Trích nội dung chương
1. Disciples upon the Path of Discipleship are strongly influenced by Mercury and Saturn—one bringing illumination and the other offering opportunity. 1. Các đệ tử trên Con Đường Đệ Tử chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Sao Thủy và Sao Thổ—một hành tinh mang lại sự soi sáng và hành tinh kia đem đến cơ hội.
1. Disciples upon the Path of Discipleship are strongly influenced by Mercury and Saturn—one bringing illumination and the other offering opportunity.
1. Các đệ tử trên Con Đường Đệ Tử chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Sao Thủy và Sao Thổ—một hành tinh mang lại sự soi sáng và hành tinh kia đem đến cơ hội.
2. At the various initiations, the influence of the planets affects the candidate in a totally different manner than earlier. Cyclically the energies from the constellations pour through the planetary centres.
2. Ở các lần điểm đạo khác nhau, ảnh hưởng của các hành tinh tác động lên ứng viên theo một cách hoàn toàn khác với trước kia. Theo chu kỳ, các năng lượng từ các chòm sao tuôn đổ qua các trung tâm hành tinh.
a. At the first initiation, the disciple has to contend with the crystallising and destroying forces of Vulcan and Pluto. The influence of Vulcan reaches to the very depths of his nature, whilst Pluto drags to the surface and destroys all that hinders in these lower regions.
a. Ở lần điểm đạo thứ nhất, đệ tử phải đương đầu với các mãnh lực kết tinh và hủy diệt của Vulcan và Sao Diêm Vương. Ảnh hưởng của Vulcan chạm đến tận những chiều sâu của bản chất y, trong khi Sao Diêm Vương kéo lên bề mặt và hủy diệt mọi điều cản trở trong các vùng thấp này.
b. At the second initiation, the candidate comes under the influence of three planets—Neptune, Venus and Jupiter. The three centres—solar plexus, heart and throat—are actively involved.
b. Ở lần điểm đạo thứ hai, ứng viên chịu dưới ảnh hưởng của ba hành tinh—Sao Hải Vương, Sao Kim và Sao Mộc. Ba trung tâm—tùng thái dương, tim và cổ họng—tham gia tích cực.
c. At the third initiation, the Moon (veiling a hidden planet) and Mars bring about a fearful conflict, [71] but at the end the man is released from personality control.
c. Ở lần điểm đạo thứ ba, Mặt Trăng (che giấu một hành tinh ẩn kín) và Sao Hỏa gây ra một cuộc xung đột khủng khiếp, [71] nhưng cuối cùng con người được giải thoát khỏi sự kiểm soát của phàm ngã.
d. At the fourth initiation, Mercury and Saturn again bring about great changes and unique revelation, but their effect is very different to the earlier experience.
d. Ở lần điểm đạo thứ tư, Sao Thủy và Sao Thổ lại gây ra những thay đổi lớn và sự mặc khải độc đáo, nhưng tác động của chúng rất khác với kinh nghiệm trước đó.
e. At the fifth and final initiation, Uranus and Jupiter appear and produce a “beneficent organisation” of the totality of energies found in the initiate’s equipment. When this reorganisation is complete, the initiate can then “escape from off the wheel and then can truly live.”
e. Ở lần điểm đạo thứ năm và cuối cùng, Sao Thiên Vương và Sao Mộc xuất hiện và tạo ra một “sự tổ chức có lợi” của toàn bộ các năng lượng được tìm thấy trong trang bị của điểm đạo đồ. Khi sự tái tổ chức này hoàn tất, điểm đạo đồ khi ấy có thể “thoát khỏi bánh xe và rồi thực sự có thể sống.”
All this time the energy of the sun (veiling a sacred planet, hitherto unknown) is steadily and persistently reaching the man via the solar angel.
Suốt thời gian này, năng lượng của mặt trời (che giấu một hành tinh thiêng liêng, cho đến nay chưa được biết đến) vẫn đều đặn và kiên trì đến với con người qua trung gian của Thái dương Thiên Thần.
CHAPTER II - The Nature of Esoteric Astrology — CHƯƠNG II - Bản Chất của Chiêm Tinh Học Nội Môn
INTRODUCTORY REMARKS — NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU
[75]
[75]
It will be apparent to you after studying the foregoing that one of the results which should emerge under the impression of this new approach to astrological diagnosis (as far as the individual is concerned) will be the more correct casting of the horoscope of advanced human beings—disciples and initiates. This has not hitherto been accurately possible. It will only come about, however, if there is wise and right experiment and investigation.
Sau khi nghiên cứu phần trên, các bạn sẽ thấy rõ rằng một trong những kết quả cần xuất hiện dưới ấn tượng của lối tiếp cận mới này đối với chẩn đoán chiêm tinh (xét theo phương diện cá nhân) sẽ là việc lập lá số chiêm tinh chính xác hơn cho những con người tiến bộ—các đệ tử và điểm đạo đồ. Cho đến nay điều này chưa thể thực hiện một cách chính xác. Tuy nhiên, nó chỉ có thể xảy ra nếu có sự thử nghiệm và khảo sát khôn ngoan, đúng đắn.
I have posited two sets of rulers for two types of people:
Tôi đã nêu ra hai bộ chủ tinh cho hai loại người:
1. The orthodox and generally accepted series of planetary rulers for the undeveloped and average man.
1. Chuỗi chủ tinh hành tinh chính thống và được chấp nhận rộng rãi dành cho con người chưa phát triển và con người trung bình.
2. A new combination of rulers and constellations for those upon the Path.
2. Một sự kết hợp mới giữa các chủ tinh và các chòm sao dành cho những ai ở trên Đường Đạo.
It will be necessary to remember nevertheless that there are an infinite number of permutations possible, of complexities and relationships, due to the vast number of possible combinations existing in the path of life of the individual and dependent upon his stage of evolutionary unfoldment. These might be divided into three groups through a broad, but necessarily inadequate, generalisation: [76]
Tuy nhiên, cần nhớ rằng có vô số hoán vị khả hữu, những phức tạp và những mối liên hệ, do số lượng rất lớn các tổ hợp khả hữu hiện hữu trong con đường sự sống của cá nhân và tùy thuộc vào giai đoạn khai mở tiến hoá của y. Chúng có thể được chia thành ba nhóm bằng một sự khái quát rộng, nhưng tất yếu không đầy đủ: [76]
1. Average and undeveloped man, living below the diaphragm and with the emphasis of the incoming energies and forces focussed either in the solar plexus or in the sacral centre.
1. Con người trung bình và chưa phát triển, sống dưới cơ hoành và với trọng tâm của các năng lượng và mãnh lực đi vào được tập trung hoặc ở tùng thái dương hoặc ở trung tâm xương cùng.
2. A large number of people who are in an interim stage, with the energies and forces focussed mainly in the lower centre but at the same time playing quite frequently through the throat centre and evoking a faint response from the heart and the ajna centres.
2. Một số lượng lớn người đang ở trong giai đoạn trung gian, với các năng lượng và mãnh lực chủ yếu tập trung ở trung tâm thấp nhưng đồng thời cũng khá thường xuyên vận hành qua trung tâm cổ họng và gợi lên một sự đáp ứng mờ nhạt từ các trung tâm tim và ajna.
3. People upon one or other of the final stages of the Path, with the emphasis passing rapidly away from the lower centres into the higher triad and with the highest head centre in process of awakening. These people also fall into two major groups:
3. Những người ở trên một giai đoạn cuối nào đó của Đường Đạo, với trọng tâm đang nhanh chóng rời khỏi các trung tâm thấp để đi vào tam nguyên cao hơn và với trung tâm đầu cao nhất đang trong tiến trình thức tỉnh. Những người này cũng thuộc vào hai nhóm chính:
a. Those who are using the solar plexus centre as a vast clearing house for the incoming energies and who are beginning to work through the throat and the heart centres, with the goal of completely awakening the ajna centre.
a. Những người đang sử dụng trung tâm tùng thái dương như một trạm trung chuyển rộng lớn cho các năng lượng đi vào và đang bắt đầu hoạt động qua các trung tâm cổ họng và tim, với mục tiêu là đánh thức hoàn toàn trung tâm ajna.
b. Those who are using all these centres, but in whom the heart centre is fully awakened and the triangle of force in the head (from the ajna centre to the head centre and from the head centre to the centre found in the medulla oblongata) is beginning to function.
b. Những người đang sử dụng tất cả các trung tâm này, nhưng nơi họ trung tâm tim đã hoàn toàn thức tỉnh và tam giác mãnh lực trong đầu (từ trung tâm ajna đến trung tâm đầu và từ trung tâm đầu đến trung tâm nằm trong hành tủy) đang bắt đầu hoạt động.
When these centres are all awakening, their simplest combinations are the following triangles. The Science of Triangles underlies all astrological deduction as well as the centres in the human body. This you know, but the four triplicities of orthodox astrology are only the rudiments of this true science, which lies behind the orthodox interpretations. [77]
Khi tất cả các trung tâm này đang thức tỉnh, những tổ hợp đơn giản nhất của chúng là các tam giác sau đây. Khoa Học về Các Tam Giác là nền tảng của mọi suy diễn chiêm tinh cũng như của các trung tâm trong thân thể con người. Điều này các bạn đã biết, nhưng bốn bộ ba của chiêm tinh học chính thống chỉ là những sơ khởi của khoa học chân chính này, vốn nằm phía sau các diễn giải chính thống. [77]
I.
(
1. Đáy cột sống.
(
1. Base of the spine.
(
2. Luân xa xương cùng.
(
2. Sacral Centre.
(
3. Luân xa tùng thái dương.
(
3. Solar Plexus Centre.
II.
(
1. Luân xa cổ họng.
(
1. Throat Centre.
(
2. Luân xa tim.
(
2. Heart Centre.
(
3. Luân xa ajna.
(
3. Ajna Centre.
III.
(
1. Luân xa ajna.
(
1. Ajna Centre.
(
2. Luân xa đầu.
(
2. Head Centre.
(
3. Trung tâm trong hành tủy.
(
3. Centre in the medulla oblongata.
Unfortunately the organising principle is not as simple as the above tabulation would make it appear, for the emphasis, the focus and the mode of arranging and of vitalisation, and the appearance of these esoteric triangles vary with the ray type. This Science of Triangles of Energy underlies the new esoteric science both in astrology and in the science of laya-yoga or the science of the centres. Both this ancient yoga and the still more ancient astrological science have now to be studied upon a higher turn of the spiral. Up till the present time, the teaching about the centres has been inherited from Atlantean times and couched in the old forms and formulas which are basically unsuited to our present greatly advanced stage of development. The same can be said of orthodox or exoteric astrology. Both these sciences must be reoriented and rearranged, and astrology must be based upon a deeper understanding of the relation of the planets—sacred and non-sacred—to the centres and to certain prominent “cycles of polarisation” emerging as the fore-ordained results of “periods of crisis.” This last sentence embodies a basic and important statement of truth. [78]
Đáng tiếc là nguyên lý tổ chức không đơn giản như bảng liệt kê trên có thể khiến người ta tưởng, vì trọng tâm, tiêu điểm, phương thức sắp xếp và tiếp sinh lực, cùng sự xuất hiện của các tam giác nội môn này thay đổi theo loại cung. Khoa Học về Các Tam Giác Năng Lượng này là nền tảng của khoa học nội môn mới cả trong chiêm tinh học lẫn trong khoa học laya-yoga hay khoa học về các trung tâm. Cả môn yoga cổ xưa này lẫn khoa học chiêm tinh còn cổ xưa hơn nữa nay đều phải được nghiên cứu trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc. Cho đến hiện nay, giáo huấn về các trung tâm đã được thừa hưởng từ thời Atlantis và được diễn đạt trong các hình thức và công thức cũ, vốn về căn bản không thích hợp với giai đoạn phát triển hiện nay đã tiến bộ hơn rất nhiều của chúng ta. Điều tương tự cũng có thể nói về chiêm tinh học chính thống hay công truyền. Cả hai khoa học này phải được tái định hướng và tái sắp xếp, và chiêm tinh học phải được đặt trên một sự thấu hiểu sâu sắc hơn về mối liên hệ của các hành tinh—thiêng liêng và không thiêng liêng—với các trung tâm và với một số “chu kỳ phân cực” nổi bật đang xuất hiện như những kết quả đã được tiền định của “các giai đoạn khủng hoảng.” Câu cuối này bao hàm một phát biểu chân lý căn bản và quan trọng. [78]
1. Centres and Triangles of Force — 1. Các Trung Tâm và Các Tam Giác Mãnh Lực
There are, as you well know, five non-sacred planets, and seven which are regarded as sacred. These twelve planetary lives (with their own cycles, points of crisis and moments of polarisation) are closely related to the seven centres. The five centres up the spine are related to the five non-sacred planets, but in unevolved or average man, are focussed almost entirely upon the astral plane and in the astral body. It should be noted that:
Như các bạn đã biết rõ, có năm hành tinh không thiêng liêng và bảy hành tinh được xem là thiêng liêng. Mười hai sự sống hành tinh này (với các chu kỳ riêng, các điểm khủng hoảng và các thời điểm phân cực của chúng) liên hệ mật thiết với bảy trung tâm. Năm trung tâm dọc theo cột sống liên hệ với năm hành tinh không thiêng liêng, nhưng nơi con người chưa tiến hoá hay con người trung bình, chúng hầu như hoàn toàn tập trung trên cõi cảm dục và trong thể cảm dục. Cần lưu ý rằng:
1. Two of the non-sacred planets (the Earth itself and the Moon) are connected with two centres which in the highly evolved man are not of dominating importance:
1. Hai hành tinh không thiêng liêng (chính Trái Đất và Mặt Trăng) được nối kết với hai trung tâm mà nơi con người tiến hoá cao không có tầm quan trọng chi phối:
a. The spleen receiving pranic emanations from the planet on which we live and concerned with the etheric and physical bodies and their physical relation.
a. Lá lách tiếp nhận các phát xạ prana từ hành tinh mà chúng ta đang sống trên đó và liên quan đến thể dĩ thái và thể xác cùng mối liên hệ vật chất của chúng.
b. A centre in the chest related to the thymus gland. This centre becomes inactive in the advanced man but has a connection with the vagus nerve, prior to the awakening of the heart centre.
b. Một trung tâm trong ngực liên hệ với tuyến ức. Trung tâm này trở nên bất hoạt nơi con người tiến bộ nhưng có một mối liên hệ với dây thần kinh phế vị, trước khi trung tâm tim thức tỉnh.
2. Two of the other non-sacred planets—Mars and Pluto—function in connection with the sacral centre (Mars) and the solar plexus (Pluto). This latter planet becomes active in the life of the man who is “becoming alive in the higher sense, his lower nature passes into the smoke and darkness of Pluto, who governs the lesser burning ground, in order that the man may live in truth in the higher land of light.”
2. Hai hành tinh không thiêng liêng khác—Sao Hỏa và Sao Diêm Vương—hoạt động liên hệ với trung tâm xương cùng (Sao Hỏa) và tùng thái dương (Sao Diêm Vương). Hành tinh sau này trở nên hoạt động trong đời sống của con người “đang trở nên sống động theo nghĩa cao hơn, bản chất thấp của y đi vào khói và bóng tối của Sao Diêm Vương, kẻ cai quản vùng đất cháy nhỏ hơn, để con người có thể sống chân thật trong miền ánh sáng cao hơn.”
3. The Sun (standing here for Vulcan, which is a sacred planet) governs a centre in the front of the throat which is related to the para-thyroids and not to the thyroid [79] gland, which is related to the throat centre. This centre in the front of the throat falls into disuse as the creative period of throat activity begins. It acts as a “mediator” between the higher and the lower creative organs (between the sacral and the throat centres) and leads eventually to that creative activity which is consciously that of the functioning soul. Vulcan was one of the first creative workers among men. He was also related to “Cain who killed his brother.” The symbolism underlying these ancient myths will be easily interpreted by the intuitive student.
3. Mặt Trời (ở đây tượng trưng cho Vulcan, vốn là một hành tinh thiêng liêng) cai quản một trung tâm ở phía trước cổ họng, liên hệ với các tuyến cận giáp chứ không phải với tuyến giáp [79], vốn liên hệ với trung tâm cổ họng. Trung tâm ở phía trước cổ họng này rơi vào tình trạng không còn được dùng đến khi giai đoạn sáng tạo của hoạt động cổ họng bắt đầu. Nó hoạt động như một “trung gian” giữa các cơ quan sáng tạo cao và thấp (giữa trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng) và cuối cùng dẫn đến hoạt động sáng tạo vốn một cách hữu thức là của linh hồn đang hoạt động. Vulcan là một trong những người hoạt động sáng tạo đầu tiên giữa loài người. Ngài cũng liên hệ với “Cain, kẻ đã giết anh em mình.” Biểu tượng học nằm dưới các huyền thoại cổ này sẽ được đạo sinh có trực giác diễn giải dễ dàng.
Some of the tasks which I propose to undertake in this section of our Treatise on the Seven Rays are as follows:
Một số nhiệm vụ mà Tôi dự định đảm nhận trong phần này của bộ Luận về Bảy Cung của chúng ta như sau:
1. Consider why five of the seven rays express themselves through two sets of planets—sacred and non-sacred—and also which centres these two groups of rays govern. Thus we shall relate:
1. Xét tại sao năm trong bảy cung biểu lộ qua hai bộ hành tinh—thiêng liêng và không thiêng liêng—và đồng thời các trung tâm nào mà hai nhóm cung này cai quản. Như vậy chúng ta sẽ liên hệ:
a. The seven centres in man's etheric body.
a. Bảy trung tâm trong thể dĩ thái của con người.
b. The seven centres of the fourth Creative Hierarchy of which the seven races are the expression.
b. Bảy trung tâm của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư mà bảy giống dân là biểu hiện của nó.
c. The seven planetary centres.
c. Bảy trung tâm hành tinh.
d. The seven and the five planets which are the centres of energy in the solar system, responsive to the energy of the twelve zodiacal constellations.
d. Bảy và năm hành tinh là các trung tâm năng lượng trong hệ mặt trời, đáp ứng với năng lượng của mười hai chòm sao hoàng đạo.
These planetary centres will be studied from two angles:
Các trung tâm hành tinh này sẽ được nghiên cứu từ hai góc độ:
a. From the orthodox angle.
a. Từ góc độ chính thống.
b. From the angle of discipleship and initiation.
b. Từ góc độ địa vị đệ tử và điểm đạo.
2. Consider the energies of the three major constellations as they each pour through three of the zodiacal constellations, thus forming great interlocking triangles of [80] force. Thus nine of the zodiacal constellations are involved, and these in their turn fuse and blend their energies into three major streams of force upon the Path of Initiation. These three streams of force pour through:
2. Xét các năng lượng của ba chòm sao chính yếu khi mỗi chòm sao tuôn đổ qua ba chòm sao hoàng đạo, như vậy hình thành các tam giác mãnh lực lớn móc nối với nhau. [80] Như vậy chín chòm sao hoàng đạo được bao hàm, và đến lượt chúng dung hợp và hòa trộn các năng lượng của mình thành ba dòng mãnh lực chính yếu trên Con Đường Điểm Đạo. Ba dòng mãnh lực này tuôn đổ qua:
a. Leo, Capricorn and Pisces.
a. Sư Tử, Ma Kết và Song Ngư.
to
đến
b. Saturn, Mercury and Uranus (the Moon).
b. Sao Thổ, Sao Thủy và Sao Thiên Vương (Mặt Trăng).
to
đến
c. The head, ajna and heart centres.
c. Các trung tâm đầu, ajna và tim.
to
đến
d. The throat, the solar plexus and the base of the spine.
d. Cổ họng, tùng thái dương và đáy cột sống.
It should be remembered that the sacral centre and the spleen are primarily connected with the planetary emanation of the Earth itself.
Cần nhớ rằng trung tâm xương cùng và lá lách chủ yếu liên hệ với phát xạ hành tinh của chính Trái Đất.
3. Consider the three great cosmic Crosses:
3. Xét ba Thập Giá vũ trụ lớn:
THẬP GIÁ CHỦ YẾU
THẬP GIÁ CỐ ĐỊNH
Thập Giá Biến Đổi
The Cardinal Cross
The Fixed Cross
The Mutable Cross
a.
điểm đạo
địa vị đệ tử
tiến hoá.
Initiation
Discipleship
Evolution.
b.
Hành Tinh Thượng Đế
NHÂN LOẠI
Các Giới trong Thiên nhiên.
The Planetary Logos
Humanity
Kingdoms in Nature.
c.
Điểm đạo vũ trụ
Điểm đạo Thái dương
Điểm đạo Hành tinh.
Cosmic Initiation
Solar Initiation
Planetary Initiation.
d.
tinh thần
linh hồn
Thân thể.
Spirit
Soul
Body.
e.
Sự sống
Tâm thức
hình tướng.
Life
Consciousness
Form.
f.
chân thần
chân ngã
phàm ngã.
Monad
Ego
Personality.
g.
Ba Cuộc Điểm Đạo
Hai Cuộc Điểm Đạo
Con người thông thường.
Three Initiations
Two Initiations
Ordinary man.
(Các Điểm đạo đồ)
(Các Đệ tử)
(Initiates)
(Disciples)
and the relation of these three Crosses to the twelve planets and the general sweep of the soul in incarnation.
và mối liên hệ của ba Thập Giá này với mười hai hành tinh và toàn bộ vòng quét chung của linh hồn đang lâm phàm.
4. Elaborate the subject of the interplay between the three groups of ruling planets as given in Tabulation VI. These, in the totality of their effects, are the agencies through which the purposes of God are wrought out.
4. Khai triển chủ đề về sự tương tác giữa ba nhóm hành tinh cai quản như được nêu trong Bảng Liệt Kê VI. Chúng, trong tổng thể các tác động của mình, là những tác nhân qua đó các mục đích của Thượng đế được thực hiện.
[81]
[81]
Before proceeding with the more technical aspects of our subject, I would like to elaborate this theme of the zodiac, its story and symbolism from the more philosophical and spiritual angle, giving you the subjective picture of man's progress as he passes on “the sweep of the sun along the path of life.” This is a technical phrase and refers to the activity of a sun, a planet, a hierarchy or a man, after there has been a “moment of crisis,” resulting in a “period of polarisation,” leading inevitably to a fresh surge and sweep onwards. These three words—crisis, polarisation and sweep—are the basis of cyclic law and govern the evolutionary process. From the point of view of humanity, the passage of the Sun around the zodiac is apparently a slow and laborious process, taking approximately (on the plane of time) 25,000 years. From the angle of the inner vision, it is a sweep around the Path of Life, taking only a moment of time and “obliterating past, present and future in the radiant glory of the work accomplished.”
Trước khi tiến đến các phương diện kỹ thuật hơn của chủ đề chúng ta, Tôi muốn khai triển chủ đề này về Hoàng đạo, câu chuyện và biểu tượng học của nó từ góc độ triết học và tinh thần hơn, trao cho các bạn bức tranh chủ quan về sự tiến bộ của con người khi y đi trên “vòng quét của mặt trời dọc theo con đường sự sống.” Đây là một cụm từ kỹ thuật và chỉ hoạt động của một mặt trời, một hành tinh, một huyền giai hay một con người, sau khi đã có một “thời điểm khủng hoảng,” đưa đến một “giai đoạn phân cực,” tất yếu dẫn đến một đợt dâng lên và vòng quét tiến tới mới. Ba từ này—khủng hoảng, phân cực và vòng quét—là nền tảng của định luật chu kỳ và chi phối tiến trình tiến hoá. Từ quan điểm của nhân loại, sự đi qua của Mặt Trời quanh Hoàng đạo dường như là một tiến trình chậm chạp và nhọc nhằn, mất khoảng (trên cõi thời gian) 25.000 năm. Từ góc độ linh ảnh bên trong, đó là một vòng quét quanh Đường Đạo Sự Sống, chỉ mất một khoảnh khắc thời gian và “xóa nhòa quá khứ, hiện tại và tương lai trong vinh quang rạng ngời của công việc đã hoàn thành.”
2. The Crosses and the Signs — 2. Các Thập Giá và Các Dấu Hiệu
We will follow man from sign to sign as he—in travail and pain—forges the equipment and develops painfully the mechanism which will enable him to arrive at a major moment of crisis in his cyclic life wherein he will begin to free himself from the path of the great illusion along which he has travelled for aeons from Aries to Taurus, via Pisces and—reversing himself—will begin to travel the path of light from Aries to Pisces, via Taurus. This changing experience is expressed for us most beautifully in the sixth section of the Old Commentary:
Chúng ta sẽ theo dõi con người từ dấu hiệu này sang dấu hiệu khác khi y—trong chuyển dạ và đau đớn—rèn tạo khí cụ và đau khổ phát triển bộ máy sẽ giúp y đi đến một thời điểm khủng hoảng lớn trong đời sống chu kỳ của mình, trong đó y sẽ bắt đầu tự giải thoát khỏi con đường của đại ảo tưởng mà y đã đi qua trong các đại kiếp từ Bạch Dương đến Kim Ngưu, qua Song Ngư, và—đảo ngược chính mình—sẽ bắt đầu đi trên con đường ánh sáng từ Bạch Dương đến Song Ngư, qua Kim Ngưu. Kinh nghiệm thay đổi này được diễn tả cho chúng ta một cách hết sức đẹp đẽ trong phần thứ sáu của Cổ Luận:
“The Cross of many changes (the Mutable Cross. A.A.B.) continues with its whirling, carrying [82] crucified thereon the form of a man in whom is found the seed of all illusion.
“Thập Giá của nhiều đổi thay (Thập Giá Biến đổi. A.A.B.) tiếp tục quay cuồng, mang theo [82] hình tướng của một con người bị đóng đinh trên đó, trong người ấy có hạt giống của mọi ảo tưởng.
But, from the Cross whereon he has been slain—e'en though he knew it not—the man climbs down and feels his way (with pain and many tears) on to another Cross—a Cross of blinding light, of fiery pain, of bitter woe, and yet the Cross of liberation. It is a stationary Cross, fixed in the Heavens, and guarded by the Angel.
Nhưng, từ Thập Giá nơi y đã bị giết—dù chính y không biết điều đó—con người bước xuống và lần đường mình (trong đau đớn và nhiều nước mắt) đến một Thập Giá khác—một Thập Giá của ánh sáng chói lòa, của đau đớn rực lửa, của khổ sầu cay đắng, nhưng cũng là Thập Giá của giải thoát. Đó là một Thập Giá đứng yên, cố định trên Thiên Giới, và được Thiên Thần canh giữ.
Behind the Cross, another Cross appears, but that he may not reach (the Angel guards the way!) until the Bull has rent and torn the man, and then—the light shines forth; until the Serpent dread has wrestled with the man and brought him to his knees, and then—the lifting up into the light; until the Lion has been tamed, the secret of the Sphinx revealed, and then—the revelation of the inner light; until the man has lifted up his water-pot and joined the ranks of those who are the Water-bearers, and then the flowing of the stream of life will fill his water-pot and drain the rancid pool and cleanse its source and thus reveal the hidden way which leads unto the innermost light, hid by the final Cross. Then, from the Cross of man, the initiate finds his way, passes the Angel and leaves behind the inner torn veil, mounts the major Cross and passes into day, the final day. The wheel for him stands still. The sun and stars, for him, fade out. A great light is seen and...”
Phía sau Thập Giá ấy, một Thập Giá khác hiện ra, nhưng y chưa thể đạt đến đó (Thiên Thần canh giữ con đường!) cho đến khi Con Bò Đực đã xé nát và giày vò con người, và rồi—ánh sáng bừng chiếu; cho đến khi Con Rắn đáng sợ đã vật lộn với con người và quật y quỳ gối, và rồi—sự nâng lên vào trong ánh sáng; cho đến khi Sư Tử đã được thuần hóa, bí mật của Nhân Sư được mặc khải, và rồi—sự mặc khải của ánh sáng bên trong; cho đến khi con người đã nâng vò nước của mình lên và gia nhập hàng ngũ những ai là Những Người Mang Nước, và rồi dòng suối sự sống sẽ đổ đầy vò nước của y và rút cạn vũng nước ô uế, thanh tẩy nguồn của nó và như thế phơi bày con đường ẩn kín dẫn đến ánh sáng nội tại thâm sâu nhất, bị che giấu bởi Thập Giá cuối cùng. Khi ấy, từ Thập Giá của con người, điểm đạo đồ tìm được lối đi của mình, vượt qua Thiên Thần và để lại phía sau bức màn nội tại đã bị xé rách, bước lên Thập Giá lớn hơn và đi vào ban ngày, ngày tối hậu. Bánh xe đối với y đứng yên. Mặt trời và các sao, đối với y, mờ tắt. Một ánh sáng lớn được nhìn thấy và...”
The three crosses on Mount Golgotha were Biblical symbols of these three astrological crosses, the Common or Mutable Cross, the Fixed Cross and the Cardinal Cross.
Ba thập giá trên Núi Golgotha là những biểu tượng Kinh Thánh của ba thập giá chiêm tinh này, Thập Giá Thông Thường hay Thập Giá Biến đổi, Thập Giá Cố Định và Thập Giá Chủ Yếu.
[83]
[83]
I would ask you to remember that though I shall trace the progress of the man from sign to sign around the zodiacal way, yet there is not necessarily this ordered sequence of travel or the smooth passage from sign to sign as I may portray it. All souls come into incarnation in the sign Cancer. By this I mean that the very first human incarnation was always taken in this sign which has been recognised down the ages as “the doorway into life of those who must know death,” just as the constellation Capricorn is ever regarded as another door and is called esoterically the “doorway into life of those who know not death.” As the ages slip away, the man passes into and out of all the signs, the particular sign being determined by the nature of the personality ray which itself changes, as you know, from life to life. In those signs he learns the needed lessons, broadens his horizon, integrates his personality, begins to sense the conditioning soul, and thus discovers his essential duality. When he is upon the Path of Discipleship (and here I include the Path of Initiation) occult rumour says that he then becomes conditioned by the tireless Watcher, the soul, and is subjected (during the final stages of the path) to exactly twelve incarnations, passing one in each of the twelve signs. In them he has to prove himself, attaining great moments of crisis in each of the constellations of the Fixed Cross in particular. From point to point, stage to stage, and finally Cross to Cross, he fights for his spiritual life, in all the twelve houses and all the twelve constellations, subjected to countless combinations of forces and energies—ray, planetary, zodiacal and cosmic—until he is “made anew,” becomes the “new man,” is sensitive to the entire range of spiritual vibrations in our solar system and has achieved that detachment which will enable him to escape from the wheel of rebirth. He has accomplished [84] this by mounting the three Crosses—the cross of the Personality or the changing form, the Cross of the Disciple or the eternal soul, and the Cross of the Spirit. This really means that he has passed through three momentous crises in his life cycle.
Tôi muốn yêu cầu các bạn ghi nhớ rằng dù Tôi sẽ lần theo tiến trình của con người từ dấu hiệu này sang dấu hiệu khác quanh con đường hoàng đạo, nhưng không nhất thiết có trình tự di chuyển có trật tự này hay sự chuyển tiếp êm đềm từ dấu hiệu này sang dấu hiệu khác như Tôi có thể mô tả. Mọi linh hồn đều đi vào nhập thể trong dấu hiệu Cự Giải. Ý Tôi là lần nhập thể đầu tiên của con người luôn luôn diễn ra trong dấu hiệu này, dấu hiệu đã được nhìn nhận qua các thời đại là “cửa ngõ vào sự sống của những ai phải biết cái chết,” cũng như chòm sao Ma Kết luôn luôn được xem là một cánh cửa khác và được gọi một cách huyền bí là “cửa ngõ vào sự sống của những ai không biết cái chết.” Khi các thời đại trôi qua, con người đi vào rồi đi ra khỏi mọi dấu hiệu, dấu hiệu đặc thù được quyết định bởi bản chất của cung phàm ngã, mà như các bạn biết, chính nó thay đổi từ kiếp này sang kiếp khác. Trong những dấu hiệu ấy, y học những bài học cần thiết, mở rộng chân trời của mình, tích hợp phàm ngã của mình, bắt đầu cảm nhận linh hồn có tác động định hình, và như thế khám phá ra tính nhị nguyên cốt yếu của mình. Khi y ở trên Con Đường Đệ Tử (và ở đây Tôi bao gồm cả Con Đường Điểm Đạo), lời đồn huyền bí nói rằng khi ấy y chịu sự chi phối của Đấng Quan Sát không mệt mỏi, linh hồn, và bị đặt dưới (trong các giai đoạn cuối của con đường) đúng mười hai lần nhập thể, đi qua một lần trong mỗi một trong mười hai dấu hiệu. Trong đó y phải tự chứng tỏ mình, đạt đến những thời điểm khủng hoảng lớn trong từng chòm sao của Thập Giá Cố Định nói riêng. Từ điểm này sang điểm khác, từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, và cuối cùng từ Thập Giá này sang Thập Giá khác, y chiến đấu cho đời sống tinh thần của mình, trong cả mười hai nhà và cả mười hai chòm sao, chịu tác động của vô số tổ hợp mãnh lực và năng lượng—cung, hành tinh, hoàng đạo và vũ trụ—cho đến khi y được “làm mới lại,” trở thành “con người mới,” nhạy cảm với toàn bộ phạm vi rung động tinh thần trong hệ mặt trời của chúng ta và đã đạt được sự tách rời sẽ giúp y thoát khỏi bánh xe tái sinh. Y đã hoàn thành [84] điều này bằng cách bước lên ba Thập Giá—thập giá của Phàm ngã hay hình tướng biến đổi, Thập Giá của Đệ tử hay linh hồn vĩnh cửu, và Thập Giá của Tinh thần. Điều này thực sự có nghĩa là y đã đi qua ba cuộc khủng hoảng trọng đại trong chu kỳ đời sống của mình.
I.
Cuộc Khủng hoảng Lâm phàm..........
Thập Giá Biến Đổi
The Crisis of Incarnation..........
The Mutable Cross
Sự Bước lên Bánh xe........
Phàm ngã và sự sống hình tướng
The Mounting of the Wheel........
Personality and form life
Chu kỳ Tái sinh trong Hình tướng......
Kinh nghiệm
The Cycle of Rebirth in Form......
Experience
Manifestation of Manhood
Biểu hiện của Nhân tính
II.
Cuộc Khủng hoảng Tái định hướng........
THẬP GIÁ CỐ ĐỊNH
The Crisis of Reorientation........
The Fixed Cross
Sự Chuyển sang Thập Giá thứ hai.....
Sự sống của linh hồn
The Changing to the 2nd Cross.....
The life of the soul
Sự Chuẩn bị cho Lần Sinh thứ hai.......
Tâm thức
Preparation for the 2nd Birth.......
Consciousness
Manifestation of Christhood
Biểu hiện của Christ tính
III.
Cuộc Khủng hoảng Điểm đạo............
THẬP GIÁ CHỦ YẾU
The Crisis of Initiation............
The Cardinal Cross
Sự Biến hình..............
Sự Sống của Tinh thần
The Transfiguration..............
The Life of the Spirit
Manifestation of Divinity
Biểu hiện của Thiêng tính
In our study of the interlocking system of energies, in so far as they affect and condition a human being, the theme of the Three Crosses is of profound and practical interest, especially as they provide those points of crisis wherein a man steps off the ordinary path of evolution and treads the path of discipleship or—after the third initiation mounts a third Cross. It will underlie our thought and all that I have to say. A steady recollection of the twelve basic energies [85] (five major and seven minor which are in reality, and apart from astral reversion due to the Great Illusion, seven major and five minor) will be of value. These work out into human expression via the Lords of the twelve signs and the twelve planetary Rulers. These twelve basic energies emanate from the seven stars of the Great Bear (transmitted through seven stars of the Little Bear); two of them come from Sirius and three from the Pleiades. This set-up (if I may use such an unorthodox term) will be the condition of the major solar sphere of influence at the end of the Great Age of Brahma, as it is esoterically called. In the “interim or interlude of evolution” (which is the inadequate translation of an occult phrase given to a world cycle in the Masters' Archives) these energies are stepped down into forces and are literally sixteen all told—from the angle of manifestation, I would remind you—and make literally: 7+7+2=16=7. In these numbers the mystery of our evolutionary process lies hid. Always, however, the emphasis must be laid upon the Rays of Energy and Quality as they pour through the zodiacal constellations and the planets. The new astrology therefore is necessarily based upon an understanding of the rays. The following tabulation is fundamental in its implications in this connection and upon it all that I have to say will be based.
Trong nghiên cứu của chúng ta về hệ thống năng lượng đan xen, trong chừng mực chúng tác động và định hình một con người, chủ đề Ba Thập Giá có một mối quan tâm sâu sắc và thực tiễn, đặc biệt vì chúng cung cấp những điểm khủng hoảng nơi một người bước ra khỏi con đường tiến hoá thông thường và đi trên Con Đường Đệ Tử hoặc—sau lần điểm đạo thứ ba—bước lên một Thập Giá thứ ba. Nó sẽ làm nền cho tư tưởng của chúng ta và cho tất cả những gì Tôi phải nói. Việc luôn ghi nhớ mười hai năng lượng căn bản [85] (năm chính và bảy phụ mà trên thực tế, và tách khỏi sự đảo ngược cảm dục do Đại Ảo Tưởng, là bảy chính và năm phụ) sẽ có giá trị. Chúng biểu hiện thành sự biểu lộ nơi con người qua các Đấng Chúa Tể của mười hai dấu hiệu và mười hai chủ tinh hành tinh. Mười hai năng lượng căn bản này phát xuất từ bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh (được truyền qua bảy ngôi sao của Tiểu Hùng Tinh); hai trong số đó đến từ Sirius và ba từ Pleiades. Cấu trúc này (nếu Tôi có thể dùng một thuật ngữ không chính thống như vậy) sẽ là điều kiện của khối cầu ảnh hưởng thái dương chính vào cuối Đại Kỷ Nguyên Brahma, như nó được gọi một cách huyền bí. Trong “khoảng giữa hay quãng ngắt của tiến hoá” (là bản dịch chưa đầy đủ của một cụm từ huyền bí dùng cho một chu kỳ thế giới trong Văn Khố của các Chân sư), các năng lượng này được hạ xuống thành các mãnh lực và theo nghĩa đen tổng cộng là mười sáu—xét từ góc độ biểu hiện, Tôi xin nhắc các bạn—và thực sự tạo thành: 7+7+2=16=7. Trong các con số này ẩn giấu huyền nhiệm của tiến trình tiến hoá của chúng ta. Tuy nhiên, sự nhấn mạnh luôn phải được đặt trên Các Cung Năng Lượng và Phẩm Tính khi chúng tuôn đổ qua các chòm sao hoàng đạo và các hành tinh. Vì vậy, chiêm tinh học mới nhất thiết phải dựa trên sự thấu hiểu các cung. Bảng sau đây là nền tảng trong các hàm ý của nó về mặt này và mọi điều Tôi phải nói sẽ dựa trên đó.
Seven stars of the Great Bear are the originating Sources of the seven rays of our solar system. The seven Rishis (as They are called) of the Great Bear express Themselves through the medium of the seven planetary Logoi Who are Their Representatives and to Whom They stand in the relation of prototype. The seven Planetary Spirits manifest through the medium of the seven sacred planets.
Bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh là các Nguồn cội phát sinh của bảy cung trong hệ mặt trời của chúng ta. Bảy Rishi (như Các Ngài được gọi) của Đại Hùng Tinh biểu lộ Chính Các Ngài qua trung gian của bảy Hành Tinh Thượng Đế, là các Đại Diện của Các Ngài và đối với các Vị ấy, Các Ngài đứng trong mối liên hệ nguyên mẫu. Bảy Thánh Linh Hành Tinh biểu hiện qua trung gian của bảy hành tinh thiêng liêng.
Each of these seven Rays, coming from the Great [86] Bear, are transmitted into our solar system through the medium of three constellations and their ruling planets. The following tabulation makes this clear but must be interpreted only in terms of this present turn of the Great Zodiacal Wheel (25,000 years):
Mỗi một trong bảy Cung này, đến từ Đại [86] Hùng Tinh, được truyền vào hệ mặt trời của chúng ta qua trung gian của ba chòm sao và các hành tinh cai quản của chúng. Bảng sau đây làm rõ điều này nhưng chỉ được diễn giải trong khuôn khổ vòng quay hiện tại này của Bánh Xe Hoàng Đạo Vĩ Đại (25.000 năm):
TABULATION VIII
BẢNG VIII
Các hành tinh
Các hành tinh
Planets
Planets
cung
Các chòm sao
(Chính thống)
(Nội môn)
Ray
Constellations
(Orthodox)
(Esoteric)
I.
Ý chí hay Quyền năng
Bạch Dương, Con Cừu Đực
Sao Hỏa
Sao Thủy.
Will or Power
Aries, The Ram
Mars
Mercury.
Sư Tử, Con Sư Tử
Mặt Trời
Mặt Trời.
Leo, the Lion
Sun
Sun.
Ma Kết, Con Dê
Sao Thổ
Sao Thổ.
Capricorn, the Goat
Saturn
Saturn.
II.
Bác Ái – Minh Triết
Song Tử, Cặp Song Sinh
Sao Thủy
Sao Kim.
Love-Wisdom
Gemini, the Twins
Mercury
Venus.
Xử Nữ, Trinh Nữ
Sao Thủy
Mặt Trăng (che giấu một hành tinh).
Virgo, the Virgin
Mercury
Moon (veiling a planet).
Song Ngư, Hai Con Cá
Sao Mộc
Sao Diêm Vương.
Pisces, the Fishes
Jupiter
Pluto.
III.
Trí thông tuệ hoạt động
Cự Giải, Con Cua
Mặt Trăng
Sao Hải Vương.
Active-Intelligence
Cancer, the Crab
Moon
Neptune.
Thiên Bình, Cán Cân
Sao Kim
Sao Thiên Vương.
Libra, the Scales
Venus
Uranus.
Ma Kết, Con Dê
Sao Thổ
Sao Thổ.
Capricorn, the Goat
Saturn
Saturn.
IV.
Hài hòa thông qua
Kim Ngưu, Con Bò Đực
Sao Kim
Vulcan.
Harmony through
Taurus, the Bull
Venus
Vulcan.
Xung đột
Hổ Cáp, Con Bọ Cạp
Sao Hỏa
Sao Hỏa.
Conflict
Scorpio, the Scorpion
Mars
Mars.
Nhân Mã, Người Cung Thủ
Sao Mộc
Trái Đất.
Sagittarius, the Archer
Jupiter
Earth.
V.
Khoa học cụ thể
Sư Tử, Con Sư Tử
Mặt Trời
Mặt Trời.
Concrete Science
Leo, the Lion
Sun
Sun.
Nhân Mã, Người Cung Thủ
Sao Mộc
Trái Đất.
Sagittarius, the Archer
Jupiter
Earth.
Bảo Bình, Người Mang Nước
Sao Thiên Vương
Sao Mộc.
Aquarius, the Water- carrier
Uranus
Jupiter.
VI.
Chủ nghĩa lý tưởng. Sùng tín.
Xử Nữ, Trinh Nữ
Sao Thủy
Mặt Trăng.
Idealism. Devotion.
Virgo, the Virgin
Mercury
Moon.
Nhân Mã, Người Cung Thủ
Sao Mộc
Trái Đất.
Sagittarius, the Archer
Jupiter
Earth.
Song Ngư, Hai Con Cá
Sao Mộc
Sao Diêm Vương.
Pisces, the Fishes
Jupiter
Pluto.
VII.
Trật tự Nghi lễ
Bạch Dương, Con Cừu Đực
Sao Hỏa
Sao Thủy.
Ceremonial Order
Aries, the Ram
Mars
Mercury.
Cự Giải, Con Cua
Mặt Trăng
Sao Hải Vương.
Cancer, the Crab
Moon
Neptune.
Ma Kết, Con Dê
Sao Thổ
Sao Thổ.
Capricorn, the Goat
Saturn
Saturn.
It will be obvious to you how much correlating work and how much readjustment of ideas will be needed as the new astrology is worked out into practical usefulness and eventually substituted for that now holding sway. This new astrology really embodies five sciences: [87]
Các bạn sẽ thấy rõ cần bao nhiêu công việc liên hệ đối chiếu và bao nhiêu sự điều chỉnh lại các ý tưởng khi chiêm tinh học mới được triển khai thành tính hữu dụng thực tiễn và cuối cùng thay thế cho hệ thống hiện đang chi phối. Chiêm tinh học mới này thực sự bao hàm năm khoa học: [87]
1. The Science of the Rays.
1. Khoa học về các Cung.
2. The Science of Esoteric Interpretation which is carried out through
2. Khoa học về Diễn Giải Nội Môn được thực hiện qua
3. The Science of Triangles.
3. Khoa học về các Tam Giác.
4. The Science of the Centres.
4. Khoa học về các Trung tâm.
5. The Science of Destiny.
5. Khoa học về Định mệnh.
This latter science will be based upon the four previous ones and will constitute an interpretation of the future which will be founded on a correct understanding of the rays—personal and egoic—of the influence of the triangles—zodiacal, planetary, racial and human. These latter triangles are arrived at by a study of the individual human centres. When all this has been ascertained and worked out in the new style of horoscope which will be later developed, then the Science of Destiny will be applied and the future indications discovered. Of this, the personal progressed horoscope is the embryonic seed.
Khoa học sau cùng này sẽ dựa trên bốn khoa học trước và sẽ cấu thành một sự diễn giải về tương lai được đặt nền trên sự thấu hiểu đúng đắn về các cung—cá nhân và chân ngã—về ảnh hưởng của các tam giác—hoàng đạo, hành tinh, chủng tộc và nhân loại. Các tam giác sau này được xác định bằng việc nghiên cứu các trung tâm cá nhân của con người. Khi tất cả điều này đã được xác định và triển khai trong kiểu lá số chiêm tinh mới sẽ được phát triển về sau, khi ấy Khoa học về Định mệnh sẽ được áp dụng và các chỉ dấu tương lai sẽ được khám phá. Về điều này, lá số chiêm tinh tiến trình cá nhân là hạt mầm phôi thai.
Some indication of relative values can be gained by a consideration of the human triangles as given in A Treatise on Cosmic Fire, which suggested the following:
Một vài chỉ dẫn về các giá trị tương đối có thể đạt được bằng cách xem xét các tam giác nơi con người như đã nêu trong Luận về Lửa Vũ Trụ, tác phẩm đã gợi ý điều sau đây:
“It would repay the student to contemplate the interesting succession of triangles that are to be found and the way in which they must be linked by the progression of the fire before that fire can perfectly vivify them, and thence pass on to other transmutations. We might enumerate some of these triangles, bearing always in mind that, according to the ray, so will proceed the geometric rising of the fire, and according to the ray, so will the points be touched in ordered sequence. Herein lies one of the secrets of initiation, and herein are found some of the dangers entailed in a too quick publication of information concerning the rays. [88]
“Sẽ đáng công cho đạo sinh suy ngẫm về chuỗi kế tiếp thú vị của các tam giác có thể được tìm thấy và cách thức chúng phải được nối kết bằng tiến trình của lửa trước khi ngọn lửa ấy có thể hoàn toàn tiếp sinh lực cho chúng, và từ đó chuyển sang các sự chuyển hoá khác. Chúng ta có thể liệt kê một số tam giác này, luôn ghi nhớ rằng, tùy theo cung nào, sự bốc lên theo hình học của lửa sẽ tiến hành như thế, và tùy theo cung nào, các điểm sẽ được chạm đến theo trình tự có trật tự. Ở đây nằm một trong những bí mật của điểm đạo, và ở đây cũng có một số nguy hiểm kéo theo bởi việc công bố quá nhanh thông tin liên quan đến các cung. [88]
1. The pranic triangle.
1. Tam giác prana.
a. The shoulder centre.
a. Trung tâm vai.
b. The centre near the diaphragm.
b. Trung tâm gần cơ hoành.
c. The spleen.
c. Lá lách.
2. Man controlled from the astral plane.
2. Con người bị kiểm soát từ cõi cảm dục.
a. The base of spine.
a. Đáy cột sống.
b. The solar plexus.
b. Tùng thái dương.
c. The heart.
c. Tim.
3. Man controlled from the mental plane.
3. Con người bị kiểm soát từ cõi trí.
a. The base of spine.
a. Đáy cột sống.
b. The heart.
b. Tim.
c. The throat.
c. Cổ họng.
4. Man partially controlled by the Ego, advanced man.
4. Con người được chân ngã kiểm soát một phần, con người tiến bộ.
a. The heart.
a. Tim.
b. The throat.
b. Cổ họng.