Trích nội dung chương
It will be found also that pressure on certain nerve centres and on certain arteries will facilitate the work, and this science of dying is held in custody, as many students know, in Tibet. Pressure on the jugular vein and on certain big nerves in the region of the head and on a particular spot in the medulla oblongata will be found helpful and effective. A definite science of death will inevitably later be elaborated, but only when the fact of the soul is recognised and its relation to the body has been scientifically demonstrated. Người ta cũng sẽ nhận thấy rằng việc tạo áp lực lên một số trung tâm thần kinh và một số động mạch sẽ giúp…
It will be found also that pressure on certain nerve centres and on certain arteries will facilitate the work, and this science of dying is held in custody, as many students know, in Tibet. Pressure on the jugular vein and on certain big nerves in the region of the head and on a particular spot in the medulla oblongata will be found helpful and effective. A definite science of death will inevitably later be elaborated, but only when the fact of the soul is recognised and its relation to the body has been scientifically demonstrated.
Người ta cũng sẽ nhận thấy rằng việc tạo áp lực lên một số trung tâm thần kinh và một số động mạch sẽ giúp công việc này dễ dàng hơn; như nhiều đạo sinh biết, khoa học về việc chết này được gìn giữ tại Tây Tạng. Việc tạo áp lực lên tĩnh mạch cảnh, một số dây thần kinh lớn trong vùng đầu và một điểm nhất định trong hành tủy sẽ tỏ ra hữu ích và hiệu quả. Về sau, một khoa học xác định về cái chết tất yếu sẽ được xây dựng chi tiết, nhưng chỉ khi sự tồn tại của linh hồn được thừa nhận và mối liên hệ của linh hồn với thân thể đã được chứng minh một cách khoa học.
Mantric phrases will also be employed and definitely built into the consciousness of the dying person by those around him, or employed deliberately and mentally by himself. The Christ demonstrated their use when He cried aloud, “Father, into thy hands, I commend my spirit.” And we have another instance in the words, “Lord, now lettest Thou Thy servant depart in peace.” The steady use of the Sacred Word, chanted in an undertone or on a particular key (to which the dying man will be found to respond), may later constitute also a part of the ritual of transition, accompanied by the anointing with oil, as preserved in the Catholic Church. Extreme Unction has an occult, scientific basis. The top of the head of the dying [459] man should also symbolically point towards the East, and the feet and hands should be crossed. Sandalwood only should be burned in the room, and no incense of any other kind permitted, for sandalwood is the incense of the First or Destroyer Ray, and the soul is in process of destroying its habitation.
Những cụm từ mantram cũng sẽ được sử dụng, và những người xung quanh sẽ khắc sâu chúng vào tâm thức người hấp hối, hoặc chính người ấy sẽ chủ ý sử dụng chúng trong thể trí. Đức Christ đã minh chứng cách sử dụng chúng khi Ngài lớn tiếng kêu: “Lạy Cha, con phó thác tinh thần con trong tay Ngài.” Chúng ta còn có một thí dụ khác trong những lời: “Lạy Chúa, giờ đây xin Ngài để tôi tớ Ngài ra đi trong bình an.” Việc đều đặn sử dụng Linh Từ Thiêng Liêng, được tụng khẽ hoặc theo một âm vực nhất định (mà người hấp hối sẽ tỏ ra đáp ứng), về sau cũng có thể trở thành một phần của nghi thức chuyển tiếp, đi kèm việc xức dầu như vẫn được gìn giữ trong Giáo hội Công giáo. Bí tích Xức dầu lâm chung có một cơ sở khoa học huyền bí. Theo ý nghĩa biểu tượng, đỉnh đầu của người hấp hối [459] cũng nên hướng về phương Đông, còn chân và tay nên đặt chéo nhau. Chỉ nên đốt gỗ đàn hương trong phòng, không cho phép bất kỳ loại hương nào khác, vì đàn hương là hương của cung một hay cung Hủy Diệt, và linh hồn đang trong tiến trình hủy bỏ nơi cư ngụ của mình.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 505.
LUẬN VỀ CHÁNH THUẬT, TRANG 505.
If there is one factor aspirants recognise, it is the need of freeing themselves from the Great Illusion. Arjuna knew this, yet succumbed to despair. Yet in his hour of need, Krishna failed him not, but laid down in the Gita the simple rules whereby depression and doubt can be overcome. They may be briefly summarised as follows:
Nếu có một yếu tố mà những người chí nguyện nhận biết, thì đó là nhu cầu tự giải thoát khỏi Đại Ảo Tưởng. Arjuna biết điều này, nhưng vẫn rơi vào tuyệt vọng. Tuy nhiên, trong giờ phút ông cần trợ giúp, Krishna đã không bỏ mặc ông, mà trình bày trong Gita những quy luật đơn giản giúp vượt qua sự chán nản và hoài nghi. Có thể tóm tắt ngắn gọn những quy luật ấy như sau:
a. Know thyself to be the undoing One.
a. Hãy biết rằng ngươi là Đấng hóa giải.
b. Control thy mind, for through that mind the undying One can be known.
b. Hãy kiểm soát thể trí của ngươi, vì qua thể trí ấy, ngươi có thể biết được Đấng bất tử.
c. Learn that the form is but the veil which hides the splendour of Divinity.
c. Hãy học rằng hình tướng chỉ là bức màn che giấu vẻ huy hoàng của Thiên Tính.
d. Realise that the One Life pervades all forms, so there is no death, no distress, no separation.
d. Hãy nhận ra rằng Sự Sống Duy Nhất thấm nhuần mọi hình tướng, vì thế không có cái chết, không có khổ đau, không có chia lìa.
e. Detach thyself therefore from the form side and come to me, so dwelling in the place where Light and Life are found. Thus illusion ends.
e. Vì thế, hãy tách mình khỏi phương diện hình tướng và đến với ta, nhờ đó an trú nơi có Ánh Sáng và Sự Sống. Như vậy, ảo tưởng chấm dứt.
A TREATISE ON WHITE MAGIC, PAGE 308.
LUẬN VỀ CHÁNH THUẬT, TRANG 308.
A Master learns the meaning of each confining form; then He assumes control and wields the law upon the plane consistent with the form. He has then outgrown the form and discards it for other and higher forms. Thus, He has progressed always by means of the sacrifice and death of the form. Always, it is recognised as imprisoning, always it must be sacrificed and die so that the life within may speed ever on and up. The path of resurrection presupposes [460] crucifixion and death, and then leads to the mount whence Ascension may be made.
Một Chân sư học ý nghĩa của từng hình tướng giam hãm; rồi Ngài nắm quyền kiểm soát và vận dụng định luật trên cõi tương ứng với hình tướng ấy. Khi đó, Ngài đã phát triển vượt khỏi hình tướng và từ bỏ nó để chuyển sang những hình tướng khác cao hơn. Như vậy, Ngài luôn tiến bộ nhờ sự hi sinh và cái chết của hình tướng. Hình tướng luôn được nhận biết là một nhà tù; nó luôn phải được hi sinh và phải chết để sự sống bên trong có thể mãi tiến nhanh về phía trước và lên cao. Con đường phục sinh lấy sự đóng đinh [460] và cái chết làm tiền đề, rồi dẫn đến ngọn núi từ đó có thể Thăng Thiên.
LETTERS ON OCCULT MEDITATION, PAGE 261.
THƯ VỀ THAM THIỀN HUYỀN MÔN, TRANG 261.
2. THE ACT OF RESTITUTION – 2. HÀNH ĐỘNG HOÀN NGUYÊN
In considering the consciousness of the departing soul (note that phrase) as it undertakes the act of restitution, I would again point out that I am dealing with a subject of which there is no tangible physical proof. Occasionally men are brought back again into physical plane existence when at the exact point of complete physical restitution. This can only be done as long as the conscious entity is still occupying the etheric vehicle, though the discarding of the dense physical body has to all intents and purposes been completed. Though the etheric body interpenetrates the entire physical body, it is much larger than that body, and the astral body and the mental nature can still remain etherically polarised even if the death of the physical body—the cessation of all heart activity and the concentration of the basic etheric focus in the region of the head, or the heart, or the solar plexus—has been effective and the withdrawal is already well under way.
Khi xem xét tâm thức của linh hồn đang ra đi (hãy lưu ý cụm từ ấy) lúc linh hồn thực hiện hành động hoàn nguyên, Tôi muốn một lần nữa chỉ ra rằng Tôi đang bàn về một chủ đề chưa có bằng chứng hồng trần hữu hình. Đôi khi, người ta được đưa trở lại sự tồn tại trên cõi hồng trần ngay tại thời điểm hoàn nguyên hồng trần hoàn toàn. Điều này chỉ có thể thực hiện chừng nào thực thể hữu thức vẫn còn chiếm giữ vận cụ dĩ thái, dù xét trên mọi phương diện thực tế, việc từ bỏ thể xác đậm đặc đã hoàn tất. Mặc dù thể dĩ thái thấm xuyên toàn bộ thể xác, nó vẫn lớn hơn thể xác rất nhiều; thể cảm dục và bản chất trí tuệ vẫn có thể duy trì sự phân cực dĩ thái ngay cả khi cái chết của thể xác—sự chấm dứt mọi hoạt động của tim và sự tập trung tiêu điểm dĩ thái căn bản trong vùng đầu, hoặc tim, hoặc tùng thái dương—đã thực sự xảy ra và tiến trình rút lui đã tiến triển đáng kể.
The etheric forces are first of all withdrawn into the surrounding extension of the etheric ring-pass-not, prior to that final dissipation which leaves the man free to stand as a human soul within the ring-pass-not of his astral vehicle. You have here a somewhat new aspect of the death process. The withdrawal of the etheric body from occupation of the dense physical body has oft been posited and presented. But even when that has been accomplished, death is not yet complete; it still awaits a secondary activity of the will of the soul. This secondary activity will result in all the etheric forces dissolving into an emanating source which is the [461] general reservoir of forces. Forget not that the etheric body has no distinctive life of its own. It is only an amalgamation of all the forces and energies which animated the physical body and which galvanised it into activity during the outer life cycle. Remember also that the five centres up the spine are not within the physical body, but are found at certain distinctive points in the paralleling etheric substance; they are (even in the case of the undeveloped man, and still more in the case of the average man) at least two inches away from the physical spine. The three head centres are also outside the dense physical body. The recollection of this will facilitate your understanding of the statement that the physical body is, per se, vacated when death is assumed by the watching authorities, but that, nevertheless, the man may not be truly dead. I would remind you also that this is equally true of the many minor centres as well as of the major centres, with which we are so familiar.
Trước hết, các mãnh lực dĩ thái được thu hồi vào phần mở rộng bao quanh của vòng-giới-hạn dĩ thái, trước sự tiêu tan cuối cùng để con người được tự do hiện hữu như một linh hồn nhân loại trong vòng-giới-hạn của vận cụ cảm dục. Ở đây, các bạn có một phương diện phần nào mới mẻ của tiến trình chết. Việc thể dĩ thái rút khỏi thể xác đậm đặc mà nó chiếm giữ đã thường được nêu ra và trình bày. Nhưng ngay cả khi điều ấy đã hoàn tất, cái chết vẫn chưa trọn vẹn; nó còn chờ một hoạt động thứ hai của ý chí linh hồn. Hoạt động thứ hai này sẽ khiến mọi mãnh lực dĩ thái tan hòa vào một nguồn phát xạ, vốn là [461] kho chứa mãnh lực chung. Đừng quên rằng thể dĩ thái không có sự sống riêng biệt của chính nó. Nó chỉ là sự kết hợp của mọi mãnh lực và năng lượng đã làm cho thể xác sống động và thúc đẩy thể xác hoạt động trong chu kỳ sống bên ngoài. Cũng hãy nhớ rằng năm trung tâm dọc cột sống không nằm trong thể xác, mà ở những điểm riêng biệt nhất định trong chất liệu dĩ thái chạy song song; chúng cách cột sống hồng trần ít nhất hai inch (ngay cả ở người chưa phát triển, và còn xa hơn ở người bình thường). Ba trung tâm đầu cũng nằm ngoài thể xác đậm đặc. Ghi nhớ điều này sẽ giúp các bạn thấu hiểu lời khẳng định rằng chính thể xác, xét riêng nó, đã bị bỏ trống khi những người có thẩm quyền đang theo dõi cho rằng cái chết đã xảy ra, nhưng tuy vậy, người ấy có thể vẫn chưa thực sự chết. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng điều này đúng với cả nhiều trung tâm nhỏ lẫn những trung tâm chính mà chúng ta đã rất quen thuộc.
The last of the minor centres to “fade out into nothingness,” in order to be resolved into the totality of etheric substance, are two which are closely related to and in the region of the lungs. It is on these two centres that the soul works if recalled into the dense physical body for some reason. It is when they swing into a returning or a fresh in-going activity that the breath of life returns to the vacated physical form. It is an unconscious realisation of this which constitutes the prompting cause of the process which is normally carried out in all cases of drowning or of asphyxiation. When a man has succumbed to disease and the physical body is consequently weakened, such restorative exercises are not possible and should not be employed. In cases of sudden death through accident, suicide, murder, unexpected heart attacks or through the processes of war, the shock is such that the somewhat leisurely process of soul withdrawal is entirely offset, and the vacating of the physical [462] body and the complete dissolution of the etheric body are practically simultaneous. In normal cases of death from disease, the withdrawal is slow, and (where the malignancy of the disease has not caused too great deterioration of the physical organism involved) there is the possibility of a return for a shorter or a longer period of time. This frequently happens, especially when the will to live is strong or the life task remains as yet unaccomplished and is not correctly concluded.
Hai trung tâm nhỏ cuối cùng “mờ dần vào hư vô” để hòa tan vào toàn thể chất liệu dĩ thái là hai trung tâm liên hệ mật thiết với phổi và nằm trong vùng phổi. Chính trên hai trung tâm này, linh hồn tác động nếu vì lý do nào đó được gọi trở lại thể xác đậm đặc. Khi chúng bắt đầu hoạt động trở lại hoặc khởi một hoạt động hướng vào mới, hơi thở sự sống trở lại hình tướng hồng trần đã bỏ trống. Sự nhận biết vô thức về điều này chính là nguyên nhân thúc đẩy tiến trình thường được thực hiện trong mọi trường hợp đuối nước hoặc ngạt thở. Khi một người đã chết vì bệnh và do đó thể xác đã suy yếu, những biện pháp hồi sức như thế không còn khả thi và không nên áp dụng. Trong những trường hợp đột tử do tai nạn, tự sát, sát nhân, những cơn đau tim bất ngờ hoặc do diễn biến chiến tranh, cú sốc mạnh đến mức hoàn toàn hóa giải tiến trình rút lui vốn có phần thong thả của linh hồn, và việc rời bỏ thể xác [462] cùng sự tan rã hoàn toàn của thể dĩ thái diễn ra gần như đồng thời. Trong những trường hợp tử vong thông thường do bệnh, sự rút lui diễn ra chậm, và nếu tính ác của căn bệnh chưa làm cơ thể suy thoái quá mức, vẫn có khả năng trở lại trong một thời gian ngắn hoặc dài hơn. Điều này thường xảy ra, nhất là khi ý chí sống còn mạnh hoặc nhiệm vụ của kiếp sống vẫn chưa hoàn thành và chưa kết thúc đúng cách.
There is another point upon which I wish to touch and which has relation to the eternal conflict being waged between the dualities of the dense physical body and the etheric vehicle. The physical elemental (which is the name given to the integrated life of the physical body) and the soul, as it seeks to withdraw and dissolve the sumtotal of the combined energies of the etheric body, are in violent conflict and the process is often fierce and long; it is this battle which is being waged during the long or short period of coma which characterises so many death beds. Coma, esoterically speaking, is of two kinds: there is the “coma of battle” which precedes true death; there is also the “coma of restoration” which takes place when the soul has withdrawn the consciousness thread or aspect, but not the life thread, in an effort to give the physical elemental time to regain its grip upon the organism and thus to restore health. As yet, modern science does not recognise the distinction between these two aspects of coma. Later, when etheric or clairvoyant vision is more common, the quality of the coma prevailing will be known, and the elements of hope or of despair will no longer control. The friends and relations of the unconscious person will know exactly whether they are watching a great and final withdrawal from present incarnation or simply looking on at a restorative process. In the latter case, the soul is still retaining its hold upon [463] the physical body, via the centres, but is withstanding temporarily all energising processes. The exceptions to this restraint are the heart centre, the spleen, and two minor centres connected with the breathing apparatus. These will remain normally energised, even if somewhat weakened in their activity; and through them control is retained. When true death is the soul’s intention, then control over the spleen first of all takes place; then control over the two minor centres follows, and finally control over the heart centre supervenes and the man dies.
Có một điểm khác mà Tôi muốn đề cập, liên quan đến cuộc xung đột vĩnh cửu giữa hai đối cực là thể xác đậm đặc và vận cụ dĩ thái. Tinh linh thể xác—tên gọi dành cho sự sống tích hợp của thể xác—và linh hồn, khi tìm cách rút lui và làm tan rã toàn bộ những năng lượng kết hợp của thể dĩ thái, xung đột dữ dội với nhau, và tiến trình này thường khốc liệt, kéo dài; chính cuộc chiến ấy diễn ra trong thời kỳ hôn mê dài hoặc ngắn vốn là đặc điểm của rất nhiều cảnh lâm chung. Theo cách nói huyền bí, có hai loại hôn mê: “hôn mê do chiến đấu” xảy ra trước cái chết thực sự; và “hôn mê để hồi phục” xảy ra khi linh hồn đã rút thức tuyến hay phương diện tâm thức, nhưng chưa rút sinh mệnh tuyến, nhằm cho tinh linh thể xác thời gian giành lại quyền kiểm soát cơ thể và nhờ đó phục hồi sức khỏe. Cho đến nay, khoa học hiện đại chưa nhận ra sự khác biệt giữa hai phương diện hôn mê này. Về sau, khi linh thị dĩ thái hoặc khả năng thông nhãn trở nên phổ biến hơn, người ta sẽ biết được tính chất của trạng thái hôn mê đang diễn ra, và những yếu tố hy vọng hay tuyệt vọng sẽ không còn chi phối nữa. Bạn bè và thân nhân của người bất tỉnh sẽ biết chính xác liệu họ đang chứng kiến một cuộc rút lui lớn lao và cuối cùng khỏi kiếp lâm phàm hiện tại, hay chỉ đang quan sát một tiến trình hồi phục. Trong trường hợp sau, linh hồn vẫn giữ quyền kiểm soát [463] thể xác qua các trung tâm, nhưng tạm thời ngăn mọi tiến trình tiếp sinh lực. Những ngoại lệ đối với sự kiềm chế này là trung tâm tim, lá lách và hai trung tâm nhỏ liên hệ với bộ máy hô hấp. Những trung tâm này vẫn được tiếp sinh lực bình thường, dù hoạt động có phần suy yếu; và qua chúng, quyền kiểm soát vẫn được duy trì. Khi linh hồn chủ định cái chết thực sự, trước hết sự kiểm soát được thực hiện đối với lá lách; tiếp theo là sự kiểm soát hai trung tâm nhỏ, và cuối cùng sự kiểm soát trung tâm tim diễn ra, rồi con người chết.
The above will give you some idea of the many points connected with dying that still remain to be discovered by orthodox medicine, and which will be revealed as the race of men reaches an increasing sensitivity.
Những điều trên sẽ giúp các bạn phần nào hình dung được nhiều điểm liên quan đến sự chết mà y học chính thống vẫn chưa khám phá, và sẽ được mặc khải khi nhân loại ngày càng trở nên nhạy cảm hơn.
I would ask you to remember that in all our present considerations we are dealing with the reactions and activities of the soul which is deliberately recalling its incarnated aspect because a life cycle has been concluded. The term of that life cycle may be long or short, according to the purposes involved; it may cover only a very few short years, or a century. Prior to the seventh year, the vitality of the physical elemental is largely the determining factor. The soul is then focussed in the etheric body, but is not fully utilising all the centres; it has simply a gently pulsating control and a gentle impulsive activity—sufficient to preserve consciousness, to vitalise the various physical processes, and to initiate the demonstration of character and of disposition. These become increasingly marked until the twenty-first year, when they stabilise into what we call the personality. In the case of disciples, the grip of the soul upon the etheric centres will be more powerful from the very start of the physical existence. By the time the fourteenth year is reached, the quality and the nature of the incarnated soul and its approximate age or experience are determined, the [464] physical, astral and mental elementals are under control, and the soul, the indwelling spiritual man, already determines the life tendencies and choices.
Tôi muốn các bạn nhớ rằng trong mọi điều đang được xem xét, chúng ta đang bàn đến những phản ứng và hoạt động của linh hồn khi chủ ý thu hồi phương diện đang lâm phàm của mình vì một chu kỳ sống đã kết thúc. Thời hạn của chu kỳ sống ấy có thể dài hoặc ngắn, tùy theo những mục đích liên quan; có thể chỉ kéo dài vài năm ngắn ngủi, hoặc cả một thế kỷ. Trước năm thứ bảy, sinh lực của tinh linh thể xác phần lớn là yếu tố quyết định. Khi ấy, linh hồn tập trung trong thể dĩ thái nhưng chưa sử dụng đầy đủ mọi trung tâm; linh hồn chỉ có một sự kiểm soát nhịp nhàng nhẹ nhàng và một hoạt động tạo xung lực dịu nhẹ—đủ để duy trì tâm thức, tiếp sinh lực cho các tiến trình hồng trần khác nhau, và khởi đầu sự biểu lộ tính cách cùng khuynh hướng. Những điều này ngày càng rõ nét cho đến năm thứ hai mươi mốt, khi chúng ổn định thành cái mà chúng ta gọi là phàm ngã. Đối với các đệ tử, quyền kiểm soát của linh hồn đối với các trung tâm dĩ thái sẽ mạnh hơn ngay từ lúc bắt đầu hiện hữu trên cõi hồng trần. Đến năm thứ mười bốn, phẩm tính và bản chất của linh hồn lâm phàm cùng tuổi hay kinh nghiệm gần đúng của linh hồn đã được xác định, các tinh linh thể xác, hành khí cảm dục và hành khí trí tuệ [464] đã ở dưới sự kiểm soát, và linh hồn, con người tinh thần ngự bên trong, đã quyết định những khuynh hướng cùng lựa chọn trong đời sống.
In the case of the ordinary man, where death is intended, the battle between the physical elemental and the soul is a distinctive factor; it is occultly called a “Lemurian departure”; in the case of the average citizen, where the focus of the life is in the desire nature, the conflict is between the astral elemental and the soul, and this is given the name “the death of an Atlantean”; where disciples are concerned, the conflict will be more purely mental and is oft focussed around the will-to-serve and the determination to fulfill a particular aspect of the Plan and the will-to-return in full force to the ashramic centre. Where initiates are concerned, there is no conflict, but simply a conscious and deliberate withdrawal. Curiously enough, if there appears to be a conflict, it will be between the two elemental forces then remaining in the personality: the physical elemental and the mental life. There is no astral elemental to be found in the equipment of an initiate of high standing. Desire has been completely transcended as far as the individual’s own nature is involved.
Đối với người thông thường, khi cái chết đã được chủ định, cuộc chiến giữa tinh linh thể xác và linh hồn là một yếu tố đặc trưng; theo huyền bí học, đó được gọi là một “cuộc ra đi kiểu Lemuria”; đối với người bình thường có trọng tâm đời sống nằm trong bản chất dục vọng, cuộc xung đột diễn ra giữa hành khí cảm dục và linh hồn, và được gọi là “cái chết của một người Atlantis”; đối với các đệ tử, cuộc xung đột sẽ mang tính trí tuệ thuần túy hơn và thường tập trung quanh Ý Chí-Phụng sự cùng quyết tâm hoàn thành một phương diện cụ thể của Thiên Cơ và ý chí trở về trung tâm ashram với toàn bộ sức mạnh. Đối với các điểm đạo đồ, không có xung đột, mà chỉ có sự rút lui hữu thức và có chủ ý. Điều khá lạ là, nếu có vẻ xuất hiện một cuộc xung đột, thì đó sẽ là giữa hai mãnh lực hành khí còn lại trong phàm ngã: tinh linh thể xác và sự sống trí tuệ. Trong bộ máy của một điểm đạo đồ cao cấp không còn hành khí cảm dục. Xét về bản chất riêng của cá nhân, dục vọng đã hoàn toàn được vượt qua.
Factors Confronting the Withdrawing Soul
Những Yếu Tố Mà Linh Hồn Đang Rút Lui Phải Đối Diện
In physical death, therefore, and in the act of restitution, the withdrawing soul has to deal with the following factors:
Do đó, trong cái chết hồng trần và trong hành động hoàn nguyên, linh hồn đang rút lui phải xử lý những yếu tố sau:
1. The physical elemental, the integrated and coordinated life of the physical body, which is forever seeking to hold together under the attractive forces of all its component parts and their mutual interaction. This force works through a number of minor centres.
1. Tinh linh thể xác, sự sống tích hợp và phối hợp của thể xác, vốn luôn tìm cách duy trì sự kết hợp dưới tác động của các mãnh lực thu hút từ mọi thành phần cấu tạo và sự tương tác giữa chúng. Mãnh lực này hoạt động qua một số trung tâm nhỏ.
2. The etheric vehicle, which has a powerful coordinated life of its own, expressed through the seven [465] major centres which react under astral, mental and soul impulsive energy. It works also through certain of the minor centres which are not dedicated to a response to that aspect of the man’s equipment which H.P.B. states is not a principle—the dense physical mechanism.
2. Vận cụ dĩ thái, vốn có một sự sống phối hợp mạnh mẽ riêng, biểu lộ qua bảy [465] trung tâm chính đáp ứng với năng lượng tạo xung lực từ cảm dục, trí tuệ và linh hồn. Nó cũng hoạt động qua một số trung tâm nhỏ không chuyên đáp ứng với phương diện trong bộ máy con người mà H.P.B. khẳng định không phải là một nguyên khí—bộ máy hồng trần đậm đặc.
The minor centres are therefore to be found existing in two groups: Those responsive to the life of dense matter, to the mother aspect, and which are definitely upon the involutionary arc; these are an inheritance from the previous solar system wherein the entire man was controlled via these minor centres, with only a very few of the major centres dimly indicated in the case of initiates and advanced disciples of that time; secondly, those centres which are responsive to energies reaching them via the major centres; these then come under the control of the astral body and the mental apparatus. You will see consequently why, earlier in this treatise, I made the following reference to the minor centres. It might be of interest to you, nevertheless, to be told where the twenty-one minor centres are to be found. They can be located at the following points:
Do đó, các trung tâm nhỏ tồn tại thành hai nhóm: những trung tâm đáp ứng với sự sống của vật chất đậm đặc, với phương diện mẹ, và rõ ràng nằm trên vòng cung giáng hạ tiến hoá; chúng là di sản của hệ mặt trời trước, trong đó toàn bộ con người chịu sự kiểm soát qua các trung tâm nhỏ này, còn chỉ một vài trung tâm chính mới biểu hiện lờ mờ ở các điểm đạo đồ và đệ tử tiến hóa của thời ấy; thứ hai là những trung tâm đáp ứng với các năng lượng đến với chúng qua các trung tâm chính; khi đó, chúng chịu sự kiểm soát của thể cảm dục và bộ máy trí tuệ. Do vậy, các bạn sẽ hiểu vì sao trước đây, trong khảo luận này, Tôi đã đề cập đến các trung tâm nhỏ như sau. Tuy nhiên, có lẽ các bạn sẽ quan tâm khi biết hai mươi mốt trung tâm nhỏ nằm ở đâu. Có thể xác định vị trí của chúng tại những điểm sau:
1. There are two in front of the ears, close to where the jaw bones are connected.
1. Có hai trung tâm ở phía trước hai tai, gần nơi các xương hàm nối với nhau.
2. There are two just above the two breasts.
2. Có hai trung tâm ngay phía trên hai bầu vú.
3. There is one where the breast bone connects, close to the thyroid gland. This, with the two breast centres, makes a triangle of force.
3. Có một trung tâm ở chỗ xương ức nối vào, gần tuyến giáp. Trung tâm này cùng hai trung tâm ở ngực tạo thành một tam giác mãnh lực.
4. There are two, one each in the palms of the hands.
4. Có hai trung tâm, mỗi lòng bàn tay có một.
5. There are two, one each in the soles of the feet.
5. Có hai trung tâm, mỗi lòng bàn chân có một.
6. There are two, just behind the eyes.
6. Có hai trung tâm ngay phía sau hai mắt.
7. There are two, also, connected with the gonads.
7. Cũng có hai trung tâm liên hệ với các tuyến sinh dục.
8. There is one close to the liver. [466]
8. Có một trung tâm gần gan. [466]
9. There is one connected with the stomach; it is related, therefore, to the solar plexus, but is not identical with it.
9. Có một trung tâm liên hệ với dạ dày; do đó, nó có liên hệ với tùng thái dương, nhưng không đồng nhất với tùng thái dương.
10. There are two connected with the spleen. These form one centre in reality, but such a centre is formed by the two being superimposed one on the other.
10. Có hai trung tâm liên hệ với lá lách. Thực ra, chúng tạo thành một trung tâm, nhưng trung tâm ấy hình thành do hai trung tâm chồng lên nhau.
11. There are two—one at the back of each knee.
11. Có hai trung tâm—mỗi trung tâm ở phía sau một đầu gối.
12. There is one powerful centre which is closely connected with the vagus nerve. This is most potent and is regarded by some schools of occultism as a major centre; it is not in the spine, but is no great distance from the thymus gland.
12. Có một trung tâm mạnh mẽ liên hệ mật thiết với dây thần kinh phế vị. Trung tâm này có uy lực rất lớn và một số trường phái huyền bí học xem nó là một trung tâm chính; nó không nằm trong cột sống, nhưng cũng không xa tuyến ức.
13. There is one which is close to the solar plexus, and relates it to the centre at the base of the spine, thus making a triangle of the sacral centre, the solar plexus, and the centre at the base of the spine.
13. Có một trung tâm gần tùng thái dương và nối tùng thái dương với trung tâm ở đáy cột sống, nhờ đó tạo thành một tam giác gồm trung tâm xương cùng, tùng thái dương và trung tâm ở đáy cột sống.
The two triangles referred to in this tabulation are of real importance. One is above and the other below the diaphragm.
Hai tam giác được đề cập trong danh sách này có tầm quan trọng thực sự. Một tam giác ở phía trên và tam giác kia ở phía dưới cơ hoành.
Again, the death process can be seen as a dual activity and one which primarily concerns the etheric body. There is first of all the collecting and the withdrawing of the etheric substance, so that it no longer interpenetrates the dense physical organism, and its subsequent densification (a word I deliberately choose) in that area of the etheric body which has always surrounded, but not penetrated, the dense vehicle. This has been sometimes erroneously called the health aura, and it can be photographed more easily and successfully during the process of dying than at any other time, owing to the accumulation of the withdrawn forces for several inches external to the tangible body. It is at this point in the experience of the withdrawing soul that the “word of death” is spoken, and it is prior to this enunciation [467] of this word that a return to physical living can be possible and the withdrawn etheric forces can again interpenetrate the body. Relationship with all the withdrawn forces is, up to this point, retained via the head or the heart or the solar plexus, as well as via the two minor chest centres.
Một lần nữa, có thể xem tiến trình chết là một hoạt động kép, chủ yếu liên quan đến thể dĩ thái. Trước hết là sự thu gom và rút chất liệu dĩ thái ra để nó không còn xuyên thấm cơ thể hồng trần đậm đặc, rồi sau đó là sự cô đặc của nó—một từ Tôi chủ ý chọn—trong vùng thể dĩ thái vốn luôn bao quanh nhưng không xuyên vào vận cụ đậm đặc. Đôi khi người ta đã gọi nhầm vùng này là hào quang sức khỏe, và trong tiến trình chết, có thể chụp ảnh nó dễ dàng, thành công hơn bất kỳ lúc nào khác, vì các mãnh lực đã rút ra tích tụ trong khoảng vài inch bên ngoài thân thể hữu hình. Chính tại thời điểm này trong trải nghiệm của linh hồn đang rút lui, “linh từ của sự chết” được thốt lên; và trước khi linh từ này được xướng lên [467], vẫn có thể trở lại đời sống hồng trần và các mãnh lực dĩ thái đã rút ra có thể lại xuyên thấm thân thể. Cho đến thời điểm này, mối liên hệ với toàn bộ các mãnh lực đã rút ra vẫn được duy trì qua đầu, tim hoặc tùng thái dương, cũng như qua hai trung tâm nhỏ ở ngực.
All this time the consciousness of the dying man is focussed in either the emotional (or astral) body or the mental vehicle, according to the point in evolution. He is not unconscious as the onlooker might infer, but is fully aware within himself of what is occurring. If he is strongly focussed on physical plane life, and if that is the dominating desire of which he is the most aware, he may then intensify the conflict; you will then have the physical elemental battling furiously for existence, the desire nature fighting to retard the processes of death, and the soul, intent upon the work of abstraction and of restitution. This can and frequently does occasion a struggle which is quite apparent to the onlookers. As the race of men progresses and develops, this triple struggle will become much rarer; desire for physical plane existence will not appear so attractive, and the activity of the astral body will die out.
Suốt thời gian này, tâm thức của người sắp chết tập trung trong thể cảm xúc (hay thể cảm dục) hoặc trong thể trí, tùy theo điểm tiến hoá. Y không bất tỉnh như người quan sát có thể suy đoán, mà hoàn toàn nhận biết bên trong mình điều đang diễn ra. Nếu y tập trung mạnh mẽ vào đời sống trên cõi hồng trần, và nếu đó là dục vọng chi phối mà y nhận biết rõ nhất, thì y có thể làm cuộc xung đột thêm căng thẳng; khi ấy, các bạn sẽ thấy tinh linh thể xác chiến đấu dữ dội để tồn tại, bản chất dục vọng đấu tranh để trì hoãn các tiến trình chết, còn linh hồn thì chuyên chú vào công việc triệt thoái và hoàn nguyên. Điều này có thể gây ra, và thường gây ra, một cuộc đấu tranh mà những người quan sát thấy rất rõ. Khi nhân loại tiến bộ và phát triển, cuộc đấu tranh tam phân này sẽ trở nên hiếm hơn nhiều; niềm khao khát tồn tại trên cõi hồng trần sẽ không còn hấp dẫn đến thế, và hoạt động của thể cảm dục sẽ tắt dần.
I wish you could get a picture (symbolically considered) of a man who is in full incarnation and rooted in his phase of experience, and of a man who is withdrawing from that experience. It connotes a repetition on a tiny scale of the great planetary processes of involution and evolution; it concerns those activities which produce a focussing or a polarisation in one of two directions; it resembles what might be regarded as a process of pouring in life and light into a vessel upon the physical plane, or an intensification of the radiation of that life and light of so potent a nature that under the evocative power of the soul they are both withdrawn and gathered up into the centre of life and light from whence they originally came. I have here given you [468] (could you but recognise it) a definition of initiation, but one of a somewhat unusual phrasing. Perhaps some lines from the Manual of Death which is to be found in the hierarchical archives would prove explanatory to you, and might aid you in gaining a new perspective upon death. This manual has in it what are called the “Formulas preceding Pralaya.” These deal with all the death or abstraction processes, covering the death of all forms, whether it be the death of an ant, a man or a planet. The formulas concern only the two aspects of life and light—the first conditioned by Sound and the second by the Word. The writing which I have in mind concerns the light, and the Word which abstracts it from the form or focusses it within the form.
Tôi mong các bạn có thể hình dung—xét theo nghĩa biểu tượng—một người đang lâm phàm trọn vẹn và bám rễ trong giai đoạn trải nghiệm của mình, cùng một người đang rút lui khỏi trải nghiệm ấy. Điều này hàm ý sự lặp lại ở quy mô rất nhỏ của những tiến trình giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá lớn lao của hành tinh; nó liên quan đến những hoạt động tạo ra sự tập trung hay phân cực theo một trong hai hướng; nó giống điều có thể xem là một tiến trình tuôn sự sống và ánh sáng vào một bình chứa trên cõi hồng trần, hoặc sự tăng cường bức xạ của sự sống và ánh sáng ấy đến mức mạnh mẽ đến nỗi, dưới quyền năng gợi lên của linh hồn, cả hai được rút ra và thu gom vào trung tâm sự sống và ánh sáng mà ban đầu chúng đã xuất phát. Ở đây, Tôi đã đưa ra cho các bạn [468]—giá như các bạn có thể nhận ra—một định nghĩa về điểm đạo, nhưng với cách diễn đạt có phần khác thường. Có lẽ vài dòng trong Cẩm Nang về Cái Chết, được lưu giữ trong văn khố của Thánh đoàn, sẽ giúp giải thích và giúp các bạn có một góc nhìn mới về cái chết. Cẩm nang này có những điều gọi là “Các Công Thức Trước Giai Kỳ Qui Nguyên”. Chúng đề cập đến mọi tiến trình chết hay triệt thoái, bao quát cái chết của mọi hình tướng, dù là cái chết của một con kiến, một con người hay một hành tinh. Các công thức chỉ liên quan đến hai phương diện sự sống và ánh sáng—phương diện thứ nhất chịu tác động của Âm Thanh, phương diện thứ hai chịu tác động của Linh từ. Đoạn văn mà Tôi đang nghĩ đến liên quan đến ánh sáng và Linh từ rút ánh sáng ra khỏi hình tướng hoặc tập trung ánh sáng trong hình tướng.
“Bear in mind, O Chela, that within the known spheres naught is but light responsive to the WORD. Know that that light descends and concentrates itself; know that from its point of chosen focus, it lightens its own sphere; know too that light ascends and leaves in darkness that which it—in time and space—illumined. This descending and ascension men call life, existence and decease; this We Who tread the Lighted Way call death, experience and life.
“Hỡi đệ tử, hãy ghi nhớ rằng trong các khối cầu đã biết, không có gì ngoài ánh sáng đáp ứng với LINH TỪ. Hãy biết rằng ánh sáng ấy giáng xuống và tự tập trung lại; hãy biết rằng từ điểm tập trung đã chọn, nó soi sáng khối cầu của chính nó; cũng hãy biết rằng ánh sáng thăng lên và để lại trong bóng tối những gì nó đã soi sáng trong thời gian và không gian. Sự giáng xuống và thăng lên này, con người gọi là sự sống, sự tồn tại và sự chết; còn Chúng Ta, Những Vị bước trên Con Đường được Soi Sáng, gọi là cái chết, trải nghiệm và sự sống.
Light which descends anchors itself upon the plane of temporary appearance. Seven threads it outward puts, and seven rays of light pulsate along these threads. Twenty one lesser threads are radiated thence, causing the forty-nine fires to glow and burn. Upon the plane of manifested life, the word goes forth: Behold! A man is born.
Ánh sáng giáng xuống tự neo giữ trên cõi sắc tướng tạm thời. Nó phóng ra bảy sợi dây, và bảy tia sáng rung động dọc theo những sợi dây ấy. Từ đó, hai mươi mốt sợi dây nhỏ hơn tỏa ra, khiến bốn mươi chín ngọn lửa bừng sáng và cháy lên. Trên cõi sự sống biểu hiện, linh từ phát ra: Hãy nhìn! Một con người ra đời.
As life proceeds, the quality of light appears; dim and murky it may be, or radiant, bright and shining. Thus do the points of light within the [469] Flame pass and repass; they come and go. This men call life; they call it true existence. They thus delude themselves yet serve the purpose of their souls and fit into the greater Plan.
Khi sự sống tiếp diễn, phẩm tính của ánh sáng hiển lộ; ánh sáng có thể mờ đục, tối tăm, hoặc rực rỡ, sáng ngời, chiếu rạng. Như thế, những điểm sáng trong [469] Ngọn Lửa đi qua rồi trở lại; chúng đến rồi đi. Điều này, con người gọi là sự sống; họ gọi đó là sự tồn tại chân thực. Như vậy, họ tự huyễn hoặc mình nhưng vẫn phụng sự mục đích của linh hồn mình và hòa vào Thiên Cơ lớn lao hơn.
And then a Word sounds forth. The descended, radiating point of light ascends, responsive to the dimly heard recalling note, attracted to its emanating source. This man calls death and this the soul calls life.
Rồi một Linh từ vang lên. Điểm sáng đã giáng xuống và đang tỏa chiếu thăng lên, đáp ứng với âm điệu thu hồi nghe được mơ hồ, chịu sức thu hút về nguồn đã phát xạ ra nó. Điều này, con người gọi là cái chết, còn linh hồn gọi là sự sống.
The Word retains the light in life; the Word abstracts the light, and only That is left which is the Word Itself. That Word is Light. That Light is Life, and Life is God.
Linh từ giữ ánh sáng trong sự sống; Linh từ rút ánh sáng ra, và chỉ còn lại Cái Đó, vốn chính là Linh từ. Linh từ ấy là Ánh Sáng. Ánh Sáng ấy là Sự Sống, và Sự Sống là Thượng đế.
The manifestation of the etheric body in time and space has in it what has been esoterically called “two moments of brilliance.” These are, first, the moment prior to physical incarnation, when the descending light (carrying life) is focussed in all its intensity around the physical body and sets up a rapport with the innate light of matter itself, to be found in every atom of substance. This focussing light will be found to concentrate itself in seven areas of its ring-pass-not, thus creating seven major centres which will control its expression and its existence upon the outer plane, esoterically speaking. This is a moment of great radiance; it is almost as if a point of pulsating light burst into flame, and as if within that flame seven points of intensified light took shape. This is a high point in the experience of taking incarnation, and precedes physical birth by a very short period of time. It is that which brings on the birth hour. The next phase of the process, as seen by the clairvoyant, is the stage of interpenetration, during which “the seven become the twenty-one and then the many”; the light substance, the energy aspect of the soul, begins to permeate [470] the physical body, and the creative work of the etheric or vital body is completed. The first recognition of this upon the physical plane is the “sound” uttered by the newborn infant. It climaxes the process. The act of creation by the soul is now complete; a new light shines forth in a dark place.
Sự biểu hiện của thể dĩ thái trong thời gian và không gian có điều mà huyền bí học gọi là “hai khoảnh khắc huy hoàng”. Thứ nhất là khoảnh khắc trước khi lâm phàm trên cõi hồng trần, khi ánh sáng đang giáng xuống—mang theo sự sống—tập trung với toàn bộ cường độ quanh thể xác và thiết lập mối giao cảm với ánh sáng vốn có trong chính vật chất, hiện diện trong mỗi nguyên tử chất liệu. Người ta sẽ thấy ánh sáng đang tập trung này quy tụ vào bảy vùng trong vòng-giới-hạn của nó, nhờ đó tạo ra bảy trung tâm chính sẽ kiểm soát sự biểu lộ và sự tồn tại của nó trên cõi bên ngoài, theo cách nói huyền bí. Đây là một khoảnh khắc tỏa sáng rực rỡ; gần như thể một điểm sáng rung động bùng thành ngọn lửa, và trong ngọn lửa ấy, bảy điểm sáng có cường độ gia tăng thành hình. Đây là một đỉnh điểm trong trải nghiệm nhập thể, diễn ra trước khi chào đời trên cõi hồng trần một khoảng thời gian rất ngắn. Chính nó đưa đến giờ sinh. Giai đoạn tiếp theo của tiến trình, như nhà thông nhãn nhìn thấy, là giai đoạn xuyên thấm, trong đó “bảy trở thành hai mươi mốt rồi trở thành vô số”; chất liệu ánh sáng, phương diện năng lượng của linh hồn, bắt đầu thấm nhuần [470] thể xác, và công việc sáng tạo của thể dĩ thái hay thể sinh lực hoàn tất. Dấu hiệu đầu tiên của điều này trên cõi hồng trần là “tiếng khóc” của trẻ sơ sinh. Tiếng khóc ấy đưa tiến trình đến đỉnh điểm. Hành động sáng tạo của linh hồn giờ đây đã hoàn tất; một ánh sáng mới chiếu rọi nơi tối tăm.
The second moment of brilliance comes in reverse of this process and heralds the period of restitution and the final abstraction of its own intrinsic energy by the soul. The prison house of the flesh is dissolved by the withdrawing of the light and life. The forty-nine fires within the physical organism die down; their heat and light are absorbed into the twenty-one minor points of light; these, in their turn, are absorbed by the major seven centres of energy. Then the “Word of Return” is uttered, and the consciousness aspect, the quality nature, the light and energy of the incarnating man, are withdrawn into the etheric body. The life principle withdraws, likewise, from the heart. There follows a brilliant flaring-up of pure electric light, and the “body of light” finally breaks all contact with the dense physical vehicle, focusses for a short period in the vital body, and then disappears. The act of restitution is accomplished. This entire process of the focussing of the spiritual elements in the etheric body, with the subsequent abstraction and consequent dissipation of the etheric body, would be greatly hastened by the substitution of cremation for burial.
Khoảnh khắc huy hoàng thứ hai diễn ra theo chiều ngược lại của tiến trình này và báo hiệu thời kỳ hoàn nguyên cùng sự triệt thoái cuối cùng của linh hồn đối với năng lượng nội tại của chính mình. Nhà tù xác thịt tan rã do sự rút lui của ánh sáng và sự sống. Bốn mươi chín ngọn lửa trong cơ thể hồng trần lụi dần; nhiệt và ánh sáng của chúng được hấp thu vào hai mươi mốt điểm sáng nhỏ; đến lượt mình, những điểm sáng này được bảy trung tâm năng lượng chính hấp thu. Bấy giờ, “Linh từ Trở Về” được thốt lên, và phương diện tâm thức, bản chất phẩm tính, ánh sáng cùng năng lượng của con người lâm phàm được rút vào thể dĩ thái. Tương tự, nguyên khí sự sống rút khỏi tim. Tiếp đó là một đợt bùng sáng rực rỡ của ánh sáng điện thuần khiết, và “thể ánh sáng” cuối cùng cắt đứt mọi tiếp xúc với vận cụ hồng trần đậm đặc, tập trung một thời gian ngắn trong thể sinh lực rồi biến mất. Hành động hoàn nguyên đã hoàn tất. Toàn bộ tiến trình tập trung các yếu tố tinh thần trong thể dĩ thái, rồi sau đó triệt thoái và do đó làm tiêu tan thể dĩ thái, sẽ được đẩy nhanh rất nhiều nếu thay việc chôn cất bằng hỏa táng.
Two Main Reasons for Cremation
Hai Lý Do Chính Cho Việc Hỏa Táng
Occultly speaking, cremation is needed for two main reasons. It hastens the release of the subtle vehicles (still enshrouding the soul) from the etheric body, thus bringing about the release in a few hours instead of a few days; it also is a much needed means for bringing about the purification [471] of the astral plane and for arresting the “downward moving” tendency of desire which so greatly handicaps the incarnating soul. It can find no point of focus, because essentially fire repels the form-making aspect of desire and is a major expression of divinity with which the astral plane has no true relation, being created entirely by the human soul and not the divine soul. “Our God is a consuming fire” is the statement in the Bible which refers to the first divine aspect, the aspect of the destroyer, releasing the life. “God is love” connotes the second aspect and portrays God as incarnated existence. “God is a jealous God” is an expression indicating God as form, circumscribed and limited, self-centered and not outgoing. The destroying Sound; the attracting Word; the individualised Speech!
Theo cách nói huyền bí, hỏa táng cần thiết vì hai lý do chính. Nó đẩy nhanh sự giải thoát các vận cụ vi tế—vẫn đang bao bọc linh hồn—khỏi thể dĩ thái, nhờ đó sự giải thoát diễn ra trong vài giờ thay vì vài ngày; nó cũng là một phương tiện rất cần thiết để thanh lọc [471] cõi cảm dục và ngăn chặn khuynh hướng “chuyển động xuống dưới” của dục vọng, vốn gây trở ngại rất lớn cho linh hồn lâm phàm. Dục vọng không thể tìm được điểm tập trung nào, bởi về bản chất, lửa đẩy lùi phương diện tạo hình tướng của dục vọng và là một biểu hiện chính của thiên tính mà cõi cảm dục không có mối liên hệ thực sự nào, vì cõi này hoàn toàn do linh hồn nhân loại tạo ra chứ không phải linh hồn thiêng liêng. “Thượng đế của chúng ta là một ngọn lửa thiêu đốt” là lời trong Kinh Thánh nói đến phương diện thiêng liêng thứ nhất, phương diện của đấng hủy diệt, giải phóng sự sống. “Thượng đế là tình thương” hàm ý phương diện thứ hai và mô tả Thượng đế như sự tồn tại nhập thể. “Thượng đế là một Thượng đế ghen tuông” là một cách diễn đạt chỉ Thượng đế như hình tướng, bị khoanh định và giới hạn, tập trung vào bản thân và không hướng ra ngoài. Âm Thanh hủy diệt; Linh từ thu hút; Lời Nói đã biệt ngã hóa!
At the time of death, speech fades out as the Word sounds forth and restitution is enforced; later, the Word is no longer heard as the Sound obliterates or absorbs it, and there is then complete elimination of all that interferes with Sound. Silence then supervenes and the Sound itself is no longer heard; complete peace follows the act of final integration. Here, in esoteric phraseology, the entire process of death is described.
Vào lúc chết, lời nói tắt dần khi Linh từ vang lên và sự hoàn nguyên diễn ra theo mệnh lệnh; về sau, Linh từ không còn được nghe thấy khi Âm Thanh xóa bỏ hoặc hấp thu nó, và khi ấy mọi điều cản trở Âm Thanh đều hoàn toàn bị loại trừ. Sau đó, Im Lặng ngự trị và chính Âm Thanh cũng không còn được nghe thấy; sự bình an trọn vẹn theo sau hành động tích hợp cuối cùng. Ở đây, toàn bộ tiến trình chết được mô tả bằng ngôn ngữ huyền bí.
It is important to note that it is under the basic and fundamental Law of Attraction that the Art of Dying is carried forward, and that it is the love aspect, the second aspect of divinity, which does the attracting. I exclude cases of sudden death. There the activity is the result of the destroyer, or the first divine aspect. There the condition is different; individual karmic necessity may not be involved at all, and reasons of group conditioning and of great obscurity may lie behind such a happening. So obscure is the subject at this time that I shall not attempt to elucidate. You do not know enough about the Law of [472] Karma, about karmic group involvement, or about relationships and obligations established in past lives. When I say, for instance, that on occasion the “soul may leave the door of protection open so that the forces of death itself may enter anew, having no focal point behind the door” in order “more rapidly to obliterate past penalties due,” you can see how obscure this whole matter can be.
Cần lưu ý rằng Nghệ Thuật Chết được tiến hành dưới Định luật Hấp Dẫn cơ bản và nền tảng, và chính phương diện bác ái, phương diện thứ hai của thiên tính, thực hiện sự thu hút. Tôi loại trừ những trường hợp đột tử. Trong những trường hợp ấy, hoạt động là kết quả của đấng hủy diệt, hay phương diện thiêng liêng thứ nhất. Khi ấy, tình trạng khác đi; sự tất yếu của nghiệp quả cá nhân có thể hoàn toàn không liên quan, và đằng sau một biến cố như thế có thể là những nguyên nhân thuộc ảnh hưởng nhóm và hết sức khó hiểu. Hiện nay, vấn đề này còn quá mờ mịt nên Tôi sẽ không cố giải thích. Các bạn chưa biết đủ về Định luật [472] Nghiệp Quả, về sự liên đới nghiệp quả của nhóm, hoặc về những mối quan hệ và nghĩa vụ đã thiết lập trong các kiếp trước. Chẳng hạn, khi Tôi nói rằng đôi khi “linh hồn có thể để ngỏ cánh cửa bảo vệ để những mãnh lực của chính sự chết lại có thể bước vào, mà không có điểm tập trung nào phía sau cánh cửa”, nhằm “xóa bỏ nhanh hơn những hình phạt quá khứ còn phải chịu”, các bạn có thể thấy toàn bộ vấn đề này khó hiểu đến mức nào.
In all that I am here writing, I am dealing simply with normal death processes—death which comes as the result of disease, old age, or the imposed will of the soul which has completed a designed cycle of experience and is using normal channels to attain projected ends. Death in these cases is normal, and this humanity needs to grasp with greater patience, understanding and hope.
Trong tất cả những gì đang viết ở đây, Tôi chỉ bàn đến các tiến trình chết bình thường—cái chết xảy ra do bệnh tật, tuổi già, hoặc ý chí áp đặt của linh hồn đã hoàn tất một chu kỳ trải nghiệm được hoạch định và đang sử dụng những con đường thông thường để đạt các mục tiêu đã dự kiến. Trong những trường hợp này, cái chết là bình thường, và nhân loại cần nắm bắt điều này với sự kiên nhẫn, thấu hiểu và hy vọng lớn hơn.
Under the Law of Attraction, the soul, at the close of a life cycle, and with full intention, exerts its attractive power in such a manner that it offsets the attractive power inherent in matter itself. This is a clear definition of the basic cause of death. Where no soul contact has been consciously established, as in the case of the majority of people at this time, death comes as an unexpected or sadly anticipated event. Yet—it is a true soul activity. This is the first great spiritual concept to be proclaimed as the fear of death is combatted. Death is carried forward under this Law of Attraction, and consists in the steady and scientific abstraction of the vital body out of the dense physical body, leading eventually to an elimination of all soul contact in the three worlds.
Dưới Định luật Hấp Dẫn, vào cuối một chu kỳ sống, linh hồn hoàn toàn có chủ ý vận dụng quyền năng thu hút của mình theo cách hóa giải quyền năng thu hút vốn có trong chính vật chất. Đây là một định nghĩa rõ ràng về nguyên nhân cơ bản của cái chết. Khi chưa thiết lập một cách hữu thức sự tiếp xúc với linh hồn, như trường hợp của đa số con người hiện nay, cái chết đến như một biến cố bất ngờ hoặc được đón đợi trong buồn bã. Tuy nhiên, đó là một hoạt động thực sự của linh hồn. Đây là quan niệm tinh thần lớn lao đầu tiên cần công bố khi chống lại nỗi sợ chết. Cái chết diễn ra dưới Định luật Hấp Dẫn này và bao gồm sự triệt thoái đều đặn, có tính khoa học của thể sinh lực ra khỏi thể xác đậm đặc, cuối cùng dẫn đến việc chấm dứt mọi tiếp xúc của linh hồn trong ba cõi giới.
Sequence of Events at Death
Trình Tự Các Sự Kiện Khi Chết
I feel that the best that I can do, in order to clarify this subject more completely, is to describe the sequence of events which happens at a death bed, reminding you that the points of final abstraction are three in number: [473] the head for disciples and initiates and also for advanced mental types; the heart for aspirants, for men of goodwill, and for all those who have achieved a measure of personality integrity and are attempting to fulfill, as far as in them lies, the law of love; and the solar plexus for the undeveloped and emotionally polarised persons. All I can do is to tabulate the stages of the process, leaving you to accept them as an interesting and possible hypothesis awaiting verification; to believe them unquestioningly because you have confidence in my knowledge, or to reject them as fantastic, unverifiable and of no moment anyway. I recommend the first of the three, for it will enable you to preserve your mental integrity, it will indicate an open mind, and at the same time it will protect you from gullibility and from narrow-mindedness. These stages, therefore, are:
Tôi cảm thấy điều tốt nhất có thể làm để làm sáng tỏ vấn đề này đầy đủ hơn là mô tả trình tự các sự kiện diễn ra bên giường người hấp hối, đồng thời nhắc các bạn rằng có ba điểm triệt thoái cuối cùng: [473] đầu đối với các đệ tử, điểm đạo đồ và cả những người có trí tuệ phát triển cao; tim đối với những người chí nguyện, những người thiện chí và tất cả những ai đã đạt được một mức độ toàn vẹn của phàm ngã và đang cố gắng thực hiện định luật bác ái trong khả năng của mình; còn tùng thái dương đối với những người chưa phát triển và phân cực cảm xúc. Tất cả những gì Tôi có thể làm là liệt kê các giai đoạn của tiến trình, để các bạn tùy ý chấp nhận chúng như một giả thuyết thú vị và khả dĩ đang chờ kiểm chứng; tin chúng không chút hoài nghi vì các bạn tin tưởng tri thức của Tôi; hoặc bác bỏ chúng như những điều hoang đường, không thể kiểm chứng và dù sao cũng chẳng quan trọng. Tôi khuyên chọn cách thứ nhất trong ba cách ấy, vì nó sẽ giúp các bạn giữ sự toàn vẹn trí tuệ, thể hiện một thể trí cởi mở, đồng thời bảo vệ các bạn khỏi sự cả tin và hẹp hòi. Do đó, các giai đoạn này là:
1. The soul sounds forth a “word of withdrawal” from its own plane, and immediately an interior process and reaction is evoked within the man upon the physical plane.
1. Linh hồn xướng lên một “linh từ rút lui” từ cõi riêng của mình, và ngay lập tức khơi dậy một tiến trình cùng phản ứng nội tại trong con người trên cõi hồng trần.
a. Certain physiological events take place at the seat of the disease, in connection with the heart, and affecting also the three great systems which so potently condition the physical man: the blood stream, the nervous system in its various expressions, and the endocrine system. With these effects I shall not deal. The pathology of death is well known and has received much study exoterically; much still remains to be discovered and will later be discovered. I am concerned, first of all, with the subjective reactions which (in the last analysis) bring about the pathological predisposition to death.
a. Một số sự kiện sinh lý diễn ra tại nơi có bệnh, liên quan đến tim, đồng thời ảnh hưởng đến ba hệ thống lớn tác động mạnh mẽ lên con người hồng trần: dòng máu, hệ thần kinh với các biểu hiện khác nhau của nó, và hệ nội tiết. Tôi sẽ không bàn đến những tác động này. Bệnh lý học của sự chết đã được biết rõ và đã được nghiên cứu nhiều về mặt ngoại môn; vẫn còn nhiều điều cần khám phá và về sau sẽ được khám phá. Trước hết, Tôi quan tâm đến những phản ứng chủ quan mà xét cho cùng tạo ra khuynh hướng bệnh lý dẫn đến cái chết.
b. A vibration runs along the nadis. The nadis are, as you well know, the etheric counterpart of the [474] entire nervous system, and they underlie every single nerve in the entire physical body. They are the agents par excellence of the directing impulses of the soul, reacting to the vibratory activity which emanates from the etheric counterpart of the brain. They respond to the directing Word, react to the “pull” of the soul, and then organise themselves for abstraction.
b. Một rung động chạy dọc các kinh mạch. Như các bạn biết rõ, các kinh mạch là đối phần dĩ thái của [474] toàn bộ hệ thần kinh và làm nền tảng cho từng dây thần kinh trong toàn thể thể xác. Chúng là những tác nhân ưu việt nhất truyền các xung lực chỉ đạo của linh hồn, đáp ứng với hoạt động rung động phát ra từ đối phần dĩ thái của bộ não. Chúng đáp ứng với Linh từ chỉ đạo, phản ứng với “sức kéo” của linh hồn, rồi tự tổ chức để triệt thoái.
c. The blood stream becomes affected in a peculiarly occult manner. The “blood is the life,” we are told; it is interiorly changed as a result of the two previous stages, but primarily as the result of an activity hitherto undiscovered by modern science, for which the glandular system is responsible. The glands, in response to the call of death, inject into the blood stream a substance which in turn affects the heart. There the life thread is anchored, and the substance in the blood is regarded as “death dealing” and is one of the basic causes of coma and of loss of consciousness. It evokes a reflex action in the brain. This substance and its effect will be questioned as yet by orthodox medicine, but its presence will later be recognised.
c. Dòng máu chịu tác động theo một cách đặc biệt huyền bí. Chúng ta được dạy rằng “máu là sự sống”; máu biến đổi từ bên trong do hai giai đoạn trước, nhưng chủ yếu do một hoạt động mà khoa học hiện đại chưa khám phá, do hệ tuyến đảm nhiệm. Đáp ứng với tiếng gọi của sự chết, các tuyến đưa vào dòng máu một chất, rồi chất này tác động lên tim. Sinh mệnh tuyến neo giữ tại đó, và chất trong máu được xem là chất “gây chết”, là một trong những nguyên nhân cơ bản của hôn mê và mất tâm thức. Nó khơi dậy một phản xạ trong bộ não. Hiện nay, y học chính thống vẫn sẽ nghi vấn chất này cùng tác động của nó, nhưng về sau sẽ công nhận sự hiện diện của nó.
d. A psychic tremor is established which has the effect of loosening or breaking the connection between the nadis and the nervous system; the etheric body is thereby detached from its dense sheath, though still interpenetrating every part of it.
d. Một chấn động thông linh xuất hiện, có tác dụng nới lỏng hoặc cắt đứt mối liên hệ giữa các kinh mạch và hệ thần kinh; nhờ đó, thể dĩ thái tách rời lớp vỏ đậm đặc của nó, dù vẫn xuyên thấm mọi phần của lớp vỏ ấy.
2. There is frequently a pause at this point of a shorter or longer period of time. This is allowed in order to carry forward the loosening process as smoothly and as painlessly as possible. This loosening of the nadis starts in the eyes. This process of detachment often shows itself in the relaxation and lack of fear which [475] dying persons so often show; they evidence a condition of peace, and a willingness to go, plus an inability to make a mental effort. It is as if the dying person, still preserving his consciousness, gathers his resources together for the final abstraction. This is the stage in which—the fear of death once and for all removed from the racial mind—the friends and relatives of the departing person will “make a festival” for him and will rejoice with him because he is relinquishing the body. At present this is not possible. Distress rules, and the stage passes unrecognised and is not utilised, as it will some day be.
2. Tại thời điểm này thường có một khoảng tạm dừng ngắn hoặc dài. Khoảng dừng này được cho phép để tiến trình nới lỏng diễn ra êm dịu và ít đau đớn nhất có thể. Sự nới lỏng các kinh mạch bắt đầu từ mắt. Tiến trình tách rời này thường biểu lộ qua sự thư giãn và không còn sợ hãi mà [475] người hấp hối rất thường thể hiện; họ biểu lộ một trạng thái bình an, sẵn lòng ra đi, cùng sự bất lực trong việc thực hiện một nỗ lực trí tuệ. Dường như người hấp hối, tuy vẫn giữ tâm thức, đang tập hợp mọi nguồn lực cho sự triệt thoái cuối cùng. Đây là giai đoạn mà—một khi nỗi sợ chết đã hoàn toàn biến mất khỏi trí tuệ nhân loại—bạn bè và thân nhân của người sắp ra đi sẽ “mở hội” cho y và cùng y vui mừng vì y đang từ bỏ thân thể. Hiện nay, điều này chưa thể thực hiện. Sự đau buồn ngự trị, và giai đoạn ấy trôi qua mà không được nhận ra hay tận dụng như một ngày kia người ta sẽ làm.
3. Next, the organised etheric body, loosened from all nervous relationship through the action of the nadis, begins to gather itself together for the final departure. It withdraws from the extremities towards the required “door of exit” and focusses itself in the area around that door for the final “pull” of the directing soul. All has been proceeding under the Law of Attraction up to this point—the magnetic, attractive will of the soul. Now another “pull” or attractive impulse makes itself felt. The dense physical body, the sumtotal of organs, cells and atoms, is steadily being released from the integrating potency of the vital body by the action of the nadis; it begins to respond to the attractive pull of matter itself. This has been called the “earth” pull and is exerted by that mysterious entity whom we call the “spirit of the earth”; this entity is on the involutionary arc, and is to our planet what the physical elemental is to the physical body of man. This physical plane life force is essentially the life and light of atomic substance—the matter of which all forms are made. It is to this reservoir of involutionary and material life that the substance of all forms is restored. Restitution of [476] the commandeered matter of the form occupied by the soul during a life cycle consists in returning to this “Caesar” the involutionary world what is his, whilst the soul returns to the God Who sent it forth.
3. Tiếp theo, thể dĩ thái đã được tổ chức, sau khi thoát khỏi mọi mối liên hệ thần kinh nhờ hoạt động của các kinh mạch, bắt đầu tự thu gom lại để chuẩn bị cho cuộc ra đi cuối cùng. Nó rút từ các đầu chi về “cửa thoát” cần thiết và tập trung trong vùng quanh cửa ấy, chờ “sức kéo” cuối cùng của linh hồn đang chỉ đạo. Cho đến thời điểm này, tất cả đều diễn ra dưới Định luật Hấp Dẫn—ý chí thu hút, có từ tính của linh hồn. Giờ đây, một “sức kéo” hay xung lực thu hút khác bắt đầu được cảm nhận. Nhờ hoạt động của các kinh mạch, thể xác đậm đặc, tổng thể của các cơ quan, tế bào và nguyên tử, dần dần thoát khỏi quyền năng tích hợp của thể sinh lực; nó bắt đầu đáp ứng với sức thu hút của chính vật chất. Điều này được gọi là sức kéo của “đất”, do thực thể huyền nhiệm mà chúng ta gọi là “tinh linh địa cầu” vận dụng; thực thể này nằm trên vòng cung giáng hạ tiến hoá và có mối quan hệ với hành tinh chúng ta tương tự mối quan hệ giữa tinh linh thể xác và thể xác con người. Mãnh lực sự sống trên cõi hồng trần này về bản chất là sự sống và ánh sáng của chất liệu nguyên tử—vật chất cấu thành mọi hình tướng. Chất liệu của mọi hình tướng đều được hoàn trả về kho chứa sự sống vật chất và giáng hạ tiến hoá này. Sự hoàn nguyên [476] vật chất đã được trưng dụng cho hình tướng mà linh hồn chiếm ngụ trong một chu kỳ sống chính là trả lại cho “Caesar” này—thế giới giáng hạ tiến hoá—những gì thuộc về nó, trong khi linh hồn trở về với Thượng đế, Đấng đã phái nó đi.
It will therefore be apparent that a dual attractive process is at this stage going on:
Do đó, rõ ràng ở giai đoạn này đang diễn ra một tiến trình thu hút kép:
a. The vital body is being prepared for exit.
a. Thể sinh lực đang được chuẩn bị để thoát ra.
b. The physical body is responding to dissolution.
b. Thể xác đang đáp ứng với sự tan rã.
It might be added that a third activity is also present. It is that of the conscious man, withdrawing his consciousness, steadily and gradually, into the astral and mental vehicles, preparatory to the complete abstraction of the etheric body when the right time comes. The man is becoming less and less attached to the physical plane and more withdrawn within himself. In the case of an advanced person, this process is consciously undertaken, and the man retains his vital interests and his awareness of relationship to others even whilst losing his grip on physical existence. In old age this detachment can be more easily noted than in death through disease, and frequently the soul or the living, interested, inner man can be seen losing his grip on physical and, therefore, illusory reality.
Có thể nói thêm rằng một hoạt động thứ ba cũng hiện diện. Đó là hoạt động của con người hữu thức, đều đặn và dần dần rút tâm thức vào các vận cụ cảm dục và trí tuệ, chuẩn bị cho sự triệt thoái hoàn toàn của thể dĩ thái khi thời điểm thích hợp đến. Con người ngày càng ít gắn bó với cõi hồng trần và càng thu vào bên trong mình. Đối với một người tiến hóa, tiến trình này diễn ra một cách hữu thức, và y vẫn duy trì những mối quan tâm thiết yếu cùng sự nhận biết về mối quan hệ với người khác ngay cả khi đang mất dần khả năng nắm giữ sự tồn tại hồng trần. Khi tuổi già, sự tách rời này dễ nhận thấy hơn so với cái chết do bệnh, và thường có thể thấy linh hồn, hay con người nội tâm sống động và đầy quan tâm, đang mất dần sự bám giữ vào thực tại hồng trần, vốn vì thế là thực tại ảo tưởng.
4. Again a pause ensues. This is the point where the physical elemental can at times regain its hold upon the etheric body, if that is deemed desirable by the soul, if death is not part of the inner plan, or if the physical elemental is so powerful that it can prolong the process of dying. This elemental life will sometimes fight a battle lasting for days and weeks. When, however, death is inevitable, the pause at this point will be exceedingly brief, sometimes only for a matter of seconds. The physical elemental has lost its hold, and the etheric [477] body awaits the final “tug” from the soul, acting under the Law of Attraction.
4. Lại có một khoảng tạm dừng. Đây là lúc tinh linh thể xác đôi khi có thể giành lại quyền kiểm soát thể dĩ thái, nếu linh hồn xét thấy điều đó là thích hợp, nếu cái chết không nằm trong kế hoạch bên trong, hoặc nếu tinh linh thể xác mạnh đến mức có thể kéo dài tiến trình chết. Sự sống hành khí này đôi khi chiến đấu suốt nhiều ngày, nhiều tuần. Tuy nhiên, khi cái chết là điều không thể tránh khỏi, khoảng dừng ở thời điểm này sẽ cực kỳ ngắn, đôi khi chỉ vài giây. Tinh linh thể xác đã mất quyền kiểm soát, và thể dĩ thái [477] chờ “cú kéo” cuối cùng từ linh hồn đang hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn.
5. The etheric body emerges from the dense physical body in gradual stages and at the chosen point of exit. When this emergence is complete, the vital body then assumes the vague outline of the form that it energised, and this under the influence of the thoughtform of himself which the man has built up over the years. This thoughtform exists in the case of every human being, and must be destroyed before the second stage of elimination is finally complete. We will touch upon this later. Though freed from the prison of the physical body, the etheric body is not yet freed from its influence. There is still a slight rapport between the two, and this keeps the spiritual man still close to the body just vacated. That is why clairvoyants often claim to see the etheric body hovering around the death bed or the coffin. Still interpenetrating the etheric body are the integrated energies which we call the astral body and the mental vehicle, and at the centre there is a point of light which indicates the presence of the soul.
5. Thể dĩ thái thoát ra khỏi thể xác đậm đặc qua những giai đoạn tuần tự và tại điểm thoát đã chọn. Khi việc thoát ra hoàn tất, thể sinh lực mang đường nét mơ hồ của hình tướng mà nó từng tiếp sinh lực, dưới ảnh hưởng của hình tư tưởng về chính mình mà con người đã xây dựng qua nhiều năm. Hình tư tưởng này tồn tại ở mọi con người và phải bị hủy diệt trước khi giai đoạn loại trừ thứ hai hoàn tất trọn vẹn. Chúng ta sẽ đề cập đến điều này sau. Tuy đã thoát khỏi nhà tù thể xác, thể dĩ thái vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của thể xác. Giữa hai thể này vẫn còn một mối giao cảm nhẹ, giữ con người tinh thần ở gần thân thể vừa rời bỏ. Đó là lý do các nhà thông nhãn thường khẳng định họ thấy thể dĩ thái lơ lửng quanh giường người chết hoặc quan tài. Vẫn xuyên thấm thể dĩ thái là những năng lượng tích hợp mà chúng ta gọi là thể cảm dục và thể trí, và tại trung tâm có một điểm sáng biểu thị sự hiện diện của linh hồn.
6. The etheric body is gradually dispersed as the energies of which it is composed are reorganised and withdrawn, leaving only the pranic substance which is identified with the etheric vehicle of the planet itself. This process of dispersal is, as I have earlier said, greatly aided by cremation. In the case of the undeveloped person, the etheric body can linger for a long time in the neighbourhood of its outer disintegrating shell because the pull of the soul is not potent and the material aspect is. Where the person is advanced, and therefore detached in his thinking from the physical plane, the dissolution of the vital body can be exceedingly rapid. Once it is accomplished, the process of restitution is over; the man [478] is freed, temporarily at least, from all reaction to the attractive pull of physical matter; he stands in his subtle bodies, ready for the great act to which I have given the name “The Art of Elimination.”
6. Thể dĩ thái dần dần phân tán khi các năng lượng cấu thành nó được tổ chức lại và rút đi, chỉ còn chất liệu prana đồng hoá với vận cụ dĩ thái của chính hành tinh. Như Tôi đã nói trước đây, hỏa táng hỗ trợ rất nhiều cho tiến trình phân tán này. Đối với người chưa phát triển, thể dĩ thái có thể nấn ná lâu dài quanh lớp vỏ bên ngoài đang phân rã của nó, vì sức kéo của linh hồn không mạnh, trong khi phương diện vật chất lại mạnh. Đối với người đã tiến hóa và do đó trong tư tưởng đã tách rời cõi hồng trần, sự tan rã của thể sinh lực có thể diễn ra cực kỳ nhanh. Một khi điều ấy hoàn tất, tiến trình hoàn nguyên kết thúc; con người [478] được giải thoát, ít nhất là tạm thời, khỏi mọi phản ứng đối với sức thu hút của vật chất hồng trần; y đứng trong các thể vi tế của mình, sẵn sàng cho hành động lớn lao mà Tôi gọi là “Nghệ Thuật Loại Trừ”.
One thought emerges as we conclude this inadequate consideration of the death of the physical body in its two aspects: that thought is the integrity of the inner man. He remains himself. He is untouched and untrammelled: he is a free agent as far as the physical plane is concerned, and is responsive now to only three predisposing factors:
Khi kết thúc phần xem xét còn chưa đầy đủ này về cái chết của thể xác trong hai phương diện của nó, một tư tưởng nổi lên: đó là sự toàn vẹn của con người bên trong. Y vẫn là chính mình. Y không hề bị tổn thương hay trói buộc: xét về cõi hồng trần, y là một chủ thể tự do hành động, và giờ đây chỉ đáp ứng với ba yếu tố tạo khuynh hướng:
1. The quality of his astral-emotional equipment.
1. Phẩm tính của bộ máy cảm dục–cảm xúc của y.
2. The mental condition in which he habitually lives.
2. Trạng thái trí tuệ mà y thường sống trong đó.
3. The voice of the soul, often unfamiliar but sometimes well known and loved.
3. Tiếng nói của linh hồn, thường xa lạ nhưng đôi khi rất quen thuộc và được yêu mến.
Individuality is not lost; the same person is still present upon the planet. Only that has disappeared which was an integral part of the tangible appearance of our planet. That which has been loved or hated, which has been useful to humanity or a liability, which has served the race or been an ineffectual member of it, still persists, is still in touch with the qualitative and mental processes of existence, and will forever remain—individual, qualified by ray type, part of the kingdom of souls, and a high initiate in his own right.
Cá tính không mất đi; vẫn chính con người ấy hiện diện trên hành tinh. Chỉ những gì là một phần cấu thành của vẻ ngoài hữu hình của hành tinh chúng ta đã biến mất. Người từng được yêu mến hay bị căm ghét, từng hữu ích cho nhân loại hay là một gánh nặng, từng phụng sự nhân loại hay là một thành viên vô ích, vẫn tồn tại, vẫn tiếp xúc với những tiến trình phẩm tính và trí tuệ của sự tồn tại, và sẽ mãi còn đó—một cá nhân, mang phẩm tính của loại cung, thuộc giới linh hồn, và là một điểm đạo đồ cao cấp theo đúng tư cách của mình.
3. TWO QUESTIONS OF IMPORTANCE. – 3. HAI CÂU HỎI QUAN TRỌNG.
I have sought, in the preceding pages, to give an insight into the true nature of that which we call death. Death is the withdrawal, consciously or unconsciously, of the inner living entity from its outer shell, its inner vital correspondence, and finally it is the relinquishing of the subtle body or bodies, according to the point in evolution of the person. I have also sought to show the normality of this familiar [479] process. The horror which attends death upon the battlefield or by accident consists in the shock which it precipitates within the area of the etheric body, necessitating a rapid rearrangement of its constituent forces and a sudden and unexpected reintegration of its component parts in response to definite action which has perforce to be taken by the man in his kama-manasic body. This action does not involve the replacing of the inner man again within the etheric vehicle, but requires a coming together of the dissipated aspects of that body under the Law of Attraction, in order that its final and complete dissolution can take place.
Trong những trang trước, Tôi đã tìm cách giúp các bạn có cái nhìn sâu vào bản chất thực sự của điều chúng ta gọi là cái chết. Cái chết là sự rút lui, hữu thức hoặc vô thức, của thực thể sống bên trong khỏi lớp vỏ bên ngoài, khỏi đối phần sinh lực bên trong của lớp vỏ ấy, và cuối cùng là sự từ bỏ một hoặc nhiều thể vi tế, tùy theo điểm tiến hoá của người ấy. Tôi cũng đã tìm cách chỉ ra tính bình thường của tiến trình [479] quen thuộc này. Nỗi kinh hoàng đi kèm cái chết trên chiến trường hoặc do tai nạn nằm ở cú sốc mà nó gây ra trong vùng thể dĩ thái, đòi hỏi phải nhanh chóng sắp xếp lại các mãnh lực cấu thành và đột ngột, bất ngờ tái tích hợp các thành phần của thể này, để đáp ứng một hành động rõ rệt mà con người buộc phải thực hiện trong thể trí cảm của mình. Hành động này không bao hàm việc đưa con người bên trong trở lại vận cụ dĩ thái, mà đòi hỏi các phương diện đã phân tán của thể ấy quy tụ lại dưới Định luật Hấp Dẫn, để sự tan rã cuối cùng và hoàn toàn của nó có thể diễn ra.
Before taking up our theme (which is the Art of Elimination), I want to answer two questions which seem to me of importance; they are frequently asked by earnest and intelligent students.
Trước khi tiếp tục chủ đề của chúng ta là Nghệ Thuật Loại Trừ, Tôi muốn trả lời hai câu hỏi mà Tôi cho là quan trọng; những đạo sinh chân thành và thông minh thường đặt ra chúng.
The first question is, in reality, the expression of disappointment in this series of instructions. It can be framed as follows: Why does not the Tibetan Teacher take up definite or basic diseases, and deal with their pathology, give their cures or suggested treatment, indicate their direct causes and give, in detail, the processes of recovery? Because, my brothers, there is little that I can add technically to what has already been ascertained by medical science anent the symptoms, the localities and the general trends in which diseased conditions are found. Observation, experimentation, trial and error, success and failure have given to modern man a wide and definitely accurate knowledge of the outer aspects and effects of disease. Time, and constant trained observation, have equally definitely indicated cures or ameliorative processes or preventive measures (such as vaccination for smallpox), and these have proved after many years to be helpful. Investigation and experiment and the steadily growing facilities which science provides are adding to man’s capacity to help, to cure at times, to ameliorate frequently, [480] and to lessen the reactions of pain. Medical science and surgical skill have advanced by leaps and bounds—so much so that what is today known and somewhat grasped is of so vast a nature and so intricate in its scientific and therapeutic aspects that they have given rise to specialists—to those who concentrate upon a particular field, and who therefore deal only with certain conditions of ill health and disease, thereby attaining much skill, knowledge and frequent success. All this is good, in spite of what cranks and people with a pet method of cure may say, or even those who have no use for the medical profession and prefer some cult or some of the newer approaches to the problem of health.
Câu hỏi thứ nhất thực ra biểu lộ sự thất vọng đối với loạt huấn thị này. Có thể trình bày như sau: Tại sao Huấn sư Tây Tạng không đề cập đến những căn bệnh cụ thể hay cơ bản, bàn về bệnh lý của chúng, đưa ra cách chữa hoặc phương pháp điều trị đề nghị, chỉ rõ những nguyên nhân trực tiếp và trình bày chi tiết các tiến trình hồi phục? Bởi vì, các huynh đệ của Tôi, về mặt chuyên môn, Tôi có thể bổ sung rất ít vào những gì y học đã xác định về các triệu chứng, vị trí và những diễn biến chung của tình trạng bệnh tật. Quan sát, thực nghiệm, thử và sai, thành công và thất bại đã đem lại cho con người hiện đại một tri thức rộng lớn và rõ ràng chính xác về các phương diện bên ngoài cùng tác động của bệnh tật. Thời gian và sự quan sát liên tục có chuyên môn cũng đã chỉ ra rõ ràng những cách chữa, những tiến trình làm thuyên giảm hoặc biện pháp phòng ngừa—chẳng hạn tiêm chủng phòng bệnh đậu mùa—và sau nhiều năm, chúng đã chứng tỏ là hữu ích. Nghiên cứu, thực nghiệm và những phương tiện ngày càng phát triển mà khoa học cung cấp đang gia tăng khả năng của con người trong việc trợ giúp, đôi khi chữa lành, thường xuyên làm thuyên giảm, [480] và giảm bớt những phản ứng đau đớn. Y học và kỹ năng phẫu thuật đã tiến những bước vượt bậc—đến mức những gì ngày nay đã biết và phần nào nắm bắt được có phạm vi rộng lớn và tính phức tạp về khoa học lẫn trị liệu đến nỗi đã làm xuất hiện các chuyên gia—những người tập trung vào một lĩnh vực cụ thể, do đó chỉ xử lý một số tình trạng sức khỏe kém và bệnh tật nhất định, nhờ vậy đạt kỹ năng cao, tri thức sâu và thường thành công. Tất cả những điều này đều tốt, bất kể những người lập dị và những người có phương pháp chữa bệnh ưa chuộng riêng nói gì, hay thậm chí những người không coi trọng ngành y và chuộng một giáo phái hoặc một số cách tiếp cận mới hơn đối với vấn đề sức khỏe nói gì.
The reason that these newer approaches exist is that medical science has made such progress that it has now reached the limits of its purely physical area or field and is now on the verge of advancing into the realm of the intangible and is thus drawing nearer to the world of causes. It is for this reason that I have wasted no time with the details of disease, with enumerating or considering specific diseases, their symptoms or their treatment because that is fully covered in the textbooks available; they can likewise be seen in their many and various stages in our great hospitals.
Những cách tiếp cận mới hơn này tồn tại vì y học đã tiến bộ đến mức hiện nay chạm tới giới hạn của phạm vi hay lĩnh vực thuần túy hồng trần, và đang đứng trước ngưỡng tiến vào địa hạt vô hình, nhờ đó tiến gần hơn đến thế giới nguyên nhân. Chính vì vậy, Tôi đã không dành thời gian cho những chi tiết của bệnh tật, cho việc liệt kê hoặc xem xét các bệnh cụ thể, triệu chứng hay cách điều trị của chúng, bởi các sách giáo khoa hiện có đã trình bày đầy đủ; người ta cũng có thể quan sát chúng trong nhiều giai đoạn khác nhau tại những bệnh viện lớn của chúng ta.
I have, however, dealt with the latent causes of disease—such as tuberculosis, syphilis and cancer—inherent in the individual man, in humanity as a whole, and also in our planet. I have traced the psychological basis of disease and have indicated a practically new field wherein disease—particularly in its earlier stages—can be studied.
Tuy nhiên, Tôi đã bàn đến những nguyên nhân tiềm ẩn của bệnh tật—như bệnh lao, giang mai và ung thư—vốn có trong từng cá nhân, trong toàn thể nhân loại và cả trong hành tinh chúng ta. Tôi đã truy nguyên cơ sở tâm lý của bệnh tật và chỉ ra một lĩnh vực hầu như mới mẻ, trong đó có thể nghiên cứu bệnh tật—đặc biệt ở những giai đoạn đầu.
When the psychological basis of disease can be realised and its factual nature is admitted by the orthodox physician, the surgeon, the psychologist and the priest, then all will work together in this developing area of understanding, and what is today vaguely called “preventive medicine” will come into its own. I prefer to define this phase of medical [481] application as the organisation of those methods whereby disease will be avoided, and the development of those techniques whereby correct psychological training will be given—from youth up—and by right emphasis upon the inner spiritual man, those conditions will be negated and those habits avoided which today lead inevitably to ill health, definitely symptomatic disease and eventual death.
Khi cơ sở tâm lý của bệnh tật có thể được nhận biết và tính xác thực của nó được thầy thuốc chính thống, bác sĩ phẫu thuật, nhà tâm lý học và giáo sĩ thừa nhận, tất cả sẽ cùng làm việc trong lĩnh vực thấu hiểu đang phát triển này, và điều ngày nay được gọi một cách mơ hồ là “y học dự phòng” sẽ phát huy đúng vai trò của mình. Tôi muốn định nghĩa giai đoạn ứng dụng y học [481] này là việc tổ chức những phương pháp nhờ đó bệnh tật sẽ được phòng tránh, và phát triển những kỹ thuật nhờ đó sự huấn luyện tâm lý đúng đắn sẽ được thực hiện từ tuổi trẻ trở đi; đồng thời, bằng cách chú trọng đúng mức đến con người tinh thần bên trong, những tình trạng và thói quen hiện nay tất yếu dẫn đến sức khỏe suy kém, bệnh tật có triệu chứng rõ rệt và cuối cùng là cái chết sẽ được loại bỏ hoặc tránh khỏi.
In the above statement, I refer to no affirmative or speculative science such as Christian Science or those schools of thought which trace all disease to the power of thought. I am concerned with the immediate necessity of right psychological training, based upon a knowledge of the constitution of man, upon the science of the seven rays (the forces which condition man and make him what he is), and upon esoteric astrology; I am concerned with the application of the knowledges, hitherto regarded as peculiar and esoteric, which are slowly coming under general consideration, and which have made great progress during the past twenty-five years. I am not concerned with the abolition of medical treatment, nor am I concerned with endorsing the newer modes of treatment—all of which are still in the experimental stage and all of which have somewhat to contribute to medical science as a whole; out of the united contribution should come a richer and more fluid medical approach to the patient.
Trong phát biểu trên, Tôi không nói đến một ngành khoa học dựa trên sự khẳng định hay suy đoán nào, chẳng hạn Khoa học Cơ Đốc hoặc những trường phái tư tưởng quy mọi bệnh tật về quyền năng của tư tưởng. Tôi quan tâm đến nhu cầu cấp thiết phải huấn luyện tâm lý đúng đắn, dựa trên tri thức về cấu tạo con người, về khoa học bảy cung—những mãnh lực tác động và định hình con người thành con người hiện tại của y—và về Chiêm Tinh Học Nội Môn; Tôi quan tâm đến việc ứng dụng những tri thức trước nay được xem là đặc thù và nội môn, đang dần được xem xét rộng rãi và đã tiến bộ lớn trong hai mươi lăm năm qua. Tôi không chủ trương bãi bỏ việc điều trị y khoa, cũng không chủ trương tán thành những phương thức điều trị mới hơn—tất cả vẫn đang trong giai đoạn thực nghiệm và đều có phần đóng góp cho y học nói chung; từ sự đóng góp chung ấy, cần hình thành một cách tiếp cận y học phong phú và linh động hơn đối với người bệnh.
The picture I have outlined of the psychological background of all diseases will be long in painting; in the meantime, the contribution of medicine is indispensable. In spite of mistakes, faulty diagnosis and much error, humanity cannot do without its doctors, its surgeons and its hospitals. They are urgently needed, and will be for centuries to come. In this statement is no cause for discouragement. Humanity cannot be brought into a condition of perfect physical health immediately, though correct psychological training from infancy will do much in the course of a few decades. Wrong [482] conditions have been long developing. Modern medicine must become far more open-minded, more ready to endorse (after due professional proof) that which is new, which is in the nature of innovation and which is unusual. The barriers erected by specialised medicine must come down, and the new schools must be sought, instructed and investigated, and finally be included in the orthodox ranks. The new schools, such as those concerned with electro-therapy, the chiropractic schools, the dieticians who claim to cure all diseases through right foods, and the rather eccentric naturopaths, plus many other cults and schools, must not be so arrogantly sure that they have the whole story, that their approach is the only one or that they have a universal cure-all which is unique and definitely sure. These groups, particularly the chiropractors, have definitely damaged their cause and crippled their effort by their loudly shouted surety (in a field which is yet experimental), and by their constant attack upon orthodox medicine. The latter, in its turn, has limited itself by its failure to recognise what is good and right in the newer schools; it has been antagonised by their clamour for recognition, and by their lack of scientific methods. The desire of orthodox medicine is to protect the general public. This they needs must do in order to avoid the disasters which fanatics and untried methods would bring about, but they have gone too far in this respect. The school of thought which I have sponsored in these instructions will also be challenged, and this for a long time. However, the mental and psychological effects of the world war will greatly hasten the recognition of the psychological basis for disease and other troubles; modern medicine, therefore, faces its major opportunity.
Bức tranh Tôi đã phác họa về nền tảng tâm lý của mọi bệnh tật sẽ còn cần nhiều thời gian để hoàn tất; trong khi đó, sự đóng góp của y học là không thể thiếu. Bất chấp những sai lầm, những chẩn đoán không chính xác và nhiều thiếu sót, nhân loại không thể thiếu các bác sĩ, bác sĩ phẫu thuật và bệnh viện. Nhân loại đang hết sức cần đến họ, và sẽ vẫn cần trong nhiều thế kỷ tới. Nhận định này không có gì đáng khiến chúng ta nản lòng. Không thể lập tức đưa nhân loại đến tình trạng sức khỏe thể chất hoàn hảo, dù việc giáo dục tâm lý đúng đắn từ thuở ấu thơ sẽ mang lại nhiều kết quả trong vài thập niên. Những tình trạng sai lệch [482] đã hình thành từ lâu. Y học hiện đại phải cởi mở hơn nhiều, sẵn sàng hơn trong việc công nhận những gì mới mẻ, mang tính đổi mới và khác thường, sau khi đã có đủ bằng chứng chuyên môn. Những rào cản do nền y học chuyên khoa dựng lên phải được dỡ bỏ; cần tìm đến, hướng dẫn và khảo sát các trường phái mới, rồi cuối cùng đưa họ vào hàng ngũ chính thống. Các trường phái mới, chẳng hạn những trường phái chuyên về điện trị liệu, các trường phái nắn chỉnh cột sống, các chuyên gia dinh dưỡng tuyên bố có thể chữa mọi bệnh bằng thực phẩm thích hợp, và các nhà trị liệu tự nhiên khá khác thường, cùng nhiều nhóm và trường phái khác, không được quá ngạo mạn tin chắc rằng họ đã nắm được toàn bộ vấn đề, rằng phương pháp của họ là phương pháp duy nhất, hoặc rằng họ có một phương thuốc chữa bách bệnh độc nhất và tuyệt đối chắc chắn. Những nhóm này, đặc biệt là các nhà nắn chỉnh cột sống, rõ ràng đã làm tổn hại sự nghiệp của mình và cản trở nỗ lực của chính họ bằng những lời quả quyết ồn ào trong một lĩnh vực vẫn còn đang thử nghiệm, cũng như bằng việc không ngừng công kích y học chính thống. Đến lượt mình, y học chính thống đã tự giới hạn vì không công nhận những điều tốt đẹp và đúng đắn trong các trường phái mới hơn; những lời đòi hỏi ồn ào nhằm được công nhận và sự thiếu phương pháp khoa học của các trường phái ấy đã khiến y học chính thống trở nên đối kháng. Mong muốn của y học chính thống là bảo vệ công chúng. Họ nhất thiết phải làm điều này để tránh những tai họa mà những người cuồng tín và các phương pháp chưa qua kiểm chứng có thể gây ra, nhưng về phương diện này, họ đã đi quá xa. Trường phái tư tưởng mà Tôi cổ xúy trong những huấn thị này cũng sẽ bị chất vấn, và tình trạng ấy sẽ kéo dài. Tuy nhiên, những tác động về trí tuệ và tâm lý của cuộc thế chiến sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc công nhận nền tảng tâm lý của bệnh tật và những vấn đề khác; vì vậy, y học hiện đại đang đứng trước cơ hội lớn của mình.
A combination of true medical science (as produced by man down the ages under the inspiration of his divine nature), of the newer aspects of treatment as formulated by [483] the many emerging schools of thought, of practice and experiment, the recognition of the energies which condition man, working through the seven centres in his vital body, and of the astrological influences which equally condition him, via the inner man, will eventually produce the new medical approach which will keep man in good health, which will arrest disease in its earliest stages, and which will finally inaugurate that cycle in human affairs wherein disease and ill health will be exceptions and not the rule, as is the case today, and wherein death will be regarded as a happy and destined release and not, as is the case today, a dreaded enemy.
Sự kết hợp giữa khoa học y học chân chính, do con người tạo dựng qua các thời đại dưới cảm hứng từ bản chất thiêng liêng của mình; những phương diện trị liệu mới hơn do [483] nhiều trường phái tư tưởng, thực hành và thử nghiệm đang xuất hiện xây dựng nên; việc công nhận các năng lượng tác động lên con người, hoạt động qua bảy trung tâm trong thể sinh lực của y; cùng các ảnh hưởng chiêm tinh cũng tác động lên y qua con người bên trong, cuối cùng sẽ tạo nên một phương pháp y học mới giúp con người giữ được sức khỏe tốt, ngăn chặn bệnh tật ngay từ những giai đoạn đầu, và sau cùng mở ra một chu kỳ trong đời sống nhân loại, khi bệnh tật và sức khỏe suy yếu trở thành ngoại lệ thay vì là tình trạng phổ biến như hiện nay, và khi cái chết được xem là một sự giải thoát hạnh phúc đã được định trước, thay vì là một kẻ thù đáng sợ như ngày nay.
The second question is definitely concerned with the processes of death. It has been asked: What is the Tibetan’s attitude towards cremation, and under what conditions should cremation be followed? It is a fortunate and happy thing that cremation is becoming increasingly the rule. Before so very long, burial in the ground will be against the law and cremation will be enforced, and this as a health and sanitation measure. Those unhealthy, psychic spots, called cemeteries, will eventually disappear, just as ancestor worship is passing out, both in the Orient—with its ancestor cults—and in the Occident—with its equally foolish cult of hereditary position.
Câu hỏi thứ hai rõ ràng liên quan đến các tiến trình của cái chết. Có người đã hỏi: Quan điểm của Chân sư Tây Tạng về hỏa táng là gì, và nên thực hiện hỏa táng trong những điều kiện nào? Việc hỏa táng ngày càng trở thành thông lệ là một điều may mắn và đáng mừng. Chẳng bao lâu nữa, việc chôn cất dưới đất sẽ trái pháp luật, và hỏa táng sẽ trở thành bắt buộc như một biện pháp bảo vệ sức khỏe và vệ sinh. Những địa điểm thông linh không lành mạnh gọi là nghĩa trang ấy cuối cùng sẽ biến mất, cũng như tục thờ cúng tổ tiên đang dần mai một, cả ở phương Đông với các tín ngưỡng thờ tổ tiên, lẫn ở phương Tây với sự tôn sùng địa vị thế tập cũng phi lý không kém.
By the use of fire, all forms are dissolved; the quicker the human physical vehicle is destroyed, the quicker is its hold upon the withdrawing soul broken. A great deal of nonsense has been told in current theosophical literature about the time equation in relation to the sequential destruction of the subtle bodies. It should be stated, however, that the moment that true death is scientifically established (by the orthodox doctor in charge of the case), and it has been ascertained that no spark of life remains in the physical body, cremation is then possible. This complete or true [484] death eventuates when the thread of consciousness and the thread of life are completely withdrawn from the head and the heart. At the same time, reverence and an unhurried attitude have their rightful place in the process. The family of the dead person need a few hours in which to adjust themselves to the fact of the imminent disappearance of the outer and usually loved form; due care must also be given to the formalities required by the state or the municipality. This time element has reference mainly to those who are left behind, to the living and not to the dead. The claim that the etheric body must not be rushed into the cremating flames, and the belief that it must be left to drift around for a stated period of several days, have also no true basis at all. There is no etheric need for delay. When the inner man withdraws from his physical vehicle he withdraws simultaneously from the etheric body. It is true that the etheric body is apt to linger for a long time on the “field of emanation” when the physical body is interred, and it will frequently persist until complete disintegration of the dense body has taken place. The process of mummifying, as practised in Egypt, and of embalming, as practised in the West, have been responsible for the perpetuation of the etheric body, sometimes for centuries. This is particularly the case when the mummy or embalmed person was of an evil character during life; the hovering etheric body is then often “possessed” by an evil entity or evil force. This is the cause of the attacks and the disasters which often dog the steps of those who discover ancient tombs and their inhabitants, ancient mummies, and bring them and their possessions to light. Where cremation is the rule, there is not only the immediate destruction of the physical body and its restitution to the fount of substance, but the vital body is also promptly dissolved and its forces swept away by the current of flame into the reservoir of vital energies. Of that reservoir [485] it has ever been an inherent part, either in form or in a formless condition. After death and cremation these forces still exist but are absorbed into the analogous whole. Ponder on this statement, for it will give you the clue to the creative work of the human spirit. If delay is necessary from family feeling or municipal requirements, cremation should follow death within thirty-six hours; where no reason for delay exists, cremation can be rightly permitted in twelve hours. It is wise, however, to wait twelve hours in order to ensure true death.
Nhờ sử dụng lửa, mọi hình tướng đều tan rã; hiện thể hồng trần của con người càng bị hủy nhanh bao nhiêu thì sự níu giữ của nó đối với linh hồn đang rút lui càng sớm chấm dứt bấy nhiêu. Văn liệu Thông Thiên Học hiện hành đã đưa ra rất nhiều điều vô nghĩa về yếu tố thời gian liên quan đến sự hủy hoại lần lượt của các thể vi tế. Tuy nhiên, cần nói rõ rằng ngay khi cái chết thực sự đã được xác nhận một cách khoa học bởi bác sĩ chính thống phụ trách trường hợp ấy, và đã xác định không còn tia sự sống nào trong thể xác, thì có thể tiến hành hỏa táng. Cái chết hoàn toàn hay thực sự [484] này xảy ra khi thức tuyến và sinh mệnh tuyến đã hoàn toàn rút khỏi đầu và tim. Đồng thời, sự kính trọng và thái độ không vội vã vẫn có vị trí chính đáng trong tiến trình này. Gia đình người quá cố cần vài giờ để thích nghi với sự thật rằng hình tướng bên ngoài, thường là hình tướng họ yêu quý, sắp biến mất; cũng phải quan tâm đúng mức đến những thủ tục mà nhà nước hoặc chính quyền địa phương yêu cầu. Yếu tố thời gian này chủ yếu liên quan đến những người ở lại, đến người sống chứ không phải người chết. Lời khẳng định rằng không được vội đưa thể dĩ thái vào ngọn lửa hỏa táng, và niềm tin rằng phải để nó trôi dạt quanh quẩn trong một khoảng thời gian ấn định là vài ngày, cũng hoàn toàn không có cơ sở thực sự. Xét về thể dĩ thái, không có nhu cầu trì hoãn. Khi con người bên trong rút khỏi hiện thể hồng trần, y đồng thời rút khỏi thể dĩ thái. Đúng là thể dĩ thái có khuynh hướng nấn ná rất lâu trên “trường phát xạ” khi thể xác được chôn cất, và nó thường tồn tại cho đến khi thể xác đậm đặc đã phân hủy hoàn toàn. Việc làm xác ướp như ở Ai Cập, và việc ướp bảo quản thi hài như ở phương Tây, đã khiến thể dĩ thái tiếp tục tồn tại, đôi khi suốt nhiều thế kỷ. Điều này đặc biệt đúng khi xác ướp hay người được ướp bảo quản có tính cách xấu xa lúc sinh thời; khi ấy, thể dĩ thái lảng vảng thường bị một thực thể xấu xa hay một mãnh lực xấu xa “chiếm hữu”. Đây là nguyên nhân của những cuộc tấn công và tai họa thường đeo bám những người phát hiện các ngôi mộ cổ cùng những người nằm trong đó, những xác ướp cổ, rồi đưa họ cùng tài vật của họ ra ánh sáng. Ở nơi hỏa táng là thông lệ, không chỉ thể xác lập tức bị hủy và hoàn nguyên về nguồn chất liệu, mà thể sinh lực cũng nhanh chóng tan rã, và dòng lửa cuốn các mãnh lực của nó vào kho dự trữ năng lượng sinh lực. Nó vốn luôn là một phần không thể tách rời của kho dự trữ ấy [485], dù ở trong hình tướng hay trong trạng thái vô hình tướng. Sau cái chết và hỏa táng, các mãnh lực này vẫn tồn tại nhưng được hấp thu vào toàn thể tương đồng. Hãy suy ngẫm về nhận định này, vì nó sẽ cho các bạn manh mối để hiểu công việc sáng tạo của tinh thần con người. Nếu cần trì hoãn vì tình cảm gia đình hoặc yêu cầu của chính quyền địa phương, nên hỏa táng trong vòng ba mươi sáu giờ sau khi chết; nếu không có lý do trì hoãn, có thể cho phép hỏa táng sau mười hai giờ một cách thích đáng. Tuy nhiên, chờ mười hai giờ để bảo đảm cái chết thực sự là điều khôn ngoan.
CHAPTER VI - The Art of Elimination – CHƯƠNG VI - Nghệ Thuật Loại Bỏ
[486]
[486]
To take up again the thread of our instruction, we will now consider the activity of the inner spiritual man who has discarded his physical and etheric bodies and now stands within the shell of the subtle body—a body composed of astral or sentient substance and of mental substance. Owing to the strongly emotional and sentient polarisation of the average man, the idea has taken hold that man withdraws, after true death, first of all into his astral body, and then, later, into his mental vehicle. But this is not actually the case. A body constructed predominantly of astral matter is the basis of this idea. Few people are as yet so developed that the vehicle in which they find themselves after death is largely composed of mental substance. Only disciples and initiates who live mostly in their minds find themselves, after death, immediately upon the mental plane. Most people discover themselves upon the astral plane, clothed in a shell of astral matter and committed to a period of elimination within the illusory area of the astral plane.
Tiếp nối mạch huấn thị, giờ đây chúng ta sẽ xem xét hoạt động của con người tinh thần bên trong, vốn đã từ bỏ thể xác và thể dĩ thái, và hiện ở trong lớp vỏ của thể vi tế—một thể cấu thành từ chất liệu cảm dục hay chất liệu cảm thụ và chất liệu trí tuệ. Do người trung bình phân cực mạnh mẽ vào cảm xúc và cảm thụ, nên quan niệm cho rằng sau cái chết thực sự, trước hết con người rút vào thể cảm dục, rồi sau đó vào hiện thể trí tuệ, đã ăn sâu. Nhưng thực tế không phải như vậy. Một thể cấu tạo chủ yếu bằng vật chất cảm dục là cơ sở của quan niệm này. Cho đến nay, ít người phát triển đến mức hiện thể mà họ ở trong sau khi chết phần lớn cấu thành từ chất liệu trí tuệ. Chỉ những đệ tử và điểm đạo đồ sống chủ yếu trong thể trí mới thấy mình ở ngay trên cõi trí sau khi chết. Phần đông thấy mình ở trên cõi cảm dục, khoác một lớp vỏ vật chất cảm dục và phải trải qua một thời kỳ loại bỏ trong vùng ảo tưởng của cõi cảm dục.
As I have earlier told you, the astral plane has no factual existence, but is an illusory creation of the human family. From now on, however (through the defeat of the forces of evil and the disastrous setback suffered by the Black Lodge), the astral plane will slowly become a dying creation, [487] and in the final period of human history (in the seventh rootrace), it will become nonexistent. Today this is not the case. The sentient substance which constitutes the astral plane is still being gathered into forms of illusion and still forms a barrier in the path of the soul seeking liberation. It still “holds prisoner” the many people who die whilst their major reaction to life is that of desire, of wishful thinking and of emotional sentiency. These are still the vast majority. In Atlantean days the astral plane came into being; the mental state of consciousness was then practically nonexistent, though the “sons of mind” had their place on what is today the higher levels of that plane. The mental permanent atom was also practically quiescent within each human form, and there was consequently no attractive “pull” from the mental plane, as is the case today. Many people are still Atlantean in consciousness, and when they pass out of the physical state of consciousness and discard their dual physical body, they are faced with the problem of elimination of the astral body, but they have little to do to release themselves from any mental prison of the soul. These are the undeveloped and average persons who, after the elimination of the kamic or desire body, have little else to do; there is no mental vehicle to draw them into a mental integration because there is no mentally focussed potency; the soul on the higher mental levels is as yet “in deep meditation” and quite unaware of its shadow in the three worlds.
Như Tôi đã nói với các bạn trước đây, cõi cảm dục không tồn tại trên thực tế mà là một tạo vật ảo tưởng của gia đình nhân loại. Tuy nhiên, từ nay trở đi, qua sự thất bại của các mãnh lực tà ác và bước thụt lùi tai hại mà Hắc đoàn phải chịu, cõi cảm dục sẽ dần trở thành một tạo vật đang tàn lụi, [487] và trong thời kỳ cuối của lịch sử nhân loại, vào giống dân gốc thứ bảy, nó sẽ không còn tồn tại. Hiện nay thì chưa như vậy. Chất liệu cảm thụ cấu thành cõi cảm dục vẫn đang được gom thành các hình tướng ảo tưởng và vẫn tạo nên một rào cản trên con đường của linh hồn đang tìm kiếm sự giải thoát. Nó vẫn “giam cầm” nhiều người chết trong khi đáp ứng chủ yếu của họ đối với cuộc sống vẫn là dục vọng, lối suy nghĩ theo ước muốn và sự cảm thụ cảm xúc. Những người này vẫn chiếm đại đa số. Cõi cảm dục xuất hiện vào thời Atlantis; khi ấy, trạng thái tâm thức trí tuệ hầu như chưa tồn tại, dù những “Con của Trí Tuệ” đã có chỗ đứng trên những gì ngày nay là các cấp độ cao của cõi ấy. Nguyên tử trường tồn trí tuệ trong mỗi hình tướng con người cũng hầu như bất động, và do đó không có “lực hút” từ cõi trí như ngày nay. Nhiều người vẫn mang tâm thức Atlantis, và khi rời trạng thái tâm thức hồng trần, từ bỏ thể xác kép, họ phải đối diện với vấn đề loại bỏ thể cảm dục, nhưng hầu như không phải làm gì để giải thoát mình khỏi bất kỳ nhà tù trí tuệ nào của linh hồn. Đây là những người chưa phát triển và những người trung bình, sau khi loại bỏ thể cảm dục hay thể dục vọng thì không còn mấy việc phải làm; không có hiện thể trí tuệ nào lôi cuốn họ vào một sự tích hợp trí tuệ, vì không có tiềm lực tập trung vào trí tuệ; linh hồn trên các cấp độ thượng trí vẫn đang “tham thiền sâu xa” và hoàn toàn không hay biết về cái bóng của mình trong ba cõi giới.
The art of elimination falls, therefore, into three categories:
Vì vậy, nghệ thuật loại bỏ được chia thành ba loại:
1. As practised by those people who are purely astral in quality and constitution. These we call “kamic” people.
1. Cách thực hành của những người có phẩm tính và cấu tạo thuần túy cảm dục. Chúng ta gọi họ là những người “cảm dục”.
2. As practised by those balanced people who are integrated personalities and who are called “kama-manasic” [488] individuals.
2. Cách thực hành của những người quân bình, có phàm ngã tích hợp và được gọi là những cá nhân “trí-cảm” [488].
3. As practised by advanced people and disciples of all grades who are mainly mental in their “living focus.” These are called “manasic” subjects.
3. Cách thực hành của những người tiến hóa cao và các đệ tử thuộc mọi cấp bậc, có “trọng tâm đời sống” chủ yếu thuộc trí tuệ. Họ được gọi là những người “manas”.
The same basic rules control them all, but the emphasis differs in each case. I would have you bear in mind that where there is no physical brain and where the mind is undeveloped, the inner man finds himself practically smothered in an envelope of astral matter and is for a long time immersed in what we call the astral plane. The kama-manasic person has what is called the “freedom of the dual life,” and finds himself possessed of a dual form which enables him to contact at will the higher levels of the astral plane and the lower levels of the mental plane. I would again remind you that there is no physical brain to register these contacts. Awareness of contact is dependent upon the innate activity of the inner man and his peculiar state of apprehension and of appreciation. The manasic person is possessed of a translucent mental vehicle with a light density which is in proportion to his freedom from desire and emotion.
Cùng những quy luật căn bản chi phối tất cả họ, nhưng trọng tâm khác nhau trong mỗi trường hợp. Tôi muốn các bạn ghi nhớ rằng khi không có bộ não hồng trần và thể trí chưa phát triển, con người bên trong thấy mình hầu như bị vùi lấp trong một lớp bọc vật chất cảm dục và đắm chìm lâu dài trong cái mà chúng ta gọi là cõi cảm dục. Người trí-cảm có cái gọi là “sự tự do của đời sống kép”, và thấy mình sở hữu một hình tướng kép cho phép y tùy ý tiếp xúc với các cấp độ cao của cõi cảm dục và các cấp độ thấp của cõi trí. Một lần nữa, Tôi xin nhắc các bạn rằng không có bộ não hồng trần để ghi nhận những tiếp xúc này. Sự nhận biết tiếp xúc tùy thuộc vào hoạt động nội tại của con người bên trong và trạng thái lĩnh hội, đánh giá riêng của y. Người manas sở hữu một hiện thể trí tuệ trong mờ, có mật độ nhẹ tương ứng với mức độ y thoát khỏi dục vọng và cảm xúc.
These three types of people all use an eliminative process of a similar nature, but employ a different technique within the process. For the sake of clarity, it might be stated that:
Cả ba loại người này đều sử dụng một tiến trình loại bỏ có bản chất tương tự, nhưng áp dụng những kỹ thuật khác nhau trong tiến trình ấy. Để làm rõ, có thể nói rằng:
1. The kamic person eliminates his astral body by means of attrition, and vacates it via the astral correspondence to the solar plexus centre. This attrition is brought about because all the innate desire and inherent emotion are, at this stage, related to the animal nature and the physical body—both of which are now nonexistent.
1. Người cảm dục loại bỏ thể cảm dục bằng sự hao mòn, và rời khỏi nó qua đối phần cảm dục của trung tâm tùng thái dương. Sự hao mòn này xảy ra vì ở giai đoạn ấy, mọi dục vọng nội tại và cảm xúc vốn có đều liên quan đến bản chất động vật và thể xác—cả hai nay đều không còn tồn tại.
2. The kama-manasic individual uses two techniques. This would naturally be so because he eliminates, first of all, his astral body, and then his mental vehicle. [489]
2. Người trí-cảm sử dụng hai kỹ thuật. Điều này là tự nhiên vì trước hết y loại bỏ thể cảm dục, rồi đến hiện thể trí tuệ. [489]
a. He eliminates the astral body by means of his growing desire for mental life. He withdraws gradually and steadily into the mind body, and the astral body esoterically “drops away” and finally disappears. This takes place usually unconsciously and may require quite a long time. Where, however, the man is above the average, and on the verge of becoming a manasic person, the disappearance is brought about suddenly and dynamically, and the man stands free in his mental body. This takes place consciously and rapidly.
a. Y loại bỏ thể cảm dục bằng lòng khao khát ngày càng tăng đối với đời sống trí tuệ. Y dần dần và đều đặn rút vào thể trí, và theo nghĩa huyền bí, thể cảm dục “rơi rụng” rồi cuối cùng biến mất. Điều này thường diễn ra một cách vô thức và có thể cần thời gian khá dài. Tuy nhiên, khi con người đã vượt mức trung bình và sắp trở thành người manas, sự biến mất ấy diễn ra đột ngột và mạnh mẽ, và y đứng tự do trong thể trí của mình. Điều này xảy ra một cách có ý thức và nhanh chóng.
b. He shatters the mental body by an act of the human will, and also because the soul is beginning to be slowly aware of its shadow. The inner man is therefore attracted towards the soul, though still only in a somewhat feeble manner. This process is relatively quick and is dependent upon the extent of the manasic influence.
b. Y phá vỡ thể trí bằng một hành động của ý chí con người, đồng thời cũng vì linh hồn đang bắt đầu dần dần nhận biết cái bóng của mình. Do đó, con người bên trong được thu hút về phía linh hồn, dù vẫn chỉ ở mức khá yếu ớt. Tiến trình này tương đối nhanh và tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng của manas.
3. The manasic man, focussed now in his mental body, has also two things to accomplish:
3. Người manas, nay tập trung trong thể trí, cũng có hai việc phải hoàn thành:
a. To dissolve and rid himself of any astral sediment which may be discolouring his translucent mental body. The so-called astral body is now practically nonexistent as a factor of expression. This he does by calling in increased light from the soul. It is soul light which, at this stage, dissolves the astral substance, just as it will be the combined light of the soul of humanity (as a whole) which will dissolve finally the astral plane—again so-called.
a. Làm tan rã và loại bỏ mọi cặn lắng cảm dục có thể đang làm hoen ố thể trí trong mờ của mình. Cái gọi là thể cảm dục nay hầu như không còn tồn tại như một yếu tố biểu lộ. Y thực hiện điều này bằng cách kêu gọi thêm ánh sáng từ linh hồn. Ở giai đoạn này, chính ánh sáng linh hồn làm tan rã chất liệu cảm dục, cũng như chính ánh sáng kết hợp của linh hồn nhân loại xét như một toàn thể cuối cùng sẽ làm tan rã cái vẫn được gọi là cõi cảm dục.
b. To destroy the mental body through the use of certain Words of Power. These Words are communicated to the disciple via the Ashram of his Master. They bring in soul power to a greatly enhanced extent, and produce consequently such an [490] expansion of consciousness within the mental body that is broken up and no longer constitutes a barrier to the inner man. He can now stand, a free son of mind, within the Ashram of his Master and “shall no more go out”.
b. Hủy thể trí bằng cách sử dụng một số Quyền năng từ. Những Linh từ này được truyền đến đệ tử qua Ashram của Chân sư y. Chúng đưa quyền năng linh hồn vào ở mức độ gia tăng rất lớn, và do đó tạo ra một sự [490] mở rộng tâm thức trong thể trí mạnh đến mức thể trí vỡ ra và không còn là rào cản đối với con người bên trong. Giờ đây, y có thể đứng như một người con tự do của Trí Tuệ trong Ashram của Chân sư mình và “sẽ không còn đi ra nữa”.