← Esoteric Healing – Song ngữ song ngữ (codex)

c. Through the decentralisation of the whole inner conscious life. The server becomes:

Trích nội dung chương

c. Thông qua việc phi tập trung vào bản thân trong toàn bộ đời sống hữu thức bên trong. Người phụng sự trở thành: Việc nghiên cứu những cụm từ mô tả này có thể cho các bạn manh mối về sự phân phối năng lượng đúng đắn.


c. Through the decentralisation of the whole inner conscious life. The server becomes:

c. Thông qua việc phi tập trung vào bản thân trong toàn bộ đời sống hữu thức bên trong. Người phụng sự trở thành:

1. The mystical extrovert.

1. Người hướng ngoại thần bí.

2. The “one who steps aside from the centre.”

2. “Người bước sang một bên khỏi trung tâm.”

3. The “one who lives upon the periphery of the heart.”

3. “Người sống ở vùng ngoại vi của trái tim.”

4. The “one who hovers over the central lotus.”

4. “Người lơ lửng bên trên hoa sen trung tâm.”

5. The “distant one who sees from far away, yet lives within the form of all that is.”

5. “Người ở xa nhìn thấy từ xa, nhưng vẫn sống trong hình tướng của tất cả những gì hiện hữu.”

A study of these descriptive phrases may give you the clue to the right distribution of energy.

Việc nghiên cứu những cụm từ mô tả này có thể cho các bạn manh mối về sự phân phối năng lượng đúng đắn.

2. The second question is somewhat answered in the above brief statement. I am doing what I can in my personal instructions (Discipleship in the New Age Vol. I & II) to all of you to bring about two things:

2. Câu hỏi thứ hai đã phần nào được trả lời trong phát biểu ngắn gọn trên. Trong những huấn thị cá nhân dành cho tất cả các bạn (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I & II), Tôi đang làm hết khả năng để thực hiện hai điều:

a. Clear the field of the personality life so that the higher energies can have freer play.[345]

a. Dọn quang lĩnh vực đời sống phàm ngã để những năng lượng cao hơn có thể hoạt động tự do hơn.[345]

b. Bring about those conditions and orientations which will produce harmony within, and consequently and equally, harmonious relations without. I would remind you, however, that the inner harmony of one brother in a group may not be adequate to produce harmony in another brother or in the group.

b. Tạo ra những điều kiện và định hướng đem lại sự hài hòa bên trong, và do đó, cũng đem lại những mối quan hệ hài hòa bên ngoài. Tuy nhiên, Tôi muốn nhắc các bạn rằng sự hài hòa bên trong của một huynh đệ trong nhóm có thể chưa đủ để tạo nên sự hài hòa nơi một huynh đệ khác hay trong cả nhóm.

3. Blood transfusion is symbolic of two things: First, that the blood is the life, and secondly, that there is but one Life permeating all forms, and therefore transferable under right conditions. It is also a synthetic act of service. Ponder on this.

3. Truyền máu tượng trưng cho hai điều: thứ nhất, máu là sự sống; thứ hai, chỉ có một Sự Sống thấm nhuần mọi hình tướng, và vì vậy có thể truyền được trong những điều kiện thích hợp. Đó cũng là một hành động phụng sự mang tính tổng hợp. Hãy suy ngẫm về điều này.

4. Your question gives me an opportunity to point out that even an understanding of, and interest in, the ray types (as represented for instance in a group) may itself lead to a subtle separative attitude. There is no necessity for any Son of God in incarnation upon the physical plane or in the three worlds to “transfuse” his ray quality into his brother. These ray qualities are shared by all alike, and a brother’s own soul—differing in no way from another soul—will effect the needed transmutation or transfusion into the personality life. One may facilitate the process by providing those conditions of harmony and peace wherein a brother is faced with as few contrary attitudes as possible, and where the interplay of love may produce an effective stimulation. But this is not transfusion. What exists in you exists in all, and the love quality (above all other qualities) is the dominant characteristic of all rays.

4. Câu hỏi của các bạn cho Tôi cơ hội chỉ ra rằng ngay cả sự thấu hiểu và quan tâm đến các loại cung (chẳng hạn như được biểu hiện trong một nhóm) cũng có thể tự nó dẫn đến một thái độ chia rẽ tinh vi. Không có Con của Thượng đế nào đang lâm phàm trên cõi hồng trần hay trong ba cõi giới cần phải “truyền” phẩm tính cung của mình vào huynh đệ. Tất cả đều cùng chia sẻ những phẩm tính cung này, và chính linh hồn của một huynh đệ—không khác bất kỳ linh hồn nào khác—sẽ thực hiện sự chuyển hoá hay truyền dẫn cần thiết vào đời sống phàm ngã. Người ta có thể tạo thuận lợi cho tiến trình này bằng cách tạo ra những điều kiện hài hòa và bình an, trong đó một huynh đệ phải đối diện với ít thái độ đối nghịch nhất có thể, và nơi sự tương tác của tình thương có thể tạo nên một sự kích thích hữu hiệu. Nhưng đây không phải là sự truyền dẫn. Điều hiện hữu trong các bạn cũng hiện hữu trong tất cả, và phẩm tính bác ái (hơn mọi phẩm tính khác) là đặc tính chủ đạo của tất cả các cung.

5. This question is not only one of the mysteries of the occult sciences, but it is of far too vast a nature in its implications and too complicated a problem for me to deal with in this place.

5. Câu hỏi này không chỉ là một trong những bí nhiệm của các khoa học huyền bí, mà những hàm ý của nó còn quá rộng lớn và vấn đề quá phức tạp để Tôi có thể bàn đến ở đây.

6. The relationship of the two Masters you mention can be studied in two ways:[346]

6. Có thể nghiên cứu mối quan hệ giữa hai Chân sư mà các bạn đề cập theo hai cách:[346]

a. Through a consideration of the effective working relation which exists between the groups of disciples working under Them.

a. Qua việc xem xét mối quan hệ làm việc hữu hiệu giữa các nhóm đệ tử hoạt động dưới sự hướng dẫn của Các Ngài.

b. Through a study of those people (and they are many) who have a first ray personality and a second ray ego, or vice versa.

b. Qua việc nghiên cứu những người (và họ rất đông) có phàm ngã cung một và chân ngã cung hai, hoặc ngược lại.

In the last analysis, my brother, we bring about the correct distribution of force, leading to harmonious relations, when we seek to live selflessly. For the probationer, this means an imposed selfless activity upon the physical plane. For the accepted disciple, it involves a life free from all selfish, self-centered emotion, and of these self-pity and self-dramatisation are outstanding examples; for the initiate it means a mental attitude which is devoid of selfish thought, and free from the dramatisations in thought of the ego.

Xét đến cùng, huynh đệ của Tôi, chúng ta tạo ra sự phân phối mãnh lực đúng đắn, dẫn đến các mối quan hệ hài hòa, khi tìm cách sống vị tha. Đối với người dự bị, điều này có nghĩa là tự buộc mình hoạt động vị tha trên cõi hồng trần. Đối với đệ tử được chấp nhận, điều này đòi hỏi một đời sống thoát khỏi mọi cảm xúc ích kỷ, tập trung vào bản thân, mà sự tự thương hại và tự kịch tính hóa là những ví dụ nổi bật; đối với điểm đạo đồ, điều này có nghĩa là một thái độ trí tuệ không có tư tưởng ích kỷ và thoát khỏi những sự kịch tính hóa phàm ngã trong tư tưởng.

On Suffering.

Về Đau Khổ.

Suffering, in the last analysis, is only possible when the soul is identified with the body, or rather, when the spiritual aspect of the soul (in the body) is identified with the animal soul, which informs and vitalises the form and constitutes its temporary life. During unconsciousness, the animal soul is aware of pain and suffering, and those who nurse and watch know this well, but there is no real pain or true distress because the real man, the spiritual soul, has been driven away either by excessive pain (as in true unconsciousness) or by narcotics.

Xét đến cùng, đau khổ chỉ có thể xảy ra khi linh hồn đồng hoá với thân thể, hay đúng hơn, khi phương diện tinh thần của linh hồn (trong thân thể) đồng hoá với hồn động vật, vốn thấm nhuần và tiếp sinh lực cho hình tướng, cấu thành sự sống tạm thời của nó. Trong trạng thái bất tỉnh, hồn động vật nhận biết đau đớn và đau khổ, và những người chăm sóc, theo dõi đều biết rõ điều này, nhưng không có đau đớn thực sự hay khổ sở đích thực, vì con người đích thực, linh hồn tinh thần, đã bị đẩy ra xa do đau đớn quá mức (như trong trạng thái bất tỉnh thực sự) hoặc do các chất gây mê.

The suffering of the soul, when the personality goes astray, is only a symbolic form of words. There is no pain or true suffering, and frequently no knowledge of the happening, for the vibration is not high enough to penetrate into that high plane where dwells the soul. Where, however, [347] there is such knowledge, the soul experiences, if I might so express it, a sense of lost opportunity, and therefore a sense of frustration, but it is not more than that, for the patience of the soul, as of the Hierarchy, is illimitable. Just because we speak symbolically and say the soul suffers, you must not interpret it in ordinary terms.

Sự đau khổ của linh hồn khi phàm ngã lạc lối chỉ là một cách diễn đạt mang tính biểu tượng. Không có đau đớn hay đau khổ thực sự, và thường cũng không biết đến điều đang xảy ra, vì rung động không đủ cao để thâm nhập cõi cao nơi linh hồn cư ngụ. Tuy nhiên, [347] khi có sự nhận biết ấy, linh hồn trải nghiệm, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, cảm giác mất đi một cơ hội, và do đó là cảm giác thất vọng, nhưng không hơn thế, vì lòng kiên nhẫn của linh hồn, cũng như của Thánh đoàn, là vô hạn. Chỉ vì chúng ta nói theo nghĩa biểu tượng rằng linh hồn đau khổ, các bạn không được diễn giải điều đó theo nghĩa thông thường.

The suffering of Christ or of the planetary Logos or of God Himself, is not comprehensible in terms of personality reaction. We use the words, but they really mean “detached and isolated identification.” Does that convey aught to you, my brother?

Không thể thấu hiểu sự đau khổ của Đức Christ, của Hành Tinh Thượng đế hay của chính Thượng đế theo nghĩa phản ứng của phàm ngã. Chúng ta dùng những từ ấy, nhưng chúng thực sự hàm ý “sự đồng hoá tách rời và cô lập”. Huynh đệ của Tôi, điều đó có truyền đạt được gì đến các bạn không?

Wrong identification is the cause of pain and leads to suffering, distress and various effects. Right identification leads to understanding and comprehension of the psychological attitudes of the sufferer, but to no true pain or distress as we normally understand it.

Sự đồng hoá sai lầm là nguyên nhân của đau đớn và dẫn đến đau khổ, khổ sở cùng nhiều hậu quả khác nhau. Sự đồng hoá đúng đắn dẫn đến việc thấu hiểu và lĩnh hội những thái độ tâm lý của người đau khổ, nhưng không dẫn đến đau đớn hay khổ sở thực sự như chúng ta thường hiểu.

On Planetary Energy.

Về Năng Lượng Hành Tinh.

The sumtotal of energy remains the same for as long as a planet persists, with its forms and life expression. It is part of the great storehouse of energy. It is the use and the effect of this energy, as it is appropriated by a form or forms of some kind, which we note as it is attracted from its own place to a place where normally it would not be functioning. There it creates situations and produces difficulties which are closely connected with a man’s karma and destiny. There is a great abstracting energy which we call Death, whose influence at a given time proves more potent than the united influences of the body atoms and cells. It produces the tendency to withdraw and finally to abstract the soul energy which avails itself of these potencies in the process of discarding a vehicle on some plane or another. It might be said that the seeds of death (the germ of death) are latent in the planet and in the forms. [348] When powerful enough to be recognised, we call them germs, but this connotes a definite stage of almost tangible proof. When unduly potent, they produce acute disease and consequent death; when more feeble in effect, we call them illness and note their purificatory effect. These contaminations (as they can be called, though it is by no means a good name) are only such when that aggregate of energies which we call a man is brought in contact with these contaminating influences or types of ancient energies, and the reaction or the response is, from the angle of the comfort of the physical body, bad.

Tổng lượng năng lượng vẫn giữ nguyên chừng nào một hành tinh còn tồn tại, cùng những hình tướng và sự biểu lộ sự sống của nó. Nó là một phần của kho năng lượng lớn lao. Điều chúng ta ghi nhận là cách sử dụng và tác động của năng lượng này khi một hay nhiều hình tướng nào đó thu nhận nó, khi nó được thu hút từ nơi riêng của mình đến một nơi mà bình thường nó không hoạt động. Tại đó, nó tạo ra những tình huống và gây nên những khó khăn liên quan mật thiết đến nghiệp quả và vận mệnh của một người. Có một năng lượng thu hồi lớn lao mà chúng ta gọi là Cái Chết; vào một thời điểm nhất định, ảnh hưởng của nó tỏ ra mạnh hơn những ảnh hưởng hợp nhất của các nguyên tử và tế bào trong thân thể. Nó tạo ra khuynh hướng rút lui và cuối cùng thu hồi năng lượng linh hồn, vốn vận dụng những quyền năng này trong tiến trình loại bỏ một hiện thể trên cõi này hay cõi khác. Có thể nói rằng những hạt giống của cái chết (mầm chết) tiềm ẩn trong hành tinh và trong các hình tướng. [348] Khi đủ mạnh để được nhận biết, chúng ta gọi chúng là vi trùng, nhưng điều này hàm ý một giai đoạn xác định của bằng chứng gần như hữu hình. Khi quá mạnh, chúng gây ra bệnh cấp tính và dẫn đến cái chết; khi tác động yếu hơn, chúng ta gọi chúng là chứng bệnh và ghi nhận tác dụng thanh lọc của chúng. Những sự nhiễm bẩn này (có thể gọi như vậy, dù đó hoàn toàn không phải một tên gọi thích đáng) chỉ trở thành như thế khi tập hợp năng lượng mà chúng ta gọi là một con người tiếp xúc với những ảnh hưởng gây nhiễm bẩn hay những loại năng lượng cổ xưa ấy, và phản ứng hay sự đáp ứng, xét từ góc độ sự thoải mái của thể xác, là bất lợi.

On Transmutation of Desire.

Về Sự Chuyển Hoá Dục Vọng.

The point to be borne in mind is that desire dominates and controls action when the life force is focussed in the desire nature, as it predominantly is with the majority of people. But planned mental control is only possible when the life is focussed on the mental plane. When this is the case, desire will not require suppression, because the power of the focussed attention will be elsewhere and there will consequently be no furious desire to suppress. Suppression is an effort by the man focussed in the astral body to bring in the will aspect of the mind. But this he seldom does. The desire may pass off through the intense effort the man is making to achieve some mental consciousness, but no suppression takes place really, nor is the will evoked. When a man’s life is run and controlled by the mind from mental levels, then transmutation does take place; transmutation (whereby the astral nature is changed and altered) may be of a spiritual nature or simply of an expedient nature. Desire may be transmuted into spiritual aspiration or into an attitude which is in conformity to the will of the mind which is expressing it. Hence the necessity for careful analysis of motive and of objectives.[349]

Điểm cần ghi nhớ là dục vọng thống trị và kiểm soát hành động khi mãnh lực sự sống tập trung trong bản chất dục vọng, như thường thấy ở phần đông mọi người. Nhưng sự kiểm soát bằng trí tuệ có hoạch định chỉ có thể thực hiện khi sự sống tập trung trên cõi trí. Khi đó, dục vọng sẽ không cần bị đè nén, vì quyền năng của sự chú tâm tập trung sẽ hướng về nơi khác, và do đó không còn dục vọng dữ dội nào để đè nén. Sự đè nén là nỗ lực của người đang tập trung trong thể cảm dục nhằm đưa phương diện ý chí của thể trí vào hoạt động. Nhưng y hiếm khi làm được điều này. Dục vọng có thể tan đi qua nỗ lực mãnh liệt mà người ấy đang thực hiện để đạt đến một mức tâm thức trí tuệ nào đó, nhưng thực sự không có sự đè nén nào diễn ra, cũng không có ý chí nào được gợi lên. Khi thể trí từ các cấp độ trí tuệ điều hành và kiểm soát đời sống của một người, khi ấy sự chuyển hoá thực sự diễn ra; sự chuyển hoá (qua đó bản chất cảm dục được thay đổi và biến đổi) có thể mang bản chất tinh thần hoặc đơn thuần mang tính thực dụng. Dục vọng có thể được chuyển hoá thành khát vọng tinh thần hoặc thành một thái độ phù hợp với ý chí của thể trí đang biểu lộ nó. Vì vậy, cần phân tích cẩn thận động cơ và các mục tiêu.[349]

On Karma.

Về Nghiệp Quả.

I have already suggested to you that the entire question of karma is as yet imperfectly comprehended. A great Law of Cause and Effect exists, but one particular aspect of it has never been emphasised, and the knowledge of humanity on the subject of karma is very elementary. Karma has always been interpreted in terms of disaster, and consequences that are painful, of error, of penalty, and of evil happenings, both for the individual and for the group. Yet, such is the beauty of human nature, and much that is done is of such a fine quality and so selfless and so happily oriented, that the evil is frequently offset by the good. There is everywhere, little as it may be realised, an abundance of good karma of a potency (under the same Law) equal to that which is regarded as bad. Of this, small mention is ever made. This good karma brings into activity forces which may work out as healing energies in any specific case. Upon these energies for good, which have been earned and are operating, the healer can always count. This is my first point. Ponder upon it.

Tôi đã gợi ý với các bạn rằng toàn bộ vấn đề nghiệp quả đến nay vẫn chưa được thấu hiểu đầy đủ. Có một Định luật Nhân Quả vĩ đại, nhưng một phương diện đặc biệt của định luật này chưa bao giờ được nhấn mạnh, và tri thức của nhân loại về nghiệp quả còn rất sơ đẳng. Nghiệp quả luôn được diễn giải theo nghĩa tai họa và những hậu quả đau đớn, sai lầm, hình phạt và những biến cố xấu, đối với cả cá nhân lẫn nhóm. Tuy nhiên, bản chất con người đẹp đẽ đến mức, và nhiều việc làm có phẩm tính tốt đẹp, vô ngã và hướng đến hạnh phúc đến mức, cái thiện thường hóa giải cái ác. Khắp nơi đều có rất nhiều nghiệp quả tốt, dù người ta ít nhận ra điều đó, với sức mạnh ngang bằng với những gì được xem là nghiệp quả xấu, dưới cùng một Định luật. Điều này hiếm khi được nhắc đến. Nghiệp quả tốt này đưa vào hoạt động những mãnh lực có thể biểu hiện thành các năng lượng chữa lành trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Người chữa lành luôn có thể trông cậy vào những năng lượng hướng thiện đã được tạo dựng và đang hoạt động này. Đây là điểm thứ nhất của Tôi. Hãy suy ngẫm về điều đó.

Karma is a determining factor, but unless a healer is an advanced initiate and so able to work effectively and intelligently on the causal levels whereon souls dwell, it is impossible for him to decide whether any specific case will yield to healing treatment or not. Therefore, the healer or practising disciple assumes in his mind the possibility of cure (which may be possible or not) and of the patient’s good karma, and proceeds to apply all possible aid. This is my second point.

Nghiệp quả là một yếu tố quyết định, nhưng trừ khi người chữa lành là một điểm đạo đồ cao cấp, nhờ đó có thể làm việc hiệu quả và sáng suốt trên các cấp độ nguyên nhân, nơi các linh hồn cư ngụ, thì người ấy không thể xác định liệu một trường hợp cụ thể có đáp ứng với việc chữa lành hay không. Vì vậy, trong thể trí mình, người chữa lành hay đệ tử đang thực hành thừa nhận khả năng chữa khỏi—điều có thể khả thi hoặc không—và nghiệp quả tốt của bệnh nhân, rồi tiến hành mọi sự trợ giúp có thể. Đây là điểm thứ hai của Tôi.

My third point is to suggest to you and to all engaged in the healing art that much of the so-called disaster, involved in disease and in death (particularly the latter) is to be found in a wrong attitude toward death, and to an [350] overestimation of the beneficence of form life. The release of a soul through disease and death is not necessarily an unhappy occurrence. A new and better attitude to the phenomenon of death is essential, is possible and near. Upon this I need not here enlarge. But I do seek to give you a new slant on the subject of sickness and of death.

Điểm thứ ba của Tôi là gợi ý với các bạn và tất cả những ai tham gia nghệ thuật chữa lành rằng phần lớn cái gọi là tai họa gắn với bệnh tật và cái chết, đặc biệt là cái chết, bắt nguồn từ một thái độ sai lầm đối với cái chết và từ việc [350] đánh giá quá cao lợi ích của đời sống hình tướng. Sự giải thoát của một linh hồn qua bệnh tật và cái chết không nhất thiết là một biến cố bất hạnh. Một thái độ mới và tốt đẹp hơn đối với hiện tượng chết là điều thiết yếu, khả thi và sắp hình thành. Ở đây, Tôi không cần bàn rộng về điều này. Nhưng Tôi quả thực muốn đem đến cho các bạn một góc nhìn mới về bệnh tật và cái chết.

Will you be astonished also if I state that under the Law it is quite possible to “interfere with karma”? The great Laws can be transcended and frequently have been in the past, and increasingly will be in the future. The Law of Gravitation is frequently offset and daily transcended when an aeroplane is in flight. The energy of faith can set in motion superior energies which can negate or retard disease. The whole subject of faith, and its vital significance and potency, is as little understood as is the Law of Karma. This is a tremendous subject, and I cannot further enlarge upon it. But I have said enough to offer you food for thought.

Liệu các bạn cũng sẽ ngạc nhiên nếu Tôi nói rằng, theo Định luật, việc “can thiệp vào nghiệp quả” là hoàn toàn có thể? Người ta có thể vượt lên trên các Định luật vĩ đại; điều này đã thường xảy ra trong quá khứ và sẽ ngày càng xảy ra nhiều hơn trong tương lai. Định luật Hấp Dẫn thường được hóa giải và hằng ngày được vượt qua khi máy bay đang bay. Năng lượng của đức tin có thể khởi động những năng lượng cao hơn, có khả năng vô hiệu hóa hoặc làm chậm diễn tiến của bệnh tật. Toàn bộ vấn đề đức tin, cùng thâm nghĩa thiết yếu và sức mạnh của nó, cũng ít được thấu hiểu như Định luật Nghiệp Quả. Đây là một chủ đề vô cùng rộng lớn, và Tôi không thể bàn rộng hơn nữa. Nhưng những điều Tôi đã nói đủ để đem đến cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm.

As regards the lengthening of the span of life during the past century of scientific attainment, I would point out that true techniques and the possibilities of organised soul action are always parodied and falsely demonstrated on the physical plane by the earlier scientific activities which are right in motive but which are only a symbol, on the outer sphere of life, of coming and usually future soul action. The life span will eventually be shortened or lengthened at will by souls who consciously serve, and use the mechanism of the body as the instrument whereby the Plan is served. Frequently, today, lives are preserved in form—both in old age and in infancy—that could be well permitted liberation. They serve no useful purpose and cause much pain and suffering to forms which nature (left to herself) would not long use, and would extinguish. Note that word. Through our overemphasis on the value of form [351] life, and through the universal fear of death—that great transition which we must all face—and through our uncertainty as to the fact of immortality, and also through our deep attachment to form, we arrest the natural processes and hold the life, which is struggling to be free, confined to bodies quite unfitted to the purposes of the soul. Misunderstand me not. I desire to say naught that could place a premium on suicide. But I do say, and I say with emphasis, that the Law of Karma is oft set aside when forms are preserved in coherent expression which should be discarded, for they serve no useful purpose. This preservation is, in the majority of cases, enforced by the subject’s group and not by the subject himself—frequently an unconscious invalid, an old person whose response apparatus of contact and response is imperfect, or a baby who is not normal. These cases constitute definite instances of an offsetting of the Law of Karma.

Về việc kéo dài tuổi thọ trong thế kỷ vừa qua nhờ những thành tựu khoa học, Tôi muốn chỉ ra rằng các kỹ thuật đích thực và những khả năng hoạt động có tổ chức của linh hồn luôn bị mô phỏng sai lệch và biểu hiện không đúng trên cõi hồng trần qua những hoạt động khoa học đi trước. Những hoạt động này có động cơ đúng đắn, nhưng trên phạm vi đời sống bên ngoài, chúng chỉ là biểu tượng của hoạt động linh hồn sắp đến và thường thuộc về tương lai. Cuối cùng, các linh hồn phụng sự một cách có ý thức và sử dụng bộ máy của thân thể làm công cụ phụng sự Thiên Cơ sẽ có thể rút ngắn hoặc kéo dài tuổi thọ theo ý muốn. Ngày nay, người ta thường duy trì sự sống trong hình tướng—cả ở tuổi già lẫn tuổi sơ sinh—trong những trường hợp lẽ ra có thể để cho sự giải thoát diễn ra một cách thích đáng. Những sự sống ấy không phụng sự mục đích hữu ích nào và gây nhiều đau đớn, khổ sở cho những hình tướng mà tự nhiên, nếu để tự vận hành, sẽ không sử dụng lâu và sẽ dập tắt. Hãy lưu ý từ ấy. Do quá nhấn mạnh giá trị của đời sống hình [351] tướng, do nỗi sợ chết phổ biến—bước chuyển tiếp lớn lao mà tất cả chúng ta đều phải đối diện—do sự thiếu chắc chắn của chúng ta về sự thật bất tử, và cả do sự gắn bó sâu sắc với hình tướng, chúng ta ngăn cản các tiến trình tự nhiên và giam giữ sự sống đang cố gắng thoát ra trong những thân thể hoàn toàn không phù hợp với các mục đích của linh hồn. Xin đừng hiểu lầm Tôi. Tôi không muốn nói bất cứ điều gì có thể khuyến khích việc tự sát. Nhưng Tôi quả thực nói, và nhấn mạnh rằng, người ta thường gạt Định luật Nghiệp Quả sang một bên khi duy trì sự biểu hiện cố kết của những hình tướng lẽ ra phải được loại bỏ, vì chúng không phụng sự mục đích hữu ích nào. Trong đa số trường hợp, chính nhóm của đương sự áp đặt việc duy trì này, chứ không phải bản thân đương sự—thường là một bệnh nhân bất tỉnh, một người già có bộ máy tiếp xúc và đáp ứng không hoàn chỉnh, hoặc một trẻ sơ sinh không bình thường. Những trường hợp này là các ví dụ rõ rệt về việc hóa giải Định luật Nghiệp Quả.

The soul, through alignment, enters into a right use of time; or rather the brain, which is the only time-conscious factor in man, is no longer the dominant attribute; the mind, as the agent of the soul (whose consciousness is inclusive of the past, present, and the future), sees life and experience as it truly is. Death, therefore, is referred to as an episode, and as a transitional point in a vast series of transitions. When this attitude of the soul is grasped, our entire technique of living, and incidentally of dying, is utterly altered.

Qua sự chỉnh hợp, linh hồn đi đến việc sử dụng thời gian đúng đắn; hay đúng hơn, bộ não, vốn là yếu tố duy nhất trong con người có ý thức về thời gian, không còn là thuộc tính chi phối nữa; thể trí, với vai trò tác nhân của linh hồn—mà tâm thức bao gồm quá khứ, hiện tại và tương lai—nhìn thấy đời sống và kinh nghiệm đúng như thực trạng của chúng. Vì vậy, cái chết được nói đến như một giai đoạn và một điểm chuyển tiếp trong một chuỗi chuyển tiếp rộng lớn. Khi nắm bắt được thái độ này của linh hồn, toàn bộ kỹ thuật sống của chúng ta, và qua đó cả kỹ thuật chết, sẽ hoàn toàn thay đổi.

In conclusion, however, and in apparent but no real negation of all that I have said above, let me repeat that the healer will give of his best to the one he seeks to heal. Having no clairvoyant power in the majority of cases, and being time-conscious and under the influence of karma, he will do his utmost along the lines of his own training and in accordance with the instructions given in this treatise [352] on healing. I suggest that you grasp that the objective before any healer at this time and at this given point in the evolutionary unfoldment of the race is the need, when so asked, to aid in the bringing about of health to the body and its sustained experience in life. You need also to realise that much that is believed, accepted and taught by the metaphysicians today is based on wrong premises, such as the nature of matter, the time equation, the value of form existence, and the fear of death. Seek to eliminate these attitudes from your consciousness, and you will arrive at a truer perspective as to the healing art.

Tuy nhiên, để kết thúc, và tuy bề ngoài có vẻ phủ định nhưng thực ra không phủ định tất cả những điều Tôi đã nói ở trên, Tôi xin nhắc lại rằng người chữa lành sẽ đem hết khả năng mình để giúp người mà mình tìm cách chữa lành. Trong đa số trường hợp, vì không có quyền năng thông nhãn, vẫn có ý thức về thời gian và chịu ảnh hưởng của nghiệp quả, người ấy sẽ nỗ lực hết sức theo những gì mình đã được huấn luyện và theo các huấn thị trong khảo luận [352] về chữa lành này. Tôi đề nghị các bạn nắm rõ rằng, vào lúc này và tại điểm hiện nay trong sự khai mở tiến hoá của nhân loại, mục tiêu đặt ra trước mọi người chữa lành là, khi có lời yêu cầu, cần giúp đem lại sức khỏe cho thân thể và duy trì kinh nghiệm sống của thân thể ấy. Các bạn cũng cần nhận ra rằng nhiều điều mà các nhà siêu hình học ngày nay tin tưởng, chấp nhận và giảng dạy đều dựa trên những tiền đề sai lầm, chẳng hạn về bản chất của vật chất, cách tính đến yếu tố thời gian, giá trị của sự tồn tại trong hình tướng và nỗi sợ chết. Hãy tìm cách loại bỏ những thái độ này khỏi tâm thức mình, và các bạn sẽ đạt đến một cách nhìn chân xác hơn về nghệ thuật chữa lành.

Later, in a few years’ time, we can probably begin to deal with specific cases. I seek, however, at this time to hold you to wide generalisations, and to basic laws and propositions, and not to cloud the issues with purely physical plane occurrences, temporary or chronic, or with death and destiny.

Sau này, trong vài năm nữa, có lẽ chúng ta có thể bắt đầu bàn đến những trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, vào lúc này, Tôi muốn giữ sự chú ý của các bạn vào những nhận định khái quát rộng lớn, những định luật và mệnh đề căn bản, và không làm các vấn đề trở nên mờ mịt bởi những sự việc thuần túy trên cõi hồng trần, dù nhất thời hay mãn tính, hoặc bởi cái chết và vận mệnh.

No request for real aid must ever be refused, however. A deaf ear must not be turned to trouble, either physical, mental or psychological. But I would call to your attention the fact that success in healing may not always mean release from disease and the so-called physical cure of the patient. It might simply involve, if physically successful, the postponement of the plan of the soul for the person. Success might mean the correction of wrong inner attitudes, of erroneous lines of thought, and at the same time leave the physical body as it was. It might mean the placing of the patient (through wise teaching and patience) en rapport with his soul and the consequent reorienting of the life to the eternal verities. It might consist in the proper preparation of the person for the tremendous purpose which we call Death, and thus bring about the relief of pain in this way.[353]

Tuy nhiên, không bao giờ được từ chối bất kỳ lời yêu cầu trợ giúp thực sự nào. Không được làm ngơ trước những nỗi khổ, dù về hồng trần, trí tuệ hay tâm lý. Nhưng Tôi muốn các bạn lưu ý rằng thành công trong chữa lành không phải lúc nào cũng hàm ý thoát khỏi bệnh tật và cái gọi là chữa khỏi về hồng trần cho bệnh nhân. Nếu thành công về hồng trần, điều đó có thể chỉ đơn giản là trì hoãn kế hoạch mà linh hồn dành cho người ấy. Thành công có thể là sửa chữa những thái độ nội tâm sai lầm, những đường hướng tư tưởng lệch lạc, đồng thời vẫn để nguyên thể xác như trước. Thành công có thể là đưa bệnh nhân, qua sự chỉ dạy sáng suốt và lòng kiên nhẫn, vào sự hòa hợp với linh hồn mình, từ đó tái định hướng đời sống theo những chân lý vĩnh cửu. Thành công có thể nằm ở việc chuẩn bị thích đáng cho người ấy đón nhận mục đích lớn lao mà chúng ta gọi là Cái Chết, và nhờ vậy làm vơi nỗi đau.[353]

The whole science of healing will shift eventually and increasingly into the realm of preventive medicine and the psychological adjustment of the individual within his group, and the providing of right living conditions, correct dieting and housing for the peoples. That, however, takes much time, and whilst the race is on its way to the newer modes of living, with their resultant effects of better health and a more correct comprehension of the laws of health, all who stand in the world as magnetic centres must proceed, according to the light that is in them, to work with people, in order to help them, to heal them, and to aid them in making needed adjustments. Nothing should stop your service along this line, not even the realisation of limitation and of ignorance. Do all you can to encourage and to sympathise, to point out undesirable attitudes, to end wrong ways of living, and change poor modes of psychological expression as far as you see them and to the best of your ability. Remember, nevertheless, that your best way may be far short of your future capacities, and remain ready ever to change your point of view when a higher and a better way is presented to you. Above everything else in life, give to all who seek your aid the fullest measure of love, for love releases, love adjusts and interprets, and love heals, on all three planes.

Cuối cùng, toàn bộ khoa học chữa lành sẽ ngày càng chuyển sang lĩnh vực y học dự phòng, sự điều chỉnh tâm lý của cá nhân trong nhóm mình, và việc cung cấp những điều kiện sống đúng đắn, chế độ ăn uống và nhà ở thích hợp cho các dân tộc. Tuy nhiên, điều đó cần nhiều thời gian, và trong khi nhân loại đang tiến đến những cách sống mới, với hệ quả là sức khỏe tốt hơn và sự thấu hiểu đúng đắn hơn về các định luật sức khỏe, tất cả những ai hiện diện trong thế gian như các trung tâm từ tính phải tiếp tục, theo ánh sáng bên trong mình, làm việc với mọi người để giúp đỡ, chữa lành và hỗ trợ họ thực hiện những điều chỉnh cần thiết. Không điều gì được ngăn cản việc phụng sự của các bạn theo đường hướng này, ngay cả sự nhận biết về giới hạn và sự thiếu hiểu biết của mình. Hãy làm mọi điều có thể để khích lệ và cảm thông, chỉ ra những thái độ không đáng có, chấm dứt những lối sống sai lầm và thay đổi những cách biểu hiện tâm lý không tốt, trong phạm vi các bạn nhận thấy và với hết khả năng mình. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng cách tốt nhất của các bạn hiện nay có thể còn kém xa những khả năng tương lai, và hãy luôn sẵn sàng thay đổi quan điểm khi một cách thức cao hơn và tốt hơn được trình bày với các bạn. Trên hết mọi điều trong đời sống, hãy trao trọn tình thương cho tất cả những ai tìm đến sự trợ giúp của các bạn, vì tình thương giải phóng, tình thương điều chỉnh và diễn giải, và tình thương chữa lành trên cả ba cõi.

On Group Illnesses.

Về Bệnh Tật Của Nhóm.

In the last analysis, most of the ills of the body are rooted in some response to group activity. It will be necessary for us to grasp the fact that the phrase “group life and activity” must include not only past heredity, or inherited group tendencies, but also may indicate present world contacts, which weaken or increase resistance far more than is generally believed possible. One of the causes of cancer, which was not so prevalent in the earlier and more leisured [354] days of the racial life—for then the HERD instinct was not so powerful as it is today—is due to the increased stimulation of the body. This stimulation is caused by our close contact in our daily lives with each other through our massed group existence, particularly in our urban centres. If cells are living organisms (which they are), they respond to group life, to massed cell emanation and radiation. This constant stream of energy pouring from the aggregate of bodily cells in massed humanity may produce in certain types of people an overstimulation in some part of bodily cell structure. This usually occurs where there is a weakness in the etheric or vital body, which means that cell defenses are impaired and the result is frequently a cancer or a general cancerous condition. This is the fundamental cause, though modern investigation is occupied with secondary causes and effects of this etheric weakness. I shall consider this later in more detail. It will be obvious to you that when we begin to deal with the vital body and to consider it with greater understanding and knowledge, we shall be able to handle such diseases as cancer far more effectively.

Xét đến cùng, phần lớn những bệnh tật của thân thể bắt nguồn từ một sự đáp ứng nào đó với hoạt động nhóm. Chúng ta cần nắm rõ rằng cụm từ “đời sống và hoạt động nhóm” phải bao gồm không chỉ di truyền từ quá khứ hay các khuynh hướng nhóm được thừa hưởng, mà còn có thể chỉ những tiếp xúc hiện tại trong thế giới, vốn làm suy yếu hoặc tăng cường sức đề kháng nhiều hơn hẳn mức người ta thường cho là có thể. Một trong những nguyên nhân gây ung thư—căn bệnh vốn không phổ biến đến thế trong những thời kỳ trước kia, khi đời sống nhân loại còn thư thả [354] hơn, vì lúc ấy bản năng BẦY ĐÀN chưa mạnh như ngày nay—là sự kích thích thân thể ngày càng gia tăng. Sự kích thích này phát sinh từ việc chúng ta tiếp xúc gần gũi với nhau trong đời sống hằng ngày qua sự tồn tại quần tụ thành nhóm, đặc biệt tại các trung tâm đô thị. Nếu các tế bào là những sinh vật sống, và quả đúng như vậy, thì chúng đáp ứng với đời sống nhóm, với sự phát xạ và bức xạ của các tế bào quần tụ. Dòng năng lượng liên tục tuôn ra từ tổng thể các tế bào thân thể trong nhân loại quần tụ có thể gây kích thích quá mức ở một phần nào đó trong cấu trúc tế bào thân thể của một số loại người. Điều này thường xảy ra tại nơi có sự yếu kém trong thể dĩ thái hay thể sinh lực, nghĩa là khả năng phòng vệ của tế bào bị suy giảm, và kết quả thường là một khối ung thư hoặc tình trạng ung thư lan rộng. Đây là nguyên nhân căn bản, dù việc nghiên cứu hiện đại đang tập trung vào những nguyên nhân và hệ quả thứ yếu của sự yếu kém dĩ thái này. Sau này, Tôi sẽ xem xét điều đó chi tiết hơn. Các bạn sẽ thấy rõ rằng khi chúng ta bắt đầu đề cập đến thể sinh lực và xem xét nó với sự thấu hiểu cùng tri thức sâu rộng hơn, chúng ta sẽ có thể xử lý những bệnh như ung thư hiệu quả hơn nhiều.

On Using the Mind and the Imagination to Develop Group Consciousness.

Về Việc Sử Dụng Thể Trí Và Sự Tưởng Tượng Để Phát Triển Tâm Thức Nhóm.

When a member of a group, such as a group for healing, speaks of developing group consciousness, he refers to his particular group of brothers, and to his group as a unit of several souls. Forget not that such a unit is in itself a separative concept from the angle of the greater whole, but it serves a useful purpose in training the group members to think in those wider terms. It serves as a stepping stone away from the consciousness of the isolated personality.

Khi một thành viên của một nhóm, chẳng hạn một nhóm chữa lành, nói đến việc phát triển tâm thức nhóm, y đang nói đến nhóm huynh đệ riêng của mình và đến nhóm mình như một đơn vị gồm nhiều linh hồn. Đừng quên rằng, từ góc nhìn của tổng thể lớn hơn, chính một đơn vị như thế là một quan niệm mang tính chia rẽ, nhưng nó phụng sự một mục đích hữu ích trong việc huấn luyện các thành viên nhóm suy nghĩ theo những phạm vi rộng lớn hơn ấy. Nó là một bước đệm để rời khỏi tâm thức của phàm ngã cô lập.

If you can indeed feel, think and function as one complete unit—several personalities and one soul—it will then be relatively easy to extend the concept to a broader inclusiveness, [355] to broaden your horizon and thus become inclusive in a much wider sense.

Nếu các bạn thực sự có thể cảm nhận, suy nghĩ và hoạt động như một đơn vị hoàn chỉnh—nhiều phàm ngã và một linh hồn—thì việc mở rộng quan niệm ấy đến một tính bao gồm rộng lớn hơn, [355] mở rộng chân trời của các bạn và nhờ vậy trở nên bao gồm theo một nghĩa rộng hơn nhiều, sẽ tương đối dễ dàng.

The using of the mind to this end involves an aptitude to learn the distinction between analysis and criticism. This is a hard and well-nigh impossible thing for many to learn. Traces of illumination of this subject will show themselves if the group persists in all earnestness. The members have to learn to respond, as a group, to the same spiritual, mental and human ideas, and thus swing—as a “telepathic unit”—into one united train of thought. They have, as a group, to be preoccupied with the same things which are indicated by the soul of the group, and not by one person in the group, as is apt to be the case. They have to learn, as a group, to hold the mind steady in the light—the group mind, and not their individual minds.

Việc sử dụng thể trí cho mục đích này đòi hỏi khả năng học cách phân biệt giữa phân tích và chỉ trích. Đối với nhiều người, đây là điều khó và gần như không thể học được. Những tia soi sáng về vấn đề này sẽ xuất hiện nếu nhóm kiên trì với tất cả sự nghiêm túc. Các thành viên phải học cách đáp ứng, với tư cách một nhóm, với cùng những ý tưởng về tinh thần, trí tuệ và nhân loại, nhờ đó chuyển vào một dòng tư tưởng thống nhất như một “đơn vị viễn cảm”. Với tư cách một nhóm, họ phải chuyên chú vào cùng những điều mà linh hồn nhóm chỉ ra, chứ không phải một người trong nhóm chỉ ra, như thường dễ xảy ra. Với tư cách một nhóm, họ phải học cách giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng—thể trí nhóm, chứ không phải các thể trí cá nhân của họ.

In using the imagination to this end, you have to cultivate the power to ignore the outer forms and to concentrate on the inner lines of light which unite brother to brother, group to group, and kingdom to kingdom in the expression of the Life of God Himself. It is the creative use of the imagination which produces an integrated group etheric body and which enables you to see this group body of force and light as one complete form and as one expression of the group intelligence, will and purpose—but not the will or purpose of the dominant mind or minds in the group. Thus these can work out on the physical plane in right expression. However, when the group members are primarily occupied with their own ideas, their plans, their problems, and how they can use whatever light and knowledge may be received, they negate any possibility of such creative use of the united imagination. To become entirely free from this will take much careful cultivation and self-surrender to the soul.[356]

Khi sử dụng sự tưởng tượng cho mục đích này, các bạn phải trau dồi khả năng không chú ý đến các hình tướng bên ngoài và tập trung vào những đường ánh sáng bên trong, vốn liên kết huynh đệ với huynh đệ, nhóm với nhóm và giới với giới trong sự biểu hiện Sự Sống của chính Thượng đế. Chính việc sử dụng sự tưởng tượng một cách sáng tạo tạo nên một thể dĩ thái nhóm tích hợp và giúp các bạn nhìn thấy khối mãnh lực và ánh sáng này của nhóm như một hình tướng hoàn chỉnh, một sự biểu hiện của trí thông minh, ý chí và mục đích nhóm—nhưng không phải ý chí hay mục đích của thể trí hoặc những thể trí chi phối nhóm. Nhờ vậy, những điều này có thể biểu hiện đúng đắn trên cõi hồng trần. Tuy nhiên, khi các thành viên nhóm chủ yếu bận tâm đến những ý tưởng, kế hoạch, vấn đề của riêng mình và cách họ có thể sử dụng bất cứ ánh sáng, tri thức nào nhận được, họ vô hiệu hóa mọi khả năng sử dụng sự tưởng tượng hợp nhất một cách sáng tạo như thế. Để hoàn toàn thoát khỏi điều này, cần nhiều sự trau dồi cẩn trọng và sự hiến dâng bản thân cho linh hồn.[356]

On Healing Energy.

Về Năng Lượng Chữa Lành.

The question is sometimes asked by beginners: “Can we clearly distinguish between the healing energy, as expressed by the soul and by the personality? Can we have some understanding of the part that love has to play in the art of healing?” I can answer with brevity.

Những người mới bắt đầu đôi khi đặt câu hỏi: “Chúng ta có thể phân biệt rõ năng lượng chữa lành do linh hồn biểu hiện với năng lượng chữa lành do phàm ngã biểu hiện không? Chúng ta có thể phần nào thấu hiểu vai trò mà tình thương phải đảm nhiệm trong nghệ thuật chữa lành không?” Tôi có thể trả lời ngắn gọn.

When we come to work as a group with individuals whom we shall seek to aid, we shall then learn to use the various types of energy according to the need of the individual to be healed. It would serve a real group purpose if all of you would study what is said by Rama Prasad in his book, Nature’s Finer Forces, and by Patanjali in The Light of the Soul on the subject of the pranas with which and within which we work; you should be somewhat familiar with the matter.

Khi chúng ta bắt đầu làm việc với tư cách một nhóm cùng những cá nhân mà chúng ta tìm cách trợ giúp, chúng ta sẽ học cách sử dụng các loại năng lượng khác nhau tùy theo nhu cầu của cá nhân cần được chữa lành. Sẽ thực sự hữu ích cho mục đích nhóm nếu tất cả các bạn nghiên cứu những điều Rama Prasad nói trong cuốn sách của ông, Những Mãnh Lực Tinh Tế Hơn Của Tự Nhiên, và những điều Patanjali nói trong Ánh Sáng Của Linh Hồn về các prana mà chúng ta làm việc cùng và hoạt động bên trong; các bạn nên có sự am hiểu nhất định về vấn đề này.

To answer the question specifically: An initiate or even a low-grade clairvoyant can easily distinguish between soul and personality healing energies, but the average intelligent aspirant as yet cannot. The initiate knows the source from which any type of healing energy may come. He senses its vibration and can follow it to its emanating source by an effort of the will, directed by the intuition. The clairvoyant can see the centre from which the healing energy can flow, and the centre then indicates the type and quality of the projected force. All energy is from the soul in the secondary instance, but in the primary sense all energy is simply life, functioning under direction of some kind.

Để trả lời cụ thể câu hỏi: Một điểm đạo đồ, hoặc ngay cả một người thông nhãn ở trình độ thấp, cũng có thể dễ dàng phân biệt giữa các năng lượng chữa lành của linh hồn và của phàm ngã, nhưng người chí nguyện thông minh trung bình thì đến nay vẫn chưa thể. Điểm đạo đồ biết nguồn gốc mà bất kỳ loại năng lượng chữa lành nào có thể xuất phát. Y cảm nhận rung động của nó và có thể lần theo nó đến nguồn phát xạ bằng một nỗ lực của ý chí do trực giác hướng dẫn. Người thông nhãn có thể nhìn thấy trung tâm mà năng lượng chữa lành có thể tuôn ra từ đó, và trung tâm ấy cho biết loại cùng phẩm tính của mãnh lực được phóng chiếu. Xét ở cấp độ thứ yếu, mọi năng lượng đều đến từ linh hồn, nhưng theo nghĩa nguyên sơ, mọi năng lượng đơn giản là sự sống, hoạt động dưới một hình thức chỉ đạo nào đó.

As to the part love has to play in the healing process: Love is the life expression of God Himself; love is the coherent force which makes all things whole (I would have you ponder upon this phrase), and love is all that is. The main characteristic of the distinction between soul energy and personality force, as applied to healing, lies in [357] the region of the application and the expression of love. Personality force is emotional, full of feeling, and—when in use—the personality is either conscious of itself as the healer, and is the dramatic centre of the stage upon which are two players, the healer and the one to be healed. Soul energy functions unconsciously and is wielded by those who are in contact with their souls and who are consequently decentralised; they are “off the stage” themselves, if I might use that expression, and they are completely occupied with group love, group activity and group purpose.

Về vai trò mà tình thương phải đảm nhiệm trong tiến trình chữa lành: Tình thương là sự biểu hiện sự sống của chính Thượng đế; tình thương là mãnh lực cố kết khiến mọi sự trở nên toàn vẹn—Tôi muốn các bạn suy ngẫm về cụm từ này—và tình thương là tất cả những gì hiện hữu. Đặc điểm chính phân biệt năng lượng linh hồn với mãnh lực phàm ngã, khi áp dụng vào chữa lành, nằm trong [357] phạm vi vận dụng và biểu hiện tình thương. Mãnh lực phàm ngã mang tính cảm xúc, đầy tình cảm, và khi được sử dụng, phàm ngã có ý thức về mình như người chữa lành, đồng thời là trung tâm kịch tính của sân khấu có hai diễn viên: người chữa lành và người cần được chữa lành. Năng lượng linh hồn hoạt động không cần sự chú tâm có ý thức, và những người tiếp xúc với linh hồn mình, do đó đã phi tập trung vào bản thân, vận dụng năng lượng ấy; nếu Tôi có thể dùng cách diễn đạt này, chính họ đã “rời khỏi sân khấu” và hoàn toàn chuyên chú vào tình thương nhóm, hoạt động nhóm và mục đích nhóm.

Why then is it so extremely difficult, if not altogether impossible, for earnest would-be healers to work together, as a group, with the sacred science of healing? Because as individuals and as a group they are predominantly personal in their individual and inter-group relations. This may show itself in intense criticism of each other, or of oneself; in a vivid sureness of personal rectitude and sound judgment which does not permit those who hold it to see that there is perhaps a chance that they are not as correct in their ideas as they deem themselves to be; it may show itself in a deep satisfaction over personal subjective contacts. Any or all the above hindrances may be present and make the group demonstration a personality demonstration which negates constructive work, and any attempt only intensifies personality reactions and would greatly (and adversely) affect the personalities of those they might seek to help.

Vậy tại sao những người tha thiết mong muốn chữa lành lại thấy việc cùng nhau làm việc, với tư cách một nhóm, bằng khoa học chữa lành thiêng liêng là vô cùng khó khăn, nếu không nói là hoàn toàn bất khả? Bởi vì, với tư cách cá nhân cũng như một nhóm, họ chủ yếu mang tính cá nhân trong các quan hệ riêng và quan hệ giữa các nhóm. Điều này có thể biểu hiện thành sự chỉ trích gay gắt lẫn nhau hoặc chỉ trích chính mình; thành niềm tin chắc mãnh liệt vào sự đúng đắn của cá nhân và khả năng phán đoán vững vàng của mình, khiến những người mang niềm tin ấy không thể thấy rằng có lẽ những ý tưởng của họ không đúng như họ tưởng; nó cũng có thể biểu hiện thành sự mãn nguyện sâu sắc về những tiếp xúc chủ quan của cá nhân. Bất kỳ hoặc tất cả những chướng ngại trên đều có thể hiện diện và khiến sự biểu hiện của nhóm trở thành sự biểu hiện của phàm ngã, vô hiệu hóa công việc xây dựng; khi ấy, mọi nỗ lực chỉ làm tăng cường các phản ứng phàm ngã và sẽ ảnh hưởng rất lớn, theo chiều hướng bất lợi, đến phàm ngã của những người mà họ có thể tìm cách trợ giúp.

How, then, should they proceed? I would point out that any group member who, as an individual, is free from the above frailties of the personality and from these attitudes, nevertheless knows (and rightly rejoices) that he participates, as a group member, in the group quality. That is one of the incidental difficulties of group work. To participate and yet stand free from weakness; to recognise that [358] the achievements or failures of the individual group members are entirely their own affair; to share and yet not be dominated by the powerful thoughts and ideas of the more potent members in the group is ever a problem. I point this out because, in this coming Age wherein group work will he greatly developed, it will be of value to understand group situations and problems, and then to go forward to the group work together with those who are yours to work with. You will then be the better and wiser for past experiences, and fused as a group through shared suffering and limitations and the gained ability of failure rightly met.

Vậy họ nên tiến hành như thế nào? Tôi muốn chỉ ra rằng bất kỳ thành viên nào của nhóm, dù với tư cách cá nhân đã thoát khỏi những nhược điểm phàm ngã và những thái độ nêu trên, vẫn biết rằng, với tư cách thành viên nhóm, mình có phần trong phẩm tính nhóm, và vui mừng về điều đó một cách chính đáng. Đây là một trong những khó khăn đi kèm công việc nhóm. Tham gia mà vẫn không bị ràng buộc bởi sự yếu kém; nhận biết rằng [358] những thành tựu hay thất bại của từng thành viên nhóm hoàn toàn là việc riêng của họ; chia sẻ mà không chịu sự chi phối của những tư tưởng và ý tưởng mạnh mẽ từ các thành viên có sức ảnh hưởng lớn hơn trong nhóm—đó luôn là một vấn đề. Tôi chỉ ra điều này vì trong Kỷ Nguyên sắp tới, khi công việc nhóm sẽ phát triển mạnh mẽ, việc thấu hiểu các tình huống và vấn đề của nhóm, rồi cùng tiến vào công việc nhóm với những người mà các bạn có phận sự làm việc cùng, sẽ có giá trị. Khi ấy, các bạn sẽ trở nên tốt đẹp và sáng suốt hơn nhờ những kinh nghiệm quá khứ, và dung hợp thành một nhóm qua những đau khổ, giới hạn cùng chia sẻ và năng lực có được nhờ đối diện đúng đắn với thất bại.

So let true love, silent, uncomplaining, non-critical and steadfast, be your goal and the quality of your group life. Then, when there is some definite work to do, you will work as a unit with hearts and minds as one.

Vì vậy, hãy lấy tình thương chân thật, thầm lặng, không than phiền, không chỉ trích và kiên định làm mục tiêu của các bạn và phẩm tính của đời sống nhóm. Khi ấy, lúc có một công việc cụ thể cần thực hiện, các bạn sẽ làm việc như một đơn vị, với những trái tim và thể trí hợp nhất.

On Instantaneous Healing.

Về Chữa Lành Tức Thời.

Instantaneous healing may be of various kinds. We might cite the following from among several possibilities which account for the happening:

Chữa lành tức thời có thể thuộc nhiều loại khác nhau. Trong số nhiều khả năng giải thích sự việc này, chúng ta có thể nêu ra những trường hợp sau:

1. The healing which is the result of a definite practice, conscious or unconscious, of Hatha Yoga. This is brought about by a projection of purely physical magnetism, which, added to the quota of available physical magnetism at the patient’s disposal within his own physical body, suffices to effect an immediate cure. The magnetism in the body of the patient, instead of being outgoing and radiating, becomes inverted and turns inward to make its contribution to the reservoir of physical force held in a static condition within the body. The more low grade human types produce this kind of healing with facility. This is equally so in relation to the patient and the healer. The case cited is a case in point. The healing was more easily brought about [359] by the “sheik” concerned because the wound (a bite in the arm—A.A.B.) was self-inflicted and before inflicting it, the patient (if I may so call him) held the outgoing force in abeyance by an act of the will, thus creating a reservoir of energy which was available to supplement that of the sheik which was, in its turn, released by a mantram. This is definitely not spiritual healing.

1. Sự chữa lành là kết quả của một phép thực hành Hatha Yoga cụ thể, có ý thức hoặc không có ý thức. Điều này diễn ra qua sự phóng chiếu từ điện thuần túy hồng trần; khi cộng thêm vào lượng từ điện hồng trần sẵn có mà bệnh nhân có thể sử dụng trong thể xác mình, nó đủ để tạo ra sự chữa khỏi tức thì. Thay vì hướng ra ngoài và tỏa chiếu, từ điện trong thân thể bệnh nhân đảo chiều, quay vào bên trong để góp thêm vào kho mãnh lực hồng trần đang được giữ ở trạng thái tĩnh trong thân thể. Những loại người ở trình độ thấp hơn tạo ra kiểu chữa lành này một cách dễ dàng. Điều này đúng với cả bệnh nhân lẫn người chữa lành. Trường hợp được nêu chính là một ví dụ. Vị “giáo trưởng” liên quan đã thực hiện việc chữa lành dễ dàng [359] hơn vì vết thương—một vết cắn trên cánh tay, theo A.A.B.—là do bệnh nhân tự gây ra, và trước khi gây ra vết thương, bệnh nhân, nếu Tôi có thể gọi người ấy như vậy, đã dùng một hành động của ý chí để giữ mãnh lực không tuôn ra ngoài, nhờ đó tạo nên một kho năng lượng sẵn có để bổ sung cho năng lượng của vị giáo trưởng; đến lượt năng lượng của vị này được giải phóng bằng một mantram. Đây chắc chắn không phải là chữa lành tinh thần.

2. There is also that form of healing which can be instantaneous because the disease is largely psychological and hallucinatory. The healer is then in the position to enable the patient to throw off illusion and so stand free. The will of the healer when added to that of the patient, aids in the breaking of the illusion and of the glamorous thoughtform and the patient then stands free. This is a psychological healing and only one illustration of it.

2. Cũng có một hình thức chữa lành có thể diễn ra tức thời vì bệnh tật phần lớn mang tính tâm lý và ảo giác. Khi ấy, người chữa lành có khả năng giúp bệnh nhân rũ bỏ ảo tưởng và nhờ vậy được tự do. Ý chí của người chữa lành, khi cộng với ý chí của bệnh nhân, giúp phá vỡ ảo tưởng và hình tư tưởng mang ảo cảm, rồi bệnh nhân được giải thoát. Đây là chữa lành tâm lý và chỉ là một ví dụ minh họa về hình thức ấy.

3. Then there is a type of healing which is brought about in two ways, and this is the true spiritual healing:

3. Tiếp đến là một loại chữa lành diễn ra theo hai cách, và đây là chữa lành tinh thần đích thực:

a. When the patient makes a sudden and frequently unexpected contact with his soul, and in which the soul energy is so great and so potent that it sweeps through the vehicles and definitely produces effects. Thus cures are brought about in some vehicle or another and frequently in the physical vehicle. The physical condition or disease retains, so oft, the undivided attention of the consciousness of the human being involved, and the soul pours through to the point of concentrated attention. In this thought lies, for many of you, a clear hint.

a. Khi bệnh nhân đột ngột, và thường bất ngờ, tiếp xúc với linh hồn mình, trong đó năng lượng linh hồn lớn lao và mạnh mẽ đến mức quét qua các hiện thể và tạo ra những hiệu quả rõ rệt. Nhờ vậy, sự chữa khỏi diễn ra trong hiện thể này hay hiện thể khác, và thường là trong hiện thể hồng trần. Tình trạng hồng trần hay bệnh tật thường thu hút trọn vẹn sự chú ý của tâm thức con người liên quan, và linh hồn tuôn qua đến điểm tập trung chú ý ấy. Đối với nhiều người trong các bạn, chính trong tư tưởng này có một gợi ý rõ ràng.

b. When the patient’s evil physical karma is exhausted, and physical plane illness is not, at this particular time, his destiny. Then the healer can begin to bear upon the situation, if he is spiritual and full of wisdom, enough spiritual energy to ensure a cure.

b. Khi nghiệp quả xấu về hồng trần của bệnh nhân đã cạn, và vào thời điểm cụ thể này, bệnh tật trên cõi hồng trần không phải là vận mệnh của y. Khi ấy, nếu có phẩm chất tinh thần và đầy minh triết, người chữa lành có thể bắt đầu tác động lên tình trạng ấy bằng một lượng năng lượng tinh thần đủ để bảo đảm sự chữa khỏi.

[360]

[360]

I trust you will find these answers suggestive. Ponder deeply upon the implications.

Tôi tin rằng các bạn sẽ thấy những câu trả lời này gợi mở nhiều điều. Hãy suy ngẫm sâu sắc về những hàm ý ấy.

On the Use of the Lord’s Image.

Về Việc Sử Dụng Hình Ảnh Của Đức Chúa.

Here we touch upon a point of real interest. The use of the Lord’s image is frequently of vital importance, but—and it is here that I seek to lay the emphasis—it must be the image arrived at by oneself through the medium of the expansion of the Christ consciousness in one’s own life, and by arriving at the stage of conscious discipleship. At that particular stage when a man is definitely linked with a Master and His group, he is then, automatically and as an individual, linked with the Master of all Masters. He can then, via his own soul and the soul of his particular group, draw on the force of Maitreya Buddha. Why, think you, is there no good and true picture of the Blessed One, There are only a few speculations by the devotees of the early church and none by those who knew Him. The reason is a definite one. There is no true image of Him because it must be upon our hearts and not upon our canvases. We arrive at knowledge of Him because He is ours, as we are His. Do you understand that whereof I speak? He is the world Healer and Saviour. He works because He is the embodied soul of all Reality. He works today, as He worked in Palestine two thousand years ago, through groups. There He worked through the three beloved disciples, through the twelve apostles, through the chosen seventy, and the interested five hundred. Ponder on this fact, little emphasised. Now He works through His Masters and Their groups, and thereby greatly intensifies His efforts. He can and will work through all groups just in so far as they fit themselves for planned service, for the distribution of love, and come into conscious alignment with the greater potency of the inner groups.

Ở đây, chúng ta chạm đến một điểm thực sự đáng quan tâm. Việc sử dụng hình ảnh của Đức Chúa thường có tầm quan trọng thiết yếu, nhưng—và chính tại đây Tôi muốn nhấn mạnh—đó phải là hình ảnh mà mỗi người tự đạt đến qua sự mở rộng tâm thức Christ trong đời sống mình và qua việc đạt đến giai đoạn địa vị đệ tử có ý thức. Ở giai đoạn đặc biệt ấy, khi một người đã liên kết rõ ràng với một Chân sư và nhóm của Ngài, thì với tư cách cá nhân, y tự động liên kết với Chân sư của mọi Chân sư. Khi ấy, qua linh hồn mình và linh hồn của nhóm riêng mình, y có thể rút lấy mãnh lực của Đức Phật Di Lặc. Theo các bạn, tại sao không có bức chân dung nào tốt đẹp và chân thực về Đấng Chân Phúc? Chỉ có một vài hình dung phỏng đoán của những người sùng tín thuộc giáo hội sơ khai, còn những người từng biết Ngài thì không để lại bức nào. Điều này có một lý do rõ ràng. Không có hình ảnh chân thực nào của Ngài vì hình ảnh ấy phải hiện diện trong trái tim chúng ta, chứ không phải trên những tấm toan. Chúng ta đạt đến sự hiểu biết về Ngài vì Ngài thuộc về chúng ta, cũng như chúng ta thuộc về Ngài. Các bạn có thấu hiểu điều Tôi đang nói không? Ngài là Đấng Chữa Lành và Đấng Cứu Thế của thế gian. Ngài hoạt động vì Ngài là linh hồn hiện thân của toàn thể Thực Tại. Ngày nay, Ngài hoạt động qua các nhóm, như Ngài đã làm tại Palestine hai nghìn năm trước. Tại đó, Ngài làm việc qua ba đệ tử yêu dấu, qua mười hai tông đồ, qua bảy mươi người được chọn và năm trăm người quan tâm. Hãy suy ngẫm về sự thật ít được nhấn mạnh này. Giờ đây, Ngài làm việc qua các Chân sư của Ngài và các nhóm của Các Ngài, nhờ đó tăng cường nỗ lực của mình rất nhiều. Ngài có thể và sẽ làm việc qua tất cả các nhóm, trong chừng mực họ tự chuẩn bị để phụng sự có kế hoạch, để phân phối tình thương và chỉnh hợp có ý thức với sức mạnh lớn lao hơn của các nhóm bên trong.

[361]

[361]

You will find (fairly soon perhaps) that healing groups will employ mantrams of a definite kind, and that in those mantrams the name of the Blessed One will appear. But the mantram for His coming age is not yet for use. The world is not yet ready for the potency which it would release. Today, is there a more potent mantram than the oft spoken word: “For Christ’s sake and for the glory of His Name”? But these works must be spoken with love and will behind them or else they are but an empty symbol and a sounding cymbal. Forget this not.

Các bạn sẽ thấy, có lẽ khá sớm, rằng các nhóm chữa lành sẽ sử dụng những mantram thuộc một loại cụ thể, và trong những mantram ấy sẽ xuất hiện danh hiệu của Đấng Chân Phúc. Nhưng mantram dành cho kỷ nguyên sắp tới của Ngài thì chưa đến lúc sử dụng. Thế giới chưa sẵn sàng đón nhận sức mạnh mà nó sẽ giải phóng. Ngày nay, có mantram nào mạnh mẽ hơn những lời thường được thốt lên: “Vì Đức Christ và vì vinh quang Danh Ngài”? Nhưng phải có tình thương và ý chí đằng sau khi thốt lên những lời này; nếu không, chúng chỉ là một biểu tượng trống rỗng và một chiếc chũm chọe vang tiếng. Đừng quên điều này.

On the Christ.

Về Đức Christ.

Some aspirants and disciples may experience an almost constant recollection of the Christ; that is due to their increasing sensitivity to the inner planes and particularly to the fact that so much of the matter in the astral body of the advanced aspirant is taken from (and is therefore sensitive to) the highest subplane of the astral plane. It is also due to the fact that the Lord Maitreya with His workers is approaching nearer all the time to the physical plane. The focus of His attention in the year 1936 was, for the first time, predominantly on the first subplane of the astral plane. Hence the sensitives’ correct and immediate response to His energy there expressed. He is coming nearer in His thought and activity. Should the peoples of the world respond to the presented opportunity, His forces and attention could penetrate more deeply and be predominantly on etheric levels with all that is implied in such a situation.

Một số người chí nguyện và đệ tử có thể gần như thường xuyên tưởng nhớ đến Đức Christ; điều đó là do sự nhạy cảm ngày càng tăng của họ với các cõi bên trong, và đặc biệt do phần lớn vật chất trong thể cảm dục của người chí nguyện tiến bộ được lấy từ cõi phụ cao nhất của cõi cảm dục, nên nhạy cảm với cõi phụ ấy. Điều đó cũng do Đức Di Lặc cùng những người cộng sự của Ngài đang không ngừng tiến gần hơn đến cõi hồng trần. Vào năm 1936, lần đầu tiên trọng tâm chú ý của Ngài chủ yếu đặt trên cõi phụ thứ nhất của cõi cảm dục. Do đó, những người nhạy cảm đáp ứng đúng đắn và tức thời với năng lượng của Ngài biểu hiện tại đó. Trong tư tưởng và hoạt động của mình, Ngài đang tiến gần hơn. Nếu các dân tộc trên thế giới đáp ứng với cơ hội được trao, các mãnh lực và sự chú ý của Ngài có thể thâm nhập sâu hơn và chủ yếu hiện diện trên các cấp độ dĩ thái, cùng với mọi hàm ý của tình trạng ấy.

This, many sense subjectively and know; and great, therefore, is their opportunity and yours to constitute increasingly a channel for this force.

Nhiều người cảm nhận và biết điều này một cách chủ quan; vì vậy, cơ hội để họ và các bạn ngày càng trở thành một kênh dẫn cho mãnh lực này là rất lớn.

Remember that the work for which He comes and to which the attendant Hierarchy is pledged is to help Him in the “healing of the nations” as it is expressed in [362] the Bible. This is a true statement of an imminent fact. This healing will be brought about if men of goodwill everywhere measure up to their opportunity; if the work of the Christ and of His helpers is brought more definitely to the attention of the general public, and if there is an inner relaxation in the world of men which will permit the devas to work. It is their readiness and their response to the near approach to the Christ which many consecrated servers are subjectively sensing, and which has somewhat perplexed them. The devas can only be sensed and felt: they cannot be approached by humanity as yet through the medium of the thought world and the use of the mechanism of thought in man. There is no danger involved for the server if he becomes aware of these deva forces and their activities, via the Christ and through their responsiveness to His work and imminent appearance.

Hãy nhớ rằng công việc mà Ngài đến để thực hiện, và mà Thánh đoàn theo hầu Ngài đã cam kết thực hiện, là giúp Ngài “chữa lành các dân tộc”, như cách diễn đạt trong [362] Kinh Thánh. Đây là lời khẳng định chân thực về một sự kiện sắp xảy ra. Sự chữa lành này sẽ diễn ra nếu những người thiện chí khắp nơi đáp ứng xứng đáng với cơ hội của mình; nếu công việc của Đức Christ và những người trợ giúp Ngài được giới thiệu rõ ràng hơn để công chúng chú ý; và nếu thế giới loài người có một sự thư giãn nội tâm cho phép các thiên thần hoạt động. Chính sự sẵn sàng của các thiên thần và sự đáp ứng của các vị ấy trước việc Đức Christ đang tiến gần là điều mà nhiều người phụng sự đã thánh hiến đang cảm nhận một cách chủ quan, và điều đó đã phần nào khiến họ bối rối. Người ta chỉ có thể cảm nhận các thiên thần: nhân loại hiện chưa thể tiếp cận các vị ấy qua thế giới tư tưởng và việc sử dụng bộ máy tư tưởng trong con người. Không có nguy hiểm nào đối với người phụng sự nếu y nhận biết những mãnh lực thiên thần này và các hoạt động của họ qua Đức Christ và qua sự đáp ứng của họ với công việc cùng sự xuất hiện sắp tới của Ngài.

On the Phrase “Mother of the World.”

Về Cụm Từ “Mẹ Của Thế Giới.”

The various ways in which the phrase can be used can mean quite a number of differing things. It can mean:

Những cách sử dụng khác nhau của cụm từ này có thể biểu thị khá nhiều điều khác biệt. Nó có thể hàm ý:

1. The feminine aspect in manifestation, symbolised for us in many of the world religions as a virgin mother and in the Christian religion as the Virgin Mary. It is that substance which enables Deity to manifest.

1. Phương diện nữ tính trong sự biểu hiện, được tượng trưng cho chúng ta trong nhiều tôn giáo thế giới bằng hình ảnh một người mẹ đồng trinh, và trong Kitô giáo bằng Đức Trinh Nữ Maria. Đó là chất liệu cho phép Thượng đế biểu hiện.

2. Nature itself, the mother of all forms.

2. Chính tự nhiên, mẹ của mọi hình tướng.

3. The moon also, who is the symbol of the generative, creative life which gives birth to forms and is therefore the symbol of the form nature.

3. Cũng là Mặt Trăng, biểu tượng của sự sống sinh sản, sáng tạo, sinh ra các hình tướng và do đó là biểu tượng của bản chất hình tướng.

4. The concentration of the feminine force in nature in some individual in female form who is then called the “World Mother.” Such an individual has never existed in our particular planetary life, though the avatars of a previous solar system, expressing itself through [363] planetary life, always took this form. But not in this solar system. The tradition of such appearances is purely symbolic, inherited from the previous solar system from which we inherited the matter of which all manifested forms are made. This symbolism has come down from the far-off period of the Matriarchate, which had a religion that recalled the ancient ways of the earlier system and in which period of time Lilith symbolised the World Mother, until Eve took her place.

4. Sự tập trung mãnh lực nữ tính trong tự nhiên nơi một cá nhân mang hình tướng nữ, người khi ấy được gọi là “Mẹ Thế Giới”. Chưa từng có một cá nhân như thế trong đời sống hành tinh riêng của chúng ta, mặc dù các Đấng Hoá Thân của một hệ mặt trời trước kia, vốn biểu hiện qua [363] đời sống hành tinh, luôn mang hình tướng này. Nhưng trong hệ mặt trời này thì không. Truyền thống về những lần xuất hiện như thế hoàn toàn mang tính biểu tượng, được thừa hưởng từ hệ mặt trời trước, nơi chúng ta đã thừa hưởng vật chất cấu thành mọi hình tướng biểu hiện. Biểu tượng này đã truyền lại từ thời kỳ mẫu quyền xa xưa, khi có một tôn giáo gợi nhớ những đường lối cổ của hệ trước đó; trong thời kỳ ấy, Lilith tượng trưng cho Mẹ Thế Giới, cho đến khi Eva thay thế bà.

On the Sense of Futility.

Về Cảm Giác Vô Ích.

In connection with the work of the healer with patients at the gate of death, he may experience a sense of futility. Is it possible to know just what he can do? Should he continue his effort to help the newly freed soul to go forward into the light? In the face of all his knowledge (and he may have much), and in spite of his yearning desire to aid the departing one, there seems naught to do but to step aside, with a sense of utter futility, whilst the loved one passes through the gate which leads to what, my brother? We can go up to the gates, but it seems as yet that we can go no further. Even the deep-seated belief in the persistence of the immortal soul proves inadequate, and only serves to comfort the serving healer personally, but suffices not to reveal to him what help he can give.

Trong công việc với những bệnh nhân đang đứng trước cửa tử, người chữa lành có thể trải qua cảm giác vô ích. Liệu có thể biết chính xác mình có thể làm gì không? Người ấy có nên tiếp tục nỗ lực giúp linh hồn vừa được giải thoát tiến vào ánh sáng không? Với tất cả tri thức của mình—và có thể người ấy biết rất nhiều—và bất chấp niềm khao khát trợ giúp người đang ra đi, dường như chẳng còn gì để làm ngoài việc bước sang một bên, với cảm giác hoàn toàn vô ích, trong khi người thân yêu đi qua cánh cửa dẫn đến điều gì, hỡi huynh đệ của tôi? Chúng ta có thể đi đến tận những cánh cửa, nhưng dường như hiện nay chúng ta chưa thể đi xa hơn. Ngay cả niềm tin sâu xa vào sự tồn tại tiếp tục của linh hồn bất tử cũng tỏ ra chưa đủ, và chỉ giúp an ủi riêng người chữa lành đang phụng sự, nhưng không đủ để cho người ấy biết mình có thể giúp gì.

There is little I can say as we wait, at this significant time, for the coming revelation. That revelation is inevitable and sure, and such questions will not be raised two hundred years hence. To this emerging fact, the growing sensitivity of the race to the subtler angles of life, and the vast amount of investigation carried forward on every side, is the physical plane guarantee. This great truth and its guarantee is held steadily before us in the history of the “glorious resurrection of the Christ” and His after-death [364] appearance, and in the powerful but little understood ritual of the sublime degree in Masonry, wherein the Master is raised.

Tôi không thể nói nhiều trong khi chúng ta chờ đợi sự mặc khải sắp tới vào thời điểm đầy thâm nghĩa này. Sự mặc khải ấy là tất yếu và chắc chắn, và hai trăm năm nữa người ta sẽ không còn đặt ra những câu hỏi như thế. Sự nhạy cảm ngày càng tăng của nhân loại đối với những phương diện tinh tế hơn của đời sống, cùng khối lượng nghiên cứu khổng lồ đang được tiến hành khắp nơi, là sự bảo đảm trên cõi hồng trần cho sự thật đang xuất hiện này. Chân lý vĩ đại này và sự bảo đảm của nó luôn được đặt vững vàng trước mắt chúng ta trong câu chuyện về “sự phục sinh vinh quang của Đức Christ” và sự xuất hiện của Ngài sau khi chết [364], cũng như trong nghi lễ mạnh mẽ nhưng ít được thấu hiểu của cấp bậc cao cả trong Hội Tam Điểm, nơi Chân sư được nâng lên.

Aid at the time of the “passing into the light” depends largely upon two things: First, the amount of close contact between the dying person and the one who watches, and the level upon which that contact is strongest. Secondly, upon the capacity of the watcher to detach and dissociate himself from his own feelings and to identify himself, through an act of pure unselfish will, with the dying person. None of this is really possible when the bond between the two is purely emotional or based upon a physical plane relation. The contact must be deeper and stronger than that. It must be a personal contact upon all planes. Where there is true soul and personality contact, there is then little problem. But this is rare to find. Nevertheless I have here given you a hint.

Sự trợ giúp vào lúc “đi vào ánh sáng” phần lớn tùy thuộc vào hai điều: Thứ nhất, mức độ tiếp xúc gần gũi giữa người hấp hối và người túc trực, cùng cấp độ mà sự tiếp xúc ấy mạnh nhất. Thứ hai, khả năng của người túc trực trong việc tách rời và thoát khỏi những cảm xúc riêng, rồi qua một hành động của ý chí thuần khiết, vô ngã, đồng hoá với người hấp hối. Không điều nào trong số này thực sự khả thi khi mối liên kết giữa hai người thuần túy mang tính cảm xúc hoặc dựa trên một quan hệ ở cõi hồng trần. Sự tiếp xúc phải sâu sắc và mạnh mẽ hơn thế. Đó phải là sự tiếp xúc cá nhân trên mọi cõi. Khi có sự tiếp xúc chân thực về linh hồn và phàm ngã, vấn đề còn lại rất ít. Nhưng điều này hiếm gặp. Dù vậy, ở đây Tôi đã cho các bạn một gợi ý.

There should also be as little definite thought process as possible on the part of the watcher. All that is required and possible at present is simply to carry the dying person forward on an ever-deepening stream of love. Through the power of the creative imagination, and not through intellectual concepts (no matter how high), must the dying man be aided to discard the outer garment in which he has been encased and in which he has laboured during life. This involves an act of pure self-forgetfulness, of which few as yet are capable. Most people are swept by fear, or by a strong desire to hold the beloved person back, or are sidetracked in their aim by the activities involved in assuaging pain and deadening agony; they are dismayed also by the depths of their ignorance of the “technique of death” when faced with the emergency. They find themselves unable to see what lies beyond the doors of death, and are swept by the mental uncertainty which is part of the great [365] illusion. There is as we know no sure touch in this process of dying. All is uncertainty and bewilderment. But this will end before long, and man will know and also see.

Người túc trực cũng nên giảm thiểu tiến trình suy nghĩ có chủ đích đến mức có thể. Tất cả những gì cần thiết và khả thi hiện nay chỉ đơn giản là nâng đỡ người hấp hối tiến về phía trước trên một dòng tình thương ngày càng sâu đậm. Phải dùng quyền năng của sự tưởng tượng sáng tạo, chứ không phải những quan niệm trí thức, dù cao đến đâu, để giúp người hấp hối trút bỏ chiếc áo bên ngoài mà y đã khoác lấy và trong đó y đã lao nhọc suốt đời. Điều này đòi hỏi một hành động hoàn toàn quên mình, mà hiện nay ít người có thể thực hiện. Phần lớn mọi người bị cuốn vào nỗi sợ, hoặc vào ham muốn mạnh mẽ giữ người thân yêu ở lại, hoặc bị những hoạt động làm dịu đau đớn và giảm nhẹ thống khổ khiến họ chệch khỏi mục tiêu; khi đối diện với tình thế khẩn cấp, họ cũng hoảng hốt trước mức độ thiếu hiểu biết sâu xa của mình về “kỹ thuật chết”. Họ thấy mình không thể nhìn ra điều gì nằm bên kia những cánh cửa của cái chết, và bị cuốn vào sự bất định của thể trí, vốn là một phần của ảo tưởng [365] lớn lao. Như chúng ta biết, trong tiến trình chết này không có sự nắm bắt chắc chắn nào. Tất cả đều là bất định và hoang mang. Nhưng chẳng bao lâu nữa điều này sẽ chấm dứt, và con người sẽ biết, đồng thời cũng sẽ thấy.

As regards those who have passed into the light, whom you want to help, follow them with your love, remembering that they are still the same people, minus the outer limiting shroud of body. Serve them, but seek not that they should serve your need of them. Go to them, but seek not to bring them back to you.

Đối với những người đã đi vào ánh sáng mà các bạn muốn trợ giúp, hãy để tình thương của mình đi theo họ, và nhớ rằng họ vẫn là những con người ấy, chỉ không còn lớp vỏ thân thể bên ngoài vốn giới hạn họ. Hãy phụng sự họ, nhưng đừng tìm cách khiến họ đáp ứng nhu cầu của các bạn đối với họ. Hãy đến với họ, nhưng đừng tìm cách đưa họ trở lại với mình.

It is physical plane life that is the purgatory, and life experience that is the school of drastic discipline. Let us not fear death, or that which lies beyond it. The wise disciple labours in the field of service but looks forward steadily to the dawn of the “clear, cold light” into which he will some day enter, and so close the chapter for a while upon the fever and the friction and the pain of earth existence. But there are other phases of life experience wherein the sense of futility and frustration meets the server in the world today.

Chính đời sống trên cõi hồng trần là luyện ngục, và kinh nghiệm sống là trường học của kỷ luật nghiêm khắc. Chúng ta đừng sợ cái chết hay những gì nằm bên kia cái chết. Người đệ tử sáng suốt lao nhọc trong lĩnh vực phụng sự, nhưng vẫn kiên định hướng đến bình minh của “ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo” mà một ngày nào đó y sẽ bước vào, nhờ vậy tạm khép lại một chương về sự sôi sục, va chạm và đau đớn của cuộc sống trần gian. Nhưng còn có những giai đoạn khác của kinh nghiệm sống mà trong đó cảm giác vô ích và thất vọng đón chờ người phụng sự trong thế giới ngày nay.

From the angle of vision of a disciple, we might divide intelligent human beings into three groups, at the same time eliminating in our thought the dead weight of the unthinking masses who register desire but who as yet experience no sense of futility or frustration. They desire and are satisfied; or they desire and are thwarted or jealous or angry at those who appear to have that which they want and demand, and which appeals to the life of the senses. The three groups are:

Từ góc nhìn của một đệ tử, chúng ta có thể chia những con người thông minh thành ba nhóm, đồng thời loại khỏi sự xem xét của mình gánh nặng trì trệ của quần chúng không suy nghĩ, những người ghi nhận dục vọng nhưng hiện chưa trải qua cảm giác vô ích hay thất vọng. Họ ham muốn và được thỏa mãn; hoặc họ ham muốn rồi bị ngăn trở, ghen tị hay giận dữ với những người dường như có được điều họ muốn và đòi hỏi, điều hấp dẫn đời sống giác quan. Ba nhóm ấy là:

1. Those personalities, integrated and intelligent, who are ambitious and pushing consciously forward, yet who meet with frustration. This frustration is due either to world conditions which are too strong for them, or to the imposition upon them of their own watchful souls [366] which throws obstructions in their way in order to lead them into the light.

1. Những phàm ngã tích hợp và thông minh, đầy tham vọng và đang tiến lên một cách có ý thức, nhưng lại gặp thất vọng. Sự thất vọng này bắt nguồn từ những điều kiện thế giới quá mạnh đối với họ, hoặc từ sự can thiệp của chính những linh hồn luôn dõi theo họ [366], đặt những chướng ngại trên đường họ để dẫn họ vào ánh sáng.

2. Those mystically inclined people and those rightly oriented visionaries who have not yet built in that mental scaffolding which will enable them properly to materialise their vision, through right thought processes. They are many in number today, and their case is not an easy one.

2. Những người có khuynh hướng thần bí và những người có tầm nhìn được định hướng đúng đắn, nhưng chưa xây dựng được khung trí tuệ cho phép họ hiện thực hóa tầm nhìn của mình một cách thích đáng qua các tiến trình tư tưởng đúng đắn. Ngày nay, số người này rất đông, và hoàn cảnh của họ không hề dễ dàng.

3. Those disciples and aspirants who are attempting to work in the field of the world, yet who through karmic limitation, misapplication of the law, or some basic personality weakness, never achieve in this life their goal, and so are swept by an overwhelming sense of futility.

3. Những đệ tử và người chí nguyện đang cố gắng làm việc trong lĩnh vực thế gian, nhưng do giới hạn nghiệp quả, áp dụng sai định luật hoặc một nhược điểm phàm ngã căn bản nào đó, họ không bao giờ đạt được mục tiêu trong kiếp sống này, nên bị cuốn vào một cảm giác vô ích áp đảo.

Beyond these three classes, acting as the opposite pole to the struggling masses, are the integrated functioning disciples of the world, who are achieving, and who are too occupied and too one-pointed to waste much time over feeling inferior or over mistakes and failures.

Vượt lên trên ba loại người này, đóng vai trò đối cực với quần chúng đang vật lộn, là những đệ tử của thế gian đang hoạt động một cách tích hợp, đạt được thành tựu và quá bận rộn, quá nhất tâm để lãng phí nhiều thời gian vào cảm giác thấp kém hay những sai lầm và thất bại.

Therefore, by wisely placing the people who come to you for help in one or other of these three categories (allowing in your mind for the possibility of their passing into another and higher one) you will be able to help them more intelligently.

Vì vậy, bằng cách sáng suốt xếp những người tìm đến các bạn để được trợ giúp vào một trong ba loại này, đồng thời tính đến khả năng họ chuyển sang một loại khác cao hơn, các bạn sẽ có thể giúp họ một cách sáng suốt hơn.

A large measure of the inferiority complex which affects so many people today is due most definitely to their reaction to the inflaming spiritual influences. They know themselves to be greater than their achievements; they realise unconsciously and wordlessly their divinity, but the limitation of circumstance and the hindrances of the body nature are as yet too great for right response to opportunity and to reality. Look for these souls and aid them by true understanding and by appreciation and cooperation, [367] and thus dispel the illusion of non-accomplishment which haunts their footsteps.

Phần lớn phức cảm tự ti đang ảnh hưởng đến rất nhiều người ngày nay rõ ràng là do phản ứng của họ trước những ảnh hưởng tinh thần khơi dậy mãnh liệt. Họ biết mình lớn lao hơn những thành tựu của mình; họ nhận biết thiên tính của mình một cách vô thức và không thành lời, nhưng giới hạn của hoàn cảnh cùng những chướng ngại từ bản chất thân thể hiện vẫn quá lớn, khiến họ chưa thể đáp ứng đúng đắn với cơ hội và thực tại. Hãy tìm những linh hồn này và trợ giúp họ bằng sự thấu hiểu chân thực, bằng sự trân trọng và hợp tác, [367] nhờ vậy xua tan ảo tưởng về sự không thành tựu đang ám ảnh từng bước chân họ.

But exhibitionism and neurasthenic hallucinations have to be cured primarily through individual self-effort, through decentralisation, transference of interest, and unselfishness. Neurasthenic tendencies are likely to increase instead of decrease for some time yet, such is the strain under which man labours today. The present world condition forces him to find avenues of escape, and to revert to the curative power of his own creative imagination. Release comes through acceptance of the drama of the whole and not of the part, and through steady occupation in creative work on the physical plane.

Nhưng thói phô trương và những ảo giác do suy nhược thần kinh phải được chữa trị chủ yếu qua nỗ lực cá nhân, qua việc phi tập trung vào bản thân, chuyển hướng mối quan tâm và tính vô ngã. Các khuynh hướng suy nhược thần kinh có thể còn gia tăng thay vì giảm bớt trong một thời gian nữa, vì áp lực mà con người ngày nay đang chịu đựng lớn đến thế. Tình trạng thế giới hiện nay buộc y tìm những lối thoát và quay về với quyền năng chữa trị của chính sự tưởng tượng sáng tạo của mình. Sự giải thoát đến qua việc chấp nhận vở kịch của toàn thể thay vì của bộ phận, và qua sự chuyên chú bền bỉ vào công việc sáng tạo trên cõi hồng trần.

Methods of training will later be used and are already coming into their elementary stages through the work of the psychologists of the world.

Sau này, các phương pháp huấn luyện sẽ được sử dụng, và qua công việc của các nhà tâm lý học trên thế giới, chúng đã bắt đầu đi vào những giai đoạn sơ khai.

On Scientific Parallels.

Về Những Điểm Tương Đồng Trong Khoa Học.

Students seem to think that we, the teachers on the inner side, have read every book that may be written, particularly those embodying the new and advanced truths, and that we are also in touch with the personalities of those who are the dispensers of the growing body of new knowledge in the world. Such is not the case. How can I explain to you the true state of affairs? Only symbolically, I think.

Các đạo sinh dường như nghĩ rằng chúng tôi, những huấn sư ở phía bên trong, đã đọc mọi cuốn sách có thể được viết ra, đặc biệt là những cuốn chứa đựng các chân lý mới mẻ và tiến bộ, và rằng chúng tôi cũng tiếp xúc với phàm ngã của những người truyền bá hệ thống tri thức mới đang phát triển trên thế giới. Thực tế không phải như vậy. Tôi có thể giải thích với các bạn tình hình thực sự như thế nào? Tôi nghĩ, chỉ có thể bằng biểu tượng.

As we look out over the world of the intellect and carry our thoughts from the points of living knowledge there to be found, we may become aware of areas of light (as we understand it) shining forth upon the physical plane. Such areas indicate the shining light of some worker in the field, of some disciple, or of some member of the New Group of World Servers. I know, for instance, that such areas are to be found (as regards the United States) in Baltimore, Chicago, Cleveland and Rochester. By a peculiar [368] mode of shining this indicates to me that there is to be found a centre where the newer knowledges anent man’s body are to be found. I know that there are other areas of light existing all over the world. My work and the work of all the teachers in this transition period is to stimulate them and fertilise their minds with ideas. Every theory they form in their search for truth, every book they write, and every conclusion they reach is not known to us. They must carry their own responsibility and fail or succeed in arriving at the truth through their own self-initiated effort.

Khi nhìn ra thế giới trí thức và đưa tư tưởng mình đi từ những điểm tri thức sống động hiện diện nơi đó, chúng tôi có thể nhận biết những vùng ánh sáng, theo cách chúng tôi thấu hiểu ánh sáng, đang tỏa chiếu trên cõi hồng trần. Những vùng ấy cho thấy ánh sáng tỏa chiếu của một người hoạt động trong lĩnh vực ấy, của một đệ tử hoặc một thành viên Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Chẳng hạn, Tôi biết rằng, xét riêng tại Hoa Kỳ, có những vùng như thế ở Baltimore, Chicago, Cleveland và Rochester. Qua một cách tỏa sáng đặc biệt [368], điều này cho Tôi biết rằng tại đó có một trung tâm chứa đựng những tri thức mới hơn về thân thể con người. Tôi biết còn có những vùng ánh sáng khác hiện diện khắp thế giới. Công việc của Tôi và của tất cả các huấn sư trong thời kỳ chuyển tiếp này là kích thích họ và làm phong phú thể trí họ bằng những ý tưởng. Chúng tôi không biết mọi lý thuyết họ hình thành trong cuộc tìm kiếm chân lý, mọi cuốn sách họ viết và mọi kết luận họ đạt đến. Họ phải tự gánh trách nhiệm của mình và thất bại hay thành công trong việc đạt đến chân lý bằng nỗ lực do chính họ khởi xướng.

H.P.B. prophesied the work now being done many years ago when she spoke of the recognition ultimately to be accorded by science to an universally diffused omnipresent Deity (the ether of space is an entity, she also tells us) and that the mystery of electricity, when solved, holds for us the solution of most of our problems. Many of the theories of modern science are laid down in A Treatise on Cosmic Fire, though scientists have not gone far enough yet to recognise this fact; there the electrical nature of man is posited. You would find it interesting and helpful to search out such passages. Science, however, gives no place to the electrical force of the soul, which is steadily growing in potency. A few of the scientists among the most advanced are beginning to do this. The next step ahead for science is the discovery of the soul, a discovery which will revolutionise, though not negate, the majority of their theories.

Nhiều năm trước, H.P.B. đã tiên đoán công việc hiện đang được thực hiện khi Bà nói rằng cuối cùng khoa học sẽ công nhận một Thượng đế hiện diện khắp nơi, lan tỏa toàn thể—Bà cũng cho chúng ta biết dĩ thái của không gian là một thực thể—và rằng khi được giải đáp, bí ẩn của điện sẽ đem lại lời giải cho phần lớn các vấn đề của chúng ta. Nhiều lý thuyết của khoa học hiện đại đã được trình bày trong Luận về Lửa Vũ Trụ, dù các nhà khoa học hiện chưa tiến đủ xa để nhận ra điều này; trong đó, bản chất điện của con người đã được xác lập. Các bạn sẽ thấy việc tìm ra những đoạn như thế vừa thú vị vừa hữu ích. Tuy nhiên, khoa học chưa dành chỗ cho mãnh lực điện của linh hồn, vốn đang không ngừng gia tăng sức mạnh. Một vài nhà khoa học tiên tiến nhất đang bắt đầu làm điều này. Bước tiếp theo của khoa học là khám phá linh hồn, một khám phá sẽ cách mạng hóa, dù không phủ định, phần lớn các lý thuyết của họ.

Individual students might aid in this if they took some of the basic postulates of a scientist whose researches appealed to them, and endeavoured to discover in my books, for. instance, or in The Secret Doctrine, those paragraphs which will throw occult light upon what he says, or which may negate his hypothesis. Then they would be growing [369] and using the analytical mind as a bridging factor between the world of human science and the occult sciences.

Từng đạo sinh có thể trợ giúp việc này nếu chọn một số định đề căn bản của một nhà khoa học có công trình nghiên cứu thu hút mình, rồi cố gắng tìm trong các sách của Tôi, chẳng hạn, hoặc trong Giáo Lý Bí Nhiệm, những đoạn soi rọi ánh sáng huyền bí lên điều nhà khoa học ấy nói, hoặc có thể phủ định giả thuyết của ông. Khi ấy, họ sẽ phát triển [369] và sử dụng thể trí phân tích như một yếu tố bắc cầu giữa thế giới khoa học nhân loại và các khoa học huyền bí.

On Ions and Radiation.

Về Ion Và Bức Xạ.

Scientists have made statements to the elect that the air we breathe contains electrified particles positively or negatively charged, and they are able to produce artificially electrified air; that even an open flame in a fireplace ionises the air; that with suitable apparatus one may extract either the negative or the positive ions, and that patients exposed to the positively electrified ions developed feelings of fatigue, dizziness and headache, while if exposed to negatively charged ions a feeling of exhilaration was experienced; that positive ions increased the blood pressure and produced general discomfort, and negative ions lowered the pressure and brought a feeling of comfort and relaxation.

Các nhà khoa học đã đưa ra những phát biểu đại ý rằng không khí chúng ta hít thở chứa những hạt tích điện dương hoặc âm, và họ có thể tạo ra không khí tích điện bằng phương pháp nhân tạo; rằng ngay cả ngọn lửa cháy trần trong lò sưởi cũng ion hóa không khí; rằng với thiết bị thích hợp, người ta có thể tách lấy ion âm hoặc ion dương; rằng những bệnh nhân tiếp xúc với ion tích điện dương xuất hiện cảm giác mệt mỏi, chóng mặt và đau đầu, trong khi tiếp xúc với ion tích điện âm lại đem đến cảm giác phấn chấn; rằng ion dương làm tăng huyết áp và gây khó chịu toàn thân, còn ion âm làm giảm huyết áp, đem lại cảm giác dễ chịu và thư giãn.

The question arises whether the healer’s radiation has the effect of ionising the atmosphere surrounding the patient. I must point out that to answer such a question accurately would necessitate two things: the revelation of one of the mysteries for which mankind is not yet ready, and at the same time the giving of an answer which would be quite inexplicable to you, for there is no terminology adequate to the latent truth. In this truth is embodied the whole story of duality—which is the story of the relation of the negative and positive aspects of the living process. Certain things, however, I can point out:

Câu hỏi được đặt ra là liệu bức xạ của người chữa lành có tác dụng ion hóa bầu không khí quanh bệnh nhân hay không. Tôi phải chỉ ra rằng để trả lời chính xác một câu hỏi như vậy, cần có hai điều: mặc khải một trong những bí nhiệm mà nhân loại chưa sẵn sàng đón nhận, đồng thời đưa ra một câu trả lời mà các bạn hoàn toàn không thể hiểu được, vì chưa có thuật ngữ nào đủ sức diễn đạt chân lý tiềm ẩn ấy. Chân lý này bao hàm toàn bộ câu chuyện về nhị nguyên—tức câu chuyện về mối quan hệ giữa các phương diện âm và dương của tiến trình sống. Tuy nhiên, Tôi có thể chỉ ra một số điều:

1. The negative and positive ions with which the scientist deals are etheric in nature and, therefore, of the physical plane. These unseen particles of substance which can only be traced through their elects and through interference with their activities, are rapidly moving particles in relation to each other and, at the same time, [370] are themselves affected by a greater controlling factor which keeps them so moving.

1. Các ion âm và ion dương mà nhà khoa học nghiên cứu có bản chất dĩ thái, và do đó thuộc cõi hồng trần. Những hạt chất liệu vô hình này, vốn chỉ có thể được phát hiện qua tác động của chúng và qua sự can thiệp vào hoạt động của chúng, là những hạt chuyển động nhanh trong tương quan với nhau, đồng thời [370] chính chúng cũng chịu tác động của một yếu tố chi phối lớn hơn, yếu tố duy trì sự chuyển động ấy.

2. In healing with disease, the patient can only truly be helped when the positive radiation of the healer overcomes the negative condition of the patient.

2. Trong việc trị liệu bệnh tật, bệnh nhân chỉ có thể thực sự nhận được sự trợ giúp khi bức xạ dương tính của người chữa lành thắng được tình trạng âm tính của bệnh nhân.

3. The radiation of the healer has to permeate and overcome the resistance of the patient’s disease—not of the patient, who may be mentally and emotionally negative to the healer, and therefore in a position to be helped. This is done through the more powerful radiation of the healer. The magnetism of the healer is then brought into play and, consciously and with intent, he can draw out and disperse those atoms of substance which are the seat and source of the patient’s discomfort. A hint is here given of one of the future physical plane modes of dispersing a disease. The power of directing definitely the magnetic currents radiating from a source outside the physical body is not yet realised, but it will embody one of the new modes of healing.

3. Bức xạ của người chữa lành phải thấm xuyên và thắng được sức kháng cự của bệnh tật nơi bệnh nhân—chứ không phải sức kháng cự của bệnh nhân, vì về trí tuệ và cảm xúc, người bệnh có thể ở trạng thái âm tính đối với người chữa lành, và do đó ở trong tình thế có thể nhận được sự trợ giúp. Điều này được thực hiện nhờ bức xạ mạnh hơn của người chữa lành. Khi ấy, từ điện của người chữa lành bắt đầu phát huy tác dụng, và với ý thức cùng chủ đích, y có thể hút ra và phân tán những nguyên tử chất liệu vốn là nơi khu trú và nguồn gốc của sự khó chịu nơi bệnh nhân. Ở đây có một gợi ý về một trong những phương thức tương lai nhằm phân tán bệnh tật trên cõi hồng trần. Quyền năng định hướng rõ rệt các dòng từ tính phát ra từ một nguồn bên ngoài thể xác vẫn chưa được nhận biết, nhưng nó sẽ là một trong những phương thức chữa lành mới.

The healing radiation, therefore, naturally affects the atmosphere around the patient. As yet, however, that radiation is uneven and not rightly directed. Some people radiate physical or animal magnetism; others astral or mental magnetism; still others radiate the energy of a fully integrated personality. A few radiate the magnetism of the soul, the major attractive energy in all forms. In the future the true healer must work through the radiation of the entire personality or of the soul. I say “or” advisedly, for there are few as yet who can work with soul energy, but many who would work as integrated personalities if they so desired. And when a man has achieved this power to radiate, what about the patient? How is he to be brought into a condition wherein he will respond accurately to magnetic [371] radiation? If he is an astral type, as are so many, will he be able to respond to the magnetism of a mental healer? Can he be helped by the radiation of such a healer if he is himself a fully integrated human being? If you say to me that Christ healed all types, I would here suggest that I am not considering in this short treatise the laws of healing as they are wielded by a Master of the Wisdom or by an initiate. My book would otherwise be a futile effort. I am writing for interested aspirants and for those who can heal on some level below that of the soul, but who as yet know not how to do it. Later all this will be more fully elucidated.

Do đó, bức xạ chữa lành tự nhiên tác động đến bầu không khí quanh bệnh nhân. Tuy nhiên, cho đến nay, bức xạ ấy còn không đồng đều và chưa được định hướng đúng. Một số người phát ra từ điện hồng trần hoặc từ điện động vật; những người khác phát ra từ điện cảm dục hoặc trí tuệ; lại có những người phát ra năng lượng của một phàm ngã đã hoàn toàn tích hợp. Một số ít phát ra từ điện của linh hồn, năng lượng thu hút chủ yếu trong mọi hình tướng. Trong tương lai, người chữa lành chân chính phải hoạt động qua bức xạ của toàn bộ phàm ngã hoặc của linh hồn. Tôi có dụng ý khi nói “hoặc”, vì hiện vẫn còn ít người có thể làm việc với năng lượng linh hồn, nhưng nhiều người có thể hoạt động như những phàm ngã tích hợp nếu họ mong muốn như vậy. Và khi một người đã đạt được quyền năng phát xạ này, thì bệnh nhân sẽ ra sao? Làm thế nào để đưa y vào một trạng thái mà trong đó y sẽ đáp ứng chính xác với bức xạ từ tính [371]? Nếu y thuộc loại cảm dục, như rất nhiều người khác, liệu y có thể đáp ứng với từ điện của một người chữa lành bằng trí tuệ không? Nếu chính y là một con người đã hoàn toàn tích hợp, liệu bức xạ của một người chữa lành như thế có thể giúp y không? Nếu các bạn nói với Tôi rằng Đức Christ đã chữa lành mọi loại người, thì ở đây Tôi xin nhắc rằng trong khảo luận ngắn này, Tôi không xem xét các định luật chữa lành theo cách một Chân sư Minh Triết hay một điểm đạo đồ vận dụng chúng. Nếu không, cuốn sách của Tôi sẽ là một nỗ lực vô ích. Tôi viết cho những người chí nguyện có quan tâm và cho những người có thể chữa lành ở một cấp độ nào đó dưới cấp độ linh hồn, nhưng hiện chưa biết cách thực hiện. Về sau, tất cả những điều này sẽ được làm sáng tỏ đầy đủ hơn.

On Vibration.

Về Rung Động.

Some students make demand that I define what is the meaning of the word “vibration” and state exactly what a vibration is. If I tell you that vibration is an illusion, as sensory perception is known by the soul to be, do you comprehend (limited as all human beings are by the reactions of a series of vehicles, all of them instruments of perception)? If I tell you that vibratory reaction is due to our possessing a mechanism which is responsive to impact, I am answering your question in part, but if this is true, what does it mean to you and from whence comes the impact? If I give you the scientific definition (which you can discover in any good textbook on light, colour or sound), I am doing work that you can do yourself, and for that I have no time. In my books are several definitions of vibration, either by inference or defined, and these you might search for, and upon them you might meditate. If I elucidated for you here the relation between the Self and the not-Self, between awareness, that which is aware, and that of which it is aware, I am covering ground which a careful study of the Gita would aid you in comprehending.

Một số đạo sinh yêu cầu Tôi định nghĩa ý nghĩa của từ “rung động” và nói chính xác rung động là gì. Nếu Tôi nói với các bạn rằng rung động là một ảo tưởng, cũng như linh hồn biết rằng tri giác giác quan là một ảo tưởng, liệu các bạn có lĩnh hội được không, khi mọi con người đều bị giới hạn bởi những phản ứng của một loạt hiện thể, tất cả đều là những công cụ tri giác? Nếu Tôi nói với các bạn rằng phản ứng rung động là do chúng ta sở hữu một bộ máy đáp ứng với tác động, thì Tôi đã trả lời một phần câu hỏi của các bạn; nhưng nếu điều này đúng, nó có ý nghĩa gì đối với các bạn và tác động ấy đến từ đâu? Nếu Tôi đưa ra định nghĩa khoa học cho các bạn, một định nghĩa mà các bạn có thể tìm thấy trong bất kỳ giáo trình tốt nào về ánh sáng, màu sắc hay âm thanh, thì Tôi đang làm một việc mà các bạn có thể tự làm, và Tôi không có thời gian cho việc ấy. Trong các sách của Tôi có một số định nghĩa về rung động, hoặc qua sự suy luận, hoặc qua định nghĩa trực tiếp; các bạn có thể tìm kiếm những định nghĩa ấy và tham thiền về chúng. Nếu ở đây Tôi làm sáng tỏ cho các bạn mối quan hệ giữa Chân Ngã và phi ngã, giữa sự nhận biết, chủ thể nhận biết và đối tượng được nhận biết, thì Tôi đang đề cập đến một lĩnh vực mà việc nghiên cứu kỹ kinh Gita sẽ giúp các bạn thấu hiểu.

[372]

[372]

Let simplicity be your guide and one-pointed love your major objective. Choose a field of service which has its definite limits (for all disciples are limited and cannot cover a planetary range in their thoughts), and work—mentally and physically—within those limits. The completion of some self-appointed task within the field of karmic limitation and of environment where your destiny has cast you is all that is required of you. What are you accomplishing really at this time? Let your service lie within the field of contact where you find yourself, and reach not out over the entire planet. Is there any greater or more important task than to fulfill your task and carry it to completion in the place where you are and with your chosen comrades?

Hãy để sự giản dị dẫn dắt các bạn và lấy tình thương nhất tâm làm mục tiêu chủ yếu. Hãy chọn một lĩnh vực phụng sự có giới hạn rõ ràng, vì mọi đệ tử đều có những giới hạn và không thể bao quát phạm vi toàn hành tinh trong tư tưởng của mình, rồi làm việc—bằng trí tuệ và bằng hành động trên cõi hồng trần—trong những giới hạn ấy. Tất cả những gì đòi hỏi ở các bạn là hoàn thành một nhiệm vụ do mình tự đặt ra trong phạm vi giới hạn nghiệp quả và hoàn cảnh mà vận mệnh đã đưa các bạn đến. Hiện nay các bạn thực sự đang thực hiện được điều gì? Hãy để việc phụng sự của các bạn nằm trong phạm vi tiếp xúc nơi các bạn đang hiện diện, và đừng vươn ra khắp toàn hành tinh. Có nhiệm vụ nào lớn lao hay quan trọng hơn việc thực hiện nhiệm vụ của mình và đưa nó đến chỗ hoàn tất ngay tại nơi các bạn đang ở, cùng những người cộng sự mà các bạn đã chọn không?

Believe me when I assure you that I am not seeking to evade answering any questions, but if I can awaken you to the realisation of the necessity for “spiritual limitation” (as it is esoterically called when defining the career of a disciple within the limits of his task) and bring to your attention the need for achieving the goal you set yourself when you started to work, I shall have aided you far more than if I had defined vibration or pointed out to you just how much progress, through what process, you or others had made.

Hãy tin Tôi khi Tôi quả quyết với các bạn rằng Tôi không tìm cách né tránh việc trả lời bất kỳ câu hỏi nào. Nhưng nếu Tôi có thể đánh thức các bạn để nhận ra sự cần thiết của “giới hạn tinh thần”, như cách gọi trong huyền bí học khi xác định con đường hoạt động của một đệ tử trong giới hạn nhiệm vụ của y, và khiến các bạn chú ý đến nhu cầu đạt được mục tiêu mà các bạn đã tự đặt ra khi bắt đầu làm việc, thì Tôi sẽ giúp các bạn nhiều hơn hẳn so với việc định nghĩa rung động hoặc chỉ ra chính xác các bạn hay những người khác đã tiến bộ đến đâu và qua tiến trình nào.

On the Future School of Healing.

Về Trường Chữa Lành Trong Tương Lai.

These schools of healing are not to be developed in the near future, not before the close of this century. Only the preparatory work is now being done, and the stage set for future unfoldments. Things do not move so rapidly. There has to be a growing synthesis of the techniques of such schools, which embody:

Những trường chữa lành này sẽ chưa phát triển trong tương lai gần, chưa thể có trước khi thế kỷ này kết thúc. Hiện nay chỉ có công việc chuẩn bị đang được thực hiện và nền tảng đang được tạo dựng cho những khai mở trong tương lai. Sự việc không tiến triển nhanh đến thế. Phải có sự tổng hợp ngày càng sâu rộng các kỹ thuật của những trường này, bao gồm:

1. Psychological adjustments and healing,

1. Điều chỉnh tâm lý và chữa lành,

2. Magnetic healing,[373]

2. Chữa lành bằng từ tính,[373]

3. The best of the allopathic and homeopathic techniques, with which we must not dispense,

3. Những gì tốt nhất trong các kỹ thuật của liệu pháp đối chứng và vi lượng đồng căn, mà chúng ta không được loại bỏ,

4. Surgical healing in its modern forms,

4. Chữa lành bằng phẫu thuật dưới các hình thức hiện đại,

5. Electro-therapeutics,

5. Điện trị liệu,

6. Water-therapy,

6. Thủy trị liệu,

7. Healing by colour and sound, and radiation,

7. Chữa lành bằng màu sắc, âm thanh và bức xạ,

8. Preventive medicine,

8. Y học dự phòng,

9. The essential practices of osteopathy and chiropractic,

9. Những phương pháp thực hành thiết yếu của thuật nắn chỉnh xương và nắn chỉnh cột sống,

10. Scientific neurology and psychiatry,

10. Thần kinh học và tâm thần học theo khoa học,

11. The cure of obsessions and mental diseases,

11. Chữa trị các tình trạng ám nhập và bệnh tâm trí,

12. The care of the eyes and ears,

12. Chăm sóc mắt và tai,

13. Voice culture, which is a definitely healing agency,

13. Luyện giọng, vốn rõ ràng là một phương tiện chữa lành,

14. Mental and faith healing,

14. Chữa lành bằng trí tuệ và đức tin,

15. Soul alignment and contact,

15. Chỉnh hợp và tiếp xúc với linh hồn,

and many other processes and procedures which belong to the healing art. Some of the more ancient schools, such as the allopathic, call for a process of elimination in order to arrive at the vital and true contribution which they have to give. Others of a modern and tentative experimental kind must be lifted out of the hands of the fanatics; for until fanaticism with its blindness and lack of intelligent synthesis dies out (as it inevitably will as the sixth ray recedes and the Piscean Age passes out), the new schools cannot exist as they should; there must be a keener understanding of the underlying and fundamental good in all the schools and a better grasp of the principles which underlie the true healing art, before the schools, referred to in Letters on Occult Meditation, can come into being. When, as is the case today, some healer or school lays the entire emphasis upon some patent cure-all and despises all other systems of diet or method, it will not be possible to establish the true schools.

cùng nhiều tiến trình và phương pháp khác thuộc nghệ thuật chữa lành. Một số trường phái lâu đời hơn, như liệu pháp đối chứng, cần trải qua một tiến trình loại bỏ để đi đến phần đóng góp thiết yếu và chân thực mà chúng có thể mang lại. Những trường phái khác mang tính hiện đại và thử nghiệm bước đầu phải được đưa ra khỏi tay những người cuồng tín; vì chừng nào sự cuồng tín, với tính mù quáng và sự thiếu tổng hợp sáng suốt của nó, chưa biến mất—điều tất yếu sẽ xảy ra khi cung sáu rút lui và Kỷ Nguyên Song Ngư qua đi—thì các trường mới chưa thể tồn tại đúng như chúng phải tồn tại. Cần có sự thấu hiểu sâu sắc hơn về điều tốt đẹp căn bản ẩn dưới mọi trường phái và sự nắm bắt tốt hơn những nguyên lý làm nền tảng cho nghệ thuật chữa lành chân chính, trước khi những trường được đề cập trong Thư Về Tham thiền Huyền môn, có thể ra đời. Khi một người chữa lành hay một trường phái đặt toàn bộ trọng tâm vào một phương thuốc độc quyền được cho là chữa được mọi bệnh và xem thường mọi chế độ ăn uống hay phương pháp khác, như tình trạng hiện nay, thì không thể thiết lập những trường chân chính.

[374]

[374]

The period is coming in which we will pass through a cycle in which we will garner the fruit of the ages; in which we will skim (if I may so express it) the cream of the milk of human experience; and then with the best that the past can confer upon us, we will inaugurate those new enterprises which will speed humanity upon its way. Among these new enterprises the healing art will be the foremost, because the most necessary.

Thời kỳ đang đến mà trong đó chúng ta sẽ đi qua một chu kỳ để thu hoạch thành quả của các thời đại; trong đó chúng ta sẽ gạn lấy, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, phần tinh túy từ kinh nghiệm của nhân loại; rồi với những gì tốt đẹp nhất mà quá khứ có thể trao cho chúng ta, chúng ta sẽ khởi xướng những công cuộc mới nhằm thúc đẩy nhân loại tiến nhanh trên con đường của mình. Trong những công cuộc mới ấy, nghệ thuật chữa lành sẽ đứng hàng đầu, vì đó là điều cần thiết nhất.

We shall find that the work which is engaging our attention will fall into three categories: these will work out sequentially and not simultaneously.

Chúng ta sẽ thấy rằng công việc đang thu hút sự chú ý của mình sẽ chia thành ba loại: những loại này sẽ được triển khai tuần tự, chứ không đồng thời.

1. The training in the principles of the healing art, as we

1. Huấn luyện về các nguyên lý của nghệ thuật chữa lành, trong khi chúng ta

a. Lay the foundation for later expansion in the New Age.

a. Đặt nền tảng cho sự mở rộng về sau trong Kỷ Nguyên Mới.

b. Seek to preserve that which is good and useful in the shift of the emphasis from the outer external man to the more subtle etheric and vital body.

b. Tìm cách bảo tồn những gì tốt đẹp và hữu ích trong sự chuyển trọng tâm từ con người bên ngoài sang thể dĩ thái và thể sinh lực tinh tế hơn.