any time upon the planet are setting the pace for the evolution of forms
[18] Điều này cũng nói đến những đường hướng rộng lớn và tổng quát đang, vào bất kỳ thời điểm nào trên hành tinh, ấn định nhịp độ tiến hoá của các hình tướng
When we see a phrase like ‘setting the pace,’ this reminds of Aries, which is connected with this first aspect of the will.
Khi thấy một cụm từ như “ấn định nhịp độ”, chúng ta nhớ đến Bạch Dương, vốn liên hệ với phương diện thứ nhất này của ý chí.
There are broad and general lines of energy, I suppose, of direction, of pattern which set the pace for the evolution of forms. They drive the evolution of forms forward,
Tôi cho rằng có những đường hướng rộng lớn và tổng quát về năng lượng, về phương hướng, về mô hình, đang ấn định nhịp độ tiến hoá của các hình tướng. Chúng thúc đẩy sự tiến hoá của các hình tướng tiến về phía trước,
[19] and which basically concerns the force and endurance of the life as it manifests through and creates those external conditions which are qualified and expressed in terms of life, of quality and appearance.
[19] và về cơ bản liên quan đến mãnh lực cùng sức bền của sự sống khi sự sống biểu hiện qua và tạo ra những điều kiện bên ngoài mang phẩm tính và biểu lộ dưới dạng sự sống, phẩm tính và sắc tướng.
How will life appear? How and through what will life appear? The will that conditions the life aspect determines this.
Sự sống sẽ xuất hiện như thế nào? Sự sống sẽ xuất hiện bằng cách nào và qua những gì? Ý chí định hình phương diện sự sống quyết định điều này.
The will that conditions the life aspect will determine this. The conditioner of the life aspect, this refers not to events, happenings and occurrence but to the nature of the life manifestations through any nation or race where humanity is concerned, and not so much the smaller units of manifestation. Here, not the smaller units of manifestation, but to the nature of the life manifestations in any cycle through nation or race.
Ý chí định hình phương diện sự sống sẽ quyết định điều này. Vai trò định hình phương diện sự sống không đề cập đến các biến cố, sự việc và những gì xảy ra, mà đến bản chất của những biểu hiện sự sống qua bất kỳ quốc gia hay nhân loại nào, trong phạm vi liên quan đến nhân loại, hơn là những đơn vị biểu hiện nhỏ hơn. Ở đây không phải những đơn vị biểu hiện nhỏ hơn, mà là bản chất của những biểu hiện sự sống trong bất kỳ chu kỳ nào, qua quốc gia hay nhân loại.
Broad and general outlines which condition the life quality and appearance, which condition the quality and appearance of life. So the quality and appearance of life are being conditioned by this will as the conditioner of the life aspect. So it's the broad manifestations.
Những đường nét rộng lớn và tổng quát định hình sự sống, phẩm tính và sắc tướng, định hình phẩm tính và sắc tướng của sự sống. Như vậy, phẩm tính và sắc tướng của sự sống chịu sự định hình của ý chí này, với vai trò định hình phương diện sự sống. Vì thế, đây là những biểu hiện trên quy mô rộng lớn.
[20] The word “life” in this triplicity of terms refers to life as humanity understands it.
[20] Từ “sự sống” trong bộ ba thuật ngữ này chỉ sự sống theo cách (592) nhân loại thấu hiểu.
Maybe not life as Being.
Có lẽ không phải sự sống như Bản Thể.
[21] The word “life” to which I here refer is the life to which H.P.B. refers as that which synthesises spirit, soul and body.
[21] Từ “sự sống” mà Tôi đề cập ở đây là sự sống mà H.P.B. nói đến như cái tổng hợp tinh thần, linh hồn và thân thể. (Xem Giáo Lý Bí Nhiệm, I. 81).
Then indeed it is a great and permanent force.
Vậy thì quả thực đó là một mãnh lực vĩ đại và thường tồn.
Life as the synthesis:
Sự sống như sự tổng hợp:
The word “life” to which I here refer is the life to which H.P.B. refers as that which synthesises spirit, soul and body.
Từ “sự sống” mà Tôi đề cập ở đây là sự sống mà H.P.B. nói đến như cái tổng hợp tinh thần, linh hồn và thân thể.
Spirit here then becomes something less than life per se. Spirit here seems to be identified with the first aspect.
Như vậy, ở đây tinh thần trở thành một điều gì đó thấp hơn chính sự sống. Ở đây, tinh thần dường như được đồng nhất với phương diện thứ nhất.
[22] It is in reality that fourth something
[22] Thực ra, đó là một yếu tố thứ tư
What a wonderful definition of life.
Thật là một định nghĩa tuyệt vời về sự sống.
that fourth something
cái thứ tư nào đó
[23] which hovers behind all manifestation and behind all objects, all qualified expressions of divinity and which is hinted at in the Bhagavad Gita in the words: “Having pervaded this whole universe with a fragment of Myself, I remain.”
[23] ẩn hiện đằng sau mọi biểu hiện và mọi đối tượng, mọi biểu lộ mang phẩm tính của thiên tính, và được ám chỉ trong Chí Tôn Ca qua những lời: “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một phần của Chính Ta, Ta vẫn tồn tại.”
[EAA-142C-F05] MDR tạo bản trích Life Definition từ Esoteric Astrology trang 591. — video 00:30:00.
[EAA-142C-F05] MDR tạo bản trích Định Nghĩa Sự Sống từ Chiêm Tinh Học Nội Môn trang 591. — video 00:30:00.
I'm wanting here, are we on page 591? Yes. I'm wanting here to capture the definition of life.
Ở đây tôi muốn — chúng ta đang ở trang 591 phải không? Đúng vậy. Ở đây tôi muốn ghi lại định nghĩa về sự sống.
Esoteric Astrology 591. AAB extracts.
Chiêm Tinh Học Nội Môn 591. Các đoạn trích AAB.
Such a definition of life which he often says is not definable and not understandable, but he's done a good job here. Life definition.
Một định nghĩa như thế về sự sống, điều mà Ngài thường nói là không thể định nghĩa và không thể thấu hiểu; nhưng ở đây Ngài đã diễn đạt rất hay. Định nghĩa sự sống.
AAB extracts: Life definition, or maybe I should have said, and I will again, Life defined. Definition of life and life defined. When you are looking for it later, it sometimes appears under one thing and another. Life is:
Các đoạn trích AAB: Định nghĩa sự sống; hoặc có lẽ tôi nên ghi, và tôi sẽ ghi thêm lần nữa, Sự sống được định nghĩa. Định nghĩa sự sống và sự sống được định nghĩa. Khi các bạn tìm lại về sau, đôi khi nó xuất hiện dưới tên này hoặc tên khác. Sự sống là:
It is in reality that fourth something which hovers behind all manifestation and behind all objects,
Thực ra, đó là cái thứ tư nào đó ẩn phía sau mọi biểu hiện và phía sau mọi đối tượng,
It's the point of the triangle in a way, isn't it?
Theo một nghĩa nào đó, đây là đỉnh của tam giác, phải không?
all qualified expressions of divinity and which is hinted at in the Bhagavad Gita in the words: “Having pervaded this whole universe with a fragment of Myself, I remain.”
mọi biểu lộ thiên tính mang phẩm tính, và được gợi nhắc trong Chí Tôn Ca qua những lời: “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một phần của chính Ta, Ta vẫn hiện tồn.”
In a way, life is the absolute, pure Being. Many names for the nameless.
Theo một nghĩa nào đó, sự sống là cái tuyệt đối, Bản Thể thuần khiết. Nhiều tên gọi cho cái không tên.
That's important. This is the will that conditions life. It's interesting.
Điều đó quan trọng. Đây là ý chí định hình sự sống. Thật thú vị.
It is connected with Aries. It has to do with archetypal forms which determine major modes of manifestation, and these are archetypal subtle forms which determine the major modes of manifestation in a broad and general sense.
Nó liên hệ với Bạch Dương. Nó liên quan đến những hình tướng nguyên mẫu quyết định các phương thức biểu hiện chủ yếu; đây là những hình tướng vi tế mang tính nguyên mẫu, quyết định các phương thức biểu hiện chủ yếu theo nghĩa rộng lớn và tổng quát.
That's what they do. There are these standing waves or archetypal configurations conceived in the mind of God, and Aries is the birthplace of ideas.
Đó là chức năng của chúng. Có những sóng dừng hay những cấu hình nguyên mẫu hình thành trong Trí của Thượng đế, và Bạch Dương là nơi khai sinh các ý tưởng.
All of these archetypal forms are really ideas conceived in the mind of God and they determine the major trends of manifestation in any one particular period and through the major groupings such as nations, continents, whatever we have here. He says it's not events, happenings and occurrence, it's nations and races. The large groupings.
Tất cả những hình tướng nguyên mẫu này thực sự là những ý tưởng hình thành trong Trí của Thượng đế; chúng quyết định những xu hướng biểu hiện chủ yếu trong bất kỳ thời kỳ cụ thể nào và qua những tập hợp lớn như các quốc gia, các châu lục, hay bất kỳ tập hợp nào chúng ta có ở đây. Ngài nói đó không phải các biến cố, sự việc và những gì xảy ra, mà là các quốc gia và các nhân loại. Những tập hợp lớn.
The manifestation of the major archetypes of a period through large groupings. That's what we're talking about.
Sự biểu hiện của những nguyên mẫu chủ yếu trong một thời kỳ qua những tập hợp lớn. Đó là điều chúng ta đang bàn đến.
We move on. We can't really say that we've understood that, not really, but we move on to the will that brings fulfilment. The will that conditions life, or the expression of life in form.
Chúng ta tiếp tục. Thực ra, chúng ta không thể nói rằng mình đã thấu hiểu điều đó, chưa thực sự thấu hiểu; nhưng chúng ta tiếp tục đến ý chí mang lại sự viên mãn. Ý chí định hình sự sống, hay sự biểu lộ của sự sống trong hình tướng.
From the will that conditions the expression of life in form to
Từ ý chí định hình sự biểu lộ của sự sống trong hình tướng đến
[24] There is next the will which brings fulfilment. This is the basis of all relationships and all processes of inter-relation in our solar system
[24] Tiếp đến là loại ý chí mang lại sự viên mãn. Đây là nền tảng của mọi mối quan hệ và mọi tiến trình tương quan trong hệ mặt trời của chúng ta
Relationships are for the purpose of bringing about fulfilment according to the standing archetype.
Các mối quan hệ nhằm mang lại sự viên mãn theo nguyên mẫu thường trụ.
I'll throw that in. You notice that DK is really in an abstract realm here.
Tôi bổ sung ý đó. Các bạn lưu ý rằng ở đây Chân sư DK thực sự đang ở trong một lĩnh vực trừu tượng.
I wonder if there is any section of the book which is as abstract as this one.
Tôi tự hỏi liệu có phần nào trong cuốn sách trừu tượng như phần này không.
Maybe not. This is the basis of all relationships.
Có lẽ không. Đây là cơ sở của mọi mối quan hệ.
Fulfilment, the motive towards fulfilment underlies all relationships. The motive towards fulfilment underlies all relationships.
Sự viên mãn, động cơ hướng đến sự viên mãn, nằm bên dưới mọi mối quan hệ. Động cơ hướng đến sự viên mãn nằm bên dưới mọi mối quan hệ.
This is the basis of all relationships and all processes of inter-relation in our solar system
Đây là cơ sở của mọi mối quan hệ và mọi tiến trình tương liên trong hệ mặt trời của chúng ta
Maybe it goes beyond that, of course.
Dĩ nhiên, có lẽ điều đó còn vượt xa hơn nữa.
[25] and (as far as humanity is concerned) in the planet.
[25] và trên hành tinh này (trong phạm vi liên quan đến nhân loại).
It relates to the good and to wholeness.
Nó liên quan đến điều thiện và tính toàn vẹn.
This relates to the good and to wholeness. It is integrative. Integrating the many related items into one archetypal configuration.
Điều này liên quan đến điều thiện và tính toàn vẹn. Nó có tính tích hợp, tích hợp nhiều thành phần có liên hệ với nhau thành một cấu hình nguyên mẫu.
Integrating the many related items and energies into one archetypal pattern which indicates the fulfillment of the purpose. It is a Jupiterian. It has to do with Sirius, Leo, and Jupiter.
Tích hợp nhiều thành phần và năng lượng có liên hệ với nhau thành một mô hình nguyên mẫu biểu thị sự hoàn thành mục đích. Điều này mang tính chất Sao Mộc. Nó liên quan đến Sirius, Sư Tử và Sao Mộc.
[EAA-142C-F06] Ghi chú MDR về các mối liên hệ và sự hoàn thành mục đích. — video 00:37:37.
[EAA-142C-F06] Ghi chú MDR về các mối liên hệ và sự hoàn thành mục đích. — video 00:37:37.
The other one, I wonder if these big triangles like Aries—how does it go? Great Bear, Aries, Leo—how does it go? Aries, Pluto, Shamballa. Great Bear, there's one—no, it's Aries, how does it go? I'm going to go on a little hunt, won't last too long. If I can find Sirius, Jupiter, Leo, I ought to be able to find the other ones. Sirius, Jupiter, Leo is of the Hierarchy indicating fulfilment.
Còn tam giác kia, tôi tự hỏi liệu những tam giác lớn này, như Bạch Dương — trình tự là thế nào? Đại Hùng, Bạch Dương, Sư Tử — trình tự là thế nào? Bạch Dương, Sao Diêm Vương, Shamballa. Đại Hùng, có một tam giác — không, là Bạch Dương, trình tự thế nào nhỉ? Tôi sẽ tìm một chút, không lâu đâu. Nếu tìm được Sirius, Sao Mộc, Sư Tử, tôi hẳn có thể tìm được những tam giác còn lại. Sirius, Sao Mộc, Sư Tử thuộc về Thánh đoàn, biểu thị sự viên mãn.
Great Bear, Aries, Pluto, there it is. Great Bear, Aries, Pluto. I wonder if we can connect that with the creative will which conditions life.
Đại Hùng, Bạch Dương, Sao Diêm Vương, đây rồi. Đại Hùng, Bạch Dương, Sao Diêm Vương. Tôi tự hỏi liệu chúng ta có thể liên hệ tam giác ấy với ý chí sáng tạo định hình sự sống hay không.
I'm not sure, and we'll look at Pleiades, Cancer, Venus. He didn't really say too much about these great triangles when we did study them, did he? So it just struck me that there's such a fulfillment possibility with Sirius, Leo, Jupiter.
Tôi không chắc, và chúng ta sẽ xem xét Thất Nữ, Cự Giải, Sao Kim. Khi chúng ta nghiên cứu những tam giác lớn này, Ngài thực sự không nói nhiều về chúng, phải không? Vì vậy, tôi vừa chợt nghĩ rằng Sirius, Sư Tử, Sao Mộc mang một khả năng viên mãn như thế.
Leo being the factor which will later be mentioned in relation to the will to fulfilment, and Jupiter being that great planet of fulfilled desire, that maybe this triangle has a lot to do with the will to fulfilment.
Sư Tử là yếu tố mà về sau sẽ được nhắc đến trong mối liên hệ với ý chí hướng đến sự viên mãn, còn Sao Mộc là hành tinh vĩ đại của dục vọng được hoàn thành; do đó, có lẽ tam giác này liên quan rất nhiều đến ý chí hướng đến sự viên mãn.
[26] It is the prime factor in bringing about the inevitability of the divine consummation;
[26] Đó là yếu tố chủ yếu khiến sự hoàn thành viên mãn thiêng liêng trở thành điều tất yếu;
In wholeness.
Trong tính toàn vẹn.
A consummation is the summit of all relationships in archetypal form. When all things come together as the Hierarchy, as the archetype indicates, then there is fulfilment. Does Jupiter—oh, this fits.
Sự thành tựu viên mãn là đỉnh cao của mọi mối quan hệ trong hình tướng nguyên mẫu. Khi mọi sự quy tụ lại theo chỉ dẫn của Thánh đoàn, của nguyên mẫu, thì có sự viên mãn. Sao Mộc có — điều này phù hợp.
Does Jupiter have anything to do with archetypalization? Yes, because it rules the Monadic plane where Kriya-Shakti creates the divine ideal, materializing the divine ideal. Materializing the divine ideal, yes. These factors, Jupiter, Leo, Sirius, are all connected with this Kriya-Shakti idea.
Sao Mộc có liên quan gì đến việc tạo lập nguyên mẫu không? Có, vì nó cai quản cõi chân thần, nơi quyền năng sáng tạo tạo ra lý tưởng thiêng liêng, hiện hình lý tưởng thiêng liêng. Đúng vậy, hiện hình lý tưởng thiêng liêng. Những yếu tố này — Sao Mộc, Sư Tử, Sirius — đều liên hệ với ý tưởng về quyền năng sáng tạo này.
[EAA-142C-F07] Bảng Creative Hierarchies được MDR mở, gồm Kriyashakti và Materializing ideal. — video 00:41:11.
[EAA-142C-F07] Bảng các Huyền Giai Sáng Tạo được MDR mở, gồm Quyền năng sáng tạo và Hiện thực hóa lý tưởng. — video 00:41:11.
What will we see? We'll see Kriya-Shakti materializing ideal from the Monadic plane. The human archetype is found to a great extent on the Monadic plane.
Chúng ta sẽ thấy gì? Chúng ta sẽ thấy quyền năng sáng tạo hiện thực hóa lý tưởng từ cõi chân thần. Nguyên mẫu nhân loại phần lớn nằm trên cõi chân thần.
It is the prime factor in bringing about the inevitability of the divine consummation;
Đó là yếu tố chủ yếu khiến sự viên thành thiêng liêng trở nên tất yếu;
Consummation requires relationship. That's obvious.
Sự viên thành đòi hỏi mối quan hệ. Điều đó hiển nhiên.
It's the bringing together of all things in a perfect and joyous, blissful relationship. So when we're dealing with the second aspect of divinity, we always have relationship. The basis of all relationships, the will that brings fulfillment.
Đó là đưa vạn vật vào một mối quan hệ hoàn hảo, hoan hỉ và chí phúc. Vì vậy, khi bàn đến phương diện thứ hai của thiên tính, chúng ta luôn có mối quan hệ. Nền tảng của mọi mối quan hệ là ý chí mang lại sự viên mãn.
When we don't have relationships, we're already in a state of fulfillment. Life itself is all that it can be, actual life. It's only its manifestations, which are divided and fragmented and split.
Khi không có các mối quan hệ, chúng ta đã ở trong trạng thái viên mãn. Chính sự sống, sự sống đích thực, đã là tất cả những gì nó có thể là. Chỉ những biểu hiện của nó mới bị phân chia, phân mảnh và chia cắt.
It's only the relationships, which are not all that they can be, and by bringing about a full relationship, the consummation is reached, and so then we have all that the archetype suggests and all that these different factors can be because they are fulfilled within the archetype.
Chỉ các mối quan hệ mới chưa đạt tới tất cả những gì chúng có thể đạt tới; và khi thiết lập một mối quan hệ trọn vẹn, sự viên thành đạt được. Khi ấy, chúng ta có tất cả những gì nguyên mẫu gợi ra và tất cả những gì các yếu tố khác nhau này có thể trở thành, vì chúng được viên mãn trong nguyên mẫu.
The many factors brought into relationship are fulfilled within their archetype.
Nhiều yếu tố được đưa vào mối quan hệ sẽ đạt sự viên mãn trong nguyên mẫu của chúng.
[27] it is the cause of all fruition of all forms on all planes and of divine intention;
[27] đó là nguyên nhân khiến mọi hình tướng trên mọi cõi và ý định thiêng liêng đều đạt thành quả;
Coming to fruition is coming to a state of fullness.
Đạt tới thành tựu viên mãn là đạt tới trạng thái trọn vẹn.
Fullness, wholeness, fruition.
Sự trọn vẹn, tính toàn vẹn, thành tựu viên mãn.
Fullness, wholeness, fruition.
Sự trọn vẹn, tính toàn vẹn, thành tựu viên mãn.
[28] it is that which lies back of consciousness itself.
[28] đó là điều nằm đằng sau chính tâm thức.
That's quite a statement. I can only say here that being lies back of consciousness. Being antedates consciousness.
Đó quả là một phát biểu đáng chú ý. Ở đây, tôi chỉ có thể nói rằng Bản Thể nằm đằng sau tâm thức. Bản Thể có trước tâm thức.
It-is-ness is, we might say. Consciousness, let's just say, requires a relationship. This is a will which involves relationship and bringing relationship to fruition.
Có thể nói, tính hiện hữu vốn hiện hữu. Tâm thức đòi hỏi một mối quan hệ. Đây là một ý chí bao hàm mối quan hệ và đưa mối quan hệ đến thành tựu viên mãn.
Maybe that is what is suggested. It is the purpose of consciousness so to guide all factors that they come into loving relationship. It is the purpose of consciousness so to guide all relatable factors that they come into loving relationship, which is the relationship required by pure reason and by the archetype.
Có lẽ đó là điều được gợi ra. Mục đích của tâm thức là dẫn dắt mọi yếu tố sao cho chúng đi vào mối quan hệ yêu thương. Mục đích của tâm thức là dẫn dắt mọi yếu tố có thể liên hệ với nhau sao cho chúng đi vào mối quan hệ yêu thương, tức mối quan hệ mà lý trí thuần khiết và nguyên mẫu đòi hỏi.
All things are guided into right relationship. We have a certain name that will guide us into the right relationship of all the factors in our energy system, and it will guide us into relationship with all things which are within the contents of consciousness of the larger I.
Vạn vật đều được dẫn dắt vào mối quan hệ đúng đắn. Chúng ta có một danh xưng nào đó sẽ dẫn chúng ta đến mối quan hệ đúng đắn giữa mọi yếu tố trong hệ thống năng lượng của mình, và sẽ dẫn chúng ta vào mối quan hệ với mọi sự vật nằm trong nội dung tâm thức của cái Tôi rộng lớn hơn.
[29] I know not how else to express this in words
[29] Tôi không biết còn cách nào khác để diễn đạt điều này bằng lời
Certainly there's a big abstract demand upon Master DK at this point.
Chắc chắn, ở đây Chân sư DK phải đáp ứng một yêu cầu rất cao về tư duy trừu tượng.
He always finds words so frustrating to express the truth, and here he's dealing with something which is the most abstract subject that I think he's dealt with.
Ngài luôn thấy ngôn từ thật bất lực khi diễn đạt chân lý, và ở đây Ngài đang bàn đến điều mà tôi nghĩ là chủ đề trừu tượng nhất Ngài từng đề cập.
I know not how else to express this in words
Tôi không biết còn cách nào khác để diễn đạt điều này bằng lời
[30] and having done so they prove wholly inadequate.
[30] và sau khi đã diễn đạt như vậy, những lời ấy tỏ ra hoàn toàn bất cập.
Not to seem, but prove.
Không phải dường như, mà là tỏ ra thực sự như vậy.
[31] There is a faint, dim, uncertain reflection of this will-fulfilment in the joy of achievement as registered by a human being who finds his heart’s desire.
[31] Có một sự phản ánh mờ nhạt, lờ mờ và không rõ rệt của ý chí mang lại sự viên mãn này trong sự hoan hỉ trước thành tựu mà một người cảm nhận khi đạt được điều lòng mình mong muốn.
Notice Leo. Leo in this kind of will, will to fulfilment, and Leo as the heart. There is the bliss of consummation.
Hãy chú ý đến Sư Tử. Sư Tử trong loại ý chí này, ý chí hướng đến sự viên mãn, và Sư Tử với tư cách là trái tim. Có chí phúc của sự viên thành.
Finding one's heart's desire is a consummation, and remember, as we said, no consummation without relationship. Once there is a complete homogeneous synthesis, there's only one thing, and it's only a part that can be consummated. In that respect, the absolute being without parts, and being the only thing that is, cannot move in any direction and cannot find any kind of consummation, it's in a, well, you might say it's in a forever consummated state.
Tìm được điều lòng mình khao khát là một sự viên thành; và hãy nhớ, như chúng ta đã nói, không có sự viên thành nếu không có mối quan hệ. Một khi có sự tổng hợp hoàn toàn đồng nhất, chỉ còn một điều duy nhất, trong khi chỉ một bộ phận mới có thể đạt sự viên thành. Theo phương diện ấy, cái tuyệt đối, vốn không có các bộ phận và là điều duy nhất hiện hữu, không thể chuyển động theo bất cứ hướng nào và không thể tìm thấy bất kỳ sự viên thành nào; có thể nói, nó ở trong một trạng thái viên thành vĩnh viễn.
It is, I call it, in my neologisms, coining words, I call it the infinitessence, meaning that it is the ultimization, ultimization. The infinitized ultimization. Forgive me for these third ray neologisms; I also am reaching out in terms of words to find that which cannot be improved in any way.
Trong những từ mới do tôi đặt ra, tôi gọi nó là tinh túy vô hạn, nghĩa là nó là sự tối hậu hóa, tối hậu hóa. Sự vô hạn hóa của tối hậu hóa. Xin thứ lỗi cho những từ mới mang tính cung ba này của tôi; tôi cũng đang cố vươn tới bằng ngôn từ để tìm ra điều không thể hoàn thiện thêm theo bất cứ cách nào.
[32] Long processes of evolution precede this fulfilment and long experience of the living activity of the will of God as Life.
[32] Trước sự viên mãn này là những tiến trình tiến hoá lâu dài và kinh nghiệm lâu dài về hoạt động sống động của ý chí Thượng đế với tư cách là Sự Sống.
The life is conditioned to bring forth many types of manifestation. Within these broad manifestations, we play our part and try to move towards the fulfilment of the parts we are and the parts we see. There are great manifestations; we're taking place in them, we feel fragmentary, we feel the wholeness for fulfilment, for consummation, we look to find completion, and we look to be completed, yes.
Sự sống chịu tác động để làm xuất hiện nhiều loại biểu hiện. Trong những biểu hiện rộng lớn này, chúng ta đảm nhận phần việc của mình và cố gắng tiến tới sự viên mãn của những bộ phận mà chúng ta là và những bộ phận mà chúng ta thấy. Có những biểu hiện vĩ đại; chúng ta hiện hữu trong đó, chúng ta cảm thấy mình rời rạc, cảm nhận tính toàn vẹn để hướng đến sự viên mãn, sự viên thành; chúng ta tìm kiếm sự hoàn tất và mong được hoàn tất, đúng vậy.
[33] This concentrated evolutionary effort, this undeviating purpose has called forth more than desire and more than the will-to-be-active.
[33] Nỗ lực tiến hoá tập trung này, mục đích không chệch hướng này đã khơi dậy một điều vượt hơn dục vọng và vượt hơn ý chí muốn hoạt động.
Is the will-to-be-active—it's a concentrated evolutionary effort. I just want to ask, is the will-to-be-active related to the first category of will under Aries?
Ý chí hướng đến hoạt động—đó là một nỗ lực tiến hoá tập trung. Tôi chỉ muốn hỏi: ý chí hướng đến hoạt động có liên quan đến loại ý chí thứ nhất dưới dấu hiệu Bạch Dương không?
This concentrated evolutionary effort, this undeviating purpose has called forth more than desire and more than the will-to-be-active.
Nỗ lực tiến hoá tập trung này, mục đích không chệch hướng này đã khơi dậy nhiều hơn dục vọng và nhiều hơn ý chí hướng đến hoạt động.
[34] There is a realised achievement
[34] Có một thành tựu đã được nhận biết rõ ràng
a realised achievement
một thành tựu đã được chứng nghiệm
[35] from the very start
[35] ngay từ khởi đầu
[36] for this is the divine will-to-completion
[36] vì đây là ý chí thiêng liêng hướng đến sự hoàn tất