Trích nội dung chương
We have arrived now at another major generalisation as to disease and death in relation to humanity: Giờ đây, chúng ta đã đi đến một khái quát quan trọng khác về bệnh tật và cái chết trong mối liên hệ với nhân loại:
We have arrived now at another major generalisation as to disease and death in relation to humanity:
Giờ đây, chúng ta đã đi đến một khái quát quan trọng khác về bệnh tật và cái chết trong mối liên hệ với nhân loại:
LAW VIII
ĐỊNH LUẬT VIII
Disease and death are the result of two active forces. One is the will of the soul which says to its instrument: I draw the essence back. Tire other is the magnetic power of the planetary Life which says to the life within the atomic structure: The hour of reabsorption has arrived. Return to me. Thus, under cyclic law, do all forms act.
Bệnh tật và cái chết là kết quả của hai mãnh lực đang hoạt động. Một là ý chí của linh hồn, nói với công cụ của mình: Ta thu hồi tinh chất. Mãnh lực kia là quyền năng từ tính của Sự Sống hành tinh, nói với sự sống bên trong cấu trúc nguyên tử: Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta. Như vậy, mọi hình tướng đều hoạt động theo định luật chu kỳ.
The reference here is to the normal dissolution of the form at the close of a cycle of reincarnation. As we well know. this cycle is determined in the case of man by major psychological factors which can hasten or prolong the “hour of the end,” but only up to a certain point. The dictum of the soul and the fiat of the planetary Life are the final determining factors, except in the cases of war, accident, suicide or epidemics.
Ở đây nói đến sự tan rã bình thường của hình tướng khi kết thúc một chu kỳ tái sinh. Như chúng ta biết rõ, đối với con người, những yếu tố tâm lý chủ yếu quyết định chu kỳ này; chúng có thể đẩy nhanh hoặc trì hoãn “giờ kết thúc”, nhưng chỉ đến một giới hạn nhất định. Lời phán của linh hồn và mệnh lệnh của Sự Sống hành tinh là những yếu tố quyết định cuối cùng, ngoại trừ các trường hợp chiến tranh, tai nạn, tự sát hoặc dịch bệnh.
The power of absorption with which the planet is endowed is very great within certain limitations; it is these limitations, [249] for instance, which promote epidemics as the aftermath of war. Such epidemics have a serious effect upon the human race after the war cycle is over and after the consequent epidemic has spent itself. Humanity, particularly in Eastern Europe, had not completely recovered from the epidemics, incident to the first part of the world war, when the second part took place. The psychological effects continue; the scars and the results of the second phase of that world war will persist for fifty years, even though—owing to man’s greater scientific knowledge—the epidemic factor may be kept surprisingly within bounds. This, however, still remains uncertain. Time alone will demonstrate how successful humanity is in offsetting the penalties which outraged nature is apt to exact.
Quyền năng hấp thu mà hành tinh có được là rất lớn trong những giới hạn nhất định; chẳng hạn, chính những giới hạn này, [249] thúc đẩy các dịch bệnh phát sinh như hậu quả của chiến tranh. Những dịch bệnh như thế gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhân loại sau khi chu kỳ chiến tranh đã kết thúc và sau khi dịch bệnh tiếp theo đã tự lắng xuống. Nhân loại, đặc biệt ở Đông Âu, vẫn chưa hoàn toàn hồi phục sau những dịch bệnh đi kèm với phần đầu của cuộc thế chiến thì phần thứ hai đã xảy ra. Những ảnh hưởng tâm lý vẫn tiếp diễn; các vết sẹo và hậu quả của giai đoạn thứ hai trong cuộc thế chiến ấy sẽ kéo dài năm mươi năm, mặc dù—nhờ kiến thức khoa học rộng hơn của con người—yếu tố dịch bệnh có thể được kiềm chế trong những giới hạn đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, điều này vẫn còn chưa chắc chắn. Chỉ thời gian mới cho thấy nhân loại thành công đến đâu trong việc hóa giải những hình phạt mà thiên nhiên bị xâm phạm có thể đòi hỏi.
Much good will be brought about through the growing custom to cremate those forms which the indwelling life has vacated; when it is an universal custom, we shall see a definite minimising of disease, leading to longevity and increased vitality. The factor of resistance or the process whereby a form renders itself immune or non-responsive to the planetary pull and urge towards reabsorption requires the expenditure of much energy. When the life increases in potency within the form and there is less reaction to disease-conveying factors, the soul within the form will have fuller sway and greater beauty of expression and usefulness in service. This will be true some day of all the kingdoms in nature, and thus we shall have a steady radiance shining forth in the mounting glory of the Life of God.
Tập tục ngày càng phổ biến là hoả táng những hình tướng mà sự sống nội tại đã rời bỏ sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp; khi tập tục ấy trở nên phổ quát, chúng ta sẽ thấy bệnh tật giảm rõ rệt, dẫn đến tuổi thọ cao hơn và sinh lực gia tăng. Yếu tố đề kháng, hay tiến trình nhờ đó một hình tướng khiến mình miễn nhiễm hoặc không đáp ứng với sức hút và sự thôi thúc tái hấp thu của hành tinh, đòi hỏi tiêu hao nhiều năng lượng. Khi sự sống bên trong hình tướng gia tăng sức mạnh và phản ứng với các yếu tố truyền bệnh giảm đi, linh hồn bên trong hình tướng sẽ có quyền chi phối trọn vẹn hơn, biểu lộ vẻ đẹp lớn lao hơn và hữu ích hơn trong phụng sự. Một ngày nào đó, điều này sẽ đúng với mọi giới trong thiên nhiên, và như vậy chúng ta sẽ có một ánh rạng ngời bền vững toả ra trong vinh quang ngày càng gia tăng của Sự Sống Thượng đế.
3. RACIAL AND NATIONAL DISEASES – 3. CÁC BỆNH CỦA NHÂN LOẠI VÀ CÁC QUỐC GIA
It must be apparent to you by now that I am principally concerned with indicating factors which are the result of the past history of the race rather than with giving you a specific and detailed account of the diseases which are allied [250] to the various nations. This, in fact, it would not be possible to do, owing to the overlapping and paralleling which goes on in every department of natural life. Above everything else, I seek to make clear what must be done along the line of preventive healing and what should be accomplished in the difficult task of offsetting conditions already prevalent on earth as the result of past misuse of the natural powers. There must therefore be brought about a healing of those conditions which are present upon our planet on a large scale, and consequently my emphasis will not be upon the specific and the individual. I am laying a foundation also for a discussion of our next theme—the relation of the Law of Karma to disease and death and to humanity as a whole.
Đến lúc này, hẳn các bạn đã thấy rõ rằng Tôi chủ yếu quan tâm đến việc chỉ ra những yếu tố là kết quả của lịch sử quá khứ của nhân loại, hơn là cung cấp cho các bạn một bản trình bày cụ thể và chi tiết về các bệnh có liên hệ [250] với những quốc gia khác nhau. Thực ra, không thể làm điều này vì sự chồng lấn và song hành diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống tự nhiên. Trên hết, Tôi tìm cách làm rõ những gì phải thực hiện theo hướng trị liệu phòng ngừa, và những gì cần hoàn thành trong nhiệm vụ khó khăn là hóa giải các tình trạng đã phổ biến trên Trái Đất do việc sử dụng sai lầm các quyền năng tự nhiên trong quá khứ. Vì vậy, cần chữa lành những tình trạng hiện diện trên hành tinh chúng ta ở quy mô lớn, và do đó Tôi sẽ không nhấn mạnh những trường hợp cụ thể và cá nhân. Tôi cũng đang đặt nền tảng cho việc thảo luận chủ đề tiếp theo của chúng ta—mối quan hệ của Định luật Nghiệp Quả với bệnh tật, cái chết và toàn thể nhân loại.
In the consideration of racial and national diseases, I do not intend to point out that tuberculosis is distinctively a disease of the middle classes in every country, that diabetes is a major trouble among the rice-eating peoples of the world, and that cancer is rampant in Great Britain, whilst heart disease is a prime cause of death in the United States. Such generalisations are both as true and as false as statistics usually are, and nothing is gained by labouring these points. These difficulties will all be offset in due time through the growth of understanding, by the intuitive diagnosis of disease, and by the magnificent work of scientific and academic medicine, plus a truer comprehension of right living conditions.
Khi xem xét các bệnh của nhân loại và các quốc gia, Tôi không có ý định chỉ ra rằng bệnh lao là căn bệnh đặc trưng của tầng lớp trung lưu ở mọi quốc gia, rằng bệnh tiểu đường là một vấn đề lớn trong các dân tộc ăn gạo trên thế giới, rằng ung thư hoành hành ở Anh, trong khi bệnh tim là một nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Hoa Kỳ. Những khái quát như thế vừa đúng vừa sai như các số liệu thống kê thường có, và việc nhấn đi nhấn lại những điểm này chẳng đem lại lợi ích gì. Đúng lúc, tất cả những khó khăn này sẽ được hóa giải nhờ sự thấu hiểu ngày càng tăng, nhờ việc chẩn đoán bệnh bằng trực giác, nhờ công trình tuyệt vời của nền y học khoa học và hàn lâm, cùng với sự lĩnh hội đúng đắn hơn về những điều kiện sống phù hợp.
I prefer rather to give still wider generalisations which will indicate causes and will not emphasise the consequences of these causes. I seek, therefore, to point out that:
Thay vào đó, Tôi muốn đưa ra những khái quát rộng hơn nữa, nhằm chỉ rõ các nguyên nhân chứ không nhấn mạnh hậu quả của chúng. Vì vậy, Tôi tìm cách chỉ ra rằng:
1. The soil of the planet itself is a major cause of disease and of contamination. For untold aeons, the bodies of men and of animals have been laid away in the ground; that soil is consequently impregnated with the germs and [251] the results of disease and this in a far subtler form than is surmised. The germs of ancient known and unknown diseases are to be found in the layers of the soil and the subsoil; these can still produce virulent trouble if presented with proper conditions. Let me state that Nature never intended that bodies would be buried in the ground. The animals die and their bodies return to the dust, but return purified by the rays of the sun and by the breezes which blow and disperse. The sun can cause death as well as life, and the most virulent germs and bacteria cannot retain their potency if submitted to the dry heat of the sun’s rays. Moisture and darkness foster disease as it emanates from and is nourished by bodies from whence the life aspect has been drawn. When, in all countries throughout the world, the rule is to submit dead forms to the “ordeal by fire,” and when this has become a universal and persistent habit, we shall then see a great diminution of disease and a much healthier world.
1. Chính đất đai của hành tinh là một nguyên nhân lớn gây bệnh tật và ô nhiễm. Trong vô số thời đại, thân thể con người và động vật đã được chôn trong lòng đất; do đó, đất ấy thấm đầy mầm bệnh và [251] những hậu quả của bệnh tật, dưới một dạng tinh vi hơn nhiều so với người ta phỏng đoán. Mầm bệnh của các căn bệnh cổ xưa, cả đã biết lẫn chưa biết, có thể tìm thấy trong các lớp đất và tầng đất bên dưới; chúng vẫn có thể gây ra những chứng bệnh ác tính nếu gặp điều kiện thích hợp. Tôi xin khẳng định rằng Thiên Nhiên chưa bao giờ có ý định để các thân thể được chôn xuống đất. Động vật chết đi và thân thể chúng trở về với bụi đất, nhưng trở về sau khi đã được thanh lọc nhờ những tia nắng mặt trời và những làn gió thổi qua, làm phân tán. Mặt trời có thể gây ra cái chết cũng như đem lại sự sống, và những mầm bệnh cùng vi khuẩn độc hại nhất cũng không thể giữ được sức mạnh nếu chịu sức nóng khô của những tia nắng mặt trời. Độ ẩm và bóng tối nuôi dưỡng bệnh tật khi bệnh tật phát sinh từ và được nuôi dưỡng bằng những thân thể mà phương diện sự sống đã rút khỏi. Khi ở mọi quốc gia trên khắp thế giới, quy luật là đưa những hình tướng đã chết qua “cuộc thử thách bằng lửa”, và khi điều này trở thành một tập tục phổ quát và bền vững, bấy giờ chúng ta sẽ thấy bệnh tật giảm đi rất nhiều và một thế giới khoẻ mạnh hơn hẳn.
2. The psychological condition of a race or of a nation, as we have seen, produces a tendency to disease and to a lowered resistance to the causes of disease; it can engender an ability to absorb evil contamination with facility. On this I need not further enlarge.
2. Như chúng ta đã thấy, tình trạng tâm lý của một dân tộc hay một quốc gia tạo ra khuynh hướng mắc bệnh và làm giảm sức đề kháng trước các nguyên nhân gây bệnh; nó có thể tạo nên khả năng dễ dàng hấp thu sự ô nhiễm độc hại. Về điều này, Tôi không cần bàn rộng thêm.
3. Living conditions in many lands also foster disease and ill health. Dark and crowded tenements, underground homes, undernourishment, wrong food, evil habits of life and various occupational diseases—all contribute their quota to the general ill health of humanity. These conditions are universally recognised and much has been done to offset them, but much remains to be done. One of the good effects of the world war will be to force the needed changes, the required rebuilding, and the scientific nourishment of the youth of the race. National physical [252] ills vary according to the predisposing occupations of the people; the diseases of an agricultural race will differ widely from those of a highly industrialised race; the physical predispositions of a sailor vary greatly from those of an office worker in one of our large cities. These items of information are again but the platitudes of the social worker in the many cities and lands. Certain diseases appear to be purely local; others seem universal in their effects; certain diseases are gradually dying out, and new diseases are appearing; certain forms of disease are forever with us; others seem to be cyclic in their appearance; some diseases are endemic whilst others are epidemic.
3. Điều kiện sống ở nhiều xứ sở cũng nuôi dưỡng bệnh tật và tình trạng sức khoẻ kém. Những khu nhà ở tối tăm và đông đúc, nhà ở dưới lòng đất, tình trạng thiếu dinh dưỡng, thức ăn không phù hợp, những thói quen sống có hại và các bệnh nghề nghiệp khác nhau—tất cả đều góp phần vào tình trạng sức khoẻ kém chung của nhân loại. Những tình trạng này được thừa nhận khắp nơi, và người ta đã làm nhiều việc để hóa giải chúng, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm. Một trong những tác động tốt của cuộc thế chiến sẽ là buộc phải thực hiện những thay đổi cần thiết, việc tái thiết cần có và việc nuôi dưỡng thanh thiếu niên nhân loại một cách khoa học. Những chứng bệnh [252] thể chất của mỗi quốc gia thay đổi theo những nghề nghiệp khiến dân chúng dễ mắc bệnh; bệnh tật của một dân tộc làm nông nghiệp sẽ khác xa bệnh tật của một dân tộc đã công nghiệp hoá cao độ; những khuynh hướng thể chất dễ mắc bệnh của một thuỷ thủ khác rất nhiều so với một nhân viên văn phòng tại một trong những thành phố lớn của chúng ta. Một lần nữa, những thông tin này chỉ là những điều quen thuộc mà người làm công tác xã hội ở nhiều thành phố và xứ sở thường nhắc đến. Một số bệnh dường như hoàn toàn mang tính địa phương; những bệnh khác dường như có ảnh hưởng phổ quát; một số bệnh đang dần biến mất, và những bệnh mới đang xuất hiện; một số dạng bệnh luôn ở cùng chúng ta; những bệnh khác dường như xuất hiện theo chu kỳ; có bệnh lưu hành tại địa phương, trong khi những bệnh khác bùng phát thành dịch.
How can this vast array of disease and forms of bodily ills come to be? How is it that some races are prone to succumb to one form of physical ill whilst other races are resistant to it? Climatic conditions produce certain typical diseases which remain strictly local and are not found elsewhere in the world. Cancer, tuberculosis, syphilis, spinal meningitis, pneumonia and heart disease, as well as scrofula (using that term in its old sense to indicate certain forms of skin disease), are rampant throughout the world, taking their toll of millions; even though these diseases can be traced to certain great racial periods, they are now general in their effect. The clue to this can be found if students will remember that though the Atlantean racial period lies thousands of years away, a great majority of people today are basically Atlantean in their consciousness, and are therefore prone to the diseases of that civilisation.
Làm sao có thể xuất hiện vô vàn bệnh tật và những dạng đau yếu thể chất như thế? Vì sao một số dân tộc dễ gục ngã trước một dạng bệnh thể chất, trong khi các dân tộc khác lại đề kháng được? Điều kiện khí hậu tạo ra một số bệnh điển hình chỉ giới hạn trong một địa phương và không có ở nơi nào khác trên thế giới. Ung thư, lao, giang mai, viêm màng não tuỷ, viêm phổi và bệnh tim, cùng với bệnh tràng nhạc (dùng thuật ngữ này theo nghĩa cổ để chỉ một số dạng bệnh ngoài da), đang hoành hành khắp thế giới, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người; mặc dù có thể truy nguyên những bệnh này về một số thời kỳ giống dân lớn, hiện nay ảnh hưởng của chúng đã phổ biến. Các đạo sinh có thể tìm thấy đầu mối cho điều này nếu nhớ rằng mặc dù thời kỳ giống dân Atlantis đã cách đây hàng nghìn năm, phần lớn con người ngày nay về cơ bản vẫn mang tâm thức Atlantis, và do đó dễ mắc các bệnh của nền văn minh ấy.
If a full review of the health of the world were to be undertaken and presented to the thinking public—taken in normal conditions and not in war time—the question arises whether there are one hundred thousand perfectly healthy [253] people to be found out of the billions now inhabiting the earth? I think not. If no actual and active disease is present, nevertheless the condition of the teeth, the hearing and the sight leave frequently much to be desired; inherited tendencies and active predispositions cause grave concern, and to all this must be added psychological difficulty, mental diseases and definite brain trouble. All this presents an appalling picture. Against the ills which it discloses, medicine is today battling; scientists are searching for alleviations and cures and for sound and lasting methods of eradication; research students are investigating the latent germs, and health experts are seeking new ways to meet the onslaught of disease. Sanitation, compulsory inoculation, frequent inspection, pure food laws, legal requirements and better housing conditions are all brought into this battle by the far-seeing humanitarian. Yet still disease is rampant; more hospitals are required and the death rate soars.
Nếu tiến hành một cuộc khảo sát toàn diện về sức khoẻ thế giới và trình bày trước công chúng biết suy nghĩ—khảo sát trong điều kiện bình thường chứ không phải thời chiến—thì câu hỏi đặt ra là liệu có thể tìm được một trăm nghìn người hoàn toàn khoẻ mạnh [253] trong số hàng tỷ người hiện đang cư ngụ trên Trái Đất hay không? Tôi nghĩ là không. Ngay cả khi không có bệnh thực sự đang phát tác, tình trạng răng, thính giác và thị giác vẫn thường còn nhiều điều đáng mong cải thiện; những khuynh hướng di truyền và những yếu tố dễ mắc bệnh đang hoạt động gây lo ngại sâu sắc, và phải cộng thêm vào tất cả những điều này các khó khăn tâm lý, bệnh tâm thần và những rối loạn rõ rệt của bộ não. Tất cả phơi bày một bức tranh kinh hoàng. Ngày nay, y học đang chiến đấu với những chứng bệnh mà bức tranh ấy cho thấy; các nhà khoa học đang tìm kiếm những biện pháp giảm nhẹ và chữa trị, cũng như những phương pháp vững chắc, lâu dài để loại trừ bệnh tật; các nhà nghiên cứu đang khảo sát những mầm bệnh tiềm ẩn, và các chuyên gia y tế đang tìm những cách mới để đối phó với sự tấn công của bệnh tật. Vệ sinh, tiêm chủng bắt buộc, kiểm tra thường xuyên, luật về thực phẩm tinh sạch, các yêu cầu pháp lý và điều kiện nhà ở tốt hơn đều được những nhà nhân đạo có tầm nhìn xa đưa vào cuộc chiến này. Thế nhưng bệnh tật vẫn hoành hành; cần thêm nhiều bệnh viện hơn, và tỷ lệ tử vong tăng vọt.
To these practical agencies, Mental Science, New Thought, Unity and Christian Science offer their aid, and seek quite honestly to bring the power of the mind to bear upon the problem. At the present stage, these agencies and groups largely are in the hands of fanatics and devoted, unintelligent people; they refuse all compromise and seem unable to recognise that the knowledge accumulated by medicine and by those who work scientifically with the human body is as God-given as their, as yet, unproven ideal. Later, the truths for which these groups stand will be added to the work of the psychologist and the physician; when this has been done, we shall see a great improvement. When the work of the doctor and the surgeon in relation to the physical body is recognised as essential and good, when the analysis and conclusions of the psychologist supplement their work, and when the power of right thought comes likewise as an [254] aid, then and only then, shall we enter upon a new era of well-being.
Khoa Học Trí Tuệ, Tân Tư Tưởng, Nhất Thể và Khoa Học Cơ Đốc đề nghị hỗ trợ những tổ chức hoạt động thực tiễn này, và hoàn toàn thành tâm tìm cách vận dụng quyền năng của thể trí để giải quyết vấn đề. Ở giai đoạn hiện nay, phần lớn những tổ chức và nhóm này nằm trong tay những người cuồng tín cùng những người tận tuỵ nhưng thiếu sáng suốt; họ từ chối mọi sự thoả hiệp và dường như không thể nhận ra rằng kiến thức do y học và những người làm việc một cách khoa học với cơ thể con người tích luỹ cũng do Thượng đế ban cho, chẳng kém lý tưởng cho đến nay vẫn chưa được chứng minh của họ. Về sau, những chân lý mà các nhóm này đại diện sẽ bổ sung cho công việc của nhà tâm lý học và thầy thuốc; khi điều này hoàn thành, chúng ta sẽ thấy một sự cải thiện lớn. Khi công việc của bác sĩ và bác sĩ phẫu thuật đối với thể xác được công nhận là thiết yếu và tốt đẹp, khi những phân tích và kết luận của nhà tâm lý học bổ sung cho công việc của họ, và khi quyền năng của tư tưởng đúng đắn cũng đến như một sự [254] trợ giúp, thì bấy giờ, và chỉ bấy giờ, chúng ta mới bước vào một kỷ nguyên an lạc mới.
To the various categories of trouble must also be added a whole group of diseases which are more strictly mental in their effect—the cleavages, the insanities, the obsessions, the mental breaks, the aberrations and the hallucinations. To the various healing agencies mentioned above should be added the work undertaken by Members of the spiritual Hierarchy and Their disciples; it takes soul power and knowledge, plus the wisdom of the other healing groups, to produce health among people, to empty our sanatariums, to rid humanity of the basic diseases, of lunacy and obsession, and to prevent crime. This is finally brought about by the right integration of the whole man, through a right comprehension of the nature of energy, and through a correct appreciation of the endocrine system, its glands and their subtle relationships.
Bên cạnh những loại rối loạn khác nhau, còn phải kể thêm cả một nhóm bệnh có ảnh hưởng rõ rệt hơn về mặt tâm thần—những sự phân liệt, điên loạn, ám ảnh, suy sụp tâm thần, rối loạn tâm thần và ảo giác. Bên cạnh các tổ chức chữa bệnh khác nhau đã đề cập ở trên, cần kể thêm công việc do các Thành viên của Thánh đoàn và các đệ tử của Các Ngài thực hiện; cần có quyền năng và tri thức của linh hồn, cùng với minh triết của những nhóm chữa bệnh khác, để đem lại sức khoẻ cho con người, làm trống các viện điều dưỡng của chúng ta, giải thoát nhân loại khỏi những căn bệnh cơ bản, khỏi chứng điên loạn và ám ảnh, đồng thời ngăn ngừa tội phạm. Cuối cùng, điều này thành tựu nhờ sự tích hợp đúng đắn của toàn bộ con người, nhờ sự lĩnh hội đúng đắn về bản chất của năng lượng, và nhờ sự đánh giá chính xác về hệ nội tiết, các tuyến của nó cùng những mối quan hệ tinh tế giữa chúng.
At present there is little coherent and integrated work done in unison by the four groups:
Hiện nay, bốn nhóm sau đây còn rất ít thực hiện công việc nhất quán và tích hợp trong sự đồng lòng:
1. Physicians and surgeons—orthodox and academic.
1. Các bác sĩ và bác sĩ phẫu thuật—chính thống và hàn lâm.
2. Psychologists, neurologists and psychiatrists.
2. Các nhà tâm lý học, bác sĩ thần kinh và bác sĩ tâm thần.
3. Mental healers and New Thought workers, plus Unity thinkers and Christian Scientists.
3. Những người chữa bệnh bằng trí tuệ và những người hoạt động thuộc Tân Tư Tưởng, cùng với các nhà tư tưởng Nhất Thể và những người theo Khoa Học Cơ Đốc.
4. Trained disciples and those who work with the souls of men.
4. Các đệ tử đã được huấn luyện và những người làm việc với linh hồn con người.
When these four groups can be brought into close relation, and can work together for the release of humanity from disease, we shall then arrive at an understanding of the true wonder of the human being. We shall some day have hospitals in which the four phases of this one medical and remedial work will proceed side by side and in the fullest cooperation. Neither group can do a complete task without the others; all are interdependent.
Khi có thể đưa bốn nhóm này vào mối quan hệ chặt chẽ và cùng làm việc để giải thoát nhân loại khỏi bệnh tật, bấy giờ chúng ta sẽ đạt đến sự thấu hiểu về điều kỳ diệu thực sự của con người. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ có những bệnh viện nơi bốn phương diện của cùng một công việc y khoa và trị liệu này tiến hành song song, trong sự hợp tác trọn vẹn nhất. Không nhóm nào có thể hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ nếu thiếu các nhóm khác; tất cả đều phụ thuộc lẫn nhau.
[255]
[255]
It is the inability of these groups to recognise the good in the other groups striving for the physical well-being of humanity which makes it almost impossible for me to do more specific teaching and more direct talking on these matters. Have you any idea of the wall of antagonistic thinking and speech against which a new or pioneering idea has to batter itself? Have you ever seriously considered the aggregated and crystallised thoughtforms with which all such new ideas (and shall I call them hierarchical proposals) have to contend? Do you appreciate the dead weight of preconceived and ancient determinations which have to be moved before the Hierarchy can cause a new and needed concept to penetrate into the consciousness of the average thinking (or again should I say, unthinking?) public. The field of medicine is a most difficult field in which to work, for the subject is so intimate, and fear enters so strongly into the reactions of those who must be reached. The gulf between the old and established and the new and the spiritually demanded, needs much long and careful bridging. A great deal of the difficulty is, curiously enough, to be found fostered by the newer schools of thought. Orthodox medicine is slow, and rightly slow, in adopting new techniques and methods; it is at times too slow, but the case of the new mode of treatment or diagnosis must be rightly proven and statistically proven before it can be incorporated in the medical curriculum and method; the risks to the human subject are too great, and the good humanitarian physician will not make his patient the subject of experimentation. However, within the last few decades, medicine has advanced by leaps and bounds, the science of electricity and light therapy and many other modern techniques and methods have already been added to the various other sciences of which medicine avails itself. The demands of the intangible and the treatment of the nebulous—if such [256] peculiar terms are in order—are being recognised increasingly and are known to play an orthodox and recognised part in the newer approaches to disease.
Chính việc các nhóm này không thể nhận ra điều tốt đẹp trong những nhóm khác đang nỗ lực vì sức khoẻ thể chất của nhân loại khiến Tôi gần như không thể giảng dạy cụ thể hơn và nói trực tiếp hơn về những vấn đề này. Các bạn có hình dung được bức tường tư tưởng và lời nói đối kháng mà một ý tưởng mới hay tiên phong phải đương đầu không? Các bạn đã bao giờ nghiêm túc xem xét những hình tư tưởng tích tụ và kết tinh mà mọi ý tưởng mới như thế (và liệu Tôi có thể gọi chúng là những đề xuất của Thánh đoàn) phải đấu tranh chưa? Các bạn có nhận ra sức nặng trì trệ của những định kiến cố hữu và những quyết định từ xa xưa cần phải dời chuyển trước khi Thánh đoàn có thể đưa một quan niệm mới và cần thiết thâm nhập vào tâm thức của công chúng bình thường biết suy nghĩ (hay một lần nữa, phải chăng Tôi nên nói là không suy nghĩ?) không. Y học là một lĩnh vực hết sức khó làm việc, vì vấn đề liên quan quá mật thiết đến con người, và nỗi sợ hãi chi phối rất mạnh những phản ứng của những người mà ta phải tiếp cận. Việc bắc cầu qua hố ngăn cách giữa cái cũ đã vững chắc và cái mới mà tinh thần đòi hỏi cần rất nhiều thời gian và sự cẩn trọng. Điều khá kỳ lạ là phần lớn khó khăn lại do các trường phái tư tưởng mới hơn nuôi dưỡng. Y học chính thống chậm áp dụng các kỹ thuật và phương pháp mới, và sự chậm chạp ấy là đúng đắn; đôi khi nó quá chậm, nhưng giá trị của phương thức điều trị hay chẩn đoán mới phải được chứng minh xác đáng và bằng thống kê trước khi có thể đưa vào chương trình đào tạo và phương pháp y khoa; những rủi ro đối với con người là quá lớn, và một thầy thuốc nhân đạo tốt sẽ không biến bệnh nhân của mình thành đối tượng thử nghiệm. Tuy nhiên, trong vài thập niên qua, y học đã tiến những bước nhảy vọt; khoa học về điện, liệu pháp ánh sáng cùng nhiều kỹ thuật và phương pháp hiện đại khác đã bổ sung vào các ngành khoa học khác nhau mà y học vận dụng. Những đòi hỏi của cái vô hình và việc điều trị cái chưa rõ nét—nếu những [256] cách diễn đạt đặc biệt như thế là phù hợp—ngày càng được thừa nhận, và người ta biết rằng chúng giữ một vai trò chính thống, được công nhận trong những cách tiếp cận bệnh tật mới hơn.
The approach of the mental schools and cults, as they erroneously call themselves, has not proceeded so helpfully. This is largely their fault. Schools of thought such as Mental Science, New Thought, Unity, Christian Science, Chiropractic enterprise, the efforts of the Naturopaths and many others, hurt their cause, owing to the large claims which they make and to their unceasing attacks upon orthodox medicine and other channels of proven helpfulness and upon the knowledge (acquired over centuries of experimentation) of the academic schools of medicine and surgery. They forget that many of their claims to success (and they are often irrefutable) can be classed under the general heading of faith cures, and this can be done correctly or incorrectly. Such cures have long been recognised by the academic thinker and known to be factual. These cults which are in fact the custodians of needed truths, need above everything else to change their approach and to learn the spiritual nature of compromise in these days of evolutionary unfoldment. Their ideas cannot come into full and desired usefulness apart from the already God-given knowledge which medicine down the ages has accumulated; they need also to keep a record of their numerous failures, as well as the successes which they loudly proclaim. I would here point out that these successes are in no way so numerous as those of orthodox medicine and of the beneficent work done by the clinics of our hospitals which—in spite of failures and often gross stupidity—greatly ameliorate the pains and ills of the masses of men. These cults omit to state, or even to recognise, that in cases of extreme illness or accident, the patient is physically unable to affirm or claim divine healing and is dependent upon the work of some healer who works with no knowledge [257] of the karma of the patient. Many of their so-called cures (and this is the case also with orthodox medicine) are cures because the hour of the end has not yet arrived for the patient and he would have recovered in any case, though he often does so more rapidly, owing to the remedial measures of the trained physician.
Cách tiếp cận của các trường phái và giáo phái dùng trí tuệ, như họ tự gọi một cách sai lầm, chưa tiến triển theo hướng hữu ích như thế. Điều này phần lớn là lỗi của họ. Những trường phái tư tưởng như Khoa Học Trí Tuệ, Tân Tư Tưởng, Nhất Thể, Khoa Học Cơ Đốc, hoạt động chỉnh nắn cột sống, những nỗ lực của các nhà trị liệu tự nhiên và nhiều nhóm khác làm tổn hại chính sự nghiệp của mình vì những tuyên bố lớn lao mà họ đưa ra, cùng những cuộc công kích không ngừng nhằm vào y học chính thống, những phương thức hỗ trợ khác đã chứng tỏ hiệu quả, và kiến thức (tích luỹ qua nhiều thế kỷ thử nghiệm) của các trường y khoa và ngoại khoa hàn lâm. Họ quên rằng nhiều thành công mà họ tuyên bố (và thường không thể bác bỏ) có thể xếp chung dưới danh mục chữa bệnh bằng đức tin, và việc phân loại này có thể đúng hoặc sai. Những sự chữa lành như thế từ lâu đã được các nhà tư tưởng hàn lâm thừa nhận và biết là có thật. Những giáo phái này, thực ra là những người gìn giữ các chân lý cần thiết, trên hết cần thay đổi cách tiếp cận và học biết bản chất tinh thần của sự thoả hiệp trong thời kỳ khai mở tiến hoá này. Những ý tưởng của họ không thể phát huy đầy đủ tính hữu ích như mong muốn nếu tách rời kho tri thức vốn do Thượng đế ban cho mà y học đã tích luỹ qua các thời đại; họ cũng cần ghi lại vô số thất bại của mình, cùng với những thành công mà họ lớn tiếng công bố. Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng những thành công này hoàn toàn không nhiều bằng thành công của y học chính thống và công việc đầy thiện ích do các phòng khám thuộc bệnh viện của chúng ta thực hiện; bất chấp những thất bại và sự thiếu sáng suốt thường rất nghiêm trọng, công việc ấy vẫn làm giảm đáng kể những đau đớn và bệnh tật của đông đảo con người. Những giáo phái này không nói đến, thậm chí không thừa nhận rằng trong các trường hợp bệnh nặng hoặc tai nạn nghiêm trọng, bệnh nhân không đủ khả năng thể chất để khẳng định hay cầu xin sự chữa lành thiêng liêng, và phải phụ thuộc vào công việc của một người chữa bệnh không biết gì [257] về nghiệp quả của bệnh nhân. Nhiều trường hợp được gọi là chữa khỏi của họ (và y học chính thống cũng vậy) thành công vì giờ kết thúc của bệnh nhân chưa đến, và dù thế nào y cũng sẽ hồi phục, mặc dù y thường hồi phục nhanh hơn nhờ các biện pháp trị liệu của người thầy thuốc đã được đào tạo.
In cases of serious accident, where the injured person will bleed, the cultist (no matter what his cult may be called) will perforce avail himself of the methods of the orthodox physician; he will apply a tourniquet, for instance, and take the measures which orthodox medicine enjoins, rather than stand by and see the injured person die because these methods are not used. When he is face to face with death, he will frequently turn to the tried and proved methods of help and will usually call in a physician rather than be charged with murder.
Trong những trường hợp tai nạn nghiêm trọng mà người bị thương chảy máu, người theo giáo phái ấy (bất kể giáo phái của y mang tên gì) buộc phải sử dụng các phương pháp của thầy thuốc chính thống; chẳng hạn, y sẽ buộc dây garô và thực hiện những biện pháp mà y học chính thống chỉ dẫn, thay vì đứng nhìn người bị thương chết vì không áp dụng các phương pháp ấy. Khi đối diện với cái chết, y thường sẽ tìm đến những phương pháp trợ giúp đã qua thử thách và chứng minh hiệu quả, và thường sẽ gọi bác sĩ đến thay vì để bị buộc tội giết người.
All the above is said in no spirit of disparagement, but in an effort to prove that the many schools of thought—orthodox, academic, ancient, material or spiritual, new, pioneering or mental—are interdependent; they need to be brought together into one great healing science. This will be a science which will heal the whole man and bring into play all the resources—physical, emotional, mental and spiritual—of which humanity is capable. Orthodox medicine is more open to cooperation with the newer cults than are the neophytes of the science of mental control of disease; they cannot, however, permit their patients to be turned into guinea pigs (is not that the term used in these cases, brother of mine?) for the satisfaction of the pioneering cultist and the proving of his theories—no matter how correct when applied in conjunction with what has already been proved. The middle way of compromise and of mutual cooperation is ever the wisest. and this is a lesson much needed today in every department of human thinking.
Tất cả những điều trên được nói ra không nhằm chê bai, mà nhằm chứng minh rằng nhiều trường phái tư tưởng—chính thống, hàn lâm, cổ xưa, vật chất hay tinh thần, mới mẻ, tiên phong hay thiên về trí tuệ—đều phụ thuộc lẫn nhau; cần đưa chúng lại với nhau thành một khoa học chữa bệnh vĩ đại. Đây sẽ là một khoa học chữa lành toàn bộ con người và huy động mọi nguồn lực—thể chất, cảm xúc, trí tuệ và tinh thần—mà nhân loại có khả năng vận dụng. Y học chính thống cởi mở hơn trong việc hợp tác với các giáo phái mới so với những người sơ cơ của khoa học kiểm soát bệnh tật bằng trí tuệ; tuy nhiên, họ không thể cho phép biến bệnh nhân thành chuột bạch (huynh đệ của Tôi, đó chẳng phải là thuật ngữ dùng trong những trường hợp này sao?) để thoả mãn người tiên phong theo giáo phái và chứng minh các lý thuyết của y—bất kể chúng có thể đúng đến đâu khi áp dụng kết hợp với những gì đã được chứng minh. Con đường trung dung của sự thoả hiệp và hợp tác lẫn nhau bao giờ cũng sáng suốt nhất, và đây là một bài học hết sức cần thiết ngày nay trong mọi lĩnh vực tư tưởng của con người.
[258]
[258]
We shall now proceed to deal with our third and final section of thoughts around the basic causes of disease. The theme of karma has been little considered and I shall deal with it in a way larger than our particular subject perhaps warrants.
Giờ đây, chúng ta sẽ tiếp tục bàn đến phần thứ ba và cũng là phần cuối trong những suy xét về các nguyên nhân cơ bản của bệnh tật. Chủ đề nghiệp quả còn ít được xem xét, và Tôi sẽ bàn đến nó trong một phạm vi có lẽ rộng hơn mức mà chủ đề riêng của chúng ta cho phép.
CHAPTER III - Our Karmic Liabilities – CHƯƠNG III - Những Món Nợ Nghiệp Quả Của Chúng Ta
INTRODUCTORY REMARKS – NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU
[259]
[259]
We have reached now the concluding phase of our approach to the problem of disease. In our next part we shall deal with the attitudes and temperaments of the patient, taking into consideration his ray and also the state of mind of the healer; all these points are of prime importance when one comes to the consideration of the fine art of healing. It is, however, essential that ill health, acute disease, and death itself should find their place in the overall picture. A particular incarnation is not an isolated event in the life of the soul, but is a part and an aspect of a sequence of experiences which are intended to lead to one, clear, definite goal—the goal of free choice and a deliberate return out of matter to spirit and eventual liberation.
Giờ đây, chúng ta đã đến giai đoạn kết thúc trong cách tiếp cận vấn đề bệnh tật. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ bàn đến thái độ và khí chất của bệnh nhân, có xét đến cung của y và cả trạng thái thể trí của người chữa bệnh; tất cả những điểm này đều có tầm quan trọng hàng đầu khi xem xét nghệ thuật chữa bệnh tinh tế. Tuy nhiên, điều thiết yếu là tình trạng sức khoẻ kém, bệnh cấp tính và chính cái chết phải có vị trí của chúng trong bức tranh tổng thể. Một kiếp lâm phàm cụ thể không phải là một sự kiện biệt lập trong đời sống linh hồn, mà là một phần và một phương diện của chuỗi trải nghiệm nhằm dẫn đến một mục tiêu duy nhất, rõ ràng, xác định—mục tiêu tự do lựa chọn, chủ tâm từ vật chất trở về tinh thần và cuối cùng đạt giải thoát.
There has been much talk among esotericists (particularly in the Eastern presentation of the Path to Reality) anent liberation. The goal held before the neophyte is liberation, freedom, emancipation; this, by and large, is the keynote of life itself. The concept is a transitting out of the realm of the purely selfish and of personal liberation into something much wider and more important. This concept of liberation lies behind the modern use of the word “liberty” but is far wiser, better and deeper in its connotation. Liberty, in the minds of many, is freedom from the imposition of any man’s [260] rule, freedom to do as one wishes, to think as one determines and to live as one chooses. This is as it should be, provided that one’s wishes, choices, thoughts and desires are free from selfishness and are dedicated to the good of the whole. This is, as yet, very seldom so.
Các nhà bí truyền học đã bàn nhiều về giải thoát (đặc biệt trong cách trình bày của phương Đông về Con Đường đến Thực Tại). Mục tiêu đặt ra trước người sơ cơ là giải thoát, tự do, thoát khỏi ràng buộc; nhìn chung, đây là chủ âm của chính sự sống. Quan niệm này là sự chuyển ra khỏi lĩnh vực thuần tuý ích kỷ và sự giải thoát cá nhân để đi vào một điều gì đó rộng lớn hơn và quan trọng hơn nhiều. Quan niệm giải thoát này nằm sau cách dùng hiện đại của từ “tự do”, nhưng hàm nghĩa của nó sáng suốt hơn, tốt đẹp hơn và sâu sắc hơn nhiều. Trong suy nghĩ của nhiều người, tự do là thoát khỏi sự áp đặt quyền cai trị [260] của bất kỳ ai, tự do làm theo ý muốn, suy nghĩ theo quyết định của mình và sống theo lựa chọn của mình. Điều này đúng như nó phải thế, với điều kiện những mong muốn, lựa chọn, tư tưởng và dục vọng của mỗi người không còn ích kỷ và đều hiến dâng cho lợi ích của toàn thể. Cho đến nay, điều này vẫn rất hiếm khi xảy ra.
Liberation is much more than all this; it is freedom from the past, freedom to move forward along certain predetermined lines (predetermined by the soul), freedom to express all the divinity of which one is capable as an individual, or which a nation can present to the world.
Giải thoát vượt xa tất cả những điều này; đó là tự do khỏi quá khứ, tự do tiến bước theo những đường hướng nhất định đã định trước (do linh hồn định trước), tự do biểu lộ toàn bộ thiên tính mà một cá nhân có khả năng biểu lộ, hoặc mà một quốc gia có thể thể hiện trước thế giới.
There have been in the history of the past two thousand years, four great symbolic happenings which have sequentially presented (to those who have eyes to see, ears to hear and minds to interpret) the theme of liberation—and not simply of liberty.
Trong lịch sử hai nghìn năm qua, đã có bốn sự kiện biểu tượng lớn lần lượt trình bày (cho những ai có mắt để thấy, tai để nghe và trí tuệ để diễn giải) chủ đề giải thoát—chứ không chỉ đơn thuần là tự do.
1. The life of Christ Himself. He, for the first time, presented the idea of the sacrifice of the unit, consciously and deliberately offered for the service of the whole. There had been other World Saviours, but the issues involved had not so clearly been expressed, because the mind of man had not been ready to grasp the implications. Service is the keynote of liberation. Christ was the ideal Server.
1. Cuộc đời của chính Đức Christ. Lần đầu tiên, Ngài trình bày ý tưởng về sự hi sinh của đơn vị cá nhân, được hiến dâng một cách có ý thức và có chủ tâm để phụng sự toàn thể. Trước đó đã có những Đấng Cứu Thế khác, nhưng các vấn đề liên quan chưa được diễn đạt rõ ràng đến thế, vì thể trí con người chưa sẵn sàng nắm bắt những hàm ý. Phụng sự là chủ âm của giải thoát. Đức Christ là Người Phụng Sự lý tưởng.
2. The signing of the Magna Charta. This document was signed at Runnymede, during the reign of King John on June 15th, 1215, A.D. Here the idea of liberation from authority was presented with the emphasis upon the personal liberty and rights of the individual. The growth and development of this basic idea, mental concept and formulated perception falls into four phases or chapters:
2. Việc ký Đại Hiến Chương. Văn kiện này được ký tại Runnymede, dưới triều Vua John, vào ngày 15 tháng 6 năm 1215 sau Công nguyên. Ở đây, ý tưởng giải thoát khỏi quyền lực được trình bày với sự nhấn mạnh vào tự do cá nhân và quyền của mỗi người. Sự tăng trưởng và phát triển của ý tưởng cơ bản, quan niệm trí tuệ và nhận thức đã thành hình này trải qua bốn giai đoạn hay bốn chương:
a. The signing of the Magna Charta, emphasising personal liberty.
a. Việc ký Đại Hiến Chương, nhấn mạnh tự do cá nhân.
[261]
[261]
b. The founding of the French Republic with its emphasis upon human liberty.
b. Việc thành lập nền Cộng hoà Pháp, nhấn mạnh tự do của con người.
c. The Declaration of Independence and the Bill of Rights, determining national policy.
c. Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Nhân quyền, xác định chính sách quốc gia.
d. The Atlantic Charter and the Four Freedoms, bringing the whole question into the international field, and guaranteeing to men and women everywhere in the world liberty and freedom to develop the divine reality within themselves.
d. Hiến chương Đại Tây Dương và Bốn Quyền Tự Do, đưa toàn bộ vấn đề vào lĩnh vực quốc tế, bảo đảm cho những người nam và nữ ở khắp nơi trên thế giới quyền tự do và sự tự do phát triển thực tại thiêng liêng bên trong mình.
The ideal has gradually become clarified so that today the mass of men everywhere know what are the basic essentials of happiness.
Lý tưởng ấy dần trở nên rõ ràng, đến mức ngày nay đông đảo con người ở khắp nơi đều biết những điều thiết yếu cơ bản của hạnh phúc là gì.
3. The Emancipation of the Slaves. The spiritual idea of human liberty, which had become a recognised ideal, became a demanding desire, and a great symbolic happening took place—the slaves were freed. Like all things which human beings enact, perfection is nonexistent. The Negro is not free in this land of the free, and America will have to clean house in this respect; to put it in clear concise words, the U.S.A. must see to it that the Constitution and the Bill of Rights are facts and not a dream. Only thus can the inevitable working of the Law of Karma (which is our theme today) be offset. The Negroes are Americans, as well as the New Englanders and all other stocks which are not indigenous in this country, and the Constitution is theirs also. As yet the privileges it confers are withheld by those who are the slaves of selfishness and fear.
3. Sự Giải Phóng Nô Lệ. Ý tưởng tinh thần về tự do của con người, vốn đã trở thành một lý tưởng được công nhận, đã trở thành một khát khao đòi hỏi phải được đáp ứng, và một sự kiện biểu tượng lớn đã diễn ra—những người nô lệ được giải phóng. Cũng như mọi điều con người thực hiện, sự hoàn hảo không tồn tại. Người da đen chưa được tự do trên mảnh đất của những người tự do này, và nước Mỹ sẽ phải chấn chỉnh nội bộ về phương diện ấy; nói rõ ràng và ngắn gọn, Hoa Kỳ phải bảo đảm rằng Hiến pháp và Tuyên ngôn Nhân quyền là những thực tế chứ không phải một giấc mơ. Chỉ như vậy mới có thể hóa giải sự vận hành tất yếu của Định luật Nghiệp Quả (chủ đề của chúng ta hôm nay). Người da đen là người Mỹ, cũng như người vùng New England và mọi cộng đồng có nguồn gốc khác không phải bản địa tại đất nước này, và Hiến pháp cũng thuộc về họ. Cho đến nay, những người làm nô lệ cho tính ích kỷ và nỗi sợ hãi vẫn tước đi các đặc quyền mà Hiến pháp ban cho họ.
4. The Liberation of Humanity by the United Nations. We are participating in a great spectacular and symbolic happening and are watching it in process. The liberation of the individual has moved onward through the symbolic liberation of a section of humanity (the remnants [262] of the first two races, the Lemurian and the Atlantean) to the liberation of millions of human beings, enslaved by the forces of evil, by millions of their fellow men. The ideal has worked through into a practical worldwide effort upon the physical plane and has demanded worldwide sacrifice. It has involved the entire three worlds of human evolution, and for this reason the Christ can now lead His forces and aid human beings to liberate mankind.
4. Sự Giải Phóng Nhân Loại do các Quốc Gia Đồng Minh thực hiện. Chúng ta đang tham dự một sự kiện vĩ đại, ngoạn mục và đầy tính biểu tượng, đồng thời chứng kiến nó diễn tiến. Sự giải thoát cá nhân đã tiến qua sự giải phóng mang tính biểu tượng của một bộ phận nhân loại (những tàn dư [262] của hai giống dân đầu tiên, Lemuria và Atlantis), để đi đến việc hàng triệu người đồng loại giải phóng hàng triệu con người bị các mãnh lực tà ác nô dịch. Lý tưởng ấy đã thể hiện thành một nỗ lực thực tiễn trên toàn thế giới ở cõi hồng trần và đòi hỏi sự hi sinh trên toàn thế giới. Nó đã bao hàm toàn bộ ba cõi giới tiến hoá của con người, và vì lý do này, giờ đây Đức Christ có thể dẫn dắt các mãnh lực của Ngài và giúp con người giải phóng nhân loại.
What has really been happening, therefore, in the lives of individuals, in the lives of nations and in the life of humanity? A tremendous move to put right most ancient evil, to offset consciously the Law of Cause and Effect by a recognition of the causes in the personal, national and international worlds which have produced the effects under which humanity today suffers.
Vậy điều gì thực sự đang diễn ra trong đời sống cá nhân, trong đời sống các quốc gia và trong đời sống nhân loại? Đó là một chuyển động lớn lao nhằm sửa chữa điều ác có từ xa xưa nhất, hóa giải một cách có ý thức Định luật Nhân Quả bằng cách nhận ra những nguyên nhân trong các thế giới cá nhân, quốc gia và quốc tế đã tạo ra những hậu quả mà nhân loại ngày nay đang chịu đựng.
The Law of Karma is today a great and incontrovertible fact in the consciousness of humanity everywhere. They may not call it by that name, but they are well aware that in all today’s events the nations are reaping what they sowed. This great law—at one time a theory—is not a proven fact and a recognised factor in human thinking. The question “Why?” so frequently asked brings in the factor of cause and effect with constant inevitability. The concepts of heredity and of environment are efforts to explain existing human conditions; qualities, racial characteristics, national temperaments and ideals prove the fact of some initiating world of causes. Historical conditions, the relationships between nations, social taboos, religious convictions and tendencies can all be traced to originating causes—some of them most ancient. Everything that is happening in the world today and which is so potently affecting humanity—things of beauty and of horror, modes of living [263] and civilisation and culture, prejudices and likings, scientific attainment and artistic expression and the many ways in which humanity throughout the planet colours existence—are aspects of effects, initiated somewhere, on some level at some time, by human beings, both individually and en masse.
Ngày nay, Định luật Nghiệp Quả là một sự thật lớn lao và không thể tranh cãi trong tâm thức nhân loại ở khắp nơi. Có thể họ không gọi nó bằng tên ấy, nhưng họ biết rất rõ rằng trong mọi sự kiện ngày nay, các quốc gia đang gặt những gì mình đã gieo. Định luật vĩ đại này—từng là một lý thuyết—không phải là một sự thật đã được chứng minh và một yếu tố được công nhận trong tư tưởng con người. Câu hỏi “Tại sao?” thường xuyên được đặt ra đưa yếu tố nhân quả vào với tính tất yếu không ngừng. Các quan niệm về di truyền và môi trường là những nỗ lực giải thích những tình trạng hiện hữu của con người; các phẩm tính, đặc điểm dân tộc, khí chất và lý tưởng quốc gia chứng minh sự hiện hữu của một thế giới nguyên nhân khởi phát nào đó. Những điều kiện lịch sử, quan hệ giữa các quốc gia, điều cấm kỵ xã hội, niềm tin và khuynh hướng tôn giáo đều có thể truy về các nguyên nhân ban đầu—một số có từ rất xa xưa. Mọi điều đang diễn ra trên thế giới ngày nay và đang tác động mạnh mẽ đến nhân loại—những điều đẹp đẽ và kinh hoàng, những lối sống [263] cùng văn minh và văn hoá, các định kiến và sở thích, thành tựu khoa học và biểu đạt nghệ thuật, cùng nhiều cách mà nhân loại trên khắp hành tinh tô màu cho cuộc sống—đều là những phương diện của các kết quả do con người, cả riêng lẻ lẫn tập thể, đã khởi tạo ở đâu đó, trên một cấp độ nào đó, vào một thời điểm nào đó.
Karma is therefore that which Man—the Heavenly Man in whom we live, humanity as a whole, mankind in groups as nations, and individual man—has instituted, carried forward, endorsed, omitted to do or has done right through the ages until the present moment. Today, the harvest is ripe and mankind is reaping what it has sown, preparatory to a fresh ploughing in the springtime of the New Age, with a fresh sowing of the seed which will (let us pray and hope) produce a better harvest.
Vì vậy, nghiệp quả là những gì Con Người—Đấng Thiên Nhân mà trong Ngài chúng ta sống, toàn thể nhân loại, loài người hợp thành các nhóm như những quốc gia, và từng cá nhân—đã thiết lập, tiếp nối, tán thành, bỏ sót không làm hoặc đã làm xuyên suốt các thời đại cho đến hiện tại. Ngày nay, mùa gặt đã chín và nhân loại đang gặt những gì mình đã gieo, để chuẩn bị cho một đợt cày xới mới vào mùa xuân của Kỷ Nguyên Mới, cùng một lần gieo hạt mới sẽ đem lại (chúng ta hãy cầu nguyện và hy vọng) một mùa gặt tốt đẹp hơn.
The outstanding evidence of the Law of Cause and Effect is the Jewish race. All nations prove this Law, but I choose to refer to the Hebrew peoples because their history is so well known and their future and their destiny are subjects of worldwide, universal concern. The Jews have always had a symbolic significance; they sum up in themselves—as a nation, down the ages—the depths of human evil and the heights of human divinity. Their aggressive history as narrated in the Old Testament is on a par with present-day German accomplishment; yet Christ was a Jew and it was the Hebrew race which produced Him. Let this never be forgotten. The Jews were great aggressors; they despoiled the Egyptians and they took the Promised Land at the point of the sword, sparing neither man, woman nor child. Their religious history has been built around a materialistic Jehovah, possessive, greedy and endorsing and encouraging aggression. Their history is symbolic of the history of all aggressors, rationalising themselves into the belief that they are carrying out divine purpose, wresting away from people their property in a spirit of self-defense and finding some [264] reason, adequate to them, to excuse the iniquity of their action. Palestine was taken by the Jews because it was “a land flowing with milk and honey,” and the claim was made that the act was undertaken in obedience to divine command. Later, the symbolism gets most interesting. They divided into two halves: the Israelites with headquarters at Samaria, and the Jews (meaning two or three special tribes out of the twelve) locating around Jerusalem. Dualism ran through their religious beliefs; they were schooled by the Sadducees or the Pharisees, and these two groups were in constant conflict. Christ came as a member of the Jewish race and they renounced Him.
Bằng chứng nổi bật của Định luật Nhân Quả là dân tộc Do Thái. Mọi quốc gia đều chứng minh Định luật này, nhưng Tôi chọn đề cập đến các cộng đồng người Hebrew vì lịch sử của họ rất nổi tiếng, và tương lai cùng vận mệnh của họ là những vấn đề được toàn thế giới quan tâm. Người Do Thái luôn mang một thâm nghĩa biểu tượng; với tư cách một dân tộc qua các thời đại, họ hội tụ trong mình cả những chiều sâu của điều ác nơi con người lẫn những đỉnh cao của thiên tính con người. Lịch sử xâm lược của họ, như được thuật lại trong Cựu Ước, ngang với những gì nước Đức ngày nay thực hiện; tuy nhiên, Đức Christ là người Do Thái, và chính dân tộc Hebrew đã sinh ra Ngài. Đừng bao giờ quên điều này. Người Do Thái từng là những kẻ xâm lược lớn; họ cướp đoạt của người Ai Cập và chiếm Đất Hứa bằng lưỡi gươm, không tha đàn ông, đàn bà hay trẻ nhỏ. Lịch sử tôn giáo của họ được xây dựng quanh một Jehovah duy vật, đầy tính chiếm hữu, tham lam, tán thành và khuyến khích xâm lược. Lịch sử của họ tượng trưng cho lịch sử của mọi kẻ xâm lược, những người tự biện giải để tin rằng mình đang thực hiện Thiên Ý, tước đoạt tài sản của người khác với tinh thần tự vệ và tìm một [264] lý do mà họ cho là đủ để bào chữa cho hành động bất chính của mình. Người Do Thái chiếm Palestine vì đó là “một vùng đất đượm sữa và mật”, và họ tuyên bố rằng hành động ấy được thực hiện để tuân theo mệnh lệnh thiêng liêng. Về sau, tính biểu tượng trở nên hết sức đáng chú ý. Họ chia thành hai phần: người Israel lấy Samaria làm trung tâm, và người Do Thái (nghĩa là hai hoặc ba bộ tộc đặc biệt trong số mười hai bộ tộc) định cư quanh Jerusalem. Thuyết nhị nguyên xuyên suốt các niềm tin tôn giáo của họ; họ được phái Sadducee hoặc phái Pharisee dạy dỗ, và hai nhóm này liên tục xung đột. Đức Christ đến như một thành viên của dân tộc Do Thái, và họ đã khước từ Ngài.
Today the law is working, and the Jews are paying the price, factually and symbolically, for all they have done in the past. They are demonstrating the far-reaching effects of the Law. Factually and symbolically, they stand for culture and civilisation; factually and symbolically, they are humanity; factually and symbolically, they stand as they have ever chosen to stand, for separation. They regard themselves as the chosen people and have an innate consciousness of that high destiny, forgetting their symbolic role and that it is Humanity which is the chosen people and not one small and unimportant fraction of the race. Factually and symbolically, they long for unity and cooperation, yet know not how to cooperate; factually and symbolically, they are the “Eternal Pilgrim”; they are mankind, wandering through the mazes of the three worlds of human evolution, and gazing with longing eyes towards a promised land; factually and symbolically, they resemble the mass of men, refusing to comprehend the underlying spiritual purpose of all material phenomena, rejecting the Christ within (as they did centuries ago the Christ within their borders), grasping for material good and steadily rejecting the things of the spirit. They demand the so-called restitution of Palestine, [265] wresting it away from those who have inhabited it for many centuries; and by their continued emphasis upon material possession they lose sight of the true solution, which is that, symbolically and factually again, they must be assimilated into all the nations, and fused with all the races, thus demonstrating recognition of the One Humanity.
Ngày nay, định luật đang vận hành, và người Do Thái đang trả giá, cả trên thực tế lẫn về mặt biểu tượng, cho tất cả những gì họ đã làm trong quá khứ. Họ đang chứng tỏ những tác động sâu rộng của Định luật. Trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ đại diện cho văn hoá và văn minh; trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ là nhân loại; trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ vẫn đứng về sự chia rẽ, như họ luôn lựa chọn. Họ coi mình là dân tộc được tuyển chọn và có một tâm thức bẩm sinh về vận mệnh cao cả ấy, quên mất vai trò biểu tượng của mình và quên rằng chính Nhân Loại mới là dân tộc được tuyển chọn, chứ không phải một bộ phận nhỏ bé và không quan trọng của nhân loại. Trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ khao khát hợp nhất và hợp tác, nhưng không biết cách hợp tác; trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ là “Người Hành Hương Vĩnh Cửu”; họ là nhân loại, lang thang qua những mê cung của ba cõi giới tiến hoá con người và nhìn về một miền đất hứa bằng đôi mắt khát khao; trên thực tế và về mặt biểu tượng, họ giống như đông đảo con người, từ chối lĩnh hội mục đích tinh thần nằm sau mọi hiện tượng vật chất, khước từ Đức Christ bên trong (như nhiều thế kỷ trước họ đã khước từ Đức Christ trong biên giới của mình), chụp lấy của cải vật chất và không ngừng khước từ những điều thuộc tinh thần. Họ đòi hỏi cái gọi là sự hoàn trả Palestine, [265] giành lấy vùng đất ấy từ những người đã sinh sống ở đó suốt nhiều thế kỷ; và do tiếp tục nhấn mạnh quyền sở hữu vật chất, họ đánh mất tầm nhìn về giải pháp đích thực, đó là, một lần nữa cả về mặt biểu tượng lẫn trên thực tế, họ phải hoà nhập vào mọi quốc gia và dung hợp với mọi dân tộc, qua đó chứng tỏ sự công nhận Một Nhân Loại Duy Nhất.
It is interesting to note that the Jews who inhabited southern Palestine, and whose chief city was Jerusalem, have succeeded in doing this and have fused with and been assimilated by the British, the Dutch and the French in a way that the Israelites, ruled from Samaria, have never done. I commend this to you for your consideration.
Điều đáng chú ý là những người Do Thái từng cư ngụ ở miền nam Palestine, với Jerusalem là thành phố chính, đã thành công trong việc này và đã dung hợp, hoà nhập với người Anh, người Hà Lan và người Pháp theo một cách mà những người Israel, chịu sự cai trị từ Samaria, chưa bao giờ làm được. Tôi đề nghị các bạn suy xét điều này.
If the Jewish race would recall, therefore, their high symbolic destiny, and if the rest of humanity would see themselves in the Jewish people, and if both groups would emphasise the fact of human stock and cease thinking of themselves in terms of national and racial units, the karma of humanity would radically change from the retributive karma of the present to the recompensing good karma of the future.
Vì vậy, nếu dân tộc Do Thái nhớ lại vận mệnh biểu tượng cao cả của mình, nếu phần còn lại của nhân loại nhìn thấy chính mình trong người Do Thái, và nếu cả hai nhóm nhấn mạnh thực tế về cội nguồn chung của con người, ngừng suy nghĩ về mình như những đơn vị quốc gia và chủng tộc, thì nghiệp quả của nhân loại sẽ thay đổi tận gốc, từ nghiệp quả báo ứng của hiện tại sang thiện nghiệp đem lại phần thưởng trong tương lai.
Regarding this question from the long range vision (looking backward historically as well as forward hopefully), the problem is one to which the Jews themselves must make the larger contribution. They have never yet faced candidly and honestly (as a race) the problem of why the many nations, from the time of the Egyptians, have neither liked nor wanted them. It has always been the same down the centuries. Yet there must be some reason, inherent in the people themselves, when the reaction is so general and universal. Their approach to their direful problem has been one of supplication, or of distressed complaint, or of unhappy despair. Their demand has been for the Gentile nations to put the matter right, and many Gentiles have attempted to do so. Until, however, the Jews themselves [266] face up to the situation and admit that there may be for them the working out of the retributive aspect of the Law of Cause and Effect, and until they endeavour to ascertain what it is in them, as a race, which has initiated their ancient and dire fate, this basic world issue will remain as it has been since the very night of time. That within the race there are and have been great, good, just and spiritual men is unalterably true. A generalisation is never a complete expression of the truth. But, viewing the problem of the Jews in time and space, in history and today, the points which I have made will bear careful consideration by the Jews.
Xem xét vấn đề này từ tầm nhìn dài hạn (nhìn ngược về lịch sử cũng như hướng tới tương lai trong hy vọng), đây là một vấn đề mà chính người Do Thái phải đóng góp phần lớn hơn vào việc giải quyết. Với tư cách một dân tộc, họ chưa bao giờ thẳng thắn và thành thật đối diện với câu hỏi vì sao nhiều quốc gia, từ thời người Ai Cập, đã không thích cũng không muốn có họ. Qua các thế kỷ, tình hình luôn như vậy. Tuy nhiên, hẳn phải có một lý do nào đó nằm ngay trong cộng đồng ấy khi phản ứng lại phổ biến và rộng khắp đến thế. Cách họ tiếp cận vấn đề khủng khiếp của mình là van xin, than phiền trong đau khổ hoặc tuyệt vọng bất hạnh. Họ yêu cầu các quốc gia không phải Do Thái phải sửa chữa tình hình, và nhiều người không phải Do Thái đã cố gắng làm điều đó. Tuy nhiên, chừng nào chính người Do Thái [266] chưa đối diện với tình hình và thừa nhận rằng có thể phương diện báo ứng của Định luật Nhân Quả đang vận hành đối với họ, và chừng nào họ chưa nỗ lực xác định điều gì trong họ, với tư cách một dân tộc, đã khởi phát số phận lâu đời và khủng khiếp ấy, thì vấn đề cơ bản này của thế giới vẫn sẽ tồn tại như từ buổi tối tăm đầu tiên của thời gian. Rằng trong dân tộc ấy có và đã từng có những con người vĩ đại, tốt đẹp, công chính và tinh thần là một sự thật không thể thay đổi. Một sự khái quát không bao giờ diễn đạt trọn vẹn chân lý. Nhưng khi xem xét vấn đề người Do Thái trong thời gian và không gian, trong lịch sử và hiện tại, những điểm Tôi đã nêu đáng để người Do Thái cân nhắc cẩn thận.
What I have said in no way mitigates the guilt of those who have so sorely abused the Jews. You have a proverb, have you not? that “two blacks do not make a white.” The behaviour of the nations towards the Jews, culminating in the atrocities of the second quarter of the twentieth century, have no excuse. The law must inevitably work. Though much that has happened to the Jews originated in their past history and in their pronounced attitude of separativeness and nonassimilability, and in their emphasis upon material good, yet the agents who have brought the evil karma upon them equally incur the retributive aspect of the same law; the situation has now assumed the form of a vicious circle of error and wrong doing, of retribution and revenge, and in view of this the time must come when together the nations will confer upon this problem, and together they will cooperate to bring to an end the wrong attitudes on both sides. All karma of evil nature is solved by the presentation of an accepting will, a cooperative love, a frank acknowledgment of responsibility and a skillful adjustment of united joint activity to bring about the good of humanity as a whole, and not just the good of an individual nation or people or race. The Jewish problem will not be solved [267] by taking possession of Palestine, by plaint and demand and by financial manipulations. That would be but the prolongation of ancient wrong and material possessiveness. The problem will be solved by the willingness of the Jew to conform to the civilisation, the cultural background and the standards of living of the nation to which—by the fact of birth and education—he is related and with which he should assimilate. It will come by the relinquishment of pride of race and of the concept of selectivity; it will come by renouncing dogmas and customs which are intrinsically obsolete and which create points of constant irritation to the matrix within which the Jew finds himself; it will come when selfishness in business relations and the pronounced manipulative tendencies of the Hebrew people are exchanged for more selfless and honest forms of activity.
Những điều Tôi đã nói hoàn toàn không làm giảm nhẹ tội lỗi của những kẻ đã ngược đãi người Do Thái hết sức tàn khốc. Các bạn có một câu tục ngữ, phải không, rằng “hai điều sai không làm thành một điều đúng”. Hành vi của các quốc gia đối với người Do Thái, lên đến đỉnh điểm trong những hành động tàn bạo ở phần tư thứ hai của thế kỷ hai mươi, không có gì bào chữa được. Định luật tất yếu phải vận hành. Mặc dù phần lớn những gì đã xảy đến với người Do Thái bắt nguồn từ lịch sử quá khứ của họ, từ thái độ chia rẽ rõ rệt và không chịu hoà nhập, cùng việc nhấn mạnh của cải vật chất, nhưng những tác nhân đã đem ác nghiệp đến cho họ cũng phải chịu phương diện báo ứng của cùng định luật ấy; hiện nay, tình hình đã mang hình thức một vòng luẩn quẩn của sai lầm và hành động sai trái, của báo ứng và trả thù, và xét đến điều này, rồi phải đến lúc các quốc gia cùng nhau bàn bạc về vấn đề ấy, cùng nhau hợp tác để chấm dứt những thái độ sai lầm ở cả hai phía. Mọi nghiệp quả có bản chất xấu ác đều được hoá giải bằng việc thể hiện một ý chí chấp nhận, một tình thương hợp tác, sự thẳng thắn thừa nhận trách nhiệm và sự điều chỉnh khéo léo hoạt động chung thống nhất nhằm đem lại lợi ích cho toàn thể nhân loại, chứ không chỉ lợi ích của một quốc gia, một cộng đồng hay một dân tộc riêng lẻ. Vấn đề người Do Thái sẽ không được giải quyết [267] bằng việc chiếm hữu Palestine, bằng than vãn và đòi hỏi, hay bằng những thao túng tài chính. Điều đó chỉ kéo dài sai lầm cổ xưa và tính chiếm hữu vật chất. Vấn đề sẽ được giải quyết khi người Do Thái sẵn lòng thích ứng với nền văn minh, nền tảng văn hoá và mức sống của quốc gia mà—do sự kiện sinh ra và được giáo dục tại đó—họ có liên hệ và cần hoà nhập. Điều ấy sẽ đến khi họ từ bỏ niềm kiêu hãnh dân tộc và quan niệm về tính được tuyển chọn; sẽ đến khi họ từ bỏ những giáo điều và tập tục vốn đã lỗi thời, tạo nên những điểm kích động khó chịu không ngừng đối với môi trường xã hội mà người Do Thái đang sống trong đó; sẽ đến khi tính ích kỷ trong các quan hệ kinh doanh và những khuynh hướng thao túng rõ rệt của người Hebrew được thay bằng những hình thức hoạt động vị tha và trung thực hơn.
The Jew, owing to his rays and point of development, is outstandingly creative and artistic. This he must recognise and not seek as he now does to dominate in all fields, to grasp all opportunities away from other people, and so better himself and his own people at the expense of others. Release from the present situation will come when the Jew forgets that he is a Jew and becomes in his inmost consciousness an Italian, an American, a Britisher, a German or a Pole. This is not so at this time. The Jewish problem will be solved by intermarriage; that of the Negro will not. This will mean concession and compromise on the part of the orthodox Jews—not the concession of expediency but the concession of conviction.
Do các cung và trình độ phát triển của mình, người Do Thái có khả năng sáng tạo và nghệ thuật nổi bật. Họ phải nhận ra điều này, thay vì tìm cách như hiện nay để thống trị mọi lĩnh vực, giành lấy mọi cơ hội từ người khác, qua đó nâng cao địa vị của mình và dân tộc mình bằng sự thiệt thòi của người khác. Sự giải thoát khỏi tình trạng hiện tại sẽ đến khi người Do Thái quên rằng mình là người Do Thái và trở thành, trong tâm thức sâu thẳm nhất, một người Ý, một người Mỹ, một người Anh, một người Đức hay một người Ba Lan. Hiện nay chưa phải như vậy. Vấn đề người Do Thái sẽ được giải quyết bằng hôn nhân khác dân tộc; vấn đề người da đen thì không. Điều này có nghĩa là sự nhượng bộ và thoả hiệp từ phía những người Do Thái chính thống—sự nhượng bộ xuất phát từ niềm xác tín chứ không phải vì tính toán thực dụng.
Let me point out also that just as the Kabbalah and the Talmud are secondary lines of esoteric approach to truth, and materialistic in their technique (embodying much of the magical work of relating one grade of matter to the substance of another grade), so the Old Testament is emphatically a secondary Scripture, and spiritually does not rank [268] with the Bhagavad-Gita, the ancient Scriptures of the East and the New Testament. Its emphasis is material and its effect is to impress a purely materialistic Jehovah upon world consciousness. The general theme of the Old Testament is the recovery of the highest expression of the divine wisdom in the first solar system; that system embodied the creative work of the third aspect of divinity—that of active intelligence, expressing itself through matter. In this solar system, the created world is intended to be the expression of the second aspect, of the love of God. This the Jew has never grasped, for the love expressed in the Old Testament is the separative, possessive love of Jehovah for a distinct unit within the fourth or human kingdom. St. Paul summed up the attitude which humanity should assume in the words: “There is neither Jew nor Gentile.” The evil karma of the Jew today is intended to end his isolation, to bring him to the point of relinquishing material goals, of renouncing a nationality that has a tendency to be somewhat parasitic within the boundaries of other nations, and to express inclusive love, instead of separative unhappiness.
Tôi cũng xin chỉ ra rằng, cũng như Kabbalah và Talmud là những đường lối thứ yếu để tiếp cận chân lý theo phương diện nội môn, và có kỹ thuật mang tính duy vật (bao hàm nhiều công việc huyền thuật nhằm liên kết một cấp độ vật chất với chất liệu của một cấp độ khác), Cựu Ước rõ ràng cũng là một bộ Kinh Thánh thứ yếu, và về mặt tinh thần không thể xếp ngang hàng [268] với Bhagavad-Gita, các bộ Kinh điển cổ xưa của phương Đông và Tân Ước. Cựu Ước nhấn mạnh phương diện vật chất, và tác động của nó là khắc sâu vào tâm thức thế giới hình ảnh một Jehovah thuần túy duy vật. Chủ đề chung của Cựu Ước là khôi phục biểu hiện cao nhất của minh triết thiêng liêng trong hệ mặt trời thứ nhất; hệ mặt trời ấy thể hiện công việc sáng tạo của phương diện thứ ba của thiên tính—phương diện trí tuệ hoạt động, biểu hiện qua vật chất. Trong hệ mặt trời này, thế giới được sáng tạo có mục đích biểu hiện phương diện thứ hai, tức tình thương của Thượng đế. Người Do Thái chưa bao giờ nắm bắt được điều này, vì tình thương được diễn tả trong Cựu Ước là tình thương chia rẽ, chiếm hữu của Jehovah dành cho một đơn vị riêng biệt trong giới thứ tư, tức giới nhân loại. Thánh Paul đã tóm lược thái độ mà nhân loại cần có qua những lời: “Không có người Do Thái hay người ngoài Do Thái.” Nghiệp quả xấu của người Do Thái ngày nay có mục đích chấm dứt sự biệt lập của họ, đưa họ đến chỗ buông bỏ những mục tiêu vật chất, từ bỏ một bản sắc dân tộc có phần thiên về lối sống ký sinh trong lãnh thổ các quốc gia khác, và biểu lộ tình thương bao gồm, thay cho nỗi bất hạnh do chia rẽ.
And what of the Gentile attitude? It is absolutely necessary that the nations meet the Jew more than half way when he arrives at altering—slowly and gradually—his nationalistic orthodoxy. It is essential that they cease from fear and persecution, from hatred and from placing barriers to cooperation. The growing anti-Semitic feeling in the world is inexcusable in the sight of God and man. I refer not here to the abominable cruelties of the obsessed German people. Behind that lies a history of Atlantean relationships into which it is needless for me to enter because I could not prove to you the truth of my statements. I refer to the history of the past two thousand years and to the everyday behaviour of Gentile people everywhere. There must be a definite effort upon the part of the nationals of [269] every country to assimilate the Jews, to inter-marry with them, and to refuse to recognise as barriers old habits of thought and ancient bad relations. Men everywhere must regard it as a blot upon their national integrity if there is the appearance within their borders of the old duality—Jew and Gentile. There is neither Jew nor Gentile; there is only Humanity. This war (1914-1945) should be regarded as having brought to a conclusion the ancient enmity between Jew and Gentile, and the two groups have now the opportunity to originate a newer and happier measure of living and a truly cooperative relation on either side. The process of assimilation will be slow, for the situation is of so ancient a date that habits of thought, customary attitudes and separative customs are well established and hard to overcome. But the needed changes can be made if goodwill directs the spoken word, the written presentation and the mode of living together. The Hierarchy sees no distinction. The Head of the Hierarchy, though not in a Jewish body at this time, achieved the highest spiritual goal for humanity whilst in a Jewish vehicle. The Hierarchy is also sending into Jewish bodies certain disciples who will work with full intent at the changing of the situation. There are Jews today, a few in number, who do not think in terms of being Jews; who are not preoccupied with the Jewish problem to the exclusion of all else, and who are endeavouring to fuse all people into one humanity, thus bridging the gap.
Còn thái độ của người ngoài Do Thái thì sao? Khi người Do Thái bắt đầu thay đổi—chậm rãi và dần dần—quan điểm chính thống mang tính dân tộc chủ nghĩa của mình, các quốc gia nhất thiết phải chủ động đón nhận họ với mức độ thiện chí còn lớn hơn. Điều thiết yếu là các quốc gia ấy phải chấm dứt sợ hãi và bách hại, chấm dứt thù hận và dựng lên những rào cản đối với sự hợp tác. Tình cảm bài Do Thái đang gia tăng trên thế giới là điều không thể biện minh trước Thượng đế và con người. Ở đây, Tôi không nói đến những hành vi tàn ác ghê tởm của dân tộc Đức đang bị ám chấp. Đằng sau điều đó là một lịch sử các mối quan hệ từ thời Atlantis mà Tôi không cần đi sâu vào, vì Tôi không thể chứng minh với các bạn tính xác thực của những lời mình nói. Tôi đang nói đến lịch sử hai nghìn năm qua và cách hành xử hằng ngày của người ngoài Do Thái ở khắp nơi. Công dân của [269] mọi quốc gia phải có nỗ lực rõ rệt để hòa nhập người Do Thái vào cộng đồng, kết hôn với họ, và không thừa nhận những thói quen tư tưởng cũ cùng các mối quan hệ tồi tệ từ xa xưa là những rào cản. Con người ở khắp nơi phải xem sự xuất hiện của cặp nhị nguyên cũ—người Do Thái và người ngoài Do Thái—trong lãnh thổ mình là một vết nhơ đối với sự toàn vẹn của dân tộc. Không có người Do Thái hay người ngoài Do Thái; chỉ có Nhân Loại. Cuộc chiến này (1914-1945) cần được xem là đã khép lại mối thù hận lâu đời giữa người Do Thái và người ngoài Do Thái, và giờ đây hai nhóm có cơ hội khởi tạo một lối sống mới hơn, hạnh phúc hơn và một mối quan hệ hợp tác thực sự từ cả hai phía. Tiến trình hòa nhập sẽ chậm, vì tình trạng này đã tồn tại từ quá lâu đến mức những thói quen tư tưởng, những thái độ quen thuộc và những tập tục chia rẽ đã ăn sâu, khó vượt qua. Nhưng những thay đổi cần thiết có thể thực hiện được nếu thiện chí dẫn dắt lời nói, cách trình bày bằng văn bản và lối sống chung. Thánh đoàn không thấy có sự phân biệt nào. Đấng Đứng Đầu Thánh đoàn, dù hiện nay không ở trong một thân thể Do Thái, đã đạt mục tiêu tinh thần cao nhất dành cho nhân loại khi ở trong một vận cụ Do Thái. Thánh đoàn cũng đang đưa một số đệ tử vào các thân thể Do Thái; họ sẽ làm việc với quyết tâm trọn vẹn nhằm thay đổi tình trạng này. Ngày nay có một số ít người Do Thái không suy nghĩ theo quan niệm mình là người Do Thái; họ không chỉ chăm chú vào vấn đề Do Thái mà gạt bỏ mọi điều khác, và đang nỗ lực dung hợp mọi người thành một nhân loại duy nhất, qua đó bắc cầu qua khoảng cách chia rẽ.
Again, I say, that the Masters of the Wisdom see neither Jew nor Gentile, but only souls and sons of God.
Một lần nữa, Tôi nói rằng các Chân sư Minh Triết không thấy người Do Thái hay người ngoài Do Thái, mà chỉ thấy các linh hồn và những người con của Thượng đế.
In dealing with the subject of karma as a factor—decisive and lasting in both disease and health—one of the criticisms to which my approach is subjected is that I deal too much with generalities and that I give no specific and detailed analysis of particular diseases, particularly of the great [270] basic diseases which today take such a toll of humanity and which are not fundamentally being curbed. I do not deal with their symptoms or their cure, and I indicate not techniques whereby they may be handled. This I feel is a criticism with which I should deal, so that you may proceed with your study under no misapprehension. This is an appropriate point at which to stop and meet this contention. Karma is necessarily a topic which is general and not specific; it is not yet accepted in the occult sense by the general public. It must be considered along broad lines until such time that the Law of Cause and Effect is accepted as a major conditioning factor in the human consciousness, not only on a large scale but in relation to individual lives. Of this Law, the public is yet, as a whole, ignorant.
Khi bàn đến nghiệp quả như một yếu tố mang tính quyết định và lâu dài đối với cả bệnh tật lẫn sức khỏe, một trong những lời phê bình đối với cách tiếp cận của Tôi là Tôi bàn quá nhiều về những điều khái quát và không đưa ra phân tích cụ thể, chi tiết về từng căn bệnh, đặc biệt là những căn bệnh [270] nền tảng nghiêm trọng đang gây tổn thất lớn cho nhân loại ngày nay mà về căn bản vẫn chưa được kiềm chế. Tôi không bàn đến các triệu chứng hay cách chữa trị chúng, cũng không chỉ ra những kỹ thuật để xử lý chúng. Tôi cảm thấy đây là một lời phê bình mà mình cần giải đáp, để các bạn có thể tiếp tục nghiên cứu mà không hiểu lầm. Đây là chỗ thích hợp để dừng lại và giải đáp ý kiến phản bác ấy. Nghiệp quả tất yếu là một chủ đề mang tính khái quát chứ không cụ thể; công chúng nói chung vẫn chưa chấp nhận nghiệp quả theo ý nghĩa huyền bí. Chủ đề này phải được xem xét trên những đường nét rộng cho đến khi Định luật Nhân Quả được chấp nhận là một yếu tố định hình chủ yếu trong tâm thức con người, không chỉ trên quy mô lớn mà còn liên quan đến từng cuộc đời cá nhân. Nhìn chung, công chúng vẫn chưa biết đến Định luật này.
It will be obvious to you that it is entirely needless for me to deal with the symptomatic aspect of diseases and with the facts that have been so ably ascertained by orthodox medical science. We have been for some time considering the causes of such diseases, and I propose to deal with occult methods of producing cures—where such cures are permissible under the Law of Karma and where the healer is willing to work in an occult manner. I have attempted to make clear to you that the fundamental cause is related to energy, to its presence in excess as it pours through the centres, or to its deficiency. Here lie the two main factors in the production of disease. It is essential that those of you who are interested in the study of disease and its healing should admit this and permit it to form the basis of your approach. I have indicated that medicine and medical treatments of the future will start with this fact as their prime determination. The factual nature of medical discovery is not disowned by me. I seek to carry the matter forward from that point, and it is no part of my programme to ignore the wise discoveries of modern medical science, nor am I [271] on the side of those groups of people who run down and refuse to admit the findings of modern medicine. This I have earlier emphasised. I want to indicate the trend of future medical research, which will be to seek for the seat of the trouble in the realm of vitality (as it may be called by orthodox investigators), and which we would regard as in the realm of the etheric body. Let me here make a practical statement which might be regarded as the next Rule in this treatise:
Các bạn hẳn thấy rõ rằng Tôi hoàn toàn không cần bàn đến phương diện triệu chứng của bệnh tật và những sự kiện mà y học chính thống đã xác định rất tài tình. Từ ít lâu nay, chúng ta đã xem xét nguyên nhân của những căn bệnh ấy, và Tôi dự định bàn đến các phương pháp huyền bí để chữa lành—khi Định luật Nghiệp Quả cho phép sự chữa lành ấy và người chữa lành sẵn lòng làm việc theo cách huyền bí. Tôi đã cố gắng làm rõ với các bạn rằng nguyên nhân căn bản liên quan đến năng lượng, đến sự dư thừa của nó khi tuôn qua các trung tâm, hoặc đến sự thiếu hụt của nó. Chính ở đây có hai yếu tố chủ yếu gây ra bệnh tật. Điều thiết yếu là những ai trong các bạn quan tâm đến việc nghiên cứu bệnh tật và sự chữa lành phải thừa nhận điều này và lấy đó làm nền tảng cho cách tiếp cận của mình. Tôi đã chỉ ra rằng y học và các phương pháp điều trị trong tương lai sẽ lấy sự kiện này làm điểm xuất phát và căn cứ quyết định hàng đầu. Tôi không phủ nhận tính xác thực của các khám phá y học. Tôi tìm cách đưa vấn đề tiến xa hơn từ điểm đó; việc bỏ qua những khám phá sáng suốt của y học hiện đại không nằm trong chương trình của Tôi, và Tôi cũng không [271] đứng về phía những nhóm người chê bai và từ chối thừa nhận các phát hiện của y học hiện đại. Tôi đã nhấn mạnh điều này trước đây. Tôi muốn chỉ ra xu hướng nghiên cứu y học trong tương lai: tìm nơi phát sinh rối loạn trong lĩnh vực sinh lực (theo cách gọi có thể có của các nhà nghiên cứu chính thống), còn chúng ta xem đó là lĩnh vực của thể dĩ thái. Ở đây, Tôi xin đưa ra một phát biểu thực tiễn có thể xem là Quy luật tiếp theo trong khảo luận này:
RULE SIX
QUY LUẬT SÁU
A careful diagnosis of the disease, based on the ascertained outer symptoms, will be simplified to this extent that, once the organ involved is known and thus isolated, the centre in the etheric body which is in closest relation to it will be subjected to methods of occult healing, though the ordinary, ameliorative, medical or surgical methods will not be withheld.
Việc chẩn đoán bệnh cẩn thận, dựa trên những triệu chứng bên ngoài đã được xác định, sẽ được đơn giản hóa ở điểm này: một khi đã biết cơ quan liên quan và nhờ đó khoanh định được nó, người ta sẽ áp dụng các phương pháp chữa lành huyền bí cho trung tâm trong thể dĩ thái có quan hệ gần gũi nhất với cơ quan ấy, đồng thời vẫn sử dụng các phương pháp thông thường để làm thuyên giảm bệnh trạng, điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật.
It is here that the fanatical cultist or healer of today so often goes astray. The old approach to medicine, with its physical investigation and its successful or unsuccessful diagnosis, will still be required until such time that physicians and surgeons have clairvoyant faculty, intuitive perception and spiritual insight, and also until they have worked out a technique for handling energy in relation to the patient. To this will some day be added correct astrological interpretation, immediate recognition of ray types, and then the application of the right healing techniques, as required by the ray which conditions the patient’s life expression, plus his point in evolution.
Chính ở đây, người theo giáo phái hay người chữa lành cuồng tín ngày nay rất thường đi chệch hướng. Cách tiếp cận y học cũ, với việc khảo sát thể xác và chẩn đoán thành công hay không thành công, vẫn sẽ cần thiết cho đến khi các bác sĩ nội khoa và phẫu thuật có năng lực thông nhãn, nhận thức trực giác và tuệ giác tinh thần, đồng thời đã xây dựng được một kỹ thuật xử lý năng lượng liên quan đến bệnh nhân. Một ngày nào đó, những điều này sẽ được bổ sung bằng sự diễn giải chiêm tinh chính xác, khả năng nhận biết ngay các loại cung, rồi áp dụng những kỹ thuật chữa lành thích hợp theo yêu cầu của cung tác động lên sự biểu hiện sự sống của bệnh nhân, cùng với điểm tiến hoá của y.
I am handicapped greatly as a I seek to lay the foundation for this new approach to medicine. I am handicapped by the idealistic pronouncements of the pioneers in the new fields of nature healing, by the naturopaths, and by the [272] premises of Christian Science and the Unity Schools. All that I can do (if you are to profit by my presentation) is to lay down certain broad and general assumptions which will govern the medical men of the future. But in the interim period between the old and the new eras, men will wander in a fog of speculation; a great conflict will be engineered between the fundamentalist schools and the speculators and the investigators of the new ideas, and temporarily the “noble middle path” of the Buddha will be forgotten.
Tôi gặp trở ngại rất lớn khi tìm cách đặt nền tảng cho cách tiếp cận y học mới này. Tôi gặp trở ngại vì những tuyên bố duy tâm của những người tiên phong trong các lĩnh vực chữa lành tự nhiên mới, vì các nhà liệu pháp tự nhiên, và vì những [272] tiền đề của Khoa học Cơ Đốc giáo và các Trường phái Hợp Nhất. Tất cả những gì Tôi có thể làm (nếu các bạn muốn hưởng lợi từ phần trình bày của Tôi) là nêu ra một số giả định rộng và khái quát sẽ chi phối các bác sĩ trong tương lai. Nhưng trong giai đoạn chuyển tiếp giữa thời đại cũ và mới, con người sẽ lang thang trong màn sương suy đoán; một cuộc xung đột lớn sẽ được khơi lên giữa các trường phái bảo thủ giáo điều với những người suy đoán và nghiên cứu các ý tưởng mới, và trong một thời gian, “con đường trung đạo cao quý” của Đức Phật sẽ bị lãng quên.
There is present today, in the science of medicine, a situation paralleling that to be found in the realm of religion. The old approach suffices for the masses and is frequently successful both in its ameliorative and preventive aspects, and in its process of diagnosis. This is all that is possible at this time. In the same manner, the old religious presentation suffices to guide the unthinking masses along certain broad lines of controlled living, and to keep clearly in the consciousness of the average man certain uncontrovertible, spiritual facts. Both in the guidance and protection of the masses in their spiritual natures and in the guidance and protection of their physical vehicles, doctors and priests can be divided into various groups—some adhering to old proved techniques, some so fundamentalist in position that they refuse to investigate that which is new and unproven, and some so idealistic, speculative and fanatical that they rush ahead and enter into a world of speculative experiment which may or may not give them the key to the medicine of the future but which certainly puts their patients into the category of what you call “guinea pigs.”
Ngày nay, trong khoa học y học có một tình trạng tương tự như trong lĩnh vực tôn giáo. Cách tiếp cận cũ đáp ứng đủ nhu cầu của quần chúng và thường thành công cả trong việc làm thuyên giảm, phòng ngừa lẫn tiến trình chẩn đoán. Đó là tất cả những gì có thể làm được vào lúc này. Tương tự, cách trình bày tôn giáo cũ đủ để hướng dẫn quần chúng không suy xét theo một số đường nét rộng của đời sống có kỷ luật, và giữ rõ trong tâm thức người bình thường một số sự kiện tinh thần không thể phủ nhận. Trong cả việc hướng dẫn, bảo vệ quần chúng về bản chất tinh thần lẫn việc hướng dẫn, bảo vệ các vận cụ hồng trần của họ, các bác sĩ và giáo sĩ có thể chia thành nhiều nhóm—một số tuân theo những kỹ thuật cũ đã được kiểm chứng; một số giữ lập trường bảo thủ giáo điều đến mức từ chối nghiên cứu những gì mới mẻ và chưa được chứng minh; và một số quá duy tâm, suy đoán và cuồng tín đến mức vội vã tiến vào một thế giới thử nghiệm mang tính suy đoán, có thể hoặc không thể đem lại cho họ chìa khóa mở vào nền y học tương lai, nhưng chắc chắn đặt bệnh nhân của họ vào loại mà các bạn gọi là “chuột bạch”.
The surest and least speculative field in medical practice is that which is concerned with the surgical relief of the patient; it is founded on a sure knowledge of anatomy, its diagnosis of requirements can be intelligently controlled, and [273] its practice (when in the hands of a sound and reputable surgeon) can and frequently does produce a cure or a real prolongation of life. However, even in that field little is known about the results of an operation as it may affect the etheric body and (consequently) the nervous system through the intermediate system of the “nadis” or the etheric counterpart of the nerves. I would instance the removal of some organ. Definite results must necessarily be present and a period of difficult adjustment must inevitably take place within the subtle mechanism of the patient. The area of the body which has received surgical treatment, and particularly the centre in closest relation to it, must be affected, for the circulatory flow of energy, emanating from the centre, will find itself “short circuited,” if I could use such a phrase. This flow, which has hitherto passed through the area of surgical attention, must work its way to all parts of the body, via the “nadis”; these, as you know, underlie and feed the needed energy to the nervous system. Old channels for the flow of energy will have been removed, as the result of operative measures, major or minor. New channels or lines of force, bridging the “mutilated” area, will have to be established and a basic adjustment will have to be made within the vital mechanism of the patient. Along this line there is practically nothing as yet known. It is not even yet in the field of advanced research.
Lĩnh vực chắc chắn nhất và ít mang tính suy đoán nhất trong thực hành y khoa là lĩnh vực liên quan đến việc giúp bệnh nhân giảm nhẹ bệnh trạng bằng phẫu thuật; nó dựa trên kiến thức giải phẫu vững chắc, việc chẩn đoán nhu cầu can thiệp có thể được kiểm soát một cách sáng suốt, và [273] việc thực hành (khi nằm trong tay một bác sĩ phẫu thuật giỏi và có uy tín) có thể, và thường thực sự, chữa khỏi bệnh hoặc kéo dài sự sống đáng kể. Tuy nhiên, ngay cả trong lĩnh vực ấy, người ta vẫn biết rất ít về những hệ quả của một ca phẫu thuật đối với thể dĩ thái và (do đó) đối với hệ thần kinh qua hệ thống trung gian gồm “các đường dẫn năng lượng”, tức đối phần dĩ thái của các dây thần kinh. Tôi xin lấy ví dụ việc cắt bỏ một cơ quan nào đó. Tất yếu phải có những hệ quả rõ rệt, và trong bộ máy tinh tế của bệnh nhân chắc chắn phải diễn ra một giai đoạn điều chỉnh khó khăn. Vùng thân thể đã trải qua phẫu thuật, và đặc biệt là trung tâm có quan hệ gần gũi nhất với vùng ấy, ắt phải chịu ảnh hưởng, vì dòng năng lượng lưu thông phát ra từ trung tâm sẽ bị “đoản mạch”, nếu Tôi có thể dùng cách nói như vậy. Dòng năng lượng này, trước đây vốn đi qua vùng được phẫu thuật, phải tìm đường đến mọi bộ phận của thân thể qua “các đường dẫn năng lượng”; như các bạn biết, những đường dẫn này làm nền tảng và cung cấp năng lượng cần thiết cho hệ thần kinh. Những kênh cũ để năng lượng lưu chuyển sẽ bị loại bỏ do các biện pháp phẫu thuật, dù lớn hay nhỏ. Các kênh hay đường mãnh lực mới, bắc cầu qua vùng “bị cắt xén”, sẽ phải được thiết lập, và một sự điều chỉnh căn bản sẽ phải diễn ra trong bộ máy sinh lực của bệnh nhân. Về phương diện này, cho đến nay hầu như chưa có hiểu biết nào. Nó thậm chí còn chưa nằm trong lĩnh vực nghiên cứu tiên tiến.
The new medicine cannot be scientifically formulated or intelligently presented until such time as the fact of the etheric body is accepted and its existence, as a mechanism of energy supply and as the vital aspect of the outer form, is generally recognised. The shift of the attention of the medical profession will then be away from the outer, tangible, physical effects and to the inner causes, as they are to be found in the centres and their related fields of activity.
Nền y học mới chưa thể được xây dựng thành hệ thống khoa học hay trình bày một cách sáng suốt cho đến khi sự kiện về thể dĩ thái được chấp nhận và sự tồn tại của nó, với tư cách một bộ máy cung cấp năng lượng và phương diện sinh lực của hình tướng bên ngoài, được thừa nhận rộng rãi. Khi ấy, giới y khoa sẽ chuyển sự chú ý từ những hiệu quả hồng trần hữu hình bên ngoài sang những nguyên nhân bên trong, vốn nằm trong các trung tâm và những lĩnh vực hoạt động liên quan của chúng.
[274]
[274]
Within the areas where a disease is manifested, certain esoteric facts anent the general subject have already been posited by me:
Trong phạm vi những vùng biểu hiện bệnh tật, Tôi đã nêu ra một số sự kiện nội môn liên quan đến chủ đề chung này:
1. That disease, in its immediate cause, can be traced to the individual etheric body when the difficulty is purely local, or to the planetary etheric body (in particular the etheric body of the fourth kingdom in nature) where epidemics are involved, or to such a condition as war, affecting large masses of men.
1. Xét về nguyên nhân trực tiếp, có thể truy nguồn bệnh tật về thể dĩ thái cá nhân khi rối loạn hoàn toàn mang tính cục bộ, hoặc về thể dĩ thái hành tinh (đặc biệt là thể dĩ thái của giới thứ tư trong thiên nhiên) khi có dịch bệnh, hoặc về một tình trạng như chiến tranh tác động đến những khối đông người.
2. That the etheric body has not hitherto been considered as an existent fact, from the angle of orthodox medicine, though there is a modern drift towards emphasis upon vitality, upon the vital qualities in food, and the giving of vitamin products in order to build up a vital response. This is the first indication of an unrealised need to increase the potency of the vital body.
2. Cho đến nay, từ góc độ y học chính thống, thể dĩ thái chưa được xem là một sự kiện hiện hữu, dù hiện nay có xu hướng nhấn mạnh sinh lực, những phẩm tính sinh lực trong thực phẩm và việc cung cấp các chế phẩm vitamin để tăng cường sự đáp ứng sinh lực. Đây là dấu hiệu đầu tiên của một nhu cầu chưa được nhận biết: gia tăng sức mạnh của thể sinh lực.
3. That the condition of the etheric body predisposes the subject to disease or protects it from disease, making man resistant to the impact of deteriorating or epidemic factors, or failing to do so because of inherent etheric weakness.
3. Tình trạng của thể dĩ thái khiến một người dễ mắc bệnh hoặc bảo vệ người ấy khỏi bệnh tật, giúp con người chống lại tác động của các yếu tố gây suy thoái hay dịch bệnh, hoặc không làm được điều đó vì sự suy yếu dĩ thái vốn có.
4. That the etheric body is the mechanism of vital, pranic life, and “sub-stands” or underlies the outer, familiar equipment of the nervous system, which feeds and actuates all parts of the physical organism. The relationship existing between the centres, the nadis and the entire nervous system comprises the field of the new medicine and indicates the new major field of research.
4. Thể dĩ thái là bộ máy của sự sống sinh lực, sự sống prana, và “nâng đỡ” hay làm nền tảng cho bộ máy bên ngoài quen thuộc là hệ thần kinh, vốn nuôi dưỡng và thúc đẩy hoạt động của mọi bộ phận trong cơ thể vật chất. Mối quan hệ giữa các trung tâm, các đường dẫn năng lượng và toàn bộ hệ thần kinh tạo thành lĩnh vực của nền y học mới và chỉ ra lĩnh vực nghiên cứu trọng yếu mới.
5. That the main causes of all disease are two in nature:
5. Các nguyên nhân chủ yếu của mọi bệnh tật có hai loại:
a. They are to be found, first of all, in the stimulation or the nonstimulation of the centres. This simply implies the overactivity or the underactivity of [275] any centre in any part of the body. Where the flow of energy is commensurate to the demands of the physical body at any particular stage of development, then there will be relative freedom from disease.
a. Trước hết, chúng nằm trong sự kích thích hoặc không kích thích các trung tâm. Điều này đơn giản hàm ý tình trạng hoạt động quá mức hoặc dưới mức của [275] bất kỳ trung tâm nào ở bất kỳ phần nào của thân thể. Khi dòng năng lượng tương xứng với nhu cầu của thể xác ở một giai đoạn phát triển nhất định, con người sẽ tương đối không mắc bệnh.
b. They are to be found, secondly, in the karmic effect of the three planetary diseases: Cancer, Tuberculosis, Syphilitic diseases. Some day medicine will realise that behind every single disease (irrespective of the results of accident or war) lie these three main tendencies in the human body. This is a basic and important statement.
b. Thứ hai, chúng nằm trong tác động nghiệp quả của ba căn bệnh hành tinh: ung thư, lao và các bệnh giang mai. Một ngày nào đó, y học sẽ nhận ra rằng đằng sau từng căn bệnh riêng lẻ (không kể những hậu quả của tai nạn hoặc chiến tranh) đều có ba khuynh hướng chủ yếu này trong thân thể con người. Đây là một phát biểu căn bản và quan trọng.
6. That the etheric body is a focussing point for all the interior energies of the body, and therefore the energy transmitted will not be pure vital energy or simple planetary prana but will be qualified by forces coming from the astral or the emotional apparatus, from the mind or from the soul body. These “qualifications of force,” indicating as they do the karma of the individual, are in the last analysis the major conditioning forces. They indicate the point of development of the individual and the areas of control in his personality. They therefore indicate the state of his karma. This lifts the whole subject of medicine into the psychological field and posits the entire problem of karmic effects and of ray types.
6. Thể dĩ thái là một điểm hội tụ của mọi năng lượng bên trong thân thể; vì vậy, năng lượng truyền đi sẽ không phải là năng lượng sinh lực thuần túy hay chỉ là prana hành tinh, mà sẽ mang phẩm tính của các mãnh lực đến từ bộ máy cảm dục hay cảm xúc, từ thể trí hoặc từ thể linh hồn. Xét đến cùng, những “phẩm tính của mãnh lực” này, vốn biểu thị nghiệp quả của cá nhân, chính là các mãnh lực định hình chủ yếu. Chúng cho thấy điểm phát triển của cá nhân và những vùng kiểm soát trong phàm ngã của y. Vì vậy, chúng cho thấy tình trạng nghiệp quả của y. Điều này đưa toàn bộ chủ đề y học lên lĩnh vực tâm lý học và đặt ra trọn vẹn vấn đề về những tác động nghiệp quả cùng các loại cung.
7. That these conditioning factors make the etheric body what it is in any one incarnation; these factors are, in their turn, the result of activities initiated and carried through in previous incarnations, and thus constitute the patient’s karmic liabilities or his karmic freedoms.
7. Những yếu tố định hình này khiến thể dĩ thái có trạng thái như nó vốn có trong một kiếp nhập thể nhất định; đến lượt mình, các yếu tố ấy là kết quả của những hoạt động đã khởi xướng và thực hiện trong các kiếp nhập thể trước, và do đó tạo thành những gánh nặng nghiệp quả hoặc những sự tự do về nghiệp quả của bệnh nhân.
8. That the basic energies pouring into the etheric body and conditioning the physical body will be of two major [276] types: the ray energy of the soul and the ray energy of the personality, qualified by the three minor forces or the rays of the mental nature, the astral body and the physical vehicle. This therefore involves five energies which are present in the etheric body which the physician of the future will have to consider.
8. Những năng lượng căn bản tuôn vào thể dĩ thái và tác động lên thể xác sẽ thuộc hai loại chủ yếu [276]: năng lượng cung của linh hồn và năng lượng cung của phàm ngã, mang phẩm tính của ba mãnh lực thứ yếu, tức các cung của bản chất trí tuệ, thể cảm dục và vận cụ hồng trần. Vì vậy, điều này bao hàm năm năng lượng hiện diện trong thể dĩ thái mà bác sĩ tương lai sẽ phải xem xét.
9. That diagnoses, based upon the recognition of these subjective factors, are not in reality the involved and complicated matter they appear to be today to the student of the advanced occult theories. Medical men in the New Age will eventually know enough to relate these various ray forces to their appropriate centres; hence they will know which type of force is responsible for conditions—good or bad—in any particular area of the body. Some day, when more research and investigation have been carried forward, the science of medicine will be built upon the fact of the vital body and its constituent energies. It will then be discovered that this science will be far simpler and less complicated than present medical science. Today, medicine has reached such a point of complexity that specialists have perforce been needed who can deal with one area of the body and with its effect upon the entire physical vehicle. The average general practitioner cannot cope with the mass of detailed knowledge now gathered re the physical body, its various systems, their interrelation and their effect upon the many organisms which constitute the whole man. Surgery will remain occupied with the anatomical necessities of the human frame; medicine will shift its focus of attention, before long, to the etheric body and its incident circulatory systems of energy, its interlocking relationships and the flow between the seven centres, between the centres themselves and the areas which they control. [277] This will mark a tremendous advance in wise and useful approach; it will produce a basic simplification; it will lead to more correct methods of healing, particularly as clairvoyant vision is developed and becomes recognised by science, and known to be an extension of a normal sense.
9. Những chẩn đoán dựa trên sự nhận biết các yếu tố chủ quan này thực ra không rắc rối, phức tạp như vẻ ngoài của chúng đối với người nghiên cứu các lý thuyết huyền bí cao cấp ngày nay. Cuối cùng, các bác sĩ trong Kỷ Nguyên Mới sẽ biết đủ để liên hệ những mãnh lực cung khác nhau này với các trung tâm thích hợp; nhờ đó, họ sẽ biết loại mãnh lực nào chịu trách nhiệm về những tình trạng—tốt hay xấu—trong bất kỳ vùng cụ thể nào của thân thể. Một ngày nào đó, khi đã tiến hành thêm nhiều nghiên cứu và khảo sát, khoa học y học sẽ được xây dựng trên sự kiện về thể sinh lực và những năng lượng cấu thành nó. Khi ấy, người ta sẽ khám phá rằng khoa học này sẽ đơn giản hơn và ít phức tạp hơn rất nhiều so với y học hiện nay. Ngày nay, y học đã đạt đến mức độ phức tạp khiến người ta buộc phải cần đến những bác sĩ chuyên khoa có thể xử lý một vùng của thân thể và tác động của vùng ấy lên toàn bộ vận cụ hồng trần. Bác sĩ đa khoa thông thường không thể bao quát khối kiến thức chi tiết hiện đã tích lũy về thể xác, các hệ thống khác nhau của nó, mối tương quan giữa chúng và tác động của chúng lên nhiều cơ cấu hợp thành toàn bộ con người. Phẫu thuật sẽ tiếp tục chuyên chú vào những nhu cầu giải phẫu của cơ thể con người; chẳng bao lâu nữa, y học sẽ chuyển trọng tâm chú ý sang thể dĩ thái và các hệ thống lưu thông năng lượng gắn với nó, những mối quan hệ đan kết của nó và dòng lưu chuyển giữa bảy trung tâm, giữa chính các trung tâm với những vùng mà chúng kiểm soát. [277] Điều này sẽ đánh dấu một bước tiến vô cùng lớn trong cách tiếp cận sáng suốt và hữu ích; nó sẽ đem lại sự đơn giản hóa căn bản; nó sẽ dẫn đến những phương pháp chữa lành chính xác hơn, đặc biệt khi khả năng thấy bằng thông nhãn phát triển, được khoa học thừa nhận và được biết đến như sự mở rộng của một giác quan bình thường.
10. As the true astrology comes into its own and is developed into a reputable science, the charts of the soul and of the personality can be related to each other; then the etheric body will be checked by correct astrological conclusions, and the physician will be on far surer ground than he now is. The astrology of the past concerned the life of the personality; the astrology of the future will indicate the purpose of the soul, and will completely revolutionise medicine (among other things). It must, however, be lifted out of the hands of those interested in predictional astrology, out of the hands of the thousands who at this time spend much time “casting” horoscopes (seeking to interpret their usually erroneous conclusions), and placed in the hands of trained mathematical scientists and in the hands of those who have given as much time to scientific training along astrological lines as is now given to training a reputable physician, a chemist or a biologist.
10. Khi chiêm tinh học chân chính có được vị trí xứng đáng và phát triển thành một khoa học có uy tín, người ta có thể liên hệ lá số linh hồn với lá số phàm ngã; khi ấy, thể dĩ thái sẽ được kiểm tra dựa trên những kết luận chiêm tinh chính xác, và bác sĩ sẽ có cơ sở vững chắc hơn hiện nay rất nhiều. Chiêm tinh học trong quá khứ quan tâm đến đời sống phàm ngã; chiêm tinh học trong tương lai sẽ chỉ ra mục đích của linh hồn và sẽ cách mạng hóa hoàn toàn y học (cùng nhiều lĩnh vực khác). Tuy nhiên, nó phải được đưa ra khỏi tay những người quan tâm đến chiêm tinh dự đoán, khỏi tay hàng nghìn người hiện đang dành nhiều thời gian để “lập” lá số chiêm tinh (tìm cách diễn giải những kết luận thường sai lầm của mình), và đặt vào tay các nhà khoa học được đào tạo về toán học cùng những người đã dành cho việc đào tạo khoa học về chiêm tinh học một khoảng thời gian ngang với thời gian hiện nay dành để đào tạo một bác sĩ, một nhà hóa học hay một nhà sinh học có uy tín.
11. These astrological findings will not only be related to the personality and the soul charts, but will also enter the field of medicine, particularly in relation to the etheric body. Today, any astrological investigation done in the field of medicine has relation to physical disease within the physical body; in the future, it will concentrate upon the condition of the etheric vehicle. This is a new and imminent development in astrological research.
11. Những phát hiện chiêm tinh này sẽ không chỉ liên hệ với các lá số phàm ngã và linh hồn mà còn đi vào lĩnh vực y học, đặc biệt trong mối liên quan với thể dĩ thái. Ngày nay, mọi nghiên cứu chiêm tinh trong lĩnh vực y học đều liên quan đến bệnh tật hồng trần trong thể xác; trong tương lai, chúng sẽ tập trung vào tình trạng của vận cụ dĩ thái. Đây là một bước phát triển mới sắp diễn ra trong nghiên cứu chiêm tinh.
[278]
[278]
Another difficulty which I have to face (as I seek to present to you the medicine of the future) is that I think in terms of cycles and you think in terms of a few brief years. What I am in reality attempting to do is to indicate the lines along which medical research will trend during the next two hundred years. The effort of the present day approach is how to cure a person here and now; this is a natural reaction, and advanced thinkers seek to be able to do this at this time through the medium of so-called esoteric and mental modes of healing. Yet little is known of the make-up of the vital body and practically no background of research in this field exists. Modern medicine is of very ancient origin. Over the centuries it has grown and developed until modern skill, modern research, modern techniques and modern methods of healing and of cure are amazingly successful. This is oft forgotten in the emphasis laid by the adherents of new and untried schools upon the failures to cure, which they attribute to wrong methods and fail to allow for karmic limitations. The success of modern medicine is today so great that millions of people are kept alive—if not cured—who in earlier days and with less scientific aptitude would normally have died. In this developed skill and knowledge, and in this aptitude in the care of the physical mechanism, is today to be found a major world problem—the problem of the overpopulation of the planet, leading to the herd life of humanity and the consequent economic problem—to mention only one of the incidental difficulties of this success. This “unnatural” preservation of life is the cause of much suffering and is a fruitful source of war, being contrary to the karmic intent of the planetary Logos.
Một khó khăn khác mà Tôi phải đối diện (khi tìm cách trình bày với các bạn nền y học tương lai) là Tôi suy nghĩ theo các chu kỳ, còn các bạn suy nghĩ theo một vài năm ngắn ngủi. Thực ra, điều Tôi đang cố gắng làm là chỉ ra những đường hướng mà nghiên cứu y học sẽ theo đuổi trong hai trăm năm tới. Nỗ lực của cách tiếp cận hiện nay là làm thế nào chữa khỏi cho một người ngay tại đây và lúc này; đây là một phản ứng tự nhiên, và những nhà tư tưởng tiến bộ tìm cách thực hiện điều đó ngay trong hiện tại qua những phương thức chữa lành được gọi là nội môn và trí tuệ. Tuy nhiên, người ta vẫn biết rất ít về cấu tạo của thể sinh lực và hầu như chưa có nền tảng nghiên cứu nào trong lĩnh vực này. Y học hiện đại có nguồn gốc rất xa xưa. Qua nhiều thế kỷ, nó đã tăng trưởng và phát triển đến mức kỹ năng hiện đại, nghiên cứu hiện đại, kỹ thuật hiện đại cùng các phương pháp chữa lành và điều trị hiện đại đạt được những thành công đáng kinh ngạc. Điều này thường bị lãng quên khi những người theo các trường phái mới và chưa được kiểm chứng nhấn mạnh các trường hợp chữa trị thất bại, quy chúng cho những phương pháp sai lầm mà không tính đến các giới hạn nghiệp quả. Thành công của y học hiện đại ngày nay lớn đến mức hàng triệu người vẫn được duy trì sự sống—dù chưa được chữa khỏi—trong khi vào thời trước, với năng lực khoa học kém hơn, thông thường họ đã qua đời. Chính trong kỹ năng và kiến thức đã phát triển này, cùng năng lực chăm sóc bộ máy hồng trần ấy, ngày nay có một vấn đề lớn của thế giới—vấn đề dân số quá đông trên hành tinh, dẫn đến đời sống bầy đàn của nhân loại và vấn đề kinh tế theo sau—đó chỉ là một trong những khó khăn phát sinh từ thành công này. Việc duy trì sự sống “trái tự nhiên” ấy gây ra nhiều đau khổ và là nguồn phát sinh nhiều cuộc chiến tranh, vì nó đi ngược lại ý định nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế.
With this vast problem, I cannot here deal. I can only indicate it. It will be solved when the fear of death disappears and when humanity learns the significance of time and [279] the meaning of cycles. It will be simplified when true astrological findings become possible, when man knows the hour of his departure from this outer plane, and masters the technique of “withdrawal” and the methods of abstracting himself consciously from the prison of the body. But much research has to take place first. The fact, however, that the problem is recognised and that speculation and investigation are rife, indicate that the time has come—karmically and from the angle of human evolutionary development—for a study of the etheric body, of the conditioning rays which govern its manifestation in space, and of astrology, which governs its manifestation in time.
Ở đây, Tôi không thể bàn đến vấn đề rộng lớn này. Tôi chỉ có thể chỉ ra nó. Vấn đề ấy sẽ được giải quyết khi nỗi sợ chết biến mất và khi nhân loại học được thâm nghĩa của thời gian cùng [279] ý nghĩa của các chu kỳ. Nó sẽ được đơn giản hóa khi có thể đạt được những phát hiện chiêm tinh chân chính, khi con người biết giờ mình rời khỏi cõi bên ngoài này và làm chủ kỹ thuật “triệt thoái” cùng những phương pháp tự rút mình ra khỏi nhà tù thân thể một cách có ý thức. Nhưng trước hết phải có nhiều nghiên cứu. Tuy nhiên, việc vấn đề đã được nhận biết và những suy đoán, khảo sát đang diễn ra rộng khắp cho thấy thời điểm đã đến—về phương diện nghiệp quả và từ góc độ phát triển tiến hoá của nhân loại—để nghiên cứu thể dĩ thái, các cung định hình chi phối sự biểu hiện của nó trong không gian, và chiêm tinh học, vốn chi phối sự biểu hiện của nó trong thời gian.
It is for this reason that the world today is full of groups in revolt against orthodox medicine—wrongly in revolt, because in their fanatical enthusiasm for their particular approach to the problem of healing, they ignore the beneficent aspects of developed medical science. They thus attempt to throw overboard the contribution of the ages to man’s knowledge of the human organism, its interrelations and its care, cure and preservation; they fail to profit from past wisdom, but prefer to set sail upon the sea of research in a spirit of revolt, full of prejudice and totally unequipped for the task in hand.
Chính vì lý do này mà thế giới ngày nay đầy những nhóm nổi dậy chống y học chính thống—một sự chống đối sai lầm, vì trong lòng nhiệt thành cuồng tín đối với cách tiếp cận riêng của mình về vấn đề chữa lành, họ phớt lờ những phương diện hữu ích của khoa học y học đã phát triển. Vì vậy, họ tìm cách gạt bỏ đóng góp của bao thời đại vào kiến thức của con người về cơ thể người, các mối tương quan của nó và việc chăm sóc, chữa trị, bảo tồn nó; họ không tận dụng minh triết quá khứ, mà thích ra khơi trên biển nghiên cứu với tinh thần phản kháng, đầy thành kiến và hoàn toàn không được trang bị cho nhiệm vụ trước mắt.
Naturopaths of many kinds, professors of methods of healing by electricity or light and colour, food dietitians with infallible cures for all diseases, the many who practice systems founded on the Abrams mode of diagnosis, and many advocates of the chiropractic methods, as well as the various healing systems which are completely divorced from medicine but which undertake to bring about cures, are all indicative of new and hopeful trends; they are nevertheless extremely experimental in nature, and are so fanatically endorsed, so exclusive of all recognised methods of healing aid (except their own), so violently opposed to all the findings [280] of the past, and so unwilling to cooperate with orthodox medicine that, in many cases, they constitute a definite and real danger to the public. It is largely their own faulty approach which is responsible for this; their undoubted ignorance of the nature of the human body, their attack on existent medical practices (even of proven value), and their biassed belief in the infallibility of their experimental techniques, have brought them under the attack of the rigidly orthodox medical practitioners and of the fundamentalists within the ring-pass-not of academic medicine. Yet within the ranks of medicine are many enlightened men who would gladly cooperate if the small and vociferous cults would relinquish their exclusiveness and be willing to cooperate and accept that which the divine instinct in man down the ages has taught in connection with the healing of the human body. It will be through the collaboration of the new experimental schools and the older and proven methods that the medicine of the future will be developed. The value of all the many groups—good and indifferent—lies in the fact that they point the way towards new trends and indicate the lines along which the medicine of the future can enrich itself and become better adapted to man’s need. They are too experimental as yet to be trustworthy, and are not yet scientifically proved. They are pioneering groups, and have a real contribution to make, but this will only be possible if they refuse to divorce themselves from the past and are willing to compromise in the present. Academic medicine is the result of the God-given gifts of the human mind; it is a proven divine expression and a most beneficent force in the world, in spite of human weakness, commercial exploitation and many mistakes. It is the same with religion. Both of these great sciences must eliminate the reactionary and fundamentalist positions, and then proceed with an [281] open mind into the new ways of approach to divinity and of approach to physical well-being.
Các nhà liệu pháp tự nhiên thuộc nhiều loại, những người giảng dạy các phương pháp chữa lành bằng điện hoặc ánh sáng và màu sắc, các chuyên gia dinh dưỡng tuyên bố có những cách chữa không bao giờ sai cho mọi căn bệnh, nhiều người thực hành các hệ thống dựa trên phương thức chẩn đoán của Abrams, nhiều người chủ trương các phương pháp nắn chỉnh cột sống, cùng những hệ thống chữa lành khác nhau hoàn toàn tách khỏi y học nhưng vẫn nhận chữa bệnh, tất cả đều biểu thị những xu hướng mới đầy hy vọng; tuy nhiên, về bản chất, chúng vẫn mang tính thử nghiệm rất cao, lại được ủng hộ một cách cuồng tín, gạt bỏ mọi phương pháp hỗ trợ chữa lành đã được thừa nhận (ngoại trừ phương pháp của chính họ), chống đối dữ dội mọi phát hiện [280] của quá khứ và không sẵn lòng hợp tác với y học chính thống đến mức, trong nhiều trường hợp, chúng tạo thành một mối nguy rõ rệt và thực sự đối với công chúng. Phần lớn nguyên nhân nằm ở chính cách tiếp cận sai lầm của họ; sự thiếu hiểu biết không thể nghi ngờ của họ về bản chất thân thể con người, việc họ công kích những thực hành y khoa hiện hành (kể cả những thực hành đã được chứng minh là có giá trị), và niềm tin thiên lệch của họ vào tính không thể sai của các kỹ thuật thử nghiệm đã khiến họ bị những người hành nghề y chính thống cứng nhắc và những người bảo thủ giáo điều trong vòng-giới-hạn của y học hàn lâm công kích. Tuy nhiên, trong hàng ngũ y học có nhiều người sáng suốt sẵn lòng hợp tác, nếu các giáo phái nhỏ nhưng ồn ào chịu từ bỏ thái độ độc tôn, sẵn lòng hợp tác và chấp nhận những điều mà bản năng thiêng liêng trong con người qua các thời đại đã dạy về việc chữa lành thân thể con người. Nền y học tương lai sẽ phát triển qua sự cộng tác giữa những trường phái thử nghiệm mới với các phương pháp lâu đời đã được kiểm chứng. Giá trị của tất cả những nhóm này—dù tốt hay bình thường—nằm ở chỗ họ chỉ đường đến những xu hướng mới và cho thấy những hướng mà nền y học tương lai có thể theo để làm giàu thêm cho mình và thích ứng tốt hơn với nhu cầu con người. Hiện nay, họ vẫn còn quá thiên về thử nghiệm để có thể đáng tin cậy, và chưa được khoa học chứng minh. Họ là những nhóm tiên phong và thực sự có đóng góp để thực hiện, nhưng điều này chỉ có thể xảy ra nếu họ không tách mình khỏi quá khứ và sẵn lòng thỏa hiệp trong hiện tại. Y học hàn lâm là kết quả của những năng khiếu trí tuệ mà Thượng đế ban cho con người; đó là một biểu hiện thiêng liêng đã được kiểm chứng và một mãnh lực vô cùng hữu ích trong thế giới, bất chấp sự yếu kém của con người, sự khai thác thương mại và nhiều sai lầm. Tôn giáo cũng vậy. Cả hai khoa học lớn này phải loại bỏ những lập trường phản động và bảo thủ giáo điều, rồi với [281] một thể trí cởi mở, tiến vào những cách tiếp cận mới đối với thiên tính và sự an lành của thể xác.
It might therefore be said that the main contribution which I am making at this time is to indicate the causes of disease and ill health which are not recognised by orthodox medicine, which deals with the effects of these subtle causes as they work out in the physical body and the nervous system. I am not dealing (as I have earlier warned you) with the symptoms of disease, with medical diagnosis or with systems of applied physical means to bring about cures or to ameliorate conditions. These have kept pace with man’s growing capacity to discover and to know.
Vì vậy, có thể nói rằng đóng góp chủ yếu mà Tôi đang thực hiện vào lúc này là chỉ ra những nguyên nhân của bệnh tật và sức khỏe kém mà y học chính thống chưa nhận biết; y học chính thống xử lý các hậu quả của những nguyên nhân tinh tế này khi chúng biểu hiện trong thể xác và hệ thần kinh. Như Tôi đã lưu ý các bạn trước đây, Tôi không bàn đến các triệu chứng bệnh, việc chẩn đoán y khoa hay các hệ thống áp dụng những phương tiện hồng trần để chữa khỏi bệnh hoặc làm thuyên giảm bệnh trạng. Những lĩnh vực ấy đã tiến kịp với năng lực khám phá và hiểu biết ngày càng tăng của con người.
Let me reiterate that I am laying the foundation for an approach to the subject of the physical body in health and disease which will deal primarily with the etheric body. This should eventually lead to an accumulation of knowledge anent energy, its focal points and distribution in the etheric body, which will equal that already gained in the field of exact physical knowledge, and that exact knowledge is a fact.
Tôi xin nhắc lại rằng Tôi đang đặt nền tảng cho một cách tiếp cận chủ đề thể xác trong sức khỏe và bệnh tật, chủ yếu bàn đến thể dĩ thái. Cuối cùng, điều này cần dẫn đến sự tích lũy kiến thức về năng lượng, các điểm hội tụ và sự phân phối của nó trong thể dĩ thái, ngang với kiến thức đã đạt được trong lĩnh vực hiểu biết chính xác về hồng trần; và kiến thức chính xác ấy là một sự kiện thực tế.
The study of inherited disease indicates a faint recognition of man’s karmic liabilities and karmic tendencies. A mistake lies however in the belief that these tendencies are to be found in the germs of life and of substance, brought together at the moment of conception, and therefore that the father or the mother is responsible for the transmission. Such is not the case. The subject in incarnation has—from the angle of the soul—definitely and consciously chosen his parents for what they can contribute to his physical make-up whilst in incarnation. The vital body is therefore of such a nature that the man is predisposed to a particular type of infection or of disease; the physical body is of such a nature that its line of least resistance permits of the appearance and control of that which the [282] vital body makes possible; the incarnating soul produces, in its creative work and in its vital vehicle, a particular constitution to which the parents chosen contribute a definite tendency. The man is therefore nonresistant to certain types of disease. This is determined by the karma of the man.
Việc nghiên cứu bệnh di truyền cho thấy một sự nhận biết mờ nhạt về những gánh nặng nghiệp quả và các khuynh hướng nghiệp quả của con người. Tuy nhiên, sai lầm nằm ở niềm tin rằng các khuynh hướng này có trong những mầm sống và chất liệu kết hợp vào lúc thụ thai, và do đó người cha hay người mẹ chịu trách nhiệm truyền chúng lại. Sự việc không phải như vậy. Từ góc độ linh hồn, người đang nhập thể đã dứt khoát và có ý thức chọn cha mẹ mình vì những gì họ có thể đóng góp vào cấu tạo hồng trần của y trong kiếp nhập thể. Vì vậy, thể sinh lực có bản chất khiến con người dễ mắc một loại nhiễm trùng hay bệnh tật nhất định; thể xác có bản chất khiến con đường ít trở ngại nhất của nó cho phép điều mà [282] thể sinh lực tạo khả năng xuất hiện có thể biểu hiện và nắm quyền kiểm soát; trong công việc sáng tạo và trong vận cụ sinh lực của mình, linh hồn đang nhập thể tạo ra một cơ cấu nhất định mà cha mẹ đã chọn góp thêm một khuynh hướng rõ rệt. Vì vậy, con người không có sức đề kháng đối với một số loại bệnh. Điều này do nghiệp quả của y quyết định.