Trích nội dung chương
I have given these brief summations so as to enlarge your general understanding of what the Masters call “the extension of death in space.” Nevertheless, in the following pages we shall confine ourselves to the theme of the death of the physical body and of the subtler bodies in the three worlds; we shall deal also with the processes which bring about the reabsorption of the human soul into the spiritual soul upon its own plane, the higher mental plane; we shall consider the reassimilation of substance and the appropriation of matter in order again to reincarnate. Tôi đưa ra những tóm lược ngắn gọn này để mở rộng sự thấu hiểu chung của các…
I have given these brief summations so as to enlarge your general understanding of what the Masters call “the extension of death in space.” Nevertheless, in the following pages we shall confine ourselves to the theme of the death of the physical body and of the subtler bodies in the three worlds; we shall deal also with the processes which bring about the reabsorption of the human soul into the spiritual soul upon its own plane, the higher mental plane; we shall consider the reassimilation of substance and the appropriation of matter in order again to reincarnate.
Tôi đưa ra những tóm lược ngắn gọn này để mở rộng sự thấu hiểu chung của các bạn về điều mà các Chân sư gọi là “sự mở rộng của cái chết trong không gian”. Tuy nhiên, trong những trang tiếp theo, chúng ta sẽ giới hạn vào chủ đề cái chết của thể xác và các thể vi tế hơn trong ba cõi giới; chúng ta cũng sẽ bàn đến những tiến trình đưa đến sự tái hòa nhập của linh hồn con người vào linh hồn tinh thần trên cõi riêng của nó, tức Cõi thượng trí; chúng ta sẽ xem xét sự tái đồng hóa chất liệu và việc thu nhận vật chất để lại tái sinh.
We shall therefore consider the three major processes to which I earlier referred; these cover three periods and lead, eventually, to other processes under the Law of Rebirth. They are:
Vì vậy, chúng ta sẽ xem xét ba tiến trình chính mà Tôi đã đề cập trước đây; chúng bao quát ba thời kỳ và cuối cùng dẫn đến những tiến trình khác dưới Định luật Tái Sinh. Đó là:
1. The Process of Restitution, governing the period of withdrawal of the soul from the physical plane and from its two phenomenal aspects, the dense physical body and the etheric body. This concerns the Art of Dying.
1. Tiến Trình Hoàn Nguyên, chi phối thời kỳ linh hồn rút khỏi cõi hồng trần và khỏi hai phương diện hiện tượng của nó, thể xác đậm đặc và thể dĩ thái. Điều này liên quan đến Nghệ Thuật Lìa Đời.
2. The Process of Elimination. This governs that period of the life of the human soul after death and in the two other worlds of human evolution. It concerns the elimination of the astral-mental body by the soul, so that it is “ready to stand free in its own place.”
2. Tiến Trình Loại Bỏ. Tiến trình này chi phối thời kỳ sống của linh hồn con người sau cái chết và trong hai cõi giới còn lại của tiến hoá nhân loại. Nó liên quan đến việc linh hồn loại bỏ thể cảm dục-trí tuệ, để linh hồn “sẵn sàng đứng tự do ở nơi chốn riêng của mình”.
3. The Process of Integration, dealing with the period wherein the liberated soul again becomes conscious of itself as the Angel of the Presence and is reabsorbed into the world of souls, thus entering into a state of reflection. Later, under the impact of [408] the Law of Karmic Liability or Necessity, the soul again prepares itself for another descent into form.
3. Tiến Trình Tích Hợp, đề cập đến thời kỳ mà linh hồn đã giải thoát một lần nữa nhận biết mình là Thiên Thần của Hiện Diện và tái hòa nhập vào thế giới linh hồn, nhờ đó bước vào một trạng thái suy ngẫm. Về sau, dưới tác động của [408] Định luật Nghĩa Vụ hoặc Tất Yếu Nghiệp Quả, linh hồn lại chuẩn bị cho một lần giáng xuống hình tướng khác.
The field of experience (in which is death, as the average person knows it) is the three worlds of human evolution—the physical world, the world of emotion and desire, and the mental plane. This world is, in the last analysis twofold, from the angle of death, and hence the phrase “the second death.” This I have earlier applied to the death or destruction of the causal body, in which the spiritual soul has hitherto functioned. It can be applied, however, in a more literal sense, and may be referred to the second phase of the death process in the three worlds. It then concerns form only, and is related to those vehicles of expression which are found below the formless levels of the cosmic physical plane. These form levels are (as you know well, for the knowledge constitutes the a.b.c. of the occult theory) the levels on which the concrete, lower mind functions, the emotional nature reacts to the so-called astral plane, and the dual physical plane. The physical body consists of the dense physical body and the etheric vehicle. We have consequently, when considering the death of a human being, to employ the word death in relation to two phases in which it functions:
Trường trải nghiệm (trong đó có cái chết như người bình thường biết đến) là ba cõi giới tiến hoá của con người—thế giới hồng trần, thế giới cảm xúc và dục vọng, cùng cõi trí. Xét đến cùng, từ góc độ cái chết, thế giới này có tính nhị phân, và vì thế có cụm từ “cái chết thứ hai”. Trước đây, Tôi đã dùng cụm từ này cho sự chết đi hay hủy diệt của thể nguyên nhân, trong đó linh hồn tinh thần đã hoạt động cho đến lúc ấy. Tuy nhiên, cũng có thể áp dụng nó theo nghĩa đen hơn, và dùng để chỉ giai đoạn thứ hai của tiến trình chết trong ba cõi giới. Khi ấy, nó chỉ liên quan đến hình tướng và gắn với những hiện thể biểu lộ nằm dưới các cấp độ vô hình tướng của cõi hồng trần vũ trụ. Những cấp độ hình tướng này (như các bạn biết rõ, vì kiến thức ấy là phần sơ đẳng của lý thuyết huyền bí học) là các cấp độ mà hạ trí cụ thể hoạt động, bản chất cảm xúc phản ứng với cái gọi là cõi cảm dục, cùng cõi hồng trần nhị phân. Thể xác gồm thể xác đậm đặc và hiện thể dĩ thái. Do đó, khi xem xét cái chết của một con người, chúng ta phải dùng từ cái chết trong mối liên hệ với hai giai đoạn mà nó diễn ra:
Phase One: The death of the physical-etheric body. This phase falls into two stages:
Giai Đoạn Một: Cái chết của thể xác-dĩ thái. Giai đoạn này chia thành hai bước:
a. That in which the atoms which constitute the physical body are restored to the source from whence they came. This source is the sumtotal of the matter of the planet, constituting the dense physical body of the planetary Life.
a. Bước mà những nguyên tử cấu thành thể xác trở về nguồn mà từ đó chúng đã đến. Nguồn này là toàn bộ vật chất của hành tinh, cấu thành thể xác đậm đặc của Sự Sống hành tinh.
b. That in which the etheric vehicle, composed of an aggregation of forces, returns these forces to the [409] general reservoir of energy. This dual phase covers the Process of Restitution.
b. Bước mà hiện thể dĩ thái, gồm một tập hợp các mãnh lực, hoàn trả những mãnh lực này về [409] kho năng lượng chung. Giai đoạn kép này bao quát Tiến Trình Hoàn Nguyên.
Phase Two: The “rejection” (as it is sometimes called) of the mental-emotional vehicles. These form, in reality, only one body; to it the early theosophists (correctly) gave the name of the “kama-manasic body” or the vehicle of desire-mind. I have said elsewhere that there is no such thing as the astral plane or the astral body. Just as the physical body is made up of matter which is not regarded as a principle, so the astral body—as far as the mind nature is concerned—is in the same category. This is a difficult matter for you to grasp because desire and emotion are so real and so devastatingly important. But—speaking literally—from the angle of the mental plane, the astral body is “a figment of the imagination”; it is not a principle. The massed use of the imagination in the service of desire has nevertheless constructed an illusory glamorous world, the world of the astral plane. During physical incarnation, and when a man is not upon the Path of Discipleship, the astral plane is very real, with a vitality and a life all its own. After the first death (the death of the physical body) it still remains equally real. But its potency slowly dies out: the mental man comes to realise his own true state of consciousness (whether developed or undeveloped), and the second death becomes possible and takes place. This phase covers the Process of Elimination.
Giai Đoạn Hai: Sự “thải bỏ” (như đôi khi người ta gọi) các hiện thể trí tuệ-cảm xúc. Thực ra, chúng chỉ tạo thành một thể duy nhất; các nhà Thông Thiên Học thời đầu đã đặt tên đúng cho nó là “thể trí cảm” hay hiện thể của dục vọng-trí tuệ. Ở nơi khác, Tôi đã nói rằng không có cái gọi là cõi cảm dục hay thể cảm dục. Cũng như thể xác được cấu thành từ vật chất vốn không được xem là một nguyên khí, thể cảm dục—xét từ phương diện bản chất trí tuệ—cũng thuộc cùng loại ấy. Đây là điều khó nắm bắt đối với các bạn, vì dục vọng và cảm xúc quá thực và có tầm quan trọng áp đảo. Nhưng—nói theo nghĩa đen—từ góc độ cõi trí, thể cảm dục là “một sản phẩm hư cấu của sự tưởng tượng”; nó không phải là một nguyên khí. Tuy nhiên, việc vận dụng sự tưởng tượng trên quy mô tập thể để phục vụ dục vọng đã tạo dựng một thế giới ảo tưởng đầy ảo cảm, thế giới của cõi cảm dục. Trong khi nhập thể hồng trần, và khi con người chưa ở trên Con Đường Đệ Tử, cõi cảm dục là điều rất thực, có sinh lực và sự sống hoàn toàn riêng biệt. Sau cái chết thứ nhất (cái chết của thể xác), nó vẫn thực như vậy. Nhưng sức mạnh của nó chậm rãi tàn lụi: con người trí tuệ dần nhận ra trạng thái tâm thức chân thực của chính mình (dù đã phát triển hay chưa phát triển), và cái chết thứ hai trở nên khả thi rồi xảy ra. Giai đoạn này bao quát Tiến Trình Loại Bỏ.
When these two phases of the Art of Dying are over, the discarnate soul stands free from the control of matter; it is purified (temporarily by the phases of Restitution and Elimination) from all contamination by substance. This is achieved, not through any activity of the soul in form, [410] the human soul, but as a result of the activity of the soul on its own plane abstracting the fraction of itself which we call the human soul. It is primarily the work of the overshadowing soul which effects this; it is not carried forward by the soul in the personality. The human soul, during this stage, is only responsive to the pull or the attractive force of the spiritual soul as it—with deliberate intent—extracts the human soul from its imprisoning sheaths. Later on, as the evolutionary processes proceed and the soul increasingly controls the personality, it will be the soul within the imprisoning sheaths which will bring about—consciously and with intention—the phases of dying. In the earlier stages, this release will be brought about with the aid of the overshadowing spiritual soul. Later on, when the man is living upon the physical plane as the soul, he will himself—with full continuity of consciousness—carry out the processes if abstraction, and will then (with directed purpose) “ascend to the place from whence he came.” This is the reflection in the three worlds of the divine ascension of the perfected Son of God.
Khi hai giai đoạn này của Nghệ Thuật Lìa Đời hoàn tất, linh hồn không còn thân xác đứng tự do khỏi sự kiểm soát của vật chất; linh hồn ấy được thanh lọc (tạm thời qua các giai đoạn Hoàn Nguyên và Loại Bỏ) khỏi mọi ô nhiễm do chất liệu. Điều này đạt được không phải qua bất kỳ hoạt động nào của linh hồn trong hình tướng, [410] tức linh hồn con người, mà là kết quả hoạt động của linh hồn trên cõi riêng của nó, rút về phần nhỏ của chính nó mà chúng ta gọi là linh hồn con người. Chủ yếu chính công việc của linh hồn phủ bóng thực hiện điều này; linh hồn trong phàm ngã không tiến hành việc ấy. Trong giai đoạn này, linh hồn con người chỉ đáp ứng với sức kéo hay mãnh lực thu hút của linh hồn tinh thần khi linh hồn tinh thần—với chủ ý rõ ràng—rút linh hồn con người khỏi những lớp vỏ giam hãm nó. Về sau, khi các tiến trình tiến hoá tiếp diễn và linh hồn ngày càng kiểm soát phàm ngã, chính linh hồn trong những lớp vỏ giam hãm sẽ tạo ra—một cách hữu thức và có chủ ý—các giai đoạn lìa đời. Trong những giai đoạn đầu, sự giải thoát này sẽ diễn ra với sự trợ giúp của linh hồn tinh thần phủ bóng. Về sau, khi con người sống trên cõi hồng trần như linh hồn, chính y sẽ—với tâm thức hoàn toàn liên tục—thực hiện các tiến trình triệt xuất, rồi sẽ (với mục đích được định hướng) “thăng lên nơi mà từ đó y đã đến”. Đây là sự phản chiếu trong ba cõi giới của cuộc thăng thiên thiêng liêng của Con của Thượng đế đã hoàn thiện.
Some of the information I have already given anent the subject of Death in my other writings might well be appended here. I have a definite purpose in suggesting this. Death is all around you at this time; the demand of the human spirit upon this matter has reached a crisis of potency; it is evoking the inevitable response from the Hierarchy. It is also my hope that students will do something of major importance to aid in bringing forth the light upon the processes of death which humanity is today demanding.
Một số thông tin Tôi đã trình bày về chủ đề Cái Chết trong các trước tác khác của Tôi rất nên được bổ sung vào đây. Tôi có một mục đích rõ ràng khi đề nghị điều này. Lúc này, cái chết hiện diện khắp quanh các bạn; đòi hỏi của tinh thần con người đối với vấn đề này đã đạt đến một cao điểm mãnh liệt; nó đang gợi lên sự đáp ứng tất yếu từ Thánh đoàn. Tôi cũng hy vọng rằng các đạo sinh sẽ làm một việc có tầm quan trọng lớn lao để góp phần soi sáng những tiến trình của cái chết mà nhân loại ngày nay đang đòi hỏi.
ON DEATH - EXCERPTS FROM OTHER WRITINGS
VỀ CÁI CHẾT - TRÍCH TỪ CÁC TRƯỚC TÁC KHÁC
“Why this blind power? Why Death? Why this decay [411] of forms? Why the negation of the power to hold? Why death, O mighty Son of God?”
“Vì sao có quyền năng mù quáng này? Vì sao có Cái Chết? Vì sao các hình tướng phải suy tàn [411] như thế này? Vì sao quyền năng duy trì lại bị phủ nhận? Vì sao có cái chết, hỡi Con của Thượng đế hùng mạnh?”
Faintly the answer comes: “I hold the keys of life. I bind and loose again. I the Destroyer am.
Câu trả lời vọng đến yếu ớt: “Ta nắm giữ những chìa khóa của sự sống. Ta ràng buộc rồi lại tháo gỡ. Ta là Đấng Hủy Diệt.
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. I, PAGE 63.
Luận về Bảy Cung, Tập I, Trang 63.
The intent of the Lord of the first Ray is to stand behind the other divine Aspects, and when They have achieved Their purpose, to shatter the forms They have built.
Ý định của Đấng Chúa Tể Cung một là đứng sau các Phương diện thiêng liêng khác, và khi Các Ngài đã hoàn thành mục đích của mình, phá tan những hình tướng mà Các Ngài đã xây dựng.
He is the controller of the death drama in all kingdoms—a destruction of forms which brings about release of power and permits “entrance into light through the gateway of death.”
Ngài điều khiển tấn kịch cái chết trong mọi giới—một sự hủy diệt hình tướng mang lại sự giải phóng quyền năng và cho phép “bước vào ánh sáng qua cánh cổng của cái chết.”
PAGE 64.
Trang 64.
a. “Withhold thy hand until the time has come. Then give the gift of death, O Opener of the Door.”
a. “Xin Ngài hãy giữ tay mình lại cho đến khi thời điểm đã đến. Rồi hãy ban tặng món quà cái chết, hỡi Đấng Mở Cửa.”
PAGE 65.
Trang 65.
b. “Separate the robe from That which hides behind its many folds. Take off the veiling sheaths. Let God be seen. Take Christ from off the Cross.”
b. “Hãy tách chiếc áo ra khỏi Cái ẩn sau bao nếp gấp của nó. Hãy cởi bỏ những lớp vỏ che phủ. Hãy để Thượng đế hiển lộ. Hãy đưa Đức Christ xuống khỏi Thập Giá.”
PAGE 69.
Trang 69.
The first step towards substantiating the fact of the soul is to establish the fact of survival, though this may not necessarily prove the fact of immortality....That something survives the process of death, and that something persists after the disintegration of the physical body is steadily being proved. If that is not so, then we are the victims of a collective hallucination, and the brains and minds of thousands of people are untrue and deceiving, are diseased and distorted. Such a gigantic collective insanity is more difficult to credit than the alternative of an expanded consciousness.
Bước đầu tiên để xác chứng sự hiện hữu của linh hồn là xác lập sự thật về việc tiếp tục sống sau cái chết, dù điều này chưa nhất thiết chứng minh được sự bất tử....Việc có một điều gì đó sống sót qua tiến trình cái chết, và có một điều gì đó tiếp tục tồn tại sau khi thể xác tan rã đang dần được chứng minh vững chắc. Nếu không phải như vậy, thì chúng ta là nạn nhân của một ảo giác tập thể, còn bộ não và thể trí của hàng ngàn người đều sai lạc và lừa dối, bệnh hoạn và méo mó. Một tình trạng điên loạn tập thể khổng lồ như thế còn khó tin hơn khả năng tâm thức được mở rộng.
PAGE 98-99.
Trang 98-99.
[412]
[412]
a. The growth of etheric vision and the largely increased numbers of clairaudient and clairvoyant people is steadily revealing the existence of the astral plane and the etheric counterpart of the physical world. More and more people are becoming aware of this subjective realm: they see people walking around who are either the so-called “dead” or who, in sleep, have dropped the physical sheath.
a. Sự phát triển của thị giác dĩ thái và số người có khả năng thông nhĩ, thông nhãn gia tăng đáng kể đang dần hé lộ sự tồn tại của cõi cảm dục và đối phần dĩ thái của thế giới hồng trần. Ngày càng nhiều người nhận biết cõi chủ quan này: họ thấy những người đi lại quanh mình, hoặc là những người được gọi là “đã chết”, hoặc là những người đã rời bỏ lớp vỏ thể xác trong giấc ngủ.
PAGE 98.
Trang 98.
b. The next two hundred years will see the abolition of death, as we now understand that great transition, and the establishing of the soul’s existence. The soul will be known as an entity, as the motivating impulse and the spiritual centre back of all manifested forms. Our essential immortality will be demonstrated and realised to be a fact in nature.
b. Hai trăm năm tới sẽ chứng kiến sự xóa bỏ cái chết, theo cách chúng ta hiện thấu hiểu về cuộc chuyển tiếp lớn lao ấy, và sự xác lập sự hiện hữu của linh hồn. Linh hồn sẽ được biết đến như một thực thể, như xung lực thúc đẩy và trung tâm tinh thần đứng sau mọi hình tướng biểu hiện. Sự bất tử cốt yếu của chúng ta sẽ được chứng minh và được nhận biết là một sự thật trong tự nhiên.
PAGE 96.
Trang 96.
Within the next few years the fact of persistence and of the eternity of existence will have advanced out of the realm of questioning into the realm of certainty....There will be no question in anyone’s mind that the discarding of the physical body will leave a man still a conscious living entity. He will be known to be perpetuating his existence in a realm lying behind the physical. He will be known to be still alive, awake and aware. This will be brought about by:
Trong vài năm tới, sự thật về sự tiếp tục tồn tại và tính vĩnh cửu của sự hiện hữu sẽ chuyển từ phạm vi nghi vấn sang phạm vi xác tín....Không ai còn nghi ngờ rằng sau khi rời bỏ thể xác, con người vẫn là một thực thể sống có ý thức. Người ta sẽ biết rằng y vẫn tiếp tục hiện hữu trong một cõi nằm sau cõi hồng trần. Người ta sẽ biết rằng y vẫn sống, tỉnh thức và nhận biết. Điều này sẽ thành hiện thực nhờ:
a. The development of a power within the physical eye of a human being...will reveal the etheric body...men will be seen occupying that body.
a. Sự phát triển của một quyền năng bên trong mắt thường của con người...sẽ làm hiển lộ thể dĩ thái...người ta sẽ thấy con người cư ngụ trong thể này.
b. The growth of the number of people who have the power to use the “reawakened third eye” will demonstrate immortality, for they will with facility see the [413] man who has discarded his etheric body as well as his physical body.
b. Số người có quyền năng sử dụng “con mắt thứ ba được đánh thức trở lại” gia tăng sẽ chứng minh sự bất tử, vì họ sẽ dễ dàng nhìn thấy [413] người đã rời bỏ cả thể dĩ thái lẫn thể xác.
c. A discovery in the field of photography will prove survival.
c. Một khám phá trong lĩnh vực nhiếp ảnh sẽ chứng minh sự tiếp tục sống sau cái chết.
d. Through the use of the radio by those who have passed over will communication eventually be set up and reduced to a true science.
d. Nhờ những người đã sang bên kia sử dụng vô tuyến điện, cuối cùng sự giao tiếp sẽ được thiết lập và trở thành một khoa học thực sự.
e. Man will eventually be keyed up to a perception and to a contact which will enable him to see through, which will reveal the nature of the fourth dimension, and will blend the subjective and objective worlds together into a new world. Death will lose its terrors and that particular fear will come to an end.
e. Cuối cùng, con người sẽ được nâng lên một mức độ tri giác và tiếp xúc cho phép y nhìn xuyên thấu, hé lộ bản chất của chiều đo thứ tư, và hòa quyện các thế giới chủ quan và khách quan thành một thế giới mới. Cái chết sẽ mất đi vẻ kinh hoàng và nỗi sợ đặc biệt ấy sẽ chấm dứt.
PAGE 183.
Trang 183.
You must always bear in mind that the consciousness remains the same whether in physical incarnation or out of incarnation, and that development can be carried on with even greater ease than when limited and conditioned by the brain consciousness.
Các bạn phải luôn ghi nhớ rằng tâm thức vẫn như nhau dù đang lâm phàm trong thể xác hay ở ngoài sự lâm phàm, và sự phát triển có thể tiếp tục thậm chí còn dễ dàng hơn khi chịu giới hạn và ảnh hưởng của tâm thức bộ não.
DISCIPLESHIP IN THE NEW AGE, VOL. I, PAGE 81.
Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, Trang 81.
The Law of Sacrifice and Death is the controlling factor on the physical plane. The destruction of the form, in order that the evolving life may progress, is one of the fundamental methods in evolution.
Định luật Hy Sinh và Cái Chết là yếu tố chi phối trên cõi hồng trần. Sự hủy diệt hình tướng để sự sống đang tiến hoá có thể tiến lên là một trong những phương pháp căn bản của tiến hoá.
A TREATISE ON COSMIC FIRE, PAGE 569.
Luận về Lửa Vũ Trụ, Trang 569.
a. The Law of Disintegration is an aspect of the Law of Death. This is the law that governs the destruction of the form in order that the indwelling life may shine forth in fullness....This law breaks up the forms and the Law of Attraction draws back to primal sources the material of those forms.
a. Định luật Tan Rã là một phương diện của Định luật Cái Chết. Đây là định luật chi phối sự hủy diệt hình tướng để sự sống nội tại có thể tỏa sáng trọn vẹn....Định luật này phá vỡ các hình tướng, còn Định luật Hấp Dẫn thu hút vật chất của những hình tướng ấy trở về các nguồn nguyên sơ.
PAGE 580.
Trang 580.
[414]
[414]
b. The Law of Death controls in the three worlds.
b. Định luật Cái Chết chi phối trong ba cõi giới.
PAGE 596.
Trang 596.
c. The Law of Sacrifice is the Law of Death in the subtle bodies, whilst what we call death is the analogous thing in the physical body.
c. Định luật Hy Sinh là Định luật Cái Chết trong các thể tinh tế, còn điều chúng ta gọi là cái chết là hiện tượng tương ứng trong thể xác.
PAGE 596.
Trang 596.
d. The Law of Death and Sacrifice governs the gradual disintegration of concrete forms and their sacrifice to the evolving life....
d. Định luật Cái Chết và Hy Sinh chi phối sự tan rã dần dần của các hình tướng cụ thể và sự hy sinh của chúng cho sự sống đang tiến hoá....
PAGE 596.
Trang 596.
e. When all the units or cells in the body of the planetary Logos have achieved, He too is set free from dense manifestation and physically dies.
e. Khi tất cả các đơn vị hay tế bào trong thân thể của Hành Tinh Thượng đế đã thành tựu, Ngài cũng thoát khỏi sự biểu hiện đậm đặc và chết về mặt thể xác.
PAGE 509.
Trang 509.
The process of DEATH is occultly as follows:
Theo huyền bí học, tiến trình CÁI CHẾT diễn ra như sau:
a. The first stage is the withdrawal of the life force in the etheric vehicle from the dense physical body and the consequent “falling into corruption” and becoming “scattered to the elements.” Objective man fades out and is no more seen by the physical eye, though still in his etheric body. When etheric vision is developed, the thought of death will assume very different proportions. When a man can be seen functioning in his etheric physical body by a majority of the race, the dropping of the dense body will be considered just as a release.
a. Giai đoạn đầu tiên là sự rút lui của mãnh lực sự sống trong hiện thể dĩ thái khỏi thể xác đậm đặc, kéo theo sự “rơi vào hư hoại” và trở nên “phân tán về các nguyên tố.” Con người khách quan mờ dần rồi mắt thường không còn nhìn thấy nữa, dù y vẫn ở trong thể dĩ thái của mình. Khi thị giác dĩ thái phát triển, quan niệm về cái chết sẽ mang những tầm vóc rất khác. Khi đa số nhân loại có thể nhìn thấy một người đang hoạt động trong thể xác dĩ thái của y, việc rời bỏ thể xác đậm đặc sẽ chỉ được xem là một sự giải phóng.
b. The second stage is the withdrawal of the life force from the etheric body, and its devitalisation....
b. Giai đoạn thứ hai là sự rút lui của mãnh lực sự sống khỏi thể dĩ thái, và sự mất sinh lực của thể này....
c. The third stage is the withdrawal of the life force from the astral or emotional form so that it disintegrates in a similar manner and the life is centralised elsewhere. It has gained an increase of vitality [415] through physical plane existence and added colour through emotional experience.
c. Giai đoạn thứ ba là sự rút lui của mãnh lực sự sống khỏi hình tướng cảm dục hay cảm xúc, khiến hình tướng ấy tan rã theo cách tương tự và sự sống tập trung ở nơi khác. Sự sống ấy đã gia tăng sinh lực [415] nhờ sự tồn tại trên cõi hồng trần và thêm sắc thái nhờ trải nghiệm cảm xúc.
d. The final stage for the human being is its withdrawal from the mental vehicle. The life forces after this fourfold abstraction are centralised entirely in the soul....
d. Giai đoạn cuối cùng đối với con người là sự rút lui của sự sống khỏi hiện thể trí tuệ. Sau sự triệt thoái tứ phân này, các mãnh lực sự sống hoàn toàn tập trung trong linh hồn....
PAGES 735-7.
Trang 735-7.
The Law of Attraction breaks up the forms and draws back to primal sources the material of those forms, prior to rebuilding them anew. On the path of evolution the effects of this law are well-known, not only in the destruction of discarded vehicles, but in the breaking up of the forms in which great ideals are embodied....All eventually break under the working of this law.
Định luật Hấp Dẫn phá vỡ các hình tướng và thu hút vật chất của chúng trở về các nguồn nguyên sơ, trước khi xây dựng chúng lại từ đầu. Trên con đường tiến hoá, những tác động của định luật này đã được biết rõ, không chỉ trong sự hủy diệt các hiện thể bị loại bỏ, mà còn trong sự phá vỡ những hình tướng hiện thân cho các lý tưởng vĩ đại....Cuối cùng, tất cả đều tan vỡ dưới tác động của định luật này.
Its workings are more apparent to the average human mind in its manifestations at this time on the physical plane. We can trace the connection between the atmic (spiritual) and the physical plane—demonstrating on the lower plane as the Law of Sacrifice and Death—but its effect can be seen on all five planes as well. It is the law which destroys the final sheath that separates the perfected soul.
Đối với trí tuệ của người bình thường, tác động của định luật này thể hiện rõ hơn qua những biểu hiện của nó trên cõi hồng trần vào lúc này. Chúng ta có thể truy nguyên mối liên hệ giữa cõi atma (tinh thần) và cõi hồng trần—biểu hiện trên cõi thấp dưới dạng Định luật Hy Sinh và Cái Chết—nhưng tác động của nó cũng có thể thấy trên cả năm cõi. Đây là định luật hủy diệt lớp vỏ cuối cùng còn ngăn cách linh hồn đã hoàn thiện.
PAGE 581.
Trang 581.
When the “will to live” vanishes, then the “Sons of Necessity” cease from objective manifestation....When the Thinker on his own plane withdraws his attention from his little system within the three worlds and gathers within himself all his forces, then physical plane existence comes to an end and all returns within the causal consciousness....This demonstrates on the physical plane in the withdrawing from out of the top of the head of the radiant etheric body and the consequent disintegration of the [416] physical. The framework goes and the dense physical form falls apart.
Khi “ý chí muốn sống” biến mất, thì “Các Con của Tất Yếu” chấm dứt sự biểu hiện khách quan....Khi Chủ Thể Tư Duy trên cõi riêng của mình rút sự chú ý khỏi hệ thống nhỏ bé của y trong ba cõi giới và thu gom mọi mãnh lực vào bên trong, thì sự tồn tại trên cõi hồng trần chấm dứt và tất cả trở về trong tâm thức nguyên nhân....Trên cõi hồng trần, điều này biểu hiện qua việc thể dĩ thái rạng ngời rút ra từ đỉnh đầu và sự tan rã tiếp theo của [416] thể xác. Khung sườn biến mất và hình tướng hồng trần đậm đặc tan rã.
PAGE 85.
Trang 85.
a. The etheric body is in reality a network of fine channels which are the component parts of one interlacing fine cord—one portion of this cord being the magnetic link which unites the physical and the astral bodies and which is snapped or broken after the withdrawal of the etheric body from the dense physical body at the time of death. (See Ecc: XII.6.)
a. Thể dĩ thái thực ra là một mạng lưới các đường dẫn thanh mảnh, cấu thành một sợi dây thanh mảnh đan bện vào nhau—một phần của sợi dây này là mối liên kết từ tính hợp nhất thể xác với thể cảm dục, và mối liên kết ấy đứt lìa sau khi thể dĩ thái rút khỏi thể xác đậm đặc vào lúc chết. (Xem Truyền Đạo: XII.6.)
PAGE 98.
Trang 98.
b. Later “definite methods of demonstrating the fact that life persists after the death of the physical body will be followed and the etheric web will be recognised as a factor in the case.”
b. Về sau, “người ta sẽ áp dụng những phương pháp xác định để chứng minh sự thật rằng sự sống vẫn tiếp tục sau cái chết của thể xác, và mạng lưới dĩ thái sẽ được công nhận là một yếu tố trong việc này.”
PAGE 429.
Trang 429.
Death is “initiation, or the entering into a state of liberation.”
Cái chết là “điểm đạo, hay bước vào một trạng thái giải thoát.”
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. I, PAGE 197.
Luận về Bảy Cung, Tập I, Trang 197.
Death and the Etheric Body.
Cái Chết và Thể Dĩ Thái.
It is not our purpose to give facts for verification by science, or even to point the way to the next step onward for scientific investigators; that we may do so is but incidental and purely secondary. What we seek mainly is to give indications of the development and correspondence of the threefold whole that makes the solar system what it is—the vehicle through which a great cosmic ENTITY, the solar Logos, manifests active intelligence with the purpose in view of demonstrating perfectly the love side of His nature. Back of this design lies a yet more esoteric and ulterior purpose, hid in the Will Consciousness of the [417] Supreme Being, which perforce will be later demonstrated when the present objective is attained. The dual alternation of objective manifestation and of subjective obscuration, the periodic out-breathing, followed by the in-breathing of all that has been carried forward through evolution, embodies in the system one of the basic cosmic vibrations, and the keynote of that cosmic ENTITY whose body we are. The heart beats of the Logos (if it might be so inadequately expressed) are the source of all cyclic evolution, and hence the importance attached to that aspect of development called the “heart” or “love aspect,” and the interest that is awakened by the study of rhythm. This is true, not only cosmically and macrocosmically, but likewise in the study of the human unit. Underlying all the physical sense attached to rhythm, vibration, cycles and heart-beat, lie their subjective analogies—love, feeling, emotion, desire, harmony, synthesis and ordered sequence—and back of these analogies lies the source of all, the identity of that Supreme Being Who thus expresses Himself.
Mục đích của chúng ta không phải là đưa ra những sự kiện để khoa học kiểm chứng, hay thậm chí chỉ đường cho bước tiến kế tiếp của các nhà nghiên cứu khoa học; nếu chúng ta có làm được điều đó thì cũng chỉ là ngẫu nhiên và hoàn toàn thứ yếu. Điều chúng ta chủ yếu tìm cách làm là đưa ra những chỉ dẫn về sự phát triển và tương ứng của toàn thể tam phân làm nên bản chất của hệ mặt trời—hiện thể qua đó một THỰC THỂ vũ trụ vĩ đại, Thái dương Thượng đế, biểu hiện trí thông tuệ hoạt động nhằm thể hiện hoàn hảo phương diện bác ái trong bản chất của Ngài. Đằng sau ý đồ này còn có một mục đích huyền bí hơn và sâu xa hơn, ẩn trong Tâm Thức Ý Chí của [417] Đấng Tối Cao, tất yếu sẽ biểu hiện về sau khi mục tiêu hiện tại đã đạt được. Sự luân phiên kép giữa biểu hiện khách quan và ẩn khuất chủ quan, sự thở ra theo chu kỳ, tiếp theo là sự hít vào tất cả những gì đã tiến triển qua tiến hoá, thể hiện trong hệ mặt trời một trong những rung động vũ trụ căn bản và chủ âm của THỰC THỂ vũ trụ mà chúng ta là thân thể của Ngài. Những nhịp tim của Thượng đế (nếu có thể diễn đạt một cách thiếu thỏa đáng như vậy) là nguồn gốc của mọi tiến hoá theo chu kỳ; vì thế người ta coi trọng phương diện phát triển được gọi là “tâm” hay “phương diện bác ái”, và việc nghiên cứu nhịp điệu khơi dậy sự quan tâm. Điều này đúng không chỉ ở quy mô vũ trụ và đại thiên địa, mà cả trong việc nghiên cứu đơn vị nhân loại. Bên dưới mọi ý nghĩa hồng trần gắn với nhịp điệu, rung động, chu kỳ và nhịp tim là những điều tương đồng chủ quan của chúng—tình thương, cảm nhận, cảm xúc, dục vọng, hài hòa, tổng hợp và trình tự có trật tự—và đằng sau những điều tương đồng này là nguồn gốc của tất cả, bản thể của Đấng Tối Cao biểu lộ chính Ngài theo cách ấy.
Therefore the study of pralaya, or the withdrawal of the life from out of the etheric vehicle, will be the same whether one studies the withdrawal of the human etheric double, the withdrawal of the planetary etheric double, or the withdrawal of the etheric double of the solar system. The effect is the same and the consequences similar.
Vì vậy, việc nghiên cứu Giai kỳ qui nguyên, hay sự rút lui của sự sống khỏi hiện thể dĩ thái, sẽ như nhau dù người ta nghiên cứu sự rút lui của bản sao dĩ thái con người, sự rút lui của bản sao dĩ thái hành tinh, hay sự rút lui của bản sao dĩ thái hệ mặt trời. Tác động là như nhau và hệ quả thì tương tự.
What is the result of this withdrawal, or rather, what causes that something which we call death or pralaya? As we are strictly pursuing the text book style in this treatise, we will continue our method of tabulation. The withdrawal of the etheric double of a man, a planet, and a system is brought about by the following causes:
Kết quả của sự rút lui này là gì, hay đúng hơn, điều gì gây ra hiện tượng mà chúng ta gọi là cái chết hay Giai kỳ qui nguyên? Vì trong khảo luận này chúng ta nghiêm ngặt tuân theo lối trình bày của sách giáo khoa, chúng ta sẽ tiếp tục phương pháp liệt kê. Sự rút lui của bản sao dĩ thái của một người, một hành tinh và một hệ mặt trời do những nguyên nhân sau đây:
a. The cessation of desire. This should be the result of all evolutionary process. True death, under the law, is [418] brought about by the attainment of the objective, and hence by the cessation of aspiration. This, as the perfected cycle draws to its close, will be true of the individual human being, of the Heavenly Man, and of the Logos Himself.
a. Sự chấm dứt dục vọng. Đây phải là kết quả của mọi tiến trình tiến hoá. Theo định luật, cái chết đích thực [418] xảy ra do đã đạt mục tiêu, và do đó khát vọng chấm dứt. Khi chu kỳ đã hoàn thiện tiến gần đến hồi kết, điều này sẽ đúng với cá nhân con người, với Đấng Thiên Nhân và với chính Thượng đế.
b. By the slowing down and gradual cessation of the cyclic rhythm, the adequate vibration is achieved and the work accomplished. When the vibration or note is perfectly felt or sounded, it causes (at the point of synthesis with other vibrations) the utter shattering of the forms.
b. Qua sự chậm lại và chấm dứt dần dần của nhịp điệu theo chu kỳ, mức rung động thích đáng được đạt tới và công việc hoàn tất. Khi rung động hay âm điệu được cảm nhận hoặc xướng lên một cách hoàn hảo, nó gây ra sự phá tan hoàn toàn các hình tướng (tại điểm tổng hợp với những rung động khác).
Motion is characterised, as we know, by three qualities:
Như chúng ta biết, chuyển động có ba phẩm tính đặc trưng:
1. Inertia
1. Quán tính
2. Mobility
2. Tính động
3. Rhythm
3. Nhịp điệu
These three are experienced in just the above sequence and presuppose a period of slow activity, succeeded by one of extreme movement. This middle period produces incidentally (as the true note and rate are sought) cycles of chaos, of experiment, of experience and of comprehension. Following on these two degrees of motion (which are characteristic of the atom, Man, of the Heavenly Man or group, and of the Logos or the Totality) comes a period of rhythm and stabilisation wherein the point of balance is achieved. By the force of balancing the pairs of opposites, and thus producing equilibrium, pralaya is the inevitable sequence.
Ba phẩm tính này được trải nghiệm đúng theo trình tự trên và giả định có một thời kỳ hoạt động chậm chạp, tiếp theo là một thời kỳ chuyển động cực độ. Thời kỳ giữa này đồng thời tạo ra (trong khi tìm kiếm âm điệu và tốc độ đích thực) những chu kỳ hỗn loạn, thử nghiệm, trải nghiệm và lĩnh hội. Tiếp sau hai mức độ chuyển động này (vốn là đặc trưng của nguyên tử, Con Người, Đấng Thiên Nhân hay nhóm, và Thượng đế hay Toàn Thể) là một thời kỳ nhịp điệu và ổn định, trong đó điểm cân bằng được đạt tới. Nhờ mãnh lực cân bằng các cặp đối cực, từ đó tạo nên thế quân bình, Giai kỳ qui nguyên tất yếu theo sau.
c. By the severing of the physical from the subtler body on the inner planes, through the shattering of the web. This has a threefold effect:
c. Do sự cắt đứt liên kết giữa thể xác và thể tinh tế hơn trên các cõi bên trong, thông qua sự phá vỡ mạng lưới. Điều này có tác động tam phân:
First. The life that had animated the physical form (both dense and etheric) and which had its starting point in the permanent atom, and from thence “pervaded the moving and the unmoving” (in God, the Heavenly Man, and the human being, as well as in the atom of matter), is [419] withdrawn entirely within the atom upon the plane of abstraction. This “plane of abstraction” is a different one for the entities involved:
Thứ nhất. Sự sống từng làm sinh động hình tướng hồng trần (cả đậm đặc lẫn dĩ thái), có khởi điểm trong nguyên tử trường tồn, và từ đó “thấm khắp cái chuyển động và cái bất động” (trong Thượng đế, Đấng Thiên Nhân và con người, cũng như trong nguyên tử vật chất), [419] rút hoàn toàn vào bên trong nguyên tử trên cõi triệt thoái. “Cõi triệt thoái” này khác nhau đối với các thực thể liên quan:
a. For the physical permanent atom, it is the atomic level.
a. Đối với nguyên tử trường tồn hồng trần, đó là cấp độ nguyên tử.
b. For man, it is the causal vehicle.
b. Đối với con người, đó là hiện thể nguyên nhân.
c. For the Heavenly Man, it is the second plane of monadic life, His habitat.
c. Đối với Đấng Thiên Nhân, đó là cõi thứ hai, cõi của sự sống chân thần, nơi cư ngụ của Ngài.
d. For the Logos, it is the plane of Adi.
d. Đối với Thượng đế, đó là cõi Adi.
All these mark the points for the disappearance of the unit into pralaya. We need here to remember that it is always pralaya when viewed from below. From the higher vision, that sees the subtler continuously overshadowing the dense when not in objective manifestation, pralaya is simply subjectivity, and is not that “which is not,” but simply that which is esoteric.
Tất cả những điều này đánh dấu các điểm mà đơn vị biến mất vào Giai kỳ qui nguyên. Ở đây, chúng ta cần nhớ rằng khi nhìn từ bên dưới, đó luôn là Giai kỳ qui nguyên. Từ tầm nhìn cao hơn, vốn thấy cái tinh tế liên tục phủ bóng cái đậm đặc khi không biểu hiện khách quan, Giai kỳ qui nguyên đơn giản là trạng thái chủ quan, và không phải là cái “không hiện hữu”, mà chỉ là cái huyền bí.
Second. The etheric double of a man, a planetary Logos, and a solar Logos, being shattered, becomes nonpolarised as regards its indweller, and permits therefore of escape. It is (to word it otherwise) no longer a source of attraction, nor a factual magnetic point. It becomes nonmagnetic, and the great Law of Attraction ceases to control it; hence disintegration is the ensuing condition of the form. The Ego ceases to be attracted by its form on the physical plane, and proceeding to inbreathe, withdraws its life from out of the sheath. The cycle draws to a close, the experiment has been made, the objective (a relative one from life to life and from incarnation to incarnation) has been achieved, and. there remains nothing more to desire: the Ego, or the thinking entity, loses interest, therefore, in form, and turns his attention inward. His polarisation changes, and the physical is eventually dropped.
Thứ hai. Bản sao dĩ thái của một người, một Hành Tinh Thượng đế và một Thái dương Thượng đế, khi tan vỡ, trở nên không còn phân cực đối với chủ thể nội tại, và do đó cho phép sự thoát ra. Nói cách khác, nó không còn là một nguồn hấp dẫn, cũng không còn là một điểm từ tính thực hữu. Nó trở nên phi từ tính, và Định luật Hấp Dẫn vĩ đại ngừng chi phối nó; vì thế, tan rã là trạng thái tiếp theo của hình tướng. Chân ngã không còn chịu sức hấp dẫn của hình tướng mình trên cõi hồng trần, và bắt đầu hít vào, rút sự sống của mình khỏi lớp vỏ. Chu kỳ tiến đến hồi kết, cuộc thử nghiệm đã được thực hiện, mục tiêu (mang tính tương đối từ đời này sang đời khác và từ kiếp lâm phàm này sang kiếp lâm phàm khác) đã đạt được, và không còn gì để ham muốn nữa: vì vậy, Chân ngã, hay thực thể tư duy, mất hứng thú với hình tướng và hướng sự chú ý vào bên trong. Sự phân cực của Chân ngã thay đổi, và cuối cùng thể xác được rời bỏ.
[420]
[420]
The planetary Logos likewise in His greater cycle (the synthesis or the aggregate of the tiny cycles of the cells of His body) pursues the same course; He ceases to be attracted downward or outward, and turns His gaze within; He gathers inward the aggregate of the smaller lives within His body, the planet, and severs connection. Outer attraction ceases, and all gravitates towards the centre instead of scattering to the periphery of His body.
Tương tự, trong chu kỳ lớn hơn của Ngài (sự tổng hợp hay tổng thể các chu kỳ nhỏ bé của những tế bào trong thân thể Ngài), Hành Tinh Thượng đế cũng đi theo cùng một tiến trình; Ngài không còn chịu sức hấp dẫn hướng xuống hay ra ngoài, mà hướng cái nhìn vào bên trong; Ngài thu vào bên trong tổng thể những sự sống nhỏ hơn trong thân thể Ngài, tức hành tinh, và cắt đứt liên kết. Sức hấp dẫn bên ngoài chấm dứt, và tất cả đều hướng về trung tâm thay vì phân tán ra chu vi thân thể Ngài.
In the system the same process is followed by the solar Logos; from His high place of abstraction, He ceases to be attracted by His body of manifestation. He withdraws His interest and the pairs of opposites, the spirit and the matter of the vehicle, dissociate. With this dissociation the solar system, that “Son of Necessity,” or of desire, ceases to be, and passes out of objective existence.
Trong hệ mặt trời, Thái dương Thượng đế cũng theo cùng tiến trình ấy; từ nơi triệt thoái cao cả của mình, Ngài không còn chịu sức hấp dẫn của thân thể biểu hiện. Ngài rút sự quan tâm lại, và các cặp đối cực, tinh thần và vật chất của hiện thể, tách rời nhau. Với sự phân ly này, hệ mặt trời, “Con của Tất Yếu” hay của dục vọng ấy, chấm dứt hiện hữu và ra khỏi sự tồn tại khách quan.
Third. This leads finally, to the scattering of the atoms of the etheric body into their primordial condition. The subjective life, the synthesis of will and love taking active form, is withdrawn. The partnership is dissolved. The form then breaks up; the magnetism that has held it in coherent shape is no longer present, and dissipation is complete. Matter persists, but the form no longer persists.
Thứ ba. Cuối cùng, điều này dẫn đến sự phân tán các nguyên tử của thể dĩ thái trở về trạng thái nguyên sơ của chúng. Sự sống chủ quan, sự tổng hợp của ý chí và bác ái khoác lấy hình tướng hoạt động, rút lui. Mối cộng tác tan rã. Khi ấy hình tướng vỡ ra; từ điện từng giữ nó trong một hình dạng cố kết không còn hiện diện, và sự làm tiêu tan hoàn tất. Vật chất vẫn tồn tại, nhưng hình tướng không còn tồn tại.
The work of the second Logos ends, and the divine incarnation of the Son is concluded. But the faculty or inherent quality of matter also persists, and at the end of each period of manifestation, matter (though distributed again into its primal form) is active intelligent matter plus the gain of objectivity, and the increased radiatory and latent activity which it has gained through experience. Let us illustrate: The matter of the solar system, when undifferentiated, was active intelligent matter, and that is all that can be predicated of it. This active intelligent matter was matter qualified by an earlier experience, and coloured by an earlier [421] incarnation. Now this matter is in form, the solar system is not in pralaya but in objectivity—this objectivity having in view the addition of another quality to the logoic content, that of love and wisdom. Therefore, at the next solar pralaya, at the close of the one hundred years of Brahma, the matter of the solar system will be coloured by active intelligence and by active love. This means literally that the aggregate of solar atomic matter will eventually vibrate to another key than it did at the first dawn of manifestation.
Công việc của Thượng đế thứ hai kết thúc, và sự lâm phàm thiêng liêng của Người Con hoàn tất. Nhưng năng lực hay phẩm tính cố hữu của vật chất cũng vẫn tồn tại, và vào cuối mỗi thời kỳ biểu hiện, vật chất (dù lại được phân bố về hình tướng nguyên sơ của nó) vẫn là vật chất thông tuệ hoạt động, cộng thêm thành quả của trạng thái khách quan, cùng hoạt động bức xạ và tiềm tàng đã gia tăng nhờ trải nghiệm. Chúng ta hãy minh họa: Khi chưa biến phân, vật chất của hệ mặt trời là vật chất thông tuệ hoạt động, và đó là tất cả những gì có thể khẳng định về nó. Vật chất thông tuệ hoạt động này là vật chất mang phẩm tính từ một trải nghiệm trước đó và sắc thái từ một [421] lần lâm phàm trước đó. Giờ đây vật chất này đang ở trong hình tướng, hệ mặt trời không ở trong Giai kỳ qui nguyên mà ở trong trạng thái khách quan—trạng thái khách quan này nhằm bổ sung một phẩm tính khác vào nội dung của Thượng đế, đó là bác ái và minh triết. Vì vậy, trong Giai kỳ qui nguyên thái dương kế tiếp, vào cuối một trăm năm của Brahma, vật chất của hệ mặt trời sẽ mang sắc thái của trí thông tuệ hoạt động và bác ái hoạt động. Điều này có nghĩa đen là cuối cùng tổng thể vật chất nguyên tử thái dương sẽ rung động theo một âm giai khác với âm giai vào buổi bình minh đầu tiên của sự biểu hiện.
We can work this out in connection with the planetary Logos and the human unit, for the analogy holds good. We have a correspondence on a tiny scale in the fact that each human life period sees a man taking a more evolved physical body of a greater responsiveness, tuned to a higher key, of more adequate refinement, and vibrating to a different measure. In these three thoughts lies much information, if they are carefully studied and logically extended.
Chúng ta có thể triển khai điều này trong mối liên hệ với Hành Tinh Thượng đế và đơn vị nhân loại, vì sự tương đồng vẫn đúng. Chúng ta có một sự tương ứng ở quy mô rất nhỏ trong sự thật rằng qua mỗi thời kỳ sống của con người, y nhận lấy một thể xác tiến hoá hơn, có khả năng đáp ứng lớn hơn, được chỉnh theo một âm giai cao hơn, có độ tinh luyện thích đáng hơn và rung động theo một tiết nhịp khác. Trong ba tư tưởng này có nhiều thông tin, nếu chúng được nghiên cứu cẩn thận và mở rộng một cách hợp lý.
d. By the transmutation of the violet into the blue. This we cannot enlarge on. We simply make the statement, and leave its working out to those students whose karma permits and whose intuition suffices.
d. Do sự chuyển hoá màu tím thành màu lam. Chúng ta không thể bàn rộng về điều này. Chúng ta chỉ nêu ra lời khẳng định ấy, và để việc triển khai cho những đạo sinh có nghiệp quả cho phép và trực giác đủ sức.
e. By the withdrawal of the life, the form should gradually dissipate. The reflex action here is interesting to note, for the greater Builders and Devas who are the active agents during manifestation, and who hold the form in coherent shape, transmuting, applying and circulating the pranic emanations, likewise lose their attraction to the matter of the form, and turn their attention elsewhere. On the path of out-breathing (whether human, planetary or logoic) these building devas (on the same Ray as the unit desiring manifestation, or on a complementary Ray) are attracted by his will and desire, and perform their office of construction. On the path of in-breathing (whether human, planetary [422] or logoic) they are no longer attracted, and the form begins to dissipate. They withdraw their interest, and the forces (likewise entities) who are the agents of destruction. carry on their necessary work of breaking up the form; they scatter it—as it is occultly expressed—to “the four winds of Heaven,” or to the regions of the four breaths—a fourfold separation and distribution. A hint is here given for careful consideration.
e. Do sự rút lui của sự sống, hình tướng sẽ dần tiêu tan. Ở đây, tác động phản hồi rất đáng lưu ý, vì các đấng đại kiến tạo và các thiên thần, những tác nhân hoạt động trong thời kỳ biểu hiện, giữ hình tướng trong một hình dạng cố kết bằng cách chuyển hoá, vận dụng và lưu chuyển các phát xạ prana, cũng không còn chịu sức hấp dẫn của vật chất cấu thành hình tướng và chuyển sự chú ý sang nơi khác. Trên con đường thở ra (dù của con người, hành tinh hay Thượng đế), các thiên thần kiến tạo này (thuộc cùng cung với đơn vị mong muốn biểu hiện, hoặc thuộc một cung bổ sung) chịu sức thu hút từ ý chí và dục vọng của đơn vị ấy, và thực hiện chức năng xây dựng của mình. Trên con đường hít vào (dù của con người, hành tinh [422] hay Thượng đế), các vị không còn chịu sức thu hút nữa, và hình tướng bắt đầu tiêu tan. Các vị rút sự quan tâm lại, và các mãnh lực (cũng là những thực thể) làm tác nhân hủy diệt tiếp tục công việc cần thiết là phá vỡ hình tướng; các mãnh lực ấy phân tán nó—như cách diễn đạt huyền bí—về “bốn phương gió của Trời”, hay về những miền của bốn hơi thở—một sự phân tách và phân bố tứ phân. Ở đây có một gợi ý để suy xét cẩn thận.
Though no pictures have been drawn of death bed scenes nor of the dramatic escape of the palpitating etheric body from the centre in the head, as might have been anticipated, yet some of the rules and purposes governing this withdrawal have been mentioned. We have seen how the aim of each life (whether human, planetary or logoic) should be the effecting and the carrying out of a definite purpose. This purpose is the development of a more adequate form for the use of spirit; and when this purpose is achieved, then the indweller turns his attention away, and the form disintegrates, having served his need. This is not always the case in every human life, nor even in each planetary cycle. The mystery of the moon is the mystery of failure. This leads, when comprehended, to a life of dignity and offers an aim worthy of our best endeavour. When this angle of truth is universally recognised, as it will be when the intelligence of the race suffices, then evolution will proceed with certainty, and the failures be less numerous.
Mặc dù không có bức tranh nào được phác họa về cảnh bên giường hấp hối hay về sự thoát ra đầy kịch tính của thể dĩ thái rung động từ trung tâm trong đầu, như người ta có thể đã mong đợi, nhưng một số quy luật và mục đích chi phối sự rút lui này đã được đề cập. Chúng ta đã thấy mục tiêu của mỗi sự sống (dù là con người, hành tinh hay Thượng đế) phải là thực hiện và hoàn thành một mục đích xác định như thế nào. Mục đích này là phát triển một hình tướng thích đáng hơn để tinh thần sử dụng; và khi mục đích này đã đạt được, chủ thể nội tại chuyển sự chú ý đi nơi khác, còn hình tướng tan rã sau khi đã đáp ứng nhu cầu của chủ thể ấy. Điều này không phải lúc nào cũng xảy ra trong mọi đời sống con người, hay thậm chí trong mỗi chu kỳ hành tinh. Bí nhiệm của mặt trăng là bí nhiệm của sự thất bại. Khi được thấu hiểu, điều này dẫn đến một đời sống có phẩm giá và đem lại một mục tiêu xứng đáng với nỗ lực cao nhất của chúng ta. Khi phương diện chân lý này được công nhận rộng khắp, như điều sẽ xảy ra khi trí thông tuệ của nhân loại đạt mức đầy đủ, thì tiến hoá sẽ tiến bước một cách chắc chắn và những thất bại sẽ ít đi.
A TREATISE ON COSMIC FIRE, PAGES 128-133.
Luận về Lửa Vũ Trụ, Trang 128-133.
All severing of links produces severe reactions. Yet if you could but realise it, the severing of the outer physical plane links is the least severe and the most impermanent of all such events. Death itself is a part of the great illusion and only exists because of the veils which we have gathered around ourselves. All of us, as workers in the field of [423] glamour (the new field in which humanity must learn consciously to work), have been honoured and trusted. Death comes to all, but for disciples there should be none of the usual glamour and distress. I would say to you, look not back at the past. In that direction lie glamour and distress. It is the usual direction and the line of least resistance for the majority. But such is not the way for you. Look not either to revelation or to the imparted illusory comfort of those who hover on the dividing line between the seen and the unseen. Again, that is not the way for you. You are not a distressed and bereaved disciple looking anxiously at the separating veil and hoping for some sign to come through which will convince you that all is well....
Mọi sự cắt đứt liên kết đều gây ra những phản ứng mãnh liệt. Tuy nhiên, nếu em nhận ra được điều này, thì sự cắt đứt những liên kết bên ngoài trên cõi hồng trần là biến cố ít nghiêm trọng nhất và ít bền lâu nhất trong tất cả những biến cố như thế. Chính cái chết là một phần của ảo tưởng lớn lao và chỉ tồn tại vì những bức màn mà chúng ta đã gom lại quanh mình. Tất cả chúng ta, những người hoạt động trong lĩnh vực [423] ảo cảm (lĩnh vực mới mà nhân loại phải học cách hoạt động một cách có ý thức), đều đã được vinh dự và tín nhiệm. Cái chết đến với tất cả mọi người, nhưng đối với các đệ tử, không nên có những ảo cảm và đau khổ thông thường. Tôi muốn nói với em rằng, đừng ngoảnh lại quá khứ. Theo hướng ấy có ảo cảm và đau khổ. Đó là hướng đi thông thường và là con đường ít trở ngại nhất đối với đa số. Nhưng đó không phải là con đường dành cho em. Cũng đừng tìm đến sự mặc khải hay niềm an ủi hão huyền do những người lảng vảng trên ranh giới giữa cái hữu hình và cái vô hình truyền đạt. Một lần nữa, đó không phải là con đường dành cho em. Em không phải là một đệ tử đau khổ vì mất người thân, lo âu nhìn vào bức màn ngăn cách và mong có một dấu hiệu nào đó xuyên qua, khiến em tin chắc rằng mọi sự đều tốt đẹp....
Reach up to the heights of the soul, and having sought and found that pinnacle of peace and that altitude of joy whereon your soul immovably stands, then look into the world of living men—a threefold world in which all men—incarnate and discarnate—are to be found. Find there that which your soul can and will recognize. The glamours of one’s own distress, the maya of the past, distort ever one’s point of view. Only the soul stands clear from illusion, and only the soul sees things as they are. Mount, therefore, to the soul.
Hãy vươn lên những đỉnh cao của linh hồn, và sau khi đã tìm kiếm, tìm thấy đỉnh cao bình an ấy và độ cao hoan hỉ ấy, nơi linh hồn em đứng vững bất lay chuyển, hãy nhìn vào thế giới của những người đang sống—một thế giới tam phân nơi có tất cả mọi người—đang nhập thể và đã thoát xác. Hãy tìm ở đó điều mà linh hồn em có thể và sẽ nhận biết. Những ảo cảm do nỗi đau khổ của chính mình, ảo lực của quá khứ, luôn làm méo mó quan điểm của mỗi người. Chỉ linh hồn mới thoát khỏi ảo tưởng, và chỉ linh hồn mới thấy sự vật đúng như chúng vốn có. Vì vậy, hãy vươn lên với linh hồn.
DISCIPLESHIP IN THE NEW AGE, VOL. I, PAGE 463.
Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, Trang 463.
CHAPTER V - The Process of Restitution – CHƯƠNG V - Tiến Trình Hoàn Nguyên
[424]
[424]
The theme of Death, which we are now considering, must be approached by us with as much of the spirit of normalcy and of scientific investigation as we can manage. The fear complex of humanity finds its point of entrance into man’s consciousness through the act of dying; failure to survive is the basic fear; and yet it is the commonest phenomenon upon the planet. Bear that in mind. The act of dying is the great universal ritual which governs our entire planetary life, but only in the human family and faintly, very faintly, in the animal kingdom is the reaction to fear found. Could you but see the etheric world as Those on the inner side of life experience and see it, you would see (going on ceaselessly and without any pause) the great planetary act of restitution. You would see a great activity proceeding within the etheric world in which the anima mundi, the animal soul and the human soul are constantly restoring the substance of all physical forms to the great reservoir of essential substance. This essential substance is as much a vital, directed unity as the world soul of which one hears so much. This interplay of the principle of death with the principle of life produces the basic activity of creation. The impulsive, directive force is the mind of God, of the planetary Logos, as He pursues His divine purposes, carrying [425] with Him in this process all the media through which He manifests.
Chúng ta phải tiếp cận chủ đề Cái Chết đang được xem xét với tinh thần bình thản và nghiên cứu khoa học ở mức cao nhất có thể. Phức cảm sợ hãi của nhân loại tìm được lối vào tâm thức con người qua hành vi chết; không tiếp tục sống được là nỗi sợ căn bản; thế nhưng đó lại là hiện tượng phổ biến nhất trên hành tinh. Hãy ghi nhớ điều ấy. Hành vi chết là nghi lễ phổ quát vĩ đại chi phối toàn bộ sự sống hành tinh của chúng ta, nhưng chỉ trong gia đình nhân loại và một cách mờ nhạt, rất mờ nhạt, trong giới động vật mới có phản ứng sợ hãi. Nếu các bạn có thể nhìn thấy thế giới dĩ thái như Các Đấng ở phía bên trong của sự sống trải nghiệm và nhìn thấy nó, các bạn sẽ thấy hành vi hoàn nguyên vĩ đại của hành tinh diễn ra không ngừng, không hề gián đoạn. Các bạn sẽ thấy một hoạt động lớn lao đang diễn tiến trong thế giới dĩ thái, nơi linh hồn thế giới, hồn động vật và linh hồn con người không ngừng hoàn trả chất liệu của mọi hình tướng hồng trần về kho chứa lớn của chất liệu cốt yếu. Chất liệu cốt yếu này cũng là một thể thống nhất sống động, có định hướng như linh hồn thế giới mà người ta thường nghe nói đến. Sự tương tác giữa nguyên khí chết và nguyên khí sống tạo ra hoạt động căn bản của sự sáng tạo. Mãnh lực thúc đẩy và chỉ đạo là Trí của Thượng đế, của Hành Tinh Thượng đế, khi Ngài theo đuổi những mục đích thiêng liêng của mình, mang [425] theo trong tiến trình này mọi phương tiện mà qua đó Ngài biểu hiện.
The human fear of death is primarily caused because the orientation of the kingdom of souls, the fifth kingdom in nature, has been (until relatively late in the world’s cycle) towards form expression and towards the necessity of seeking experience through matter, in order eventually freely to control it. The percentage of the souls of those who are oriented away from expression in the three worlds is relatively so small, in proportion to the total number of souls demanding experience in the three worlds, that, until the cycle or era which we call the Christian, it might be stated that death reigned triumphant. Today, however, we are on the eve of seeing a complete change in this condition, owing to the fact that humanity—on a much larger scale than ever known before—is achieving a needed reorientation; the higher values and the life of the soul, as entered upon through the insistence of the mind in its higher and lower aspects, is beginning to control. This will perforce bring in a new attitude towards death; it will be regarded as a natural and desirable process, cyclically undergone. Men will eventually understand the significance of Christ’s words when He said, “Render unto Caesar the things that are Caesar’s and unto God the things that are God’s.” In the incident where those words occur He was referring to the great act of restitution which we call death. Ponder that story and see the symbolism of the soul, contained within the universal soul, as the fish within the water, and holding a coin of metal, the symbol of matter.
Nỗi sợ chết của con người chủ yếu phát sinh vì giới linh hồn, giới thứ năm trong tự nhiên, đã hướng (cho đến một giai đoạn tương đối muộn trong chu kỳ thế giới) về sự biểu lộ qua hình tướng và về nhu cầu tìm kiếm trải nghiệm thông qua vật chất, để cuối cùng có thể tự do kiểm soát vật chất. Tỷ lệ linh hồn của những người đã quay khỏi sự biểu lộ trong ba cõi giới nhỏ đến mức, so với tổng số linh hồn đòi hỏi trải nghiệm trong ba cõi giới, có thể nói rằng cho đến chu kỳ hay kỷ nguyên mà chúng ta gọi là kỷ nguyên Cơ Đốc, cái chết đã ngự trị toàn thắng. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của một sự thay đổi hoàn toàn tình trạng này, do nhân loại—trên quy mô lớn hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây—đang đạt được sự tái định hướng cần thiết; những giá trị cao hơn và đời sống linh hồn, mà con người bắt đầu bước vào nhờ sự thôi thúc bền bỉ của thể trí trong cả phương diện cao lẫn thấp, đang bắt đầu chi phối. Điều này tất yếu sẽ đem lại một thái độ mới đối với cái chết; cái chết sẽ được xem là một tiến trình tự nhiên và đáng mong muốn, diễn ra theo chu kỳ. Cuối cùng, con người sẽ thấu hiểu thâm nghĩa trong lời Đức Christ khi Ngài nói: “Hãy trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar, và trả cho Thượng đế những gì thuộc về Thượng đế.” Trong sự việc mà những lời ấy được nói ra, Ngài đề cập đến hành vi hoàn nguyên vĩ đại mà chúng ta gọi là cái chết. Hãy suy ngẫm câu chuyện ấy và nhận ra biểu tượng của linh hồn nằm trong linh hồn vũ trụ, như con cá trong nước, và ngậm một đồng tiền kim loại, biểu tượng của vật chất.
In one of the ancient writings the following symbolic words occur—
Trong một trước tác cổ có những lời mang tính biểu tượng sau đây—
Said the Father to the son: Go forth and take unto thyself that which is not thyself, and that which [426] is not thine own, but which is Mine. Regard it as thine own and seek the cause of its appearance. Let it appear to be thyself. Discover thus the world of glamour, the world of deep illusion, the world of falsity. Then learn that thou hast taken that which is not the goal of soul endeavour.
Cha nói với con: Hãy đi ra và nhận lấy cái không phải là ngươi, và cái [426] không thuộc về ngươi mà thuộc về Ta. Hãy xem nó là của ngươi và tìm kiếm nguyên nhân khiến nó xuất hiện. Hãy để nó có vẻ là chính ngươi. Qua đó, hãy khám phá thế giới ảo cảm, thế giới ảo tưởng sâu đậm, thế giới giả dối. Rồi hãy học biết rằng ngươi đã nhận lấy cái không phải là mục tiêu nỗ lực của linh hồn.
And when that moment comes in each cycle and appearance of deception and of theft, a voice will then be heard. Obey that voice. It is the voice of that within thyself which hears My voice—a voice unheard by those who love to thieve. The order will go forth again and yet again: “Make restitution of the stolen goods. Learn they are not for thee.” At greater intervals will come that voice again: “Make restitution of the borrowed goods; pay back thy debt.”
Và khi thời điểm ấy đến trong mỗi chu kỳ và mỗi lần xuất hiện của sự lừa dối và chiếm đoạt, bấy giờ một tiếng nói sẽ vang lên. Hãy vâng theo tiếng nói ấy. Đó là tiếng nói của cái bên trong ngươi đang nghe tiếng Ta—một tiếng nói mà những kẻ thích chiếm đoạt không nghe được. Mệnh lệnh sẽ ban ra hết lần này đến lần khác: “Hãy hoàn trả những gì đã chiếm đoạt. Hãy học biết rằng chúng không dành cho ngươi.” Rồi với những khoảng cách dài hơn, tiếng nói ấy sẽ lại vang lên: “Hãy hoàn trả những gì đã vay mượn; hãy trả món nợ của ngươi.”
And then, when all the lessons have been learnt, the voice once more will speak: “Restore with joy that which was Mine, was thine and now again is ours. Thou hast no longer need of form. Stand free.”
Và rồi, khi mọi bài học đã được học xong, tiếng nói sẽ lại cất lên: “Hãy hoan hỉ hoàn trả cái đã từng là của Ta, đã từng là của ngươi và giờ đây lại là của chúng ta. Ngươi không còn cần hình tướng nữa. Hãy đứng trong tự do.”
The implication of the above words is clear.
Hàm ý của những lời trên rất rõ ràng.
Two major thoughts will serve to clarify the issue of death with which we are now concerned: First, the great dualism ever present in manifestation. Each of the dualities has its own expression, is governed by its own laws, and seeks its own objectives. But—in time and space—they merge their interests for the benefit of both, and together produce the appearance of a unity. Spirit-matter, life-appearance, energy-force—each have their own emanating aspect; they each have a relation to each other; each have a mutual temporary objective, and thus in unison produce the eternal flux, the cyclic ebb and flow of life in manifestation. [427] In this process of relationship between Father-Spirit and Mother-Matter the son comes into being, and during the child stage carries on his life processes within the aura of the mother, identified with her yet forever seeking to escape from her domination. As maturity is reached, the problem intensifies, and the “pull” of the Father begins slowly to offset the possessive attitude of the mother, until finally the hold of matter, or of the mother, over her son (the soul) is finally broken. The son, the Christ-child, released from the guardianship and clinging hands of the mother, comes to know the Father. I am talking to you in symbols.
Hai tư tưởng lớn sẽ giúp làm sáng tỏ vấn đề cái chết mà chúng ta đang quan tâm: Thứ nhất, tính nhị nguyên lớn lao luôn hiện diện trong biểu hiện. Mỗi phía của các cặp nhị nguyên có cách biểu lộ riêng, chịu sự chi phối của những định luật riêng và theo đuổi những mục tiêu riêng. Nhưng—trong thời gian và không gian—chúng hòa hợp lợi ích vì lợi ích của cả hai, và cùng nhau tạo nên vẻ ngoài của một sự thống nhất. Tinh thần–vật chất, sự sống–vẻ ngoài, năng lượng–mãnh lực—mỗi bên đều có phương diện phát xạ riêng; chúng đều có mối liên hệ với nhau; mỗi cặp đều có một mục tiêu chung tạm thời, và do đó cùng nhau tạo nên dòng biến chuyển vĩnh cửu, sự lên xuống theo chu kỳ của sự sống trong biểu hiện. [427] Trong tiến trình liên hệ giữa Cha–Tinh Thần và Mẹ–Vật Chất này, người con ra đời, và trong giai đoạn thơ ấu, tiếp tục những tiến trình sống của mình trong hào quang của người mẹ, đồng hoá với mẹ nhưng mãi tìm cách thoát khỏi sự thống trị của mẹ. Khi đạt đến tuổi trưởng thành, vấn đề trở nên gay gắt hơn, và “sức kéo” của Cha dần bắt đầu hóa giải thái độ chiếm hữu của mẹ, cho đến khi sự kìm giữ của vật chất, hay của mẹ, đối với người con (linh hồn) cuối cùng bị phá vỡ. Người con, hài nhi Christ, thoát khỏi sự bảo hộ và những bàn tay níu giữ của mẹ, bắt đầu biết Cha. Tôi đang nói với các bạn bằng các biểu tượng.
Second: All the processes of incarnation, of life in form and of restitution (by the activity of the principle of death), of matter to matter, and soul to soul, are carried forward under the great universal Law of Attraction. Can you picture the time when the process of death, clearly recognised and welcomed by the man, could be described by him in the simple phrase, “The time has come when my soul’s attractive force requires that I relinquish and restore my body to the place from whence it came”? Imagine the change in the human consciousness when death comes to be regarded as an act of simple and conscious relinquishing of form, temporarily taken for two specific objectives:
Thứ hai: Tất cả những tiến trình lâm phàm, sống trong hình tướng và hoàn nguyên (nhờ hoạt động của nguyên khí chết), vật chất trở về vật chất và linh hồn trở về linh hồn, đều diễn ra dưới Định luật Hấp Dẫn vĩ đại của vũ trụ. Các bạn có thể hình dung thời điểm khi con người nhận biết rõ ràng và đón nhận tiến trình cái chết, rồi có thể mô tả nó bằng câu nói đơn giản: “Đã đến lúc mãnh lực hấp dẫn của linh hồn tôi đòi hỏi tôi buông bỏ và hoàn trả thân thể mình về nơi nó đã đến”? Hãy tưởng tượng sự thay đổi trong tâm thức nhân loại khi cái chết được xem là một hành vi đơn giản và có ý thức nhằm buông bỏ hình tướng mà con người đã tạm thời nhận lấy vì hai mục tiêu cụ thể:
a. To gain control in the three worlds.
a. Đạt quyền kiểm soát trong ba cõi giới.
b. To give opportunity to the substance of the forms thus “stolen or borrowed or rightly appropriated,” according to the stage of evolution, to reach a higher point of perfection through the impact upon it of life, via the soul.
b. Tạo cơ hội cho chất liệu của những hình tướng đã được “chiếm đoạt, vay mượn hay tiếp nhận một cách chính đáng” như thế, tùy theo giai đoạn tiến hoá, đạt đến mức độ hoàn thiện cao hơn nhờ tác động của sự sống lên nó, thông qua linh hồn.
These are significant thoughts. They have been expressed before, but have been discarded as symbolic, as comforting or as wishful thinking. I present them to you as factual in nature, as unavoidable in practice, and as familiar a technique [428] and process as those activities, (rhythmic and cyclic in nature) which govern the average man’s life—rising and retiring, eating and drinking, and all the periodic affairs which he is accustomed to pursue.
Đây là những tư tưởng đầy thâm nghĩa. Chúng đã được diễn đạt trước đây, nhưng đã bị gạt bỏ như những điều mang tính biểu tượng, an ủi hay mơ tưởng. Tôi trình bày chúng với các bạn như những sự thật trong tự nhiên, những điều không thể tránh khỏi trong thực tiễn, và như một kỹ thuật [428] cùng một tiến trình quen thuộc chẳng khác những hoạt động (vốn có nhịp điệu và chu kỳ) chi phối đời sống của người bình thường—thức dậy và đi ngủ, ăn và uống, cùng mọi việc định kỳ mà y quen thực hiện.
I dealt with the subject of death in A Treatise on White Magic, focussing therein primarily upon the physical processes of dying and doing so from the point of view of the onlooker or observer. I sought there to indicate what the attitude of the onlooker should be. Here I would like to present a somewhat different picture, indicating what is known by the departing soul. If this involves repetition of what you already know, there are however certain basic repetitions and statements I wish to make. Let me tabulate them with brevity. Will you regard them as foundational and factual.
Tôi đã bàn về chủ đề cái chết trong Luận về Chánh Thuật, chủ yếu tập trung vào các tiến trình hồng trần của sự chết từ quan điểm của người chứng kiến hay người quan sát. Ở đó, Tôi đã tìm cách chỉ ra thái độ mà người chứng kiến nên có. Ở đây, Tôi muốn trình bày một bức tranh có phần khác, chỉ ra những gì linh hồn đang rời đi biết được. Dù điều này có lặp lại những gì các bạn đã biết, vẫn có những điều căn bản Tôi muốn nhắc lại và khẳng định. Tôi xin liệt kê chúng một cách ngắn gọn. Mong các bạn xem chúng là những điều nền tảng và có thật.
1. The time for the departure of an incarnating soul has come. The soul has in the past:
1. Đã đến lúc một linh hồn đang lâm phàm phải ra đi. Trong quá khứ, linh hồn đã:
a. Appropriated a physical body of a certain calibre, adequate to the requirements and age of that soul.
a. Chiếm hữu một thể xác có phẩm cấp nhất định, phù hợp với những yêu cầu và tuổi của linh hồn ấy.
b. Energized that physical body through the medium of the etheric body, thus galvanising it into life activity for the duration of the soul’s set term of physical enterprise.
b. Truyền năng lượng cho thể xác ấy qua trung gian thể dĩ thái, nhờ đó khơi dậy hoạt động sống của nó trong suốt thời hạn mà linh hồn đã ấn định cho công cuộc hoạt động trên cõi hồng trần.
2. Two major streams of energy enter the physical body and produce its activity, its quality and type of expression, plus the impression it makes upon its environment.
2. Hai dòng năng lượng chính đi vào thể xác và tạo nên hoạt động, phẩm tính và kiểu biểu hiện của nó, cùng với ấn tượng mà nó tạo ra đối với môi trường xung quanh.
a. The stream of dynamic life. This is anchored in the heart. This stream of dynamic energy enters the body, via the head, and passes down to the heart, where it is focussed during the life cycle. A smaller stream of the universal energy or prana, distinctive from the individualised life force, enters the physical body, via the spleen. It then rises to the heart to [429] join the larger and more important life stream. The life stream energises and holds in coherency the integrated physical body. The stream of pranic energy vitalises the individual atoms and cells of which that body is composed.
a. Dòng sự sống năng động. Dòng này neo giữ trong tim. Dòng năng lượng năng động này đi vào thân thể qua đầu, rồi đi xuống tim, nơi nó tập trung trong suốt chu kỳ sống. Một dòng năng lượng vũ trụ hay prana nhỏ hơn, khác biệt với mãnh lực sự sống đã biệt ngã hóa, đi vào thể xác qua lá lách. Sau đó, nó đi lên tim để [429] hòa vào dòng sự sống lớn hơn và quan trọng hơn. Dòng sự sống truyền năng lượng và duy trì tính cố kết của thể xác tích hợp. Dòng năng lượng prana tiếp sinh lực cho từng nguyên tử và tế bào cấu thành thể xác ấy.
b. The stream of individual consciousness. This is anchored in the head, is an aspect of the soul, reveals the type of consciousness which is, in its turn, indicative of the point attained in evolution. This stream of energy likewise functions in connection with a stream of personality force; and this force is characterised by desire (emotional or astral sentiency) and enters into the physical body, via the solar plexus centre. This relates the man to the entire astral plane, and therefore to the world of glamour. With undeveloped people and with the average type of man, the solar plexus is the focus of consciousness and the energy is registered by the focal point of consciousness in the head without any recognition whatsoever. It is for this reason that (at the time of death) the soul leaves the body, via the solar plexus and not via the head. In the case of the developed man, the mental type of individual, the aspirant, disciple or initiate, the thread of consciousness will withdraw from the body via the head.
b. Dòng tâm thức cá nhân. Dòng này neo giữ trong đầu, là một phương diện của linh hồn và bộc lộ loại tâm thức vốn biểu thị trình độ tiến hoá đã đạt được. Dòng năng lượng này cũng hoạt động trong mối liên hệ với một dòng mãnh lực phàm ngã; mãnh lực này mang đặc trưng của dục vọng (khả năng cảm thụ thuộc cảm xúc hay cảm dục) và đi vào thể xác qua trung tâm tùng thái dương. Điều này liên kết con người với toàn bộ cõi cảm dục, và do đó với thế giới ảo cảm. Ở những người chưa phát triển và những người thuộc loại trung bình, tùng thái dương là tiêu điểm của tâm thức, và tiêu điểm tâm thức trong đầu ghi nhận năng lượng ấy mà hoàn toàn không nhận biết. Chính vì lý do này mà vào lúc chết, linh hồn rời khỏi thân thể qua tùng thái dương chứ không qua đầu. Ở người đã phát triển, người thuộc loại trí tuệ, người chí nguyện, đệ tử hay điểm đạo đồ, sợi dây tâm thức sẽ rút khỏi thân thể qua đầu.
3. The group soul of all forms in the animal kingdom—under the Law of Attraction—withdraws the life principle from any specific physical form via the solar plexus, which is the brain of the average animal. Highly developed and domesticated animals are beginning to utilise the brain to a greater or to a less degree, but the life principle and the sentient aspect, or animal consciousness, is still withdrawn via the solar plexus. You have, [430] therefore, in all stages of the evolutionary process, certain interesting triangles of energy.
3. Hồn nhóm của mọi hình tướng trong giới động vật—dưới Định luật Hấp Dẫn—rút nguyên khí sự sống khỏi bất kỳ hình tướng hồng trần cụ thể nào qua tùng thái dương, vốn là bộ não của động vật trung bình. Những động vật đã phát triển cao và được thuần dưỡng đang bắt đầu sử dụng bộ não ở mức độ nhiều hay ít, nhưng nguyên khí sự sống và phương diện cảm thụ, hay tâm thức động vật, vẫn rút ra qua tùng thái dương. Vì vậy, [430] trong mọi giai đoạn của tiến trình tiến hoá đều có những tam giác năng lượng đáng chú ý.
a. In the case of the animals and of those human beings who are little more than animals, of imbeciles and certain men who appear to be born with no centralised point of individual consciousness, the following triplicity is of importance:
a. Đối với động vật và những người chỉ hơn động vật đôi chút, những người thiểu năng trí tuệ và một số người dường như sinh ra không có một điểm tâm thức cá nhân tập trung, bộ ba sau đây có tầm quan trọng:
The group soul
Hồn nhóm
The solar plexus
Tùng thái dương
The spleen or pranic centre.
Lá lách hay trung tâm prana.
b. In low grade, but nevertheless individualised human beings and with the average emotional type of person, the following triplicity must be noted:
b. Ở những người có trình độ thấp nhưng vẫn đã biệt ngã hóa, và ở những người thuộc loại cảm xúc trung bình, cần lưu ý bộ ba sau đây:
The soul
Linh hồn
The head centre
Trung tâm đầu
The solar plexus.
Tùng thái dương.
c. For highly developed people and for those upon the Path of Discipleship you have the following triangle active at the time of death:
c. Đối với những người đã phát triển cao và những người trên Con Đường Đệ Tử, tam giác sau đây hoạt động vào lúc chết:
The soul
Linh hồn
The head centre
Trung tâm đầu
The ajna centre.
Trung tâm ajna.
In connection with all these triplicities there exists a dual relationship to the life principle:
Trong mối liên hệ với tất cả những bộ ba này, có một mối quan hệ kép với nguyên khí sự sống:
a. The heart in which is focussed the life of the soul in form.
a. Tim, nơi tập trung sự sống của linh hồn trong hình tướng.
b. The spleen through which passes constantly and rhythmically the universal life essence or prana.
b. Lá lách, nơi tinh chất sự sống vũ trụ hay prana liên tục đi qua một cách nhịp nhàng.
The whole subject is of course most obscure, and for those on strictly human levels, as yet unverifiable. However, an acceptance of the above three points, hypothetical today, [431] will help to clarify your minds concerning this entire theme of restitution with which we are occupied.
Dĩ nhiên, toàn bộ chủ đề này hết sức khó hiểu và đối với những người chỉ hoạt động ở các cấp độ nhân loại, hiện vẫn chưa thể kiểm chứng. Tuy nhiên, việc chấp nhận ba điểm nêu trên, ngày nay còn mang tính giả thuyết, [431] sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn toàn bộ chủ đề hoàn nguyên mà chúng ta đang bàn đến.
4. The next point needs no proving, for it is generally accepted. It is that desire governs the process of death, as it also governs the processes of life experience. We say constantly that when the will-to-live is lacking, death is the inevitable result. This will-to-live, whether it is the tenacity of the physical body, functioning as an elemental being or as the directed intention of the soul, is an aspect of desire, or rather, it is a reaction of the spiritual will upon the physical plane. There is therefore an interlocking relation between:
4. Điểm tiếp theo không cần chứng minh, vì nhìn chung mọi người đều chấp nhận. Đó là dục vọng chi phối tiến trình chết, cũng như chi phối các tiến trình trải nghiệm sự sống. Chúng ta luôn nói rằng khi thiếu ý chí muốn sống, cái chết là kết quả tất yếu. Ý chí muốn sống này, dù là sự bền bỉ của thể xác đang hoạt động như một sinh linh hành khí, hay là ý định có định hướng của linh hồn, đều là một phương diện của dục vọng, hay đúng hơn, là một phản ứng của ý chí tinh thần trên cõi hồng trần. Vì vậy, có một mối quan hệ đan kết giữa:
a. The soul on its own plane.
a. Linh hồn trên cõi riêng của nó.
b. The astral body.
b. Thể cảm dục.
c. The solar plexus centre.
c. Trung tâm tùng thái dương.
This relationship has hitherto received little attention in connection with the Art of Dying. Nevertheless it warrants careful thought.
Cho đến nay, người ta ít chú ý đến mối quan hệ này trong Nghệ Thuật Chết. Tuy nhiên, nó đáng để suy ngẫm cẩn thận.
You will note that I am here dealing with the theme of death as it makes its presence felt through disease or through old age. I am not referring to death as it comes through war or accident, through murder or through suicide. These causes of death, and other causes, come under a totally different directive process: they may not even involve the karma of a man or his individual destiny, as in the case of war. Then vast numbers of people are killed. This has nothing to do with the Law of Cause and Effect as a factor in the soul career of any individual. It is not an act of restitution, planned by a particular soul as it works out its individual destiny. Death, through the destructive processes of war, is under the directive and cyclic intention of the planetary Logos, working through the Council Chamber at Shamballa. The Beings Who there direct world processes [432] know that a time has come when the relation between planetary evil and the Forces of Light or of Good have reached a point of “explosive antagonism” (as it is called). This must be given free rein if the divine purpose is to work out unarrested. The explosion is therefore permitted; nevertheless, all the time a controlling factor is present, even though unrealised by man. Because these Beings (Who work out the will of God) are in no way identified with form life, they have consequently a just appreciation of the relative importance of life in form; the destruction of forms is, to Them, not death in the sense that we understand it, but simply and solely a process of liberation. It is the limited vision of those identified with form which has so consistently nurtured the fear of death. The cycle in which we now live has seen the greatest destruction of human forms in the entire history of our planet. There has been no destruction of human beings. I would have you note this statement. Because of this wholesale destruction, humanity has made a very rapid advance towards a more serene attitude in connection with death. This is not yet apparent but—in a few years’ time—the new attitude will begin to be marked and the fear of death will begin to die out in the world. This will also be largely due to the increased sensitivity of the human response apparatus, leading to a turning inward or to a new orientation of the human mind, with unpredictable results.
Các bạn sẽ nhận thấy rằng ở đây Tôi đang bàn đến chủ đề cái chết khi nó biểu lộ qua bệnh tật hay tuổi già. Tôi không đề cập đến cái chết do chiến tranh hay tai nạn, do giết người hay tự sát. Những nguyên nhân gây chết này, cùng các nguyên nhân khác, thuộc một tiến trình chỉ đạo hoàn toàn khác: chúng thậm chí có thể không liên quan đến nghiệp quả hay vận mệnh cá nhân của một người, như trong trường hợp chiến tranh. Khi ấy, vô số người thiệt mạng. Điều này không liên quan đến Định luật Nhân Quả với tư cách một yếu tố trong hành trình linh hồn của bất kỳ cá nhân nào. Nó không phải là một hành động hoàn nguyên do một linh hồn cụ thể hoạch định khi thực hiện vận mệnh cá nhân của mình. Cái chết qua các tiến trình hủy diệt của chiến tranh nằm dưới ý định chỉ đạo và mang tính chu kỳ của Hành Tinh Thượng đế, hoạt động qua Phòng Hội Đồng tại Shamballa. Các Đấng chỉ đạo những tiến trình thế giới tại đó [432] biết rằng đã đến lúc mối quan hệ giữa cái ác trên hành tinh và các Mãnh Lực Ánh Sáng hay Thiện Lành đạt tới điểm “đối kháng bùng nổ” (như người ta gọi). Phải để điều này diễn ra tự do thì Thiên Ý mới có thể thực hiện mà không bị ngăn trở. Vì vậy, sự bùng nổ được cho phép; tuy nhiên, luôn luôn có một yếu tố kiểm soát hiện diện, dù con người không nhận biết. Vì các Đấng này (Các Ngài thực hiện Ý Chí của Thượng Đế) hoàn toàn không đồng hoá với sự sống hình tướng, nên Các Ngài đánh giá đúng tầm quan trọng tương đối của sự sống trong hình tướng; đối với Các Ngài, sự hủy diệt các hình tướng không phải là cái chết theo cách chúng ta hiểu, mà chỉ thuần túy là một tiến trình giải thoát. Chính tầm nhìn hạn hẹp của những người đồng hoá với hình tướng đã không ngừng nuôi dưỡng nỗi sợ chết. Chu kỳ mà chúng ta hiện đang sống đã chứng kiến sự hủy diệt hình tướng con người lớn nhất trong toàn bộ lịch sử hành tinh chúng ta. Không có sự hủy diệt con người. Tôi muốn các bạn lưu ý lời khẳng định này. Do sự hủy diệt trên quy mô lớn ấy, nhân loại đã tiến rất nhanh tới một thái độ tĩnh lặng hơn đối với cái chết. Điều này chưa biểu lộ rõ, nhưng trong vài năm nữa, thái độ mới sẽ bắt đầu trở nên rõ rệt và nỗi sợ chết sẽ bắt đầu tiêu tan trên thế giới. Điều này cũng phần lớn là nhờ độ nhạy cảm ngày càng tăng của bộ máy đáp ứng nơi con người, dẫn đến sự hướng vào bên trong hay một định hướng mới của thể trí con người, với những kết quả không thể đoán trước.
The basis of all wars is fundamentally the sense of separateness. This fundamental individualism or pleased recognition of isolationism leads to all the secondary causes of war: greed, producing economic disaster; hatred, producing national and international friction; cruelty, producing pain and death. The roots of death are therefore deep-seated; it is the destruction of the cycle of separateness as an individual upon the physical plane which we call death [433] in the usual sense; consequently death is a process of at-one-ment. Could you but see a little further into the matter, you would learn that death releases the individualised life into a less cramped and confined existence, and eventually—when the death process has been applied to all the three vehicles in the three worlds—into the life of universality. This is a point of inexpressible bliss.
Về căn bản, nền tảng của mọi cuộc chiến tranh là ý thức chia rẽ. Chủ nghĩa cá nhân căn bản này, hay sự hài lòng khi nhận thấy mình biệt lập, dẫn đến mọi nguyên nhân thứ yếu của chiến tranh: lòng tham gây ra thảm họa kinh tế; lòng hận thù gây ra xung đột quốc gia và quốc tế; sự tàn ác gây ra đau đớn và chết chóc. Vì vậy, cội rễ của cái chết ăn sâu; chính sự hủy diệt chu kỳ tồn tại biệt lập của một cá nhân trên cõi hồng trần là điều chúng ta gọi là cái chết [433] theo nghĩa thông thường; do đó, cái chết là một tiến trình hợp nhất. Nếu có thể nhìn sâu hơn đôi chút vào vấn đề này, các bạn sẽ biết rằng cái chết giải phóng sự sống đã biệt ngã hóa vào một trạng thái hiện tồn ít chật hẹp và gò bó hơn, và cuối cùng—khi tiến trình chết đã áp dụng cho cả ba hiện thể trong ba cõi giới—vào sự sống phổ quát. Đây là một trạng thái chí phúc không thể diễn tả.
The Law of Attraction governs the process of dying, as it governs all else in manifestation. It is the principle of coherency which, under the balanced integration of the whole body, preserves it intact, stabilises its rhythm and cyclic life processes and relates its varied parts to each other. It is the major coordinating principle within all forms, for it is the primary expression (within the soul) of the first aspect of divinity, the will aspect. This statement may surprise you, accustomed as you are to regard the Law of Attraction as an expression of the second aspect, love-wisdom. This attractive principle is found in all forms, from the tiny form of the atom to that form, the planet Earth, through which our planetary Logos expresses Himself. But if it is the principle of coherency and the cause of integration, it is also the medium through which “restitution” is brought about and by which the human soul is periodically reabsorbed into the overshadowing soul. This aspect of the Law of Attraction has, as yet, received little attention. The reason is that it concerns the highest expression of that Law, and is therefore related to the will aspect of Deity, as also the will aspect of the Monad. Only as the Shamballic force proceeds with its more direct work in the coming cycle, and men begin to discriminate (as they must and will) between self-will and the spiritual will, between determination, intention, plan, purpose, and fixed polarisation, will clarification come. The Law of Attraction has (as all else in manifestation) [434] three phases or aspects, each related to the three divine aspects:
Định luật Hấp Dẫn chi phối tiến trình chết, cũng như chi phối mọi điều khác trong sự biểu hiện. Đó là nguyên khí cố kết, nhờ sự tích hợp cân bằng của toàn bộ thân thể mà giữ cho thân thể nguyên vẹn, ổn định nhịp điệu và các tiến trình sống theo chu kỳ của nó, đồng thời liên kết các bộ phận khác nhau của nó với nhau. Đây là nguyên khí phối hợp chủ yếu bên trong mọi hình tướng, vì nó là biểu hiện sơ khởi (bên trong linh hồn) của phương diện thứ nhất của thiên tính, phương diện ý chí. Lời khẳng định này có thể khiến các bạn ngạc nhiên, vì các bạn đã quen xem Định luật Hấp Dẫn là một biểu hiện của phương diện thứ hai, Bác Ái – Minh Triết. Nguyên khí hấp dẫn này hiện diện trong mọi hình tướng, từ hình tướng nhỏ bé của nguyên tử đến hình tướng là hành tinh Trái Đất, qua đó Hành Tinh Thượng đế của chúng ta biểu hiện chính Ngài. Nhưng nếu nó là nguyên khí cố kết và nguyên nhân của sự tích hợp, thì nó cũng là phương tiện để thực hiện “hoàn nguyên” và để linh hồn con người định kỳ tái hấp thu vào linh hồn phủ bóng. Cho đến nay, phương diện này của Định luật Hấp Dẫn ít được chú ý. Lý do là nó liên quan đến biểu hiện cao nhất của Định luật ấy, và do đó liên hệ với phương diện ý chí của Thượng đế, cũng như phương diện ý chí của chân thần. Chỉ khi mãnh lực Shamballa tiến hành công việc trực tiếp hơn trong chu kỳ sắp tới, và con người bắt đầu phân biện (như họ phải làm và sẽ làm) giữa ý chí cá nhân và ý chí tinh thần, giữa sự quyết tâm, ý định, kế hoạch, mục đích và sự phân cực cố định, thì sự sáng tỏ mới đến. Định luật Hấp Dẫn có (như mọi điều khác trong sự biểu hiện) [434] ba giai đoạn hay phương diện, mỗi phương diện liên hệ với một trong ba phương diện thiêng liêng:
1. It relates life and form, spirit and matter—the third aspect.
1. Nó liên kết sự sống và hình tướng, tinh thần và vật chất—phương diện thứ ba.
2. It governs the coherent integrative process which produces forms—the second aspect.
2. Nó chi phối tiến trình tích hợp có tính cố kết tạo ra các hình tướng—phương diện thứ hai.
3. It brings about the imbalance which results in the act of disintegration, thus overcoming form—as far as the human being is concerned—and brings this about in three phases to which we have given the names:
3. Nó gây ra sự mất cân bằng dẫn đến hành động tan rã, nhờ đó vượt thắng hình tướng—xét đối với con người—và thực hiện điều này qua ba giai đoạn mà chúng ta đã đặt tên là: