Trích nội dung chương
c. Study this Treatise on the new healing which will meet with a measure of response, but which will only later enter into its true usefulness and mission. c. Nghiên cứu Khảo Luận này về phương pháp chữa lành mới, vốn sẽ nhận được sự đáp ứng ở một mức độ nào đó, nhưng chỉ về sau mới thực sự phát huy tính hữu dụng và sứ mệnh của nó.
c. Study this Treatise on the new healing which will meet with a measure of response, but which will only later enter into its true usefulness and mission.
c. Nghiên cứu Khảo Luận này về phương pháp chữa lành mới, vốn sẽ nhận được sự đáp ứng ở một mức độ nào đó, nhưng chỉ về sau mới thực sự phát huy tính hữu dụng và sứ mệnh của nó.
2. Later, when a group can function together with impersonality as a unit and with true interplay of love, such a group can then begin to do some definite healing work, taking some case, for instance of known physical illness, of obsession, or of mental difficulty and—working under soul direction or some initiated chela and in conformity with the teaching outlined in this Treatise—seek to cure and aid. The study of the art of dying is also to attract your intention and later that of the world at large.
2. Về sau, khi một nhóm có thể cùng hoạt động một cách vô tư như một đơn vị, với sự tương tác chân thực của tình thương, thì nhóm ấy có thể bắt đầu thực hiện một công việc chữa lành cụ thể nào đó, chẳng hạn tiếp nhận một trường hợp bệnh thể xác đã được xác định, một trường hợp ám nhập hay khó khăn về tâm trí, rồi—hoạt động dưới sự chỉ đạo của linh hồn hoặc của một đệ tử đã được điểm đạo, và phù hợp với giáo huấn trình bày trong Khảo Luận này—tìm cách chữa trị và trợ giúp. Việc nghiên cứu nghệ thuật chết cũng cần thu hút sự chú tâm của các bạn, và về sau là của thế giới nói chung.
3. Finally, there will come the forming of subsidiary groups to be taught and developed by the members of the pioneer healing groups, under soul instruction, or under [375] that of some initiated chela. These subsidiary groups will work under group direction for the healing of people. This will not be for some years yet, and not until the initiating group (or groups) can work with a measure of success and the group members have an intelligent grasp of the technique and principles involved in healing. The exoteric developments of the New Age healing will grow out of the above.
3. Cuối cùng, sẽ đến lúc thành lập các nhóm phụ thuộc để các thành viên của những nhóm chữa lành tiên phong giảng dạy và phát triển, dưới sự chỉ dẫn của linh hồn hoặc [375] của một đệ tử đã được điểm đạo. Những nhóm phụ thuộc này sẽ làm việc dưới sự chỉ đạo của nhóm để chữa lành cho mọi người. Điều này còn phải nhiều năm nữa mới xảy ra, và chỉ có thể xảy ra khi nhóm khởi xướng, hoặc các nhóm khởi xướng, có thể làm việc với một mức độ thành công nhất định, đồng thời các thành viên trong nhóm nắm bắt một cách sáng suốt kỹ thuật và các nguyên lý liên quan đến việc chữa lành. Những phát triển ngoại môn của việc chữa lành trong Kỷ Nguyên Mới sẽ nảy sinh từ những điều trên.
There is no school in existence today which should be retained. All of them embody some useful truth, principle or idea. I would point out that a synthetic group would still be a separative and separated entity, and no such group is our goal. It is the synthesis of the life and of the knowledge which is desirable, and not a synthesis of people. There will be eventually, let us hope, hundreds and thousands of groups all over the world who will express this new attitude to healing, who will be bound together by their common knowledge and aims, but who will all express this to the best of their ability in their own peculiar field, in their own peculiar way and with their own peculiar terminology. It is the subjective life unity that is of interest to the teachers on the inner side of life, and the production of a network of true healers all over the world.
Không có trường phái nào đang tồn tại ngày nay cần được giữ nguyên. Tất cả đều chứa đựng một chân lý, nguyên lý hay ý tưởng hữu ích nào đó. Tôi muốn chỉ ra rằng một nhóm tổng hợp vẫn sẽ là một thực thể mang tính chia rẽ và biệt lập, và không nhóm nào như thế là mục tiêu của chúng ta. Điều đáng mong muốn là sự tổng hợp của sự sống và của tri thức, chứ không phải sự tổng hợp con người. Chúng ta hãy hy vọng rằng cuối cùng sẽ có hàng trăm, hàng nghìn nhóm trên khắp thế giới biểu lộ thái độ mới này đối với việc chữa lành; họ sẽ gắn kết với nhau nhờ tri thức và mục tiêu chung, nhưng mỗi nhóm đều sẽ biểu lộ điều ấy hết khả năng của mình trong lĩnh vực riêng, theo cách riêng và bằng hệ thuật ngữ riêng. Điều mà các huấn sư ở phía bên trong của sự sống quan tâm là sự hợp nhất chủ quan của sự sống và việc hình thành một mạng lưới những người chữa lành chân chính trên khắp thế giới.
A fresh start is now being made. We shall and do inherit the wonder of the past acquired knowledges and the use of much of it will persist; all that is needed is the elimination of the undesirable and the misunderstood interpretations of known facts, and the misapplied information, also the cessation of selfish interest, financial exploitation and greed. Modern surgery, modern sanitary methods, and modern medical science are full of wonder and usefulness.[376]
Hiện nay, một khởi đầu mới đang được thực hiện. Chúng ta sẽ và đang kế thừa điều kỳ diệu của những tri thức đã thu nhận trong quá khứ, và phần lớn những tri thức ấy sẽ tiếp tục được sử dụng; tất cả những gì cần làm là loại bỏ những cách diễn giải không đáng có và sai lầm về các sự kiện đã biết, cùng những thông tin bị áp dụng sai, đồng thời chấm dứt sự vụ lợi, việc trục lợi tài chính và lòng tham. Phẫu thuật hiện đại, các phương pháp vệ sinh hiện đại và khoa học y học hiện đại chứa đựng biết bao điều kỳ diệu và hữu ích.[376]
Letter to a Scientist
Thư Gửi Một Nhà Khoa Học
My brother:
Huynh đệ của Tôi:
I have a few minutes to spare this morning after dictating to A.A.B. and will attempt to throw some forward light upon the questions which you have posited. I do not, as you will note, say that I will answer the questions.
Sáng nay, sau khi đọc cho A.A.B. ghi chép, Tôi có vài phút rảnh và sẽ cố gắng soi sáng phần nào hướng đi phía trước cho những câu hỏi mà huynh đệ đã nêu. Như huynh đệ sẽ nhận thấy, Tôi không nói rằng Tôi sẽ trả lời các câu hỏi ấy.
The discoveries of science are as yet inadequate for the fulfillment of the prophecies I made in A Treatise on the Seven Rays. Towards the close of this century and when the world situation has clarified and the period of reconstruction is drawing to a close, discoveries will be made which will reveal some hitherto unrealised electrical potencies. I know not what other word to use for these electrical rays which will make their presence felt and lead to possibilities beyond the dreams of investigators today. The coming science of electricity will be as different next century as the modern usages of electricity differ from the understanding of the Victorian scientist.
Những khám phá của khoa học hiện vẫn chưa đủ để thực hiện những tiên đoán mà Tôi đã đưa ra trong Luận Về Bảy Cung. Vào gần cuối thế kỷ này, khi tình hình thế giới đã sáng tỏ và thời kỳ tái thiết sắp kết thúc, sẽ có những khám phá làm hiển lộ một số quyền năng điện mà cho đến nay người ta chưa nhận biết. Tôi không biết dùng từ nào khác để chỉ những tia điện này, những tia sẽ khiến người ta cảm nhận sự hiện diện của chúng và dẫn đến các khả năng vượt ngoài giấc mơ của những nhà nghiên cứu ngày nay. Trong thế kỷ tới, khoa học về điện sắp ra đời sẽ khác biệt đến mức tương đương với sự khác biệt giữa những cách sử dụng điện hiện đại và sự thấu hiểu của nhà khoa học thời Victoria.
In connection with your query anent the photography which concerns itself with departed souls, I would advise you that understanding of process will come from a study of the—photographing of thoughtforms. A beginning was made in this connection by the great French scientist, d’Arsonval, of Paris. A.A.B. can tell you something of this if you do not already know. Light on the subject will come through this, through the perfecting of the plates of reception and their greatly increased sensitivity, and through the relating of electricity to photography. You may deem it well-nigh impossible to make plates of much greater sensitivity than those in use in the best equipped laboratories. But this is not so. Along this line of thought-photography and electrical equipment, will come the solution. It is the thought of those on the other side, and their ability to project [377] thoughtforms of themselves, plus the providing of adequately sensitive plates or their equivalent, which will mark a new era in so-called “spirit photography”. People frequently are so preoccupied with the tangible instrument on this side of the veil that they neglect the factor of what must be contributed from the other side by those who have passed over.
Liên quan đến câu hỏi của huynh đệ về việc chụp ảnh những linh hồn đã rời cõi trần, Tôi xin cho huynh đệ biết rằng sự thấu hiểu tiến trình này sẽ đến từ việc nghiên cứu—chụp ảnh các hình tư tưởng. Nhà khoa học vĩ đại người Pháp d’Arsonval ở Paris đã có bước khởi đầu trong lĩnh vực này. A.A.B. có thể kể cho huynh đệ đôi điều về việc ấy nếu huynh đệ chưa biết. Ánh sáng soi rõ vấn đề sẽ đến qua hướng nghiên cứu này, qua việc hoàn thiện các kính ảnh tiếp nhận và gia tăng đáng kể độ nhạy của chúng, cũng như qua việc kết hợp điện với nhiếp ảnh. Huynh đệ có thể cho rằng gần như không thể chế tạo những kính ảnh có độ nhạy cao hơn nhiều so với các kính ảnh đang được sử dụng trong những phòng thí nghiệm được trang bị tốt nhất. Nhưng không phải vậy. Giải pháp sẽ đến theo hướng chụp ảnh tư tưởng và thiết bị điện này. Chính tư tưởng của những người ở phía bên kia, cùng khả năng phóng chiếu [377] những hình tư tưởng về chính họ, cộng với việc cung cấp những kính ảnh có độ nhạy thích hợp hoặc phương tiện tương đương, sẽ đánh dấu một kỷ nguyên mới trong cái gọi là “chụp ảnh tinh thần”. Người ta thường quá bận tâm đến công cụ hữu hình ở phía bên này bức màn đến mức bỏ qua yếu tố mà những người đã qua đời phải đóng góp từ phía bên kia.
The work will be done from there, with the material aid which as yet has not been provided in the outer scientific field.
Công việc sẽ được thực hiện từ phía ấy, với sự trợ giúp vật chất mà cho đến nay lĩnh vực khoa học bên ngoài vẫn chưa cung cấp.
To bring this about, collaboration of a conscious medium (not a trance medium, but someone who is consciously clairvoyant and clairaudient) will be required. There are many such growing up among the children of today, and the next generation after them will provide still more. The separating veil will disappear through the testimony of the thousands of those who can see phenomena and hear sounds which lie outside the range of the tangible.
Để thực hiện điều này, cần có sự cộng tác của một đồng tử hữu thức, không phải một đồng tử xuất thần, mà là một người thông nhãn và thông nhĩ một cách có ý thức. Có nhiều người như thế đang lớn lên trong số trẻ em ngày nay, và thế hệ kế tiếp sẽ cung cấp nhiều người hơn nữa. Bức màn ngăn cách sẽ biến mất qua lời chứng của hàng nghìn người có thể thấy những hiện tượng và nghe những âm thanh nằm ngoài phạm vi hữu hình.
You say that the spirits state that they cannot stand electricity. What is meant is that they cannot stand electricity as it is at present applied. This is an instance of the inaccurate statements passed on by ignorant mediums or by those who on the other side have no more understanding of the laws of electricity than they probably had in the. physical body. There is nothing but electricity in manifestation, the “mystery of electricity” to which H.P.B. referred in to in The Secret Doctrine. Everything in Nature is electrical in nature; life itself is electricity, but all that we have contacted and used today is that which is only physical and related to and inherent in the physical and etheric matter of all forms.
Huynh đệ nói rằng các tinh thần cho biết họ không chịu được điện. Điều đó hàm ý rằng họ không chịu được điện theo cách nó đang được áp dụng hiện nay. Đây là một ví dụ về những phát biểu thiếu chính xác do các đồng tử thiếu hiểu biết truyền lại, hoặc do những người ở phía bên kia vốn không hiểu các định luật về điện nhiều hơn so với khi họ còn ở trong thể xác. Trong sự biểu hiện, không có gì ngoài điện, “bí nhiệm của điện” mà H.P.B. đã đề cập trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Mọi thứ trong Thiên Nhiên đều có bản chất điện; chính sự sống là điện, nhưng tất cả những gì chúng ta đã tiếp xúc và sử dụng cho đến nay chỉ thuộc về hồng trần, liên quan đến và vốn có trong vật chất hồng trần và dĩ thái của mọi hình tướng.
It must be remembered that the so-called “spirits” are functioning in the illusory astral body, while advanced “spirits” are only functioning as minds, and can therefore [378] be reached solely by minds and in no other way. It will never be possible to photograph the mental vehicle; only the astral body will be susceptible of photographing. The grosser the person in the body, desire and appetite, the more easily will he be photographed after passing over (if anyone wants to photograph him!), and the more advanced the person, the more difficult it will be to get a photograph.
Cần nhớ rằng cái gọi là các “tinh thần” đang hoạt động trong thể cảm dục hư ảo, trong khi những “tinh thần” tiến bộ chỉ hoạt động như những thể trí, và do đó [378] chỉ có thể tiếp xúc với họ bằng thể trí, không theo cách nào khác. Sẽ không bao giờ có thể chụp ảnh hiện thể trí tuệ; chỉ thể cảm dục mới có thể được chụp ảnh. Một người càng thô trược về thân thể, dục vọng và ham muốn, thì càng dễ chụp ảnh y sau khi y qua đời, nếu có ai muốn chụp ảnh y! Và một người càng tiến bộ thì càng khó có được ảnh chụp.
As regards the use of radio as a means of communication with the “spirit world,” the present electrical instruments are too slow in vibratory activity (if I may use such an unscientific term) to do the work; if astrally clothed “spirits” approach them they are apt to have a shattering effect. Yet the first demonstration of existence after death, in such a way that it can be registered upon the physical plane, will come via the radio, because sound always precedes vision. Think on this. However, no radio now exists which is sufficiently sensitive to carry sound waves from the astral plane.
Về việc sử dụng vô tuyến như một phương tiện giao tiếp với “thế giới tinh thần”, các thiết bị điện hiện nay có hoạt động rung động quá chậm, nếu Tôi có thể dùng một thuật ngữ thiếu tính khoa học như vậy, nên chưa thể thực hiện công việc này; nếu những “tinh thần” khoác thể cảm dục đến gần chúng, họ có thể gây ra tác động phá vỡ. Tuy nhiên, minh chứng đầu tiên về sự tồn tại sau cái chết, theo cách có thể được ghi nhận trên cõi hồng trần, sẽ đến qua vô tuyến, vì âm thanh luôn đi trước hình ảnh. Hãy suy ngẫm về điều này. Tuy nhiên, hiện chưa có máy vô tuyến nào đủ nhạy để truyền các sóng âm từ cõi cảm dục.
Future scientific discoveries, therefore, hold the secret. This is no evasion on my part, but a simple statement of fact. Electrical discovery is only in the initial stage and all that we have is simply a prelude to the real discovery. The magic of the radio would be completely unbelievable to the man of the eighteenth century. The discoveries and developments lying ahead in the twenty-first century will be equally unbelievable to the man of this century. A great discovery in relation to the use of light by the power and the directive agency of thought will come at the end of this century or the beginning of the next. Two small children—one living in this country (U.S.A.) and one in India—will work out a formula along scientific lines which will fill in some of the existing gaps in the scale of light vibration, carrying on from the high frequency rays and [379] waves as you now have them. This will necessitate instruments hitherto undreamt of but really quite possible. They will be so sensitive that they will be set in motion by the power of the human eye under the focussed direction of thought. From then on tangible rapport with the spirit world will be possible. I cannot do more than give you the clue.
Do đó, những khám phá khoa học trong tương lai nắm giữ bí quyết. Đây không phải là sự né tránh của Tôi, mà chỉ là một lời trình bày sự thật. Việc khám phá điện mới chỉ ở giai đoạn ban đầu, và tất cả những gì chúng ta có chỉ là phần mở đầu cho khám phá thực sự. Sự huyền diệu của vô tuyến sẽ là điều hoàn toàn không thể tin được đối với con người thế kỷ mười tám. Những khám phá và phát triển đang ở phía trước trong thế kỷ hai mươi mốt cũng sẽ khó tin như vậy đối với con người của thế kỷ này. Một khám phá lớn liên quan đến việc sử dụng ánh sáng nhờ quyền năng và tác nhân định hướng của tư tưởng sẽ xuất hiện vào cuối thế kỷ này hoặc đầu thế kỷ tới. Hai đứa trẻ—một em sống ở đất nước này, Hoa Kỳ, và một em ở Ấn Độ—sẽ xây dựng một công thức theo đường lối khoa học để lấp đầy một số khoảng trống hiện có trong thang rung động ánh sáng, tiếp nối từ những tia và [379] sóng tần số cao mà huynh đệ hiện biết. Điều này đòi hỏi những thiết bị mà cho đến nay chưa ai từng mơ tới, nhưng thực sự hoàn toàn có thể chế tạo. Chúng sẽ nhạy đến mức quyền năng của mắt người dưới sự định hướng tập trung của tư tưởng sẽ khiến chúng vận hành. Từ đó trở đi, sự giao tiếp hữu hình với thế giới tinh thần sẽ trở nên khả thi. Tôi không thể làm gì hơn ngoài việc trao cho huynh đệ đầu mối.
I am also handicapped by the complete ignorance of A.A.B. on these matters which involve electrical knowledge and terms. There is no seed thought in her mind on which I can work or from which I can expand the idea. She can explain what I mean if you ask her to do so. But even if she had a training such as you have, I could not explain clearly, as the discovery must first be made, and this will revolutionise all present ideas, even whilst growing out of them. An ordinary treatise on electricity such as is studied by electrical engineers would have been completely incomprehensible to even the most highly educated man two hundred years ago, or even one hundred, and so it is now. In the meantime, work with thought photography as a prelude to the coming science, for out of that and the gradual development of more sensitive modes of registering and recording subtle phenomena will come the new idea and possibilities. Does it mean anything to you when I say that electricity and photography are closely related because the human being is electrical in origin and nature? This must be demonstrated on the physical plane by the aid of the needed sensitive apparatus.
Tôi còn gặp trở ngại vì A.A.B. hoàn toàn không biết gì về những vấn đề liên quan đến kiến thức và thuật ngữ điện này. Trong thể trí của Bà không có tư tưởng hạt giống nào để Tôi có thể dựa vào mà làm việc hoặc từ đó mở rộng ý tưởng. Bà có thể giải thích điều Tôi muốn nói nếu huynh đệ yêu cầu Bà làm vậy. Nhưng ngay cả nếu Bà được đào tạo như huynh đệ, Tôi cũng không thể giải thích rõ ràng, vì trước hết phải có khám phá ấy, và nó sẽ cách mạng hóa mọi ý tưởng hiện nay, dù vẫn nảy sinh từ chính những ý tưởng ấy. Một khảo luận thông thường về điện như loại các kỹ sư điện nghiên cứu hẳn sẽ hoàn toàn không thể hiểu được ngay cả đối với người có học vấn cao nhất cách đây hai trăm năm, hoặc thậm chí một trăm năm; và tình hình hiện nay cũng như vậy. Trong lúc chờ đợi, hãy làm việc với việc chụp ảnh tư tưởng như bước mở đầu cho nền khoa học sắp đến, vì từ đó, cùng với sự phát triển dần dần những phương thức nhạy hơn để ghi nhận và lưu lại các hiện tượng tinh tế, ý tưởng và những khả năng mới sẽ xuất hiện. Khi Tôi nói rằng điện và nhiếp ảnh có liên hệ mật thiết vì con người có nguồn gốc và bản chất điện, điều ấy có ý nghĩa gì đối với huynh đệ không? Điều này phải được chứng minh trên cõi hồng trần với sự trợ giúp của những thiết bị nhạy cần thiết.
FEBRUARY, 1944
THÁNG HAI, 1944
PART TWO - The Basic Requirements for Healing – PHẦN HAI - Những Yêu Cầu Cơ Bản Đối Với Việc Chữa Lành
[380]
[380]
We are now entering upon a new section of our discussion on the Rays and Disease. It is essentially far more practical in scope than the highly speculative section (speculative to all of you) which we have just concluded. Much that I have there told you is, for you, in the nature of questionable truth (using this word “questionable” in its real sense; i.e., as promoting questions). For the most intuitive of you, it was at its best a “possibly accurate” hypothesis. I would here ask you to note this phrasing, paradoxical as it may appear. You have no direct means of knowing how true it may be. A great deal of the mystery of life and of living will clarify as more and more aspirants in the world begin to function consciously in the realm of causes. There is no questioning in the Hierarchy, except upon those matters which touch upon the unpredictable nature of human reactions. Even in connection with the uncertain activities of mankind, the Masters can usually gauge what will occur, but esoterically They refuse “to ponder on the energies released upon the plane of earthly living, for fear that counter-energies, issuing from the Centre where They dwell may negate the truth of man’s freewill.” I am here quoting one of the Masters, speaking at a conference held in 1725.
Giờ đây, chúng ta bước vào một phần mới trong cuộc thảo luận về các Cung và Bệnh Tật. Về thực chất, phạm vi của phần này mang tính thực hành hơn nhiều so với phần có tính suy đoán cao mà chúng ta vừa kết thúc, tức mang tính suy đoán đối với tất cả các bạn. Đối với các bạn, phần lớn những điều Tôi đã nói ở đó mang tính chất của một chân lý còn có thể đặt câu hỏi, dùng cụm từ “có thể đặt câu hỏi” theo đúng nghĩa thực của nó, tức khơi gợi các câu hỏi. Với những người có trực giác cao nhất trong các bạn, cùng lắm đó cũng chỉ là một giả thuyết “có thể chính xác”. Ở đây, Tôi muốn các bạn lưu ý cách diễn đạt này, dù nó có vẻ nghịch lý. Các bạn không có phương tiện trực tiếp nào để biết nó có thể đúng đến mức nào. Phần lớn bí nhiệm của sự sống và việc sống sẽ trở nên sáng tỏ khi ngày càng nhiều người chí nguyện trên thế giới bắt đầu hoạt động một cách có ý thức trong lĩnh vực các nguyên nhân. Trong Thánh đoàn không có sự nghi vấn, ngoại trừ đối với những vấn đề liên quan đến bản chất khó dự đoán của các phản ứng nơi con người. Ngay cả đối với những hoạt động bất định của nhân loại, các Chân sư thường có thể ước định điều gì sẽ xảy ra; nhưng về mặt huyền bí, Các Ngài từ chối “suy ngẫm về những năng lượng được giải phóng trên cõi sống trần gian, vì e rằng những năng lượng đối ứng phát ra từ Trung Tâm nơi Các Ngài cư ngụ có thể phủ nhận thực tại ý chí tự do của con người.” Ở đây, Tôi đang trích lời một Chân sư phát biểu tại một hội nghị tổ chức năm 1725.
[381]
[381]
What I have told you in the previous section is to me unquestionable truth and factually proven; to you it may be an adequate hypothesis or a questionable and nonacceptable interpretation of the underlying causes of disease.
Đối với Tôi, những điều Tôi đã nói với các bạn trong phần trước là chân lý không thể nghi ngờ và đã được thực tế chứng minh; đối với các bạn, đó có thể là một giả thuyết thỏa đáng, hoặc một cách diễn giải đáng nghi vấn và không thể chấp nhận về những nguyên nhân nền tảng của bệnh tật.
Behind humanity lies a very ancient past, wherein so-called sins and errors, wrong-doing and wrong attitudes have piled up a very heavy karma which (fortunately for the race of men!) is being rapidly worked off at this time. The immense interest in disease which is displayed today, the focussing of all the resources of medical and surgical science on behalf of the fighting forces—(resources later to be mobilised in aid of the civilian populations of the devastated countries in both hemispheres)—the widespread research being carried on in our hospitals and centres of learning, and the rapid discoveries of science, plus a steady trend towards a much needed simplification, will before long bring about major changes in the approach to disease. These will lead to the eradication of many of the dreaded inherited diseases.
Đằng sau nhân loại là một quá khứ vô cùng xa xưa, trong đó cái gọi là tội lỗi và sai lầm, hành vi sai trái và thái độ lệch lạc đã tích tụ thành một nghiệp quả rất nặng nề, mà hiện nay—may mắn cho nhân loại!—đang được thanh toán nhanh chóng. Mối quan tâm sâu rộng đối với bệnh tật đang thể hiện ngày nay, việc tập trung mọi nguồn lực của khoa học nội khoa và ngoại khoa để phục vụ các lực lượng chiến đấu—những nguồn lực về sau sẽ được huy động để trợ giúp dân thường tại các quốc gia bị tàn phá ở cả hai bán cầu—công cuộc nghiên cứu rộng khắp đang diễn ra trong các bệnh viện và trung tâm học thuật, cùng những khám phá nhanh chóng của khoa học và xu hướng ổn định hướng đến sự đơn giản hóa rất cần thiết, chẳng bao lâu nữa sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong cách tiếp cận bệnh tật. Những thay đổi này sẽ dẫn đến việc loại trừ nhiều căn bệnh di truyền đáng sợ.
The inspiration and inflow of occult knowledge, via the disciples and initiates of the world, will bring about many alterations in technique; the coming revelation of new, yet most simple, laws of health, and the blending which will inevitably come of orthodox medicine, psychology and spiritual methods of healing, will produce an entirely new approach to the entire subject; the increasing use of fire as a means of purification (both in relation to the soil of the planet and to the human frame) will do much. Of this, the technique of inducing fever as a means of curing certain forms of disease, and the method (frequently employed by nature) of subjecting large areas of the soil to the impact of fire, will be developed into a new and most helpful science. This, however, will come later. I indicate simply faint trends in that direction. Man stands—in all fields of [382] knowledge—at a climaxing point; this has been induced by the rapid unfoldment of the human consciousness, and it prefaces a great expansion of the understanding and a new insight into the conditioning causes which are responsible for much that today distresses man’s physical body.
Cảm hứng và dòng tri thức huyền bí tuôn vào qua các đệ tử và điểm đạo đồ trên thế giới sẽ tạo ra nhiều thay đổi về kỹ thuật; sự mặc khải sắp tới về những định luật sức khỏe mới nhưng hết sức đơn giản, cùng sự kết hợp tất yếu giữa y học chính thống, tâm lý học và những phương pháp chữa lành tinh thần, sẽ tạo ra một cách tiếp cận hoàn toàn mới đối với toàn bộ vấn đề; việc ngày càng sử dụng lửa như một phương tiện thanh lọc, cả đối với đất đai của hành tinh lẫn thân thể con người, sẽ mang lại nhiều kết quả. Trong lĩnh vực này, kỹ thuật gây sốt để chữa một số dạng bệnh và phương pháp cho những vùng đất rộng lớn chịu tác động của lửa, vốn là phương pháp thiên nhiên thường sử dụng, sẽ được phát triển thành một ngành khoa học mới và vô cùng hữu ích. Tuy nhiên, điều này sẽ đến sau. Tôi chỉ nêu ra những xu hướng còn mờ nhạt theo hướng ấy. Trong mọi lĩnh vực [382] tri thức, con người đang đứng ở một điểm đỉnh cao; điều này do sự khai mở nhanh chóng của tâm thức nhân loại tạo nên, và báo trước một sự mở rộng lớn lao về khả năng thấu hiểu cùng một sự thấu thị mới về những nguyên nhân chi phối, vốn gây ra phần lớn những gì đang làm thể xác con người khốn khổ ngày nay.
The new learning and the coming knowledge will arise as a result of an awakening intuition, of the presence upon earth of a very great number of advanced and developed souls, and the coming of the Hierarchy and Humanity into a closer relationship. The blending (slowly going forward) of the energies of those two planetary centres will bring about major changes and unfoldments, and this not only in the perceptive faculties of man but in the physical mechanism also. There will be a much greater resistance to the indigenous and inherited diseases and a real ability to resist infections; this will eliminate much pain and suffering. The reduction of the sum of human karma through the experience of this planetary war (1914-1945) will enable the souls seeking incarnation to create bodies free from tendencies to morbid developments. The Masters are entirely free from disease because they have entirely overcome the karma of the three worlds and are liberated.
Nền học thuật mới và tri thức sắp đến sẽ nảy sinh từ sự thức tỉnh của trực giác, từ sự hiện diện trên Trái Đất của rất nhiều linh hồn tiến bộ và phát triển, cùng việc Thánh đoàn và Nhân loại đi vào mối quan hệ mật thiết hơn. Sự hòa quyện đang diễn ra chậm rãi giữa năng lượng của hai trung tâm hành tinh ấy sẽ tạo ra những thay đổi và khai mở lớn, không chỉ trong các năng lực tri giác của con người mà cả trong bộ máy hồng trần. Sẽ có sức đề kháng lớn hơn nhiều đối với những căn bệnh bản địa và di truyền, cùng khả năng thực sự chống lại nhiễm trùng; điều này sẽ loại bỏ nhiều đau đớn và khổ sở. Sự giảm bớt tổng nghiệp quả của nhân loại qua trải nghiệm cuộc chiến tranh hành tinh này, từ năm 1914 đến năm 1945, sẽ giúp những linh hồn đang tìm cách nhập thể tạo ra những thân thể không có khuynh hướng phát triển bệnh lý. Các Chân sư hoàn toàn không mắc bệnh vì Các Ngài đã hoàn toàn vượt qua nghiệp quả của ba cõi giới và đã được giải thoát.
The ability—developed during the past fifty years—to cope with the planetary disease of tuberculosis will, when extended into the densely populated areas of the Orient and to districts suffering hitherto from inadequate medical attention, stamp it out altogether. The syphilitic diseases are already being brought under rapid control through the use of the newly discovered drugs, though these are regarded as amelioratives only by the Masters, and as superficial in time and space. Such diseases will be slowly and correctly stamped out in toto as humanity shifts its consciousness on to the mental plane and away from the field of astral and sexual desire with their reflex action upon [383] the automatic and responsive physical body. The third great planetary disease, cancer, is as yet basically uncontrollable, and the relative simplicity of surgery seems at present the only mode of possible cure. The mode of preventing the occurrence of cancer and the nature of its cause are still unknown, and the entire field is largely speculative and still subject to infinite research and investigation. Many minor ailments, infections and a wide range of allied physical ills will eventually be found traceable to one or other of these three basic diseases; they, in their turn, are related to a definite misuse of the energy of the three major rays. It might be stated that:
Khả năng đối phó với căn bệnh lao của hành tinh, được phát triển trong năm mươi năm qua, khi mở rộng đến những khu vực đông dân ở phương Đông và những vùng cho đến nay vẫn thiếu sự chăm sóc y tế, sẽ loại trừ hoàn toàn căn bệnh này. Các bệnh giang mai đang nhanh chóng được kiểm soát nhờ sử dụng những loại thuốc mới được khám phá, dù các Chân sư chỉ xem chúng là những phương tiện làm giảm nhẹ, với tác dụng bề ngoài trong thời gian và không gian. Những căn bệnh ấy sẽ dần dần được loại trừ hoàn toàn và đúng cách khi nhân loại chuyển tâm thức lên cõi trí, rời khỏi lĩnh vực dục vọng cảm dục và tính dục cùng tác động phản hồi của chúng lên [383] thể xác vốn hoạt động tự động và có tính đáp ứng. Căn bệnh lớn thứ ba của hành tinh, ung thư, về cơ bản vẫn chưa thể kiểm soát, và hiện nay phẫu thuật, với tính đơn giản tương đối của nó, dường như là phương thức chữa trị khả thi duy nhất. Phương thức ngăn ngừa ung thư xuất hiện và bản chất nguyên nhân của nó vẫn chưa được biết, và toàn bộ lĩnh vực này phần lớn còn mang tính suy đoán, vẫn đòi hỏi vô vàn nghiên cứu và khảo sát. Cuối cùng, người ta sẽ thấy rằng nhiều chứng bệnh nhẹ, tình trạng nhiễm trùng và một loạt bệnh thể xác có liên quan đều có thể truy nguyên về một trong ba căn bệnh cơ bản này; đến lượt chúng, những căn bệnh ấy lại liên quan đến việc sử dụng sai một cách rõ rệt năng lượng của ba cung chính. Có thể nói rằng:
1. The syphilitic diseases are due to the misuse of third ray energy, that of the creative, intelligent energy of substance itself.
1. Các bệnh giang mai là do việc sử dụng sai năng lượng cung ba, tức năng lượng sáng tạo và thông tuệ của chính chất liệu.
2. Tuberculosis is the result of the misuse of the energy of the second ray.
2. Bệnh lao là kết quả của việc sử dụng sai năng lượng cung hai.
3. Cancer is a mysterious and subtle reaction to the energy of the first ray, the will-to-live, which is one of the aspects of this ray. It works out, therefore, in an overactivity and growth of the body cells whose will-to-live becomes destructive to the organism in which they are to be found.
3. Ung thư là một phản ứng bí nhiệm và tinh tế đối với năng lượng cung một, tức ý chí sống, vốn là một trong các phương diện của cung này. Do đó, nó biểu hiện thành sự hoạt động và tăng trưởng quá mức của các tế bào cơ thể, mà ý chí sống của chúng trở nên có tính hủy hoại đối với cơ thể chứa chúng.
I have here only given you a hint, and one that is not of wide usefulness at this time. A great deal of occult research remains to be done by the medical profession along these lines, but this will only be possible when the Science of the Rays is better understood and when the evidence substantiating the presence of five basic energies in every human being (the energies of his five conditioning rays) can be ascertained; men will learn some day to determine with ease their ray type, and the rays which govern their three-fold personality.
Ở đây, Tôi chỉ đưa ra cho các bạn một gợi ý, và gợi ý này hiện chưa có tính hữu dụng rộng rãi. Ngành y còn phải thực hiện nhiều nghiên cứu huyền bí theo những hướng này, nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra khi Khoa Học về các Cung được thấu hiểu hơn và khi có thể xác minh bằng chứng chứng thực sự hiện diện của năm năng lượng cơ bản trong mỗi con người, tức năng lượng của năm cung tác động lên y; một ngày nào đó, con người sẽ học cách dễ dàng xác định loại cung của mình và những cung cai quản phàm ngã tam phân của họ.
[384]
[384]
Along every line of man’s expanding understanding, the opportunity for that which is new to make entrance and control is becoming increasingly evident. The door of adventure (in its highest sense) stands wide open, and nothing yet has ever succeeded in stopping humanity from passing through that door; down the ages man has passed through its portals and has entered into new and richer realms of investigation, of discovery and of subsequent practical application.
Trên mọi hướng mở rộng khả năng thấu hiểu của con người, cơ hội để cái mới đi vào và nắm quyền chi phối đang ngày càng rõ rệt. Cánh cửa phiêu lưu, theo nghĩa cao nhất của từ này, đang rộng mở, và chưa có điều gì từng thành công trong việc ngăn nhân loại đi qua cánh cửa ấy; xuyên suốt các thời đại, con người đã bước qua ngưỡng cửa đó và đi vào những lĩnh vực mới mẻ, phong phú hơn của sự khảo sát, khám phá và ứng dụng thực tiễn tiếp theo.
Today, the door which is opening will admit man into a world of meaning—a world which is the antechamber to the world of causes. Effect; Meaning; Cause. In these three words you have the key to the growth of man’s consciousness. Most men live today in the world of effects, and have no idea that they are effects. Some few are now beginning to live in the world of meaning, whilst disciples and those functioning in the world of the Hierarchy are aware, or are steadily becoming aware, of the causes which produce the effects which meaning reveals. It is for this reason that we can now start considering the basic requirements which man must meet before he can move forward along the path of future enlightenment. This enlightenment will most necessarily remove all fear of death and deal with that subject which has for so long a time driven humanity into the depths of despair and of fear. I refer also to the required attitudes which those seeking healing, the surmounting of disease and the cure of bodily ills, must realise, and with which they must cope, principally along mental lines. These requirements will evoke the mental attention of both the healing agency and the patient. They have reference also to man as a whole.
Ngày nay, cánh cửa đang mở sẽ đưa con người vào một thế giới của ý nghĩa—một thế giới là tiền sảnh dẫn đến thế giới của các nguyên nhân. Hệ quả; Ý nghĩa; Nguyên nhân. Trong ba từ này, các bạn có chìa khóa cho sự tăng trưởng tâm thức con người. Ngày nay, phần lớn con người sống trong thế giới của các hệ quả mà không hề biết đó là những hệ quả. Hiện có một số ít bắt đầu sống trong thế giới của ý nghĩa, trong khi các đệ tử và những người hoạt động trong thế giới của Thánh đoàn nhận biết, hoặc đang dần dần nhận biết, những nguyên nhân tạo ra các hệ quả mà ý nghĩa làm hiển lộ. Chính vì lý do này mà giờ đây chúng ta có thể bắt đầu xem xét những yêu cầu cơ bản mà con người phải đáp ứng trước khi có thể tiến bước trên con đường giác ngộ trong tương lai. Sự giác ngộ này tất yếu sẽ xóa bỏ mọi nỗi sợ chết và giải quyết vấn đề từ lâu đã đẩy nhân loại xuống vực sâu tuyệt vọng và sợ hãi. Tôi cũng đề cập đến những thái độ cần thiết mà những người tìm kiếm sự chữa lành, việc vượt qua bệnh tật và chữa trị những đau yếu của thân thể phải nhận biết và xử lý, chủ yếu bằng trí tuệ. Những yêu cầu này sẽ khơi dậy sự chú tâm trí tuệ của cả tác nhân chữa lành lẫn bệnh nhân. Chúng cũng liên quan đến con người xét như một tổng thể.
It has generally been surmised that the main prerequisite to the art of healing is faith. But this is not so. Faith has little to do with it. Healing is dependent upon [385] certain vital and basic factors into which faith enters not at all. The effort of the patient to achieve faith is frequently a great detriment to his freedom from the difficulties which lie between him and complete healing. When Christ so frequently emphasised faith (or rather that quality which is translated as faith in our Western Scriptures) He referred in reality to acceptance of law, to a recognition above all of karma, and to a knowledge of divine destiny. This, if grasped, will bring about a new attitude both to God and to circumstance. The prerequisites which I would like to emphasise might be enumerated as follows:
Người ta thường cho rằng điều kiện tiên quyết chủ yếu đối với nghệ thuật chữa lành là đức tin. Nhưng không phải vậy. Đức tin ít liên quan đến việc này. Sự chữa lành phụ thuộc vào [385] một số yếu tố thiết yếu và cơ bản mà đức tin hoàn toàn không tham dự. Nỗ lực đạt được đức tin của bệnh nhân thường gây trở ngại lớn cho việc thoát khỏi những khó khăn ngăn cách y với sự chữa lành hoàn toàn. Khi Đức Christ thường xuyên nhấn mạnh đức tin, hay đúng hơn là phẩm tính được dịch thành đức tin trong Thánh Kinh phương Tây của chúng ta, thực ra Ngài muốn nói đến sự chấp nhận định luật, trước hết là sự thừa nhận nghiệp quả, và sự hiểu biết về vận mệnh thiêng liêng. Nếu nắm bắt được điều này, người ta sẽ có một thái độ mới đối với cả Thượng đế lẫn hoàn cảnh. Những điều kiện tiên quyết mà Tôi muốn nhấn mạnh có thể được liệt kê như sau:
1. A recognition of the great Law of Cause and Effect, if possible. This is not always possible when dealing with the totally unenlightened.
1. Thừa nhận Định luật Nhân Quả vĩ đại, nếu có thể. Điều này không phải lúc nào cũng khả thi khi làm việc với những người hoàn toàn chưa được soi sáng.
2. Correct diagnosis of the disease by a competent physician, and later by a spiritual clairvoyant, when that capacity is developed by the initiate healer.
2. Chẩn đoán bệnh chính xác do một thầy thuốc có năng lực thực hiện, và về sau do một nhà thông nhãn tinh thần thực hiện, khi người chữa lành là điểm đạo đồ đã phát triển năng lực ấy.
3. A belief in the law of immediate Karma. By that I mean an ability on the part of the patient or of the healer to know whether it is the destiny of the patient to be healed or else be helped to make the great transition.
3. Tin vào định luật Nghiệp Quả tức thời. Điều Tôi muốn nói là khả năng của bệnh nhân hoặc người chữa lành biết được liệu vận mệnh của bệnh nhân là được chữa lành hay được trợ giúp để thực hiện cuộc chuyển tiếp lớn lao.
4. A willingness to recognise that healing might be detrimental and basically undesirable from the standpoint of the soul. People are sometimes healed by the potency of the healer when it is not their destiny to resume active physical plane living.
4. Sẵn lòng thừa nhận rằng, từ quan điểm của linh hồn, việc chữa lành có thể gây bất lợi và về cơ bản là điều không đáng mong muốn. Đôi khi, quyền năng của người chữa lành chữa khỏi cho một người, trong khi vận mệnh của người ấy không phải là trở lại đời sống hoạt động trên cõi hồng trần.
5. The active cooperation of healer and patient—a cooperation based upon mutual understanding.
5. Sự hợp tác tích cực giữa người chữa lành và bệnh nhân—một sự hợp tác dựa trên sự thấu hiểu lẫn nhau.
6. A determined acquiescence on the part of the patient to accept whatever may be the demonstrated will of the soul. It might be called an expression of divine indifference. [386]
6. Sự thuận phục kiên quyết của bệnh nhân để chấp nhận bất kỳ điều gì thể hiện là ý chí của linh hồn. Có thể gọi đó là một biểu hiện của điềm nhiên thiêng liêng. [386]
7. An effort upon the part of both healer and patient to express complete harmlessness. The value of this will repay careful thought. This has basically a reference to the relation of both parties to their associates.
7. Nỗ lực của cả người chữa lành lẫn bệnh nhân nhằm biểu lộ tính vô tổn hại hoàn toàn. Suy ngẫm kỹ về giá trị của điều này sẽ đem lại lợi ích xứng đáng. Về cơ bản, điều này liên quan đến mối quan hệ của cả hai bên với những người quanh họ.
8. An effort on the part of the patient (unless too ill) to adjust and put right those aspects of the nature and those characteristics which might militate against the right spiritual perception. This is one of the meanings hidden in the phrase, the “work of restitution,” though not the most important meaning.
8. Nỗ lực của bệnh nhân, trừ khi bệnh quá nặng, nhằm điều chỉnh và sửa chữa những phương diện của bản chất và những đặc điểm có thể cản trở sự nhận thức tinh thần đúng đắn. Đây là một trong những ý nghĩa ẩn trong cụm từ “công việc hoàn nguyên”, dù không phải ý nghĩa quan trọng nhất.
9. The deliberate eliminating of qualities, lines of thought and of desires which could hinder the inflow of spiritual force—a force which might integrate the soul more closely with the body in the three worlds and inaugurate a renewed life-expression, or which might integrate the soul with its emanating source and initiate renewed life on soul levels. This, therefore, affects the relation of the patient to his soul.
9. Chủ tâm loại bỏ những phẩm tính, đường hướng tư tưởng và dục vọng có thể cản trở dòng mãnh lực tinh thần tuôn vào—một mãnh lực có thể tích hợp linh hồn chặt chẽ hơn với thân thể trong ba cõi giới và mở đầu một sự biểu lộ sự sống được đổi mới, hoặc có thể tích hợp linh hồn với cội nguồn phát xạ ra nó và khởi đầu một đời sống mới trên các cấp độ linh hồn. Do đó, điều này tác động đến mối quan hệ của bệnh nhân với linh hồn mình.
10. The capacity of both healer and patient to integrate into the soul group with which they are subjectively affiliated, to integrate in other cases both personality and soul, and, if they are at a needed point of development, both to integrate more closely into the Master’s ashramic group.
10. Khả năng của cả người chữa lành lẫn bệnh nhân tích hợp vào nhóm linh hồn mà họ liên kết về mặt chủ quan; trong những trường hợp khác, tích hợp cả phàm ngã lẫn linh hồn; và nếu cả hai đã đạt đến điểm phát triển cần thiết, tích hợp chặt chẽ hơn vào nhóm ashram của Chân sư.
These ten requirements may appear simple but are not so by any means. Superficially, they may appear to deal with character and quality and capacity; fundamentally, they concern the relation of soul and body, and deal with integration or abstraction. The objective underlying them in any case is to set up an unbroken rapport between the healer [387] or the healing group and the patient who is receiving the scientific attention of the healing agent—group or individual.
Mười yêu cầu này có vẻ đơn giản, nhưng hoàn toàn không phải vậy. Nhìn bề ngoài, chúng dường như đề cập đến tính cách, phẩm tính và khả năng; về căn bản, chúng liên quan đến mối quan hệ giữa linh hồn và thân thể, và đề cập đến sự tích hợp hoặc sự triệt xuất. Trong mọi trường hợp, mục tiêu nằm sau chúng là thiết lập một sự giao cảm không gián đoạn giữa người chữa lành [387] hoặc nhóm chữa lành với bệnh nhân đang nhận được sự chăm sóc theo khoa học của tác nhân chữa lành, dù là nhóm hay cá nhân.
One of the first things that any healing agent will have to do will be the drawing up of a simple outline of instruction which should govern the attitude of the one to be healed. These instructions must be simple, because where real illness is present it is not possible for the patient to make the simplest physical effort in order to institute any changed attitude. This is oft forgotten.
Một trong những việc đầu tiên mà bất kỳ tác nhân chữa lành nào cũng phải làm là soạn một bản hướng dẫn ngắn gọn, đơn giản để định hướng thái độ của người cần được chữa lành. Những chỉ dẫn này phải đơn giản, vì khi thực sự mắc bệnh, bệnh nhân không thể thực hiện ngay cả nỗ lực thể chất đơn giản nhất nhằm tạo ra bất kỳ thay đổi nào về thái độ. Điều này thường bị lãng quên.
There are one or two things which I would like to make clear and which you must, in your turn, make clear to the patient.
Có một hai điều Tôi muốn làm rõ, và đến lượt mình, các bạn phải làm rõ cho bệnh nhân.
1. Cure is not guaranteed. Patients must realise that continuance of life in the physical body is not the highest possible goal. It may be so if the service to be rendered is of real import, if obligations remain still to be carried out, and if other lessons must still be learned. Bodily existence is not, however, the summum bonum of existence. Freedom from the limitations of the physical body is of real beneficence. Patients must learn to recognise and accept the Law of Karma.
1. Không có sự bảo đảm sẽ chữa khỏi. Bệnh nhân phải nhận ra rằng việc tiếp tục sống trong thể xác không phải là mục tiêu cao nhất có thể có. Điều ấy có thể là như vậy nếu việc phụng sự cần thực hiện có tầm quan trọng thực sự, nếu vẫn còn những bổn phận phải hoàn thành và nếu vẫn còn những bài học khác cần học. Tuy nhiên, sự tồn tại trong thân thể không phải là điều thiện tối thượng của sự hiện tồn. Thoát khỏi những giới hạn của thể xác là điều thực sự có lợi. Bệnh nhân phải học cách thừa nhận và chấp nhận Định luật Nghiệp Quả.
2. Fear is needless. One of the first objectives of the healing agent should be to aid the patient to achieve a happy, sane, expectant outlook upon his future—no matter what that future may bring.
2. Sợ hãi là không cần thiết. Một trong những mục tiêu đầu tiên của tác nhân chữa lành phải là giúp bệnh nhân có được cách nhìn vui vẻ, sáng suốt và đầy mong đợi về tương lai của mình—bất kể tương lai ấy có thể mang đến điều gì.
It will be obvious too that there lies before you the opportunity to bring a new attitude to the whole problem of disease and healing and to train humanity in a better and happier sense of proportion where disease and health are concerned. [388]
Các bạn cũng sẽ thấy rõ rằng trước mắt mình là cơ hội đem đến một thái độ mới đối với toàn bộ vấn đề bệnh tật và chữa lành, đồng thời rèn luyện nhân loại có một ý thức về tỉ lệ tốt đẹp và vui vẻ hơn trong những vấn đề liên quan đến bệnh tật và sức khỏe. [388]
It will also be obvious to you that the word “restitution” concerns the high art of restoring to the patient that which he needs in order correctly to face life—life in a physical body and on the physical plane or the continuity of life on the other levels, unseen by the average man and regarded as problematical and intangible. Restitution may also involve the righting of wrongs by the patient, prior to receiving what he will regard as successful treatment, but it primarily concerns the effect of the healing group when it first establishes contact with the one to be healed. This must not be forgotten. Sometimes, when the patient’s karma indicates it, the will-to-live must be restored to him; in other cases, the rejection of fear (fear of life or fear of death) must be induced, bringing with it the restoration of courage; the restoration of an affirmative attitude in all circumstances may be the quality needed, bringing with it the restitution of the willingness to take, with understanding and with joy, whatever the future may bring; it may also involve the restitution of harmonious relations with the patient’s surroundings, with family and friends, and the consequent result of renewed correct adjustments, an uprising of a spirit of love and the negation of what may have been deep-seated wrong thinking.
Các bạn cũng sẽ thấy rõ rằng từ “hoàn nguyên” liên quan đến nghệ thuật cao quý là khôi phục cho bệnh nhân điều y cần để đối diện đúng đắn với sự sống—sự sống trong một thể xác và trên cõi hồng trần, hoặc sự tiếp nối của sự sống trên những cấp độ khác mà người bình thường không nhìn thấy và xem là còn đáng ngờ, vô hình. Hoàn nguyên cũng có thể bao hàm việc bệnh nhân sửa chữa những sai trái trước khi nhận được điều mà y sẽ xem là sự điều trị thành công; nhưng trước hết, nó liên quan đến tác động của nhóm chữa lành khi nhóm lần đầu thiết lập tiếp xúc với người cần được chữa lành. Không được quên điều này. Đôi khi, nếu nghiệp quả của bệnh nhân chỉ ra như vậy, cần khôi phục ý chí sống cho y; trong những trường hợp khác, cần giúp y gạt bỏ nỗi sợ, dù là sợ sống hay sợ chết, qua đó khôi phục lòng can đảm; việc khôi phục một thái độ khẳng định trong mọi hoàn cảnh có thể là phẩm tính cần thiết, đem theo sự hoàn nguyên của tinh thần sẵn lòng đón nhận bất cứ điều gì tương lai có thể mang đến, với sự thấu hiểu và hoan hỉ; điều này cũng có thể bao hàm việc hoàn nguyên các mối quan hệ hài hòa với môi trường chung quanh bệnh nhân, với gia đình và bạn bè, cùng kết quả kéo theo là những điều chỉnh đúng đắn được tái lập, một tinh thần yêu thương trỗi dậy và sự phủ định lối suy nghĩ sai lầm có thể đã ăn sâu.
It will be apparent to you, therefore, that the process of following a healing ritual is only one phase of the work to be done, and that the relation of healer and patient is basically an educational one; it must be an education tempered by the physical condition of the sick person. You will find, as you work along these lines, that it will be necessary to have short expositions of the work to be done, of the restitutions which the patient must be prepared to make in order to facilitate the inflow of the healing force. He must be induced to “clean the slate” (if I may use such a symbolic [389] phrase) if the work of healing is to be successful under the Law of Karma.
Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng tiến trình tuân theo một nghi thức chữa lành chỉ là một giai đoạn của công việc cần thực hiện, và mối quan hệ giữa người chữa lành với bệnh nhân về cơ bản là một mối quan hệ giáo dục; sự giáo dục ấy phải được điều chỉnh cho phù hợp với tình trạng thể chất của người bệnh. Khi làm việc theo những hướng này, các bạn sẽ thấy cần có những trình bày ngắn gọn về công việc cần làm, về những sự hoàn nguyên mà bệnh nhân phải chuẩn bị thực hiện nhằm tạo thuận lợi cho dòng mãnh lực chữa lành tuôn vào. Phải giúp y “xóa sạch bảng cũ”, nếu Tôi có thể dùng một cách nói mang tính biểu tượng [389] như vậy, để công việc chữa lành có thể thành công theo Định luật Nghiệp Quả.
This phase of the preparatory work is not easy. With patients who may be grievously ill, it may not be possible. It will be found by all healing agencies that when working with those who are spiritually-minded and those whose lives have for a long time been based upon right effort and a correct “rendering unto Caesar the things which are Caesar’s and unto God the things which are God’s,” that the work of healing will be greatly accelerated or, on the other hand, that the task of smoothing the way through the gates of death will be greatly simplified. After all, death is in itself a work of restitution. It involves the work of rendering back of substance to the three worlds of substance, and doing it willingly and gladly; it involves also the restoration of the human soul to the soul from whence it emanated, and doing this in the joy of reabsorption. You must all learn to look upon death as an act of restitution; when you can do this it will take on new light and true meaning and become an integral part—recognised and desired—of a constant living process.
Giai đoạn này của công việc chuẩn bị không dễ dàng. Với những bệnh nhân có thể đang lâm bệnh nặng, điều đó có thể không khả thi. Mọi tác nhân chữa lành sẽ nhận thấy rằng khi làm việc với những người có khuynh hướng tinh thần và những người mà từ lâu đời sống đã đặt nền tảng trên nỗ lực đúng đắn cùng việc thực hiện đúng lời “trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar và trả cho Thượng đế những gì thuộc về Thượng đế”, thì công việc chữa lành sẽ được thúc đẩy nhanh chóng, hoặc ngược lại, nhiệm vụ dọn đường cho họ đi qua những cánh cổng tử sinh sẽ trở nên đơn giản hơn nhiều. Xét cho cùng, chính cái chết là một công việc hoàn nguyên. Nó bao hàm công việc hoàn trả chất liệu về ba cõi giới chất liệu, và thực hiện điều ấy một cách tự nguyện, vui vẻ; nó cũng bao hàm việc hoàn trả linh hồn con người về linh hồn mà từ đó nó đã phát xạ, và thực hiện điều này trong niềm hoan hỉ của sự tái hòa nhập. Tất cả các bạn phải học cách nhìn cái chết như một hành động hoàn nguyên; khi các bạn có thể làm điều này, cái chết sẽ hiện ra trong ánh sáng mới, mang ý nghĩa chân thực và trở thành một phần không thể tách rời—được thừa nhận và mong muốn—của một tiến trình sống liên tục.
If I were asked to say what is the major task of all healing groups, such as the Hierarchy seeks to see functioning in the future, I would say it is to prepare human beings for what we should regard as the restorative aspect of death, and thus give to that hitherto dreaded enemy of mankind a new and happier significance. You will find that if you work along these indicated lines of thought, the entire theme of death will constantly recur, and that the result of this will be new attitudes to dying and the inculcation of a happy expectancy where that inevitable and most familiar event occurs. Healing groups must prepare to deal with this basic condition of all living, and a major part of their work will be the elucidating of the principle of death. The [390] soul, we are told, must return to the one who gave it. To date that has been an enforced and dreaded restitution, one which engenders fear and which leads men and women everywhere to clamour for the healing of the physical body, overemphasising its importance and making them regard the prolongation of earthly existence as the most important factor in their lives. During the next cycle, these wrong attitudes must come to an end; death will become a normal and understood process—as normal as the process of birth, though evoking less pain and fear. This comment of mine is in the nature of a prophecy and should be noted as such.
Nếu có ai yêu cầu Tôi nói đâu là nhiệm vụ chính của mọi nhóm chữa lành mà Thánh đoàn mong muốn thấy hoạt động trong tương lai, Tôi sẽ nói rằng đó là chuẩn bị cho con người đón nhận điều chúng ta nên xem là phương diện phục hồi của cái chết, và nhờ đó mang lại một thâm nghĩa mới mẻ, tốt đẹp hơn cho kẻ thù mà nhân loại từ trước đến nay vẫn khiếp sợ. Các bạn sẽ thấy rằng nếu làm việc theo những hướng tư tưởng đã chỉ ra này, toàn bộ chủ đề về cái chết sẽ liên tục trở lại, và kết quả sẽ là những thái độ mới đối với việc lìa đời cùng sự vun bồi một niềm mong đợi vui vẻ khi biến cố tất yếu và hết sức quen thuộc ấy xảy đến. Các nhóm chữa lành phải chuẩn bị để xử lý điều kiện căn bản này của mọi sự sống, và một phần chủ yếu trong công việc của họ sẽ là làm sáng tỏ nguyên khí của cái chết. Chúng ta được dạy rằng [390] linh hồn phải trở về với đấng đã ban nó. Cho đến nay, đó vẫn là một sự hoàn nguyên bắt buộc và đáng sợ, làm nảy sinh nỗi sợ hãi và khiến những người nam và nữ ở khắp nơi khẩn thiết đòi hỏi việc chữa lành thể xác, nhấn mạnh quá mức tầm quan trọng của nó và xem việc kéo dài sự tồn tại trên trần gian là yếu tố quan trọng nhất trong đời mình. Trong chu kỳ kế tiếp, những thái độ sai lầm này phải chấm dứt; cái chết sẽ trở thành một tiến trình bình thường mà con người thấu hiểu—bình thường như tiến trình sinh ra, dù gây ít đau đớn và sợ hãi hơn. Lời nhận xét này của Tôi mang tính chất một lời tiên tri và cần được ghi nhận như vậy.
I would, therefore, enjoin upon you the elementary fact that any healing group seeking to work along the new lines must (as a preliminary effort) seek to understand something about the factor of death to which is given the appellation of “the great restorative process” or “the great restitution.” It concerns the art of wisely, correctly and with due timing, giving back the body to the source of its constituent elements and of restoring the soul to the source of its essential being. I am wording this with care because I seek to have you ponder most carefully and sanely upon the so-called enigma of death. It is an enigma to man, but not an enigma to disciples and knowers of the wisdom.
Vì vậy, Tôi muốn nhấn mạnh với các bạn một sự thật sơ đẳng: bất kỳ nhóm chữa lành nào tìm cách làm việc theo những đường hướng mới đều phải tìm hiểu đôi điều về yếu tố cái chết như một nỗ lực khởi đầu; yếu tố này được gọi là “tiến trình phục hồi vĩ đại” hoặc “sự hoàn nguyên vĩ đại”. Nó liên quan đến nghệ thuật hoàn trả thân thể về nguồn của những nguyên tố cấu thành nó, và phục hồi linh hồn về nguồn của bản thể cốt yếu của nó một cách minh triết, đúng đắn và đúng thời điểm. Tôi lựa lời cẩn thận như vậy vì muốn các bạn suy ngẫm thật thận trọng và sáng suốt về điều được gọi là bí ẩn của cái chết. Đó là một bí ẩn đối với con người, nhưng không phải là bí ẩn đối với các đệ tử và những người thấu hiểu minh triết.
Healing groups and individual healers will find it necessary at times to confront their patients with the fact of death; one of the undertakings of disciples in my Ashram and in the Ashram of the Master K.H. is to interject the theme of death into their conversation with other seekers for truth, into their thinking and into their discussions with each other, and particularly with those they seek to heal. It will not be easy and it must not be done in a precipitate manner, but it is a subject which cannot and must not be avoided or evaded. Healing groups working out from an Ashram lay not the emphasis upon bodily healing, but upon [391] timing and upon the cycles of work or of physical plane living, and the cycles of restitution or physical plane death.
Các nhóm chữa lành và những người chữa lành riêng lẻ sẽ thấy rằng đôi khi cần phải đưa bệnh nhân của mình đối diện với sự thật về cái chết; một trong những công việc mà các đệ tử trong ashram của Tôi và trong ashram của Chân sư KH đảm nhận là đưa chủ đề cái chết vào những cuộc trò chuyện với những người khác đang tìm kiếm chân lý, vào tư tưởng của họ và vào những cuộc thảo luận với nhau, đặc biệt là với những người họ tìm cách chữa lành. Việc này sẽ không dễ dàng và không được thực hiện một cách hấp tấp, nhưng đây là một chủ đề không thể và không được tránh né hay lảng tránh. Các nhóm chữa lành hoạt động từ một ashram không đặt trọng tâm vào việc chữa lành thân thể, mà vào [391] thời điểm và các chu kỳ làm việc hoặc sống trên cõi hồng trần, cùng các chu kỳ hoàn nguyên hoặc chết trên cõi hồng trần.
This entire section with which we are now engaged, called The Basic Requirements, has reference in reality to the processes of dying, to the conditions of the material world or the three worlds of incarnated service. The restitution of the body to the general reservoir of substance, or to service in the outer world of daily physical living, the restoration of the soul to its source, the soul upon its own plane or—in reverse—to full responsibility within the body, are dealt with in this first point. The elimination of the life principle and the consciousness aspect is dealt with in the second point, and the theme is not that of character building, as some might surmise. I touched upon character and personal qualities in my opening remarks in this section because all true understanding of the basic principles of death and life is facilitated by right action, based on right thinking, which eventuates in right character building. I seek not, however, to enlarge upon these elementary prerequisites. The processes of integration as I seek to consider them here concern the integration of the soul into the threefold body, if karma so decides, or into the kingdom of souls, if karma decrees that what we call death lies ahead of the man.
Toàn bộ phần mà hiện nay chúng ta đang nghiên cứu, có tên là Những Yêu Cầu Căn Bản, thực ra đề cập đến các tiến trình lìa đời, đến những điều kiện của thế giới vật chất hay ba cõi giới phụng sự khi nhập thể. Sự hoàn nguyên thân thể về kho chất liệu chung, hoặc đưa thân thể trở lại phụng sự trong thế giới bên ngoài của đời sống hồng trần hằng ngày, sự phục hồi linh hồn về nguồn của nó, tức linh hồn trên cõi riêng của mình, hoặc—ngược lại—đưa linh hồn trở lại đảm nhận trọn vẹn trách nhiệm trong thân thể, là những điều được bàn đến trong điểm thứ nhất này. Việc loại bỏ nguyên khí sự sống và phương diện tâm thức được bàn đến trong điểm thứ hai, và chủ đề ấy không phải là lập hạnh như một số người có thể phỏng đoán. Tôi đã đề cập đến tính cách và các phẩm chất cá nhân trong những nhận xét mở đầu phần này, vì hành động đúng đắn, dựa trên tư tưởng đúng đắn và dẫn đến việc lập hạnh đúng đắn, tạo thuận lợi cho mọi sự thấu hiểu chân chính về các nguyên khí căn bản của cái chết và sự sống. Tuy nhiên, Tôi không muốn nói rộng thêm về những điều kiện tiên quyết sơ đẳng này. Các tiến trình tích hợp mà Tôi muốn xem xét ở đây liên quan đến sự tích hợp linh hồn vào thân thể tam phân, nếu nghiệp quả quyết định như vậy, hoặc vào giới linh hồn, nếu nghiệp quả định rằng điều chúng ta gọi là cái chết đang chờ con người phía trước.
We are therefore considering, in this second section, the problem of death or the art of dying. This is something which all seriously ill people must inevitably face, and for which those in good health should prepare themselves through correct thinking and sane anticipation. The morbid attitude of the majority of men to the subject of death, and their refusal to consider it when in good health, is something which must be altered and deliberately changed. Christ demonstrated to His disciples the correct attitude when referring to His coming and immediate decease at the hand [392] of His enemies; He chided them when they evidenced sorrow, reminding them that He was going to His Father. Being an initiate of high degree, He meant that He was, occultly speaking, “making restitution to the Monad”; ordinary people and those below the grade of an initiate of the third degree make “restitution to the soul.” The fear and the morbidness which the subject of death usually evokes, and the unwillingness to face it with understanding are due to the emphasis which people lay upon the fact of the physical body and the facility with which they identify themselves with it; it is based also upon an innate fear of loneliness and the loss of the familiar. Yet the loneliness which eventuates after death, when the man finds himself without a physical vehicle, is as nothing compared to the loneliness of birth. At birth, the soul finds itself in new surroundings and immersed in a body which is at first totally incompetent to take care of itself or to establish intelligent contact with surrounding conditions for a long period of time. The man comes into incarnation with no recollection as to the identity or the significance to him of the group of souls in bodies with which he finds himself in relationship; this loneliness only disappears gradually as he makes his own personality contacts, discovers those who are congenial to him and eventually gathers around him those whom he calls his friends. After death this is not so, for the man finds on the other side of the veil those whom the knows and who have been connected with him in physical plane life, and he is never alone as human beings understand loneliness; he is also conscious of those still in physical bodies; he can see them; he can tune in on their emotions, and also upon their thinking, for the physical brain, being nonexistent, no longer acts as a deterrent. If people but knew more, birth would be the experience which they would dread, and not [393] death, for birth establishes the soul in the true prison, and physical death is only the first step towards liberation.
Vì vậy, trong phần thứ hai này, chúng ta đang xem xét vấn đề cái chết hay nghệ thuật lìa đời. Đây là điều mà mọi người bệnh nặng đều tất yếu phải đối diện, và những người khỏe mạnh nên chuẩn bị cho điều ấy bằng tư tưởng đúng đắn và sự dự liệu sáng suốt. Thái độ u ám của đa số con người đối với chủ đề cái chết, cùng việc họ từ chối xem xét nó khi còn khỏe mạnh, là điều cần được thay đổi một cách có chủ ý. Đức Christ đã cho các đệ tử của Ngài thấy thái độ đúng đắn khi đề cập đến cái chết sắp đến ngay trước mắt của Ngài dưới tay [392] những kẻ thù; Ngài quở trách họ khi họ tỏ ra đau buồn, nhắc họ rằng Ngài đang về với Cha của Ngài. Là một điểm đạo đồ cấp cao, theo cách nói huyền bí học, Ngài muốn nói rằng Ngài đang “hoàn nguyên về chân thần”; những người bình thường và những người chưa đạt cấp độ điểm đạo đồ bậc ba thì “hoàn nguyên về linh hồn”. Nỗi sợ hãi và tâm trạng u ám mà chủ đề cái chết thường khơi dậy, cùng sự không sẵn lòng đối diện với nó bằng sự thấu hiểu, bắt nguồn từ việc con người quá coi trọng sự hiện hữu của thể xác và dễ dàng đồng hoá mình với nó; điều này cũng dựa trên nỗi sợ cô đơn và mất đi những gì quen thuộc vốn có trong con người. Tuy nhiên, sự cô đơn xảy đến sau cái chết, khi con người thấy mình không còn hiện thể hồng trần, chẳng thấm vào đâu so với sự cô đơn lúc chào đời. Khi sinh ra, linh hồn thấy mình ở trong những hoàn cảnh mới và chìm trong một thân thể mà lúc đầu hoàn toàn không thể tự chăm sóc hay thiết lập sự tiếp xúc sáng suốt với những điều kiện xung quanh trong một thời gian dài. Con người nhập thể mà không nhớ những linh hồn đang ở trong thân thể, thuộc nhóm mà mình thấy có quan hệ, là ai hay có ý nghĩa gì đối với mình; sự cô đơn này chỉ dần biến mất khi y thiết lập những mối tiếp xúc phàm ngã của riêng mình, tìm ra những người hợp với mình và cuối cùng quy tụ quanh mình những người mà y gọi là bạn hữu. Sau cái chết thì không như vậy, vì ở bên kia bức màn, con người gặp những người mình quen biết và từng gắn bó với mình trong đời sống cõi hồng trần, và y không bao giờ đơn độc theo cách con người hiểu về sự cô đơn; y cũng nhận biết những người vẫn còn trong thể xác; y có thể thấy họ; y có thể hòa nhịp với cảm xúc và cả tư tưởng của họ, vì bộ não hồng trần không còn tồn tại nên không còn là một trở ngại. Giá như con người biết nhiều hơn, thì sinh ra mới là trải nghiệm mà họ khiếp sợ, chứ không phải [393] cái chết, vì sự sinh ra đưa linh hồn vào nhà tù thực sự, còn cái chết hồng trần chỉ là bước đầu tiên hướng đến giải thoát.
Another fear which induces mankind to regard death as a calamity is one which theological religion has inculcated, particularly the Protestant fundamentalists and the Roman Catholic Church—the-fear of hell, the imposition of penalties, usually out of all proportion to the errors of a lifetime, and the terrors imposed by an angry God. To these man is told he will have to submit, and from them there is no escape, except through the vicarious atonement. There is, as you well know, no angry God, no hell, and no vicarious atonement. There is only a great principle of love animating the entire universe; there is the Presence of the Christ, indicating to humanity the fact of the soul and that we are saved by the livingness of that soul, and the only hell is the earth itself, where we learn to work out our own salvation, actuated by the principle of love and light, and incited thereto by the example of the Christ and the inner urge of our own souls. This teaching anent hell is a remainder of the sadistic turn which was given to the thinking of the Christian Church in the Middle Ages and to the erroneous teaching to be found in the Old Testament anent Jehovah, the tribal God of the Jews. Jehovah is not God, the planetary Logos, the Eternal Heart of Love Whom Christ revealed. As these erroneous ideas die out, the concept of hell will fade from man’s recollection and its place will be taken by an understanding of salvation upon the physical plane, which leads him to right the wrongs which he may have perpetrated in his lives on Earth, and which enables him eventually to “clean his own slate.”
Một nỗi sợ khác khiến nhân loại xem cái chết là tai họa là nỗi sợ mà tôn giáo thần học đã gieo vào lòng người, đặc biệt qua những người Tin Lành theo chủ nghĩa căn bản và Giáo hội Công giáo La Mã—nỗi sợ địa ngục, những hình phạt thường hoàn toàn không tương xứng với các lỗi lầm trong một đời người, và những điều kinh hoàng do một Thượng đế thịnh nộ áp đặt. Con người được bảo rằng mình sẽ phải chịu những điều ấy, và không có cách nào thoát khỏi chúng ngoài sự chuộc tội thay. Như các bạn biết rõ, không có Thượng đế thịnh nộ, không có địa ngục và không có sự chuộc tội thay. Chỉ có một nguyên khí bác ái vĩ đại tiếp sinh cho toàn thể vũ trụ; có sự Hiện Diện của Đức Christ, chỉ cho nhân loại thấy sự thật về linh hồn và rằng sức sống của linh hồn ấy cứu rỗi chúng ta; địa ngục duy nhất chính là trần gian, nơi chúng ta học cách tự thực hiện sự cứu rỗi của mình, do nguyên khí bác ái và ánh sáng thúc đẩy, cùng tấm gương của Đức Christ và sự thôi thúc bên trong của chính linh hồn chúng ta khích lệ. Giáo lý về địa ngục này là tàn dư của khuynh hướng bạo dâm đã được đưa vào tư tưởng của Giáo hội Cơ Đốc thời Trung Cổ, cũng như của giáo lý sai lầm trong Cựu Ước về Jehovah, vị Thượng đế của bộ tộc Do Thái. Jehovah không phải là Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế, Trái Tim Bác Ái Vĩnh Cửu mà Đức Christ đã mặc khải. Khi những ý tưởng sai lầm này mất đi, khái niệm địa ngục sẽ phai khỏi ký ức con người, nhường chỗ cho sự thấu hiểu về việc cứu rỗi trên cõi hồng trần, dẫn dắt y sửa chữa những sai lầm mà y có thể đã gây ra trong các kiếp sống trên Trái Đất, và cuối cùng giúp y “thanh toán hết những món nợ của chính mình”.
I seek not here to impose upon you a theological discussion. I seek only to point out that the present fear of death must give place to an intelligent comprehension of the reality [394] and to the substitution of a concept of continuity which will negate disturbance, and emphasise the idea of the one life and one conscious entity in many experiencing bodies.
Ở đây, Tôi không muốn áp đặt lên các bạn một cuộc thảo luận thần học. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng nỗi sợ cái chết hiện nay phải nhường chỗ cho sự thấu hiểu sáng suốt về thực tại [394] và được thay thế bằng một quan niệm về tính liên tục, vốn sẽ xóa bỏ sự xáo trộn và nhấn mạnh ý tưởng về một sự sống duy nhất cùng một thực thể hữu thức duy nhất trải nghiệm qua nhiều thân thể.
It might be stated, in order to sum up my general proposition, that the fear and horror of death is founded upon the love of form—our own form, the forms of those we love and the form of our familiar surroundings and environment. Yet this type of love runs counter to all our teaching anent the spiritual realities. The hope of the future, and the hope of our release from this ill-founded fear, lie in the shifting of our emphasis to the fact of the eternal soul and to the necessity for that soul to live spiritually, constructively and divinely within the material vehicles. Into this concept again enters the thought of restitution. Wrong concepts are therefore forgotten; the idea of elimination also enters in so that right focus is attained. Integration demands consideration, so that absorption in the life of the soul will take the place of absorption in the life of the body. Sorrow, loneliness, unhappiness, decay, loss—all these are ideas which must disappear as the common reaction to the fact of death also vanishes. As men learn to live consciously as souls, as they also learn to focus themselves on soul levels and begin to regard the form or forms as simply modes of expression, all the old sorrowful ideas anent death will gradually disappear, and a new and more joyful approach to that great experience will take their place.
Để tóm lược luận điểm chung của Tôi, có thể nói rằng nỗi sợ hãi và kinh hoàng trước cái chết dựa trên tình yêu đối với hình tướng—hình tướng của chính chúng ta, hình tướng của những người chúng ta yêu thương và hình tướng của hoàn cảnh cùng môi trường quen thuộc quanh mình. Tuy nhiên, loại tình yêu này đi ngược lại mọi giáo huấn của chúng ta về các thực tại tinh thần. Niềm hy vọng cho tương lai và niềm hy vọng thoát khỏi nỗi sợ thiếu cơ sở này nằm ở việc chuyển trọng tâm sang sự thật về linh hồn vĩnh cửu và sự cần thiết để linh hồn ấy sống một cách tinh thần, có tính xây dựng và thiêng liêng trong các hiện thể vật chất. Tư tưởng về sự hoàn nguyên một lần nữa lại đi vào quan niệm này. Nhờ đó, những quan niệm sai lầm được quên đi; ý tưởng về sự loại bỏ cũng xuất hiện để đạt được sự tập trung đúng đắn. Sự tích hợp cần được xem xét, để việc chuyên chú vào đời sống linh hồn thay thế cho việc chuyên chú vào đời sống thân thể. Đau buồn, cô đơn, bất hạnh, suy tàn, mất mát—tất cả những ý tưởng này phải biến mất khi phản ứng thông thường trước sự thật về cái chết cũng tan biến. Khi con người học cách sống hữu thức như những linh hồn, đồng thời học cách tập trung trên các cấp độ linh hồn và bắt đầu xem hình tướng hoặc các hình tướng chỉ là những phương thức biểu lộ, mọi ý tưởng buồn thảm cũ về cái chết sẽ dần biến mất, nhường chỗ cho một cách tiếp cận mới mẻ và hoan hỉ hơn đối với trải nghiệm vĩ đại ấy.
You will note that the various words I have chosen in considering the basic requirements have been so chosen for their specific meanings:
Các bạn sẽ nhận thấy rằng những từ ngữ khác nhau mà Tôi đã chọn khi xem xét các yêu cầu căn bản đều được chọn vì ý nghĩa riêng biệt của chúng:
1. The Work of Restitution signifies the returning of the form to the basic reservoir of substance; or of the soul, the divine spiritual energy, returning to its source—either on soul or monadic levels, according to the point [395] in evolution. This restitution is predominantly the work of the human soul within the physical body and involves both the heart and the head centres.
1. Công Việc Hoàn Nguyên có nghĩa là đưa hình tướng trở về kho chất liệu căn bản; hoặc linh hồn, năng lượng tinh thần thiêng liêng, trở về nguồn của nó—trên các cấp độ linh hồn hay chân thần, tùy theo điểm [395] tiến hoá. Sự hoàn nguyên này chủ yếu là công việc của linh hồn con người trong thể xác và liên quan đến cả trung tâm tim lẫn trung tâm đầu.
2. The Art of Elimination. This refers to two activities of the inner spiritual man; i.e., the elimination of all control by the threefold lower man, and the process of refocussing itself upon the concrete levels of the mental plane as a point of radiant light. This concerns primarily the human soul.
2. Nghệ Thuật Loại Bỏ. Điều này đề cập đến hai hoạt động của con người tinh thần bên trong; tức là loại bỏ mọi sự kiểm soát của phàm nhân tam phân và tiến trình tự tái tập trung trên các cấp độ cụ thể của cõi trí như một điểm ánh sáng rạng ngời. Điều này chủ yếu liên quan đến linh hồn con người.
3. The Processes of Integration. These deal with the work of the liberated spiritual man as he blends with the soul (the oversoul) upon the higher levels of the mental plane. The part returns to the whole, and the man comprehends the true meaning of the words of Krishna, “Having pervaded this whole universe with a fragment of myself, I remain.” He, too, the conscious experiencing fragment which has pervaded the little universe of the form in the three worlds, still remains. He knows himself to be a part of the whole.
3. Các Tiến Trình Tích Hợp. Những tiến trình này đề cập đến công việc của con người tinh thần đã giải thoát khi y hòa nhập với linh hồn (đại hồn) trên các cấp độ cao của cõi trí. Bộ phận trở về với toàn thể, và con người thấu hiểu ý nghĩa chân thực trong lời của Krishna: “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một phần của chính Ta, Ta vẫn còn.” Y cũng vậy, phần hữu thức đang trải nghiệm đã thấm nhuần vũ trụ nhỏ bé của hình tướng trong ba cõi giới ấy, vẫn còn. Y biết mình là một phần của toàn thể.
These three processes are Death.
Ba tiến trình này là Cái Chết.
It will be obvious to you that when humanity attains this outlook upon the fact of death or the art of dying, the entire attitude of the race of men will undergo beneficent change. This will be paralleled, as time elapses, by a rapport between men upon telepathic levels; men will be steadily growing in intelligence, and humanity will be increasingly focussed upon mental levels. This telepathic rapport will be a common and ordinary phenomenon of which modern spiritualism is the guarantee, though the distortion (and a very serious distortion) is largely based on humanity’s wishful thinking, with very little true telepathy to be found in it. The telepathy which is present today between the medium [396] (in or out of trance) and the bereaved relative or friend is not between the one who has experienced the release of death and the one who is still in form. This should be remembered. In the interim where mind is not normally telepathic, there may be (though there very seldom is) the interposition of a mediumship based upon clairvoyance and clairaudience, but not upon trance. This will still necessitate a contact via a third party, and will be entirely astral; it will therefore be full of glamour and error. It will, however, be a step forward from the present mediumistic performances which simply ignore the man who is dead and give to the enquirer only what the medium reads in his aura—his recollection of the personal appearance, significant remembrances stored in the enquirer’s consciousness, and wishful thinking anent advice demanded because the enquirer believes that because a man is dead he must be more wise than heretofore. When the medium at times succeeds in establishing true communication, it is because the enquirer and the dead person are mental types, and there is therefore a true telepathic rapport between them which the medium intercepts.
Các bạn hẳn thấy rõ rằng khi nhân loại đạt đến cách nhìn này về sự thật của cái chết hay nghệ thuật lìa đời, toàn bộ thái độ của loài người sẽ biến đổi theo hướng tốt lành. Theo thời gian, song song với điều này sẽ là sự giao cảm giữa con người trên các cấp độ viễn cảm; trí tuệ của con người sẽ không ngừng phát triển, và nhân loại sẽ ngày càng tập trung trên các cấp độ trí tuệ. Sự giao cảm viễn cảm này sẽ là một hiện tượng phổ biến và thông thường mà phong trào thần linh học hiện đại là một bảo chứng, dù sự xuyên tạc của nó (và là một sự xuyên tạc rất nghiêm trọng) phần lớn dựa trên những điều nhân loại mong muốn tin là thật, còn viễn cảm chân thực trong đó thì rất ít. Viễn cảm hiện có giữa đồng tử [396] (trong hay ngoài trạng thái xuất thần) và người thân hoặc bạn hữu đang chịu tang không phải là viễn cảm giữa người đã trải qua sự giải thoát của cái chết với người vẫn còn trong hình tướng. Cần ghi nhớ điều này. Trong giai đoạn chuyển tiếp, khi thể trí chưa thường xuyên có khả năng viễn cảm, có thể có (dù rất hiếm khi xảy ra) sự trung gian của một đồng tử dựa trên khả năng thông nhãn và thông nhĩ, nhưng không dựa trên trạng thái xuất thần. Điều này vẫn đòi hỏi sự tiếp xúc qua một người thứ ba và hoàn toàn thuộc cảm dục; do đó, nó sẽ đầy ảo cảm và sai lầm. Tuy nhiên, nó sẽ là một bước tiến so với những cuộc trình diễn đồng cốt hiện nay, vốn đơn thuần bỏ qua người đã chết và chỉ cung cấp cho người hỏi những gì đồng tử đọc được trong hào quang của người ấy—ký ức về diện mạo của người đã chết, những kỷ niệm có ý nghĩa lưu giữ trong tâm thức người hỏi, cùng những điều họ mong muốn tin là thật về lời khuyên mà họ yêu cầu, vì người hỏi cho rằng một người đã chết hẳn phải minh triết hơn trước. Khi đôi lúc đồng tử thành công trong việc thiết lập sự giao tiếp chân thực, đó là vì người hỏi và người đã chết đều thuộc loại hình trí tuệ, nên giữa họ có sự giao cảm viễn cảm chân thực mà đồng tử bắt được.
The race is progressing, developing and becoming increasingly mental. The relation between the dead and the living must and will be upon mental levels, prior to the processes of integration; the true severance of communication will come when the human soul is reabsorbed into the oversoul, prior to again reincarnating. The fact of communication up to that time will, however, completely destroy the fear of death. In the case of disciples working in a Master’s Ashram, even this process of integration will constitute no barrier. In the next few pages I will give some teaching on what might be called the art of dying and so expand what I said in A Treatise on White Magic.
Nhân loại đang tiến bộ, phát triển và ngày càng thiên về trí tuệ. Trước khi các tiến trình tích hợp diễn ra, mối quan hệ giữa người chết và người sống phải và sẽ ở trên các cấp độ trí tuệ; sự giao tiếp chỉ thực sự chấm dứt khi linh hồn con người tái hòa nhập vào đại hồn, trước khi lại tái sinh. Tuy nhiên, sự thật rằng giao tiếp vẫn tiếp tục cho đến thời điểm ấy sẽ hoàn toàn xóa bỏ nỗi sợ cái chết. Đối với những đệ tử làm việc trong ashram của một Chân sư, ngay cả tiến trình tích hợp này cũng không tạo thành rào cản. Trong vài trang tiếp theo, Tôi sẽ đưa ra một số giáo huấn về điều có thể gọi là nghệ thuật lìa đời, qua đó mở rộng những gì Tôi đã nói trong Luận về Chánh Thuật.
PRESENT ATTITUDES TO DEATH
NHỮNG THÁI ĐỘ HIỆN NAY ĐỐI VỚI CÁI CHẾT
[397]
[397]
I undertook to take up with you the processes of dying and to consider a little more fully the factor of death—the most familiar experience (could the physical brain but recall it and realise it) in the life of the reincarnating entity or soul. Let me make some comments as to the attitude of man to the experience of “restitution.” This is a peculiarly occult word, largely used by the initiate when speaking of death. The outstanding attitude associated with death is one of fear. This fear is based upon the—at present—mental uncertainty as to the fact of immortality. Beyond the proven fact of some form of survival, established by the psychical research groups, immortality or the permanent existence of what we usually mean when we speak of the “I” remains as yet in the realm of wishful thinking or of belief. This belief can be founded on Christian premises, upon religious affirmation based on rationalising the matter, and on the more scientific approach which argues that economic necessity requires that that which has been so long in evolving and which is the culminating result of the evolutionary process cannot be lost. It is interesting to note that there is no evidence upon our planet of any higher evolutionary product than that of the human kingdom; even for the materialistic thinker, the uniqueness of man is to be found in his various stages of consciousness and in his capacity to present for investigation all stages of consciousness, from that of the illiterate savage, through all the intermediate stages of mental effectiveness up to the most advanced thinkers and geniuses, capable of creative art, scientific discovery and spiritual perception. Putting it very simply, the question which the theme of death arouses is: Where is the “I,” the occupying tenant of the body, when that body is relinquished and disintegrates? Is there, in the last analysis, an occupying tenant?
Tôi đã nhận bàn với các bạn về các tiến trình lìa đời và xem xét đầy đủ hơn đôi chút yếu tố cái chết—trải nghiệm quen thuộc nhất (giá như bộ não hồng trần có thể nhớ lại và nhận ra điều ấy) trong đời sống của thực thể hay linh hồn tái sinh. Tôi xin đưa ra một số nhận xét về thái độ của con người đối với trải nghiệm “hoàn nguyên”. Đây là một từ mang tính huyền bí học đặc biệt, mà điểm đạo đồ thường dùng khi nói về cái chết. Thái độ nổi bật gắn liền với cái chết là sợ hãi. Nỗi sợ này dựa trên sự bất định—hiện nay—trong thể trí về sự thật của tính bất tử. Ngoài sự thật đã được các nhóm nghiên cứu thông linh chứng minh rằng sự sống vẫn tiếp tục dưới một hình thức nào đó, tính bất tử, hay sự tồn tại vĩnh viễn của điều chúng ta thường hàm ý khi nói đến cái “Tôi”, cho đến nay vẫn thuộc phạm vi của điều người ta mong muốn tin là thật hoặc của đức tin. Đức tin này có thể dựa trên những tiền đề Cơ Đốc giáo, trên sự khẳng định tôn giáo dựa vào việc lý giải vấn đề, và trên cách tiếp cận có tính khoa học hơn, lập luận rằng yêu cầu tiết kiệm đòi hỏi điều đã mất quá lâu để tiến hoá và là kết quả cao nhất của tiến trình tiến hoá không thể bị mất đi. Điều thú vị cần lưu ý là trên hành tinh chúng ta không có bằng chứng về bất kỳ sản phẩm tiến hoá nào cao hơn giới nhân loại; ngay cả đối với nhà tư tưởng duy vật, nét độc đáo của con người nằm ở các giai đoạn tâm thức khác nhau và ở khả năng cung cấp cho việc khảo sát mọi giai đoạn tâm thức, từ người sơ khai không biết chữ, qua mọi giai đoạn trung gian về năng lực trí tuệ, cho đến những nhà tư tưởng và thiên tài tiến bộ nhất, có khả năng sáng tạo nghệ thuật, khám phá khoa học và nhận thức tinh thần. Nói thật đơn giản, câu hỏi mà chủ đề cái chết khơi lên là: Cái “Tôi”, kẻ cư ngụ trong thân thể, ở đâu khi thân thể ấy bị từ bỏ và tan rã? Xét đến cùng, có một kẻ cư ngụ như vậy hay không?
[398]
[398]
Human history records the endless search for assurance upon this subject; this search culminates today in the numerous societies which are occupying themselves with the attempt to prove immortality and to penetrate into those fastnesses of the spirit which apparently give sanctuary to that “I” which has been the actor on the physical plane and which has hitherto baffled the most earnest seeker. The incentive of fear lies behind this frantic search; it is an unfortunate fact that the majority of the people (apart from a few enlightened scientists and similar intelligent seekers) who engage in the usually questionable techniques of the seance room, are emotional types, easily convinced and only too ready to accept as evidence that which the more intelligent seeker would immediately repudiate.
Lịch sử nhân loại ghi lại cuộc tìm kiếm không ngừng nhằm có được sự xác tín về vấn đề này; ngày nay, cuộc tìm kiếm ấy lên đến đỉnh điểm qua vô số hội đang nỗ lực chứng minh tính bất tử và thâm nhập vào những thành trì của tinh thần dường như che chở cái “Tôi” từng là tác nhân hoạt động trên cõi hồng trần, điều mà cho đến nay ngay cả người tìm kiếm tha thiết nhất cũng chưa thể hiểu thấu. Động lực sợ hãi nằm sau cuộc tìm kiếm cuống cuồng này; một sự thật đáng tiếc là đa số những người tham gia các phương pháp thường đáng ngờ trong phòng gọi hồn (ngoại trừ một vài nhà khoa học sáng suốt và những người tìm kiếm thông minh tương tự) đều thuộc loại hình cảm xúc, dễ bị thuyết phục và quá sẵn lòng chấp nhận làm bằng chứng những điều mà người tìm kiếm thông minh hơn sẽ lập tức bác bỏ.
Let me here make my position clear as regards the great spiritualistic movement which has done so much in the past to prove the fact of survival, and which has also, in certain of its phases, done so much to mislead and deceive mankind. Under this general term, I class also the various psychical research groups and exempt all sincere scientific work. None of these groups has as yet proven their case. The mystery and the foolishness of the average seance room, and the work of the mediums, have nevertheless demonstrated the presence of an inexplicable factor; the laboratories of the scientific research worker have scarcely proved even that. For every case of the definitely acceptable appearance of a discarnate person there are thousands of cases which can be explained upon the grounds of gullibility, telepathic rapport (with the bereaved person, but not with anyone who has passed over), the seeing of thoughtforms by the clairvoyant and the hearing of voices by the clairaudient, and also by trickery. Note that I refer to “acceptable appearances” of a returning spirit. There is enough evidence to warrant belief in survival and to prove its factual nature. Upon the grounds of the inexplicable phenomena [399] of contact with the supposedly dead which have been noted, investigated and proven, and upon the character of the men who testify to the fact of these phenomena, we can affirm that something survives the “restitution” of the material body to the eternal reservoir of substance. It is on this premise that we proceed.
Ở đây, Tôi xin làm rõ lập trường của mình về phong trào thần linh học lớn, vốn đã làm được rất nhiều trong quá khứ để chứng minh sự thật về sự sống tiếp tục sau cái chết, và trong một số giai đoạn của nó cũng đã làm rất nhiều để dẫn nhân loại lạc đường và lừa dối họ. Trong thuật ngữ chung này, Tôi cũng xếp cả những nhóm nghiên cứu thông linh khác nhau, nhưng loại trừ mọi công trình khoa học chân thành. Cho đến nay, chưa nhóm nào trong số này chứng minh được luận điểm của mình. Tuy nhiên, những điều bí ẩn và dại dột trong phòng gọi hồn thông thường, cùng công việc của các đồng tử, đã cho thấy sự hiện diện của một yếu tố không thể giải thích; các phòng thí nghiệm của nhà nghiên cứu khoa học thậm chí hầu như chưa chứng minh được điều ấy. Cứ mỗi trường hợp xuất hiện của một người không còn thân xác có thể chấp nhận rõ ràng, lại có hàng nghìn trường hợp có thể giải thích bằng sự cả tin, sự giao cảm viễn cảm (với người đang chịu tang, chứ không phải với bất kỳ ai đã qua đời), việc người thông nhãn nhìn thấy các hình tư tưởng và người thông nhĩ nghe thấy những giọng nói, cũng như bằng thủ đoạn lừa bịp. Hãy lưu ý rằng Tôi nói đến “những sự xuất hiện có thể chấp nhận” của một tinh thần trở về. Có đủ bằng chứng để bảo đảm niềm tin vào sự sống tiếp tục sau cái chết và chứng minh tính xác thực của nó. Dựa trên những hiện tượng không thể giải thích [399] về sự tiếp xúc với những người được cho là đã chết, vốn đã được ghi nhận, khảo sát và chứng minh, cùng tính cách của những người làm chứng cho sự thật của các hiện tượng ấy, chúng ta có thể khẳng định rằng một điều gì đó vẫn tồn tại sau sự “hoàn nguyên” thân thể vật chất về kho chất liệu vĩnh cửu. Chúng ta tiếp tục dựa trên tiền đề này.
Today the phenomenon of death is becoming increasingly familiar. The world war has launched millions of men and women—civilians and those in the various branches of the armed forces of all the nations—into that unknown world which receives all those who discard the physical form. Conditions are at this time such that in spite of the ancient and deep-seated fear of death, there is emerging in the consciousness of mankind the realisation that there are many worse things than death; men have come to know that starvation, mutilation, permanent physical incapacity, mental disability as the result of war and the strain of war, the observation of pain and agony which cannot be relieved, are indeed worse than death; also, many know and believe (for such is the glory of the human spirit) that the relinquishing of the values for which men have fought and died down the ages and which are deemed essential to the life of the free human spirit is of greater significance than the process of death. This attitude, characteristic of the sensitive and the right thinking people at this time, is now emerging upon a large scale. This means the recognition, alongside of the ancient fear, of an unconquerable hope of better conditions to be found elsewhere, and this need not necessarily be wishful thinking but an indication of a latent subjective knowledge, slowly coming to the surface. Something is on its way as a result of human distress and human thinking; this is today sensed; this fact will be later demonstrated. Opposing this inner confidence and subjective realisation are old habits of thought, the developed materialistic attitude [400] of the present, the fear of deception, and the antagonism of both the scientist and the religious man or churchman. The former rightly refuses to believe that which remains still unproven and seems also not to be susceptible of proof, whilst religious groups and organisations have no confidence in any presentation of truth which they have not formulated in their own terms. This lays an undue emphasis upon belief and thus stultifies all enthusiastic investigation. The discovery of the fact of immortality will come from the people; it will eventually then be accepted by the churches and proven by science, but this not until the aftermath of the war is over and this planetary disturbance has subsided.
Ngày nay, hiện tượng cái chết đang ngày càng trở nên quen thuộc. Cuộc thế chiến đã đưa hàng triệu người nam và nữ—thường dân và những người thuộc các quân chủng khác nhau trong lực lượng vũ trang của mọi quốc gia—vào thế giới chưa biết ấy, nơi tiếp nhận tất cả những ai từ bỏ hình tướng hồng trần. Những điều kiện hiện nay khiến cho, bất chấp nỗi sợ cái chết lâu đời và ăn sâu, trong tâm thức nhân loại đang xuất hiện nhận thức rằng có nhiều điều còn tệ hơn cái chết; con người đã biết rằng đói khát, thương tật, mất khả năng vận động vĩnh viễn, tổn hại trí tuệ do chiến tranh và căng thẳng của chiến tranh, việc chứng kiến đau đớn và thống khổ không thể xoa dịu, quả thực còn tệ hơn cái chết; ngoài ra, nhiều người biết và tin rằng (vì đó là vẻ vinh quang của tinh thần con người) việc từ bỏ những giá trị mà con người đã chiến đấu và hy sinh qua bao thời đại, những giá trị được xem là thiết yếu đối với sự sống của tinh thần con người tự do, có ý nghĩa hệ trọng hơn tiến trình cái chết. Thái độ này, đặc trưng của những người nhạy cảm và có tư tưởng đúng đắn hiện nay, đang xuất hiện trên quy mô rộng lớn. Điều này có nghĩa là, bên cạnh nỗi sợ lâu đời, con người đang nhận ra một niềm hy vọng không thể dập tắt về những điều kiện tốt đẹp hơn ở nơi khác; và đây không nhất thiết chỉ là điều mong muốn tin là thật, mà có thể là dấu hiệu của một tri thức chủ quan tiềm tàng đang chậm rãi nổi lên bề mặt. Một điều gì đó đang hình thành từ nỗi thống khổ và tư tưởng của con người; ngày nay người ta cảm nhận được điều này; về sau sự thật ấy sẽ được chứng minh. Đối lập với niềm tin bên trong và sự nhận biết chủ quan này là những thói quen tư tưởng cũ, thái độ duy vật đã phát triển [400] trong hiện tại, nỗi sợ bị lừa dối và sự chống đối của cả nhà khoa học lẫn người sùng đạo hay giới giáo sĩ. Nhà khoa học có lý khi từ chối tin điều vẫn chưa được chứng minh và dường như cũng không thể chứng minh, trong khi các nhóm và tổ chức tôn giáo không tin bất kỳ cách trình bày chân lý nào mà họ chưa diễn đạt bằng những thuật ngữ riêng của mình. Điều này đặt trọng tâm quá mức vào đức tin và do đó làm tê liệt mọi nỗ lực khảo sát nhiệt thành. Việc khám phá sự thật về tính bất tử sẽ đến từ dân chúng; rồi cuối cùng các giáo hội sẽ chấp nhận và khoa học sẽ chứng minh điều ấy, nhưng chỉ sau khi hậu quả của chiến tranh đã qua và sự xáo trộn hành tinh này đã lắng xuống.
The problem of death, needless to say, is founded upon the love of life which is the deepest instinct in human nature. The determination that nothing is lost under divine law is a recognition of science; eternal persistence in some form or another is universally held to be a truth. Out of the welter of theories, three major solutions have been proposed; these are well known to all thinking people. They are:
Không cần phải nói, vấn đề cái chết bắt nguồn từ tình yêu sự sống, vốn là bản năng sâu xa nhất trong bản chất con người. Khoa học thừa nhận sự xác định rằng không có gì mất đi dưới định luật thiêng liêng; sự tồn tại vĩnh cửu dưới hình thức này hay hình thức khác được nhìn nhận rộng khắp là một chân lý. Giữa vô số lý thuyết hỗn độn, ba giải pháp chính đã được đề xuất; mọi người biết suy nghĩ đều quen thuộc với chúng. Đó là:
1. The strictly materialistic solution, which posits the experience and expression of conscious life as long as the physical, tangible form exists and persists, but also teaches that after death and the subsequent disintegration of the body there is no longer any conscious, functioning, self-identified person. The sense of the “I,” the awareness of a personality in contradistinction to all other personalities, vanishes with the disappearance of the form: personality is believed to be only the sumtotal of the consciousness of the cells in the body. This theory relegates man to the same state as any of the other forms in the three other kingdoms in nature; [401] it is based on the nonsensitivity of the average human being to life, withdrawn from a tangible vehicle; it ignores all evidence to the contrary and says that because we cannot see (visually) and prove (tangibly) the persistence of the “I” or the immortal entity after death, it is nonexistent. This theory is not held by so many as it was in earlier years, particularly during the materialistic Victorian age.
1. Giải pháp hoàn toàn duy vật, cho rằng sự sống hữu thức được trải nghiệm và biểu lộ chừng nào hình tướng hồng trần hữu hình còn tồn tại và duy trì, nhưng đồng thời cũng dạy rằng sau cái chết và sự tan rã tiếp theo của thân thể, không còn một con người hữu thức, hoạt động và tự nhận biết mình là ai. Cảm thức về cái “Tôi”, sự nhận biết một phàm ngã riêng biệt với mọi phàm ngã khác, tan biến cùng sự biến mất của hình tướng: phàm ngã được cho là chỉ là tổng thể tâm thức của các tế bào trong cơ thể. Lý thuyết này đặt con người vào cùng trạng thái với bất kỳ hình tướng nào khác trong ba giới còn lại của tự nhiên; [401] nó dựa trên việc con người bình thường không nhạy cảm với sự sống đã rút khỏi một hiện thể hữu hình; nó phớt lờ mọi bằng chứng trái ngược và nói rằng vì chúng ta không thể nhìn thấy (bằng thị giác) và chứng minh (bằng những gì sờ chạm được) sự tồn tại liên tục của cái “Tôi” hay thực thể bất tử sau cái chết, nên điều ấy không tồn tại. Ngày nay không còn nhiều người theo lý thuyết này như trước kia, đặc biệt là trong thời đại Victoria duy vật.
2. The theory of conditional immortality. This theory is still held by certain fundamentalist and theologically narrow schools of thought and also by a few of the intelligentsia, primarily those of egoistic tendency. It posits that only those who reach a particular stage of spiritual awareness, or who accept a peculiar set of theological pronouncements, can receive the gift of personal immortality. The highly intellectual also argue at times that the crowning gift to humanity is a developed and cultured mind, and that those who possess this gift are likewise endowed with eternal persistence. One school dismisses those who are what they regard as spiritually recalcitrant or negative to the imposition of their particular theological certainties, either to complete annihilation as in the materialistic solution, or to a process of eternal punishment, thus at the same time arguing for a form of immortality. Owing to the innate kindness of the human heart, very few are vindictive or unthinking enough to regard this presentation as acceptable, and of course among those we must class the unthinking people who escape from mental responsibility into blind belief in theological pronouncements. The Christian interpretation as given by the orthodox and the fundamentalist schools proves untenable when submitted to clear reasoning; among the arguments which negate its accuracy lies the fact that [402] Christianity posits a long future but no past; it is likewise a future entirely dependent upon the activities of this present life episode and accounts in no way for the distinctions and differences which distinguish humanity. It is only tenable upon the theory of an anthropomorphic Deity Whose will—as it works out in practice—gives a present that has no past but only a future; the injustice of this is widely recognised, but the inscrutable will of God must not be questioned. Millions still hold this belief, but it is not so strongly held as it was one hundred years ago.
2. Lý thuyết về tính bất tử có điều kiện. Một số trường phái tư tưởng theo chủ nghĩa căn bản và có quan điểm thần học hẹp hòi vẫn theo lý thuyết này, cùng với một số ít người thuộc giới trí thức, chủ yếu là những người có khuynh hướng vị ngã. Lý thuyết cho rằng chỉ những ai đạt đến một giai đoạn nhận biết tinh thần nhất định, hoặc chấp nhận một tập hợp đặc thù các tuyên bố thần học, mới có thể nhận được ân huệ bất tử cá nhân. Đôi khi, những người có trí năng cao cũng lập luận rằng món quà cao quý nhất dành cho nhân loại là một thể trí phát triển và có văn hóa, và những ai sở hữu món quà này cũng được ban sự tồn tại vĩnh cửu. Một trường phái phán rằng những người mà họ cho là ngoan cố về tinh thần hoặc chống lại việc áp đặt những xác tín thần học đặc thù của họ sẽ hoặc bị hủy diệt hoàn toàn như trong giải pháp duy vật, hoặc phải chịu trừng phạt vĩnh viễn, qua đó đồng thời lập luận cho một hình thức bất tử. Nhờ lòng nhân hậu vốn có trong trái tim con người, rất ít người đủ thù hằn hoặc thiếu suy xét để xem cách trình bày này là chấp nhận được; và dĩ nhiên, trong số ấy phải kể đến những người thiếu suy xét, trốn tránh trách nhiệm tư duy bằng cách tin mù quáng vào các tuyên bố thần học. Cách diễn giải Cơ Đốc giáo mà các trường phái chính thống và căn bản đưa ra tỏ ra không đứng vững khi được xem xét bằng lý luận sáng rõ; trong số những lập luận phủ nhận tính chính xác của nó có sự thật rằng [402] Cơ Đốc giáo đặt ra một tương lai dài lâu nhưng không có quá khứ; tương lai ấy cũng hoàn toàn phụ thuộc vào các hoạt động của giai đoạn sống hiện tại này và không hề lý giải những nét khác biệt và đa dạng của nhân loại. Cách diễn giải ấy chỉ có thể đứng vững trên lý thuyết về một Thượng đế mang hình người, mà ý chí của Ngài—khi thể hiện trong thực tế—ban cho một hiện tại không có quá khứ mà chỉ có tương lai; sự bất công của điều này được thừa nhận rộng rãi, nhưng người ta không được chất vấn ý chí khôn dò của Thượng đế. Hàng triệu người vẫn giữ niềm tin này, nhưng không còn tin mạnh mẽ như một trăm năm trước.
3. The theory of reincarnation, so familiar to all my readers, is becoming increasingly popular in the Occident; it has always been accepted (though with many foolish additions and interpretations) in the Orient. This teaching has been as much distorted as have the teachings of the Christ or the Buddha or Shri Krishna by their narrow-minded and mentally limited theologians. The basic facts of a spiritual origin, of a descent into matter, of an ascent through the medium of constant incarnations in form until those forms are perfect expressions of the indwelling spiritual consciousness, and of a series of initiations at the close of the cycle of incarnation, are being more readily accepted and acknowledged than ever before.
3. Lý thuyết về luân hồi, vốn rất quen thuộc với mọi độc giả của Tôi, đang ngày càng phổ biến ở phương Tây; ở phương Đông, lý thuyết này luôn được chấp nhận (dù kèm theo nhiều điều thêm thắt và diễn giải dại dột). Giáo lý này đã bị xuyên tạc nhiều chẳng kém những giáo huấn của Đức Christ, Đức Phật hay Shri Krishna dưới tay những nhà thần học hẹp hòi và hạn chế về trí tuệ của các Ngài. Những sự thật căn bản về một nguồn gốc tinh thần, về sự giáng xuống vật chất, về sự thăng lên qua những lần nhập thể liên tục trong hình tướng cho đến khi các hình tướng ấy trở thành những biểu hiện hoàn hảo của tâm thức tinh thần nội tại, và về một chuỗi các cuộc điểm đạo vào cuối chu kỳ nhập thể, đang được chấp nhận và thừa nhận dễ dàng hơn bao giờ hết.
Such are the major solutions of the problems of immortality and of the persistence of the human soul; they aim to answer the eternal questioning of the human heart as to Whence, Why, Whither and Where? Only the last of these proposed solutions offers a truly rational reply to all of them. Its acceptance has been delayed because, ever since the time of H. P. Blavatsky, who formulated this ancient truth for the modern world in the last quarter [403] of the nineteenth century, it has been so unintelligently presented; it has been handicapped owing to the fact that the Eastern races have always held it, and—from the Western angle—they are heathen and the heathen “in their blindness bow down to wood and stone,” to quote one of your fundamentalist hymns. How curious it is to realise that, to the man from Eastern countries, the religious people in the West do likewise, and can be seen on their knees before the Christian altars bearing statues of the Christ, of the Virgin Mary and of the Apostles.
Đó là những giải pháp chính cho các vấn đề về tính bất tử và sự tồn tại liên tục của linh hồn con người; chúng nhằm trả lời những câu hỏi muôn thuở của trái tim con người: Từ đâu, Tại sao, Đi về đâu và Ở đâu? Chỉ giải pháp cuối cùng trong số những giải pháp được đề xuất mới đưa ra lời đáp thực sự hợp lý cho tất cả các câu hỏi ấy. Việc chấp nhận giải pháp này đã bị trì hoãn vì kể từ thời H. P. Blavatsky, Bà đã trình bày chân lý cổ xưa này cho thế giới hiện đại vào phần tư cuối [403] của thế kỷ mười chín, nó đã được trình bày quá thiếu sáng suốt; nó còn bị cản trở bởi sự thật rằng các dân tộc phương Đông luôn tin vào nó, và—theo góc nhìn phương Tây—họ là những người ngoại đạo, mà người ngoại đạo thì “trong cảnh mù quáng của mình, cúi lạy gỗ và đá”, trích lời một bài thánh ca của những người theo chủ nghĩa căn bản trong số các bạn. Thật kỳ lạ khi nhận ra rằng, đối với người đến từ các nước phương Đông, những người sùng đạo ở phương Tây cũng làm như vậy, và người ta có thể thấy họ quỳ trước những bàn thờ Cơ Đốc giáo đặt tượng Đức Christ, Đức Trinh Nữ Maria và các Tông đồ.
The occultists of the world, through the theosophical societies and other occult bodies, so-called, have greatly damaged the presentation of the truth anent reincarnation through the unnecessary, unimportant, inaccurate and purely speculative details which they give out as truths anent the processes of death and the circumstances of man after death. These details are largely dependent upon the clairvoyant vision of astral psychics of prominence in the Theosophical Society. Yet in the Scriptures of the world these details are not given, and H.P.B. in The Secret Doctrine gave none. An instance of this inaccurate and foolish attempt to throw light upon the theory of rebirth can be seen in the time limits imposed upon departed human souls between incarnations on the physical plane and the return to physical rebirth—so many years of absence are proclaimed, dependent upon the age of the departed soul and its place upon the ladder of evolution. If, we are told, the soul is very advanced, absence from the physical plane is prolonged, whereas the reverse is the case. Advanced souls and those whose intellectual capacity is rapidly developing come back with great rapidity, owing to their sensitive response to the pull of obligations, interests and responsibilities already established upon the physical plane. People are apt to forget that time is the sequence of events and of states of [404] consciousness as registered by the physical brain. Where no physical brain exists, what humanity understands by time is nonexistent. The removal of the barriers of the form, stage by stage, brings an increasing realisation of the Eternal Now. In the case of those who have passed through the door of death and who still continue to think in terms of time, it is due to glamour and to the persistence of a powerful thoughtform. It indicates polarisation upon the astral plane; this is the plane upon which leading Theosophical writers and psychics have worked, and upon which they have based their writings. They are quite sincere in what they say, but omit to recognise the illusory nature of all findings based on astral clairvoyance. The recognition of a pronounced time factor, and the constant emphasis laid upon timing, are characteristic of all highly developed people in incarnation and of those whose lower, concrete minds are powerful in calibre. Children and child-races on the one hand, and those highly advanced people whose abstract minds are functioning (through the medium of the interpretive lower mind), usually have no sense of time. The initiate uses the time factor in his relations and his dealings with those living upon the physical plane, but is detached within himself from all recognition of it elsewhere in the universe.
Những nhà huyền bí học trên thế giới, thông qua các hội Thông Thiên Học và những tổ chức được gọi là huyền bí học khác, đã gây tổn hại lớn cho việc trình bày chân lý về luân hồi bằng những chi tiết không cần thiết, không quan trọng, không chính xác và thuần suy đoán mà họ đưa ra như những chân lý về các tiến trình cái chết và hoàn cảnh của con người sau khi chết. Những chi tiết này phần lớn dựa vào linh thị thông nhãn của những người thông linh cảm dục nổi tiếng trong Hội Thông Thiên Học. Tuy nhiên, các Kinh Điển trên thế giới không đưa ra những chi tiết ấy, và H.P.B. cũng không đưa ra chi tiết nào trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Một ví dụ về nỗ lực thiếu chính xác và dại dột nhằm làm sáng tỏ lý thuyết tái sinh này là những giới hạn thời gian được áp đặt cho các linh hồn con người đã qua đời, giữa những lần nhập thể trên cõi hồng trần và khi trở lại tái sinh hồng trần—người ta tuyên bố một số năm vắng mặt nhất định, tùy thuộc tuổi của linh hồn đã ra đi và vị trí của linh hồn ấy trên thang tiến hoá. Chúng ta được bảo rằng nếu linh hồn rất tiến bộ thì thời gian vắng mặt trên cõi hồng trần sẽ kéo dài, trong khi thực tế lại ngược lại. Những linh hồn tiến bộ và những người có năng lực trí tuệ đang phát triển nhanh chóng trở lại rất nhanh, do sự đáp ứng nhạy bén với sức thu hút của những bổn phận, mối quan tâm và trách nhiệm đã được thiết lập trên cõi hồng trần. Người ta thường quên rằng thời gian là chuỗi các biến cố và các trạng thái [404] tâm thức mà bộ não hồng trần ghi nhận. Nơi nào không có bộ não hồng trần, nơi ấy không tồn tại điều mà nhân loại hiểu là thời gian. Việc từng bước tháo bỏ những rào cản của hình tướng đem lại nhận thức ngày càng sâu sắc về Hiện Tại Vĩnh Cửu. Đối với những người đã đi qua cánh cửa cái chết mà vẫn tiếp tục suy nghĩ theo thời gian, điều này là do ảo cảm và sự tồn tại dai dẳng của một hình tư tưởng mạnh mẽ. Nó cho thấy sự phân cực trên cõi cảm dục; đây là cõi mà những tác giả và người thông linh hàng đầu của Thông Thiên Học đã hoạt động, và cũng là cõi mà họ dựa vào để viết. Họ hoàn toàn chân thành trong những điều mình nói, nhưng không nhận ra bản chất ảo tưởng của mọi phát hiện dựa trên thông nhãn cảm dục. Việc nhận biết một yếu tố thời gian rõ rệt và liên tục nhấn mạnh thời điểm là đặc trưng của mọi người phát triển cao đang nhập thể, cũng như những người có hạ trí cụ thể mạnh mẽ. Một bên là trẻ em và những dân tộc còn ở giai đoạn non trẻ, bên kia là những người tiến bộ cao có trí trừu tượng đang hoạt động (qua trung gian hạ trí diễn giải), thường đều không có cảm thức về thời gian. Điểm đạo đồ sử dụng yếu tố thời gian trong các mối quan hệ và giao tiếp với những người sống trên cõi hồng trần, nhưng bên trong, y tách rời khỏi mọi sự nhận biết về nó ở những nơi khác trong vũ trụ.
Therefore the use of the term “immortality” infers timelessness and teaches that this timelessness exists for that which is not perishable or conditioned by time. This is a statement requiring careful consideration. Man reincarnates under no time urge. He incarnates under the demands of karmic liability, under the pull of that which he, as a soul, has initiated, and because of a sensed need to fulfill instituted obligations; he incarnates also from a sense of responsibility and to meet requirements which an earlier breaking of the laws governing right human relations have [405] imposed upon him. When these requirements, soul necessities, experiences and responsibilities have all been met, he enters permanently “into the clear cold light of love and life” and no longer needs (as far as he himself is concerned the nursery stage of soul experience on earth. He is free from karmic impositions in the three worlds, but is still under the impulse of karmic necessity which exacts from him the last possible ounces of service that he is in a position to render to those still under the Law of Karmic Liability. You have, therefore, three aspects of the Law of Karma, as it affects the principle of rebirth:
Vì vậy, việc sử dụng thuật ngữ “bất tử” hàm ý tính phi thời gian và dạy rằng tính phi thời gian này tồn tại đối với những gì không thể hư hoại hoặc không chịu sự chi phối của thời gian. Đây là một phát biểu cần được xem xét cẩn thận. Con người tái sinh không do bất kỳ sự thôi thúc nào của thời gian. Y nhập thể theo những đòi hỏi của nghĩa vụ nghiệp quả, theo sức thu hút của điều mà y, với tư cách linh hồn, đã khởi xướng, và vì cảm nhận được nhu cầu hoàn thành những bổn phận đã xác lập; y cũng nhập thể từ ý thức trách nhiệm và để đáp ứng những yêu cầu mà việc trước kia vi phạm các định luật chi phối quan hệ đúng đắn giữa người với người đã [405] đặt lên y. Khi tất cả những yêu cầu, nhu cầu của linh hồn, trải nghiệm và trách nhiệm này đều đã được đáp ứng, y vĩnh viễn bước “vào ánh sáng trong trẻo, lạnh của bác ái và sự sống” và không còn cần (xét về phần chính y) giai đoạn trải nghiệm sơ học của linh hồn trên trần gian. Y thoát khỏi những ràng buộc nghiệp quả trong ba cõi giới, nhưng vẫn chịu sự thôi thúc của tính tất yếu nghiệp quả, vốn đòi hỏi y dốc hết khả năng phụng sự còn có thể dành cho những người vẫn chịu Định luật Nghĩa Vụ Nghiệp Quả. Vì vậy, các bạn có ba phương diện của Định luật Nghiệp Quả khi định luật ấy tác động đến nguyên khí tái sinh:
1. The Law of Karmic Liability, governing life in the three worlds of human evolution, and which is ended altogether at the fourth initiation.
1. Định luật Nghĩa Vụ Nghiệp Quả, chi phối sự sống trong ba cõi giới tiến hoá của con người và chấm dứt hoàn toàn ở lần điểm đạo thứ tư.
2. The Law of Karmic Necessity. This governs the life of the advanced disciple and the initiate from the time of the second initiation until a certain initiation higher than the fourth; these initiations enable him to pass on to the Way of the Higher Evolution.
2. Định luật Tất Yếu Nghiệp Quả. Định luật này chi phối đời sống của đệ tử tiến bộ và điểm đạo đồ từ lần điểm đạo thứ hai cho đến một cuộc điểm đạo nào đó cao hơn lần thứ tư; những cuộc điểm đạo này cho phép y tiến vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
3. The Law of Karmic Transformation, a mysterious phrase governing the processes undergone upon the Higher Way. These fit the initiate to pass off the cosmic physical plane altogether, and to function upon the cosmic mental plane. It is concerned with the release of those like Sanat Kumara, and His Associates in the Council Chamber at Shamballa, from the imposition of cosmic desire which demonstrates upon our cosmic physical plane as spiritual will. This should be to you an arresting thought. It will be obvious, however, that there is little that I can say upon this subject. The knowledge involved is not yet mine.
3. Định luật Chuyển Đổi Nghiệp Quả, một cụm từ huyền nhiệm chỉ điều chi phối những tiến trình trải qua trên Con Đường Cao Siêu. Những tiến trình này giúp điểm đạo đồ đủ khả năng rời hẳn cõi hồng trần vũ trụ và hoạt động trên cõi trí vũ trụ. Định luật ấy liên quan đến việc giải thoát những Đấng như Sanat Kumara và các Vị Cộng Sự của Ngài trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa khỏi sự áp đặt của dục vọng vũ trụ, vốn biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta thành ý chí tinh thần. Đây hẳn là một tư tưởng khiến các bạn chú ý sâu sắc. Tuy nhiên, rõ ràng là Tôi có thể nói rất ít về chủ đề này. Tri thức liên quan chưa thuộc về Tôi.
[406]
[406]
To turn now to another aspect of our theme. There are, speaking in the larger sense, three major death episodes.
Giờ đây, chúng ta chuyển sang một phương diện khác của chủ đề. Nói theo nghĩa rộng, có ba biến cố chết chính.
There is, first of all, the constant recurrence of the fact of physical death. This is familiar to all of us through its extreme frequency, could we but realise it. This recognition would rapidly eliminate the present fear of death. There is then the “second death” spoken of in the Bible, which is in this present planetary cycle associated with the death of all astral control over the human being. In the larger sense, this second death is consummated at the fourth initiation, when even spiritual aspiration dies, being no more needed; the Will of the initiate is now fixed and immovable, and astral sensitivity is no longer required.
Trước hết, có sự tái diễn không ngừng của cái chết hồng trần. Nếu chúng ta có thể nhận ra, điều này vốn quen thuộc với tất cả chúng ta vì nó xảy ra quá thường xuyên. Sự nhận biết này sẽ nhanh chóng loại bỏ nỗi sợ cái chết hiện nay. Kế đến là “cái chết thứ hai” mà Kinh Thánh đề cập; trong chu kỳ hành tinh hiện tại, nó gắn liền với sự chấm dứt mọi kiểm soát của cảm dục đối với con người. Theo nghĩa rộng hơn, cái chết thứ hai này hoàn tất ở lần điểm đạo thứ tư, khi ngay cả khát vọng tinh thần cũng chết đi vì không còn cần thiết; giờ đây, Ý Chí của điểm đạo đồ đã kiên định và bất lay chuyển, và sự nhạy cảm cảm dục không còn cần nữa.
There is a curious counterpart to this experience upon a much lower level in the death of all astral emotion which takes place for the individual aspirant at the time of the second initiation. It is then a complete episode and is consciously registered. Between the second and the third initiations, the disciple has to demonstrate a continuity of nonresponse to astralism and emotionalism. The second death, to which I am here referring, has to do with the death or the disappearance of the causal body at the time of the fourth initiation; this marks the completion of the building of the antahkarana and the institution of direct, unimpeded continuity of relationship between the Monad and the personality.
Ở một cấp độ thấp hơn nhiều, có một đối phần kỳ lạ của trải nghiệm này: sự chết đi của mọi cảm xúc cảm dục xảy ra đối với từng người chí nguyện vào lần điểm đạo thứ hai. Khi ấy, đây là một biến cố trọn vẹn mà người chí nguyện ghi nhận một cách hữu thức. Giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba, đệ tử phải thể hiện sự liên tục không đáp ứng với những tác động cảm dục và khuynh hướng cảm xúc. Cái chết thứ hai mà Tôi đang đề cập ở đây liên quan đến sự chết đi hay biến mất của thể nguyên nhân vào lần điểm đạo thứ tư; điều này đánh dấu sự hoàn tất việc xây dựng antahkarana và thiết lập mối quan hệ trực tiếp, liên tục, không bị cản trở giữa chân thần và phàm ngã.
The third death takes place when the initiate leaves behind him, finally and with no prospect of return, all relation with the cosmic physical plane. This death, necessarily, lies far ahead for all in the Hierarchy and is at present only possible and permissible for a few in the Council Chamber at Shamballa. It is not, however, a process through which Sanat Kumara will pass. He underwent this “transformation” many aeons ago, during the great cataclysm [407] which inaugurated the Lemurian Age, and which was induced by His cosmic experience and the need for an inflow of energy from extra-planetary Beings.
Cái chết thứ ba xảy ra khi điểm đạo đồ cuối cùng từ bỏ mọi quan hệ với cõi hồng trần vũ trụ, không có triển vọng quay lại. Tất nhiên, cái chết này còn ở rất xa phía trước đối với tất cả các vị trong Thánh đoàn, và hiện nay chỉ khả thi và được phép đối với một vài vị trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa. Tuy nhiên, đây không phải là một tiến trình mà Sanat Kumara sẽ trải qua. Ngài đã trải qua sự “chuyển đổi” này từ nhiều đại kiếp trước, trong trận đại biến động [407] mở đầu Thời Đại Lemuria, do trải nghiệm vũ trụ của Ngài và nhu cầu về một luồng năng lượng đi vào từ các Đấng ngoài hành tinh gây nên.