Trích nội dung chương
In all disease of malignant nature, there is a vital core or a living spot of energy which is absorbing, slowly or quickly, as the case may be, the life force in the man. In the early stages of such a disease as cancer, the vital core is not found until the malignant condition is established so potently that it is exceedingly difficult to do anything helpful. Yet the cure is only possible in these early developments and then the cure can be effected, but only again if the will of the patient is invoked. Little can be done in cancer cases unless there is the intelligent cooperation of the one to be healed, for the only method (which I may…
In all disease of malignant nature, there is a vital core or a living spot of energy which is absorbing, slowly or quickly, as the case may be, the life force in the man. In the early stages of such a disease as cancer, the vital core is not found until the malignant condition is established so potently that it is exceedingly difficult to do anything helpful. Yet the cure is only possible in these early developments and then the cure can be effected, but only again if the will of the patient is invoked. Little can be done in cancer cases unless there is the intelligent cooperation of the one to be healed, for the only method (which I may later elaborate) is to blend the directed will of the patient and of the healing group together into one functioning unit of force. When this has been done, then the invoked and concentrated energy will follow thought, under the ancient law, and so stimulate the area surrounding the cancer (that is, the healthy tissue) that the absorption of the weakened, diseased tissue by the stronger tissue can take place. If the energy is directed to the cancer itself, the cancerous condition will be stimulated and the trouble many times increased. The curing of cancer in the early stages falls therefore into two parts: [315]
Trong mọi bệnh có tính chất ác tính, có một lõi sinh lực hay một điểm năng lượng sống đang hút dần, chậm hoặc nhanh tuỳ trường hợp, sinh lực trong con người. Ở những giai đoạn đầu của một bệnh như ung thư, người ta chưa tìm thấy lõi sinh lực ấy cho đến khi tình trạng ác tính đã hình thành mạnh đến mức cực kỳ khó thực hiện bất cứ điều gì hữu ích. Tuy nhiên, chỉ có thể chữa lành trong những giai đoạn phát triển ban đầu này, và khi ấy có thể thực hiện việc chữa lành, nhưng cũng chỉ khi khơi dậy được ý chí của bệnh nhân. Trong các ca ung thư, khó có thể làm được nhiều nếu không có sự hợp tác sáng suốt của người cần được chữa lành, vì phương pháp duy nhất (mà sau này Tôi có thể trình bày chi tiết) là hoà trộn ý chí được định hướng của bệnh nhân và của nhóm chữa lành thành một đơn vị mãnh lực hoạt động thống nhất. Khi đã làm được điều này, năng lượng được khẩn cầu và tập trung sẽ theo tư tưởng, theo định luật cổ xưa, và kích thích vùng bao quanh khối ung thư (nghĩa là mô lành) đến mức mô khoẻ hơn có thể hấp thụ mô bệnh đã suy yếu. Nếu hướng năng lượng vào chính khối ung thư, tình trạng ung thư sẽ được kích thích và sự bất ổn sẽ gia tăng gấp nhiều lần. Vì vậy, việc chữa ung thư trong những giai đoạn đầu gồm hai phần: [315]
1. The stimulating of the healthy tissue.
1. Kích thích mô lành.
2. The building in of new tissue to replace the diseased tissue which is being gradually absorbed and driven out.
2. Tạo dựng mô mới để thay thế mô bệnh đang dần được hấp thụ và đào thải.
Cancer always makes its appearance before there is transmutation of the emotional force, for the reason that there are few disciples (and therefore still fewer of the ordinary and majority of people) who have so transmuted emotion. This condition of freedom from emotion is so seldom to be found that—at this stage of the world’s history—it may be said that it does not exist.
Ung thư luôn xuất hiện trước khi mãnh lực cảm xúc được chuyển hoá, vì có ít đệ tử (và do đó càng ít hơn nữa trong số những người bình thường chiếm đa số) đã chuyển hoá cảm xúc như vậy. Hiếm khi có được trạng thái thoát khỏi cảm xúc này đến mức—ở giai đoạn hiện nay trong lịch sử thế giới—có thể nói rằng trạng thái ấy không tồn tại.
No one who is an integrated and actively functioning person is ever as prone to such a disease as cancer, or any disease, as is the emotional type; he is far more prone to heart trouble. A full active life prevents such a disease as cancer, but not always. As the forces of life run more slowly, as old age creeps on, cancer often appears, proving the truth of my primary contention. In days such as these, wherein cancer is the second great agent of destruction and mortality (and if I am right that cancer is a planetary disease), then almost anyone is liable to it. Fear is the great predisposing factor. Inertia and emotionalism are, likewise.
Một người đã tích hợp và đang hoạt động tích cực không bao giờ dễ mắc một bệnh như ung thư, hay bất kỳ bệnh nào, bằng người thiên về cảm xúc; y dễ mắc bệnh tim hơn nhiều. Một cuộc sống năng động, trọn vẹn ngăn ngừa một bệnh như ung thư, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Khi các mãnh lực của sự sống vận hành chậm hơn, khi tuổi già dần đến, ung thư thường xuất hiện, chứng tỏ tính đúng đắn của luận điểm ban đầu của Tôi. Trong thời đại như hiện nay, khi ung thư là tác nhân huỷ hoại và gây tử vong lớn thứ hai (và nếu Tôi đúng khi cho rằng ung thư là một bệnh của hành tinh), thì hầu như ai cũng có thể mắc bệnh này. Sợ hãi là yếu tố lớn tạo khuynh hướng mắc bệnh. Tính trì trệ và tình trạng thiên về cảm xúc cũng vậy.
On Dementia Praecox.
Về Chứng Sa Sút Trí Tuệ Sớm.
What is dementia praecox? Does the phenomenon evidence a family group tradition? Is there any clue in the fact that it first manifests itself in early adolescence? Is the general practitioner correct in placing it in the category of hopeless cases? These and similar questions are constantly asked by students and practitioners of healing.
Chứng sa sút trí tuệ sớm là gì? Hiện tượng này có cho thấy một đặc điểm lưu truyền trong nhóm gia đình không? Việc bệnh biểu hiện lần đầu vào đầu tuổi vị thành niên có đem lại manh mối nào không? Bác sĩ đa khoa có đúng khi xếp bệnh này vào loại vô vọng không? Các đạo sinh và những người thực hành chữa lành thường xuyên đặt ra những câu hỏi này và những câu hỏi tương tự.
These forms of physical diseases which come under the general head of insanities are far more abstruse than is generally [316] realised. From the standpoint of the esotericist, they fall into the following relatively simple categories:
Những dạng bệnh thể xác thuộc tên gọi chung là các chứng loạn trí này phức tạp hơn rất nhiều so với điều người ta thường [316] nhận biết. Theo quan điểm của nhà bí truyền học, chúng thuộc những nhóm tương đối đơn giản sau đây:
1. Those where the difficulty is due to the breaking down of the brain tissue. Far more of these are definitely syphilitic in origin than is generally admitted, and I would remind you that, occultly speaking, that would naturally be the case, for the physical sex organs are a lower correspondence of the negative-positive relation existing in the brain between the two head centres and the pituitary and pineal glands.
1. Những trường hợp khó khăn phát sinh do sự suy huỷ mô não. Số trường hợp rõ ràng có nguồn gốc giang mai nhiều hơn rất nhiều so với mức người ta thường thừa nhận, và Tôi muốn nhắc các bạn rằng, xét về mặt huyền bí học, điều ấy đương nhiên là như vậy, vì các cơ quan sinh dục thể chất là sự tương ứng thấp hơn của mối quan hệ âm–dương tồn tại trong não giữa hai trung tâm ở đầu và tuyến yên cùng tuyến tùng.
2. Those where the difficulty is due to the overstimulation of the brain cells by some forms of energy which overbalance other forms and produce certain serious forms of insanity.
2. Những trường hợp khó khăn phát sinh do một số dạng năng lượng kích thích quá mức các tế bào não, lấn át những dạng năng lượng khác và gây ra một số dạng loạn trí nghiêm trọng.
3. Those where there is no real physical difficulty, no lesions or diseased tissues, but simply a loose connection between the etheric body and the dense physical vehicle. Then obsession or possession can occur. Such cases are frequently (I might say, usually) regarded by the orthodox psychiatrist and medical man as forms of insanity; yet they are not truly so. If the afflicted person can be put again “in possession of himself” by some understanding psychologist, and this is entirely possible, then the trouble is ended. There is a pronounced tendency among the most forward-looking psychologists today, to handle these cases on the hypothesis which I have posited, and that is a definite improvement.
3. Những trường hợp không có khó khăn thực sự nào về thể xác, không có tổn thương hay mô bệnh, mà chỉ có sự liên kết lỏng lẻo giữa thể dĩ thái và hiện thể xác đậm đặc. Khi ấy, tình trạng ám nhập hoặc chiếm hữu có thể xảy ra. Các bác sĩ tâm thần và bác sĩ y khoa chính thống thường (Tôi có thể nói là thường lệ) xem những trường hợp ấy là các dạng loạn trí; tuy nhiên, thực ra không phải như vậy. Nếu một nhà tâm lý học có hiểu biết có thể giúp người mắc chứng này lại “làm chủ bản thân”, và điều này hoàn toàn có thể thực hiện, thì sự bất ổn sẽ chấm dứt. Ngày nay, trong số những nhà tâm lý học có tầm nhìn tiến bộ nhất, có một khuynh hướng rõ rệt là xử lý những trường hợp này dựa trên giả thuyết mà Tôi đã nêu, và đó là một bước tiến rõ ràng.
4. Those wherein certain hereditary forms of mental imbalance occur. These forms of imbalance are caused by happenings in other lives and are in the nature of punishment or retributive karma. To bring this about, the soul deliberately chooses for a physical vehicle that form which will have in it certain inherited taints, driven [317] thereto by the Lords of Karma when the soul is unable to grip its vehicle—as is the case in the unevolved; or with purpose and intent, when the body can be under soul direction because highly evolved. I am not listing these different forms of insanity or imbalance under the various headings, as the theme is too complicated, and often there are several predisposing factors, and often only indications of trouble which may never come to anything serious. I am only giving the categories, leaving to the research scholar the task of eventually listing symptoms and assigning due cause, after much experimental work. That time is only just arriving.
4. Những trường hợp xuất hiện một số dạng mất cân bằng trí tuệ do di truyền. Những dạng mất cân bằng này do các biến cố trong những kiếp sống khác gây ra và mang tính chất trừng phạt hoặc nghiệp quả báo ứng. Để thực hiện điều này, linh hồn chủ ý chọn làm hiện thể xác một hình tướng có những khiếm khuyết di truyền nhất định, do các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả thúc đẩy [317] theo hướng ấy khi linh hồn không đủ sức nắm giữ hiện thể của mình—như trường hợp người chưa tiến hoá; hoặc linh hồn lựa chọn với mục đích và chủ ý, khi thân thể có thể chịu sự chỉ đạo của linh hồn vì đã tiến hoá cao. Tôi không liệt kê những dạng loạn trí hay mất cân bằng khác nhau này dưới các đề mục riêng, vì chủ đề quá phức tạp, và thường có nhiều yếu tố tạo khuynh hướng mắc bệnh, cũng như thường chỉ có những dấu hiệu bất ổn có thể chẳng bao giờ phát triển thành điều gì nghiêm trọng. Tôi chỉ đưa ra các nhóm, để lại cho nhà nghiên cứu nhiệm vụ cuối cùng là liệt kê các triệu chứng và xác định đúng nguyên nhân, sau nhiều công trình thực nghiệm. Thời điểm ấy chỉ mới bắt đầu đến.
5. Those in which the mind is unduly fixed and static and controls the brain so unreasonably that there seems only one point of view, one attitude to life, and no fluidity and capability of adjustment. Such individuals may suffer, for instance, from what is called idée fixe, or they may be completely the victim of some obsessing mental thought. Such mental obsessions can range all the way from a mild fanaticism to religious mania, with its accompanying characteristics of sadism, ruthlessness and general morbidity.
5. Những trường hợp thể trí quá cố định và bất động, kiểm soát bộ não một cách vô lý đến mức dường như chỉ có một quan điểm, một thái độ đối với cuộc sống, và không có tính linh hoạt cũng như khả năng thích nghi. Chẳng hạn, những người như vậy có thể mắc cái gọi là định kiến cố chấp, hoặc có thể hoàn toàn trở thành nạn nhân của một tư tưởng ám ảnh nào đó. Những ám ảnh trí tuệ như vậy có thể trải dài từ sự cuồng tín nhẹ đến chứng cuồng loạn tôn giáo, với những đặc điểm đi kèm là bạo dâm, tàn nhẫn và trạng thái bệnh hoạn nói chung.
Dementia praecox comes under the first and the fourth groupings and is a blend, usually, of the factors descriptive of both. It is inherited in every case and, if not apparently physically so, is then based on inherited astral conditions, which in their turn aid in determining the physical condition. It is syphilitic in origin (often carried over from another life) and is, in this particular life, quite incurable.
Chứng sa sút trí tuệ sớm thuộc nhóm thứ nhất và thứ tư, và thường là sự pha trộn của các yếu tố mô tả cả hai nhóm. Trong mọi trường hợp, nó đều mang tính di truyền, và nếu không biểu hiện rõ sự di truyền về thể xác, thì nó dựa trên những tình trạng cảm dục di truyền; đến lượt mình, những tình trạng này góp phần quyết định tình trạng thể xác. Bệnh có nguồn gốc giang mai (thường mang sang từ một kiếp sống khác) và, trong kiếp sống cụ thể này, hoàn toàn không thể chữa khỏi.
Its sexual basis is demonstrated by the fact that it manifests itself in early adolescence. The patient can, however, be greatly helped, in the early stages, if the symptoms are duly recognised and his thought life directed, and the [318] dynamic effectiveness of new interests is employed. A spiritual motivation and like interests can sometimes retard the development of the disease; where this is the case and the matter is handled from early life onwards, the worst climaxes can be obviated. To the extent that the patient intelligently tries to help himself, and is protected also by the intelligent care of the physician, he can offset the trouble a great deal, and particularly as far as its repetition in another life is concerned.
Nền tảng tính dục của bệnh thể hiện qua việc bệnh biểu lộ vào đầu tuổi vị thành niên. Tuy nhiên, ở những giai đoạn đầu, bệnh nhân có thể nhận được sự trợ giúp rất lớn nếu các triệu chứng được nhận biết đúng, đời sống tư tưởng của y được định hướng, và [318] hiệu lực năng động của những mối quan tâm mới được vận dụng. Một động lực tinh thần cùng những mối quan tâm tương tự đôi khi có thể làm chậm sự phát triển của bệnh; trong trường hợp ấy, nếu được xử lý từ sớm trong đời, có thể ngăn ngừa những đợt trầm trọng nhất. Trong chừng mực bệnh nhân cố gắng tự giúp mình một cách sáng suốt, đồng thời có sự chăm sóc sáng suốt của thầy thuốc bảo vệ, y có thể hoá giải sự bất ổn ở mức độ lớn, đặc biệt là về khả năng bệnh tái diễn trong một kiếp sống khác.
Many of these problems are intrinsically tied up with the past, and until the laws which govern rebirth are given to the world it is difficult for me even to explain the processes governing physical inheritance, karmic results, and also what is called retributive karma. The recognition of the subtler forms of disease, and the aid of the psychologist in collaboration with orthodox medicine (which undoubtedly has its place, as, for instance, in the administration of glandular correctives), plus right hygienic handling from childhood onward, will accomplish much and gradually stamp out the mental and brain diseases which are today so numerous and so distressing.
Nhiều vấn đề này gắn bó mật thiết với quá khứ, và cho đến khi thế giới biết đến các định luật chi phối sự tái sinh, Tôi khó có thể giải thích ngay cả những tiến trình chi phối sự di truyền thể xác, các kết quả nghiệp quả, và cả điều được gọi là nghiệp quả báo ứng. Việc nhận biết những dạng bệnh tinh tế hơn, cùng sự hỗ trợ của nhà tâm lý học phối hợp với y học chính thống (chắc chắn có vai trò của nó, chẳng hạn trong việc sử dụng các phương thuốc điều chỉnh hoạt động tuyến), cộng với sự chăm sóc vệ sinh đúng đắn từ thời thơ ấu trở đi, sẽ mang lại nhiều thành quả và dần loại trừ những bệnh về thể trí và bộ não hiện đang rất phổ biến và gây nhiều đau khổ.
On Euthanasia.
Về An Tử.
Some students are concerned over the organised effort to legalise euthanasia, and wonder about the placing of power of life and death in the hands of the physician. At the same time, they are aware that there is involved also the humane factor, in cases where no surcease can be given to prolonged suffering. To them I would say:
Một số đạo sinh quan ngại trước nỗ lực có tổ chức nhằm hợp pháp hoá việc an tử, và băn khoăn về việc trao quyền sinh sát vào tay thầy thuốc. Đồng thời, họ nhận thức rằng cũng có yếu tố nhân đạo trong những trường hợp không thể làm chấm dứt nỗi đau khổ kéo dài. Với họ, Tôi muốn nói:
The problem which a consideration of the proposed practice of euthanasia involves will not exist when continuity of consciousness (which negates death) is achieved. That means that the time will come, in the racial development, when the soul will know that its term of physical [319] life is over and will prepare itself to withdraw, in full consciousness, from the form. It will know that the service of the form is no longer required and that it must be discarded. It will know that its sense of awareness, being focussed in the mind nature, is strong enough and vital enough to carry it through the process and the episode of abstraction. When that consciousness has been developed in man, and the process has come to be recognised by the medical profession and the scientific students of the human mechanism, then the whole attitude to death and its processes, involving as they do pain and suffering, will be altered materially. Then the man whose time has come to die may avail himself of certain methods of release which, from the average point of view, might be regarded as involving euthanasia. Modes of abstraction will be studied and applied when death is near, and the process will be regarded as soul withdrawal, as a process of liberation and release. That time is not so far away as you might think.
Vấn đề nảy sinh khi xem xét việc thực hành an tử được đề xuất sẽ không còn tồn tại khi đạt được tính liên tục của tâm thức (vốn phủ nhận cái chết). Điều đó có nghĩa là trong quá trình phát triển của nhân loại, sẽ đến lúc linh hồn biết rằng thời hạn sống hồng trần [319] của mình đã kết thúc và sẽ chuẩn bị rút khỏi hình tướng trong tâm thức trọn vẹn. Linh hồn sẽ biết rằng không còn cần đến sự phụng sự của hình tướng nữa và phải từ bỏ nó. Linh hồn sẽ biết rằng khả năng nhận biết của mình, tập trung trong bản chất trí tuệ, đủ mạnh và đủ sức sống để đưa mình vượt qua tiến trình và giai đoạn triệt thoái. Khi tâm thức ấy đã phát triển trong con người, và giới y học cùng các đạo sinh nghiên cứu khoa học về bộ máy con người đã nhận biết tiến trình này, thì toàn bộ thái độ đối với cái chết và các tiến trình của nó, vốn bao hàm đau đớn và khổ sở, sẽ thay đổi đáng kể. Khi ấy, người đã đến lúc phải chết có thể sử dụng một số phương pháp giải thoát mà, theo quan điểm thông thường, có thể được xem là có liên quan đến an tử. Các phương thức triệt thoái sẽ được nghiên cứu và áp dụng khi cái chết đến gần, và tiến trình này sẽ được xem là sự rút lui của linh hồn, một tiến trình giải phóng và giải thoát. Thời điểm ấy không xa như các bạn có thể nghĩ.
Today, grave dangers attend the process of hastening withdrawal, and the legal safeguards will require most careful working out, and even then grave and serious issues might develop. But some hastening of the processes of death is in order and must be worked out. Primarily, however, the will-to-die of the patient is not based at this time on knowledge and on mental polarisation, or upon an achieved continuity of consciousness, but on emotional reactions and a shrinking from pain and from fear.
Ngày nay, những nguy cơ lớn đi kèm với tiến trình đẩy nhanh sự rút lui, và các biện pháp bảo đảm pháp lý sẽ cần được xây dựng hết sức cẩn thận; ngay cả khi ấy, những vấn đề nghiêm trọng và hệ trọng vẫn có thể phát sinh. Tuy nhiên, việc đẩy nhanh phần nào các tiến trình chết là điều thích hợp và cần được nghiên cứu thực hiện. Nhưng điều cốt yếu là vào thời điểm hiện nay, ý chí muốn chết của bệnh nhân không dựa trên tri thức và sự phân cực trí tuệ, hay trên tính liên tục của tâm thức đã đạt được, mà dựa trên những phản ứng cảm xúc và sự co mình né tránh đau đớn và sợ hãi.
Where, however, there is terrible suffering and absolutely no hope of real help or of recovery, and where the patient is willing (or if too ill, the family is willing), then, under proper safeguards, something should be done. But this arranging of the time to go will not be based on emotion and upon compassion, but on the spiritual sciences and [320] upon a right understanding of the spiritual possibilities of death.
Tuy nhiên, ở đâu có sự đau đớn khủng khiếp và hoàn toàn không còn hy vọng được trợ giúp thực sự hay hồi phục, và bệnh nhân đồng ý (hoặc nếu bệnh quá nặng thì gia đình đồng ý), khi ấy, dưới những biện pháp bảo đảm thích hợp, cần phải làm một điều gì đó. Nhưng việc sắp đặt thời điểm ra đi này sẽ không dựa trên cảm xúc và lòng trắc ẩn, mà dựa trên các khoa học tinh thần và [320] sự thấu hiểu đúng đắn về những khả năng tinh thần của cái chết.
On Germs.
Về Các Mầm Bệnh.
How inadequately do words meet the need of truth. We use the word “germ” to indicate the source of some disease or the origin of some form. We talk of a germ or seed of life; we refer to the germ of an idea; we indicate that intangible point of energy which results later in some kind of manifested form. It may be a thoughtform, a human being, or a disease, yet the same word has to suffice for all three. How oft have I told you that all is energy and there is naught else. A germ is a point of energy having within it certain living potentialities, causing certain effects upon the surrounding field of energy, and producing certain forms of expression which are recognisable upon the physical plane. But all that is referred to is, in the last analysis, some form of active energy that forms part of the energy available upon and within and around the planet Earth.
Ngôn từ thật khó đáp ứng đầy đủ nhu cầu diễn đạt chân lý. Chúng ta dùng từ “mầm” để chỉ nguồn gốc của một bệnh nào đó hoặc khởi nguyên của một hình tướng nào đó. Chúng ta nói đến một mầm hay hạt giống của sự sống; chúng ta nhắc đến mầm của một ý tưởng; chúng ta chỉ ra điểm năng lượng vô hình ấy mà về sau tạo thành một dạng hình tướng biểu hiện nào đó. Đó có thể là một hình tư tưởng, một con người hoặc một bệnh, nhưng vẫn phải dùng cùng một từ cho cả ba. Biết bao lần Tôi đã nói với các bạn rằng tất cả đều là năng lượng và không có gì khác. Một mầm là một điểm năng lượng chứa trong nó những tiềm năng sống nhất định, gây ra những tác động nhất định lên trường năng lượng xung quanh, và tạo ra những dạng biểu hiện nhất định có thể nhận biết trên cõi hồng trần. Nhưng xét đến cùng, tất cả những gì được đề cập đều là một dạng năng lượng hoạt động nào đó, tạo thành một phần của năng lượng hiện có trên, trong và quanh hành tinh Trái Đất.
In relation to disease, a germ still remains a point of energy, but it might be regarded as energy which is not functioning correctly in relation to the particular form which has become susceptible to its activity or aware of its presence.
Liên quan đến bệnh tật, mầm bệnh vẫn là một điểm năng lượng, nhưng có thể xem đó là năng lượng không hoạt động đúng đắn trong mối quan hệ với hình tướng cụ thể đã trở nên nhạy cảm với hoạt động của nó hoặc nhận biết sự hiện diện của nó.
Germs are the first effect of an original cause. Some few form a part of the planetary evil, which means that they have a deep-seated and mental origin and one of such magnitude that the finite minds of men cannot yet grasp them. Such causes, for instance, may have their effects as a fierce and fiery and hot devotion to an idea or a person, or they may work out as an equally fierce and fiery fever in the physical body, and to this fever, according to its symptoms, a technical name will be given by the medical [321] profession. The originating cause is the same, and the effects in the personality will differ according to the focus of the attention or where the emphasis of the life is laid. Ponder on this for I have given a hint here of real importance.
Các mầm bệnh là hệ quả đầu tiên của một nguyên nhân ban đầu. Một số ít tạo thành một phần của cái ác hành tinh, nghĩa là chúng có nguồn gốc sâu xa thuộc trí tuệ, với tầm vóc lớn đến mức thể trí hữu hạn của con người chưa thể nắm bắt. Chẳng hạn, những nguyên nhân như vậy có thể gây tác động dưới dạng lòng sùng tín mãnh liệt, rực lửa và nóng bỏng đối với một ý tưởng hay một người, hoặc có thể biểu lộ thành một cơn sốt cũng mãnh liệt và nóng rực như vậy trong thể xác; căn cứ vào các triệu chứng, giới y học [321] sẽ đặt một tên chuyên môn cho cơn sốt ấy. Nguyên nhân khởi phát là như nhau, còn các tác động trong phàm ngã sẽ khác nhau tuỳ theo trọng tâm chú ý hoặc nơi đặt trọng điểm của đời sống. Hãy suy ngẫm về điều này, vì ở đây Tôi đã đưa ra một gợi ý thực sự quan trọng.
When I used these words, “the focus of attention,” I did not refer to any mental attitude or to an attentive mind, but to the impact of life force in any given direction, any locality and any aspect of the human body, where the directed life energy goes. Germs are living organisms, great or small. They find their way into the human mechanism through the medium of the life force which, in its turn, uses the heart and the blood stream as its agents of distribution. In the same way, the energy of consciousness uses the nervous system and the brain as its distributing agency. Where there is inherent or inherited weakness, there the life force is not properly focussed, and there will be found some form of congestion, or some form of arrested development, or some form of predisposition to disease. When this is the case, germs can find a fruitful place in which to display their malignant activity. When the vitality is great and the life force has free and unimpeded circulation, then there will not be these predispositions, the germ cannot find a lodging, and there will not be the risk of infection.
Khi dùng những từ “trọng tâm chú ý”, Tôi không nói đến một thái độ trí tuệ hay một thể trí chăm chú, mà nói đến tác động của sinh lực theo một hướng nhất định, tại một vị trí và trên một phương diện bất kỳ của cơ thể con người, nơi năng lượng sống được định hướng đi tới. Các mầm bệnh là những sinh vật sống, lớn hoặc nhỏ. Chúng đi vào bộ máy con người qua trung gian của sinh lực; đến lượt mình, sinh lực dùng tim và dòng máu làm tác nhân phân phối. Tương tự, năng lượng tâm thức dùng hệ thần kinh và bộ não làm cơ quan phân phối. Ở đâu có điểm yếu vốn có hoặc di truyền, ở đó sinh lực không tập trung đúng cách, và sẽ thấy một dạng ứ đọng, hoặc một dạng ngừng phát triển, hoặc một dạng khuynh hướng mắc bệnh. Khi ấy, các mầm bệnh có thể tìm được nơi thuận lợi để phô bày hoạt động ác tính của chúng. Khi sinh khí dồi dào và sinh lực lưu thông tự do, không bị cản trở, thì sẽ không có những khuynh hướng mắc bệnh này, mầm bệnh không tìm được chỗ trú ngụ, và sẽ không có nguy cơ nhiễm bệnh.
For instance, scarlet fever is contagious, but not all those exposed to it succumb. The ability to throw off infection and immunity from contagious diseases is largely a matter of vitality (perhaps vitality in particular areas of the body where the focus of the attention and the emphasis of the life force may be found). It can also be based upon the activity of the blood corpuscles, which serves to keep the blood stream in good condition.
Chẳng hạn, sốt tinh hồng nhiệt có tính lây nhiễm, nhưng không phải tất cả những người tiếp xúc với bệnh đều mắc bệnh. Khả năng đẩy lùi sự nhiễm bệnh và miễn dịch với các bệnh truyền nhiễm phần lớn là vấn đề sinh khí (có lẽ là sinh khí tại những vùng nhất định của cơ thể, nơi có trọng tâm chú ý và trọng điểm của sinh lực). Khả năng ấy cũng có thể dựa trên hoạt động của các huyết cầu, vốn giúp giữ cho dòng máu ở tình trạng tốt.
[322]
[322]
This focus and emphasis is the same in connection with animals, for it is not the focus of the mind but of the life energy within the physical body. This, when present and positive, protects. When it is negative and weak, it leaves the physical body (human and animal) open to the dangers of infection.
Sự tập trung và trọng điểm này cũng như vậy ở động vật, vì đó là sự tập trung của năng lượng sống trong thể xác, chứ không phải của thể trí. Khi hiện diện và mang tính dương, năng lượng ấy có tác dụng bảo vệ. Khi mang tính âm và yếu ớt, nó khiến thể xác (của người và động vật) dễ gặp nguy cơ nhiễm bệnh.
I cannot explain more fully than this, for the problem of origin and method remains an insoluble problem just as long as man remains equipped with his present mental approach and emotional reaction to pain and disease, and just as long as he places the same exaggerated emphasis upon form life. When a better sense of proportion has been developed, and men are beginning to think in terms of the soul and purposes and destiny, then disease, as we know it, will fall into two major categories:
Tôi không thể giải thích đầy đủ hơn, vì vấn đề nguồn gốc và phương thức vẫn không thể giải quyết chừng nào con người còn giữ cách tiếp cận trí tuệ hiện nay và phản ứng cảm xúc hiện nay đối với đau đớn và bệnh tật, và chừng nào con người vẫn quá nhấn mạnh đời sống hình tướng như vậy. Khi một ý thức về tỉ lệ tốt hơn đã phát triển, và con người bắt đầu suy nghĩ theo linh hồn, các mục đích và vận mệnh, thì bệnh tật như chúng ta biết sẽ chia thành hai nhóm chính:
1. Those which produce purification and necessitate a period of retuning and of rest for the body, preparatory to continued life on earth.
1. Những bệnh tạo ra sự thanh lọc và đòi hỏi một thời gian điều chỉnh lại và nghỉ ngơi cho cơ thể, để chuẩn bị tiếp tục sống trên Trái Đất.
2. Those which produce the withdrawal or abstraction of the soul in its two aspects—livingness and consciousness.
2. Những bệnh tạo ra sự rút lui hay triệt thoái của linh hồn trong hai phương diện của nó—sức sống và tâm thức.
On Inoculations.
Về Tiêm Chủng.
“What is the standing or value of inoculation or vaccination from an occult or esoteric standpoint?” This question is often in the minds of healers as they ask the further question which is the real basis of their interest, “Does it affect the subtler bodies? How?”
“Theo quan điểm huyền bí học hay nội môn, việc chủng ngừa hay tiêm vắc-xin có vị trí hoặc giá trị gì?” Câu hỏi này thường hiện diện trong tâm trí những người chữa lành khi họ đặt thêm câu hỏi vốn là cơ sở thực sự của mối quan tâm ấy: “Nó có ảnh hưởng đến các thể tinh tế hơn không? Như thế nào?”
There is no occult standard or value in inoculation, any more than there is an occult standard or value in giving a hypodermic injection. The entire question concerning serums and inoculations has been tremendously overemphasised by the so-called occult students. The human body, at [323] the present time, is the recipient of such a vast amount of substance, extraneously precipitated into the interior of the body, that the whole subject is of vaster import, yet of lesser importance, than men think. Such is the paradox which I present to you. Wrong food of every kind, the inhalation of smoke down the centuries, the breathing in of tainted air, the taking of medicines and pills and tablets of every possible description, the rifling of the vegetable and mineral kingdoms in search of their ingredients, and the injection of mineral substances, of drugs and of serums, till one wonders sometimes at the remarkable assimilative powers of the human frame.
Việc chủng ngừa không có tiêu chuẩn hay giá trị huyền bí nào, cũng như việc tiêm dưới da không có tiêu chuẩn hay giá trị huyền bí nào. Toàn bộ vấn đề huyết thanh và tiêm chủng đã được những người gọi là đạo sinh huyền bí học nhấn mạnh quá mức. Cơ thể con người, vào [323] thời điểm hiện nay, tiếp nhận một lượng chất liệu lớn đến mức, từ bên ngoài ngưng tụ vào bên trong cơ thể, khiến toàn bộ chủ đề có tầm bao quát rộng hơn, nhưng lại ít quan trọng hơn điều người ta nghĩ. Đó là nghịch lý mà Tôi trình bày với các bạn. Đủ loại thức ăn không thích hợp, việc hít khói qua nhiều thế kỷ, việc hít thở không khí ô nhiễm, việc dùng thuốc và đủ mọi loại thuốc viên, việc khai thác giới thực vật và giới kim thạch để tìm các thành phần của chúng, cùng việc tiêm các chất khoáng, dược chất và huyết thanh, khiến đôi khi người ta phải kinh ngạc trước khả năng đồng hoá phi thường của cơ thể con người.
In all fairness, however, I would remind you that, as far as the physical well-being of man is concerned, these methods and techniques of the West have resulted in the production of a healthier race than in the East, in a very definite prolongation of human life, and in the elimination of many dire physical scourges which used to take their toll of man. This I, an Oriental, do admit. I have stated the situation thus in order to expand your view from the specific to the whole.
Tuy nhiên, để công bằng, Tôi muốn nhắc các bạn rằng, xét về sức khoẻ thể chất của con người, những phương pháp và kỹ thuật này của phương Tây đã tạo nên một nhân loại khoẻ mạnh hơn ở phương Đông, kéo dài rõ rệt tuổi thọ con người, và loại trừ nhiều tai hoạ thể chất khủng khiếp từng gây tổn thất cho nhân loại. Tôi, một người phương Đông, thừa nhận điều này. Tôi đã trình bày tình hình như vậy để mở rộng tầm nhìn của các bạn từ điều cụ thể đến toàn thể.
In relation to disease and inoculation, I would remind you that there are three groups of diseases which are not peculiar to man, but which are indigenous in the planet itself. These diseases are found in widely differing forms, in all the kingdoms in nature. These three families or groups of diseases are:
Liên quan đến bệnh tật và tiêm chủng, Tôi muốn nhắc các bạn rằng có ba nhóm bệnh không riêng ở con người, mà vốn có trong chính hành tinh. Những bệnh này xuất hiện dưới các dạng rất khác nhau trong mọi giới của tự nhiên. Ba họ hay nhóm bệnh này là:
1. The great cancer group of diseases.
1. Nhóm bệnh ung thư lớn.
2. The syphilitic group.
2. Nhóm bệnh giang mai.
3. Tuberculosis.
3. Bệnh lao.
Most of the objections made by doctors with occult tendencies are based unconsciously on a feeling that there [324] should be higher methods of controlling diseases in man than by injecting into the human body substance taken from the bodies of animals. That is most surely and definitely correct, and some day it will be demonstrated. Another reaction on their part is one of sensitive disgust, again largely unrecognised. A more vital objection should be based on the suffering entailed on the animals providing the vaccine and other substances.
Phần lớn những phản đối của các bác sĩ có khuynh hướng huyền bí học dựa một cách vô thức trên cảm nhận rằng [324] cần có những phương pháp cao hơn để kiểm soát bệnh tật ở con người thay vì tiêm vào cơ thể người chất liệu lấy từ cơ thể động vật. Điều đó chắc chắn và hoàn toàn đúng, và một ngày nào đó sẽ được chứng minh. Một phản ứng khác của họ là cảm giác ghê sợ do nhạy cảm, phần lớn cũng không được nhận biết. Một sự phản đối thiết yếu hơn nên dựa trên nỗi đau khổ mà các động vật cung cấp vắc-xin và những chất khác phải chịu.
The effect on the inner bodies is practically nil, and far less than the diseases themselves. Herein lies for the future a most interesting question. How far do diseased conditions in the human body carry through and affect the inner bodies from the structural angle? It is a question I do not intend to answer. The controlling of modern disease is being handled by modern medicine primarily in three ways: through the science of sanitation, through preventive medicine, and through inoculation. These are the lower correspondences to methods of activity emanating from the astral plane, from the etheric levels, and from the earth itself.
Tác động lên các thể bên trong thực tế hầu như bằng không, và ít hơn nhiều so với tác động của chính các bệnh ấy. Chính trong điều này có một câu hỏi hết sức thú vị cho tương lai. Xét về mặt cấu trúc, những tình trạng bệnh lý trong cơ thể con người lan truyền và ảnh hưởng đến các thể bên trong đến mức nào? Đây là câu hỏi mà Tôi không có ý định trả lời. Y học hiện đại đang kiểm soát bệnh tật hiện nay chủ yếu bằng ba cách: qua khoa học vệ sinh, qua y học dự phòng, và qua tiêm chủng. Đây là những sự tương ứng thấp hơn của các phương thức hoạt động phát ra từ cõi cảm dục, từ các cấp độ dĩ thái, và từ chính Trái Đất.
The science of sanitation, the use of water, and the growing knowledge of hydrotherapy are the precipitation on earth of certain inner activities on the astral plane of a most definite nature. From the angle of the aspirant, these methods are called purification.
Khoa học vệ sinh, việc sử dụng nước và kiến thức ngày càng tăng về thuỷ liệu pháp là sự ngưng tụ trên Trái Đất của một số hoạt động bên trong có tính chất rất xác định trên cõi cảm dục. Theo góc nhìn của người chí nguyện, những phương pháp này được gọi là sự thanh lọc.
The science of prevention (both of diseases and of death) is the precipitation on earth of certain modes of procedure on the etheric plane whereby forces are correctly used and certain destructive agencies are controlled and prevented from going the destructive way.
Khoa học dự phòng (cả bệnh tật lẫn cái chết) là sự ngưng tụ trên Trái Đất của một số phương thức tiến hành trên cõi dĩ thái, qua đó các mãnh lực được sử dụng đúng đắn và một số tác nhân huỷ hoại được kiểm soát, ngăn không cho đi theo chiều hướng huỷ hoại.
The science of inoculation is purely physical in origin and concerns only the animal body. This latter science will shortly be superseded by a higher technique, but the time is not yet.[325]
Khoa học tiêm chủng có nguồn gốc thuần tuý hồng trần và chỉ liên quan đến thân thể động vật. Khoa học sau cùng này sẽ sớm nhường chỗ cho một kỹ thuật cao hơn, nhưng thời điểm ấy vẫn chưa đến.[325]
On Glands.
Về Các Tuyến.
“Is it possible by certain types of meditation to stimulate either one of the post or ante lobes of the pituitary body, when there is a minus functioning? Will a meditation designed to integrate the personality automatically adjust the trouble and bring about proper pituitary activity? Will this also adjust and balance the activity of the other important glands?”
“Có thể dùng một số loại tham thiền để kích thích một trong hai thuỳ sau hoặc trước của tuyến yên khi hoạt động của nó suy giảm không? Một bài thiền được thiết kế để tích hợp phàm ngã có tự động điều chỉnh sự bất ổn và tạo ra hoạt động đúng đắn của tuyến yên không? Điều này cũng sẽ điều chỉnh và cân bằng hoạt động của các tuyến quan trọng khác chứ?”
You have here several questions; the whole matter is too vast for proper handling within the available time and limits.
Ở đây, các bạn có một số câu hỏi; toàn bộ vấn đề quá rộng lớn để có thể xử lý thoả đáng trong thời gian và giới hạn hiện có.
I would say, however, very briefly, that the stimulation of either lobe of the pituitary body, and equally the stimulation of any of the glands by meditation, undertaken by neophytes, is a most dangerous undertaking. It can be done, but it is not an advisable proceeding except under the expert supervision of some of those who know more than you know and who can see more than you can see. The glands are the result of the activity or the inactivity of the centres or chakras in the body, and parallel their development. This development is dependent upon the ray and the point in evolution. The subject is vast and difficult, and I would have you all remember that constant dwelling upon the physical factors to be found in the personality equipment is not the way of the disciple. He must aim, as you suggest, at personality integration and at the goal of being a pure channel for the soul. Such an integration is the result, normally achieved, of
Tuy nhiên, Tôi muốn nói hết sức ngắn gọn rằng việc những người sơ cơ dùng tham thiền để kích thích một trong hai thuỳ của tuyến yên, cũng như kích thích bất kỳ tuyến nào, là một việc làm hết sức nguy hiểm. Điều đó có thể thực hiện, nhưng không phải là một cách tiến hành nên làm, trừ khi có sự giám sát chuyên môn của một số người biết nhiều hơn các bạn và có thể thấy nhiều hơn các bạn. Các tuyến là kết quả của sự hoạt động hoặc bất hoạt của các trung tâm hay luân xa trong cơ thể, và phát triển song song với chúng. Sự phát triển này phụ thuộc vào cung và điểm tiến hoá. Chủ đề này rộng lớn và khó khăn, và Tôi muốn tất cả các bạn nhớ rằng việc liên tục chú tâm vào các yếu tố hồng trần trong bộ trang bị phàm ngã không phải là con đường của đệ tử. Như các bạn gợi ý, y phải hướng đến sự tích hợp phàm ngã và mục tiêu trở thành một kênh dẫn thanh khiết cho linh hồn. Sự tích hợp như vậy là kết quả thường đạt được của
1. Character-building.
1. Lập hạnh.
2. Soul contact through meditation.
2. Tiếp xúc với linh hồn qua tham thiền.
3. Life expression through service.
3. Biểu hiện đời sống qua phụng sự.
[326]
[326]
The practice of these three, over a long period of years, will inevitably produce the desired results as far as the glandular equipment is concerned, and as far as the total mechanism can stand the pressure of the soul requirements, as they must be met in each specific life.
Việc thực hành ba điều này trong nhiều năm tất yếu sẽ tạo ra những kết quả mong muốn đối với hệ thống tuyến, trong chừng mực toàn bộ bộ máy có thể chịu được áp lực từ những yêu cầu của linh hồn, vốn phải được đáp ứng trong mỗi kiếp sống cụ thể.
On the Vital Body.
Về Thể Sinh Lực.
“What are the principal factors that can be complied with in order to build a strong healthy vital body? Is it possible for a person with a rather weak vital body to strengthen it? May not a so-called weak vital body be a healthy one at the same time, the weakness manifesting in non-staying power and a slowness in recovery from fatigue?”
“Những yếu tố chính cần tuân theo để xây dựng một thể sinh lực mạnh mẽ, khoẻ khoắn là gì? Một người có thể sinh lực khá yếu có thể củng cố nó không? Liệu một thể sinh lực được gọi là yếu có thể đồng thời vẫn khoẻ mạnh, với sự yếu kém biểu hiện ở việc thiếu sức bền và chậm hồi phục sau mệt mỏi không?”
This question is concise and can be briefly answered. In fact it must be, or otherwise a long discussion will be necessary upon the subject of the vital body, and that is too vast a one with which to deal here, and the implications are too many. I have given you much in the various books I have written.
Câu hỏi này súc tích và có thể trả lời ngắn gọn. Thực ra, cần phải như vậy, nếu không sẽ phải thảo luận dài về chủ đề thể sinh lực, một chủ đề quá rộng lớn để bàn đến ở đây và có quá nhiều hàm ý. Tôi đã cung cấp cho các bạn nhiều điều trong các cuốn sách khác nhau mà Tôi đã viết.
When you say a weak vital body I presume you mean one which is loosely coordinated with the physical vehicle and loosely connected, and which has therefore a weak hold upon the outer form, for it is the close integration of the etheric body with the physical form which is the cause of all its staying power. You are right in your belief that one can be perfectly healthy but have little resistance to fatigue.
Khi các bạn nói một thể sinh lực yếu, Tôi cho rằng các bạn muốn nói đến một thể sinh lực phối hợp và liên kết lỏng lẻo với hiện thể xác, do đó nắm giữ hình tướng bên ngoài một cách yếu ớt, vì chính sự tích hợp chặt chẽ của thể dĩ thái với hình tướng hồng trần là nguyên nhân tạo nên toàn bộ sức bền của nó. Các bạn đúng khi tin rằng một người có thể hoàn toàn khoẻ mạnh nhưng lại ít có sức chống lại sự mệt mỏi.
The principal factors in re-establishing or making a better etheric control are:
Những yếu tố chính để tái lập hoặc cải thiện sự kiểm soát của thể dĩ thái là:
1. Sunshine.
1. Ánh nắng mặt trời.
2. Careful diet, with the emphasis upon the proteins and vitamins.
2. Chế độ ăn uống cẩn thận, chú trọng chất đạm và vitamin.
3. The avoidance of fatigue and worry.
3. Tránh mệt mỏi và lo lắng.
[327]
[327]
Against all the above, at this time, climate, world conditions, environment and our civilisation militate, and the individual has therefore to resign himself to a state of affairs which lies outside his individual control.
Vào thời điểm hiện nay, khí hậu, tình hình thế giới, môi trường và nền văn minh của chúng ta đều chống lại tất cả những điều trên, và do đó cá nhân phải chấp nhận một tình thế nằm ngoài khả năng kiểm soát riêng của mình.
A normal, sane, regulated life is the best means for establishing a better measure of vitality. This is, I presume, what you mean. You need to remember, however, that where there is a devitalised etheric body, and conditions are such that a re-establishment of a vital control seems difficult or impossible, there must be recognition of karmic limitations and a willingness to submit to them and leave affairs to work themselves out. This particular life is not the only one there is. Frequently, therefore, in any particular incarnation, conditions cannot be changed, and are prolonged by inner rebellion and revolt. A disciple has to learn the lesson of going on, as the expression is, in spite of and not because of circumstances.
Một cuộc sống bình thường, lành mạnh, điều độ là phương tiện tốt nhất để nâng cao sinh khí. Tôi cho rằng đó là điều các bạn muốn nói. Tuy nhiên, các bạn cần nhớ rằng khi thể dĩ thái suy kiệt sinh lực, và hoàn cảnh khiến việc tái lập sự kiểm soát của sinh lực có vẻ khó khăn hoặc bất khả thi, thì cần nhận biết những giới hạn nghiệp quả, sẵn lòng thuận theo chúng và để sự việc tự diễn tiến. Kiếp sống cụ thể này không phải là kiếp sống duy nhất. Do đó, trong một kiếp nhập thể nhất định, hoàn cảnh thường không thể thay đổi, và sự phản kháng, chống đối bên trong lại kéo dài chúng. Một đệ tử phải học bài học tiếp tục tiến bước, như người ta thường nói, bất chấp hoàn cảnh chứ không phải nhờ hoàn cảnh.
On Prana.
Về Prana.
You can discover much on the nature of prana if you use the books which you possess and should possess. In my book A Treatise on Cosmic Fire and in A.A.B.’s book The Light of the Soul,* the whole subject is considered.
Các bạn có thể khám phá nhiều điều về bản chất của prana nếu sử dụng những cuốn sách mà các bạn có và nên có. Trong cuốn Luận về Lửa Vũ Trụ của Tôi và cuốn Ánh Sáng của Linh Hồn của A.A.B.,* toàn bộ chủ đề này đã được xem xét.
* A Treatise on cosmic Fire. Pages 77-116... The Light of the Soul. Pages 77,217-225, 280-282, 328-330, 332
* Luận về Lửa Vũ Trụ. Các trang 77-116... Ánh Sáng của Linh Hồn. Các trang 77,217-225, 280-282, 328-330, 332
Suffice it to say that:
Chỉ cần nói rằng:
1. There is nothing in manifestation except energy, taking form, using and actuating forms and dissipating forms.
1. Trong sự biểu hiện, không có gì ngoài năng lượng, mang lấy hình tướng, sử dụng và vận hành các hình tướng, và làm tiêu tan các hình tướng.
2. This energy is divided into three types of so-called electrical phenomena, called in The Secret Doctrine and in A Treatise on Cosmic Fire, fire by friction, solar fire, and electrical fire.
2. Năng lượng này chia thành ba loại hiện tượng được gọi là điện, được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm và trong Luận về Lửa Vũ Trụ là lửa ma sát, Lửa Thái dương và Lửa Điện.
[328]
[328]
3. Prana is the name given to the energy which is drawn upon the physical plane from the etheric aspect of all phenomenal life. That etheric aspect of the divine energy is a synthesis of energies. If the energy in which an individual primarily lives and moves and has the focus of his being is, for instance, predominantly astral, then the major expression of energy in his equipment will be astral or emotional feeling energy. He will react all the time to physical energy or prana and to astral energy or the many sentient emotional forces. These work out pre-eminently through the spleen, the solar plexus and the throat, and affect in different ways the physical spleen, the stomach and the thyroid gland.
3. Prana là tên gọi của năng lượng được thu hút vào cõi hồng trần từ phương diện dĩ thái của mọi sự sống hiện tượng. Phương diện dĩ thái ấy của năng lượng thiêng liêng là một sự tổng hợp các năng lượng. Chẳng hạn, nếu năng lượng mà một cá nhân chủ yếu sống, vận động và đặt trọng tâm hiện hữu của mình trong đó mang tính cảm dục là chính, thì biểu hiện năng lượng chủ yếu trong bộ trang bị của y sẽ là năng lượng cảm dục hay năng lượng cảm xúc. Y sẽ luôn phản ứng với năng lượng hồng trần hay prana, và với năng lượng cảm dục hay nhiều mãnh lực cảm xúc có khả năng cảm nhận. Những năng lượng này chủ yếu biểu lộ qua lá lách, tùng thái dương và cổ họng, và tác động theo những cách khác nhau lên lá lách thể chất, dạ dày và tuyến giáp.
4. Interest in these two types of energy, when evidenced by an individual, is based on the fact that they are the two in which he himself is habitually immersed and to which he most easily and normally responds.
4. Khi một cá nhân thể hiện sự quan tâm đến hai loại năng lượng này, điều đó dựa trên thực tế rằng đây là hai loại năng lượng mà chính y thường xuyên đắm mình trong đó, và y đáp ứng với chúng một cách dễ dàng và tự nhiên nhất.
5. The current of energy used in healing will be a synthesis of the energies with which the healer normally works, with that type of energy predominating which is, for him, the paramount energy of his life. The average unintelligent healer is usually simply a transmitter of prana itself, which is the energy of the planet. This combines with the etheric physical energies of the patient, passing through the healer’s body. These stimulate the patient sufficiently so that he is enabled to throw off the enfeebling disease. Some healers can work with that type of force and with emotional energy blended, and produce activity, therefore, not only in the patient’s physical body but also in his astral body. This brings about serious difficulties at times and often hinders true physical healing, on account of the astral turmoil produced. On this matter, I cannot here enlarge, and there is no time for a longer elucidation at this time. [329] Mental healers (true mental healers who are rare indeed) blend soul energy with the two above mentioned forces and this produces a synthesis of the personality forces. Carried forward intelligently, this synthesis brings about the healing of the person through the production of definite organisation and alignment.
5. Dòng năng lượng dùng trong chữa lành sẽ là sự tổng hợp của những năng lượng mà người chữa lành thường sử dụng, trong đó loại năng lượng quan trọng nhất trong đời sống của người ấy sẽ chiếm ưu thế. Người chữa lành bình thường, thiếu hiểu biết, thường chỉ đơn giản là người truyền dẫn chính prana, tức năng lượng của hành tinh. Năng lượng này đi qua cơ thể người chữa lành, kết hợp với các năng lượng dĩ thái–hồng trần của bệnh nhân. Chúng kích thích bệnh nhân đủ để y có thể đẩy lùi căn bệnh gây suy nhược. Một số người chữa lành có thể làm việc với loại mãnh lực ấy pha trộn cùng năng lượng cảm xúc, do đó tạo ra hoạt động không chỉ trong thể xác mà cả trong thể cảm dục của bệnh nhân. Đôi khi điều này gây ra những khó khăn nghiêm trọng và thường cản trở việc chữa lành thể xác thực sự, do sự xáo trộn cảm dục mà nó tạo nên. Tôi không thể bàn rộng về vấn đề này ở đây, và lúc này cũng không có thời gian để giải thích dài hơn. [329] Những người chữa lành bằng trí tuệ (những người thực sự chữa lành bằng trí tuệ quả thật rất hiếm) hoà trộn năng lượng linh hồn với hai mãnh lực đã nói ở trên, và điều này tạo ra sự tổng hợp các mãnh lực phàm ngã. Khi được thực hiện một cách sáng suốt, sự tổng hợp này mang lại việc chữa lành cho con người qua việc tạo ra sự tổ chức và chỉnh hợp rõ rệt.
Soul healing supersedes the three above mentioned methods, and produces the pouring into and through the mechanism of the patient of pure soul energy. It was in this way that Christ worked, and there are few today to work this way. It must be held before you, however, as an objective.
Chữa lành bằng linh hồn vượt lên trên ba phương pháp đã nói ở trên, và tạo ra sự tuôn đổ năng lượng linh hồn thuần khiết vào và xuyên qua bộ máy của bệnh nhân. Đức Christ đã làm việc theo cách này, và ngày nay có ít người làm việc như vậy. Tuy nhiên, các bạn phải giữ điều này trước mắt như một mục tiêu.
Physical healing by prana is very common. It is often temporarily effective, but it concerns and deals only with effects and never touches causes. The disease can therefore be abated, but never cured. The power to heal mentally is on the increase and produces relatively permanent effects. But astral healing is rare and very seldom successful. The potency of the astral nature of the healer and also of the patient, and its usually unregulated condition, is too great for effective work, owing to the polarisation of humanity at this time and to the lack of correct emotional poise and control.
Chữa lành thể xác bằng prana rất phổ biến. Phương pháp này thường có hiệu quả tạm thời, nhưng chỉ liên quan và xử lý các hệ quả, không bao giờ chạm đến nguyên nhân. Vì vậy, bệnh có thể thuyên giảm, nhưng không bao giờ được chữa khỏi. Khả năng chữa lành bằng trí tuệ đang gia tăng và tạo ra những tác động tương đối bền vững. Nhưng chữa lành bằng cảm dục thì hiếm và rất ít khi thành công. Do sự phân cực của nhân loại vào thời điểm này và do thiếu sự quân bình cùng khả năng kiểm soát cảm xúc đúng đắn, sức mạnh của bản chất cảm dục nơi cả người chữa lành lẫn bệnh nhân, cùng tình trạng thường thiếu điều tiết của nó, quá lớn để có thể làm việc hiệu quả.
On Oriental and Occidental Bodies.
Về Thân Thể Người Phương Đông và Phương Tây.
The question is also often in the minds of some healers whether there is a difference in the causes of disease and the effects as experienced in oriental or occidental bodies. To them I would say:
Một số người chữa lành cũng thường băn khoăn liệu có sự khác biệt nào giữa thân thể người phương Đông và phương Tây về các nguyên nhân gây bệnh và những tác động mà họ trải nghiệm hay không. Với họ, Tôi muốn nói:
Humanity is one and the same all over the world, and both eastern and western bodies are prone to the same diseases and manifest the same symptoms; all suffer from tuberculosis, from cancer and the sexual taints; all die frequently [330] from pneumonia and influenza. Through sanitation and other curative methods, carried out on a large scale, ancient diseases (inherited from old Atlantis) such as bubonic plague and cholera, are being slowly stamped out. They still crop out in the East owing to the strength of the ancient civilisations, the lack of food, of sanitation, and the dense crowding. They are also climatic diseases and perish in the colder air of the north. Certain diseases are the result of wrong diet, used over unnumbered centuries.
Nhân loại ở khắp thế giới đều là một và như nhau, và thân thể của người phương Đông lẫn phương Tây đều dễ mắc cùng những bệnh và biểu hiện cùng những triệu chứng; tất cả đều mắc bệnh lao, ung thư và những bệnh nhiễm qua đường tình dục; tất cả đều thường tử vong [330] vì viêm phổi và cúm. Nhờ vệ sinh và các phương pháp chữa trị khác được thực hiện trên quy mô lớn, những căn bệnh có từ thời cổ đại (di truyền từ Atlantis xưa) như dịch hạch và dịch tả đang dần bị đẩy lùi. Chúng vẫn bùng phát ở phương Đông do sức bền của các nền văn minh cổ, tình trạng thiếu lương thực, thiếu vệ sinh và dân cư quá đông đúc. Chúng cũng là những bệnh chịu ảnh hưởng của khí hậu và không tồn tại được trong không khí lạnh hơn ở phương Bắc. Một số bệnh là hậu quả của chế độ ăn uống sai lầm kéo dài qua vô số thế kỷ.
One of the main reasons for the apparent difference (if there is any) may lie also in the greater age of the oriental races. The diseases of old age, and those of youth or middle age, have their variations, and Asia and its peoples are very, very old. The body stock is wearing out fast. Yet the Japanese show no sign of that old age. India is far older than Europe, but the Chinese and Japanese stock is older still, yet they demonstrate no such sign of effete old age. The reason for this lies in the very different type of emotional body as found in the Aryan or Atlantean. The whole question is incalculably difficult.
Một trong những lý do chính dẫn đến sự khác biệt bề ngoài ấy (nếu có) cũng có thể nằm ở tuổi đời lâu hơn của nhân loại phương Đông. Các bệnh của tuổi già và các bệnh của tuổi trẻ hoặc trung niên có những biến thể riêng, mà châu Á cùng các dân tộc ở đó thì đã rất, rất lâu đời. Nền tảng di truyền của thân thể đang suy kiệt nhanh chóng. Tuy nhiên, người Nhật không biểu lộ dấu hiệu nào của tuổi già ấy. Ấn Độ lâu đời hơn châu Âu rất nhiều, nhưng dòng giống Trung Hoa và Nhật Bản còn lâu đời hơn nữa, vậy mà họ không biểu lộ dấu hiệu nào của tuổi già suy kiệt như thế. Lý do nằm ở loại thể cảm dục rất khác nhau nơi người Arya hoặc Atlantis. Toàn bộ vấn đề này khó khăn đến mức không thể lường hết.
I might answer your question, however, very briefly, by saying that there is no difference whatever in the basic causes of disease in the East and the West. They are the same for the whole human family.
Tuy nhiên, Tôi có thể trả lời câu hỏi của các bạn thật ngắn gọn rằng hoàn toàn không có sự khác biệt nào về những nguyên nhân căn bản gây bệnh giữa phương Đông và phương Tây. Chúng giống nhau đối với toàn thể gia đình nhân loại.
On the Nervous System.
Về Hệ Thần Kinh.
In the right understanding of the relationship of the etheric or vital body (with its major and minor centres and its network of nadis) to the nervous system of the human body, two great aspects of soul activity can be grasped.
Khi thấu hiểu đúng mối quan hệ giữa thể dĩ thái hay thể sinh lực (với các trung tâm chính và phụ cùng mạng lưới nadis của nó) với hệ thần kinh của thân thể con người, chúng ta có thể nắm bắt hai phương diện lớn trong hoạt động của linh hồn.
First, that aspect of soul life which enables the soul to motivate and force into incarnation and activity the physical [331] mechanism, the body, through the galvanising activity of what we call Life.
Thứ nhất, phương diện ấy của sự sống linh hồn cho phép linh hồn thúc đẩy và buộc bộ máy hồng trần [331], tức thân thể, nhập thể và hoạt động, thông qua hoạt động khơi dậy sinh lực của điều mà chúng ta gọi là Sự Sống.
Second, that aspect of soul life which preserves the physical vehicle in health through the free play of the pranic currents. The above is an attempt to express a great truth in as simple a fashion as possible. The true significance of the above statement embodies the next great step in the field of true psychology and of healing. The whole subject is profoundly interesting. Some of it I have dealt with in the pages of A Treatise on White Magic (pages 18-50) and you would find it of value to study the matter there outlined.
Thứ hai, phương diện ấy của sự sống linh hồn duy trì sức khỏe của thể xác thông qua sự lưu chuyển tự do của các dòng prana. Những điều trên là một nỗ lực diễn đạt một chân lý lớn lao theo cách đơn giản nhất có thể. Thâm nghĩa đích thực của phát biểu trên hàm chứa bước tiến lớn tiếp theo trong lĩnh vực tâm lý học chân chính và trị liệu. Toàn bộ chủ đề này vô cùng thú vị. Tôi đã bàn đến một phần của nó trong Luận về Chánh Thuật (trang 18–50), và việc nghiên cứu vấn đề được phác thảo ở đó sẽ có giá trị đối với các bạn.
The general situation in this connection might be outlined very briefly as follows:
Tình hình chung về vấn đề này có thể được phác thảo thật ngắn gọn như sau:
A human being is a combination of various types of force. There is the force or energy of matter itself which might be regarded as the energy aspect, in its totality, of the cells or atoms of the body. The word “cell” itself suggests, in its usual connotation, an imprisoned life, and life and energy are, for the esotericist, synonymous terms. This is the third aspect of divinity, expressing itself in humanity. There is also the dual energy which the soul embodies or transmits; this might be likened to two streams of energy, which merge and blend to form one stream when detached from the body, and which divide into two when they enter into matter and form. They bring to matter, or to the aggregated cell lives, the contribution of quality—consciousness and pure life. It might be stated also that:
Con người là sự kết hợp của nhiều loại mãnh lực. Có mãnh lực hay năng lượng của chính vật chất, mà xét trong toàn thể, có thể xem là phương diện năng lượng của các tế bào hay nguyên tử trong thân thể. Theo nghĩa thông thường, chính từ “tế bào” gợi lên một sự sống bị giam giữ, và đối với nhà bí truyền học, sự sống và năng lượng là những thuật ngữ đồng nghĩa. Đây là phương diện thứ ba của thiên tính đang biểu lộ trong nhân loại. Cũng có năng lượng kép mà linh hồn hiện thân hoặc truyền dẫn; có thể ví năng lượng này như hai dòng năng lượng hợp nhất và hòa quyện thành một dòng khi tách rời thân thể, rồi phân thành hai khi đi vào vật chất và hình tướng. Chúng mang đến cho vật chất, hay cho tập hợp các sự sống tế bào, sự đóng góp về phẩm tính—tâm thức và sự sống thuần khiết. Cũng có thể phát biểu rằng:
a. The stream of life-energy finds its way to the heart, the physical heart, and there (via the physical permanent atom) it energises coherently the entire physical body, using the blood stream as its major agency and channel of contact and communication between this central powerhouse [332] of life and the periphery. As we well know, the blood is the life. This life activity is the factor which gathers together and holds in form all the living atoms and cells of the body. When that life thread is withdrawn by the soul at death, the living atoms separate, the body falls apart and disintegration ensues, with the atomic lives returning to the reservoir of power, to the bosom of living matter from whence they came.
a. Dòng năng lượng sự sống tìm đường đến tim, tức quả tim thể chất, và tại đó (thông qua nguyên tử trường tồn hồng trần), nó tiếp sinh lực một cách thống nhất cho toàn bộ thể xác, dùng dòng máu làm tác nhân và kênh chủ yếu để tiếp xúc và giao tiếp giữa trung tâm phát năng lượng [332] của sự sống này với vùng ngoại vi. Như chúng ta đều biết rõ, máu là sự sống. Hoạt động sự sống này là yếu tố tập hợp và giữ mọi nguyên tử và tế bào sống của thân thể trong hình tướng. Khi linh hồn thu hồi sinh mệnh tuyến ấy vào lúc chết, các nguyên tử sống tách rời nhau, thân thể tan rã và sự phân hủy diễn ra, còn các sự sống nguyên tử trở về kho quyền năng, trở về lòng vật chất sống, nơi chúng đã xuất phát.
b. The stream of energy which conveys the soul quality of intelligence, plus love-wisdom, and which constitutes what we understand as the consciousness, with its powers to contact, to sense and to rationalise, only penetrates as far as the physical brain. There this second aspect concentrates itself or anchors itself in the region of the pineal gland. From there in ever increasing potency, as the processes of incarnation and experience are pursued, the soul begins to control, galvanise into purposeful activity, and to use the physical body. Remember that, to the soul, the body is only its response apparatus on the physical plane and a medium of expression.
b. Dòng năng lượng truyền tải phẩm tính trí thông minh cùng với Bác Ái – Minh Triết của linh hồn, và cấu thành điều chúng ta hiểu là tâm thức, với các khả năng tiếp xúc, cảm nhận và suy luận, chỉ thâm nhập đến bộ não hồng trần. Tại đó, phương diện thứ hai này tập trung hay neo giữ trong vùng tuyến tùng. Từ đó, với sức mạnh ngày càng tăng khi các tiến trình nhập thể và trải nghiệm tiếp diễn, linh hồn bắt đầu kiểm soát, khơi dậy hoạt động có mục đích và sử dụng thể xác. Hãy nhớ rằng đối với linh hồn, thể xác chỉ là bộ máy đáp ứng của nó trên cõi hồng trần và là một phương tiện biểu lộ.
It might also be pointed out, as a third necessary statement, that the soul pours its consciously directed energy into the dense physical body through the medium of the etheric or vital body. This instrument is composed of:
Cũng có thể nêu một phát biểu cần thiết thứ ba rằng linh hồn tuôn năng lượng được định hướng một cách có ý thức của mình vào thể xác đậm đặc thông qua thể dĩ thái hay thể sinh lực. Công cụ này gồm có:
1. Seven major centres of force and forty-nine minor centres. The major centres are found in the head and up the spinal column. The minor centres are to be found scattered all over the body.
1. Bảy trung tâm mãnh lực chính và bốn mươi chín trung tâm phụ. Các trung tâm chính nằm trong đầu và dọc theo cột sống. Các trung tâm phụ nằm rải rác khắp thân thể.
2. The etheric network which is composed of streams of energy, connects all the centres into two systems—one major and one minor—and radiates out from these centres all over the entire body.
2. Mạng lưới dĩ thái gồm những dòng năng lượng, kết nối tất cả các trung tâm thành hai hệ thống—một chính và một phụ—và từ các trung tâm ấy tỏa ra khắp toàn bộ thân thể.
[333]
[333]
3. The nadis are infinitesimally small threads of energy or force fibres which radiate out from every part of the network and underlie every part of the triple nervous system. They are found in their millions, and produce the sensitive response apparatus through which we work and of which the mechanism of the five senses is one of the externalisations.
3. Các nadis là những sợi năng lượng hay sợi mãnh lực cực kỳ nhỏ bé, tỏa ra từ mọi phần của mạng lưới và làm nền tảng cho mọi phần của hệ thần kinh tam phân. Chúng có đến hàng triệu và tạo nên bộ máy đáp ứng nhạy cảm mà qua đó chúng ta hoạt động; bộ máy ngũ quan là một trong những sự ngoại hiện của bộ máy đáp ứng ấy.
The controlling power station will be found to vary according to the point in evolution reached:
Trung tâm năng lượng giữ vai trò kiểm soát sẽ thay đổi tùy theo điểm tiến hoá đã đạt đến:
1. Low-grade humanity uses the solar plexus as the point where the basic energy is localised temporarily. There will also be found a slight activity in the ajna centre.
1. Nhân loại ở trình độ thấp dùng tùng thái dương làm điểm tạm thời tập trung năng lượng căn bản. Cũng có thể thấy một chút hoạt động trong trung tâm ajna.
2. Average humanity works partly through the solar plexus centre but largely through the ajna centre and the throat centre.
2. Nhân loại ở trình độ trung bình hoạt động một phần qua trung tâm tùng thái dương, nhưng phần lớn qua trung tâm ajna và trung tâm cổ họng.
3. High-grade human beings, the intelligentsia and world aspirants use the head centre, plus the ajna centre, the throat, heart, and solar plexus.
3. Những người có trình độ cao, giới trí thức và những người chí nguyện trên thế giới sử dụng trung tâm đầu, cùng với trung tâm ajna, trung tâm cổ họng, tim và tùng thái dương.
Finally it might be said that the physical apparatus which is the direct result of the inner activity of the centres, network and nadis, is the heart, the endocrine system and the brain. Into this general plan, very sketchily outlined above, all ancient medicine (particularly the Tibetan, the Chinese, and the Hindu), with our modern western science, fits. The correlation of the western and eastern techniques still remains to be made, and much will be gained thereby. Further than this I cannot here enlarge, but the above will suffice to show that the methods which you may discover in your reading (and their name is Legion) can all be brought into relation to this general scheme of energy processes in the human body.[334]
Cuối cùng, có thể nói rằng bộ máy hồng trần, vốn là kết quả trực tiếp của hoạt động bên trong các trung tâm, mạng lưới và nadis, chính là tim, hệ nội tiết và bộ não. Toàn bộ y học cổ truyền (đặc biệt là y học Tây Tạng, Trung Hoa và Ấn Độ), cùng với khoa học phương Tây hiện đại của chúng ta, đều phù hợp với sơ đồ tổng quát được phác thảo rất sơ lược ở trên. Vẫn cần thiết lập mối tương quan giữa các kỹ thuật phương Tây và phương Đông, và việc đó sẽ mang lại nhiều lợi ích. Ở đây, Tôi không thể trình bày rộng hơn, nhưng những điều trên đủ cho thấy rằng mọi phương pháp mà các bạn có thể tìm thấy khi đọc (và chúng nhiều vô kể) đều có thể được liên hệ với mô hình tổng quát này về các tiến trình năng lượng trong thân thể con người.[334]
On Diet.
Về Chế Độ Ăn Uống.
No set diet could be entirely correct for a group of people on differing rays, of different temperaments and equipment and at various ages. Individuals are every one of them unlike on some points; they require to find out what it is that they, as individuals, need, in what manner their bodily requirements can best be met, and what type of substances can enable them best to serve. Each person must find this out for himself. There is no group diet. No enforced elimination of meat is required or strict vegetarian diet compulsory. There are phases of life and sometimes entire incarnations wherein an aspirant subjects himself to a discipline of food, just as there may be other phases or an entire life wherein a strict celibacy is temporarily enforced. But there are other life cycles and incarnations wherein the disciple’s interest and his service lie in other directions. There are later incarnations where there is no constant thought about the physical body, and a man works free of the diet complex and lives without concentration upon the form life, eating that food which is available and upon which he can best sustain his life efficiency. In preparation for certain initiations, a vegetable diet has in the past been deemed essential. But this may not always be the case, and many disciples prematurely regard themselves as in preparation for initiation.
Không một chế độ ăn uống cố định nào có thể hoàn toàn đúng cho một nhóm người thuộc các cung khác nhau, có khí chất và bộ máy khác nhau, cũng như ở những độ tuổi khác nhau. Mỗi cá nhân đều khác những người khác ở một số điểm; họ cần tìm hiểu xem bản thân mình, với tư cách cá nhân, cần gì, những nhu cầu của thân thể có thể được đáp ứng tốt nhất bằng cách nào, và loại chất nào có thể giúp họ phụng sự tốt nhất. Mỗi người phải tự tìm ra điều này. Không có chế độ ăn uống dành cho nhóm. Không cần bắt buộc loại bỏ thịt hay áp đặt chế độ ăn chay nghiêm ngặt. Có những giai đoạn trong đời, và đôi khi trọn những kiếp sống, trong đó người chí nguyện tự đặt mình dưới kỷ luật ăn uống, cũng như có thể có những giai đoạn khác hoặc trọn một đời mà việc tiết dục nghiêm ngặt tạm thời được áp dụng. Nhưng có những chu kỳ sống và những kiếp sống khác, trong đó mối quan tâm và sự phụng sự của người đệ tử hướng về những phương diện khác. Có những kiếp sống về sau, khi người ta không còn liên tục nghĩ đến thể xác, và con người làm việc mà không bị phức cảm về chế độ ăn uống ràng buộc, sống mà không tập trung vào đời sống hình tướng, ăn những thức ăn sẵn có và thích hợp nhất để duy trì hiệu năng sống của mình. Trong quá khứ, chế độ ăn thực vật từng được xem là thiết yếu để chuẩn bị cho một số cuộc điểm đạo. Nhưng có thể không phải lúc nào cũng như vậy, và nhiều đệ tử quá sớm xem mình đang chuẩn bị cho điểm đạo.
On the Spleen.
Về Lá Lách.
The spleen is the most important agent of the life force, but it is the life force inherent in matter itself, independently of form. It is therefore closely related to the planetary physical body. It is the externalisation of a very important centre.
Lá lách là tác nhân quan trọng nhất của mãnh lực sự sống, nhưng đó là mãnh lực sự sống vốn có trong chính vật chất, độc lập với hình tướng. Vì vậy, nó có quan hệ mật thiết với thể xác hành tinh. Nó là sự ngoại hiện của một trung tâm rất quan trọng.
[335]
[335]
There are three centres in the body (with allied externalisations) which are basically essential to life.
Có ba trung tâm trong thân thể (cùng những bộ phận ngoại hiện tương ứng) vốn thiết yếu về căn bản đối với sự sống.
1. The heart centre and the physical heart itself. In these the life principle (the Spirit aspect) is located. Life and Spirit are one.
1. Trung tâm tim và chính quả tim thể chất. Nguyên khí sự sống (phương diện Tinh Thần) nằm trong đó. Sự sống và Tinh Thần là một.
2. The head centre and the brain in which the consciousness principle (the Soul aspect) is located.
2. Trung tâm đầu và bộ não, nơi nguyên khí tâm thức (phương diện Linh Hồn) hiện diện.
3. The pranic centre and the spleen, in which the life of matter itself (the Matter aspect) is located.
3. Trung tâm prana và lá lách, nơi sự sống của chính vật chất (phương diện Vật Chất) hiện diện.
You must bear in mind that, as H.P.B. points out, the dense physical body is not a principle. It is atomic matter which is held in form by etheric substance, under the control of the soul. It is automatic in its response, and reacts to the outer world of impacts and inner impulses, but has no initiatory life of its own. It is composed of units of energy, as is all else in nature, and has its own individual life; its focus for the distribution of energy for this life is the spleen.
Các bạn phải ghi nhớ rằng, như H.P.B. chỉ ra, thể xác đậm đặc không phải là một nguyên khí. Nó là vật chất nguyên tử mà chất liệu dĩ thái giữ trong hình tướng, dưới sự kiểm soát của linh hồn. Nó đáp ứng một cách tự động và phản ứng với thế giới tác động bên ngoài cùng những xung lực bên trong, nhưng không có sự sống chủ động khởi phát của riêng mình. Nó gồm những đơn vị năng lượng, cũng như mọi thứ khác trong tự nhiên, và có sự sống riêng biệt của mình; điểm tập trung để phân phối năng lượng cho sự sống này là lá lách.
In the spleen, the negative life of matter and the living energy of the positive etheric body, are brought together, and then a “spark,” as it is called, is made between the inner living bodies of man (through the medium of the etheric body) and the physical plane. It is a reflection on the lowest rung of the evolutionary ladder, as far as man is concerned, and corresponds to the relation of soul and body or—on a higher turn of the spiral—of spirit and matter.
Trong lá lách, sự sống âm tính của vật chất và năng lượng sống của thể dĩ thái dương tính gặp nhau, rồi một “tia lửa”, như người ta gọi, phát sinh giữa các thể sống bên trong của con người (thông qua thể dĩ thái) với cõi hồng trần. Đối với con người, đây là một phản ánh ở bậc thấp nhất của thang tiến hoá, tương ứng với mối quan hệ giữa linh hồn và thân thể, hoặc—trên một vòng xoắn ốc cao hơn—giữa tinh thần và vật chất.
On the Vagus Nerve.
Về Dây Thần Kinh Phế Vị.
There are two powerful centres connected with the vagus nerve: the heart centre and the centre at the base of the spine. These two, when brought under the control of the soul, functioning through the head centre (the [336] brahmarandra), produce the raising of the kundalini fire. This, when taking place, swings the entire nervous system into a special form of rhythmic activity and responsiveness, and it is through the stimulation and the control of the vagus nerve that this is accomplished. It is not the vagus nerve which is instrumental in raising the kundalini fire, but the reverse situation. When the head, the heart and the centre at the base of the spine are in magnetic and dynamic rapport, producing a radiatory effect, then they affect the vagus nerve and the fires of the body are unified and raised, producing purification and the “opening of all doors.”
Có hai trung tâm mạnh mẽ liên kết với dây thần kinh phế vị: trung tâm tim và trung tâm ở đáy cột sống. Khi cả hai trung tâm này chịu sự kiểm soát của linh hồn hoạt động qua trung tâm đầu (tức [336] brahmarandra), chúng làm cho lửa kundalini dâng lên. Khi điều này diễn ra, toàn bộ hệ thần kinh chuyển sang một hình thức hoạt động và đáp ứng có nhịp điệu đặc biệt, và chính nhờ sự kích thích cùng sự kiểm soát dây thần kinh phế vị mà điều này được thực hiện. Dây thần kinh phế vị không phải là tác nhân làm lửa kundalini dâng lên, mà tình thế diễn ra theo chiều ngược lại. Khi trung tâm đầu, trung tâm tim và trung tâm ở đáy cột sống có sự giao hòa từ tính và năng động, tạo ra hiệu ứng bức xạ, chúng tác động lên dây thần kinh phế vị, và các ngọn lửa của thân thể hợp nhất rồi dâng lên, tạo nên sự thanh lọc và “mở mọi cánh cửa”.
On the Eye.
Về Mắt.
There is a certain school of scientific theorists who are working on the theory that the eye is the declarative factor in the human body and the rule or the key to its right understanding. They have already demonstrated much in connection with its declarative powers, where disease is concerned. They are on right lines. Nevertheless, the science with which they are working is so embryonic as yet that their conclusions are not fully demonstrated nor entirely reliable.
Có một trường phái các nhà lý thuyết khoa học đang nghiên cứu theo lý thuyết cho rằng mắt là yếu tố biểu thị tình trạng của thân thể con người và là quy luật hay chìa khóa để thấu hiểu đúng thân thể ấy. Họ đã chứng minh được nhiều điều liên quan đến khả năng biểu thị của mắt trong vấn đề bệnh tật. Họ đang đi đúng hướng. Tuy nhiên, ngành khoa học mà họ đang nghiên cứu hiện vẫn ở giai đoạn sơ khai đến mức những kết luận của họ chưa được chứng minh đầy đủ và chưa hoàn toàn đáng tin cậy.
In the immediate future, when our planetary life is somewhat calmer, the whole subject of Vision and the registration by the eye of the inner worlds will receive an enormous impetus, and conditions—hitherto undreamed of—will be revealed. Man will enter into a new life and a higher era of understanding. The teaching concerning the iris of the eye is an indication of this.
Trong tương lai gần, khi sự sống hành tinh của chúng ta phần nào lắng dịu hơn, toàn bộ chủ đề về Thị Giác và sự ghi nhận các thế giới bên trong qua mắt sẽ nhận được một động lực to lớn, và những trạng thái—cho đến nay chưa từng được hình dung—sẽ hiển lộ. Con người sẽ bước vào một đời sống mới và một kỷ nguyên thấu hiểu cao hơn. Giáo huấn về mống mắt là một dấu hiệu của điều này.
Why not read up on the eye a little and note its occult correspondences to the created world, and to the whole problem of light? The eyes and the soul are closely related and—speaking in the language of occultism—the right [337] eye is the representative of the soul, and therefore the agent of buddhi, whilst the left eye is the representative of the personality, and the agent of the lower concrete mind. You will find it interesting to read what can be found in The Secret Doctrine and other books (including mine) on this subject; it will compel the conclusion that here is a field of investigation hitherto unopened and a teaching which will warrant careful study for the sake of the group, if for no other reason.
Các bạn hãy đọc thêm đôi chút về mắt và lưu ý những tương ứng huyền bí của nó với thế giới được sáng tạo và với toàn bộ vấn đề ánh sáng. Mắt và linh hồn có quan hệ mật thiết, và—nói theo ngôn ngữ huyền bí học—mắt [337] phải đại diện cho linh hồn, do đó là tác nhân của Bồ đề, trong khi mắt trái đại diện cho phàm ngã và là tác nhân của hạ trí cụ thể. Các bạn sẽ thấy thú vị khi đọc những điều có thể tìm được trong Giáo Lý Bí Nhiệm và những sách khác (kể cả sách của Tôi) về chủ đề này; điều đó sẽ buộc các bạn đi đến kết luận rằng đây là một lĩnh vực khảo cứu cho đến nay chưa được khai mở, và một giáo huấn đáng được nghiên cứu cẩn thận vì lợi ích của nhóm, dù không vì lý do nào khác.
On Psychological Causes of Disease.
Về Những Nguyên Nhân Tâm Lý Gây Bệnh.
Do “psychological causes of disease” register in brain symptoms before reflexing to other parts of the body? A sentence in The Light of the Soul has a bearing here:
Liệu “những nguyên nhân tâm lý gây bệnh” có ghi nhận thành triệu chứng ở bộ não trước khi phản chiếu đến những phần khác của thân thể không? Một câu trong Ánh Sáng của Linh Hồn có liên quan đến vấn đề này:
“The brain, for instance, is the ‘shadow’ or the external organ of the mind, and it will be found by the investigator that the contents of the brain cavity have a correspondence to the aspects of the human mechanism found upon the mental plane.”
“Chẳng hạn, bộ não là ‘cái bóng’ hay cơ quan bên ngoài của thể trí, và người khảo cứu sẽ nhận thấy rằng những gì nằm trong khoang não có sự tương ứng với các phương diện của bộ máy con người trên cõi trí.”
Bear in mind that the life force works through the heart, utilising the blood stream, whilst the consciousness aspect works through the brain, using the nervous system. This is the first and most important point to grasp.
Hãy ghi nhớ rằng mãnh lực sự sống hoạt động qua tim, sử dụng dòng máu, trong khi phương diện tâm thức hoạt động qua bộ não, sử dụng hệ thần kinh. Đây là điểm đầu tiên và quan trọng nhất cần nắm bắt.
Psychological causes of disease register in the brain or (if of a very low order) in the solar plexus. They do not, however, make their presence felt as symptoms of disease in these places where they thus register. They are energies or forces which—when brought into contact with the energies of the body—produce, as a result (and not before this point) those conditions to which we give the name of disease. The psychological causes are forms of energy, working out through the appropriate centres in the body, and these, in their turn, condition the glandular system. [338] The secretion or hormone, generated under this esoteric stimulation, finds its way into the blood stream, and the result of all this interaction can be either good health, as it expresses sound psychological causes, or poor health, as it expresses the reverse.
Những nguyên nhân tâm lý gây bệnh được ghi nhận trong bộ não hoặc (nếu thuộc loại rất thấp) trong tùng thái dương. Tuy nhiên, chúng không biểu lộ sự hiện diện của mình dưới dạng triệu chứng bệnh tại những nơi ghi nhận chúng như thế. Chúng là những năng lượng hay mãnh lực mà—khi tiếp xúc với các năng lượng của thân thể—tạo ra, như một kết quả (và chỉ từ thời điểm này), những tình trạng mà chúng ta gọi là bệnh tật. Những nguyên nhân tâm lý là các hình thức năng lượng, hoạt động qua những trung tâm thích hợp trong thân thể, và đến lượt mình, các trung tâm này tác động lên hệ thống tuyến. [338] Chất tiết hay nội tiết tố được tạo ra dưới sự kích thích huyền bí này đi vào dòng máu, và kết quả của toàn bộ sự tương tác ấy có thể là sức khỏe tốt, khi nó biểu lộ những nguyên nhân tâm lý lành mạnh, hoặc sức khỏe kém, khi nó biểu lộ điều ngược lại.
It is the internal relation between the subtler energies, working through certain centres, plus the related endocrine system, with its relation to the blood stream, that constitutes both the possibility of disease and its cure. But this recognition is still academically lacking. Much of the inherent psychology is grasped, but a gap still exists between the physical and the etheric bodies, and little recognition of the etheric body is yet academically accorded. There is yet no real understanding of the relation between the inner psyche and the outer form, via the etheric body. The study of the glands has somewhat helped, but medical science must go a step further and relate the glandular system to the inner centres.
Chính mối quan hệ bên trong giữa những năng lượng tinh tế hơn, hoạt động qua một số trung tâm, cùng với hệ nội tiết tương ứng và mối quan hệ của hệ này với dòng máu, tạo nên cả khả năng mắc bệnh lẫn khả năng chữa lành. Nhưng giới học thuật vẫn chưa công nhận điều này. Người ta đã nắm bắt được nhiều khía cạnh tâm lý vốn có, nhưng vẫn còn một khoảng cách giữa thể xác và thể dĩ thái, và giới học thuật hiện vẫn ít công nhận thể dĩ thái. Vẫn chưa có sự thấu hiểu thực sự về mối quan hệ giữa đời sống tâm lý bên trong và hình tướng bên ngoài thông qua thể dĩ thái. Việc nghiên cứu các tuyến đã phần nào giúp ích, nhưng khoa học y học phải tiến thêm một bước và liên hệ hệ thống tuyến với các trung tâm bên trong.
On Problems of Melancholia.
Về Những Vấn Đề của Chứng U Sầu.
These problems of melancholia are difficult to place and are due to a wide variety of causes. I will list them here, and the list may at some time serve you.
Những vấn đề của chứng u sầu này khó xác định và xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Tôi sẽ liệt kê chúng ở đây, và danh sách này có thể hữu ích cho các bạn vào một lúc nào đó.
1. A sense of frustration, a thwarted wish-life, or a recognition of a basic life failure.
1. Cảm giác thất vọng, một đời sống ước muốn bị ngăn trở, hoặc sự nhận biết một thất bại căn bản trong đời.
2. A sense of dramatics, and a desire to figure importantly on the little stage of a person’s life. This can often be quite unrealised and have a truly subconscious origin, or it can be a carefully cultivated habit or attitude.
2. Khuynh hướng kịch tính hóa và mong muốn đóng vai quan trọng trên sân khấu nhỏ bé của đời mình. Điều này thường có thể hoàn toàn nằm ngoài sự nhận biết và thực sự có nguồn gốc trong tiềm thức, hoặc có thể là một thói quen hay thái độ được cố công nuôi dưỡng.
3. A devitalised condition, largely of an etheric nature, which robs life of all joy and desire and presents always a sense of futility. Many women passing through the menopause experience this.[339]
3. Tình trạng suy giảm sinh lực, phần lớn thuộc bản chất dĩ thái, tước đi mọi sự hoan hỉ và ham muốn trong đời, luôn đem lại cảm giác vô ích. Nhiều phụ nữ trải qua thời kỳ mãn kinh gặp tình trạng này.[339]
4. A certain form of breakdown in the cells found in a particular area of the brain.
4. Một hình thức suy thoái nào đó của các tế bào trong một vùng nhất định của bộ não.
5. Based on fear of insanity and of death—a baseless fear which has never materialised but which does constitute an idée fixe, so that the person is the victim of a well developed thoughtform.
5. Xuất phát từ nỗi sợ mất trí và cái chết—một nỗi sợ vô căn cứ chưa bao giờ thành hiện thực nhưng lại cấu thành một ý tưởng cố định, khiến người ấy trở thành nạn nhân của một hình tư tưởng đã phát triển mạnh.
6. A tuning-in, through oversensitivity, on the suffering and massed pain of the world. Disciples can be temporarily overcome by this.
6. Do quá nhạy cảm mà bắt nhịp với nỗi khổ đau và đau đớn tích tụ của thế giới. Các đệ tử có thể tạm thời bị điều này lấn át.
7. This condition is very seldom brought about by any form of obsession such as “an earthbound entity or a living vampire-like person.” A very few such cases have been known, but they are too rare to be considered a factor.
7. Tình trạng này rất hiếm khi do bất kỳ hình thức ám nhập nào gây ra, chẳng hạn như “một thực thể còn vướng mắc ở cõi trần hoặc một người đang sống giống như ma cà rồng”. Người ta đã biết đến một số rất ít trường hợp như vậy, nhưng chúng quá hiếm để được xem là một yếu tố.
8. Sometimes a person tunes in on a state of massed melancholia, such as can be found in our sanitariums or asylums. The condition has then nothing really to do with him, but being sensitive, he identifies himself with those who are suffering from acute melancholia.
8. Đôi khi một người bắt nhịp với trạng thái u sầu tập thể, như có thể thấy trong các viện điều dưỡng hay bệnh viện tâm thần của chúng ta. Khi ấy, tình trạng này thực sự không liên quan gì đến y, nhưng vì nhạy cảm, y đồng hoá với những người đang mắc chứng u sầu cấp tính.
9. Melancholia, as a symptom of disease (not of brain disease) is also fairly frequent and will disappear when the disease is under proper treatment.
9. Chứng u sầu, với tư cách một triệu chứng của bệnh tật (không phải bệnh não), cũng khá thường gặp và sẽ biến mất khi căn bệnh được điều trị đúng cách.
A person may be suffering from a combination of such causes, as for instance a combination, let us say of the causes in 1, 2, 6.
Một người có thể chịu tác động của nhiều nguyên nhân như thế kết hợp lại, chẳng hạn sự kết hợp của các nguyên nhân ở mục 1, 2, 6.
On Full Moon and Psychoses.
Về Trăng Tròn và Các Chứng Loạn Thần.
One of the departments of esoteric medicine in the future will concern itself with the law of cycles, lunar and solar. It will then be demonstrated as a fact, what has always been suspected and is now generally recognised, that the period of the full moon has a definite effect upon unbalanced people, upon the dreaming state and frequently conditions quite [340] drastically, the neurotic and erotic conditions so prevalent at this time.
Một trong những ngành của y học huyền bí trong tương lai sẽ nghiên cứu định luật về các chu kỳ của mặt trăng và mặt trời. Khi ấy, điều từ lâu vẫn được nghi ngờ và hiện nay được công nhận rộng rãi sẽ được chứng minh là sự thật: thời kỳ trăng tròn có ảnh hưởng rõ rệt đến những người mất cân bằng, đến trạng thái mơ, và thường tác động khá [340] mạnh đến những tình trạng rối loạn thần kinh và kích dục rất phổ biến vào thời nay.
The tremendous increase in insanity and imbalance today is due to three major causes:
Sự gia tăng ghê gớm của tình trạng mất trí và mất cân bằng ngày nay bắt nguồn từ ba nguyên nhân chính:
1. The transitional period of today producing a clash between the Aquarian and the Piscean forces, has led to a condition which makes it very difficult for sensitive people to live normally at all. To express the idea in symbol: It is almost as if the race, after habituating itself to live on the earth, had now to accustom itself to live in water. I am talking from the standpoint of the form.
1. Thời kỳ chuyển tiếp hiện nay, tạo ra sự xung đột giữa các mãnh lực Bảo Bình và Song Ngư, đã dẫn đến một tình trạng khiến những người nhạy cảm rất khó có thể sống bình thường. Diễn đạt ý tưởng này bằng biểu tượng: gần như thể nhân loại, sau khi đã quen sống trên đất, nay phải tập quen sống trong nước. Tôi đang nói từ quan điểm hình tướng.
2. The intense spiritual and mental stimulation which is being applied today to the masses by the planetary Hierarchy. The intent is to bring to an end old forms of living, to create new forms through the process of adjustment, and thus bring in a new civilisation based on a more subjective culture. I would ask you to ponder on this last sentence.
2. Sự kích thích mãnh liệt về tinh thần và trí tuệ mà Thánh đoàn hành tinh đang tác động lên quần chúng ngày nay. Mục đích là chấm dứt những hình thức sống cũ, tạo ra những hình thức mới qua tiến trình điều chỉnh, và nhờ đó mở ra một nền văn minh mới dựa trên một nền văn hóa mang tính chủ quan hơn. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về câu cuối này.
3. The pouring in of more light from the astral plane (at present unrecognised) and also the tremendous increase of ordinary physical plane illumination. This produces oversensitivity. The work done by the prevailing use of electric light and the general glare in which humanity now lives, will exact its toll from the race until the human mechanism has adjusted itself to light. Remember that this general use of light is less than one hundred years old and is an occult effect with far reaching results.
3. Sự tuôn vào của nhiều ánh sáng hơn từ cõi cảm dục (hiện chưa được nhận biết), đồng thời với sự gia tăng ghê gớm của việc chiếu sáng thông thường trên cõi hồng trần. Điều này tạo ra sự nhạy cảm quá mức. Tác động của việc sử dụng ánh sáng điện phổ biến và tình trạng chói sáng khắp nơi mà nhân loại hiện đang sống trong đó sẽ khiến nhân loại phải trả giá cho đến khi bộ máy con người thích nghi với ánh sáng. Hãy nhớ rằng việc sử dụng ánh sáng phổ biến như thế mới chỉ có chưa đầy một trăm năm và là một hiệu ứng huyền bí với những kết quả sâu rộng.
I mention these three things because they are responsible for much of the predisposition to sensitivity of an abnormal kind. Occult students well know that at the time of the full moon certain high contacts are easier than at other [341] times, but it is right here, my brother, that the difficulty lies.
Tôi đề cập đến ba điều này vì chúng gây ra phần lớn khuynh hướng nhạy cảm bất thường. Các đạo sinh huyền bí học đều biết rõ rằng vào thời điểm trăng tròn, một số sự tiếp xúc cao siêu dễ thực hiện hơn vào những [341] lúc khác, nhưng huynh đệ của Tôi, chính ở đây có sự khó khăn.
At the time of the full moon (over a period of five days) the moon and the planet are the recipients of more reflected light from the sun than at any other time. For this there is a subjective cause. I can only explain it to you by a symbol which may convey truth to you or which may act as a blind. Symbolically speaking, the period of intensest meditation of our planetary Logos comes around at the full moon period each month; just as you have your daily meditation so He in His high place, has His cyclic point of contact. This produces the pouring in of radiance and the entering in of energy both subjective and objective. For all true students, therefore, their work on the mental plane is facilitated; they are enabled then to meditate more successfully and to attain realisation with greater ease. They definitely share in the achievement of the Lord of Shamballa.
Vào thời điểm trăng tròn (trong khoảng năm ngày), mặt trăng và hành tinh nhận được nhiều ánh sáng phản chiếu từ mặt trời hơn bất kỳ lúc nào khác. Điều này có một nguyên nhân chủ quan. Tôi chỉ có thể giải thích cho các bạn bằng một biểu tượng có thể truyền đạt chân lý đến các bạn hoặc có thể đóng vai trò che giấu. Nói theo nghĩa biểu tượng, thời kỳ tham thiền mãnh liệt nhất của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta diễn ra vào thời kỳ trăng tròn mỗi tháng; cũng như các bạn tham thiền hằng ngày, Ngài, ở địa vị cao cả của Ngài, có thời điểm tiếp xúc theo chu kỳ. Điều này tạo nên sự tuôn vào của ánh huy hoàng và sự đi vào của năng lượng, cả chủ quan lẫn khách quan. Vì vậy, đối với mọi đạo sinh chân chính, công việc của họ trên cõi trí trở nên thuận lợi hơn; khi ấy, họ có thể tham thiền thành công hơn và đạt sự chứng nghiệm dễ dàng hơn. Họ thực sự chia sẻ thành tựu của Đức Chúa Tể Shamballa.
The moon, as you know, is a shell, an ancient form through which the planetary Logos at one time sought expression. It is slowly disintegrating physically but not astrally as yet, and is therefore still closely linked with the astral body of the planetary Logos and therefore with the astral bodies of all people. Its influence is consequently more potent at the time of the full moon upon all who are unbalanced. This lack of equilibrium, which it really is, will eventually be found to exist between the astral body, the etheric body and the physical mechanism.
Như các bạn biết, mặt trăng là một cái vỏ, một hình tướng cổ xưa mà qua đó Hành Tinh Thượng đế từng tìm cách biểu lộ. Nó đang dần phân rã về mặt hồng trần nhưng chưa phân rã về mặt cảm dục, vì vậy vẫn liên kết mật thiết với thể cảm dục của Hành Tinh Thượng đế, và do đó với các thể cảm dục của tất cả mọi người. Bởi vậy, vào thời điểm trăng tròn, ảnh hưởng của nó mạnh hơn đối với tất cả những ai mất cân bằng. Cuối cùng, người ta sẽ phát hiện rằng sự thiếu quân bình này, đúng với bản chất của nó, tồn tại giữa thể cảm dục, thể dĩ thái và bộ máy hồng trần.
People who are definitely aspirants and people who are definitely mental, can profit by these full moon cycles; those who are definitely unbalanced, positively astral, and emotional, and frequently swept by uncontrolled desire, are hindered, overstimulated, and psychically upset by these same cycles. The veil of illusion is lit up at that time with a consequent result of hallucination, astral visions, [342] psychic urges, and those misinterpretations of life, of overemphasis upon aspects of life which we call phobias, lunacy, etc.
Những người thực sự là người chí nguyện và những người thực sự thiên về trí tuệ có thể hưởng lợi từ các chu kỳ trăng tròn này; những người rõ rệt mất cân bằng, nặng về cảm dục và cảm xúc, thường xuyên bị dục vọng không kiểm soát cuốn đi, lại bị chính các chu kỳ ấy cản trở, kích thích quá mức và gây rối loạn thông linh. Khi ấy, bức màn ảo tưởng được chiếu sáng, dẫn đến ảo giác, những linh ảnh cảm dục, [342] những thôi thúc thông linh và những cách diễn giải sai lầm về cuộc sống, những sự nhấn mạnh quá mức vào các phương diện của cuộc sống mà chúng ta gọi là các chứng ám sợ, loạn trí, v.v.
I would like to make a suggestion here, which is not possible for me to prove to you, but which the future will substantiate. The major diseases called mental, seldom have anything to do with the mind itself. They are:
Ở đây, Tôi muốn đưa ra một gợi ý mà Tôi không thể chứng minh cho các bạn, nhưng tương lai sẽ xác nhận. Những căn bệnh chính được gọi là bệnh tâm thần hiếm khi có liên quan đến chính thể trí. Chúng là:
1. Diseases of the brain.
1. Các bệnh của bộ não.
2. Disorders of the solar plexus.
2. Những rối loạn của tùng thái dương.
3. Astral domination.
3. Sự thống trị của cảm dục.
4. Premature clairvoyance and clairaudience.
4. Thông nhãn và thông nhĩ phát triển quá sớm.
5. Obsession.
5. Sự ám nhập.
6. Absence of mind.
6. Sự vắng mặt của thể trí.
7. Soullessness.
7. Tình trạng không có linh hồn.
This is, of course, a wide generalisation and has no reference to that category of diseases in which both mind and brain are involved. The diseases of mystics are also in a different category. These latter diseases involve the brain of course, indicate mental imbalance, produce various types of heart disease and the diverse neurotic tendencies with which the saints of the world were so often afflicted.
Dĩ nhiên, đây là một sự khái quát rộng và không đề cập đến loại bệnh có liên quan đến cả thể trí lẫn bộ não. Các bệnh của những nhà thần bí cũng thuộc một loại khác. Dĩ nhiên, những bệnh này liên quan đến bộ não, cho thấy sự mất cân bằng trí tuệ, tạo ra nhiều loại bệnh tim cùng những khuynh hướng rối loạn thần kinh khác nhau mà các vị thánh trên thế giới rất thường mắc phải.
One thing I will add, however, for your encouragement. As the race, as a whole, becomes governed by the solar Lord, the sun god, the Soul, then the cycles of the moon will steadily lose their baleful effect and there will be a dying out of the various neurotic complaints and mental diseases today so prevalent. The time is not yet. It is not easy for me to give more information concerning the moon and its phases, as it constitutes one of the major mysteries to be revealed at the third initiation.
Tuy nhiên, Tôi sẽ thêm một điều để khích lệ các bạn. Khi nhân loại nói chung chịu sự cai quản của nhật tinh quân, thần mặt trời, tức Linh Hồn, các chu kỳ của mặt trăng sẽ dần mất đi ảnh hưởng tai hại, và những chứng rối loạn thần kinh cùng các bệnh tâm thần hiện rất phổ biến sẽ dần biến mất. Thời điểm ấy chưa đến. Tôi không dễ cung cấp thêm thông tin về mặt trăng và các pha của nó, vì điều này cấu thành một trong những bí nhiệm lớn sẽ được mặc khải ở lần điểm đạo thứ ba.
[343]
[343]
On Distribution of Force; Blood Transfusion.
Về Sự Phân Phối Mãnh Lực; Truyền Máu.
Instead of two questions, you have several. Let me list them for you so that you will see what I mean, and for clarity in replying. Several of these questions are inferred and not definitely posited, but if I am to deal with them they must be put in the form of questions and even then the subject is so vast that there will not be time.
Thay vì hai câu hỏi, các bạn có nhiều câu hỏi. Hãy để Tôi liệt kê chúng để các bạn thấy Tôi muốn nói gì, đồng thời giúp câu trả lời được rõ ràng. Một số câu hỏi này chỉ được hàm ý chứ chưa được nêu rõ, nhưng nếu Tôi bàn đến chúng thì phải đặt chúng dưới hình thức câu hỏi, và ngay cả như vậy, chủ đề vẫn quá rộng lớn đến mức sẽ không đủ thời gian.
1. How can a more harmonious distribution of force be accomplished for the benefit of all?
1. Làm thế nào để phân phối mãnh lực hài hòa hơn vì lợi ích của tất cả?
2. Can you give us some more specific instructions and indicate to us some esoteric methods, suitable to our stage of development in connection with this problem of distribution?
2. Ngài có thể cho chúng tôi thêm một số chỉ dẫn cụ thể và chỉ ra một số phương pháp huyền bí phù hợp với giai đoạn phát triển của chúng tôi về vấn đề phân phối này không?
3. Has the fact of blood transfusion...any correspondence in some process of the transfusion of subtle energies on the inner planes?
3. Việc truyền máu...có sự tương ứng nào với một tiến trình truyền các năng lượng tinh tế trên những cõi bên trong không?
4. Are there some special means, besides what we are already trying to do, by which those of us who are on the second ray could more effectively transfuse our love quality into brothers on the first ray, and vice versa?
4. Ngoài những điều chúng tôi đang cố gắng thực hiện, có phương cách đặc biệt nào giúp những người thuộc cung hai trong chúng tôi truyền phẩm tính bác ái của mình vào các huynh đệ thuộc cung một một cách hiệu quả hơn, và ngược lại không?
5. What is the interrelation and the cooperation among the ray lives and particularly between the first and second ray entities?
5. Mối tương quan và sự hợp tác giữa các sự sống thuộc các cung, đặc biệt giữa các thực thể thuộc cung một và cung hai, là gì?
6. How can the example of the close cooperation and friendship between the Master M. and the Master K. H. be of practical help and inspiration to us?
6. Tấm gương về sự hợp tác mật thiết và tình bằng hữu giữa Chân sư M. với Chân sư KH có thể giúp ích thiết thực và truyền cảm hứng cho chúng tôi như thế nào?
You will see from the above how impossible it will be to deal with this wide range of subjects. I will, however, give you the briefest answers to some of them, or indicate the line along which your ideas may flow.
Từ những điều trên, các bạn sẽ thấy không thể bàn hết phạm vi chủ đề rộng lớn này. Tuy nhiên, Tôi sẽ trả lời thật ngắn gọn một số câu hỏi, hoặc chỉ ra hướng mà những ý tưởng của các bạn có thể phát triển.
1. A harmonious distribution of forces varies in its arrangement and consequently in its outer effect not only [344] according to ray types but according to the age of the soul, and the individual status upon the Path. There is a difference in this arrangement in the subtle bodies of the probationary disciple and of the accepting disciple, and of the accepted disciple and for each grade upon the path of initiation. This arrangement is brought about in three ways or is subject to three forms of developing influences.
1. Sự phân phối hài hòa các mãnh lực thay đổi về cách sắp xếp và do đó về tác động bên ngoài, không chỉ [344] tùy theo các loại cung mà còn tùy theo tuổi của linh hồn và địa vị cá nhân trên Đường Đạo. Cách sắp xếp này có sự khác biệt trong các thể tinh tế của đệ tử dự bị, đệ tử đang chấp nhận và đệ tử được chấp nhận, cũng như ở mỗi cấp trên Con Đường Điểm Đạo. Sự sắp xếp này hình thành theo ba cách hoặc chịu ba hình thức ảnh hưởng đang phát triển.
a. Through the life of aspiration, as registered in the physical brain consciousness.
a. Thông qua đời sống khát vọng, như được ghi nhận trong tâm thức của bộ não hồng trần.
b. Through the spontaneous awakening of the centres and in their right geometrical progression. This I have referred to in some of my books, but more cannot be given as it is one of the secrets of the first initiation. The rearranging and the readjustment proceeds during the whole period of the Path, technically understood.
b. Thông qua sự thức tỉnh tự phát của các trung tâm và sự phát triển theo trình tự hình học đúng đắn của chúng. Tôi đã đề cập đến điều này trong một số sách của mình, nhưng không thể nói thêm vì đó là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ nhất. Sự sắp xếp lại và điều chỉnh lại tiếp diễn suốt toàn bộ thời kỳ của Đường Đạo, hiểu theo nghĩa chuyên môn.