Trích nội dung chương
a. Restitution, resulting in the dissolution of the body and the return of its elements, atoms and cells, to their originating source. a. Hoàn nguyên, dẫn đến sự phân rã của thân thể và sự trở về nguồn gốc của các nguyên tố, nguyên tử và tế bào cấu thành nó.
a. Restitution, resulting in the dissolution of the body and the return of its elements, atoms and cells, to their originating source.
a. Hoàn nguyên, dẫn đến sự phân rã của thân thể và sự trở về nguồn gốc của các nguyên tố, nguyên tử và tế bào cấu thành nó.
b. Elimination, involving the same basic process in relation to the forces which have constituted the astral body and the mental vehicle.
b. Loại bỏ, bao hàm cùng một tiến trình căn bản đối với các mãnh lực đã cấu thành thể cảm dục và hiện thể trí tuệ.
c. Absorption, the mode whereby the human soul is integrated into its originating source, the overshadowing, universal soul. This is an expression of the first aspect.
c. Hấp thu, phương thức qua đó linh hồn con người tích hợp vào nguồn gốc của mình, linh hồn phổ quát phủ bóng. Đây là một biểu hiện của phương diện thứ nhất.
All these phases, rightly understood, illustrate or demonstrate the unique potency of the Law of Attraction and its relation to the Law of Synthesis, which governs the first divine aspect. Integration eventually produces synthesis. The many cyclic integrations which are carried forward in the great life cycle of an incarnating soul lead to the final synthesis of spirit and soul, which is the goal of the evolutionary process where humanity is concerned. After the third initiation, this results in the complete liberation of the man from the “pull” of substance in the three worlds and in his consequent ability to wield, with full understanding, the Law of Attraction in its various phases, as far as [435] the creative process is involved. Other phases will then be later mastered.
Nếu thấu hiểu đúng, tất cả những giai đoạn này đều minh họa hay chứng minh quyền năng độc đáo của Định luật Hấp Dẫn và mối quan hệ của nó với Định luật Tổng Hợp, vốn chi phối phương diện thiêng liêng thứ nhất. Cuối cùng, sự tích hợp tạo ra sự tổng hợp. Nhiều lần tích hợp theo chu kỳ diễn ra trong chu kỳ sống lớn của một linh hồn đang lâm phàm dẫn đến sự tổng hợp cuối cùng giữa tinh thần và linh hồn, vốn là mục tiêu của tiến trình tiến hoá đối với nhân loại. Sau lần điểm đạo thứ ba, điều này dẫn đến sự giải thoát hoàn toàn của con người khỏi “sức hút” của chất liệu trong ba cõi giới, và do đó y có khả năng vận dụng Định luật Hấp Dẫn trong các giai đoạn khác nhau của nó với sự thấu hiểu đầy đủ, trong phạm vi [435] tiến trình sáng tạo. Sau đó, y sẽ dần làm chủ những giai đoạn khác.
One point must be borne in mind. The words “earth to earth and dust to dust,” so familiar in the burial rituals of the Occident, refer to this act of restitution and connote the return of the physical body elements to the original reservoir of matter, and of the substance of the vital form to the general etheric reservoir; the words “the spirit shall return unto God who gave it” are a distorted reference to the absorption of the soul by the universal soul. The ordinary rituals, however, fail to emphasise that it is that individualised soul, in process of reabsorption, which institutes and orders, by an act of the spiritual will, that restitution. It is forgotten in the West that this “order to restore” has been given with great frequency down the ages by every soul within a physical form; in so doing, steadily and inevitably, the first divine aspect—the Monad on its own plane—is tightening its hold upon its body of manifestation, via its reflection, the soul. Thus the will aspect comes increasingly into play until, upon the Path of Discipleship, spiritual determination is brought to its highest point of development and, upon the Path of Initiation, the will begins to function consciously. It is worth remembering, is it not, that it is in the deliberate issuing of the command by the soul upon its own plane to its shadow in the three worlds that the soul learns to express the first and highest aspect of divinity, and this at first, and for a very long time, solely through the process of death. The difficulty at present is that relatively few people are soul-conscious, and consequently most men remain unaware of the “occult commands” of their own souls. As humanity becomes soul-conscious (and this will be one of the results of the agony of the present war), death will be seen as an “ordered” process, carried out in full consciousness and with understanding of [436] cyclic purpose. This will naturally end the fear at present rampant, and will also arrest the tendency to suicide, evidenced increasingly in these difficult times. The sin of murder is in reality based upon the fact that it interferes with soul-purpose, and not really upon the killing of a particular human physical body. That is also why war is not murder, as many well-meaning fanatics consider it; it is the destruction of forms with the beneficent intent (if one could scrutinise divine purpose) of the planetary Logos. However, it is the motives of the originators of war on the physical plane which make them evil. If war did not take place, the planetary life would, through what we call “acts of God,” call back the souls of men on a large scale in line with His loving intention. When evil men precipitate a war, He brings good out of evil.
Cần ghi nhớ một điểm. Những lời “đất trở về đất và bụi trở về bụi”, rất quen thuộc trong các nghi thức mai táng của phương Tây, đề cập đến hành động hoàn nguyên này và hàm ý các nguyên tố của thể xác trở về kho dự trữ vật chất ban đầu, còn chất liệu của hình tướng sinh lực trở về kho dự trữ dĩ thái chung; những lời “tinh thần sẽ trở về với Thượng đế, Đấng đã ban nó” là một cách đề cập sai lệch đến việc linh hồn phổ quát hấp thu linh hồn. Tuy nhiên, các nghi thức thông thường không nhấn mạnh rằng chính linh hồn đã biệt ngã hóa ấy, trong tiến trình tái hấp thu, khởi xướng và ra lệnh thực hiện sự hoàn nguyên đó bằng một hành động của ý chí tinh thần. Ở phương Tây, người ta quên rằng qua các thời đại, mỗi linh hồn trong một hình tướng hồng trần đã rất nhiều lần ban “mệnh lệnh hoàn trả” này; khi làm như vậy, một cách đều đặn và tất yếu, phương diện thiêng liêng thứ nhất—chân thần trên cõi riêng của nó—đang siết chặt sự nắm giữ đối với thân thể biểu hiện của mình, qua hình ảnh phản chiếu của nó là linh hồn. Như vậy, phương diện ý chí ngày càng phát huy tác dụng cho đến khi, trên Con Đường Đệ Tử, sự quyết tâm tinh thần đạt đến đỉnh cao phát triển và, trên Con Đường Điểm Đạo, ý chí bắt đầu hoạt động một cách có ý thức. Điều đáng ghi nhớ, chẳng phải vậy sao, là chính khi linh hồn trên cõi riêng của mình chủ động ban mệnh lệnh cho cái bóng của nó trong ba cõi giới, linh hồn học cách biểu hiện phương diện thứ nhất và cao nhất của thiên tính; lúc đầu, và trong một thời gian rất dài, nó chỉ làm điều này qua tiến trình chết. Khó khăn hiện nay là tương đối ít người có tâm thức linh hồn, và do đó phần lớn con người vẫn không biết đến những “mệnh lệnh huyền bí” của chính linh hồn mình. Khi nhân loại có tâm thức linh hồn (và đây sẽ là một trong những kết quả của nỗi thống khổ trong cuộc chiến hiện tại), cái chết sẽ được nhìn nhận như một tiến trình “theo mệnh lệnh”, thực hiện trong tâm thức đầy đủ và với sự thấu hiểu [436] mục đích theo chu kỳ. Điều này tất nhiên sẽ chấm dứt nỗi sợ hiện đang lan tràn, đồng thời ngăn chặn khuynh hướng tự sát ngày càng biểu lộ trong thời kỳ khó khăn này. Tội giết người thực ra dựa trên việc nó can thiệp vào mục đích của linh hồn, chứ không thực sự dựa trên việc giết một thể xác con người cụ thể. Đó cũng là lý do vì sao chiến tranh không phải là giết người, như nhiều người cuồng tín có thiện ý vẫn nghĩ; đó là sự hủy diệt hình tướng với ý định mang lại điều lành của Hành Tinh Thượng đế (nếu người ta có thể xem xét thấu đáo Thiên Ý). Tuy nhiên, chính động cơ của những kẻ khởi xướng chiến tranh trên cõi hồng trần khiến họ trở nên ác. Nếu chiến tranh không xảy ra, sự sống hành tinh, qua những gì chúng ta gọi là “hành động của Thượng đế”, sẽ gọi các linh hồn con người trở về trên quy mô lớn, phù hợp với ý định đầy bác ái của Ngài. Khi những kẻ ác châm ngòi chiến tranh, Ngài đem điều thiện ra từ điều ác.
You can see, therefore, why the occult sciences lay the emphasis upon cyclic law, and why there is a growing interest in the Science of Cyclic Manifestation. Death appears frequently to be so purposeless; that is because the intention of the soul is not known; past development, through the process of incarnation, remains a hidden matter; ancient heredities and environments are ignored, and recognition of the voice of the soul is not yet generally developed. These are matters, however, which are on the very verge of recognition; revelation is on its way, and for that I am laying the foundation.
Vì vậy, các bạn có thể thấy tại sao các khoa học huyền bí nhấn mạnh định luật chu kỳ, và tại sao người ta ngày càng quan tâm đến Khoa Học về Sự Biểu Hiện Theo Chu Kỳ. Cái chết thường có vẻ vô mục đích đến thế; đó là vì ý định của linh hồn chưa được biết đến; sự phát triển trong quá khứ qua tiến trình lâm phàm vẫn là điều ẩn giấu; những di truyền và môi trường từ xa xưa bị bỏ qua, còn khả năng nhận biết tiếng nói của linh hồn nhìn chung chưa phát triển. Tuy nhiên, những điều này đang ở ngay ngưỡng cửa của sự nhận biết; sự mặc khải đang đến, và Tôi đang đặt nền móng cho điều đó.
I am anxious for you to grasp the teaching I have already given before we proceed to that which is explanatory or new. Study it with care so that the theme of death can more surely and more sanely take shape in your mind. Seek to arrive at a new slant upon the subject and see law and purpose and the beauty of intention in what has hitherto been a terror and a major fear.
Tôi mong các bạn nắm vững giáo huấn Tôi đã trình bày trước khi chúng ta đi tiếp đến những điều mang tính giải thích hay mới mẻ. Hãy nghiên cứu kỹ để chủ đề cái chết có thể định hình trong thể trí các bạn một cách chắc chắn và sáng suốt hơn. Hãy tìm một góc nhìn mới về chủ đề này, và nhận thấy định luật, mục đích cùng vẻ đẹp của ý định trong điều mà cho đến nay vẫn là một nỗi kinh hoàng và một nỗi sợ lớn.
[437]
[437]
Later I shall endeavour to give you some glimpse of the death process as the soul registers it, when undertaking the act of restitution. To you, what I say may appear as speculative or hypothetical; in any case it will be a statement of which few of you will be in a position to prove the accuracy. But surely, brother of mine, it may be more sane and wholesome, more sound and beautiful, than the present darkness and sick hope, and the unhappy speculation and oft despair which overshadows every death bed at this time.
Về sau, Tôi sẽ cố gắng giúp các bạn thoáng thấy tiến trình chết như linh hồn ghi nhận khi thực hiện hành động hoàn nguyên. Đối với các bạn, những gì Tôi nói có thể mang vẻ suy đoán hay giả thuyết; dù sao đi nữa, đó cũng sẽ là một lời trình bày mà ít người trong các bạn có khả năng chứng minh tính chính xác. Nhưng hỡi huynh đệ của tôi, chắc hẳn điều ấy có thể sáng suốt và lành mạnh hơn, vững chắc và đẹp đẽ hơn bóng tối hiện tại cùng niềm hy vọng yếu ớt, những suy đoán bất an và nỗi tuyệt vọng thường phủ bóng lên mỗi giường hấp hối ngày nay.
1. THE NATURE OF DEATH – 1. BẢN CHẤT CỦA CÁI CHẾT
EXCERPTS FROM OTHER WRITINGS
TRÍCH TỪ CÁC TÁC PHẨM KHÁC
The whole must be seen as of more vital importance than the part, and this not as a dream, a vision, a theory a process of wishful thinking, a hypothesis or an urge. It is realised as an innate necessity and as inevitable. It connotes death, but death as beauty, as joy, as spirit in action, as the consummation of all good.
Cần thấy rằng toàn thể có tầm quan trọng sống còn hơn bộ phận, và điều này không phải là một giấc mơ, một linh ảnh, một lý thuyết, một tiến trình suy nghĩ theo mong ước, một giả thuyết hay một thôi thúc. Nó được nhận biết như một sự cần thiết nội tại và tất yếu. Nó hàm ý cái chết, nhưng cái chết như vẻ đẹp, như sự hoan hỉ, như tinh thần đang hành động, như sự viên mãn của mọi điều thiện.
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.
Luận về Bảy Cung. Tập V.
Death, if we could but realise it, is one of our most practised activities. We have died many times and shall die again and again. Death is essentially a matter of consciousness. We are conscious one moment on the physical plane, and a moment later we have withdrawn into another plane and are actively conscious there. Just as long as our consciousness is identified with the form aspect, death will hold for us its ancient terror. Just as soon as we know ourselves to be souls, and find that we are capable of focussing our consciousness or sense of awareness in any forms or on any plane at will, or in any direction within the form of God, we will no longer know death.
Nếu có thể nhận ra, cái chết là một trong những hoạt động mà chúng ta đã thực hành nhiều nhất. Chúng ta đã chết nhiều lần và sẽ còn chết hết lần này đến lần khác. Về bản chất, cái chết là vấn đề tâm thức. Một khoảnh khắc, chúng ta có tâm thức trên cõi hồng trần, và khoảnh khắc sau, chúng ta đã rút vào một cõi khác và có tâm thức hoạt động ở đó. Chừng nào tâm thức chúng ta còn đồng hoá với phương diện hình tướng, cái chết vẫn giữ nguyên nỗi kinh hoàng từ xa xưa đối với chúng ta. Ngay khi biết mình là linh hồn và nhận thấy mình có khả năng tùy ý tập trung tâm thức hay khả năng nhận biết vào bất kỳ hình tướng nào, trên bất kỳ cõi nào, hay theo bất kỳ hướng nào bên trong hình tướng của Thượng đế, chúng ta sẽ không còn biết đến cái chết.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 494
Luận về Chánh Thuật, trang 494
[438]
[438]
Ponder, therefore, upon this doctrine of abstraction. It covers all life processes and will convey to you the eternally lovely secret of Death which is entrance into life.
Vì vậy, hãy suy ngẫm về giáo lý triệt thoái này. Nó bao quát mọi tiến trình sống và sẽ truyền đạt cho các bạn bí mật đẹp đẽ vĩnh cửu của Cái Chết, vốn là lối vào sự sống.
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.
Luận về Bảy Cung. Tập V.
In this Rule, two main ideas are to be found, both of them connected with the first divine aspect: the thought of DEATH and the nature of the WILL. In the coming century, death and the will most inevitably will be seen to have new meanings to humanity and many of the old ideas will vanish. Death to the average thinking man is a point of catastrophic crisis. It is the cessation and the ending of all that has been loved, all that is familiar and to be desired; it is a crashing entrance into the unknown, into uncertainty, and abrupt conclusion of all plans and projects. No matter how much true faith in the spiritual values may be present, no matter how clear the rationalising of the mind may be anent immortality, no matter how conclusive the evidence of persistence and eternity, there still remains a questioning, a recognition of the possibility of complete finality and negation, and an end of all activity, of all heart reaction, of all thought, emotion, desire, aspiration and the intentions which focus around the central core of man’s being. The longing and the determination to persist and the sense of continuity still rest, even to the most determined believer, upon probability, upon an unstable foundation and upon the testimony of others—who have never in reality returned to tell the truth. The emphasis of all thought on this subject concerns the central “I” or the integrity of Deity.
Trong quy luật này có hai ý tưởng chính, cả hai đều liên quan đến phương diện thiêng liêng thứ nhất: tư tưởng về CÁI CHẾT và bản chất của Ý CHÍ. Trong thế kỷ tới, tất yếu nhân loại sẽ nhận thấy cái chết và ý chí mang những ý nghĩa mới, và nhiều ý tưởng cũ sẽ biến mất. Đối với người biết suy nghĩ ở mức trung bình, cái chết là một thời điểm khủng hoảng thảm khốc. Đó là sự ngừng lại và kết thúc của tất cả những gì từng được yêu thương, tất cả những gì quen thuộc và đáng mong muốn; đó là sự xông vào dữ dội trong cái chưa biết, trong sự bất định, và là sự kết thúc đột ngột của mọi kế hoạch, dự định. Dù có bao nhiêu đức tin chân thực vào các giá trị tinh thần, dù lý luận của thể trí về sự bất tử có rõ ràng đến đâu, dù bằng chứng về sự tồn tại bền bỉ và vĩnh cửu có xác đáng đến mức nào, vẫn còn đó một sự hoài nghi, một sự nhận biết về khả năng chấm dứt hoàn toàn và phủ định tất cả, về sự kết thúc của mọi hoạt động, mọi đáp ứng của trái tim, mọi tư tưởng, cảm xúc, dục vọng, khát vọng và ý định tập trung quanh cốt lõi trung tâm của sự hiện tồn con người. Ngay cả đối với người có đức tin kiên định nhất, niềm khao khát và quyết tâm tiếp tục tồn tại cùng ý thức về tính liên tục vẫn dựa trên khả năng có thể xảy ra, trên một nền tảng thiếu vững chắc và trên lời chứng của những người khác—những người thực ra chưa bao giờ trở về để kể lại sự thật. Trọng tâm của mọi suy nghĩ về chủ đề này liên quan đến cái “Tôi” trung tâm hay tính toàn vẹn của Thượng đế.
You will note that in this Rule, the emphasis shifts from the “I” to the constituent parts which form the garment of the Self, and this is a point worth noting. The information given to the disciple is to work for the dissipation of this garment and for the return of the lesser lives to the general [439] reservoir of living substance. The ocean of Being is nowhere referred to. Careful thought will here show that this ordered process of detachment, which the group life makes effective in the case of the individual, is one of the strongest arguments for the fact of continuity and for individual, identifiable persistence. Note these words. The focus of activity shifts from the active body to the active entity within that body, the master of his surroundings, the director of his possessions and the one who is the breath itself, despatching the lives to the reservoir of substance or recalling them at will to resume their relation to him.
Các bạn sẽ nhận thấy rằng trong quy luật này, trọng tâm chuyển từ cái “Tôi” sang các thành phần cấu tạo nên lớp áo của Bản Ngã, và đây là một điểm đáng lưu ý. Huấn thị dành cho đệ tử là hãy hoạt động để làm tiêu tan lớp áo này và đưa các sự sống nhỏ bé trở về kho dự trữ [439] chất liệu sống chung. Không chỗ nào đề cập đến đại dương Bản Thể. Suy ngẫm cẩn thận ở đây sẽ cho thấy tiến trình tách rời theo mệnh lệnh này, mà sự sống nhóm làm cho có hiệu lực đối với cá nhân, là một trong những luận cứ mạnh mẽ nhất cho sự thực về tính liên tục và sự tồn tại bền bỉ của cá nhân có thể nhận diện. Hãy lưu ý những lời này. Tiêu điểm hoạt động chuyển từ thân thể đang hoạt động sang thực thể đang hoạt động bên trong thân thể ấy, chủ nhân của môi trường xung quanh mình, người chỉ đạo những gì mình sở hữu và là chính hơi thở, tùy ý phái các sự sống trở về kho dự trữ chất liệu hoặc gọi chúng trở lại để nối lại quan hệ với mình.
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.
Luận về Bảy Cung. Tập V.
First of all that the Eternal Pilgrim, of his own free will and accord, chose “occultly” to die and took a body or series of bodies in order to raise or elevate the lives of the form nature which he embodied; in the process of so doing, he himself “died” in the sense that, for a free soul, death and the taking of a form and the consequent immersion of the life in the form, are synonymous terms.
Trước hết, Lữ Khách Vĩnh Cửu, hoàn toàn tự do và tự nguyện, đã chọn chết “theo nghĩa huyền bí” và khoác lấy một thân thể hay một loạt thân thể để nâng cao các sự sống thuộc bản chất hình tướng mà mình hiện thân; trong tiến trình ấy, chính y đã “chết”, theo nghĩa đối với một linh hồn tự do, cái chết và việc khoác lấy một hình tướng, cùng sự đắm chìm của sự sống trong hình tướng sau đó, là những thuật ngữ đồng nghĩa.
Secondly, that in so doing, the soul is recapitulating on a small scale what the solar Logos and the planetary Logos have likewise done, and are doing. The great Lives come under the rule of these laws of the soul during the period of manifestation, even though They are not governed or controlled by the laws of the natural world, as we call it. Their consciousness remains unidentified with the world of phenomena, though ours is identified with it until such time that we come under the rule of the higher laws. By the occult “death” of these great Lives, all lesser lives can live and are proffered opportunity.
Thứ hai, khi làm như vậy, linh hồn đang tái diễn trên quy mô nhỏ những gì Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng đế cũng đã làm và đang làm. Các Sự Sống Vĩ Đại chịu sự chi phối của những định luật linh hồn này trong thời kỳ biểu hiện, dù Các Ngài không chịu sự chi phối hay kiểm soát của các định luật thuộc thế giới tự nhiên, như chúng ta gọi. Tâm thức Các Ngài vẫn không đồng hoá với thế giới hiện tượng, trong khi tâm thức chúng ta đồng hoá với nó cho đến khi chúng ta chịu sự chi phối của những định luật cao hơn. Nhờ “cái chết” huyền bí của các Sự Sống Vĩ Đại này, mọi sự sống nhỏ bé hơn đều có thể sống và được trao cơ hội.
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS. VOL. V.
Luận về Bảy Cung. Tập V.
The forces of death are abroad today, but it is the death of liberty, the death of free speech, the death of [440] freedom in human action, the death of truth and of the higher spiritual values. These are the vital factors in the life of humanity. The death of the physical form is a negligible factor in relation to these and is easily righted again through the processes of rebirth and of fresh opportunity....The destruction of the form in battle is of small importance to those who know that reincarnation is a basic law of nature and that there is no death.
Ngày nay, những mãnh lực của cái chết đang hoành hành, nhưng đó là cái chết của tự do, cái chết của tự do ngôn luận, cái chết của [440] tự do hành động của con người, cái chết của chân lý và những giá trị tinh thần cao cả hơn. Đó là những yếu tố sống còn trong đời sống nhân loại. Cái chết của hình tướng hồng trần là một yếu tố không đáng kể so với những điều ấy, và có thể dễ dàng khắc phục qua các tiến trình tái sinh cùng cơ hội mới....Sự hủy diệt hình tướng trong chiến trận có tầm quan trọng nhỏ đối với những người biết rằng luân hồi là một định luật căn bản của tự nhiên và rằng không có cái chết.
JUNE MESSAGE, 1940.
Thông điệp tháng Sáu, 1940.
You say there are as yet only beliefs as to immortality, and no sure evidences. In the accumulation of testimony, in the inner assurances of the human heart, in the fact of belief in eternal persistence as an idea in the minds of men, lie sure indication. But indication will give place to conviction and knowledge before another hundred years has elapsed, for an event will take place and a revelation be given the race which will turn hope into certainty and belief into knowledge. In the meantime, let a new attitude to death be cultivated and a new science of death be inaugurated. Let it cease to be the one thing we cannot control and which inevitably defeats us, and let us begin to control our passing over to the other side, and to understand somewhat the technique of transition.
Các bạn nói rằng cho đến nay chỉ có những niềm tin về sự bất tử mà không có bằng chứng chắc chắn. Chính trong sự tích lũy lời chứng, trong những xác tín bên trong trái tim con người, trong sự thực rằng niềm tin vào sự tồn tại vĩnh cửu hiện diện như một ý tưởng trong thể trí con người, có những dấu hiệu chắc chắn. Nhưng trước khi một trăm năm nữa trôi qua, những dấu hiệu sẽ nhường chỗ cho sự xác tín và tri thức, vì một sự kiện sẽ xảy ra và một sự mặc khải sẽ đến với nhân loại, biến hy vọng thành sự chắc chắn và niềm tin thành tri thức. Trong lúc này, hãy vun bồi một thái độ mới đối với cái chết và khởi lập một khoa học mới về cái chết. Hãy để cái chết thôi là điều duy nhất chúng ta không thể kiểm soát và tất yếu đánh bại chúng ta, và hãy bắt đầu kiểm soát việc mình sang bên kia, đồng thời phần nào thấu hiểu kỹ thuật chuyển tiếp.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 500.
Luận về Chánh Thuật, trang 500.
All I plead for is a sane approach to death; all I seek to make is a suggestion that when pain has worn itself out and weakness has supervened, the dying person be permitted to prepare himself, even if apparently unconscious, for the great transition. Forget not that it takes strength and a strong hold on the nervous apparatus to produce pain. Is it impossible to conceive of a time when the act of dying will be a triumphant finale to life? Is it impossible [441] to vision the time when the hours spent on the death bed may be but a glorious prelude to a conscious exit? When the fact that the man is to discard the handicap of the physical sheath may be for him and those around him the long-waited-for and joyous consummation? Can you not visualise the time when, instead of tears and fears and the refusal to recognise the inevitable, the dying person and his friends would mutually agree on the hour, and that nothing but happiness would characterise the passing? That in the minds of those left behind the thought of sorrow will not enter and death beds shall be regarded as happier occasions than births and marriages? I tell you that, before so very long, this will be deeply so for the intelligent of the race, and little by little for all.
Tất cả những gì Tôi khẩn thiết mong mỏi là một cách tiếp cận sáng suốt đối với cái chết; tất cả những gì Tôi muốn đưa ra là một đề nghị rằng khi cơn đau đã cạn kiệt và sự suy yếu đã xuất hiện, hãy để người hấp hối tự chuẩn bị cho cuộc chuyển tiếp lớn lao, dù bề ngoài dường như không có ý thức. Đừng quên rằng việc tạo ra đau đớn đòi hỏi sức lực và sự nắm giữ mạnh mẽ đối với bộ máy thần kinh. Chẳng lẽ không thể hình dung một thời điểm khi hành động chết sẽ là một khúc kết khải hoàn của cuộc sống? Chẳng lẽ không thể [441] hình dung một thời điểm khi những giờ trên giường hấp hối chỉ là khúc dạo đầu huy hoàng cho một cuộc ra đi có ý thức? Khi việc một người sắp trút bỏ trở ngại của lớp vỏ xác thân có thể là sự viên mãn hân hoan mà y và những người xung quanh đã mong chờ từ lâu? Các bạn không thể hình dung một thời điểm khi, thay vì nước mắt, sợ hãi và sự khước từ thừa nhận điều tất yếu, người hấp hối và bạn bè sẽ cùng nhau thống nhất giờ ra đi, và cuộc ra đi ấy chỉ mang đặc trưng của niềm hạnh phúc hay sao? Khi trong thể trí những người ở lại không xuất hiện ý nghĩ đau buồn, và những dịp tiễn biệt bên giường hấp hối sẽ được xem là hạnh phúc hơn cả sinh nở và hôn lễ? Tôi nói với các bạn rằng chẳng bao lâu nữa, điều này sẽ trở thành sự thực sâu sắc đối với những người thông minh trong nhân loại, rồi dần dần đối với tất cả mọi người.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 499.
Luận về Chánh Thuật, trang 499.
It is interesting here to note that death is governed by the Principle of Liberation and not by that of Limitation. Death is only recognised as a factor to be dealt with by self-conscious lives and is only misunderstood by human beings, who are the most glamoured and deluded of all incarnated lives.
Ở đây, điều đáng chú ý là cái chết chịu sự chi phối của Nguyên Khí Giải Thoát chứ không phải Nguyên Khí Giới Hạn. Chỉ những sự sống có ngã thức mới nhận biết cái chết như một yếu tố cần xử lý, và chỉ con người mới hiểu sai về nó; trong tất cả những sự sống đang nhập thể, con người chìm sâu nhất trong ảo cảm và ảo tưởng.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 534.
Luận về Chánh Thuật, trang 534.
When the nature of true Service is comprehended, it will be found that it is an aspect of that divine energy which works always under the destroyer aspect, for it destroys the forms in order to release. Service is a manifestation of the Principle of Liberation, and of this principle, death and service constitute two aspects. Service saves, liberates and releases, on various levels, the imprisoned consciousness. The same statements can be made of death. But unless service can be rendered from an intuitive understanding of all the facts in the case, interpreted intelligently, and applied [442] in a spirit of love upon the physical plane, it fails to fulfill its mission adequately.
Khi thấu hiểu bản chất của sự Phụng Sự chân chính, người ta sẽ nhận thấy đó là một phương diện của năng lượng thiêng liêng luôn hoạt động dưới phương diện hủy diệt, vì nó hủy diệt các hình tướng để giải phóng. Phụng sự là một biểu hiện của Nguyên Khí Giải Thoát, và cái chết cùng sự phụng sự tạo thành hai phương diện của nguyên khí này. Phụng sự cứu rỗi, giải thoát và giải phóng tâm thức bị giam cầm trên nhiều cấp độ khác nhau. Cũng có thể nói như vậy về cái chết. Nhưng nếu sự phụng sự không xuất phát từ sự thấu hiểu bằng trực giác về mọi sự kiện trong trường hợp đang xét, được diễn giải một cách thông minh và áp dụng [442] trong tinh thần bác ái trên cõi hồng trần, thì nó không hoàn thành đầy đủ sứ mệnh của mình.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 537.
Luận về Chánh Thuật, trang 537.
Fear of Death.
Nỗi Sợ Chết.
The fear of death is based upon:
Nỗi sợ chết dựa trên:
a. A terror of the final rending processes in the act of death itself.
a. Nỗi kinh hoàng trước những tiến trình xé lìa cuối cùng trong chính hành động chết.
b. Horror of the unknown and the indefinable.
b. Nỗi khiếp sợ cái chưa biết và không thể xác định.
c. Doubt as to final immortality.
c. Sự nghi ngờ về sự bất tử sau cùng.
d. Unhappiness at leaving loved ones behind or of being left behind.
d. Nỗi đau buồn khi phải bỏ lại những người thân yêu hoặc khi chính mình bị bỏ lại.
e. Ancient reactions to past violent deaths, lying deep in the consciousness.
e. Những phản ứng từ xa xưa đối với các cái chết dữ dội trong quá khứ, nằm sâu trong tâm thức.
f. Clinging to form life, because primarily identified with it in consciousness.
f. Sự bám víu vào sự sống hình tướng, vì trong tâm thức chủ yếu đồng hoá với nó.
g. Old erroneous teaching as to Heaven and Hell, both equally unpleasant in prospect to certain types.
g. Những giáo huấn sai lầm cũ về Thiên Đường và Địa Ngục, mà viễn cảnh về cả hai đều khó chịu như nhau đối với một số loại người.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 300.
Luận về Chánh Thuật, trang 300.
As time progresses and before the close of the next century, death will be finally seen to be nonexistent in the sense in which it is now understood. Continuity of consciousness will be so widely developed, and so many of the highest types of men will function simultaneously in the two worlds, that the old fear will go and the intercourse between the astral plane and the physical plane will be so firmly established and so scientifically controlled that the work of the trance mediums will rightly and mercifully come to an end. The ordinary common trance mediumship and materialisations under controls and Indian guides are just as much perversions of the intercourse between the two planes as are sex perversions and the distortions of the [443] true relationship and intercourse between the sexes. I refer not here to the work of clairvoyants, no matter how poor, nor to the taking possession of the body by entities of high calibre, but of the unpleasant phenomena of the materialisation seance, of ectoplasm and the blind unintelligent work done by the old Atlantean degenerates and earthbound souls, the average Indian chief and guide. There is nothing to be learned from them, and much to be avoided.
Theo thời gian, và trước khi thế kỷ tới kết thúc, cuối cùng người ta sẽ thấy rằng cái chết không tồn tại theo nghĩa mà hiện nay người ta hiểu. Tính liên tục của tâm thức sẽ phát triển rộng rãi đến mức, và sẽ có nhiều người thuộc những loại cao nhất hoạt động đồng thời trong hai thế giới đến mức, nỗi sợ cũ sẽ biến mất; sự giao tiếp giữa cõi cảm dục và cõi hồng trần sẽ được thiết lập vững chắc và kiểm soát một cách khoa học đến mức công việc của các đồng tử xuất thần sẽ chấm dứt một cách đúng đắn và nhân ái. Thuật đồng tử xuất thần thông thường và những sự hiện hình dưới sự điều khiển của các vong linh kiểm soát và những người hướng dẫn bản địa châu Mỹ đều là những sự xuyên tạc việc giao tiếp giữa hai cõi, cũng như những sự lệch lạc tình dục và những sự bóp méo [443] mối quan hệ và giao tiếp chân chính giữa hai giới. Ở đây Tôi không đề cập đến công việc của các nhà thông nhãn, dù kém cỏi đến đâu, cũng không đề cập đến việc các thực thể có phẩm cấp cao chiếm hữu thân thể, mà nói đến những hiện tượng khó chịu trong buổi gọi hồn hiện hình, đến ngoại chất và công việc mù quáng, thiếu trí tuệ của những người Atlantis suy thoái từ xa xưa cùng các linh hồn còn bị ràng buộc với trần gian, những tù trưởng và người hướng dẫn bản địa châu Mỹ thuộc loại trung bình. Không có gì để học hỏi từ họ, và có nhiều điều cần tránh.
The reign of the fear of death is well-nigh ended and we shall soon enter upon a period of knowledge and of certainty which will cut the ground from under all our fears. In dealing with the fear of death, there is little to be done except to raise the whole subject onto a more scientific level, and—in this scientific sense—teach people to die. There is a technique of dying just as there is of living, but this technique has been lost—very largely in the West, and is almost lost, except in a few centres of Knowers in the East. More of this can perhaps be dealt with later, but the thought of the needed approach to this subject can rest in the minds of students who read this, and perhaps as they study and read and think, material of interest will come their way which could be gradually assembled and published.
Sự thống trị của nỗi sợ chết gần như đã chấm dứt, và chúng ta sẽ sớm bước vào một thời kỳ tri thức và xác tín, tước bỏ nền tảng của mọi nỗi sợ. Khi xử lý nỗi sợ chết, hầu như không có gì cần làm ngoài việc nâng toàn bộ chủ đề lên một cấp độ khoa học hơn và—theo ý nghĩa khoa học này—dạy con người cách chết. Có một kỹ thuật chết cũng như có một kỹ thuật sống, nhưng kỹ thuật này đã thất truyền—phần lớn ở phương Tây, và gần như thất truyền ở phương Đông, ngoại trừ một vài trung tâm của các thức giả. Có lẽ về sau có thể bàn thêm về điều này, nhưng ý tưởng về cách tiếp cận cần thiết đối với chủ đề này có thể lưu lại trong thể trí các đạo sinh đọc những dòng này; và có lẽ khi nghiên cứu, đọc và suy ngẫm, họ sẽ gặp những tư liệu đáng quan tâm, có thể dần dần tập hợp và xuất bản.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGES 301-302.
Luận về Chánh Thuật, trang 301-302.
Fear of death and depression constitute for man the Dweller on the Threshold in this age and cycle. Both of them indicate sentient reaction to psychological factors and cannot be dealt with by the use of another factor such as courage. They must be met by the omniscience of the soul, working through the mind—not by its omnipotence. In this is to be found an occult hint.
Nỗi sợ chết và sự trầm uất tạo thành Kẻ Chận Ngõ đối với con người trong thời đại và chu kỳ này. Cả hai đều biểu thị phản ứng cảm thụ đối với các yếu tố tâm lý, và không thể xử lý bằng cách sử dụng một yếu tố khác như lòng can đảm. Phải đối diện với chúng bằng sự toàn tri của linh hồn, hoạt động qua thể trí—chứ không bằng sự toàn năng của linh hồn. Chính trong điều này có một gợi ý huyền bí.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 309.
Luận về Chánh Thuật, trang 309.
The instinct of self-preservation has its roots in an innate fear of death; through the presence of this fear, the [444] race has fought its way to its present point of longevity and endurance.
Bản năng tự bảo tồn bắt nguồn từ nỗi sợ chết bẩm sinh; nhờ sự hiện diện của nỗi sợ này, [444] nhân loại đã đấu tranh để đạt tới mức độ trường thọ và sức chịu đựng hiện nay.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 626.
Luận về Chánh Thuật, trang 626.
Definition of Death.
Định Nghĩa về Cái Chết.
Death itself is a part of the Great Illusion, and only exists because of the veils we have gathered around ourselves.
Bản thân cái chết là một phần của Đại Ảo Tưởng, và chỉ tồn tại vì những bức màn mà chúng ta đã gom lại quanh mình.
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.
Luận về Bảy Cung, Tập V.
But people are apt to forget that every night in the hours of sleep we die to the physical plane and are alive and functioning elsewhere. They forget that they have already achieved facility in leaving the physical body; because they cannot as yet bring back into the physical brain consciousness the recollection of that passing out, and of the subsequent interval of active living, they fail to relate death and sleep. Death is, after all, only a longer interval in the life of physical plane functioning; one has only “gone abroad” for a longer period. But the process of daily sleep and the process of occasional dying are identical, with the one difference that in sleep the magnetic thread or current of energy along which the life force streams is preserved intact, and constitutes the path of return to the body. In death, this life thread is broken or snapped. When this has happened, the conscious entity cannot return to the dense physical body, and that body, lacking the principle of coherence, then disintegrates.
Nhưng con người thường quên rằng mỗi đêm, trong những giờ ngủ, chúng ta chết đối với cõi hồng trần và vẫn sống, hoạt động ở nơi khác. Họ quên rằng mình đã thành thạo việc rời khỏi thể xác; vì chưa thể mang ký ức về sự ra đi ấy và khoảng thời gian sống tích cực sau đó trở lại tâm thức của bộ não hồng trần, họ không liên hệ được cái chết với giấc ngủ. Xét cho cùng, cái chết chỉ là một khoảng gián đoạn dài hơn trong đời sống hoạt động trên cõi hồng trần; người ta chỉ “đi xa” trong một thời gian lâu hơn. Nhưng tiến trình ngủ hằng ngày và tiến trình chết thỉnh thoảng diễn ra là giống nhau, chỉ có một điểm khác biệt: trong giấc ngủ, sợi dây từ tính hay dòng năng lượng mà mãnh lực sự sống tuôn theo vẫn nguyên vẹn và tạo thành đường trở về thân thể. Khi chết, sợi dây sự sống này bị đứt hay cắt lìa. Khi điều này xảy ra, thực thể có ý thức không thể trở lại thể xác đậm đặc, và thể xác ấy, do thiếu nguyên khí cố kết, sẽ tan rã.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 494.
Luận về Chánh Thuật, trang 494.
The processes of abstraction are (as you may thus see) connected with the life aspect, are set in motion by an act of the spiritual will, and constitute the “resurrection principle which lies hidden in the work of the Destroyer,” as an old esoteric saying expresses it. The lowest manifestation [445] of this principle is to be seen in the process of what we call death—which is in reality a means of abstracting the life principle, informed by consciousness, from the form of the bodies in the three worlds.
Như các bạn có thể thấy, những tiến trình triệt thoái liên quan đến phương diện sự sống, do một hành động của ý chí tinh thần khởi động, và tạo thành “nguyên khí phục sinh ẩn giấu trong công việc của Đấng Hủy Diệt”, như một câu nói huyền bí cổ xưa diễn đạt. Biểu hiện thấp nhất [445] của nguyên khí này có thể thấy trong tiến trình mà chúng ta gọi là cái chết—thực ra là một phương tiện để rút nguyên khí sự sống, được tâm thức thấm nhuần, ra khỏi hình tướng của các thể trong ba cõi giới.
Thus, the great synthesis emerges and destruction, death, and dissolution are, in reality, naught but life processes. Abstraction is indicative of process, progress and development. It is this aspect of the Law of Life for the Law of Synthesis as it is called in certain larger connotations) with which the initiate specifically deals.
Như vậy, sự tổng hợp vĩ đại xuất hiện, và trên thực tế, sự hủy diệt, cái chết và sự tan rã chẳng qua chỉ là những tiến trình của sự sống. Sự thu hồi biểu thị tiến trình, tiến bộ và phát triển. Chính phương diện này của Định luật Sự Sống (hay Định luật Tổng Hợp, như được gọi trong một số ý nghĩa rộng lớn hơn) là điều mà điểm đạo đồ đặc biệt quan tâm.
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.
LUẬN VỀ BẢY CUNG, TẬP V.
Life is approached from the angle of the Observer, and not from that of a participator in actual experiment and experience in the three worlds (physical-emotional-mental)...if they are initiated disciples they are increasingly unaware of the activities and reactions of their personalities, because certain aspects of the lower nature are now so controlled and purified that they have dropped below the threshold of consciousness and have entered the world of instinct; therefore, there is no more awareness of them than a man asleep is conscious of the rhythmic functioning of his sleeping physical vehicle. This is a deep and largely unrealised truth. It is related to the entire process of death, and might be regarded as one of the definitions of death; it holds the clue to the mysterious words “the reservoir of life.” Death is in reality unconsciousness of that which may be functioning in some form or another, but in a form of which the spiritual entity is totally unaware. The reservoir of life is the place of death, and this is the first lesson the disciple learns....
Sự sống được tiếp cận từ góc độ của Người Quan Sát, chứ không phải của một người tham gia vào việc thử nghiệm và trải nghiệm thực tế trong ba cõi giới (hồng trần–cảm xúc–trí tuệ)...nếu họ là những đệ tử đã được điểm đạo, họ ngày càng ít nhận biết các hoạt động và phản ứng của phàm ngã mình, vì một số phương diện của bản chất thấp nay đã được kiểm soát và thanh lọc đến mức chìm xuống dưới ngưỡng tâm thức và đi vào thế giới bản năng; do đó, họ không còn nhận biết những hoạt động và phản ứng ấy, cũng như một người đang ngủ không nhận biết hoạt động nhịp nhàng của vận cụ hồng trần đang ngủ của mình. Đây là một chân lý sâu sắc mà phần lớn vẫn chưa được nhận ra. Nó liên quan đến toàn bộ tiến trình chết và có thể được xem là một trong những định nghĩa về cái chết; nó chứa đựng manh mối để hiểu những lời huyền nhiệm “kho chứa sự sống”. Trên thực tế, cái chết là sự không nhận biết một điều gì đó có thể đang hoạt động dưới hình thức này hay hình thức khác, nhưng trong một hình tướng mà thực thể tinh thần hoàn toàn không nhận biết. Kho chứa sự sống là nơi của cái chết, và đây là bài học đầu tiên mà đệ tử học được....
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.
LUẬN VỀ BẢY CUNG, TẬP V.
Purposes of Death.
Những mục đích của cái chết.
Through death, a great at-one-ing process is carried [446] forward; in the “fall of a leaf” and its consequent identification with the soil on which it falls, we have a tiny illustration of this great and eternal process of at-one-ing, through becoming and dying as a result of becoming.
Thông qua cái chết, một tiến trình hợp nhất vĩ đại được tiếp tục [446]; trong “sự rơi của một chiếc lá” và sự đồng hóa tiếp theo của nó với đất nơi nó rơi xuống, chúng ta có một minh họa nhỏ bé về tiến trình hợp nhất vĩ đại và vĩnh cửu này, thông qua sự trở thành và cái chết do sự trở thành mang lại.
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. II, PAGE 173.
LUẬN VỀ BẢY CUNG, TẬP II, TRANG 173.
I speak about Death as one who knows the matter from the outer world experience and the inner life expression: There is no death. There is, as you know, entrance into fuller life. There is freedom from the handicaps of the fleshly vehicle. The rending process so much dreaded does not exist, except in the cases of violent and sudden death, and then the only true disagreeables are an instant and overwhelming sense of imminent peril and destruction and something closely approaching an electric shock. No more. For the unevolved, death is literally a sleep and a forgetting, for the mind is not sufficiently awakened to react, and the storehouse of memory is as yet practically empty. For the average good citizen, death is a continuance of the living process in his consciousness and a carrying forward of the interests and tendencies of the life. His consciousness and his sense of awareness are the same and unaltered. He does not sense much difference, is well taken care of, and oft is unaware that he has passed through the episode of death. For the wicked and cruelly selfish, for the criminal and for those few who live for the material side only, there eventuates that condition which we call “earth-bound.” The links they have forged with earth and the earthward bias of all their desires, force them to remain close to the earth and their last setting in the earth environment. They seek desperately and by every possible means to re-contact it and to re-enter. In a few cases, great personal love for those left behind, or the nonfulfillment of a recognised and urgent duty, holds the good and beautiful in a somewhat similar [447] condition. For the aspirant, death is an immediate entrance into a sphere of service and of expression to which he is well accustomed and which he at once recognises as not new. In his sleeping hours he has developed a field of active service and of learning. He now simply functions in it for the entire twenty-four hours (talking in terms of physical plane time) instead of for his usual few hours of earthly sleep.
Tôi nói về Cái Chết với tư cách một người biết rõ vấn đề này qua trải nghiệm ở thế giới bên ngoài và sự biểu lộ của sự sống bên trong: Không có cái chết. Như các bạn biết, có sự bước vào một sự sống trọn vẹn hơn. Có sự giải thoát khỏi những hạn chế của vận cụ bằng xương thịt. Tiến trình xé lìa mà người ta vô cùng khiếp sợ không tồn tại, ngoại trừ trong những trường hợp chết dữ dội và đột ngột; khi ấy, những điều thực sự khó chịu duy nhất là cảm giác tức thời, choáng ngợp về hiểm nguy và sự hủy diệt sắp xảy đến, cùng một điều gì đó rất gần với một cú điện giật. Chỉ có vậy. Đối với người chưa tiến hóa, cái chết đúng nghĩa là một giấc ngủ và một sự quên lãng, vì thể trí chưa thức tỉnh đủ để phản ứng, và kho ký ức thực tế vẫn gần như trống rỗng. Đối với người công dân tốt bình thường, cái chết là sự tiếp nối tiến trình sống trong tâm thức của y và sự tiếp tục những mối quan tâm cùng các khuynh hướng của cuộc đời. Tâm thức và khả năng nhận biết của y vẫn như cũ, không thay đổi. Y không cảm thấy khác biệt nhiều, được chăm sóc chu đáo và thường không biết rằng mình đã trải qua biến cố chết. Đối với kẻ độc ác và ích kỷ tàn nhẫn, kẻ phạm tội và số ít người chỉ sống cho phương diện vật chất, trạng thái mà chúng ta gọi là “ràng buộc với trần gian” sẽ xuất hiện. Những mối liên kết họ đã tạo dựng với trần gian và khuynh hướng hướng về trần gian của mọi dục vọng buộc họ phải ở gần trần gian và khung cảnh cuối cùng của họ trong môi trường trần thế. Họ tuyệt vọng tìm mọi cách có thể để tiếp xúc lại và trở vào đó. Trong một số ít trường hợp, tình thương cá nhân sâu đậm đối với những người ở lại, hoặc việc chưa hoàn thành một bổn phận cấp thiết đã được nhận biết, giữ những người tốt đẹp trong một trạng thái phần nào tương tự [447]. Đối với người chí nguyện, cái chết là sự bước ngay vào một lĩnh vực phụng sự và biểu lộ mà y vốn rất quen thuộc và tức khắc nhận ra là không mới mẻ. Trong những giờ ngủ, y đã phát triển một lĩnh vực phụng sự tích cực và học hỏi. Giờ đây, y chỉ đơn giản hoạt động trong đó suốt hai mươi bốn giờ (nói theo thời gian của cõi hồng trần), thay vì chỉ trong vài giờ ngủ trần thế thường lệ.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGES 300-301.
LUẬN VỀ CHÁNH THUẬT, TRANG 300-301.
True death, under the Law, is brought about by the attainment of the objective, and hence by the cessation of aspiration. The etheric double of a man, a planetary Logos, and a solar Logos, being shattered, becomes non-polarised as regards its indweller, and permits therefore of escape. It is (to word it otherwise) no longer a source of attraction, nor a focal magnetic point. It becomes non-magnetic, and the great Law of Attraction ceases to control it; hence disintegration is the ensuing condition of the form.
Theo Định luật, cái chết thực sự xảy ra khi mục tiêu đã đạt được và do đó khát vọng chấm dứt. Khi bị phá vỡ, bản sao dĩ thái của một con người, một Hành Tinh Thượng đế hay một Thái dương Thượng đế trở nên không còn phân cực đối với đấng ngự bên trong nó, và vì thế cho phép sự thoát ra. Nói cách khác, nó không còn là một nguồn thu hút hay một tiêu điểm từ tính. Nó trở nên phi từ tính, và Định luật Hấp Dẫn vĩ đại ngừng kiểm soát nó; do đó, sự phân rã là trạng thái tiếp theo của hình tướng.
A TREATISE ON COSMIC FIRE, PAGES 129-130
LUẬN VỀ LỬA VŨ TRỤ, TRANG 129-130
“The Law demands the entrance of that which can effect a change.”
“Định luật đòi hỏi sự đi vào của điều có thể tạo nên một sự thay đổi.”
Bearing in mind what I have elsewhere given, it is obvious that that which must find entrance is that vital concentrated will which, when set in motion in an individual, in a group, in a nation, in a kingdom of nature (a planetary centre), and in the planet as a whole, i.e., in all the planetary centres simultaneously, will cause a stirring, a changed measure, a new movement and momentum, an uprising and a consequent abstraction. The changes wrought in the centres when the death of the physical body is taking place have never yet been observed or recorded; they are, however, definitely present to the eye of the initiate and prove most interesting and informative. It is the recognition of the condition of the centres which enables the initiate [448] to know—when in process of bestowing healing—whether the physical healing of the body is permissible or not. He can see, by looking, whether the will principle of abstraction, to which I have been referring, is actively present or not. The same process can be seen taking place in organisations and in civilisations in which the form aspect is being destroyed in order that the life may be abstracted and later again rebuild for itself a more adequate form. It is the same under the great processes of initiation, which are not only processes of expanding the consciousness but are rooted in the death or the abstraction process, leading to resurrection and ascension.
Khi ghi nhớ những điều Tôi đã trình bày ở nơi khác, hiển nhiên điều phải đi vào chính là ý chí sống động, tập trung ấy; khi được khởi động trong một cá nhân, một nhóm, một quốc gia, một giới trong thiên nhiên (một trung tâm hành tinh), và trong toàn thể hành tinh, nghĩa là đồng thời trong mọi trung tâm hành tinh, nó sẽ gây nên sự lay động, một nhịp độ thay đổi, một chuyển động và động lực mới, một sự vươn lên và sự thu hồi tiếp theo. Những thay đổi diễn ra trong các trung tâm khi thể xác đang chết chưa từng được quan sát hay ghi lại; tuy nhiên, chúng hiện diện rõ rệt trước mắt điểm đạo đồ, vô cùng thú vị và cung cấp nhiều hiểu biết. Chính việc nhận biết trạng thái của các trung tâm cho phép điểm đạo đồ [448] biết—khi đang thực hiện việc chữa lành—liệu việc chữa lành thân thể về mặt hồng trần có được phép hay không. Qua quan sát, y có thể thấy nguyên khí ý chí thu hồi mà Tôi đã đề cập có đang hiện diện tích cực hay không. Có thể thấy cùng tiến trình ấy diễn ra trong các tổ chức và các nền văn minh, nơi phương diện hình tướng đang bị hủy diệt để sự sống có thể được thu hồi và về sau lại xây dựng cho mình một hình tướng thích hợp hơn. Điều tương tự cũng diễn ra trong những tiến trình điểm đạo vĩ đại; đó không chỉ là những tiến trình mở rộng tâm thức mà còn bắt rễ trong cái chết hay tiến trình thu hồi, dẫn đến phục sinh và thăng thiên.
That which effects a change is a discharge (to use a totally inadequate phrase) of directed and focussed will-energy. This is so magnetic in quality that it draws to itself the life of the centres, bringing about the dissolution of the form but the release of the life. Death comes to the individual man in the ordinary sense of the term when the will-to-live in a physical body goes and the will-to-abstract takes its place. This we call death. In cases of death in war, for instance, it is not then a case of the individual will-to-withdraw, but an enforced participation in a great group abstraction. From its own place, the soul of the individual man recognises the end of a cycle of incarnation, and recalls its life. This it does through a discharge of the will-energy that is strong enough to bring about the change....Christ referred to this work of abstraction as regards the third great planetary centre, Humanity, when He said (and He was speaking as the Representative of the Hierarchy, the second planetary centre, into which all human beings achieving initiation are “withdrawn” esoterically), “I, if I be lifted up, will draw all men unto Me.” A different word to this word of His will be spoken at the end of the age when the Lord of the World will speak from Shamballa [449] (the first planetary centre), will abstract the life principle from the Hierarchy, and all life and consciousness will then be focussed in the planetary head centre—the Great Council Chamber at Shamballa.
Điều tạo nên một sự thay đổi là một sự phóng thích (dùng một cách diễn đạt hoàn toàn không thích đáng) năng lượng ý chí có định hướng và tập trung. Phẩm tính của năng lượng này có từ tính mạnh đến mức thu hút sự sống của các trung tâm về phía nó, khiến hình tướng tan rã nhưng giải phóng sự sống. Theo nghĩa thông thường của từ này, cái chết đến với một cá nhân khi ý chí muốn sống trong thể xác rời đi và ý chí thu hồi thay thế nó. Chúng ta gọi điều này là cái chết. Chẳng hạn, trong những trường hợp chết vì chiến tranh, đó không phải là ý chí rút lui của cá nhân, mà là sự tham gia bắt buộc vào một cuộc thu hồi tập thể lớn lao. Từ nơi riêng của mình, linh hồn của cá nhân nhận biết sự kết thúc của một chu kỳ lâm phàm và gọi sự sống của mình trở về. Linh hồn thực hiện điều này bằng một sự phóng thích năng lượng ý chí đủ mạnh để tạo nên sự thay đổi....Đức Christ đã đề cập đến công việc thu hồi này liên quan đến trung tâm hành tinh vĩ đại thứ ba, Nhân Loại, khi Ngài nói (và Ngài nói với tư cách Đại Diện của Thánh đoàn, trung tâm hành tinh thứ hai, nơi mọi người đạt điểm đạo đều được “thu hồi” vào theo nghĩa huyền bí): “Ta, nếu được nâng lên, sẽ thu hút mọi người đến với Ta.” Một lời khác với lời này của Ngài sẽ được thốt lên vào cuối thời đại, khi Đức Chúa Tể Thế Giới lên tiếng từ Shamballa [449] (trung tâm hành tinh thứ nhất), thu hồi nguyên khí sự sống khỏi Thánh đoàn; khi ấy, toàn bộ sự sống và tâm thức sẽ tập trung trong trung tâm đầu của hành tinh—Phòng Đại Hội Đồng tại Shamballa.
“The Law demands that the changes thus effected remove the form, bring quality to light, and lay the emphasis upon life.”
“Định luật đòi hỏi những thay đổi được tạo nên như vậy phải loại bỏ hình tướng, đưa phẩm tính ra ánh sáng và đặt trọng tâm vào sự sống.”
Here the three great aspects—form, quality, and life—are brought into relation, and the point of the evolutionary objective is seen in its true light—LIFE. Note this phrasing. Form or appearance, having served its purpose, disappears. Death of the form takes place. Quality, the major divine attribute being developed in this planet, becomes dominant, is “conscious of itself”—as the ancient writings put it. It is identified and individual, but has no implementing form, except that of the greater whole in which it finds its place. Neither form nor quality (body nor consciousness) are paramount in the new state of being, only the life aspect, the spirit on its own plane becomes the dominating factor. Some faint dim light on the significance of this may come if you bear in mind that our seven planes are only the seven subplanes of the cosmic physical plane. The process of developing sensitivity in this sevenfold evolution has been undergone in order to enable the initiate to function upon the cosmic astral plane, when withdrawn or abstracted after the higher initiations. He is abstracted from our planetary life altogether. Only one factor could prevent this, and that might be his pledge to serve temporarily within the planetary ring-pass-not. Such members of the Hierarchy Who pledge Themselves to this work are stated to have Buddhic consciousness, and the line of Their descent (occultly understood) is from the Eternal Pilgrim, the Lord of the World, then the Buddha, and then the Christ. They remain identified through free choice with the “quality seen [450] within the light” and, for the term of Their freely rendered service, work with the consciousness aspect in order to lay the emphasis later upon the life aspect....
Ở đây, ba phương diện vĩ đại—hình tướng, phẩm tính và sự sống—được đưa vào mối liên hệ, và đích đến của mục tiêu tiến hóa được nhìn thấy trong ánh sáng chân thực của nó—SỰ SỐNG. Hãy lưu ý cách diễn đạt này. Hình tướng hay vẻ ngoài, sau khi đã hoàn thành mục đích, liền biến mất. Cái chết của hình tướng diễn ra. Phẩm tính, thuộc tính thiêng liêng chủ yếu đang phát triển trên hành tinh này, trở nên chiếm ưu thế, “có ý thức về chính mình”—như các trước tác cổ diễn đạt. Nó có bản sắc xác định và tính cá biệt, nhưng không có hình tướng để thực hiện hoạt động, ngoại trừ hình tướng của tổng thể lớn hơn mà nó tìm được vị trí trong đó. Trong trạng thái hiện tồn mới, cả hình tướng lẫn phẩm tính (thân thể lẫn tâm thức) đều không giữ địa vị tối cao; chỉ phương diện sự sống, tinh thần trên cõi riêng của nó, trở thành yếu tố chi phối. Một chút ánh sáng mờ nhạt về thâm nghĩa của điều này có thể đến nếu các bạn ghi nhớ rằng bảy cõi của chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Tiến trình phát triển tính nhạy cảm trong cuộc tiến hóa thất phân này đã diễn ra nhằm giúp điểm đạo đồ hoạt động trên cõi cảm dục vũ trụ, khi rút lui hay được thu hồi sau các cuộc điểm đạo cao hơn. Y được thu hồi hoàn toàn khỏi sự sống hành tinh của chúng ta. Chỉ một yếu tố có thể ngăn điều này, và đó có thể là lời nguyện tạm thời phụng sự trong vòng-giới-hạn của hành tinh. Những thành viên của Thánh đoàn tự nguyện đảm nhận công việc này được nói là có tâm thức Bồ đề, và dòng truyền thừa của Các Ngài (hiểu theo nghĩa huyền bí) bắt nguồn từ Đấng Hành Hương Vĩnh Cửu, Đức Chúa Tể Thế Giới, rồi đến Đức Phật, và sau đó đến Đức Christ. Do tự do lựa chọn, Các Ngài vẫn đồng hóa với “phẩm tính được thấy [450] trong ánh sáng” và, trong thời hạn phụng sự mà Các Ngài tự nguyện hiến dâng, làm việc với phương diện tâm thức để về sau đặt trọng tâm vào phương diện sự sống....
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.
LUẬN VỀ BẢY CUNG, TẬP V.
The eighteen fires must die down; the lesser lives (embodying the principle of form, of desire and of thought, the sumtotal of creativity, based upon magnetic love) must return to the reservoir of life and naught be left but that which caused them to be, the central will which is known by the effects of its radiation or breath.
Mười tám ngọn lửa phải tàn lụi; các sự sống nhỏ hơn (hiện thân cho nguyên khí hình tướng, dục vọng và tư tưởng, toàn bộ năng lực sáng tạo dựa trên tình thương từ tính) phải trở về kho chứa sự sống, và không còn gì ngoài điều đã khiến chúng hiện hữu, ý chí trung tâm được nhận biết qua những hiệu quả của sự tỏa chiếu hay hơi thở của nó.
This dispersal, death or dissolution, is in reality a great effect produced by the central Cause, and the injunction is consequently: “This they must bring about by the evocation of the Will.”...The disciple finds his group in the Master’s Ashram and consciously and with full understanding masters death—the long-feared enemy of existence. He discovers that death is simply an effect produced by life and by his conscious will, and is a mode whereby he directs substance and controls matter. This becomes consciously possible because, having developed awareness of two divine aspects—creative activity and love—he is now focussed in the highest aspect and knows himself to be the WILL, the Life, the Father, the Monad, the One.
Sự phân tán, cái chết hay sự tan rã này thực ra là một hiệu quả lớn lao do Nguyên Nhân trung tâm tạo nên, và vì thế lời huấn thị là: “Họ phải thực hiện điều này bằng cách gợi lên Ý Chí.”...Đệ tử tìm thấy nhóm của mình trong ashram của Chân sư và, một cách có ý thức cùng sự thấu hiểu đầy đủ, làm chủ cái chết—kẻ thù của sự tồn tại mà từ lâu người ta vẫn khiếp sợ. Y khám phá rằng cái chết chỉ là một hiệu quả do sự sống và ý chí hữu thức của y tạo nên, và là một phương thức để y điều khiển chất liệu và kiểm soát vật chất. Điều này trở nên khả thi một cách có ý thức vì, sau khi đã phát triển sự nhận biết về hai phương diện thiêng liêng—hoạt động sáng tạo và bác ái—giờ đây y tập trung trong phương diện cao nhất và biết mình là Ý CHÍ, Sự Sống, Cha, Chân Thần, Đấng Duy Nhất.
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.
LUẬN VỀ BẢY CUNG, TẬP V.
A great upheaval in all the kingdoms in nature has characterised this day and generation; a stupendous destruction of all forms of divine life and in every kingdom has been the outstanding note of this upheaval. Our modern civilisation has received a death blow from which it will never recover, but which will be recognised some day as the “blow of release” and as the signal for that which is better, new and more suitable for the evolving spirit, to make its appearance. Great and penetrating energies and their [451] evoked forces have met in conflict which has, figuratively speaking, elevated the mineral kingdom into the skies and which has brought down fire from heaven. I am talking to you factually and not just symbolically. The bodies of men, women and children, as well as animals, have been destroyed; the forms of the vegetable kingdom and the potencies of the mineral kingdom have been disintegrated, distributed and devastated. The coherent life of all the planetary forms has been temporarily rendered incoherent. As an ancient prophecy has put it: “No true united Sound goes out from form to form, from life to life. Only a cry of pain, a demand for restitution and an invocation for relief from agony, despair and fruitless effort goes out from here to There.”
Một cuộc biến động lớn lao trong tất cả các giới trong thiên nhiên đã là đặc trưng của thời đại và thế hệ này; sự hủy diệt khủng khiếp mọi hình tướng của sự sống thiêng liêng trong mọi giới đã là âm điệu nổi bật của cuộc biến động ấy. Nền văn minh hiện đại của chúng ta đã hứng chịu một đòn chí tử mà nó sẽ không bao giờ hồi phục được, nhưng một ngày nào đó, người ta sẽ nhận ra đây là “đòn giải phóng” và là dấu hiệu cho sự xuất hiện của điều tốt đẹp hơn, mới mẻ hơn và thích hợp hơn với tinh thần đang tiến hóa. Những năng lượng mạnh mẽ, thấu nhập cùng các mãnh lực [451] do chúng gợi lên đã gặp nhau trong cuộc xung đột; nói theo nghĩa bóng, cuộc xung đột ấy đã nâng giới kim thạch lên bầu trời và kéo lửa từ trời xuống. Tôi đang nói với các bạn về sự thật, chứ không chỉ theo nghĩa biểu tượng. Thân thể của đàn ông, phụ nữ và trẻ em, cũng như động vật, đã bị hủy diệt; những hình tướng của giới thực vật và các tiềm lực của giới kim thạch đã bị phân rã, phân tán và tàn phá. Sự sống cố kết của mọi hình tướng hành tinh tạm thời đã mất tính cố kết. Như một lời tiên tri cổ đã diễn đạt: “Không một Âm Thanh hợp nhất chân thực nào truyền từ hình tướng này đến hình tướng khác, từ sự sống này đến sự sống khác. Chỉ có tiếng kêu đau đớn, lời đòi hỏi hoàn nguyên và lời khẩn cầu được giải thoát khỏi thống khổ, tuyệt vọng và nỗ lực vô ích vọng từ nơi đây đến Nơi Kia.”
All this upheaval of the “soil” of the world—spiritual, psychological and physical—all this disruption of the forms and of the familiar contours of our planetary life, had to take place before there could come the emergence of the Hierarchy into the public consciousness; all this had to do its work upon the souls of men before the New Age could come in, bringing with it the Restoration of the Mysteries and the rehabilitation of the peoples of the Earth. The two go together. This is one of the major points which I am seeking to make. The disruption, disintegration and the completely chaotic conditions existing for the past five hundred years within all the kingdoms of nature have at last worked their way out into paralleling physical conditions. This is good and desirable; it marks the prelude to a better building of a better world, and the construction of more adequate forms of life and of more correct human attitudes, plus a sounder orientation to reality. The best is yet to be.
Toàn bộ sự xáo trộn “đất” của thế giới—về tinh thần, tâm lý và hồng trần—toàn bộ sự phá vỡ các hình tướng và những đường nét quen thuộc của sự sống hành tinh chúng ta, đã phải xảy ra trước khi Thánh đoàn có thể xuất hiện trong tâm thức công chúng; tất cả những điều này đã phải tác động lên linh hồn con người trước khi Kỷ Nguyên Mới có thể đến, mang theo sự Phục Hồi các Bí Pháp và sự phục hưng của các dân tộc trên Trái Đất. Hai điều này đi đôi với nhau. Đây là một trong những điểm chính mà Tôi đang tìm cách nêu rõ. Sự phá vỡ, phân rã và những trạng thái hoàn toàn hỗn loạn tồn tại suốt năm trăm năm qua trong mọi giới trong thiên nhiên cuối cùng đã biểu hiện thành những tình trạng tương ứng trên cõi hồng trần. Điều này là tốt đẹp và đáng mong muốn; nó đánh dấu bước mở đầu cho việc xây dựng tốt hơn một thế giới tốt đẹp hơn, tạo dựng những hình tướng sự sống thích hợp hơn và những thái độ đúng đắn hơn của con người, cùng một sự định hướng vững vàng hơn về thực tại. Điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước.
Everything is being rapidly brought to the surface—the good and the bad, the desirable and the undesirable, the [452] past and the future (for the two are one); the plough of God has nearly accomplished its work; the sword of the spirit has severed an evil past from the radiant future, and both are seen as contributory in the Eye of God; our material civilisation will be seen as giving place rapidly to a more spiritual culture; our church organisations, with their limiting and confusing theologies, will soon give place to the Hierarchy with its emerging teaching—clear, factual, intuitive and nondogmatic.
Mọi thứ đang nhanh chóng được đưa lên bề mặt—điều tốt và điều xấu, điều đáng mong muốn và điều không đáng mong muốn, [452] quá khứ và tương lai (vì cả hai là một); chiếc cày của Thượng đế gần hoàn tất công việc; thanh gươm của tinh thần đã chặt đứt quá khứ xấu xa khỏi tương lai rạng rỡ, và trong Mắt Thượng đế, cả hai đều được thấy là có đóng góp; người ta sẽ thấy nền văn minh vật chất của chúng ta nhanh chóng nhường chỗ cho một nền văn hóa tinh thần hơn; các tổ chức giáo hội của chúng ta, với những hệ thần học hạn hẹp và gây rối trí, sẽ sớm nhường chỗ cho Thánh đoàn cùng giáo huấn đang xuất hiện của Thánh đoàn—rõ ràng, xác thực, trực giác và không giáo điều.
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS, VOL. V.
LUẬN VỀ BẢY CUNG, TẬP V.
Intense desire for sentient existence or attachment. This is inherent in every form, is self-perpetuating and known even to the very wise.
Dục vọng mãnh liệt đối với sự tồn tại có cảm giác, hay sự chấp trước. Điều này vốn có trong mọi hình tướng, tự duy trì và ngay cả những người rất minh triết cũng biết đến.
When the life or Spirit withdraws itself, the form dies, occultly. When the thought of the ego or higher self is occupied with its own plane, there is no energy outgoing towards the matter of the three worlds, and so no form-building and form-attachment is there possible. This is in line with the occult truism that “energy follows thought,” and is in line, too, with the teaching that the body of the Christ principle (the Buddhic vehicle) only begins to coordinate as the lower impulses fade out....Attachment to form or the attraction of form for Spirit is the great involutionary impulse. Repulsion of form and consequent form disintegration is the great evolutionary urge.
Theo nghĩa huyền bí, khi sự sống hay Tinh Thần rút lui, hình tướng chết. Khi tư tưởng của Chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu chuyên chú vào cõi riêng của mình, không có năng lượng nào tuôn ra hướng đến vật chất của ba cõi giới, và do đó không thể có sự xây dựng hình tướng hay chấp trước vào hình tướng. Điều này phù hợp với chân lý hiển nhiên của huyền bí học rằng “năng lượng đi theo tư tưởng”, đồng thời cũng phù hợp với giáo huấn rằng hiện thể của nguyên khí Christ (vận cụ Bồ đề) chỉ bắt đầu phối hợp khi những xung động thấp dần lắng xuống....Sự chấp trước vào hình tướng, hay sức thu hút của hình tướng đối với Tinh Thần, là xung lực giáng hạ tiến hóa lớn lao. Sự khước từ hình tướng và sự phân rã hình tướng tiếp theo là thôi thúc thăng thượng tiến hóa lớn lao.
THE LIGHT OF THE SOUL, PAGES 137-8.
ÁNH SÁNG CỦA LINH HỒN, TRANG 137-8.
When the cause, desire, has produced its effect, the personality or form aspect of man, then as long as the will to live exists, so long will the form persist. It is kept in manifestation through mental vitality. This has been demonstrated time and again in the annals of medicine, for it has been proven that as long as the determination to live persists, so will be the probable duration of the physical plane [453] life; but that the moment that will is withdrawn, or the interest of the dweller in the body is no longer centered upon personality manifestation, death ensues and the disintegration of that mind-image, the body, takes place.
Khi nguyên nhân là dục vọng đã tạo ra hiệu quả của nó là phàm ngã hay phương diện hình tướng của con người, thì chừng nào ý chí sống còn tồn tại, hình tướng vẫn còn duy trì. Nó được giữ trong trạng thái biểu hiện nhờ sinh lực trí tuệ. Điều này đã được chứng minh hết lần này đến lần khác trong biên niên y học, vì người ta đã chứng minh rằng chừng nào quyết tâm sống còn duy trì, thì đời sống trên cõi hồng trần [453] cũng có khả năng kéo dài tương ứng; nhưng ngay khi ý chí ấy rút lui, hoặc sự quan tâm của chủ thể ngự trong thân thể không còn tập trung vào sự biểu hiện của phàm ngã, cái chết xảy đến và hình ảnh do thể trí tạo nên ấy, tức thân thể, bắt đầu phân rã.
THE LIGHT OF THE SOUL, PAGE 397.
ÁNH SÁNG CỦA LINH HỒN, TRANG 397.
There are two main lines of evolution, that which concerns matter and form, and that which concerns the soul, the consciousness aspect, the thinker in manifestation. For each of these the path of progress differs, and each pursues its course. As has been noted, for a long period of time the soul identifies itself with the form aspect and endeavours to follow the “Path of Death,” for that is what the dark path is in fact to the thinker. Later, through strenuous effort, this identification ceases; the soul becomes aware of itself, and of its own path, or dharma, and follows then the way of light and of life. It should ever be borne in mind, however, that for the two aspects their own path is the right path, and that the impulses which lie hidden in the physical vehicle or in the astral body are not in themselves wrong. They become wrong from certain angles when twisted from their right use, and it was this realisation that led the disciple in the Book of Job to cry out and say, “I have perverted that which was right.” The two lines of development are separate and distinct, and this every aspirant has to learn.
Có hai dòng tiến hóa chính: dòng liên quan đến vật chất và hình tướng, và dòng liên quan đến linh hồn, phương diện tâm thức, chủ thể tư duy đang biểu hiện. Con đường tiến bộ của mỗi dòng khác nhau, và mỗi dòng theo đuổi lộ trình riêng. Như đã lưu ý, trong một thời gian dài, linh hồn đồng hóa với phương diện hình tướng và cố gắng đi theo “Con Đường Chết”, vì đối với chủ thể tư duy, con đường tối tăm thực sự là như vậy. Về sau, qua nỗ lực mãnh liệt, sự đồng hóa này chấm dứt; linh hồn nhận biết chính mình và con đường riêng của mình, hay bổn phận chân chính của mình, rồi đi theo con đường ánh sáng và sự sống. Tuy nhiên, cần luôn ghi nhớ rằng đối với hai phương diện, con đường riêng của mỗi phương diện đều là con đường đúng đắn, và những xung động ẩn trong vận cụ hồng trần hay thể cảm dục tự chúng không sai trái. Xét từ một số góc độ, chúng trở nên sai trái khi bị làm lệch khỏi cách sử dụng đúng đắn, và chính nhận thức này đã khiến người đệ tử trong Sách Job kêu lên: “Con đã làm sai lệch điều vốn đúng đắn.” Hai dòng phát triển này tách biệt và khác nhau rõ rệt, và mọi người chí nguyện đều phải học điều này.
THE LIGHT OF THE SOUL, PAGES 402-403.
ÁNH SÁNG CỦA LINH HỒN, TRANG 402-403.
The Art of Dying.
Nghệ thuật chết.
The soul, seated in the heart, is the life principle, the principle of self-determination, the central nucleus of positive energy by means of which all the atoms of the body are held in their right place and subordinated to the “will-to-be” of the soul. This principle of life utilises the blood stream [454] as its mode of expression and as its controlling agency, and through the close relation of the endocrine system to the blood stream, we have the two aspects of soul activity brought together in order to make man a living, conscious, functioning entity, governed by the soul, and expressing the purpose of the soul in all the activities of daily living.
Linh hồn, an vị trong tim, là nguyên khí sự sống, nguyên khí tự quyết, hạt nhân trung tâm của năng lượng dương; nhờ năng lượng này, mọi nguyên tử của thân thể được giữ đúng vị trí và tuân phục “ý chí hiện hữu” của linh hồn. Nguyên khí sự sống này sử dụng dòng máu [454] làm phương thức biểu lộ và tác nhân kiểm soát; nhờ mối liên hệ mật thiết giữa hệ nội tiết và dòng máu, hai phương diện hoạt động của linh hồn kết hợp với nhau để khiến con người trở thành một thực thể sống động, có ý thức và hoạt động, chịu sự điều khiển của linh hồn và biểu lộ mục đích của linh hồn trong mọi hoạt động của đời sống hằng ngày.
Death, therefore, is literally the withdrawal from the heart and from the head of these two streams of energy, producing consequently complete loss of consciousness and disintegration of the body. Death differs from sleep in that both streams of energy are withdrawn. In sleep, only the thread of energy which is anchored in the brain is withdrawn, and when this happens the man becomes unconscious. By this we mean that his consciousness or sense of awareness is focussed elsewhere. His attention is no longer directed towards things tangible and physical, but is turned upon another world of being and becomes centered in another apparatus or mechanism. In death, both the threads are withdrawn or unified in the life thread. Vitality ceases to penetrate through the medium of the blood stream and the heart fails to function, just as the brain fails to record, and thus silence settles down. The house is empty. Activity ceases, except that amazing and immediate activity which is the prerogative of matter itself and which expresses itself in the process of decomposition. From certain aspects, therefore, that process indicates man’s unity with everything that is material; it demonstrates that he is apart of nature itself, and by nature we mean the body of the one Life in whom “we live and move and have our being.” In those three words—living, moving and being—we have the entire story. Being is awareness, self-consciousness and self-expression, and of this man’s head and brain are the exoteric symbols. Living is energy, desire in form, coherence and adhesion to an idea, and of this the heart and the blood are the exoteric [455] symbols. Moving indicates the integration and response of the existing, aware, living entity into the universal activity, and of this the stomach, pancreas and liver are the symbols.
Do đó, cái chết đúng nghĩa là sự rút lui của hai dòng năng lượng này khỏi tim và đầu, dẫn đến sự mất tâm thức hoàn toàn và sự phân rã của thân thể. Cái chết khác với giấc ngủ ở chỗ cả hai dòng năng lượng đều rút lui. Trong giấc ngủ, chỉ sợi dây năng lượng neo trong bộ não rút lui, và khi điều này xảy ra, con người trở nên vô thức. Với điều này, chúng ta muốn nói rằng tâm thức hay khả năng nhận biết của y tập trung ở nơi khác. Sự chú ý của y không còn hướng đến những sự vật hữu hình và hồng trần, mà chuyển sang một thế giới hiện tồn khác và tập trung trong một cơ cấu hay bộ máy khác. Trong cái chết, cả hai sợi dây đều rút lui hay hợp nhất trong sinh mệnh tuyến. Sinh lực ngừng thấm nhập qua trung gian dòng máu và tim ngừng hoạt động, cũng như bộ não ngừng ghi nhận, và như thế sự im lặng bao trùm. Ngôi nhà trống vắng. Hoạt động chấm dứt, ngoại trừ hoạt động kỳ diệu và tức thời vốn là đặc quyền của chính vật chất và biểu lộ qua tiến trình phân hủy. Do đó, xét từ một số phương diện, tiến trình ấy cho thấy sự hợp nhất của con người với mọi thứ thuộc vật chất; nó chứng tỏ y là một phần của chính thiên nhiên, và với từ thiên nhiên, chúng ta muốn nói đến thân thể của Sự Sống duy nhất mà trong đó “chúng ta sống, vận động và hiện hữu”. Trong ba từ ấy—sống, vận động và hiện hữu—chúng ta có toàn bộ câu chuyện. Hiện hữu là sự nhận biết, ngã thức và sự tự biểu lộ; đầu và bộ não của con người là những biểu tượng ngoại môn của điều này. Sống là năng lượng, dục vọng trong hình tướng, sự cố kết và sự gắn bó với một ý tưởng; tim và máu là những biểu tượng ngoại môn [455] của điều này. Vận động biểu thị sự tích hợp của thực thể đang hiện tồn, nhận biết và sống động vào hoạt động vũ trụ, cùng sự đáp ứng của thực thể ấy với hoạt động đó; dạ dày, tuyến tụy và gan là những biểu tượng của điều này.
It must be noted also that death is, therefore, undertaken at the direction of the Ego, no matter how unaware a human being may be of that direction. The process works automatically with the majority, for (when the soul withdraws its attention) the inevitable reaction on the physical plane is either death, by the abstraction of the dual threads of life and reason energy, or by the abstraction of the thread of energy which is qualified by mentality, leaving the life stream still functioning through the heart, but no intelligent awareness. The soul is engaged elsewhere and occupied on its own plane with its own affairs.
Cũng cần lưu ý rằng vì thế, cái chết diễn ra dưới sự chỉ đạo của Chân ngã, bất kể con người có thể không nhận biết sự chỉ đạo ấy đến mức nào. Đối với đa số, tiến trình này diễn ra tự động, vì (khi linh hồn rút sự chú ý của mình) phản ứng tất yếu trên cõi hồng trần là cái chết do sự thu hồi hai sợi dây năng lượng của sự sống và lý trí, hoặc là sự thu hồi sợi dây năng lượng mang phẩm tính trí tuệ, để dòng sự sống vẫn hoạt động qua tim nhưng không còn sự nhận biết thông minh. Linh hồn hoạt động ở nơi khác và bận rộn trên cõi riêng với những công việc của mình.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGES 496-497.
LUẬN VỀ CHÁNH THUẬT, TRANG 496-497.
Before I take up this subject in greater detail I would like to make some reference to the “web in the brain,” which is intact for the majority but is non-existent for the illumined seer.
Trước khi bàn chi tiết hơn về chủ đề này, Tôi muốn đề cập đôi chút đến “mạng lưới trong bộ não”, vốn còn nguyên vẹn ở đa số người nhưng không tồn tại nơi nhà thông nhãn đã được soi sáng.
In the human body, as you know, we have an underlying, extensive vital body which is the counterpart of the physical, which is larger than the physical and which we call the etheric body or double. It is an energy body and is composed of force centres and nadis or force threads. These underlie or are the counterparts of the nervous apparatus—the nerves and the nerve ganglia. In two places in the human body there are orifices of exit, if I may use so cumbersome a phrase. One opening is in the solar plexus and the other is in the brain at the top of the head. Protecting both is a closely woven web of etheric matter, composed of interlacing strands of life energy.
Như các bạn biết, trong thân thể con người có một thể sinh lực rộng lớn làm nền tảng, là đối phần của thể xác, lớn hơn thể xác, và chúng ta gọi nó là thể dĩ thái hay bản sao dĩ thái. Đây là một thể năng lượng, cấu thành từ các trung tâm mãnh lực và những kinh mạch hay sợi dây mãnh lực. Chúng làm nền tảng hay là đối phần của bộ máy thần kinh—các dây thần kinh và hạch thần kinh. Tại hai nơi trong thân thể con người có những lỗ thoát ra, nếu Tôi có thể dùng một cách diễn đạt nặng nề như vậy. Một lỗ mở nằm ở tùng thái dương, lỗ kia nằm trong bộ não tại đỉnh đầu. Bảo vệ cả hai là một mạng lưới vật chất dĩ thái dệt sít, cấu thành từ những sợi năng lượng sự sống đan xen.
During the process of death the pressure of the life energy beating against the web produces eventually a puncturing [456] or opening. Out of this the life force pours as the potency of the abstracting influence of the soul increases. In the case of animals, of infants and of men and women who are polarised entirely in the physical and astral bodies, the door of exit is the solar plexus, and it is that web which is punctured, thus permitting the passing out. In the case of mental types, of the more highly evolved human units, it is the web at the top of the head in the region of the fontenelle which is ruptured, thus again permitting the exit of the thinking rational being.
Trong tiến trình chết, áp lực của năng lượng sự sống dồn đập vào mạng lưới cuối cùng tạo nên một lỗ thủng [456] hay một khe mở. Qua đó, mãnh lực sự sống tuôn ra khi sức mạnh của ảnh hưởng thu hồi từ linh hồn gia tăng. Đối với động vật, trẻ sơ sinh và những người nam và nữ hoàn toàn phân cực trong thể xác và thể cảm dục, cửa thoát ra là tùng thái dương, và chính mạng lưới ấy bị chọc thủng, nhờ đó cho phép sự thoát ra. Đối với những người thuộc loại hình trí tuệ, những đơn vị nhân loại tiến hóa cao hơn, chính mạng lưới tại đỉnh đầu, trong vùng thóp, bị xé rách, nhờ đó cũng cho phép sinh linh có tư duy và lý trí thoát ra.
In the process of death these are, therefore, the two main exits: the solar plexus for the astrally polarised, physically biased human being, and therefore of the vast majority, and the head centre for the mentally polarised and spiritually oriented human being. This is the first and most important factor to remember, and it will easily be seen how the trend of a life tendency and the focus of the life attention determine the mode of exit at death. It can be seen also that an effort to control the astral life and the emotional nature, and to orient one’s self to the mental world and to spiritual things, has a momentous effect upon the phenomenal aspects of the death process.
Do đó, trong tiến trình chết có hai lối thoát chính: tùng thái dương dành cho người phân cực cảm dục, thiên về hồng trần, tức là đại đa số; và trung tâm đầu dành cho người phân cực trí tuệ, định hướng tinh thần. Đây là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất cần ghi nhớ, và sẽ dễ dàng thấy rằng chiều hướng của khuynh hướng sống cùng trọng tâm chú ý trong đời sống quyết định phương thức thoát ra khi chết như thế nào. Cũng có thể thấy rằng nỗ lực kiểm soát đời sống cảm dục và bản chất cảm xúc, đồng thời hướng mình đến thế giới trí tuệ và những điều tinh thần, có ảnh hưởng hết sức lớn lao đến các phương diện hiện tượng của tiến trình chết.
If the student is thinking clearly, it will be apparent to him that one exit concerns the spiritual and highly evolved man, whilst the other concerns the low grade human being who has scarcely advanced beyond the animal stage. What then of the average man? A third exit is now in temporary use; just below the apex of the heart another etheric web is found covering an orifice of exit. We have, therefore, the following situation:
Nếu đạo sinh suy nghĩ rõ ràng, y sẽ thấy một lối thoát liên quan đến người tinh thần và tiến hóa cao, còn lối kia liên quan đến người ở trình độ thấp, hầu như chưa tiến xa hơn giai đoạn động vật. Vậy còn người bình thường thì sao? Hiện nay có một lối thoát thứ ba được sử dụng tạm thời; ngay dưới mỏm tim có một mạng lưới dĩ thái khác che phủ một lỗ thoát ra. Do đó, chúng ta có tình hình sau:
1. The exit in the head, used by the intellectual type, by the disciples and initiates of the world. [457]
1. Lối thoát ở đầu, dành cho người thuộc loại hình trí thức, các đệ tử và điểm đạo đồ trên thế giới. [457]
2. The exit in the heart, used by the kindly, well-meaning man or woman who is a good citizen, an intelligent friend and a philanthropic worker.
2. Lối thoát ở tim, dành cho người nam hay nữ nhân hậu, có thiện ý, là một công dân tốt, một người bạn thông minh và một người hoạt động nhân ái.
3. The exit in the region of the solar plexus, used by those whose animal nature is strong.
3. Lối thoát trong vùng tùng thái dương, dành cho những người có bản chất động vật mạnh mẽ.
This is the first point in the new information which will slowly become common knowledge in the West during the next century. Much of it is already known by thinkers in the East and is in the nature of a first step towards a rational understanding of the death process.
Đây là điểm đầu tiên trong những thông tin mới sẽ dần trở thành kiến thức phổ biến ở phương Tây trong thế kỷ tới. Các nhà tư tưởng phương Đông đã biết phần lớn những điều này, và chúng mang tính chất của một bước đầu tiên hướng đến sự thấu hiểu hợp lý về tiến trình chết.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 500.
LUẬN VỀ CHÁNH THUẬT, TRANG 500.
In relation to the technique of dying, it is only possible for me at this time to make one or two suggestions. I deal not here with the attitude of the attendant watchers, I deal only with those points which will make for an easier passing over of the transient soul. First, let there be silence in the chamber. This is, of course, frequently the case. It must be remembered that the dying person may usually be unconscious. This unconsciousness is apparent but not real. In nine hundred cases out of a thousand the brain awareness is there, with a full consciousness of happenings, but there is a complete paralysis of the will to express and complete inability to generate the energy which will indicate aliveness. When silence and understanding rule the sick room, the departing soul can hold possession of its instrument with clarity until the last minute, and can make due preparation.
Về kỹ thuật chết, lúc này Tôi chỉ có thể đưa ra một hai gợi ý. Ở đây, Tôi không bàn về thái độ của những người túc trực chăm nom; Tôi chỉ bàn đến những điểm giúp linh hồn đang chuyển tiếp ra đi dễ dàng hơn. Trước hết, hãy giữ im lặng trong phòng. Dĩ nhiên, điều này thường vẫn được thực hiện. Cần nhớ rằng người hấp hối thường có thể ở trạng thái vô thức. Sự vô thức này chỉ là bề ngoài, không có thật. Trong chín trăm trường hợp trên một nghìn, sự nhận biết của bộ não vẫn còn, với tâm thức đầy đủ về những gì đang diễn ra, nhưng ý chí biểu lộ hoàn toàn tê liệt và người ấy hoàn toàn không có khả năng tạo ra năng lượng để biểu thị mình còn sống. Khi sự im lặng và thấu hiểu ngự trị trong phòng bệnh, linh hồn sắp ra đi có thể nắm giữ công cụ của mình một cách sáng suốt cho đến phút cuối cùng và có thể chuẩn bị thích đáng.
Later, when more anent colour is known, only orange lights will be permitted in the sick room of a dying person, and these will only be installed with due ceremony when there is assuredly no possibility of recovery. Orange aids the focussing in the head, just as red stimulates the solar [458] plexus and green has a definite effect upon the heart and life streams.
Về sau, khi người ta biết nhiều hơn về màu sắc, chỉ ánh sáng màu cam mới được phép có trong phòng bệnh của người hấp hối, và những đèn này chỉ được lắp đặt theo nghi thức thích đáng khi chắc chắn không còn khả năng hồi phục. Màu cam giúp tập trung vào đầu, cũng như màu đỏ kích thích tùng [458] thái dương và màu xanh lá cây có tác động rõ rệt lên tim và các dòng sự sống.
Certain types of music will be used when more in connection with sound is understood, but there is no music as yet which will facilitate the work of the soul in abstracting itself from the body, though certain notes on the organ will be found effective. At the exact moment of death, if a person’s own note is sounded, it will coordinate the two streams of energy and eventually rupture the life thread, but the knowledge of this is too dangerous to transmit as yet and can only later be given. I would indicate the future and the lines along which future occult study will run.
Một số loại âm nhạc sẽ được sử dụng khi người ta thấu hiểu nhiều hơn về âm thanh, nhưng hiện chưa có loại âm nhạc nào giúp linh hồn dễ dàng thực hiện công việc thu hồi mình khỏi thân thể, dù một số âm điệu trên đàn đại phong cầm sẽ tỏ ra hữu hiệu. Vào đúng khoảnh khắc chết, nếu âm điệu riêng của một người được xướng lên, nó sẽ phối hợp hai dòng năng lượng và cuối cùng làm đứt sinh mệnh tuyến; nhưng hiện nay, tri thức này quá nguy hiểm để truyền đạt và chỉ có thể được trao về sau. Tôi muốn chỉ ra tương lai và những hướng mà việc nghiên cứu huyền bí học trong tương lai sẽ đi theo.