Trích nội dung chương
It is well known to students of the esoteric sciences that the physical body is simply an automaton, responsive to and actuated by a subtler body of energies which are a true expression of the point in evolution. This point in evolution may be that of personality control, through one or other of its bodies, or of soul control. These are facts which the medical profession must grasp, and when it does a great step forward will have been made. Esoteric students are willing to recognise that the physical body is automatic in its response to emotional, mental or soul impression; so closely, however, is the etheric body interwoven with the…
It is well known to students of the esoteric sciences that the physical body is simply an automaton, responsive to and actuated by a subtler body of energies which are a true expression of the point in evolution. This point in evolution may be that of personality control, through one or other of its bodies, or of soul control. These are facts which the medical profession must grasp, and when it does a great step forward will have been made. Esoteric students are willing to recognise that the physical body is automatic in its response to emotional, mental or soul impression; so closely, however, is the etheric body interwoven with the physical vehicle that it is well nigh impossible to separate the two in consciousness; this will not be proven or possible until the science of etheric energy and the development of clairvoyant perception demonstrate the truth of what I say. This is again a needed repetition.
Các đạo sinh nghiên cứu những khoa học nội môn đều biết rõ rằng thể xác chỉ là một bộ máy tự động, đáp ứng và hoạt động theo một thể năng lượng tinh tế hơn, vốn biểu hiện chân thực điểm tiến hoá. Điểm tiến hoá này có thể thuộc giai đoạn phàm ngã kiểm soát qua một trong các thể của nó, hoặc thuộc giai đoạn linh hồn kiểm soát. Đây là những sự kiện mà giới y khoa phải nắm bắt, và khi làm được điều đó, họ sẽ tiến một bước lớn. Các đạo sinh nội môn sẵn lòng thừa nhận rằng thể xác tự động đáp ứng với ấn tượng từ cảm xúc, trí tuệ hoặc linh hồn; tuy nhiên, thể dĩ thái đan kết chặt chẽ với vận cụ hồng trần đến mức gần như không thể tách hai thể ấy trong tâm thức; điều này sẽ chưa được chứng minh hay trở nên khả thi cho đến khi khoa học về năng lượng dĩ thái và sự phát triển nhận thức thông nhãn chứng tỏ tính xác thực của những điều Tôi nói. Đây lại là một sự nhắc lại cần thiết.
Medical science, through its study of the nervous system and its recognition of the power of thought over the physical body, is moving rapidly in a right direction. When it admits, in relation to the physical body, that “energy follows thought,” and then begins to experiment with the concept of thought currents (as they are erroneously called) which are directed to certain areas of the etheric body—where the esotericists posit the existence of energy points or centres—much will then be discovered. Christian Science had a sound conception in its original basic concept of the mind as a permanently existent factor; its overemphasis upon the mind, its idealistic presentation of human nature, [283] its expectancy of man’s capacity to demonstrate today and immediately as a fully manifested son of God (with no intermediate or necessary unfoldments), and its contradictory position of using the energy of the mind for mainly physical requirements have soundly negated its basic tenets. Otherwise Man might have been permanently deluded. Had Christian Science fulfilled the original intention of the group of initiates who sought to influence humanity through its agency, and had it developed the idea correctly that energy follows thought, medical science would have greatly benefited.
Qua việc nghiên cứu hệ thần kinh và thừa nhận quyền năng của tư tưởng đối với thể xác, khoa học y học đang nhanh chóng tiến theo hướng đúng. Khi y học thừa nhận rằng, trong mối liên quan với thể xác, “năng lượng đi theo tư tưởng”, rồi bắt đầu thử nghiệm với khái niệm những dòng tư tưởng (theo cách gọi sai lầm) hướng đến một số vùng của thể dĩ thái—nơi các nhà bí truyền học xác lập sự hiện hữu của những điểm năng lượng hay trung tâm—thì nhiều điều sẽ được khám phá. Khoa học Cơ Đốc giáo đã có một nhận thức đúng trong quan niệm nền tảng ban đầu rằng thể trí là một yếu tố tồn tại thường hằng; việc quá nhấn mạnh thể trí, cách trình bày duy tâm về bản chất con người, [283] sự kỳ vọng rằng con người có thể biểu hiện ngay hôm nay và tức khắc như một người con của Thượng đế đã biểu lộ trọn vẹn (không cần những sự khai mở trung gian hay cần thiết), cùng lập trường mâu thuẫn khi sử dụng năng lượng của thể trí chủ yếu cho những nhu cầu hồng trần, đã phủ định mạnh mẽ các giáo lý nền tảng của trường phái này. Nếu không, Con Người có thể đã bị mê lầm vĩnh viễn. Nếu Khoa học Cơ Đốc giáo thực hiện đúng ý định ban đầu của nhóm điểm đạo đồ tìm cách ảnh hưởng đến nhân loại thông qua nó, và nếu nó phát triển đúng ý tưởng rằng năng lượng đi theo tư tưởng, thì khoa học y học hẳn đã được hưởng lợi rất lớn.
Its presentation was both too high and too low, and a great opportunity was lost. Christian Science has failed from the angle of the Hierarchy, and its usefulness has been largely negated.
Cách trình bày của trường phái này vừa quá cao vừa quá thấp, và một cơ hội lớn đã bị bỏ lỡ. Từ góc độ Thánh đoàn, Khoa học Cơ Đốc giáo đã thất bại, và phần lớn tính hữu ích của nó đã bị triệt tiêu.
Healers and healing groups work as yet at a great disadvantage; but they can begin now to work, and their work is of a twofold nature:
Cho đến nay, những người chữa lành và các nhóm chữa lành vẫn làm việc trong hoàn cảnh rất bất lợi; nhưng họ có thể bắt đầu làm việc ngay bây giờ, và công việc của họ có bản chất nhị phân:
1. They can, through the power of directed thought, pour energy into the centre which is the determining factor in that area of the physical body where the trouble lies. If, for instance, the patient is suffering from such a difficulty as gastric ulcer, the stimulation of the solar plexus centre may produce a cure, provided that the work done is purely mental and that the results expected are purely physical. Otherwise the emotional nature will share in the stimulation and real difficulty will arise.
1. Qua quyền năng của tư tưởng có định hướng, họ có thể tuôn năng lượng vào trung tâm giữ vai trò quyết định trong vùng thể xác có rối loạn. Chẳng hạn, nếu bệnh nhân mắc một chứng như loét dạ dày, việc kích thích trung tâm tùng thái dương có thể chữa khỏi bệnh, với điều kiện công việc thực hiện hoàn toàn thuộc trí tuệ và những kết quả mong đợi hoàn toàn thuộc hồng trần. Nếu không, bản chất cảm xúc sẽ cùng chịu sự kích thích, và rối loạn thực sự sẽ phát sinh.
2. They can stimulate a centre higher than the one controlling a particular area and thus—by the intensification of the higher centre—reduce the vitality of the lower. If, for instance, there is disease or trouble in connection with the organs of generation [284] (as for instance disease of the prostate gland), then the throat centre should receive attention. It is that centre which must eventually be the recipient of the energy of the lower creative aspect or correspondence. This is called “the technique of the withdrawal of the fire”; by its means what you call overstimulation in certain cases, or inflammation in others, can be stopped.
2. Họ có thể kích thích một trung tâm cao hơn trung tâm kiểm soát một vùng nhất định, và nhờ đó—qua việc tăng cường hoạt động của trung tâm cao hơn—làm giảm sinh lực của trung tâm thấp hơn. Chẳng hạn, nếu có bệnh tật hay rối loạn liên quan đến các cơ quan sinh sản [284] (ví dụ như bệnh tuyến tiền liệt), thì cần chú ý đến trung tâm cổ họng. Chính trung tâm ấy cuối cùng phải tiếp nhận năng lượng của phương diện sáng tạo thấp hơn hay đối phần tương ứng của nó. Đây được gọi là “kỹ thuật triệt thoái lửa”; nhờ kỹ thuật này, có thể chấm dứt điều mà các bạn gọi là sự kích thích quá mức trong một số trường hợp, hoặc tình trạng viêm trong những trường hợp khác.
These two ways of using energy and thought control form the occult basis for the two fundamental methods used in directing energy in diseased areas. They produce, in the one case, an intensification of the life of the associated centre, with a consequent definite effect upon the diseased area; or they lessen the inflow of force in the other case, and thus weaken the quality of the disease. It will be apparent, therefore, that much must be known of the effects of these two basic and different techniques before a healer dare work. Otherwise he might greatly increase the trouble in the diseased area and even succeed (which frequently happens) in killing the patient.
Hai cách sử dụng năng lượng và sự kiểm soát tư tưởng này tạo thành cơ sở huyền bí cho hai phương pháp căn bản dùng để hướng năng lượng vào những vùng bệnh. Trong một trường hợp, chúng tăng cường sự sống của trung tâm liên quan, từ đó tạo ra tác động rõ rệt lên vùng bệnh; trong trường hợp kia, chúng làm giảm dòng mãnh lực đi vào, nhờ đó làm suy yếu phẩm tính của bệnh. Vì vậy, rõ ràng người chữa lành phải biết rất nhiều về tác động của hai kỹ thuật căn bản và khác nhau này trước khi dám làm việc. Nếu không, y có thể làm rối loạn trong vùng bệnh tăng lên rất nhiều, thậm chí còn khiến bệnh nhân tử vong (điều thường xảy ra).
There is another point which I would seek to emphasise. In all healing methods of an esoteric nature, it is essential that sound medical practices of an orthodox kind accompany the subtler modes of help. It is in the wise combination of the two approaches, and in the cooperative work of the orthodox physician and of the occult healer or healing group, that the soundest results will be produced.
Có một điểm khác mà Tôi muốn nhấn mạnh. Trong mọi phương pháp chữa lành mang tính nội môn, điều thiết yếu là những thực hành y khoa chính thống vững chắc phải đi cùng các phương thức trợ giúp tinh tế hơn. Chính sự kết hợp sáng suốt giữa hai cách tiếp cận, cùng công việc hợp tác giữa bác sĩ chính thống với người chữa lành huyền bí hay nhóm chữa lành, sẽ đem lại những kết quả vững chắc nhất.
Students who attempt to heal will therefore need to realise two things: the nature of the disease, as diagnosed by a good physician, and the centre which controls the area of the disease. The safest plan for the average student of healing or for a healing group is to work in cooperation with some reputable doctor and in relation to the centre [285] which controls the diseased area. Initiates, in their healing work, deal with the higher correspondence of the controlling centre, working always through the analogous emotional and mental centres. This is neither possible nor permissible to the ordinary healing group. The higher the centres considered, involved and dealt with, the more potent the results, and therefore the greater care required.
Vì vậy, các đạo sinh muốn chữa lành sẽ cần nhận biết hai điều: bản chất của căn bệnh theo chẩn đoán của một bác sĩ giỏi, và trung tâm kiểm soát vùng bệnh. Phương án an toàn nhất cho đạo sinh chữa lành thông thường hay một nhóm chữa lành là làm việc cùng một bác sĩ có uy tín và tác động đến trung tâm [285] kiểm soát vùng bệnh. Trong công việc chữa lành, các điểm đạo đồ xử lý đối phần tương ứng cao hơn của trung tâm kiểm soát, luôn làm việc qua những trung tâm cảm xúc và trí tuệ tương ứng. Đối với nhóm chữa lành thông thường, điều này vừa không thể thực hiện vừa không được phép. Các trung tâm được xem xét, có liên quan và được tác động càng cao thì kết quả càng mạnh, do đó càng cần thận trọng hơn.
The whole process is one of either stimulating activity or of withdrawing energy, of making more active an allied centre and thus abstracting attention from the centre governing the diseased area or organ, or of balancing the energies flowing between two centres and thus producing an equable and even interplay. The more the neophyte studies this subject of healing the more complex it will appear, until the time comes when he can work in collaboration with some physician who has the inner vision and can see the centres, or with patients who know within themselves their own destiny and can collaborate with some group which has sound occult knowledge, which can ascertain the patient’s rays and which knows at least the nature of his disposition or his “indisposition,” through consulting his natal chart.
Toàn bộ tiến trình bao gồm việc kích thích hoạt động hoặc triệt thoái năng lượng, làm cho một trung tâm liên hệ hoạt động mạnh hơn để rút sự chú ý khỏi trung tâm chi phối vùng hay cơ quan bị bệnh, hoặc cân bằng những năng lượng lưu chuyển giữa hai trung tâm để tạo ra sự tương tác quân bình và đều đặn. Người sơ cơ càng nghiên cứu chủ đề chữa lành này thì càng thấy nó phức tạp, cho đến khi y có thể cộng tác với một bác sĩ có linh thị bên trong và thấy được các trung tâm, hoặc với những bệnh nhân biết rõ vận mệnh của mình từ bên trong và có thể cộng tác với một nhóm có kiến thức huyền bí vững chắc, xác định được các cung của bệnh nhân và ít nhất biết được bản chất thể trạng hay “bệnh trạng” của y qua việc tham khảo lá số bản mệnh.
You might ask, therefore, in view of all this, if it is possible for you to do definite healing work that will be effective, sound, right and permissible. The risks of over- or understimulation seem too great; the knowledge of the healer seems too small to permit experiment, and the karma of the patient is necessarily (for the average healer) not yet ascertainable.
Vì vậy, xét tất cả những điều này, các bạn có thể hỏi liệu mình có thể thực hiện một công việc chữa lành cụ thể, có hiệu quả, vững chắc, đúng đắn và được phép hay không. Nguy cơ kích thích quá mức hoặc dưới mức dường như quá lớn; kiến thức của người chữa lành dường như quá ít để cho phép thử nghiệm, và đối với người chữa lành thông thường, nghiệp quả của bệnh nhân tất nhiên vẫn chưa thể xác định được.
To this I would reply that all work of a pioneering and experimental nature has always its own special risks. Many have been the casualties of science, and particularly of medical science, in the early days of modern medicine and surgery. But this never deterred the sincere investigator or slackened the growth of knowledge; in these days of pioneering [286] in the field of occult healing, the same courage must be shown and the same risks assumed. The safeguard from the strictly legal and human angle will be that the patient will be in the hands of a reputable physician for diagnosis and medical care during the time that the occult healer is endeavouring to be of vital helpfulness.
Về điều này, Tôi xin đáp rằng mọi công việc mang tính tiên phong và thử nghiệm luôn có những nguy cơ đặc thù. Đã có nhiều người chịu tổn hại hoặc thiệt mạng vì khoa học, đặc biệt là khoa học y học, trong những ngày đầu của nền nội khoa và phẫu thuật hiện đại. Nhưng điều đó chưa bao giờ ngăn cản người nghiên cứu chân thành hay làm chậm sự tăng trưởng của kiến thức; trong những ngày tiên phong [286] hiện nay trong lĩnh vực chữa lành huyền bí, cũng phải thể hiện lòng can đảm ấy và chấp nhận những nguy cơ ấy. Xét thuần túy từ góc độ pháp lý và con người, sự bảo đảm an toàn sẽ là bệnh nhân được một bác sĩ có uy tín chẩn đoán và chăm sóc y khoa trong thời gian người chữa lành huyền bí nỗ lực trợ giúp về sinh lực.
The work of the healer and of the healing groups will therefore be supplementary to the orthodox care; results will have to be carefully watched and noted on both sides. Any group which is formed for healing should work under certain determined policies, and here are a few which I would suggest as essential to success in this transitional period:
Vì vậy, công việc của người chữa lành và các nhóm chữa lành sẽ bổ sung cho việc chăm sóc chính thống; cả hai phía đều phải theo dõi và ghi nhận kết quả cẩn thận. Bất kỳ nhóm nào được thành lập để chữa lành đều cần làm việc theo những nguyên tắc hoạt động xác định, và dưới đây là một số nguyên tắc mà Tôi đề nghị là thiết yếu để thành công trong giai đoạn chuyển tiếp này:
1. The patient to be healed (or helped, if healing is not possible) should always be in the hands of a good and reputable doctor, and if not, should be encouraged to consult one.
1. Bệnh nhân cần được chữa lành (hoặc trợ giúp, nếu không thể chữa lành) phải luôn được một bác sĩ giỏi và có uy tín chăm sóc; nếu chưa có, cần khuyến khích bệnh nhân đến tham vấn một bác sĩ như vậy.
2. The nature of the disease should be known to the group, and should be determined by careful, orthodox medical diagnosis.
2. Nhóm cần biết bản chất của căn bệnh, và điều này phải được xác định qua chẩn đoán y khoa chính thống cẩn thận.
3. The age of the patient, his birth date and some information anent his circumstances should also be known, so as to provide a focal point of interest, and a magnetic area should be constructed around the patient which will attract the thought-directed energy of the group.
3. Nhóm cũng cần biết tuổi, ngày sinh và một số thông tin về hoàn cảnh của bệnh nhân, để tạo một điểm tập trung chú ý; đồng thời cần xây dựng một vùng từ tính quanh bệnh nhân để thu hút năng lượng do tư tưởng của nhóm định hướng.
4. The healer or the healing group should have a general grasp of the nature and the anatomy of the body, the placement of the various organs in the body and the position and nature of the centres governing the diseased area or areas. Charts giving this information should be studied.
4. Người chữa lành hay nhóm chữa lành cần nắm khái quát bản chất và cấu trúc giải phẫu của thân thể, vị trí các cơ quan khác nhau trong thân thể, cùng vị trí và bản chất của các trung tâm chi phối vùng hay những vùng bị bệnh. Cần nghiên cứu các sơ đồ cung cấp thông tin này.
5. The faculty of imagination and the power of visualisation should be emphasised in a healing group, and the [287] ability should be developed to send streams of energy to the patient and to the area in the patient’s body where the trouble lies.
5. Trong một nhóm chữa lành, cần nhấn mạnh năng lực tưởng tượng và quyền năng hình dung, đồng thời [287] phát triển khả năng gửi những dòng năng lượng đến bệnh nhân và đến vùng có rối loạn trong thân thể bệnh nhân.
6. The healer or the healing group must remember that it is not mental energy only with which he works. He, for himself,
6. Người chữa lành hay nhóm chữa lành phải nhớ rằng năng lượng mà mình làm việc cùng không chỉ là năng lượng trí tuệ. Về phần mình, người chữa lành
a. Creates a thought of healing power.
a. Tạo ra một tư tưởng về quyền năng chữa lành.
b. That created focal point of concentrated attention becomes the directing agent for the healing force or prana.
b. Điểm hội tụ của sự chú ý tập trung được tạo ra ấy trở thành tác nhân định hướng cho mãnh lực chữa lành hay prana.
c. This prana is neither mental nor astral in nature. It is pure planetary substance or living essence, and is that substance of which the vital body of the planet is made.
c. Prana này không có bản chất trí tuệ hay cảm dục. Nó là chất liệu hành tinh thuần túy hay tinh chất sống, và chính là chất liệu cấu thành thể sinh lực của hành tinh.
d. The healer or the healing group appropriates as much of this substance as is possible, and by the power of their united thought they direct it to and through the centre involved. Healing work is circulatory, and this must not be forgotten. The pranic energy (thought-directed) is not sent to the centre and there permitted to accumulate. It is passed through the centre, first of all to the organ involved or the area where difficulty is to be found, and then is sent out to the body as a totality. It might be regarded as a system of flushing, with a purificatory and stimulating effect.
d. Người chữa lành hay nhóm chữa lành thu nhận chất liệu này nhiều hết mức có thể, rồi bằng quyền năng của tư tưởng hợp nhất, hướng nó đến và đi qua trung tâm liên quan. Công việc chữa lành mang tính lưu thông, và không được quên điều này. Năng lượng prana (do tư tưởng định hướng) không được gửi đến trung tâm rồi để tích tụ ở đó. Nó phải đi qua trung tâm, trước hết đến cơ quan liên quan hoặc vùng có rối loạn, rồi được gửi ra toàn bộ thân thể. Có thể xem đây là một hệ thống xả rửa, có tác dụng thanh lọc và kích thích.
It is only possible in these early days of experiment and work along these lines to give certain simple rules. Out of the results achieved experience will come, and the healing group will learn gradually how to work, when to change its methods, and what to notice.
Trong những ngày đầu thử nghiệm và làm việc theo những đường hướng này, chỉ có thể đưa ra một số quy luật đơn giản. Kinh nghiệm sẽ đến từ các kết quả đạt được, và nhóm chữa lành sẽ dần học được cách làm việc, khi nào cần thay đổi phương pháp, và điều gì cần chú ý.
[288]
[288]
From the start of work along these lines, records should be kept. In this aspect of the work the patient will frequently cooperate. Dates, incidental phenomena, changes for the better or the worse should be noted, along with information as is possible anent the patient’s general condition. For this reason, I recommend that in the early stages of this work healing be attempted only in connection with those who are well known to the members or who are put in the hands of the healing group by physicians or by those willing to give full information.
Ngay từ khi bắt đầu làm việc theo những đường hướng này, cần lưu hồ sơ. Trong phương diện này của công việc, bệnh nhân thường sẽ hợp tác. Cần ghi lại ngày tháng, các hiện tượng phát sinh, những thay đổi tốt hơn hoặc xấu đi, cùng mọi thông tin có thể thu thập về tình trạng chung của bệnh nhân. Vì lý do này, Tôi khuyến nghị rằng trong các giai đoạn đầu của công việc, chỉ nên thử chữa lành cho những người mà các thành viên biết rõ, hoặc những người được các bác sĩ hay những người sẵn lòng cung cấp thông tin đầy đủ giao cho nhóm chữa lành chăm sóc.
People who are so ill that they are not expected to live, or who are suffering from diseases which preclude ultimate recovery, should not be taken into the healing group for treatment, except with ameliorative results in mind. No neophyte knows enough of karma to work with confidence either at the task of health or of release by death. If, however, a patient gets worse whilst the group is working upon his case, he should not be dropped, but a definite and different technique can then be used to ease the path of death. In the next section I intend to touch upon the karma of death.
Không nên nhận điều trị trong nhóm chữa lành những người bệnh nặng đến mức không còn hy vọng sống, hoặc mắc những căn bệnh không cho phép hồi phục hoàn toàn, trừ khi chỉ nhằm đạt kết quả làm thuyên giảm bệnh trạng. Không người sơ cơ nào biết đủ về nghiệp quả để tự tin làm việc nhằm khôi phục sức khỏe hoặc giải thoát qua cái chết. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân trở nặng trong khi nhóm đang chữa lành cho họ, không nên ngừng trợ giúp; khi ấy có thể sử dụng một kỹ thuật cụ thể khác để làm nhẹ con đường đi vào cõi chết. Trong phần tiếp theo, Tôi dự định đề cập đến nghiệp quả của cái chết.
If you will bear in mind that work in connection with the etheric body (as an instrument of vitality) is today as little known as the science of modern medicine was known in the year 1200 A.D., you will be enabled to work without discouragement and without that undue expectation which today handicaps the neophyte. Assume consciously the position that nothing is as yet really known anent the centres, the areas of energy in the body, and thought direction; realise also that you are engaging upon a great research project. Nothing, literally nothing, has been done in relation to medicine and the science of the centres in any practical way, though certain books upon the relation of the centres to psychological research and equipment and the glandular [289] or endocrine system have played tentatively with the subject. The field of research which I propose to you is an entirely new one. Those among you who enter it may not see the results of what you are attempting to do. Your impatience and your eagerness to help may handicap you; your ignorance may cause you to make mistakes. But, go on; persevere; keep careful records and preserve all correspondence. Then the results will be sure.
Nếu các bạn ghi nhớ rằng ngày nay, công việc liên quan đến thể dĩ thái (như một công cụ của sinh lực) vẫn còn ít được biết đến như y học hiện đại vào năm 1200 sau Công nguyên, các bạn sẽ có thể làm việc mà không nản lòng và không mang những kỳ vọng quá mức hiện đang cản trở người sơ cơ. Hãy có ý thức giữ lập trường rằng cho đến nay, thực sự chưa ai biết gì về các trung tâm, các vùng năng lượng trong cơ thể và sự định hướng tư tưởng; cũng hãy nhận ra rằng các bạn đang tham gia một công trình nghiên cứu lớn. Chưa có gì, thực sự chưa có gì được thực hiện trên phương diện thực hành liên quan đến y học và khoa học về các trung tâm, dù một số sách bàn về mối liên hệ giữa các trung tâm với nghiên cứu tâm lý, cấu trúc tâm lý và hệ thống tuyến [289] hay nội tiết đã bước đầu thăm dò chủ đề này. Lĩnh vực nghiên cứu mà Tôi đề xuất với các bạn là một lĩnh vực hoàn toàn mới. Những người trong các bạn bước vào lĩnh vực ấy có thể sẽ không thấy được kết quả của điều mình đang cố gắng thực hiện. Sự thiếu kiên nhẫn và lòng nhiệt thành muốn giúp đỡ có thể cản trở các bạn; sự thiếu hiểu biết có thể khiến các bạn phạm sai lầm. Nhưng hãy tiếp tục; hãy kiên trì; hãy ghi chép cẩn thận và lưu giữ mọi thư từ trao đổi. Khi ấy, kết quả chắc chắn sẽ đến.
1. KARMIC LIABILITIES OF THE INDIVIDUAL – 1. NHỮNG TRÁCH NHIỆM NGHIỆP QUẢ CỦA CÁ NHÂN
We have already studied (perhaps without realising its implications) our first point under this heading. This concerns the karmic liabilities of the individual, emerging from the subjective vehicles and from the personality as a whole.
Chúng ta đã nghiên cứu điểm thứ nhất thuộc đề mục này (có lẽ chưa nhận ra những hàm ý của nó). Điểm này liên quan đến những trách nhiệm nghiệp quả của cá nhân, phát sinh từ các hiện thể chủ quan và từ toàn bộ phàm ngã.
As we discussed the psychological causes of disease as they arise in the subtle vehicles in the three worlds or from the disciple’s tension as he endeavours to tread the Path, we were in reality concerned entirely with karma or the effect of the inner causes of events, equipment and circumstances upon the physical plane. We saw how the inner bodies, via the etheric body, conditioned the man’s outer manifestation, and that disease or health was largely dependent upon them. They are the immediate karmic cause of physical plane existence. If the idea is then extended to include previous incarnations—as must inevitably be the case—then we arrive at the conclusion that the condition of these inner bodies, their limitations and their richness, their defects and their assets, and their general psychic and psychological tendencies are inherited from previous lives, and are therefore responsible for the present earthly situation. We have, consequently, simply pushed the causes of present day conditions still further back, and we could—if we so desired—enter a field of such intricacy and detail that nothing profitable would eventuate. The whole problem of the recovery [290] of past incarnations is one of infinite possibility, and when I use this word “infinite” I immediately put the whole subject out of the control of the finite mind. We are then dealing with something which it is not possible to handle rationally.
Khi bàn về những nguyên nhân tâm lý của bệnh tật phát sinh trong các hiện thể vi tế ở ba cõi giới, hoặc từ sự căng thẳng của đệ tử khi y nỗ lực bước trên Đường Đạo, thực ra chúng ta hoàn toàn chỉ đề cập đến nghiệp quả, hay tác động của những nguyên nhân bên trong của các biến cố, cấu trúc và hoàn cảnh trên cõi hồng trần. Chúng ta đã thấy các thể bên trong, thông qua thể dĩ thái, tác động lên sự biểu hiện bên ngoài của con người như thế nào, và bệnh tật hay sức khỏe phụ thuộc phần lớn vào các thể ấy ra sao. Chúng là nguyên nhân nghiệp quả trực tiếp của sự tồn tại trên cõi hồng trần. Nếu mở rộng ý tưởng này để bao gồm những kiếp lâm phàm trước—điều tất yếu phải làm—thì chúng ta đi đến kết luận rằng tình trạng của các thể bên trong ấy, những giới hạn và sự phong phú của chúng, những khuyết điểm và ưu điểm của chúng, cùng những khuynh hướng thông linh và tâm lý nói chung, đều là di sản từ các kiếp trước, và do đó chịu trách nhiệm về hoàn cảnh hiện tại trên trần gian. Vì vậy, chúng ta chỉ đơn giản là đẩy những nguyên nhân của tình trạng hiện nay lùi xa hơn nữa về quá khứ, và nếu muốn, chúng ta có thể bước vào một lĩnh vực phức tạp và chi li đến mức chẳng thu được điều gì hữu ích. Toàn bộ vấn đề khôi phục [290] ký ức về các kiếp lâm phàm trước chứa đựng những khả năng vô hạn, và khi dùng từ “vô hạn” này, Tôi lập tức đặt toàn bộ chủ đề ra ngoài tầm kiểm soát của thể trí hữu hạn. Khi ấy, chúng ta đang đề cập đến một điều không thể xử lý bằng lý trí.
Karma was, for infant humanity and for the undeveloped individual, a group matter. The man was a member of a group but without any thought as to the implications and the responsibilities entailed. Later, as the process of individualisation became more effective in character and purpose and more pronounced in temperament, karma became also more personal and definite, and the man in a position to make or work off more causes and effects. The personality not being thoroughly unfolded and integrated, the man was still involved in group life and the interrelations became more extensive. Later on, the personality became the conscious creator of its own causes and the conscious participator in the effects. Upon the Path, the karma of the chosen group, of the individual, and of those with whom the man chooses association through unity of spiritual purpose involves him, and another factor is added to the previous categories of karmic responsibility. Later still, karma in the three worlds is met, overcome and negated; at the same time karma connected with the initiating of causes through world service is added to that which the individual has already experienced, and he shares in the karmic responsibility of the Hierarchy itself. All these stages:
Đối với nhân loại thuở ấu thơ và cá nhân chưa phát triển, nghiệp quả là vấn đề của nhóm. Con người là một thành viên của nhóm nhưng không hề suy nghĩ về những hàm ý và trách nhiệm đi kèm. Về sau, khi tiến trình biệt ngã hóa trở nên hiệu quả hơn về tính cách và mục đích, đồng thời biểu lộ rõ hơn trong khí chất, nghiệp quả cũng trở nên cá nhân và xác định hơn, còn con người có khả năng tạo ra hoặc thanh toán nhiều nhân và quả hơn. Vì phàm ngã chưa khai mở và tích hợp đầy đủ, con người vẫn gắn bó với đời sống nhóm, và các mối tương quan trở nên rộng lớn hơn. Về sau nữa, phàm ngã trở thành tác nhân hữu thức tạo ra những nguyên nhân của chính mình và là bên hữu thức tham dự vào các hệ quả. Trên Đường Đạo, nghiệp quả của nhóm mà y đã chọn, của cá nhân y, và của những người mà y chọn liên kết qua sự thống nhất về mục đích tinh thần đều liên đới đến y, và một yếu tố khác được thêm vào các loại trách nhiệm nghiệp quả trước đó. Về sau nữa, nghiệp quả trong ba cõi giới được đối diện, khắc phục và vô hiệu hóa; đồng thời, nghiệp quả liên quan đến việc khởi tạo những nguyên nhân qua sự phụng sự thế gian được thêm vào những gì cá nhân đã trải nghiệm, và y chia sẻ trách nhiệm nghiệp quả của chính Thánh đoàn. Tất cả những giai đoạn này:
1. Elementary group karma—of the primitive man,
1. Nghiệp quả nhóm sơ khai—của người nguyên thủy,
2. Individual karma of the self-conscious developing man,
2. Nghiệp quả cá nhân của con người đang phát triển ngã thức,
3. Karma, related to the life of the disciple,
3. Nghiệp quả liên quan đến đời sống của đệ tử,
4. Hierarchical karma,
4. Nghiệp quả của Thánh đoàn,
[291]
[291]
must be added to the well known Karma of Retribution with which the disciple is already familiar; to it must also be added national and racial karma, plus the educational karma which all disciples bring upon themselves when they are desirous of entering an Ashram to prepare for initiation.
phải được thêm vào Nghiệp Quả Báo Ứng quen thuộc mà đệ tử đã biết rõ; cũng phải thêm vào đó nghiệp quả quốc gia và nghiệp quả của nhân loại, cùng với nghiệp quả giáo dục mà mọi đệ tử tự nhận lấy khi mong muốn gia nhập một ashram để chuẩn bị cho điểm đạo.
There is also the Karma of Reward in contradistinction to that of Retribution; this is a type of karma oft forgotten, but one which will become better known in the coming world cycle. Humanity has worked off much evil karma, and the karma based on causes later to be initiated will not generate such dire effects as that of the past. Not all karma is bad, in spite of what man thinks. Much of it is necessarily punitive and distressing, owing to humanity’s ignorance and low stage of development. When karmic retribution becomes acute and terrible, as it is in today’s appalling world experience, it indicates that humanity has reached a point where consequences can be meted out on a large scale and with justice. Very little suffering is attached to karma where there is ignorance, leading to irresponsibility and complete lack of thought and there is attached to affairs but little true sense of guilt. There may be unhappy conditions and distressing circumstances, but the ability to respond to such conditions with commensurate pain is lacking; there is little mental reaction to the processes of karmic retribution. This should be borne in mind. The Aryan race is now, however, so developed mentally and on a large scale that karma is truly horrible and agonising and can express itself through world conditions. At the same time, the present widespread distress indicates the extent and success of human unfoldment and is a most hopeful and promising sign. In this idea, you have the clue as to why the good, the holy and the saintly servers of the race carry—in this world cycle—such a heavy load of karmic ill.
Còn có Nghiệp Quả Ban Thưởng, khác với nghiệp quả Báo Ứng; đây là một loại nghiệp quả thường bị lãng quên, nhưng sẽ được biết đến rõ hơn trong chu kỳ thế giới sắp tới. Nhân loại đã thanh toán nhiều nghiệp quả xấu, và nghiệp quả dựa trên những nguyên nhân sẽ được khởi tạo về sau sẽ không sinh ra những hệ quả khủng khiếp như trong quá khứ. Bất chấp điều con người nghĩ, không phải mọi nghiệp quả đều xấu. Phần lớn nghiệp quả tất yếu mang tính trừng phạt và gây đau khổ, do sự thiếu hiểu biết và trình độ phát triển thấp của nhân loại. Khi sự báo ứng nghiệp quả trở nên gay gắt và khủng khiếp, như trong trải nghiệm kinh hoàng của thế giới ngày nay, điều đó cho thấy nhân loại đã đạt đến một điểm mà các hệ quả có thể được thực thi trên quy mô lớn và một cách công bằng. Nghiệp quả gắn với rất ít đau khổ khi sự thiếu hiểu biết dẫn đến tình trạng vô trách nhiệm và hoàn toàn thiếu suy nghĩ, và khi con người có rất ít cảm thức thực sự về tội lỗi trong các sự việc. Có thể có những tình trạng bất hạnh và hoàn cảnh đau buồn, nhưng lại thiếu khả năng đáp ứng với những tình trạng ấy bằng nỗi đau tương xứng; phản ứng trí tuệ đối với các tiến trình báo ứng nghiệp quả còn rất ít. Cần ghi nhớ điều này. Tuy nhiên, hiện nay giống dân Arya đã phát triển về trí tuệ đến mức độ cao và trên quy mô rộng, khiến nghiệp quả thực sự khủng khiếp, gây đau đớn tột cùng và có thể biểu lộ qua các tình trạng của thế giới. Đồng thời, nỗi đau khổ lan rộng hiện nay cho thấy mức độ và thành công của sự khai mở nơi con người, và là một dấu hiệu đầy hy vọng và hứa hẹn. Trong ý tưởng này, các bạn có được manh mối để hiểu vì sao những người phụng sự nhân loại tốt lành, thánh thiện và cao khiết lại mang—trong chu kỳ thế giới này—một gánh nặng nghiệp quả đau khổ đến thế.
[292]
[292]
It is consequently quite impossible in the scope of this treatise to deal more fully with this subject of karma as it produces the many types of human ills, including disease—only one of its manifestations. The theme is too vast, too complicated and too widely diffusing in its effect. All that one can do is to posit the fact that past actions and reactions have established in previous lives such a karmic rhythm that today all the aspects of the lower nature are involved; and among the commonest and most ordinary effects, and one in which the great Law of Retribution takes effect, is that of disease. This is a point which healers and metaphysicians, so-called, should most carefully consider.
Vì vậy, trong phạm vi khảo luận này, hoàn toàn không thể bàn đầy đủ hơn về chủ đề nghiệp quả khi nó tạo ra nhiều loại khổ đau của con người, bao gồm bệnh tật—chỉ là một trong những biểu hiện của nó. Chủ đề này quá rộng lớn, quá phức tạp và có tác động lan tỏa quá sâu rộng. Điều duy nhất có thể làm là nêu lên sự thật rằng những hành động và phản ứng trong quá khứ đã thiết lập trong các kiếp trước một nhịp điệu nghiệp quả đến mức ngày nay mọi phương diện của bản chất thấp đều liên đới; và trong số những hệ quả thông thường và phổ biến nhất, đồng thời là một hệ quả qua đó Định luật Báo Ứng vĩ đại phát huy tác dụng, có bệnh tật. Đây là một điểm mà những người chữa lành và những người được gọi là các nhà siêu hình học cần suy xét hết sức cẩn thận.
2. THE SEVEN RAY CAUSES OF KARMA – 2. NHỮNG NGUYÊN NHÂN NGHIỆP QUẢ THUỘC BẢY CUNG
These carry the cause of all human difficulties, including ill health and disease—individual, national and racial—still further back to the very origin of creation itself. Karma demonstrates in those streams of energy and of primordial substance which pour into and through the created world, including the lower three worlds where work the lunar pitris and the elemental essences of all forms. This primordial karma (if I may so call it) is contributory to the existence of disease. We are told in the ancient books, to which the Masters have access, that the world is constructed of substance which is already tainted with the karma of a previous solar system.
Những nguyên nhân này đưa căn nguyên của mọi khó khăn của con người, bao gồm sức khỏe suy kém và bệnh tật—ở cấp độ cá nhân, quốc gia và nhân loại—lùi xa hơn nữa, đến tận nguồn gốc của chính sự sáng tạo. Nghiệp quả biểu lộ trong những dòng năng lượng và chất liệu nguyên sơ tuôn vào và xuyên qua thế giới được sáng tạo, bao gồm ba cõi thấp, nơi các thái âm tổ phụ và tinh chất hành khí của mọi hình tướng hoạt động. Nghiệp quả nguyên sơ này (nếu Tôi có thể gọi như vậy) góp phần vào sự tồn tại của bệnh tật. Những cổ thư mà các Chân sư có thể tiếp cận cho chúng ta biết rằng thế giới được cấu tạo từ chất liệu vốn đã nhuốm nghiệp quả của một hệ mặt trời trước.
It will be apparent to you that these streams of force, emanating from the Lords of the Seven Rays, are coloured, therefore, and “tainted”—if I may use such a word—by the limitations of these same great Beings; They are Gods, from our point of view, but in reality, Gods in the making, even though much nearer solar divinity than the most advanced human being is near to planetary divinity. They are the “imperfect Gods” spoken of in The Secret Doctrine [293] and are the planetary Logoi of the sacred and non-sacred planets. If the great informing Lives of the planets within our solar system are imperfect, the effect of this imperfection must inevitably affect Their planetary creations, Their bodies of manifestation, and thus introduce a karmic condition over which the individual human being has absolutely no control, but within which he moves and which he shares. It is obviously impossible for me to elucidate this theme. All I can do or am permitted to do is to give you seven stanzas from one of the most ancient volumes in the world; it deals with the seven ray causes of imperfections in our planetary manifestations. To these should be added (if it were only possible) the stanzas which convey the significance of the defects emerging from astrological conditions and producing effects of a planetary nature and involving, therefore, the horoscope of our particular planetary Logos. But these are far too abstruse, elaborate and far-reaching in their theme, and can be studied and considered only when humanity has reached such a stage of intuitive development that men can “appreciate causes and effects as whole processes and can see both the beginning and the end in one flash of time in space.” In these words the Master Serapis once summed up the matter when endeavouring to train a group of initiated disciples in this mode of approaching vast subjects.
Các bạn sẽ thấy rõ rằng những dòng mãnh lực này, phát xạ từ các Đấng Chúa Tể của Bảy Cung, do đó mang sắc thái và “vết nhiễm”—nếu Tôi có thể dùng một từ như vậy—từ những giới hạn của chính các Đấng vĩ đại ấy; theo quan điểm của chúng ta, Các Ngài là những vị Thượng đế, nhưng thực ra là những vị Thượng đế đang trong tiến trình trở thành, dù Các Ngài gần với thiên tính thái dương hơn rất nhiều so với khoảng cách giữa con người tiến bộ nhất và thiên tính hành tinh. Các Ngài là những “vị Thượng đế bất toàn” được nói đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm [293] và là các Hành Tinh Thượng đế của những hành tinh thiêng liêng và không thiêng liêng. Nếu các Sự Sống vĩ đại thấm nhuần các hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta còn bất toàn, thì ảnh hưởng của sự bất toàn ấy tất yếu phải tác động lên những tạo vật hành tinh của Các Ngài, những thân thể biểu hiện của Các Ngài, và do đó đưa vào một tình trạng nghiệp quả mà cá nhân con người tuyệt đối không thể kiểm soát, nhưng lại vận động trong đó và cùng chia sẻ nó. Hiển nhiên, Tôi không thể làm sáng tỏ chủ đề này. Tất cả những gì Tôi có thể làm hoặc được phép làm là trao cho các bạn bảy bài kệ từ một trong những quyển sách cổ xưa nhất trên thế giới; quyển sách ấy đề cập đến những nguyên nhân thuộc bảy cung của các sự bất toàn trong những biểu hiện hành tinh của chúng ta. Cần thêm vào những bài kệ này (nếu có thể làm được) các bài kệ truyền đạt thâm nghĩa của những khiếm khuyết phát sinh từ các điều kiện chiêm tinh, tạo ra những ảnh hưởng mang bản chất hành tinh, và do đó liên quan đến lá số chiêm tinh của Hành Tinh Thượng đế riêng của chúng ta. Nhưng những bài kệ ấy quá thâm áo, phức tạp và sâu rộng về chủ đề, nên chỉ có thể nghiên cứu và xem xét khi nhân loại đã đạt đến một giai đoạn phát triển trực giác mà con người có thể “nhận thức các nguyên nhân và hệ quả như những tiến trình toàn vẹn, và có thể thấy cả khởi đầu lẫn kết thúc trong một khoảnh khắc lóe sáng của thời gian trong không gian.” Bằng những lời này, Chân sư Serapis từng tóm lược vấn đề khi nỗ lực huấn luyện một nhóm đệ tử đã được điểm đạo về cách tiếp cận những chủ đề bao la như thế.
The “Book of Karma” has in it the following stanzas, and these can serve as an introduction to those dealing with the Seven Ray causes of inharmony and disease. To the intuitive aspirant some meaning will emerge, but he must ever bear in mind that all that I am attempting to do is to put into words—unsatisfactory and quite inadequate—stanzas concerning the conditioning factors in the equipment of those great Beings Whose life force (which we call energy) creates all that is, colours and shapes all [294] manifestations within the worlds, and adds its quota of force to the equipment of every single human being. Every man appropriates this energy to the measure of his need, and his need is the sign of his development. The stanzas I have selected are from The Book of Imperfections. Part Fourteen:
“Sách Nghiệp Quả” có những bài kệ sau đây, và chúng có thể dùng làm phần dẫn nhập cho những bài kệ bàn về các nguyên nhân thuộc Bảy Cung của sự bất hòa và bệnh tật. Người chí nguyện có trực giác sẽ nhận ra phần nào ý nghĩa, nhưng y phải luôn ghi nhớ rằng tất cả những gì Tôi đang cố gắng làm là diễn đạt bằng những ngôn từ—không thỏa đáng và hoàn toàn không đủ sức truyền đạt—các bài kệ nói về những yếu tố định hình cấu trúc của các Đấng vĩ đại ấy, mà mãnh lực sự sống của Các Ngài (chúng ta gọi là năng lượng) tạo ra mọi sự hiện hữu, tô sắc và định hình mọi [294] biểu hiện trong các cõi giới, đồng thời góp phần mãnh lực của mình vào cấu trúc của từng con người. Mỗi người thu nhận năng lượng này tùy theo mức độ nhu cầu của mình, và nhu cầu ấy là dấu hiệu về sự phát triển của y. Những bài kệ Tôi đã chọn trích từ Sách về Những Sự Bất Toàn. Phần Mười Bốn:
“The seven imperfections issued forth and tainted substance from the highest sphere unto the lowest. The seven perfections followed next, and the two—that which is whole and sound and that which is known as detail and unwholesome in an awful sense—met upon the plane of physical life. (The etheric plane.—A.A.B.)
“Bảy sự bất toàn tuôn ra và làm nhiễm chất liệu từ khối cầu cao nhất đến khối cầu thấp nhất. Tiếp đó, bảy sự toàn hảo theo sau, và cả hai—cái toàn vẹn, lành mạnh và cái được biết đến như sự vụn vặt, không lành mạnh theo một nghĩa khủng khiếp—gặp nhau trên cõi của sự sống hồng trần. (Cõi dĩ thái.—A.A.B.)
And there they fought, swinging into the conflict all that they were and had, all that was seen and all that was unseen within the triple ring. (The three lower worlds.—A.A.B.)
Và tại đó, chúng giao chiến, cuốn vào cuộc xung đột tất cả những gì chúng là và có, tất cả những gì hữu hình và vô hình trong vòng tam phân. (Ba cõi thấp.—A.A.B.)
The seven imperfections entered the seven races of men, each in their own place; they coloured the seven points within each race. (The seven planetary centres, transmitting imperfect energy.—A.A.B.)
Bảy sự bất toàn đi vào bảy giống dân của nhân loại, mỗi sự ở đúng vị trí riêng; chúng tô sắc bảy điểm trong mỗi giống dân. (Bảy trung tâm hành tinh, truyền năng lượng bất toàn.—A.A.B.)
The seven perfections hovered o’er each race, over each man within each race and over each point within each man.
Bảy sự toàn hảo lơ lửng trên mỗi giống dân, trên mỗi con người trong mỗi giống dân và trên mỗi điểm trong mỗi con người.
And thus the conflict grew from the outermost to the innermost, from the greatest One to the littlest ones. Seven the imperfections. Seven the perfect wholes; seven the ways to oust the dark of imperfection and demonstrate the clear cold light, the white electric light of perfect wholeness.”
Và như thế, cuộc xung đột gia tăng từ ngoài cùng đến trong cùng, từ Đấng vĩ đại nhất đến những sinh linh nhỏ bé nhất. Bảy sự bất toàn. Bảy toàn thể toàn hảo; bảy con đường xua tan bóng tối của sự bất toàn và biểu lộ ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo, ánh sáng điện trắng của sự toàn vẹn hoàn hảo.”
All that you can gain from the above, my brother, is a concept of agelong conflict, of seven great energies which manifest as dualities and which produce when anchored within one body (whether that of a planet, a man or an [295] atom) an area or cycle of distress, as it is called; this distress produces the evolutionary urge and is itself the cause of manifestation, whilst its effect (which is karma) is the liberation ultimately of the perfect and the good. These things are not easy to comprehend. It must be remembered that the seven imperfections are related to the sevenfold nature of the One in Whom we live and move and have our being, and that these seven imperfect energies hold within themselves the perfect will-to-good, more potent in the long run than the will-to-harm.
Huynh đệ của tôi, tất cả những gì huynh đệ có thể rút ra từ những điều trên là một ý niệm về cuộc xung đột kéo dài qua bao thời đại, về bảy năng lượng vĩ đại biểu hiện thành các cặp nhị nguyên, và khi neo trụ trong một thân thể duy nhất (dù là thân thể của một hành tinh, một con người hay một [295] nguyên tử), chúng tạo ra một vùng hoặc một chu kỳ của điều được gọi là đau khổ; nỗi đau khổ này tạo ra sự thôi thúc tiến hoá và chính nó là nguyên nhân của sự biểu hiện, trong khi hệ quả của nó (tức nghiệp quả) là sự giải phóng sau cùng của cái toàn hảo và cái thiện. Những điều này không dễ lĩnh hội. Cần nhớ rằng bảy sự bất toàn liên quan đến bản chất thất phân của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu, và bảy năng lượng bất toàn này chứa đựng trong chúng Ý Chí-hướng Thiện toàn hảo, về lâu dài mạnh hơn ý chí gây tổn hại.
These energies pour through the seven centres of the planetary body and are—as far as we are concerned—the seven ray energies. In relation to the will-to-harm which can and does demonstrate as disease in all the four kingdoms in nature, you have the reason why I instituted, among the esoteric students for whom I have made myself responsible, the development of harmlessness. It is the major agent for the offsetting of karma. I will here give you Law IX. and thus complete a group of laws which, when followed, will be found essential to the curing of disease and the maintenance of health.
Những năng lượng này tuôn qua bảy trung tâm của thân thể hành tinh và—đối với chúng ta—là bảy năng lượng cung. Liên quan đến ý chí gây tổn hại, vốn có thể và thực sự biểu lộ thành bệnh tật trong cả bốn giới trong thiên nhiên, các bạn có được lý do vì sao Tôi đã thiết lập việc phát triển tính vô tổn hại trong số các đạo sinh huyền bí học mà Tôi nhận trách nhiệm hướng dẫn. Đó là tác nhân chủ yếu để hóa giải nghiệp quả. Tại đây, Tôi sẽ trao cho các bạn Định luật IX, qua đó hoàn tất một nhóm định luật mà khi tuân theo, các bạn sẽ thấy là thiết yếu đối với việc chữa trị bệnh tật và duy trì sức khỏe.
LAW IX
ĐỊNH LUẬT IX
Perfection calls imperfection to the surface. Good drives evil always from the form of man in time and space. The method used by the Perfect One and that employed by Good is harmlessness. This is not negative but perfect poise, a completed point of view and divine understanding.
Sự toàn hảo gọi sự bất toàn trồi lên bề mặt. Điều thiện luôn xua điều ác ra khỏi hình tướng con người trong thời gian và không gian. Phương pháp mà Đấng Toàn Hảo và Điều Thiện sử dụng là tính vô tổn hại. Đây không phải là sự tiêu cực mà là sự quân bình hoàn hảo, một quan điểm toàn diện và sự thấu hiểu thiêng liêng.
You will have noticed that what I have said in this connection removes the whole subject of disease into a distant world of origins—a world into which man is as yet unable to penetrate. It is for this reason that I have devoted so much time to the consideration of the causes of disease; more than half of what I have to say is to be [296] found in this first part of our discussion. We have nearly concluded this, and face what many will regard as the more useful and practical part of the teaching anent this subject. It has never been my intention to deal with the pathology of disease or the symptoms of the many forms of ill health which ravage mankind. I seek mainly to lay the stress upon the subjective reasons for the majority of ills which attack the human frame. My purpose is, however, sound. The overemphasis which people put upon disease is bewildering to the soul, for it places the transient, constantly changing form-nature in a position of undue prominence, whereas—from the angle of the soul—the vicissitudes of the body are only of importance just in so far as they contribute to the enrichment of soul experience.
Các bạn hẳn đã nhận thấy rằng những điều Tôi nói trong mối liên hệ này đưa toàn bộ chủ đề bệnh tật vào một thế giới nguồn cội xa xôi—một thế giới mà con người hiện chưa thể thâm nhập. Chính vì lý do này mà Tôi đã dành rất nhiều thời gian để xem xét các nguyên nhân của bệnh tật; hơn một nửa những gì Tôi muốn nói nằm [296] trong phần đầu tiên này của cuộc thảo luận. Chúng ta gần kết thúc phần này và đang đứng trước phần mà nhiều người sẽ xem là hữu ích và thiết thực hơn trong giáo huấn về chủ đề này. Tôi chưa bao giờ có ý định bàn về bệnh lý học hay các triệu chứng của nhiều dạng sức khỏe suy kém đang tàn phá nhân loại. Chủ yếu, Tôi tìm cách nhấn mạnh những lý do chủ quan của phần lớn các chứng bệnh tấn công thân thể con người. Tuy nhiên, mục đích của Tôi có cơ sở vững chắc. Việc con người quá chú trọng đến bệnh tật khiến linh hồn hoang mang, vì điều đó đặt bản chất hình tướng phù du, không ngừng biến đổi vào một vị trí nổi bật quá mức, trong khi—từ góc độ linh hồn—những thăng trầm của thân thể chỉ quan trọng trong chừng mực chúng góp phần làm phong phú trải nghiệm của linh hồn.
The factor that is of importance is the causes, initiated by man from life to life; these work out in the appearance of disease, in the emergence of some disastrous consequence in circumstance and in event, and in the general conditioning of some particular incarnation. It is with these causes that man must learn to deal, to recognise them, and to trace the conditioning energy to the appropriate effect, dealing primarily then with the task of negating the cause by the opposition of a trained will. Karma is not an inevitable, inescapable and dire happening. It can be offset; but this offsetting, particularly where disease is concerned, will include four lines of activity:
Yếu tố quan trọng là những nguyên nhân do con người khởi tạo từ kiếp này sang kiếp khác; chúng biểu hiện thành sự xuất hiện của bệnh tật, sự phát sinh một hệ quả tai hại nào đó trong hoàn cảnh và biến cố, cùng sự định hình chung của một kiếp lâm phàm cụ thể. Con người phải học cách xử lý những nguyên nhân này, nhận biết chúng và truy tìm mối liên hệ giữa năng lượng định hình với hệ quả tương ứng, rồi chủ yếu thực hiện nhiệm vụ vô hiệu hóa nguyên nhân bằng sự đối kháng của một ý chí đã được rèn luyện. Nghiệp quả không phải là một biến cố khủng khiếp, tất yếu và không thể tránh khỏi. Nó có thể được hóa giải; nhưng sự hóa giải này, nhất là khi liên quan đến bệnh tật, sẽ bao gồm bốn hướng hoạt động:
1. Determining the nature of the cause and the area in consciousness where it originated.
1. Xác định bản chất của nguyên nhân và vùng tâm thức nơi nó phát sinh.
2. Developing those qualities which are the polar opposite of the effective cause.
2. Phát triển những phẩm tính đối cực với nguyên nhân đang phát huy tác dụng.
3. Practising harmlessness so as to arrest the expression of the cause and to prevent any further implementing of the unfortunate condition.[297]
3. Thực hành tính vô tổn hại để ngăn chặn sự biểu lộ của nguyên nhân và ngăn không cho tình trạng bất lợi tiếp tục được tiếp sức.[297]
4. Taking the necessary physical steps which will produce the conditions which the soul desires. These steps will include:
4. Thực hiện những bước cần thiết trên phương diện hồng trần để tạo ra các điều kiện mà linh hồn mong muốn. Những bước này sẽ bao gồm:
a. A mental acquiescence and an acceptance of the fact of the effect—in the case which we are considering in relation to karma—disease.
a. Sự thuận nhận trong trí tuệ và chấp nhận sự thật về hệ quả—trong trường hợp chúng ta đang xem xét liên quan đến nghiệp quả—là bệnh tật.
b. Wise action along the lines of orthodox medical procedure.
b. Hành động sáng suốt theo quy trình của y học chính thống.
c. The assistance of a healing group or a healer for aid in inner spiritual healing.
c. Sự trợ giúp của một nhóm chữa lành hoặc một người chữa lành để hỗ trợ việc chữa lành tinh thần bên trong.
d. Clear vision as to the outcome. This may lead to preparation for a more useful physical plane life or preparation for the great transition called death.
d. Tầm nhìn rõ ràng về kết quả. Điều này có thể dẫn đến việc chuẩn bị cho một đời sống hữu ích hơn trên cõi hồng trần hoặc chuẩn bị cho cuộc chuyển tiếp lớn lao được gọi là cái chết.
But behind all wise thinking and wise activity must be the acceptance of the existence of certain general conditions which work out as physical ill health during this world cycle, and not only for the human kingdom but also for the three sub-human kingdoms. The Law of Imperfection exists because the Great Realities (to be found in all the phenomenal world) are likewise in process of development and of evolutionary unfoldment. Therefore, until They, as spiritual Beings, have developed “sublime control”—as it is called—over the substance of Their phenomenal forms, those forms will fall short of divine perfection. Disease is only a form of transient imperfection, and death is just a method for refocussing energy, prior to a forward moving activity, leading steadily and always towards betterment.
Nhưng đằng sau mọi suy nghĩ sáng suốt và hoạt động sáng suốt phải là sự chấp nhận rằng có những tình trạng chung nhất định biểu hiện thành sức khỏe thể chất suy kém trong chu kỳ thế giới này, không chỉ đối với giới nhân loại mà còn đối với ba giới dưới nhân loại. Định luật Bất Toàn tồn tại vì các Thực Tại Vĩ Đại (hiện diện trong toàn bộ thế giới hiện tượng) cũng đang trong tiến trình phát triển và khai mở tiến hoá. Do đó, cho đến khi Các Ngài, với tư cách là những Đấng tinh thần, đã phát triển được điều gọi là “sự kiểm soát cao cả” đối với chất liệu của các hình tướng hiện tượng của Các Ngài, những hình tướng ấy vẫn chưa đạt đến sự toàn hảo thiêng liêng. Bệnh tật chỉ là một dạng bất toàn nhất thời, còn cái chết chỉ là một phương pháp tái tập trung năng lượng trước một hoạt động tiến về phía trước, đều đặn và luôn luôn dẫn đến sự cải thiện.
The comprehension of the seven stanzas which I now propose to give you will lead eventually to the isolation of the seven psychological causes of disease, inherent in the substance of all forms in this world cycle, because all forms are infused with the life energy of the “imperfect Gods.” [298] The seven Spirits, we are told in the Scriptures of the world, are “before the Throne of God”; this signifies that They are not yet in a position to mount the Throne, symbolically speaking, owing to the fact that They have not yet achieved complete divine expression. These Lords of the Seven Rays are greater and more advanced in the spiritual scale than are those great Lives who form the Council of the Lord of the World in Shamballa. They are the Representatives of the seven ray Energies Who inform the seven sacred planets but are not yet as divinely developed as They are. The problem of humanity in respect to imperfection is complicated, not only by the fact that the seven informing vitalising Energies are “tainted with imperfection,” but also by the fact that the Lord of the World is Himself, from the angle of a Solar Logos for instance, far from perfect; this is the reason why our planet, the Earth, is not a sacred planet. We are told that Sanat Kumara is the divine prisoner of this planet, held here until the “last weary pilgrim has found his way home.” This is His heavy karma even whilst it is an expression of His desire and of His joy; the “weary pilgrims” are the atoms (human or otherwise) in His body, and they are tainted with imperfection because of His imperfections; their complete “healing” will set the term for His release.
Việc lĩnh hội bảy bài kệ mà giờ đây Tôi dự định trao cho các bạn cuối cùng sẽ dẫn đến sự phân định bảy nguyên nhân tâm lý của bệnh tật, vốn có trong chất liệu của mọi hình tướng trong chu kỳ thế giới này, bởi mọi hình tướng đều thấm nhuần năng lượng sự sống của những “vị Thượng đế bất toàn.” [298] Kinh điển thế giới cho chúng ta biết rằng bảy Thánh Linh ở “trước Thánh Ngai của Thượng đế”; điều này hàm ý rằng, nói theo nghĩa biểu tượng, Các Ngài chưa ở vào vị thế có thể bước lên Thánh Ngai, vì Các Ngài chưa đạt được sự biểu lộ thiêng liêng trọn vẹn. Những Đấng Chúa Tể của Bảy Cung này vĩ đại hơn và tiến bộ hơn trên thang tinh thần so với các Sự Sống vĩ đại hợp thành Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới tại Shamballa. Các Sự Sống ấy là những Đại Diện của bảy Năng Lượng cung thấm nhuần bảy hành tinh thiêng liêng, nhưng chưa phát triển về thiên tính bằng những Năng Lượng ấy. Vấn đề của nhân loại liên quan đến sự bất toàn trở nên phức tạp, không chỉ vì bảy Năng Lượng thấm nhuần và tiếp sinh lực đều “nhuốm sự bất toàn”, mà còn vì chính Đức Chúa Tể Thế Giới, chẳng hạn từ góc độ của một Thái dương Thượng đế, vẫn còn xa mới toàn hảo; đó là lý do vì sao hành tinh của chúng ta, Trái Đất, không phải là một hành tinh thiêng liêng. Chúng ta được cho biết rằng Sanat Kumara là tù nhân thiêng liêng của hành tinh này, bị giữ lại nơi đây cho đến khi “người hành hương mệt mỏi cuối cùng đã tìm được đường về nhà.” Đây là nghiệp quả nặng nề của Ngài, ngay cả khi nó là sự biểu lộ lòng mong muốn và sự hoan hỉ của Ngài; những “người hành hương mệt mỏi” là các nguyên tử (thuộc nhân loại hoặc không) trong thân thể Ngài, và họ nhuốm sự bất toàn do những sự bất toàn của Ngài; sự “chữa lành” hoàn toàn của họ sẽ ấn định thời điểm giải thoát của Ngài.
Bear in mind, therefore, that the stanzas—seven in number—now to be given, indicate the quality of the descending energies and the taints which these energies carry and convey to all forms which are vitalised by the life of our planetary Logos.
Do đó, hãy ghi nhớ rằng bảy bài kệ sắp được trao cho các bạn chỉ ra phẩm tính của những năng lượng giáng xuống và những vết nhiễm mà các năng lượng này mang theo, truyền cho mọi hình tướng được sự sống của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta tiếp sinh lực.
The Seven Ray Causes of Inharmony and Disease
Những Nguyên Nhân Thuộc Bảy Cung của Sự Bất Hòa và Bệnh Tật
I. “The Great One set Himself to follow by Himself alone His chosen path. He brooked no interference. He hardened in His courses. From plane [299] to plane, this hardening proceeded; it grew and stiffened. His will was set, and crystal-like, brilliant, brittle and hard. The power to crystallise was His. He brought not will-to-live but will-to-die. Death was His gift to life. Infusion and diffusion pleased Him not. He loved and sought abstraction.”
I. “Đấng Cao Cả quyết chí một mình đi theo con đường Ngài đã chọn. Ngài không dung thứ bất kỳ sự can thiệp nào. Ngài trở nên cứng rắn trong đường lối của mình. Từ cõi [299] này sang cõi khác, sự cứng rắn ấy tiếp diễn; nó tăng trưởng và trở nên cứng nhắc. Ý chí của Ngài đã định, như pha lê, rực rỡ, giòn và cứng. Ngài có quyền năng kết tinh. Ngài mang đến ý chí hướng đến cái chết thay vì ý chí hướng đến sự sống. Cái chết là món quà Ngài trao cho sự sống. Sự thấm nhuần và khuếch tán không làm Ngài hài lòng. Ngài yêu thích và tìm kiếm sự triệt xuất.”
As far as we can understand the significance of this stanza in relation to our theme of disease, the imperfection of this divine energy produces a peculiar attitude which expresses itself in the power to crystallise, to harden, to bring about attrition and cause the great abstracting process which we call death. Other results are the many crystallising processes going on in the physical form, all atrophying processes, and old age.
Trong chừng mực chúng ta có thể thấu hiểu thâm nghĩa của bài kệ này liên quan đến chủ đề bệnh tật, sự bất toàn của năng lượng thiêng liêng này tạo ra một thái độ đặc biệt, biểu lộ thành quyền năng kết tinh, làm cứng lại, gây hao mòn và tạo ra tiến trình triệt xuất lớn lao mà chúng ta gọi là cái chết. Những kết quả khác là nhiều tiến trình kết tinh diễn ra trong hình tướng hồng trần, mọi tiến trình teo giảm và tuổi già.
II. “The Great One poured His life throughout all parts and every aspect of manifestation. From the centre to the periphery and from the periphery to the centre He rushed, carrying abundance of life, energising all forms of Himself, producing excess of movement, endless extension, abundant growth and undue haste. He knew not what He wanted because He wanted all, desired all, attracted all and gave to all too much.”
II. “Đấng Cao Cả tuôn sự sống của Ngài khắp mọi bộ phận và mọi phương diện của sự biểu hiện. Từ trung tâm ra chu vi và từ chu vi vào trung tâm, Ngài lao đi, mang theo sự sống dồi dào, tiếp năng lượng cho mọi hình tướng của chính Ngài, tạo ra sự vận động quá mức, sự mở rộng bất tận, sự tăng trưởng phong phú và sự vội vã thái quá. Ngài không biết mình muốn gì, bởi Ngài muốn tất cả, ham muốn tất cả, thu hút tất cả và ban cho tất cả quá nhiều.”
The imperfection of this great energy with its building, vitalising and cohering potency, was and is the power to overstimulate, to produce accretion, to pile together, to build too many forms, to attract too many atoms and to bring about those conditions which lead to what has been called (esoterically) “the suffocation of the life”—another form of dying, but dying this time as a result of excessive vitality, affecting the blood stream, producing building within the forms already built, and frequently creating an [300] etheric vehicle which is too potent for the outer exoteric physical form. Other results are, for instance, the appearance of tumors, of cancers, of growths, and the overdevelopment of bodily aspects, overlarge organs and supernumerary bodily parts.
Sự bất toàn của năng lượng vĩ đại này, với tiềm năng kiến tạo, tiếp sinh lực và cố kết, đã và đang là quyền năng kích thích quá mức, tạo ra sự bồi tích, chất chồng, xây dựng quá nhiều hình tướng, thu hút quá nhiều nguyên tử và gây ra những tình trạng dẫn đến điều được gọi (một cách huyền bí) là “sự ngạt thở của sự sống”—một dạng chết khác, nhưng lần này chết do sinh lực quá mức, tác động lên dòng máu, tạo ra sự kiến tạo bên trong những hình tướng đã được kiến tạo, và thường tạo ra một [300] hiện thể dĩ thái quá mạnh so với hình tướng hồng trần ngoại môn bên ngoài. Những kết quả khác, chẳng hạn, là sự xuất hiện của các khối u, ung thư, các khối tăng sinh, cùng sự phát triển quá mức của những bộ phận cơ thể, các cơ quan quá lớn và những bộ phận cơ thể thừa.
III. “The Great One gathered here and there. He chose and He rejected. This power He refused and this power He accepted. He had no purpose linked to the six purposes of His six Brothers. He acquired a form and liked it not; threw it away and chose another. He had no settled point or plan but lived in glamour and liked it well. He smothered both the good and the bad, though using both. Excess in one direction could be seen and starvation in another. Both these extremes governed His choice of living substance, He threw together those that suited not each other, then saw the end was sorrow and deceit. Patterns He made, but purpose suited not. He gave up in despair.”
III. “Đấng Cao Cả thu thập nơi này nơi khác. Ngài lựa chọn và loại bỏ. Quyền năng này Ngài từ chối, quyền năng kia Ngài chấp nhận. Ngài không có mục đích nào gắn với sáu mục đích của sáu Huynh đệ của Ngài. Ngài có được một hình tướng nhưng không ưa thích; Ngài vứt bỏ nó và chọn một hình tướng khác. Ngài không có điểm tựa hay kế hoạch ổn định, mà sống trong ảo cảm và rất thích điều đó. Ngài bóp nghẹt cả điều thiện lẫn điều ác, dù sử dụng cả hai. Có thể thấy sự dư thừa ở một hướng và sự thiếu đói ở một hướng khác. Cả hai cực đoan này chi phối việc Ngài lựa chọn chất liệu sống. Ngài gom lại những thứ không phù hợp với nhau, rồi thấy kết cục là buồn khổ và lừa dối. Ngài tạo ra các mô hình, nhưng mục đích lại không phù hợp. Ngài bỏ cuộc trong tuyệt vọng.”
The main effect of this imperfect “maneuvering” and manipulation, as it has been called, is largely astral in nature, producing consequent physical ill health and the undesirable effects which we have already studied in this treatise. It is because this third ray energy is the energy of substance itself that its imperfections demonstrate profusely in the human tendency to disease. Glamour results from the excessive use of this third ray energy for selfish and personal ends and manifests primarily upon the sixth or astral plane. As a result of this manipulation of desire, and the wild maneuvering for its satisfaction along material lines, you have such diseases as the gastric and intestinal disorders and the various stomach troubles which devastate [301] civilised humanity—far more than the savage races. Certain brain disorders also are effects, and low vitality.
Ảnh hưởng chính của sự “xoay xở” và thao túng bất toàn này, như người ta gọi, phần lớn mang bản chất cảm dục, từ đó tạo ra sức khỏe thể chất suy kém và những ảnh hưởng không mong muốn mà chúng ta đã nghiên cứu trong khảo luận này. Chính vì năng lượng cung ba này là năng lượng của bản thân chất liệu nên những sự bất toàn của nó biểu lộ rất nhiều trong khuynh hướng mắc bệnh của con người. Ảo cảm là kết quả của việc sử dụng quá mức năng lượng cung ba này cho các mục đích ích kỷ và cá nhân, và chủ yếu biểu lộ trên cõi thứ sáu, tức cõi cảm dục. Do sự thao túng dục vọng này cùng những xoay xở điên cuồng nhằm thỏa mãn nó theo đường hướng vật chất, các bạn có những chứng bệnh như rối loạn dạ dày, đường ruột và các vấn đề dạ dày khác nhau đang tàn phá [301] nhân loại văn minh—nặng nề hơn nhiều so với các giống dân hoang sơ. Một số rối loạn ở bộ não và sinh lực suy kém cũng là những hệ quả.
IV. “The Great One fought and entered into combat. All that He met appeared to Him a subject for display of power. Within the fourth He found a field of battle and settled down to fight. He saw the right and knew the wrong and vibrated between the two, fighting first one and then the other, but missing all the time that midway point where battle is not known. There harmony, ease, rest and peaceful silence will be found. He weakened all the forms which used His strength and power. Yet all the time He sought for beauty; searched for loveliness; and yearned for peace. Despair overtook Him in His courses, and with despair the will-to-live could not survive. Yet all the time the loveliness was there.”
IV. “Đấng Cao Cả chiến đấu và bước vào cuộc giao tranh. Mọi điều Ngài gặp đều hiện ra trước Ngài như một đối tượng để phô bày quyền năng. Trong giới thứ tư, Ngài tìm được một chiến trường và trụ lại để chiến đấu. Ngài thấy điều đúng, biết điều sai và dao động giữa hai điều ấy, lúc thì chống lại điều này, lúc lại chống điều kia, nhưng luôn bỏ lỡ điểm ở giữa, nơi không hề có chiến trận. Ở đó có sự hài hòa, an nhiên, nghỉ ngơi và tĩnh lặng thanh bình. Ngài làm suy yếu mọi hình tướng sử dụng sức mạnh và quyền năng của Ngài. Thế nhưng suốt thời gian ấy, Ngài tìm kiếm cái đẹp; tìm kiếm vẻ mỹ lệ; và khao khát hòa bình. Tuyệt vọng ập đến với Ngài trên những nẻo đường của mình, và cùng với tuyệt vọng, ý chí hướng đến sự sống không thể tồn tại. Thế nhưng suốt thời gian ấy, vẻ mỹ lệ vẫn ở đó.”
Here we have a strong indication as to the reason why humanity (the fourth kingdom in nature) succumbs with such rapidity and such ease to disease. The conflicts to which humanity is so constantly summoned, both in group form and as individuals, lead—until understood and used as a means to triumph and progress—to a condition of constant devitalisation. Where this is present, resistance to disease fades out and practically all forms of ill health and bodily ills become possible. Diffusion of energy leads to a constant lessening of this resistance. As a result you have debility, quick and bad reaction to the disease indigenous in the planet itself, and a rapid taking on of infections and of contagious diseases. It is this energy which lies behind what we call epidemics, and influenza is one of its main expressions.[302]
Ở đây, chúng ta có một chỉ dấu rõ rệt về lý do vì sao nhân loại (giới thứ tư trong thiên nhiên) lại nhanh chóng và dễ dàng khuất phục trước bệnh tật đến thế. Những cuộc xung đột mà nhân loại liên tục được triệu tập tham gia, cả dưới hình thức nhóm lẫn với tư cách cá nhân, dẫn đến tình trạng không ngừng suy giảm sinh lực—cho đến khi con người thấu hiểu và sử dụng chúng như một phương tiện để chiến thắng và tiến bộ. Khi tình trạng này hiện diện, sức đề kháng với bệnh tật tiêu giảm, và hầu như mọi dạng sức khỏe suy kém cùng bệnh tật cơ thể đều có thể xảy ra. Sự phân tán năng lượng dẫn đến sự suy giảm liên tục của sức đề kháng này. Kết quả là sự suy nhược, phản ứng nhanh và bất lợi đối với bệnh tật vốn có trong chính hành tinh, cùng sự nhanh chóng nhiễm trùng và mắc các bệnh truyền nhiễm. Chính năng lượng này đứng sau điều chúng ta gọi là dịch bệnh, và cúm là một trong những biểu hiện chính của nó.[302]
V. “The Great One arose in His wrath and separated Himself. He swept aside the great dualities and saw primarily the field of multiplicity. He produced cleavage on every hand. He wrought with potent thought for separative action. He established barriers with joy. He brooked no understanding; He knew no unity, for He was cold, austere, ascetic and forever cruel. He stood between the tender, loving centre of all lives and the outer court of writhing, living men. Yet He stood not at the midway point, and naught He did sufficed to heal the breach. He widened all cleavages, erected barriers, and sought to make still wider gaps.”
V. “Đấng Cao Cả trỗi dậy trong cơn thịnh nộ và tự tách biệt. Ngài gạt sang một bên các cặp nhị nguyên lớn lao và chủ yếu chỉ thấy lĩnh vực đa tạp. Ngài tạo ra sự chia cắt khắp mọi nơi. Ngài vận dụng tư tưởng mạnh mẽ để thực hiện hành động chia rẽ. Ngài hoan hỉ dựng lên những rào cản. Ngài không dung nạp sự thấu hiểu; Ngài không biết đến sự hợp nhất, vì Ngài lạnh lùng, nghiêm khắc, khổ hạnh và luôn tàn nhẫn. Ngài đứng giữa trung tâm dịu dàng, đầy tình thương của mọi sự sống và ngoại viện của những con người đang sống trong quằn quại. Tuy nhiên, Ngài không đứng ở điểm ở giữa, và chẳng điều gì Ngài làm đủ để hàn gắn sự rạn nứt. Ngài nới rộng mọi sự chia cắt, dựng lên những rào cản và tìm cách làm cho những hố ngăn cách càng rộng hơn nữa.”
It has been most difficult to describe the nature of the imperfection of the energy of the Lord of the fifth ray. In the activity of this energy which demonstrates primarily upon the fifth or mental plane will be found eventually the source of many psychological disorders and mental trouble. Cleavage is the outstanding characteristic—cleavage within the individual or between the individual and his group, rendering him anti-social. I have dealt with this in an earlier part of this treatise and need not further enlarge upon the difficulties here (In Esoteric Psychology, Vol. II of A Treatise on the Seven Rays). Other results are certain forms of insanities, brain lesions and those gaps in the relation of the physical body to the subtle bodies which show as imbecilities and psychological troubles. Another form of disease, emerging as a result of this fifth ray force is migraine, which is caused by a lack of relationship between the energy around the pineal gland and that around the pituitary body.
Việc mô tả bản chất sự bất toàn của năng lượng Đấng Chúa Tể Cung năm là điều hết sức khó khăn. Cuối cùng, trong hoạt động của năng lượng này, vốn chủ yếu biểu lộ trên cõi thứ năm, tức cõi trí, người ta sẽ tìm thấy nguồn gốc của nhiều rối loạn tâm lý và vấn đề trí tuệ. Sự chia cắt là đặc tính nổi bật—sự chia cắt trong cá nhân hoặc giữa cá nhân và nhóm của y, khiến y trở nên chống đối xã hội. Tôi đã bàn về điều này trong một phần trước của khảo luận này và không cần nói rộng thêm về những khó khăn ấy ở đây (Trong Tâm Lý Học Nội Môn, Tập II của Luận về Bảy Cung). Những kết quả khác là một số dạng điên loạn, tổn thương não và những khoảng đứt đoạn trong mối liên hệ giữa thể xác với các thể vi tế, biểu hiện thành thiểu năng trí tuệ và những vấn đề tâm lý. Một dạng bệnh khác phát sinh từ mãnh lực cung năm này là chứng đau nửa đầu, do thiếu sự liên hệ giữa năng lượng quanh tuyến tùng và năng lượng quanh tuyến yên.
VI. “The Great One loved Himself in others and in all forms. On every hand, He saw objects of His [303] devotion and ever they proved to be Himself. Into these others He ever poured Himself, asking response and never getting it. Surely and with certainty the outlines of the forms so loved were lost, grew dim and disappeared. The objects of His love slowly faded out. Only a world of shadows, of mist and fog remain. And as He looked upon Himself, He said: Lord of Glamour, that am I, and the Angel of Bewilderment. Naught is clear to me. I love yet all seems wrong! I know that love is right and the spirit of the universe. What then is wrong?”
VI. “Đấng Cao Cả yêu chính Ngài trong những người khác và trong mọi hình tướng. Khắp mọi nơi, Ngài thấy những đối tượng của lòng [303] sùng tín của mình, và chúng luôn tỏ ra là chính Ngài. Ngài không ngừng tuôn chính mình vào những đối tượng khác ấy, đòi hỏi sự đáp ứng nhưng chẳng bao giờ nhận được. Một cách chắc chắn và không thể khác, những đường nét của các hình tướng được yêu thương đến thế mất dần, mờ đi rồi biến mất. Những đối tượng tình thương của Ngài dần phai nhạt. Chỉ còn lại một thế giới của bóng hình, sương mù và màn khói. Và khi nhìn chính mình, Ngài nói: Chúa Tể Ảo Cảm, chính là Tôi, và là Thiên Thần của Sự Hoang Mang. Chẳng có gì rõ ràng đối với Tôi. Tôi yêu thương, nhưng mọi sự dường như đều sai! Tôi biết tình thương là đúng đắn và là tinh thần của vũ trụ. Vậy điều gì đã sai?”
Curiously enough, it is the potency of this sixth ray force (as it feeds desire) which is responsible for much of the ills and diseases of humanity which are based upon the misuse of the mission and function of sex. Desire, bewilderment, weakness, perversions and the one-pointed development of sexual and other satisfactions grow out of the misuse of this energy. The bewilderment growing out of desire leads to a violently demanded satisfaction and the taking of those steps—some right and some wrong—which lead to satisfaction. The results cover a wide field, all the way from sadistic cruelty and lust to those marriages which are based on physical desire and to those conditions which lead to the many forms of sexual disease. A clue to this whole world-wide problem lies in the words of an ancient writing which says that “the imperfection of the Lord of the Sixth Ray opened the door to an erroneous marriage between the poles.”
Điều khá lạ lùng là chính tiềm lực của mãnh lực cung sáu này (khi nó nuôi dưỡng dục vọng) chịu trách nhiệm về phần lớn những chứng đau yếu và bệnh tật của nhân loại vốn bắt nguồn từ việc sử dụng sai sứ mệnh và chức năng của tính dục. Dục vọng, sự hoang mang, yếu đuối, những lệch lạc và sự phát triển nhất tâm hướng vào các thỏa mãn tính dục cùng những thỏa mãn khác đều phát sinh từ việc sử dụng sai năng lượng này. Sự hoang mang phát sinh từ dục vọng dẫn đến sự đòi hỏi thỏa mãn một cách mãnh liệt và việc thực hiện những bước—có bước đúng, có bước sai—để đạt đến sự thỏa mãn. Các kết quả trải rộng trên một lĩnh vực lớn, từ sự tàn nhẫn bạo dâm và dục vọng xác thịt đến những cuộc hôn nhân dựa trên ham muốn thể xác và những tình trạng dẫn đến nhiều dạng bệnh tính dục. Manh mối cho toàn bộ vấn đề trên khắp thế giới này nằm trong lời của một cổ thư, rằng “sự bất toàn của Đấng Chúa Tể Cung sáu đã mở cửa cho một sự kết hợp sai lầm giữa các cực.”
VII. “The Great One gathered to Himself His forces and affirmed His intention to create. He created that which is outer and can be seen. He saw His creations and liked them not and so withdrew His attention; then the creations He had made died [304] and disappeared. He had no lasting success and saw naught but failure as He travelled on the outer path of life. He comprehended not the need of forms. To some He gave an over-plus of life, to some too little; and so both kinds died and failed to show the beauty of the Lord who gave them life but failed to give them understanding. He knew not then that love sustains.”
VII. “Đấng Cao Cả quy tụ các mãnh lực của Ngài về mình và khẳng định ý định sáng tạo. Ngài tạo ra những gì ở bên ngoài và có thể nhìn thấy. Ngài nhìn những tạo vật của mình nhưng không ưa thích, nên thu hồi sự chú tâm; rồi những tạo vật Ngài đã làm ra chết [304] và biến mất. Ngài không có thành công bền vững và chẳng thấy gì ngoài thất bại khi đi trên con đường bên ngoài của sự sống. Ngài không lĩnh hội nhu cầu của các hình tướng. Với một số, Ngài ban quá nhiều sự sống; với một số khác, lại quá ít; và vì thế cả hai loại đều chết, không thể biểu lộ vẻ đẹp của Đấng Chúa Tể đã ban cho chúng sự sống nhưng không ban cho chúng sự thấu hiểu. Khi ấy, Ngài không biết rằng tình thương duy trì sự sống.”
The effects of this ray force are most peculiar and will be a great deal more prevalent than heretofore, as this ray is now coming into power. It is this energy which is largely responsible for infections and contagious diseases. The keynote of the work of the seventh ray is to bring together life and matter upon the physical plane. This, however, when viewed from the angle of imperfection, is a bringing together (if you can understand the implications) of Life, the lives and the general livingness of the creative process. This is symbolised by the promiscuity and the endless moving interplay of all life within all lives. The result is therefore the activity of all germs and bacteria within the medium which will best nurture them.
Những ảnh hưởng của mãnh lực cung này rất đặc biệt và sẽ phổ biến hơn trước rất nhiều, vì cung này hiện đang trở nên mạnh mẽ. Chính năng lượng này chịu trách nhiệm phần lớn về các tình trạng nhiễm trùng và bệnh truyền nhiễm. Chủ âm trong công việc của cung bảy là kết hợp sự sống và vật chất trên cõi hồng trần. Tuy nhiên, khi nhìn từ góc độ bất toàn, đây là sự kết hợp (nếu các bạn có thể thấu hiểu những hàm ý) giữa Sự Sống, các sự sống và tính sống động nói chung của tiến trình sáng tạo. Điều này được biểu tượng hóa qua sự pha trộn không phân biệt và sự tương tác vận động bất tận của mọi sự sống trong tất cả các sự sống. Do đó, kết quả là hoạt động của mọi vi trùng và vi khuẩn trong môi trường nuôi dưỡng chúng tốt nhất.
These are abstruse and difficult concepts, but they should be pondered upon, and deep reflection will lead to understanding. All disease and ill health are the result of the activity or the inactivity of one or other of the seven types of energy as they play upon the human body. All physical ills emerge out of the impact of these imperfect energies as they make their impact upon, enter into and pass through the centres in the body. All depends upon the condition of the seven centres in the human body; through these the impersonal energies play, carrying life, disease or death, stimulating the imperfections in the body or bringing healing to the body. All depends, as far as the human being is [305] concerned, upon the condition of the physical body, the age of the soul and the karmic possibilities.
Đây là những khái niệm thâm áo và khó hiểu, nhưng cần suy ngẫm về chúng, và sự suy tư sâu xa sẽ dẫn đến thấu hiểu. Mọi bệnh tật và tình trạng sức khỏe suy kém đều là kết quả của hoạt động hoặc sự bất hoạt của một trong bảy loại năng lượng khi chúng tác động lên thân thể con người. Mọi chứng bệnh thể chất đều phát sinh từ tác động của những năng lượng bất toàn này khi chúng tác động lên, đi vào và đi qua các trung tâm trong cơ thể. Tất cả đều tùy thuộc vào tình trạng của bảy trung tâm trong cơ thể con người; các năng lượng phi cá nhân tác động qua những trung tâm này, mang theo sự sống, bệnh tật hoặc cái chết, kích thích những sự bất toàn trong cơ thể hoặc mang sự chữa lành đến cho cơ thể. Đối với con người, tất cả đều [305] tùy thuộc vào tình trạng của thể xác, tuổi của linh hồn và những khả năng nghiệp quả.
I would ask you not to misinterpret the significance of the word “imperfection” which I have used so constantly in relation to the great Beings Who express a divinity unattainable by humanity at any time upon this particular planet. You must bear in mind that this solar system is the second, and that in the first solar system the emphasis was laid upon intelligent materiality; the goal of the highest initiate was to attain complete control over matter, to unfold the mind principle and to evidence a definite materialism. In these so distant aeons that marked attainment, whereas in this solar system it marks defeat for humanity. This system, including all the planets along with our Earth, has a different goal, and the second divine aspect, that of love, has to be manifested, and manifested through the medium of matter impregnated with the qualities developed in system one. What was perfection at that time is not so now. Therefore, the Great Beings which are the sumtotal of all that is, are working through and in substance, which is already tinged or tainted with that which must be left behind and subjected to no further unfoldment.
Tôi mong các bạn đừng hiểu sai thâm nghĩa của từ “bất toàn” mà Tôi đã liên tục sử dụng khi nói về các Đấng vĩ đại biểu lộ một thiên tính mà nhân loại không bao giờ có thể đạt tới trên hành tinh cụ thể này. Các bạn phải ghi nhớ rằng hệ mặt trời này là hệ thứ hai, và trong hệ mặt trời thứ nhất, trọng tâm đặt vào tính vật chất thông tuệ; mục tiêu của điểm đạo đồ cao nhất là đạt được sự kiểm soát hoàn toàn đối với vật chất, khai mở nguyên khí trí tuệ và biểu lộ một tính duy vật rõ rệt. Trong những đại kỳ xa xôi ấy, điều đó đánh dấu sự thành tựu, trong khi ở hệ mặt trời này, nó đánh dấu sự thất bại của nhân loại. Hệ này, bao gồm mọi hành tinh cùng với Trái Đất của chúng ta, có một mục tiêu khác, và phương diện thiêng liêng thứ hai, tức tình thương, phải được biểu lộ, và biểu lộ thông qua vật chất thấm đẫm những phẩm tính đã phát triển trong hệ thứ nhất. Điều từng là toàn hảo vào thời ấy nay không còn là toàn hảo nữa. Do đó, các Đấng Vĩ Đại, vốn là tổng thể của mọi sự hiện hữu, đang hoạt động thông qua và trong chất liệu đã nhuốm màu hay vết nhiễm của những gì phải được để lại phía sau và không được khai mở thêm nữa.
These are the imperfections which we are considering—the seven aspects of intelligent materiality; it is here that disease has its seat and expression. We are told that the physical body is not a principle; in the last solar system it was. In this, the principles are different and it is in the clash between what is and what will be (what wills-to-be) that we have, upon the physical plane, the causes of disease and death. Ponder on these matters and bear in mind that you must see the picture upon a large scale, as large a scale as possible, if there is to be a true understanding of some of the causes of physical ills and disease.
Đó là những sự bất toàn mà chúng ta đang xem xét—bảy phương diện của tính vật chất thông tuệ; chính tại đây bệnh tật có chỗ trú và biểu lộ. Chúng ta được cho biết rằng thể xác không phải là một nguyên khí; trong hệ mặt trời trước, nó là một nguyên khí. Trong hệ này, các nguyên khí đã khác, và chính trong sự va chạm giữa cái đang là và cái sẽ là (cái có ý chí trở thành) mà trên cõi hồng trần, chúng ta có những nguyên nhân của bệnh tật và cái chết. Hãy suy ngẫm về những vấn đề này và ghi nhớ rằng các bạn phải nhìn bức tranh trên một quy mô rộng lớn, rộng lớn hết mức có thể, nếu muốn thực sự thấu hiểu phần nào các nguyên nhân của những chứng đau yếu và bệnh tật thể chất.
CHAPTER IV - Some Questions Answered – CHƯƠNG IV - Giải Đáp Một Số Câu Hỏi
[306]
[306]
Most questions asked by the neophyte would remain unasked if he had more patience and understood better what he was studying. Beginners need to await developments in themselves and expand their consciousness normally under instruction. However, the teacher may invite the asking of questions and for reasons:
Phần lớn những câu hỏi của người sơ cơ sẽ không được đặt ra nếu y kiên nhẫn hơn và thấu hiểu rõ hơn điều mình đang nghiên cứu. Người mới bắt đầu cần chờ đợi những phát triển trong chính mình và mở rộng tâm thức một cách bình thường dưới sự hướng dẫn. Tuy nhiên, huấn sư có thể khuyến khích việc đặt câu hỏi vì những lý do sau:
1. Because where a group is involved and the members are very intelligent, through their questionings they could make much progress in learning to know and understand each other. Threads of intercourse could be set up which would link them more closely together.
1. Vì khi có một nhóm và các thành viên đều rất thông minh, thông qua những câu hỏi, họ có thể tiến bộ nhiều trong việc học cách biết và thấu hiểu nhau. Những sợi dây giao tiếp có thể được thiết lập, liên kết họ chặt chẽ hơn.
2. Because through the questions, the teacher himself can enter into a closer rapport with the students’ viewpoint. For example, myself, and the Western point of view as regards the healing art.
2. Vì qua những câu hỏi, chính huấn sư có thể gần gũi và hòa hợp hơn với quan điểm của các đạo sinh. Chẳng hạn, chính Tôi với quan điểm phương Tây về nghệ thuật chữa lành.
Forget not that I am an Oriental in the last analysis, and such is my background and training. I may know profoundly more about the healing art than you do and about the energies which constitute the human body, but your point of view, your terminologies, and your attitudes of mind are still somewhat foreign to me. Your questions would help me to understand your background and your limitations, and so enable me to aid you with greater intelligence.
Đừng quên rằng xét cho cùng, Tôi là người phương Đông, và đó là nền tảng cũng như sự đào luyện của Tôi. Tôi có thể hiểu biết sâu sắc hơn các bạn rất nhiều về nghệ thuật chữa lành và về những năng lượng cấu thành cơ thể con người, nhưng quan điểm, hệ thuật ngữ và những thái độ trí tuệ của các bạn vẫn còn phần nào xa lạ đối với Tôi. Những câu hỏi của các bạn sẽ giúp Tôi thấu hiểu nền tảng và những giới hạn của các bạn, nhờ đó cho phép Tôi trợ giúp các bạn một cách sáng suốt hơn.
[307]
[307]
3. Because asking of intelligent questions is the occult method of focussing the mind, of synthesising knowledge, and of becoming aware of the field of inquiry, and of possible expansions of consciousness.
3. Vì việc đặt những câu hỏi thông minh là phương pháp huyền bí để tập trung thể trí, tổng hợp tri thức và nhận biết lĩnh vực tìm hiểu cùng những khả năng mở rộng tâm thức.
On the Nature of Congestion.
Về Bản Chất của Sự Ứ Đọng.
How can I define congestion for you when the understanding of force and energy and their relation to each other in the human body is still as yet an embryonic study? To say that congestion is congealed force is misleading; to say that it is static energy means little; to say that it is irregular or non-rhythmic vibration hardly makes sense. My problem is lack of words and of correct terms in which to carry to you esoteric truth.
Làm sao Tôi có thể định nghĩa sự ứ đọng cho các bạn khi việc thấu hiểu mãnh lực, năng lượng và mối liên hệ giữa chúng trong cơ thể con người vẫn còn là một lĩnh vực nghiên cứu phôi thai? Nói rằng sự ứ đọng là mãnh lực đông kết thì gây hiểu lầm; nói rằng đó là năng lượng tĩnh thì chẳng có mấy ý nghĩa; nói rằng đó là rung động bất thường hoặc không theo nhịp điệu thì hầu như không làm sáng tỏ được gì. Khó khăn của Tôi là thiếu từ ngữ và những thuật ngữ chính xác để truyền đạt chân lý huyền bí đến các bạn.
Congestion is perhaps best defined as the arresting of the free flow of the force through the centres or centre and throughout the body. It exists in two forms:
Có lẽ cách định nghĩa tốt nhất về sự ứ đọng là sự ngăn chặn dòng lưu chuyển tự do của mãnh lực qua các trung tâm hoặc một trung tâm và khắp cơ thể. Nó tồn tại dưới hai dạng:
1. That congestion which produces its effect within the centre itself, and therefore and consequently, upon the gland. It is inhibited, either as it pours into the centre (when it does not affect the gland except in a negative sense), or as it leaves it (when its effect will be positive in some way or another). When the difficulty takes place as it pours into the centre, then the energy is thrown back upon its originating source—either the astral or mental bodies—and you have a psychological inhibition. There is no impetus from within to which the allied gland can respond. When the difficulty is in the outlet into the physical body, you will have no free flow of force, the gland related to the centre will be definitely affected, and either be overstimulated by the nonrhythmic flow or undernourished. This in turn affects the glandular secretion and later the blood stream.[308]
1. Sự ứ đọng tạo ra ảnh hưởng ngay trong chính trung tâm, và vì vậy, tiếp đó tác động lên tuyến. Mãnh lực bị ngăn lại khi tuôn vào trung tâm (khi ấy nó không tác động lên tuyến, ngoại trừ theo nghĩa tiêu cực), hoặc khi rời khỏi trung tâm (khi ấy ảnh hưởng của nó sẽ mang tính tích cực theo cách này hay cách khác). Khi khó khăn xảy ra lúc mãnh lực tuôn vào trung tâm, năng lượng bị dội trở lại nguồn phát sinh của nó—thể cảm dục hoặc thể trí—và các bạn có một sự ức chế tâm lý. Không có xung lực nào từ bên trong để tuyến liên kết có thể đáp ứng. Khi khó khăn nằm ở lối thoát vào thể xác, sẽ không có dòng mãnh lực lưu chuyển tự do, tuyến liên quan đến trung tâm chắc chắn sẽ chịu ảnh hưởng, hoặc bị dòng lưu chuyển không theo nhịp điệu kích thích quá mức, hoặc không được nuôi dưỡng đầy đủ. Đến lượt điều này ảnh hưởng đến sự tiết dịch của tuyến, và sau đó đến dòng máu.[308]
2. That congestion which takes place as the energy or the life force flows throughout the physical body, and as it flows finds there certain forms of weakness, various diseased areas and regions where its flow is impeded or too rapidly circulated. The flow of energy can be arrested in certain areas and can nourish also diseased areas in the body, or can also cure and cleanse them. A temporary congestion can be of beneficent value as well as a malefic force. This may surprise you?
2. Sự ứ đọng xảy ra khi năng lượng hay mãnh lực sự sống lưu chuyển khắp thể xác và trong quá trình ấy gặp những dạng suy yếu nhất định, những vùng bệnh khác nhau và những khu vực nơi dòng lưu chuyển bị cản trở hoặc tuần hoàn quá nhanh. Dòng năng lượng có thể bị chặn lại ở một số vùng và cũng có thể nuôi dưỡng những vùng bệnh trong cơ thể, hoặc cũng có thể chữa lành và thanh lọc chúng. Sự ứ đọng tạm thời có thể mang giá trị hữu ích cũng như có thể là một mãnh lực gây hại. Điều này có thể khiến các bạn ngạc nhiên?
Again, I have to repeat how vast is the subject with which we are dealing, and all these earlier instructions and the answers which I give to the questions only serve to show how abstruse the matter is. But if you will have patience and will be willing to learn by absorption more than by analysis, you will later discover that you know much—intuitively and discriminately.
Một lần nữa, Tôi phải nhắc lại rằng chủ đề chúng ta đang bàn đến rộng lớn biết bao, và tất cả những huấn thị trước đây cùng những câu trả lời Tôi đưa ra chỉ giúp cho thấy vấn đề thâm áo đến mức nào. Nhưng nếu các bạn kiên nhẫn và sẵn lòng học bằng sự thấm nhuần nhiều hơn bằng phân tích, về sau các bạn sẽ khám phá ra rằng mình biết rất nhiều—bằng trực giác và sự phân biện.
On Ascertaining the Location of Congestion.
Về Việc Xác Định Vị Trí Ứ Đọng.
There are three ways whereby the healer can ascertain the presence and the location of congestion and any other form of difficulty-producing objective disease:
Có ba cách để người chữa lành xác định sự hiện diện và vị trí của sự ứ đọng cùng bất kỳ dạng khó khăn nào khác gây ra bệnh tật khách quan:
1. There is, first of all, clairvoyance which enables the healer to see visually where the difficulty lies. This form of diagnosis is not always accurate and can be “coloured” by conditions present in the healer himself.
1. Trước hết là khả năng thông nhãn, cho phép người chữa lành nhìn thấy chỗ xảy ra khó khăn. Hình thức chẩn đoán này không phải lúc nào cũng chính xác và có thể “nhuốm màu” những tình trạng hiện diện trong chính người chữa lành.
2. There is a form of direct perception, a process of “clear knowing,” which is a soul faculty and infallible, once a person has been rightly trained in its use. It is a blend of mental and spiritual perception and is definite knowledge, or an intuition, if you like, which enables the healer unerringly to put his finger on the place of difficulty and to know its cause, its effect and its end.[309]
2. Có một dạng tri giác trực tiếp, một tiến trình “biết rõ”, vốn là một năng lực của linh hồn và không thể sai lầm khi người ta đã được huấn luyện đúng cách để sử dụng nó. Đó là sự kết hợp giữa tri giác trí tuệ và tri giác tinh thần, là sự biết chắc chắn, hoặc một trực giác nếu các bạn muốn gọi như vậy, cho phép người chữa lành chỉ đúng chỗ xảy ra khó khăn mà không sai lệch, và biết được nguyên nhân, hệ quả cùng kết cục của nó.[309]
3. There is also a more physical method, which is based on sensitivity in the lower nature, which enables the healer to register in his own body the same difficulty of which the patient is aware. This is called “occult transference” and should only be employed by those who know how to absorb and to dissipate. In this case, the healer can also feel the cause of the disease through the pouring in of energy to the etheric counterpart of the physical plane disease, or as an extreme emotionalism or sensitive response in the astral counterpart.
3. Còn có một phương pháp thiên về thể chất hơn, dựa trên tính nhạy cảm của bản chất thấp, cho phép người chữa lành ghi nhận trong chính cơ thể mình cùng một khó khăn mà bệnh nhân cảm nhận. Điều này được gọi là “sự chuyển dịch huyền bí” và chỉ những người biết cách hấp thu và làm tiêu tan mới nên sử dụng. Trong trường hợp này, người chữa lành cũng có thể cảm nhận nguyên nhân của bệnh qua sự tuôn vào của năng lượng đến đối phần dĩ thái của căn bệnh trên cõi hồng trần, hoặc dưới dạng cảm xúc cực độ hay một đáp ứng nhạy cảm trong đối phần cảm dục.
On the Dual Cause of Congestion.
Về Nguyên Nhân Kép của Sự Ứ Đọng.
Let me make one or two concise statements and then explain. First, subjective condition alone cannot cause an outer congestion. The soul has arranged to express itself through the medium of a body which has certain predispositions.
Hãy để Tôi đưa ra một hai phát biểu ngắn gọn rồi giải thích. Trước hết, chỉ riêng tình trạng chủ quan không thể gây ra sự ứ đọng bên ngoài. Linh hồn đã sắp đặt để biểu lộ qua một thân thể có những khuynh hướng sẵn có nhất định.
Second, the subjective is a causative factor when in collaboration with the inherited tendencies of the physical body; therefore, all congestion cannot be avoided, for the subjective life determines the condition and the physical body is predisposed to certain diseases. This is the will of the soul. Might I point out that at this stage of human evolution, no subjective conditions are ever right?
Thứ hai, yếu tố chủ quan là một nhân tố gây bệnh khi phối hợp với những khuynh hướng di truyền của thể xác; do đó, không thể tránh được mọi sự ứ đọng, vì đời sống chủ quan quyết định tình trạng, còn thể xác vốn có khuynh hướng mắc một số bệnh nhất định. Đây là ý chí của linh hồn. Tôi xin chỉ ra rằng, ở giai đoạn tiến hoá này của nhân loại, không có tình trạng chủ quan nào hoàn toàn đúng đắn.
Third, an outer condition alone cannot be a causative factor. If I am right in my major premises (and this the new and coming science will prove), then the observations of the medical world will need to be readjusted to the facts. The causative factor exists in the meeting of the inner and the outer existing factors.
Thứ ba, một tình trạng bên ngoài đơn độc không thể là nhân tố gây bệnh. Nếu những tiền đề chính của Tôi là đúng (và nền khoa học mới đang hình thành sẽ chứng minh điều này), thì giới y học sẽ cần điều chỉnh những nhận định của mình cho phù hợp với thực tế. Nhân tố gây bệnh nằm ở sự gặp gỡ giữa các yếu tố hiện hữu bên trong và bên ngoài.
Let me make the matter a little clearer, for confusion may be caused by the idea that disease is the result of two causes—an inner cause and an outer cause. The subjective [310] situation is the initiating cause. Some psychological factor, leading to a wrong use of energy, sets in motion those inner tendencies which find their way out, as vital determining factors, on to the physical plane. There they come into contact with the physical body or expression which has certain predispositions, certain inherited weaknesses, certain glandular deficiencies—all of which were part of the needed equipment whereby the soul determined that certain needed lessons should he mastered. The relation established between the outer and the inner forces is the basic cause (expressing itself in two causes) which produces some form of disease. It is again the negative and the positive aspects brought into a relation which produces a third factor: the manifestation of some form of disease.
Tôi xin làm rõ vấn đề thêm đôi chút, vì ý tưởng cho rằng bệnh tật là kết quả của hai nguyên nhân—một nguyên nhân bên trong và một nguyên nhân bên ngoài—có thể gây nhầm lẫn. Tình trạng chủ quan [310] là nguyên nhân khởi phát. Một yếu tố tâm lý nào đó, dẫn đến việc sử dụng năng lượng sai lầm, khởi động những khuynh hướng bên trong vốn tìm đường biểu lộ trên cõi hồng trần như những nhân tố quyết định có sức sống. Tại đó, chúng tiếp xúc với thể xác, hay sự biểu hiện hồng trần, vốn có những khuynh hướng nhất định, những điểm yếu di truyền nhất định, những khiếm khuyết tuyến nhất định—tất cả đều là một phần của bộ trang bị cần thiết mà qua đó linh hồn quyết định rằng phải nắm vững một số bài học cần thiết. Mối quan hệ được thiết lập giữa các mãnh lực bên ngoài và bên trong là nguyên nhân căn bản (biểu hiện thành hai nguyên nhân) làm phát sinh một dạng bệnh nào đó. Một lần nữa, chính hai phương diện âm và dương được đưa vào mối quan hệ với nhau làm phát sinh một yếu tố thứ ba: sự biểu hiện của một dạng bệnh nào đó.
If you speak of perfect physical conditions, I know of no such conditions or of any physical body or physical environment to which such a term could be applied. There must be both the inner psychological situation and cause, which is the subjective reality (on a tiny scale), and the outer physical condition, manifesting as a weakness or as imperfections; these, in their turn, are a tendency from a previous life, a predisposition, an hereditary lesion or a latent difficulty, based on earlier life interests or malpractice. Bring these two major determining factors together and—under the law—you will inevitably have some visible manifestation of physical disease or difficulty; this can be serious or relatively unimportant; it can be dangerous to life or capable of providing only temporary discomfort. No outer condition alone is adequate to produce disease, but the difficulty is that modern medicine does not yet permit the hypothesis of hidden cause except those superficial ones such as, for instance, that worry and intense anxiety can aggravate existing heart trouble. It does not yet permit of those factors which trace back to an earlier life. In the case of contagious [311] diseases, the inner cause is of group origin, and has therefore an outer group effect and is an expression of group karma. The difficulty of the matter is consequently great.
Nếu các bạn nói đến những tình trạng hồng trần hoàn hảo, thì Tôi không biết có tình trạng nào như vậy, cũng không biết có thể xác hay môi trường hồng trần nào có thể mang danh xưng ấy. Phải có cả tình trạng và nguyên nhân tâm lý bên trong, vốn là thực tại chủ quan (ở một quy mô rất nhỏ), lẫn tình trạng hồng trần bên ngoài, biểu hiện thành một điểm yếu hoặc những khiếm khuyết; đến lượt mình, những điều này là một khuynh hướng từ kiếp trước, một tố chất dễ mắc bệnh, một tổn thương di truyền hoặc một khó khăn tiềm ẩn, bắt nguồn từ những mối quan tâm hoặc những thực hành sai lầm trong đời sống trước. Khi hai nhân tố quyết định chính này kết hợp với nhau thì—theo định luật—chắc chắn sẽ có một biểu hiện hữu hình nào đó của bệnh tật hoặc khó khăn nơi thể xác; biểu hiện này có thể nghiêm trọng hoặc tương đối không đáng kể; có thể đe doạ tính mạng hoặc chỉ gây khó chịu tạm thời. Không một tình trạng bên ngoài đơn độc nào đủ sức gây bệnh, nhưng khó khăn là y học hiện đại chưa chấp nhận giả thuyết về những nguyên nhân ẩn giấu, ngoại trừ các nguyên nhân bề ngoài như, chẳng hạn, sự lo lắng và lo âu dữ dội có thể làm trầm trọng thêm chứng bệnh tim sẵn có. Y học chưa thừa nhận những yếu tố có nguồn gốc từ một kiếp sống trước. Trong trường hợp các bệnh truyền nhiễm [311], nguyên nhân bên trong có nguồn gốc nhóm, do đó tạo ra một tác động nhóm bên ngoài và là biểu hiện của nghiệp quả nhóm. Vì vậy, khó khăn của vấn đề này rất lớn.
There must be, as you perceive, two existing factors, and these, when related and stimulated, produce the appearance of disease. It should be remembered that the question of the soul’s choosing of a body and the type of vehicle wherein certain types of lessons can be learned and certain educative experiences mastered, is a little-understood theme. In connection with this, I would remind you that disease is often a mode of clearance and ultimately beneficent in its effects. It is the working out into manifestation of an inner undesirable factor, and when the inner and the outer causes are brought out into the clear light of day they can be handled, understood and often dissipated and ended through the tribulation of disease and suffering. But this is a hard saying.
Như các bạn nhận thấy, phải có hai yếu tố hiện hữu, và khi chúng liên hệ với nhau và được kích thích, chúng làm bệnh tật xuất hiện. Cần nhớ rằng việc linh hồn lựa chọn một thân thể và loại hiện thể trong đó có thể học một số loại bài học và nắm vững một số kinh nghiệm mang tính giáo dục là một chủ đề còn ít được thấu hiểu. Liên quan đến điều này, Tôi muốn nhắc các bạn rằng bệnh tật thường là một phương thức thanh lọc và cuối cùng mang lại những tác động có lợi. Đó là sự biểu lộ ra ngoài của một yếu tố bất hảo bên trong, và khi các nguyên nhân bên trong lẫn bên ngoài được đưa ra ánh sáng rõ ràng, người ta có thể xử lý, thấu hiểu, và thường làm tiêu tan cũng như chấm dứt chúng qua thử thách của bệnh tật và đau khổ. Nhưng đây là một lời khó chấp nhận.
On Certain Types of Disease.
Về Một Số Loại Bệnh.
Arthritis and diabetes are both diseases which have their origin in the astral body, but if I might put it so inadequately, arthritis is primarily more objective than diabetes, being the result of the satisfaction of physical desire as it expresses itself through food, either in this life or the previous one. There would be little or no arthritis if the race ate with correctness and understood the proper food values and effects. Diabetes is more definitely the result of wrong inner desires, and is not so definitely the result of wrong outer desires. These may originate in this life, as I have said above, or be inherited from a previous existence. In this latter case, the incarnating soul chooses a family in which to be born, which will endow it with a body having a tendency or a natural predisposition to this disease.
Viêm khớp và đái tháo đường đều là những bệnh có nguồn gốc trong thể cảm dục, nhưng nếu Tôi có thể diễn đạt một cách chưa thoả đáng như thế này, thì viêm khớp về căn bản mang tính khách quan hơn đái tháo đường, vì nó là kết quả của việc thoả mãn dục vọng thể chất khi dục vọng ấy biểu hiện qua thức ăn, trong kiếp này hoặc kiếp trước. Sẽ có rất ít hoặc không có bệnh viêm khớp nếu nhân loại ăn uống đúng cách và thấu hiểu đúng giá trị cũng như tác dụng của thực phẩm. Đái tháo đường rõ ràng hơn là kết quả của những dục vọng sai lầm bên trong, và không rõ rệt đến thế là kết quả của những dục vọng sai lầm bên ngoài. Như Tôi đã nói ở trên, những dục vọng này có thể bắt nguồn trong kiếp này, hoặc được thừa hưởng từ một kiếp sống trước. Trong trường hợp sau, linh hồn đang nhập thể chọn một gia đình để sinh ra, gia đình ấy sẽ trao cho linh hồn một thân thể có khuynh hướng hoặc tố chất tự nhiên dễ mắc bệnh này.
[312]
[312]
There lies here a vast field of investigation; isolation must be made of the types which easily fall a prey to certain group diseases.
Ở đây có một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn; cần phân loại riêng những kiểu người dễ mắc một số bệnh nhóm nhất định.
Syphilis and arthritis fall into the category of diseases which are largely based upon the satisfaction of physical desire. Cancer and diabetes are more definitely in the class of diseases which are connected with inner emotional desires and the violent suppressed wish-life of many. The infectious diseases, such as measles and scarlet fever, smallpox or cholera are, curiously enough, definitely group diseases and are definitely allied with the mental nature. This will surprise you but so it is.
Giang mai và viêm khớp thuộc nhóm bệnh phần lớn bắt nguồn từ việc thoả mãn dục vọng thể chất. Ung thư và đái tháo đường rõ ràng hơn thuộc nhóm bệnh liên quan đến những dục vọng cảm xúc bên trong và đời sống ước muốn mãnh liệt bị dồn nén của nhiều người. Điều khá lạ là các bệnh truyền nhiễm, như sởi và sốt tinh hồng nhiệt, đậu mùa hoặc dịch tả, rõ ràng là những bệnh nhóm và rõ ràng có liên hệ với bản chất trí tuệ. Điều này sẽ khiến các bạn ngạc nhiên, nhưng quả thực là như vậy.
A student with some insight into occult causes might suppose that when people are changing their focus of attention from the physical nature to the emotional, or from the emotional to the mental, that they become liable to acquire the ancient diseases, such as syphilis and cancer, which the Lemurians acquired. This is not so.
Một đạo sinh có đôi chút hiểu biết sâu sắc về các nguyên nhân huyền bí có thể cho rằng khi con người chuyển trọng tâm chú ý từ bản chất hồng trần sang bản chất cảm xúc, hoặc từ bản chất cảm xúc sang bản chất trí tuệ, họ trở nên dễ mắc những bệnh có từ thời xa xưa, như giang mai và ung thư, mà người Lemuria từng mắc phải. Không phải như vậy.
I would remind you that people do not incur these diseases because they made a shift in their consciousness, but through misuse of certain God-given powers. The shift in awareness and the disease are not remotely related to each other. I would remind you, as well, that today people are a blend of the three states of energy which we call physical, emotional and mental, which are the Lemurian, the Atlantean and the Aryan states of consciousness. Scarcely anyone today is a pure type, i.e., predominantly one or the other. They are usually a mixture of all three. You will find it difficult to find a person or a patient “changing his focus of attention from physical to emotional.” He will be either emotional or mental, and at brief times, and from a purely physiological standpoint, physical. The clearest lines of demarcation are to be seen in the case of disciples who are definitely and consciously endeavouring to [313] shift their focus of attention on to the mental plane. Nevertheless, they live predominantly in a region which we call kama-manasic, which means both astral and mental. It is an intermediate level of consciousness. Only broad generalisations are therefore possible. Such a generalisation is that syphilitic conditions are more generally physical in their origin than cancer. Clear lines of demarcation are not possible, and you must always remember that certain diseases may work out in a particular incarnation which have their origin in a very distant past; the seeds of the condition have lain dormant in the so-called permanent atom for ages. They may not be rooted in the tenor or quality of the present life at all. Suddenly they spring to life and influence the present incarnation, and incidentally, proffer opportunity for release.
Tôi muốn nhắc các bạn rằng con người không mắc những bệnh này vì đã chuyển dịch tâm thức, mà vì sử dụng sai một số quyền năng do Thượng đế ban cho. Sự chuyển dịch nhận biết và bệnh tật hoàn toàn không liên quan với nhau. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng con người ngày nay là sự pha trộn của ba trạng thái năng lượng mà chúng ta gọi là hồng trần, cảm xúc và trí tuệ, tức các trạng thái tâm thức Lemuria, Atlantis và Arya. Ngày nay, hầu như không ai thuộc một kiểu thuần nhất, nghĩa là chủ yếu thuộc hẳn kiểu này hay kiểu kia. Họ thường là sự pha trộn của cả ba. Các bạn sẽ khó tìm thấy một người hay một bệnh nhân đang “chuyển trọng tâm chú ý từ hồng trần sang cảm xúc”. Y sẽ thiên về cảm xúc hoặc trí tuệ, và trong những khoảng thời gian ngắn, xét thuần tuý về mặt sinh lý, thiên về hồng trần. Có thể thấy những ranh giới phân định rõ nhất nơi các đệ tử đang kiên quyết và có ý thức nỗ lực [313] chuyển trọng tâm chú ý lên cõi trí. Tuy nhiên, họ chủ yếu sống trong một vùng mà chúng ta gọi là trí-cảm, nghĩa là vừa cảm dục vừa trí tuệ. Đây là một cấp độ tâm thức trung gian. Do đó, chỉ có thể đưa ra những khái quát rộng. Một khái quát như vậy là các tình trạng giang mai thường có nguồn gốc hồng trần hơn ung thư. Không thể vạch ra những ranh giới phân định rõ ràng, và các bạn phải luôn nhớ rằng một số bệnh có thể biểu lộ trong một kiếp nhập thể nhất định nhưng lại có nguồn gốc từ một quá khứ rất xa; những hạt giống của tình trạng ấy đã nằm tiềm phục trong cái gọi là nguyên tử trường tồn suốt nhiều thời đại. Chúng có thể hoàn toàn không bắt nguồn từ chiều hướng hay phẩm tính của kiếp sống hiện tại. Đột nhiên chúng trỗi dậy, tác động đến kiếp nhập thể hiện tại, và đồng thời đem lại cơ hội giải thoát.
On Fever.
Về Sốt.
Fever is simply indication of trouble and is a basic way of purification and of elimination. It is an indicator and not a disease in itself. Ponder on this, and apply it on all planes, for physical plane fever has its astral and mental counterparts. It is overexcessive energy which burns up and, in burning, relieves and cures (either through the subjugation of the germ or group of energies which caused it or by the releasing power of death). Where possible, and when the physical body is strong enough to stand the strain, it is well to let the fever have its way for a time, for it is nature’s cure of certain undesirable conditions. Fevers not only give warning of the presence of that which causes distress, but have in themselves definite therapeutic value. But careful watching and balancing will be required—balancing against the energies of the body. Whilst the fever is rampant, the body is rendered relatively futile, and its normal activities are affected. As to the cure and the correct [314] treatment of fevers, much is known by the orthodox medical profession, and this knowledge will suffice until such time as the causes of fevers are better understood and physicians can work with the cause and not with the effect.
Sốt chỉ đơn giản là dấu hiệu của sự bất ổn và là một phương thức cơ bản để thanh lọc và đào thải. Nó là một chỉ báo, bản thân nó không phải là bệnh. Hãy suy ngẫm về điều này và áp dụng trên mọi cõi, vì sốt ở cõi hồng trần có những đối phần cảm dục và trí tuệ. Đó là năng lượng dư thừa quá mức bùng cháy và, trong khi cháy, làm dịu và chữa lành (hoặc bằng cách chế ngự mầm bệnh hay nhóm năng lượng đã gây ra nó, hoặc bằng quyền năng giải thoát của cái chết). Khi có thể, và khi thể xác đủ mạnh để chịu đựng sự căng thẳng, nên để cơn sốt diễn tiến trong một thời gian, vì đó là phương thức tự nhiên chữa trị một số tình trạng bất hảo. Những cơn sốt không chỉ cảnh báo về sự hiện diện của yếu tố gây đau đớn, mà bản thân chúng còn có giá trị trị liệu rõ rệt. Nhưng cần theo dõi và cân bằng cẩn thận—cân bằng với các năng lượng của cơ thể. Trong khi cơn sốt hoành hành, cơ thể trở nên tương đối bất lực, và các hoạt động bình thường của nó chịu ảnh hưởng. Về việc chữa trị và [314] điều trị sốt đúng cách, giới y học chính thống đã biết nhiều, và kiến thức này sẽ đủ dùng cho đến khi các nguyên nhân gây sốt được thấu hiểu rõ hơn và các thầy thuốc có thể xử lý nguyên nhân thay vì hệ quả.
Over-emotionalism is an astral correspondence of physical fever and indicates a rampant germ of desire which must be dealt with before the fever can subside. An overactive mind which is ill-regulated, very busy but futile in accomplishment, is the mental correspondence.
Tình trạng cảm xúc quá mức là sự tương ứng trên cõi cảm dục với cơn sốt thể xác và cho thấy một mầm dục vọng đang hoành hành, cần phải xử lý trước khi cơn sốt có thể hạ xuống. Một thể trí hoạt động quá mức, thiếu điều tiết, rất bận rộn nhưng không đạt được thành quả gì, là sự tương ứng trên cõi trí.
On the Cure of Cancer.
Về Việc Chữa Trị Ung Thư.