Trích nội dung chương
This is a wide generalisation, and the process is not carried forward in any sequential fashion or smoothly and in order as the tabulation above might suggest. The process involved is spread over many lives of unconscious transmutation in [215] the earlier stages, and as a result of bitter experience and of conscious effort in the later stages, and becomes increasingly dynamic and effective as the various stages upon the Path area trodden by the aspirant. The five rays with which a disciple has to work (two major conditioning rays and three subsidiary rays) have a definite active effect; karmic adjustments provide opportunity or hindrance…
This is a wide generalisation, and the process is not carried forward in any sequential fashion or smoothly and in order as the tabulation above might suggest. The process involved is spread over many lives of unconscious transmutation in [215] the earlier stages, and as a result of bitter experience and of conscious effort in the later stages, and becomes increasingly dynamic and effective as the various stages upon the Path area trodden by the aspirant. The five rays with which a disciple has to work (two major conditioning rays and three subsidiary rays) have a definite active effect; karmic adjustments provide opportunity or hindrance, and the intricacies of the entire process (within the relatively limited experience of the disciple) are so confusing whilst in process that all that he can do is to grasp the general outline as here given and not pay too much attention to the immediate factual detail.
Đây là một sự khái quát rộng, và tiến trình không diễn ra theo một trình tự nào, hoặc trôi chảy và có trật tự như bảng liệt kê trên có thể gợi ra. Tiến trình này trải qua nhiều kiếp sống với sự chuyển hoá vô thức trong [215] các giai đoạn đầu, rồi nhờ kinh nghiệm cay đắng và nỗ lực có ý thức trong những giai đoạn sau; nó ngày càng trở nên mạnh mẽ và hữu hiệu khi người chí nguyện bước qua các giai đoạn khác nhau trên Đường Đạo. Năm cung mà người đệ tử phải làm việc với (hai cung chính có ảnh hưởng định hình và ba cung phụ) tạo ra tác động tích cực rõ rệt; những điều chỉnh nghiệp quả đem lại cơ hội hoặc trở ngại, và những phức tạp của toàn bộ tiến trình (trong phạm vi kinh nghiệm tương đối hạn chế của người đệ tử) gây bối rối đến mức, trong khi tiến trình đang diễn ra, tất cả những gì y có thể làm là nắm lấy những nét tổng quát như đã trình bày ở đây và không quá chú ý đến những chi tiết thực tế trước mắt.
2. The downward trend...producing Transformation.
2. Chiều hướng đi xuống...tạo ra sự Chuyển Đổi.
Once the head centre is awakening and the disciple is consciously active in the work of directing the energies to the centres and thereby governing his personality life, there is a scientific undertaking of energising the centres in a certain ordered rhythm which is again determined by the rays, by circumstance and by karma; thus all the bodily energies are swung into correct spiritual activity. With the process involved we cannot here deal, beyond pointing out that this downward trend can be roughly regarded as falling into three stages:
Một khi luân xa đầu đang thức tỉnh và người đệ tử chủ động tham gia một cách có ý thức vào công việc điều hướng năng lượng đến các luân xa, qua đó cai quản đời sống phàm ngã của mình, sẽ có một công việc khoa học nhằm tiếp thêm năng lượng cho các luân xa theo một nhịp điệu có trật tự nhất định, mà nhịp điệu này lại do các cung, hoàn cảnh và nghiệp quả quyết định; nhờ vậy, mọi năng lượng trong cơ thể đều chuyển sang hoạt động tinh thần đúng đắn. Ở đây, chúng ta không thể bàn đến tiến trình này, ngoài việc chỉ ra rằng có thể xem chiều hướng đi xuống ấy một cách khái quát là gồm ba giai đoạn:
1. The stage of energising the creative life, via the throat centre, thus bringing:
1. Giai đoạn tiếp thêm năng lượng cho đời sống sáng tạo, thông qua trung tâm cổ họng, qua đó đưa:
a. The head centre and the throat centre,
a. Luân xa đầu và trung tâm cổ họng,
b. These two and the sacral centre,
b. Hai luân xa này và luân xa xương cùng,
c. All three, consciously and simultaneously, into conscious relation.
c. Cả ba, một cách có ý thức và đồng thời, vào mối liên hệ hữu thức.
This relation, when properly established, will solve the individual problem of sex, and without recourse to either inhibition or suppression, but by bringing [216] about right control and making the disciple, at the same time, creative in a worldly sense, and therefore of use to his fellowmen.
Khi được thiết lập đúng đắn, mối liên hệ này sẽ giải quyết vấn đề tính dục của cá nhân mà không cần đến sự ức chế hay đè nén, bằng cách tạo [216] ra sự kiểm soát đúng đắn, đồng thời giúp người đệ tử có khả năng sáng tạo theo nghĩa thế gian và do đó hữu ích cho đồng loại.
2. The stage of energising the conscious life of relationship via the heart centre, thus bringing:
2. Giai đoạn tiếp thêm năng lượng cho đời sống quan hệ hữu thức thông qua luân xa tim, qua đó đưa:
a. The head centre and the heart centre,
a. Luân xa đầu và luân xa tim,
b. These two and the solar plexus centre,
b. Hai luân xa này và luân xa tùng thái dương,
c. All three, simultaneously and consciously, into close cooperation.
c. Cả ba, đồng thời và có ý thức, vào sự hợp tác chặt chẽ.
This serves to establish right human relations, right group relations, and right spiritual relations throughout a man’s entire life expression. Just as the stage of regulating the creative life has a paramount effect upon the physical body, so this stage affects the astral vehicle with great potency; emotional reactions are transformed into aspiration and service; selfish individual love is transformed into group love, and then divinity rules the life.
Điều này giúp thiết lập những quan hệ nhân loại đúng đắn, những quan hệ nhóm đúng đắn và những quan hệ tinh thần đúng đắn trong toàn bộ sự biểu lộ đời sống của con người. Cũng như giai đoạn điều hòa đời sống sáng tạo có tác động tối quan trọng đến thể xác, giai đoạn này tác động hết sức mạnh mẽ đến hiện thể cảm dục; những phản ứng cảm xúc được chuyển đổi thành khát vọng và phụng sự; tình thương cá nhân ích kỷ được chuyển đổi thành tình thương nhóm, và khi đó thiên tính cai quản đời sống.
3. The stage of energising the entire man, via the basic centre thus bringing:
3. Giai đoạn tiếp thêm năng lượng cho toàn bộ con người, thông qua luân xa đáy cột sống, qua đó đưa:
a. The head centre and the basic centre,
a. Luân xa đầu và luân xa đáy cột sống,
b. These two and the ajna centre,
b. Hai luân xa này và luân xa ajna,
c. All the three, simultaneously and consciously, into rhythmic, coordinated expression. This is a final stage of great importance, and only takes place in its completeness at the time of the third initiation, that of the Transfiguration.
c. Cả ba, đồng thời và có ý thức, vào sự biểu lộ nhịp nhàng, phối hợp. Đây là một giai đoạn cuối cùng hết sức quan trọng, và chỉ diễn ra trọn vẹn vào lần điểm đạo thứ ba, tức cuộc điểm đạo Biến hình.
You can see, therefore, how three important words convey the purpose of the scientific unfoldment and the right direction of the centres:
Vì vậy, các bạn có thể thấy ba từ quan trọng truyền đạt mục đích của sự khai mở khoa học và sự điều hướng đúng đắn các luân xa như thế nào:
Transmutation. Transformation. Transfiguration.
Chuyển Hoá. Chuyển Đổi. Biến Hình.
[217]
[217]
This process is wisely and safely carried out over a long period of time and—returning to our theme of health and of disease—when consummated, perfect physical health is the result; in the interim process of adjustment and of change, the reverse is frequently the case. The danger involved in a large number of physical ills can be traced to the condition of the centres, to the interplay or their lack of interplay, to an undeveloped condition, unawakened and sluggish, and to an overstimulation or an unbalanced activity. If one centre is prematurely awakened, it is frequently at the expense of other centres. The rude health of the savage or of the unskilled and unintelligent labourer or peasant (a state of being which is rapidly passing as the mind development and the process of evolution take effect) is largely due to the quiescent state of practically all the centres, with the exception of the sacral centre. The fact of their falling easy prey to the infectious diseases can also be traced to the same quiescence. As the emotional nature is developed and the mind begins to function, the centres then become more active. Definite trouble then ensues, largely because psychological conditions begin to appear. The man is no longer simply an animal. The wear and tear of the emotional life (the major predisposing factor in ill health) floods the lower nature with ill-directed energy (or should I say mis-directed?). The solar plexus centre then becomes unduly active and this activity falls into four stages:
Tiến trình này được thực hiện một cách minh triết và an toàn trong một thời gian dài, và—trở lại chủ đề sức khỏe và bệnh tật của chúng ta—khi hoàn tất, kết quả là sức khỏe thể chất hoàn hảo; trong tiến trình điều chỉnh và thay đổi ở giai đoạn trung gian, điều ngược lại thường xảy ra. Mối nguy trong rất nhiều chứng bệnh thể chất có thể được truy nguyên đến tình trạng của các luân xa, đến sự tương tác hoặc thiếu tương tác của chúng, đến trạng thái kém phát triển, chưa thức tỉnh và trì trệ, cũng như đến sự kích thích quá mức hoặc hoạt động mất quân bình. Nếu một luân xa thức tỉnh quá sớm, điều đó thường gây tổn hại cho các luân xa khác. Sức khỏe cường tráng của người còn ở trạng thái hoang dã, hoặc của người lao động hay nông dân không có tay nghề và kém phát triển trí tuệ (một trạng thái tồn tại đang nhanh chóng mất đi khi sự phát triển thể trí và tiến trình tiến hóa phát huy tác dụng), phần lớn là do trạng thái yên lặng của hầu như mọi luân xa, ngoại trừ luân xa xương cùng. Việc họ dễ mắc các bệnh truyền nhiễm cũng có thể được truy nguyên đến chính trạng thái yên lặng ấy. Khi bản chất cảm xúc phát triển và thể trí bắt đầu hoạt động, các luân xa trở nên tích cực hơn. Khi đó, những vấn đề rõ rệt xuất hiện, phần lớn vì các tình trạng tâm lý bắt đầu nảy sinh. Con người không còn đơn thuần là một con vật nữa. Sự hao mòn của đời sống cảm xúc (yếu tố chính tạo khuynh hướng sức khỏe kém) làm tràn ngập bản chất thấp bằng năng lượng được điều hướng không đúng (hay Tôi nên nói là sai hướng?). Luân xa tùng thái dương khi đó trở nên hoạt động quá mức, và hoạt động này trải qua bốn giai đoạn:
1. The stage of its awakening, as the astral body becomes steadily more powerful.
1. Giai đoạn thức tỉnh của nó, khi thể cảm dục ngày càng trở nên mạnh mẽ.
2. The stage of its potency when, for lives, it is the conditioning centre in the etheric or vital body and the man is consequently entirely conditioned by his emotional-astral life.
2. Giai đoạn phát huy uy lực, khi trong nhiều kiếp sống, nó là luân xa chi phối trong thể dĩ thái hay thể sinh lực, và vì vậy con người hoàn toàn chịu sự chi phối của đời sống cảm xúc–cảm dục.
[218]
[218]
3. The stage wherein the solar plexus centre becomes the clearing house for all the centres (major and minor) below the diaphragm.
3. Giai đoạn luân xa tùng thái dương trở thành trạm trung chuyển cho tất cả các luân xa (chính và phụ) bên dưới cơ hoành.
4. The stage wherein the solar plexus energies are raised to the heart.
4. Giai đoạn các năng lượng của tùng thái dương được nâng lên tim.
All these stages bring, temporarily, their own physical ills.
Tất cả những giai đoạn này đều tạm thời mang đến những chứng bệnh thể chất riêng.
You will note that, beyond certain generalisations, I am not relating specific diseases to specific centres. I have indicated the areas conditioned by the centres, and far more powerfully conditioned than you have any means yet of ascertaining; I have said that fundamentally the ductless glands—as externalisations of the centres—are the determining factors in the health of the body, and that where there is imbalance, overdevelopment or underdevelopment you will have trouble; I have suggested that the medical profession in the New Age will deal increasingly with the theory of energy direction and its relation to the ductless glands, and that it will admit, at least hypothetically and for the purpose of experimentation, that the theory of the energy centres may be correct and that they are the primary conditioning factors, working through the ductless glands which, in their turn, guard the body, produce the necessary resistance, keep the blood stream supplied with the essentials to health and—when rightly interrelated—produce a balanced expression of the spiritual man throughout the entire physical body—physiological and psychological balance. When this desirable condition is not the case, then the ductless glands, through wrong relationship and incorrect and unbalanced development, are not adequate to the task; they cannot protect the body from disease, and are unable to pour into the blood stream what the physical vehicle needs. Owing to their inadequacy, the body is unable to resist infections, is in a constant state of ill health, [219] and cannot cope with disease coming from without or latent within the organism of the body; this weakness often produces mortal disease.
Các bạn sẽ nhận thấy rằng, ngoài một vài khái quát, Tôi không gắn các bệnh cụ thể với những luân xa cụ thể. Tôi đã chỉ ra những vùng chịu ảnh hưởng của các luân xa, và mức độ ảnh hưởng ấy mạnh hơn rất nhiều so với khả năng xác định hiện nay của các bạn; Tôi đã nói rằng về căn bản, các tuyến nội tiết—những sự ngoại hiện của các luân xa—là các yếu tố quyết định sức khỏe của cơ thể, và nơi nào có sự mất quân bình, phát triển quá mức hoặc kém phát triển, nơi đó sẽ có vấn đề; Tôi đã gợi ý rằng giới y khoa trong Kỷ Nguyên Mới sẽ ngày càng quan tâm đến lý thuyết điều hướng năng lượng cùng mối liên hệ của nó với các tuyến nội tiết, và sẽ thừa nhận, ít nhất trên phương diện giả thuyết và nhằm mục đích thực nghiệm, rằng lý thuyết về các luân xa năng lượng có thể đúng và chúng là những yếu tố chi phối chủ yếu, hoạt động thông qua các tuyến nội tiết; đến lượt mình, các tuyến này bảo vệ cơ thể, tạo ra sức đề kháng cần thiết, liên tục cung cấp cho dòng máu những yếu tố thiết yếu đối với sức khỏe, và—khi liên hệ đúng đắn với nhau—tạo ra sự biểu lộ quân bình của con người tinh thần trong toàn bộ thể xác—sự quân bình sinh lý và tâm lý. Khi không có tình trạng đáng mong muốn này, thì do mối liên hệ sai lệch cùng sự phát triển không đúng và mất quân bình, các tuyến nội tiết không đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ; chúng không thể bảo vệ cơ thể khỏi bệnh tật và không thể đưa vào dòng máu những gì hiện thể hồng trần cần. Do sự bất toàn của chúng, cơ thể không thể chống lại sự nhiễm trùng, thường xuyên ở trong tình trạng sức khỏe kém, [219] và không thể đối phó với bệnh đến từ bên ngoài hoặc tiềm tàng trong cơ thể; sự suy yếu này thường gây ra bệnh chết người.
Medicine in the next century will be built around certain major premises:
Y học trong thế kỷ tới sẽ được xây dựng quanh một số tiền đề chính:
1. Preventive medicine will be the goal, producing the attempt to keep the body in proper balanced order.
1. Y học dự phòng sẽ là mục tiêu, thúc đẩy nỗ lực duy trì cơ thể trong trạng thái quân bình đúng đắn.
2. Sound sanitation and the providing of healthy conditions will be regarded as essential.
2. Vệ sinh hợp lý và việc cung cấp những điều kiện lành mạnh sẽ được xem là thiết yếu.
3. The supply of the right chemical properties to the physical body will be studied—a science of chemistry which is yet in its infancy, though it is becoming a flourishing infant.
3. Việc cung cấp những thành phần hóa học thích hợp cho thể xác sẽ được nghiên cứu—một ngành hóa học còn trong thời kỳ sơ sinh, dù đang trở thành một đứa trẻ phát triển mạnh.
4. An understanding of the laws of vitality will be regarded as of prime importance, and of this the emphasis today on vitamins and the influence of the sun are wholesome indications.
4. Việc thấu hiểu các định luật về sinh lực sẽ được xem là có tầm quan trọng hàng đầu; sự chú trọng hiện nay vào vitamin và ảnh hưởng của mặt trời là những dấu hiệu tốt lành cho điều này.
5. The use of the mind will be regarded, above everything else, as a factor of major importance: the mind will be seen as the prime influence as regards the centres, for people will be taught to work on their centres through mental power and thus produce a right reaction from the endocrine system. This will necessarily involve the right directing of thought to a centre, or the withdrawal of attention from a centre, with consequent effect upon the glandular system. This will all be based upon the occult law that “Energy follows thought.”
5. Trên hết, việc sử dụng thể trí sẽ được xem là một yếu tố có tầm quan trọng lớn lao: thể trí sẽ được nhìn nhận là ảnh hưởng chủ yếu đối với các luân xa, vì con người sẽ được dạy cách tác động lên các luân xa của mình bằng quyền năng trí tuệ và nhờ đó tạo ra phản ứng đúng đắn từ hệ nội tiết. Điều này tất yếu bao gồm việc hướng tư tưởng đúng đắn đến một luân xa, hoặc rút sự chú ý khỏi một luân xa, qua đó tác động đến hệ tuyến. Tất cả những điều này sẽ dựa trên định luật huyền bí rằng “Năng lượng đi theo tư tưởng”.
Owing to the fact that disciples have a greater development of mental power than the average man, and also to the fact that ray type is more easily ascertained, involving consequently a more correct determination of the condition of the glandular system, they will be the first to cooperate [220] with the medical profession and to demonstrate the relation of the centres to the glands, and therefore to the body as a whole. Through concentration and right meditation, carried on in the head centre, and directed towards some one or other of the centres, disciples will demonstrate such definite changes in the ductless glands that the medical profession will be convinced of the importance and the factual existence of the centres and of their power, and also of the possibility of controlling the physical organism through the power of thought. This all lies in the future. I am but pointing the way and indicating a future technique whereby disease will be overcome. The various mental schools of thought, Unity and Christian Science, have been fantastic and fanciful in their claims and definitely unscientific in their approach. But they have had hold of at least one thread in the great process of right adjustment to life and to right relationships. They had the dream and the vision; they lacked perception and commonsense and ignored the evolutionary process.
Vì các đệ tử có quyền năng trí tuệ phát triển hơn người bình thường, và cũng vì loại cung của họ dễ xác định hơn, do đó giúp xác định chính xác hơn tình trạng của hệ tuyến, họ sẽ là những người đầu tiên hợp tác [220] với giới y khoa và chứng minh mối liên hệ của các luân xa với các tuyến, và do đó với toàn bộ cơ thể. Thông qua sự tập trung và tham thiền đúng đắn, được thực hiện trong luân xa đầu và hướng đến một luân xa nào đó, các đệ tử sẽ cho thấy những thay đổi rõ rệt đến mức trong các tuyến nội tiết, khiến giới y khoa tin vào tầm quan trọng và sự tồn tại thực tế của các luân xa cùng quyền năng của chúng, cũng như khả năng kiểm soát cơ thể thông qua quyền năng tư tưởng. Tất cả những điều này đều thuộc về tương lai. Tôi chỉ đang chỉ đường và nêu ra một kỹ thuật tương lai giúp khắc phục bệnh tật. Những trường phái tư tưởng trí tuệ khác nhau, Nhất Thể và Khoa Học Cơ Đốc, đã đưa ra những tuyên bố hoang đường, viển vông và có cách tiếp cận rõ ràng thiếu khoa học. Nhưng ít nhất họ đã nắm được một sợi dây trong tiến trình lớn lao của sự điều chỉnh đúng đắn với đời sống và hướng đến những quan hệ đúng đắn. Họ có ước mơ và tầm nhìn; họ thiếu sự nhận thức cùng lẽ thường và đã bỏ qua tiến trình tiến hóa.
Physiological science and psychological power, plus the cooperation of the trained disciple with the trained medical man (particularly with the open-minded endocrinologist), will eventually succeed in solving many human ills and will bring about the cure of the bulk of the diseases now troubling humanity.
Khoa học sinh lý và quyền năng tâm lý, cùng sự hợp tác giữa người đệ tử đã được huấn luyện và người thầy thuốc đã được đào tạo (đặc biệt là nhà nội tiết học có tư tưởng cởi mở), cuối cùng sẽ giải quyết thành công nhiều chứng bệnh của con người và chữa lành phần lớn những bệnh hiện đang gây khổ sở cho nhân loại.
We have, therefore, studied to some purpose our first section: The Psychological Causes of Disease. We have carried the idea down from the inner and more subtle causes of disease to the major physical conditioning factor, the ductless glands. We can now briefly consider certain far more occult causes and deal with those which emanate from the group life of humanity and from the karmic liabilities of mankind. Here we shall enter the realm of occult knowledge and of esoteric information, and this will be far more difficult for the orthodox thinker to accept.
Vì vậy, việc nghiên cứu phần thứ nhất của chúng ta đã có kết quả nhất định: Những Nguyên Nhân Tâm Lý của Bệnh Tật. Chúng ta đã đưa ý tưởng từ những nguyên nhân bên trong và tinh tế hơn của bệnh tật xuống đến yếu tố chi phối chủ yếu trên bình diện hồng trần, tức các tuyến nội tiết. Giờ đây, chúng ta có thể xem xét ngắn gọn một số nguyên nhân huyền bí hơn nhiều và bàn đến những nguyên nhân phát xuất từ đời sống nhóm của nhân loại cùng những nghĩa vụ nghiệp quả của loài người. Ở đây, chúng ta sẽ bước vào lĩnh vực tri thức huyền bí và những thông tin nội môn, và người tư duy chính thống sẽ khó chấp nhận điều này hơn nhiều.
CHAPTER II - Causes Emanating from Group Life – CHƯƠNG II - Những Nguyên Nhân Phát Xuất từ Đời Sống Nhóm
[221]
[221]
IN CONSIDERING DISEASE and its basic causes, we have dealt particularly with those which concern our Aryan race and modern humanity; these are largely astral in origin and might be described as Atlantean in nature. We have briefly considered also the various diseases which originate upon the mental plane; these are more strictly Aryan and involve also the ills to which disciples are prone. Infectious diseases and those which are fundamental in the planetary substance have a potent effect upon those races (still among us) which are the oldest on our planet, and which are related to the fast dying out Lemurian types; Negroes are specially prone to infectious epidemics.
KHI XEM XÉT BỆNH TẬT và những nguyên nhân căn bản của nó, chúng ta đã đặc biệt bàn đến những nguyên nhân liên quan đến giống dân Arya của chúng ta và nhân loại hiện đại; phần lớn chúng có nguồn gốc cảm dục và có thể được mô tả là mang bản chất Atlantis. Chúng ta cũng đã xem xét ngắn gọn những bệnh khác nhau phát sinh trên cõi trí; chúng mang tính Arya rõ rệt hơn và cũng bao gồm những chứng bệnh mà các đệ tử dễ mắc. Các bệnh truyền nhiễm và những bệnh vốn có trong chất liệu hành tinh tác động mạnh đến những giống dân (vẫn còn ở giữa chúng ta) lâu đời nhất trên hành tinh, có liên hệ với những mẫu người Lemuria đang nhanh chóng biến mất; người da đen đặc biệt dễ mắc các dịch bệnh truyền nhiễm.
I have not attempted in this treatise to deal pathologically with any of the diseases touched upon, nor have I paid attention to the physiology of the patient. That is entirely out of my province. I have, however, attempted to indicate the origins of some of the diseases, to call attention to the paramount importance of the glandular system, and to relate, as far as is just and wise, some of the oriental theories anent the centres and western wisdom. Later I shall point out some basic human conditions which must be changed if the true healing work is to be correctly applied, and then I hope to give some of the methods whereby healers can accomplish work which will be in line [222] with the facts of the case and which will aid in the processes of restoration.
Trong khảo luận này, Tôi không cố gắng bàn về mặt bệnh lý của bất kỳ bệnh nào đã đề cập, cũng không chú ý đến sinh lý của bệnh nhân. Điều đó hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của Tôi. Tuy nhiên, Tôi đã cố gắng chỉ ra nguồn gốc của một số bệnh, lưu ý đến tầm quan trọng tối cao của hệ tuyến, và kết nối, trong chừng mực thích đáng và minh triết, một số lý thuyết phương Đông về các luân xa với minh triết phương Tây. Sau này, Tôi sẽ chỉ ra một số tình trạng căn bản của con người cần phải thay đổi nếu muốn áp dụng đúng công việc chữa lành đích thực; rồi Tôi hy vọng sẽ đưa ra một số phương pháp giúp các nhà trị liệu thực hiện công việc phù hợp [222] với những sự kiện thực tế của từng trường hợp và hỗ trợ các tiến trình phục hồi.
The problem of disease is today greatly enhanced, owing to the fact that in this race, the Aryan, which now dominates the planet, you have the first true appearance outwardly on the physical plane of the basic synthesis of humanity which will be—in its better form—so strikingly significant of the next major rootrace, the sixth. Inter-marriage between nations and races, the fusion of bloods for hundreds of years—due to migration, travel, education and mental unity—has led to there being no really pure racial types today. This is far more certainly the case than the most enlightened think, if the long, long history of mankind is considered. Sexual intercourse knows no impenetrable barriers, and people today have in them all the strains and the blood of all the races, and this (as a result of the world war, 1914-1945) will be increasingly the case. This development is definitely a part of the divine plan, no matter how undesirable it may appear to those who idealise purity of relationship, or how ruthless its application is at the present moment. Something intended is being brought about and it cannot be avoided. The urge to mate becomes peculiarly strong when men are removed from their familiar settings and experience the novelty of complete loneliness, when the normal inhibitions and customs imposed by family relationships and national standards are removed, when danger of death is constantly faced and the larger value submerges the lesser values and the usual conventional attitudes, and when the physical organism has been trained and brought by scientific treatment and heavy feeding to the height of physical efficiency. I am speaking in terms of physical effectiveness and not of mental efficiency, which may or may not parallel the former.
Ngày nay, vấn đề bệnh tật gia tăng rất nhiều, vì trong giống dân Arya hiện đang thống trị hành tinh này, lần đầu tiên sự tổng hợp căn bản của nhân loại thực sự biểu hiện ra bên ngoài trên cõi hồng trần; sự tổng hợp ấy—ở hình thức tốt đẹp hơn—sẽ là nét đặc trưng nổi bật và đầy ý nghĩa của giống dân gốc lớn tiếp theo, giống dân thứ sáu. Hôn nhân giữa các quốc gia và các chủng tộc, sự hòa trộn các dòng máu trong hàng trăm năm—do di cư, đi lại, giáo dục và sự hợp nhất trí tuệ—đã khiến ngày nay không còn những mẫu chủng tộc thực sự thuần nhất. Nếu xét đến lịch sử rất dài của nhân loại, điều này chắc chắn hơn nhiều so với suy nghĩ của những người sáng suốt nhất. Quan hệ tính dục không biết đến những rào cản bất khả vượt qua, và con người ngày nay mang trong mình mọi dòng dõi cùng dòng máu của tất cả các chủng tộc; điều này (do cuộc thế chiến, 1914-1945) sẽ ngày càng phổ biến. Sự phát triển này chắc chắn là một phần của Thiên Cơ, bất kể nó có vẻ không đáng mong muốn đến đâu đối với những người lý tưởng hóa sự thuần khiết trong quan hệ, hoặc việc thực hiện nó tàn nhẫn đến mức nào vào lúc này. Một điều đã được dự định đang được thực hiện và không thể tránh khỏi. Thôi thúc giao phối trở nên đặc biệt mạnh mẽ khi con người rời khỏi môi trường quen thuộc và trải nghiệm cảm giác mới lạ của sự cô đơn hoàn toàn, khi những kiềm chế và tập tục thông thường do quan hệ gia đình và chuẩn mực quốc gia áp đặt được gỡ bỏ, khi họ liên tục đối mặt với hiểm nguy chết chóc và giá trị lớn hơn lấn át những giá trị nhỏ hơn cùng những thái độ quy ước thông thường, và khi cơ thể đã được huấn luyện, được chăm sóc khoa học và nuôi dưỡng dồi dào để đạt đến hiệu năng thể chất cao nhất. Tôi đang nói về hiệu quả thể chất chứ không phải hiệu năng trí tuệ, vốn có thể hoặc không thể phát triển song hành với điều trước.
[223]
[223]
The animal instincts are therefore potent; the centres below the diaphragm become peculiarly energised; the emotional demands enormously vitalise the solar plexus centre, and the centre at the base of the spine increases the activity of the adrenal glands as the will of the man is called into play to surmount danger; the will-to-live, with its adjunct, the will-to-perpetuate and to live in one’s children, is powerfully fostered. To this must also be added, as a major adjunct of war, the will of Nature itself working (under certain divine laws) to offset the loss of life and the casualties of war by a fresh inflow of life into form, thus preserving the human race, providing the bodies for the next tide of egos and thus peopling the earth.
Vì vậy, các bản năng động vật trở nên mạnh mẽ; những luân xa bên dưới cơ hoành được tiếp thêm năng lượng đặc biệt; những đòi hỏi cảm xúc tiếp sinh lực rất mạnh cho luân xa tùng thái dương, còn luân xa đáy cột sống làm tăng hoạt động của các tuyến thượng thận khi ý chí con người được huy động để vượt qua hiểm nguy; ý chí sống, cùng yếu tố đi kèm là ý chí duy trì nòi giống và tiếp tục sống trong con cái mình, được thúc đẩy mạnh mẽ. Cũng phải bổ sung vào đây, như một yếu tố lớn đi kèm chiến tranh, ý chí của chính Tự Nhiên đang hoạt động (theo một số định luật thiêng liêng) để hóa giải sự mất mát sinh mạng và thương vong của chiến tranh bằng một dòng sự sống mới tuôn vào hình tướng, qua đó bảo tồn nhân loại, cung cấp những thân thể cho làn sóng chân ngã tiếp theo và nhờ đó đưa con người đến cư ngụ trên Trái Đất.
In saying this I seek only to explain the phenomena which can be noted at all times when war is present and which in the world war can be noted on a large scale. The armies of the world are everywhere and are spread over every country; racial transmigration is a universal factor, both from the angle of military necessity and from the plight of the civilians who find themselves in the path of war. This movement of millions of men everywhere is one of the paramount factors which will condition the new civilisation, and its importance is based upon the fact that in twenty-five years’ time men and women will be a hybrid race whose fathers and mothers will be of every imaginable nation; white fathers will have had physical relation with women of every Asiatic or African origin, thus producing a fusion of blood which—if recognised and rightly handled and developed, from the educational angle and with understanding—will express in embryo the nature of the sixth rootrace, and which will be in fact HUMANITY without any racial or national barriers, with no so-called pure blood and exclusive castes, and with a new and virile sense of life because of the infusion of stronger stocks with the weaker [224] or worn-out types and of the newer racial strains with the older and more developed. I hold no brief for the manner in which this is being brought about. It could have happened without war and through a conviction that all men are equal and human, and that the mixture of races would solve many problems; war, however, has hastened the process and the soldiers of all the armies of the world are having physical relations with women of all races, all civilisations and all colours. This must, whether regarded as right or wrong according to the code of ethics and standards of the observer, produce an entirely new situation with which the world of the future will have to cope; it must inevitably break down national prejudices and racial barriers—the first producing more effect than the latter during the initial stages. Inevitably a more homogeneous humanity will appear during the changes of the next one hundred years. Many attitudes and many customary reactions which today hold sway will vanish, and types and qualities and characteristics for which we have as yet no precedent will appear upon a large scale.
Khi nói điều này, Tôi chỉ tìm cách giải thích những hiện tượng có thể quan sát bất cứ khi nào có chiến tranh và có thể thấy trên quy mô lớn trong cuộc thế chiến. Các quân đội trên thế giới hiện diện khắp nơi và trải rộng trên mọi quốc gia; sự di chuyển của các chủng tộc là một yếu tố phổ biến, xét cả từ góc độ nhu cầu quân sự lẫn cảnh ngộ của thường dân khi họ thấy mình nằm trên đường tiến của chiến tranh. Sự di chuyển của hàng triệu người khắp nơi là một trong những yếu tố quan trọng nhất sẽ định hình nền văn minh mới, và tầm quan trọng của nó dựa trên thực tế rằng trong hai mươi lăm năm nữa, những người nam và nữ sẽ thuộc một nhân loại pha trộn chủng tộc, với cha mẹ đến từ mọi quốc gia có thể hình dung; những người cha da trắng sẽ từng có quan hệ thể xác với phụ nữ thuộc mọi nguồn gốc châu Á hoặc châu Phi, qua đó tạo ra sự hòa trộn dòng máu mà—nếu được nhận biết, xử lý và phát triển đúng đắn từ góc độ giáo dục và với sự thấu hiểu—sẽ biểu lộ dưới dạng phôi thai bản chất của giống dân gốc thứ sáu; và trên thực tế, đó sẽ là NHÂN LOẠI không còn bất kỳ rào cản chủng tộc hay quốc gia nào, không còn cái gọi là dòng máu thuần khiết và những đẳng cấp biệt lập, cùng một ý thức mới mẻ và mạnh mẽ về sự sống nhờ sự hòa nhập giữa những dòng giống mạnh hơn với những mẫu người yếu hơn [224] hoặc đã suy kiệt, và giữa những dòng chủng tộc mới hơn với những dòng lâu đời và phát triển hơn. Tôi không biện hộ cho cách thức điều này đang được thực hiện. Nó có thể diễn ra mà không cần chiến tranh, thông qua niềm tin rằng mọi người đều bình đẳng và đều là con người, và rằng sự pha trộn các chủng tộc sẽ giải quyết nhiều vấn đề; tuy nhiên, chiến tranh đã đẩy nhanh tiến trình, và binh lính của tất cả các quân đội trên thế giới đang có quan hệ thể xác với phụ nữ thuộc mọi chủng tộc, mọi nền văn minh và mọi màu da. Dù được xem là đúng hay sai theo bộ quy tắc đạo đức và chuẩn mực của người quan sát, điều này tất yếu tạo ra một tình thế hoàn toàn mới mà thế giới tương lai sẽ phải đối phó; nó tất yếu phải phá vỡ những thành kiến quốc gia và rào cản chủng tộc—trong những giai đoạn đầu, sự phá vỡ thành kiến quốc gia tạo ra ảnh hưởng lớn hơn sự phá vỡ rào cản chủng tộc. Một nhân loại đồng nhất hơn chắc chắn sẽ xuất hiện trong những thay đổi của một trăm năm tới. Nhiều thái độ và nhiều phản ứng theo tập quán đang chi phối ngày nay sẽ biến mất, và những mẫu người, phẩm tính cùng đặc điểm mà chúng ta chưa từng có tiền lệ sẽ xuất hiện trên quy mô lớn.
Whether the conservative and the so-called strictly “moral” people dislike this worldwide happening has no bearing on the case. It has happened and is happening daily and will materially bring about far-reaching changes. These inter-racial and mixed relationships have always happened upon a small and individual scale; they are now happening on a large scale. For the results of this due preparation must be made.
Việc những người bảo thủ và những người được gọi là nghiêm ngặt về “đạo đức” không thích sự việc đang diễn ra trên toàn thế giới này không làm thay đổi thực tế. Nó đã xảy ra, đang xảy ra hằng ngày và sẽ thực sự mang đến những thay đổi sâu rộng. Những quan hệ giữa các chủng tộc và những quan hệ pha trộn này luôn diễn ra trên quy mô nhỏ và ở cấp độ cá nhân; giờ đây, chúng đang diễn ra trên quy mô lớn. Cần có sự chuẩn bị thích đáng cho những kết quả của điều này.
As is well known to you, there are certain diseases which are numerically dominant in the world today. They are:
Như các bạn đều biết rõ, có một số bệnh hiện chiếm ưu thế về số lượng trên thế giới. Đó là:
1. Heart diseases of various kinds, particularly afflicting advanced humanity.
1. Các loại bệnh tim khác nhau, đặc biệt ảnh hưởng đến bộ phận nhân loại tiến bộ.
2. Insanities. [225]
2. Các chứng loạn trí. [225]
3. Cancer, so widely prevalent among every type of man today.
3. Ung thư, hiện phổ biến rộng rãi trong mọi loại người.
4. The social diseases—syphilitic in nature.
4. Các bệnh xã hội—mang bản chất giang mai.
5. Tuberculosis.
5. Bệnh lao.
In a subtle and occult manner, these diseases are due to two basic causes: One is the close interplay between people, living under modern conditions, and the massing of people into cities and towns; the other is the age of the soil upon which man lives (a fact little recognised or considered), for it is deeply impregnated with the germs and the residue incident to past ages. The immunity of man is an amazing matter, could you but realise it; he resists and throws off constantly and continuously every kind of disease—those which are the result of contact with others, those which are prevalent in the very atmosphere at every time, those which are latent within his own bodily organism, and those which are inherited and to which he has a constant predisposition. Man’s fight for health is ceaseless and unending, ranging all the way from ordinary fatigue and tiredness (plus the universal tendency to take cold), to mortal disease, ending in death.
Theo một cách vi tế và huyền bí, những bệnh này bắt nguồn từ hai nguyên nhân cơ bản: Một là sự tương tác mật thiết giữa những người sống trong điều kiện hiện đại, cùng với sự tập trung đông đúc dân cư vào các thành phố và thị trấn; nguyên nhân kia là tuổi của đất nơi con người sinh sống (một sự thật ít được nhận biết hay xem xét), vì đất đã thấm sâu các mầm bệnh và tàn dư từ những thời đại đã qua. Khả năng miễn dịch của con người là một điều kỳ diệu, nếu các bạn nhận ra được điều đó; y không ngừng và liên tục chống lại và đẩy lùi mọi loại bệnh—những bệnh phát sinh do tiếp xúc với người khác, những bệnh luôn hiện diện trong chính bầu khí quyển, những bệnh tiềm ẩn trong cơ thể y, và những bệnh di truyền mà y luôn có khuynh hướng dễ mắc phải. Cuộc chiến vì sức khỏe của con người diễn ra không ngừng, không dứt, trải dài từ sự mệt mỏi và kiệt sức thông thường (cộng với khuynh hướng dễ bị cảm lạnh phổ biến ở mọi người), cho đến bệnh hiểm nghèo dẫn đến cái chết.
To the trained occult observer, it is as if humanity—as a whole—is walking partly in a dense shadow which engulfs the race, and some part of which involves an area of the body of every human being. One of the aims of the New Age will be “to lighten this shadow and bring people out into the fitness of true health.” This same shadow penetrates also into the mineral kingdom, affects the vegetable kingdom, and involves also the animals; it is one of the major causes of all that can be considered under the name of “sin,” which may surprise you. It is also the fertile seed of crime. This is a fact to be accepted, to be properly considered and dealt with rationally, sanely, intelligently and [226] spiritually; it will require all the factors mentioned to lift humanity out of the darkness of disease into established and radiant health. Certain of the Masters are dealing with this problem in relation to the other kingdoms in nature, for there will be no true escape for man whilst his environment is still under the shadow of disease.
Đối với nhà quan sát huyền bí đã qua rèn luyện, dường như toàn thể nhân loại đang bước đi một phần trong một bóng tối đậm đặc bao trùm nhân loại, và một phần của bóng tối ấy ảnh hưởng đến một vùng trong thân thể mỗi người. Một trong những mục tiêu của Kỷ Nguyên Mới sẽ là “làm nhạt bóng tối này và đưa con người đến trạng thái khỏe mạnh thực sự.” Cũng chính bóng tối ấy thâm nhập vào giới kim thạch, tác động đến giới thực vật và cả các loài động vật; nó là một trong những nguyên nhân chính của mọi điều có thể gọi chung là “tội lỗi”, điều này có thể khiến các bạn ngạc nhiên. Nó cũng là mầm mống màu mỡ của tội ác. Đây là một sự thật cần được chấp nhận, xem xét đúng mức và xử lý một cách hợp lý, tỉnh táo, sáng suốt và [226] theo tinh thần; cần đến tất cả những yếu tố vừa nêu để đưa nhân loại ra khỏi bóng tối của bệnh tật, đến với sức khỏe bền vững và rạng rỡ. Một số Chân sư đang xử lý vấn đề này trong mối liên hệ với các giới khác trong thiên nhiên, vì con người sẽ không thể thực sự thoát khỏi bệnh tật chừng nào môi trường của y vẫn còn nằm dưới bóng tối ấy.
Much that I could tell you in this connection would sound fanciful and would call forth the scoffing amusement of the hardboiled scientist. The theories held by mankind as to the origin of diseases, and the recognition of bacteria and germs and similar intruding organisms are largely correct, but this is so only if you bear in mind that they are in reality effects of causes upon which the investigator has not touched and which are hidden in the very history of the planet itself and also in the racial history of the past—of which little or practically nothing is known. Surmise and conjecture rule here.
Nhiều điều Tôi có thể nói với các bạn về vấn đề này sẽ nghe có vẻ viển vông và khiến nhà khoa học cứng nhắc cười nhạo. Những lý thuyết của nhân loại về nguồn gốc bệnh tật, cùng sự nhận biết về vi khuẩn, mầm bệnh và các sinh vật xâm nhập tương tự, phần lớn đều đúng; nhưng điều này chỉ đúng nếu các bạn ghi nhớ rằng thực ra chúng là những kết quả của các nguyên nhân mà nhà nghiên cứu chưa chạm đến, những nguyên nhân ẩn giấu trong chính lịch sử của hành tinh và cả trong lịch sử nhân loại thời quá khứ—những điều mà người ta biết rất ít hoặc hầu như không biết gì. Ở đây, sự phỏng đoán và suy đoán chiếm ưu thế.
1. DISEASES OF HUMANITY, INHERITED FROM THE PAST – 1. NHỮNG BỆNH CỦA NHÂN LOẠI KẾ THỪA TỪ QUÁ KHỨ
History, as studied today, goes back but a little way and although the enlightened historian and scientist may extend the story of humanity to millions of years, there is naught known about the races of men who lived those millions of years ago; naught is known of the civilisation which flourished in early Atlantean times twelve million years ago; naught is known at all of the still more ancient Lemurian civilisation which goes back more than fifteen million years; still less is known of that twilight period which existed twenty-one million years ago when men were scarcely human and when they were so closely related to the animal kingdom that we call them by the cumbersome name of “animal-man.”
Lịch sử, như được nghiên cứu ngày nay, chỉ lùi về quá khứ được một khoảng thời gian ngắn; và mặc dù nhà sử học cùng nhà khoa học có hiểu biết rộng mở có thể kéo dài câu chuyện của nhân loại đến hàng triệu năm, người ta vẫn không biết gì về những cộng đồng người đã sống cách đây hàng triệu năm ấy; không biết gì về nền văn minh từng hưng thịnh vào đầu thời Atlantis cách đây mười hai triệu năm; hoàn toàn không biết gì về nền văn minh Lemuria còn cổ xưa hơn, có từ hơn mười lăm triệu năm trước; lại càng biết ít hơn về thời kỳ tranh tối tranh sáng cách đây hai mươi mốt triệu năm, khi con người còn chưa thực sự là người và có quan hệ gần gũi với giới động vật đến mức chúng ta gọi họ bằng cái tên nặng nề là “người thú”.
During the vast period between then and now, myriads of people have lived and loved and experienced; their bodies have been absorbed into the dust of the earth and [227] each has contributed something which they have gained during life experience—something different, however, to that which they contribute to the life of the soul on its own plane. This something contributed has altered in some way the atoms and cells of the physical body, and that gained something has in due time been released again into the soil of the planet. Each soul, withdrawn from the body, has come to the earth repeatedly, and many millions are here today, particularly those who were present in later Atlantean times and who are, therefore, the flower and the highest product of that highly emotional race. They bring with them the predispositions and the innate tendencies with which their past history has endowed them.
Trong khoảng thời gian mênh mông từ đó đến nay, vô số người đã sống, yêu thương và trải nghiệm; thân thể họ đã hòa vào bụi đất và [227] mỗi người đều đóng góp một điều gì đó mà họ đã thu nhận qua kinh nghiệm sống—tuy nhiên, điều ấy khác với những gì họ đóng góp cho sự sống của linh hồn trên cõi riêng của linh hồn. Điều được đóng góp ấy đã làm biến đổi theo một cách nào đó các nguyên tử và tế bào của thể xác, rồi đến lúc thích hợp, thành quả thu nhận ấy lại được giải phóng vào đất của hành tinh. Mỗi linh hồn, sau khi rút khỏi thân thể, đã nhiều lần trở lại Trái Đất, và ngày nay có hàng triệu linh hồn đang hiện diện nơi đây, đặc biệt là những linh hồn từng có mặt vào cuối thời Atlantis và do đó là tinh hoa cùng sản phẩm cao nhất của nhân loại giàu cảm xúc ấy. Họ mang theo những khuynh hướng dễ mắc bệnh và những xu hướng bẩm sinh mà lịch sử quá khứ đã trao cho họ.
It should therefore be borne in mind that the physical bodies in which humanity now dwells are constructed of very ancient matter and that the substance employed is tainted or conditioned by the history of the past. To this concept must be added two others: First, that incoming souls draw to themselves the type of material with which they must construct their outer sheaths, and that this will be responsive to some aspect of their subtler natures; if, for instance, physical desire conditions them, the material of their physical vehicle will be largely responsive to that particular urge. Secondly, each physical body carries within itself the seeds of inevitable retribution, if its functions are misused. The great original sin in Lemurian times was sexual in nature, and due largely not only to inherent tendencies, but to the extraordinarily dense population of its civilisation and to the close relation of the animal kingdom. The origin of the syphilitic diseases traces back to these times.
Vì vậy, cần ghi nhớ rằng các thể xác mà nhân loại hiện đang cư ngụ được cấu tạo từ vật chất vô cùng cổ xưa, và chất liệu được sử dụng đã nhiễm bẩn hoặc chịu ảnh hưởng của lịch sử quá khứ. Cần bổ sung hai khái niệm khác vào khái niệm này: Thứ nhất, những linh hồn sắp nhập thể thu hút về mình loại vật liệu mà họ phải dùng để kiến tạo các lớp vỏ bên ngoài, và vật liệu ấy sẽ đáp ứng với một phương diện nào đó trong bản chất vi tế hơn của họ; chẳng hạn, nếu dục vọng hồng trần chi phối họ, vật liệu của hiện thể hồng trần sẽ phần lớn đáp ứng với sự thôi thúc đặc biệt ấy. Thứ hai, mỗi thể xác đều mang trong mình những mầm mống của sự báo ứng không thể tránh khỏi nếu các chức năng của nó bị lạm dụng. Tội lỗi nguyên thủy lớn lao vào thời Lemuria có bản chất tình dục, và phần lớn bắt nguồn không chỉ từ những khuynh hướng cố hữu mà còn từ dân số đông đúc khác thường của nền văn minh ấy cùng mối quan hệ gần gũi với giới động vật. Nguồn gốc của các bệnh giang mai có thể truy về thời kỳ này.
There is a beautiful idea in the minds of the ignorant that primitive races are free from that type of contamination and that the many sexual diseases and their results are predominantly the diseases of civilisation. This is not so [228] from the occult angle of vision. True knowledge disproves it. In the infancy of the race, a great mismating, promiscuity and series of perversions took place, and in the language of some of the most ancient books in the Masters’ Archives we read: “earth took its toll and earth to earth, polluted and impure, returned to earth; thus evil life entered the pristine cleanliness of the ancient mother. Deep in the soil the evil lies, emerging into form from time to time, and only fire and suffering can cleanse the mother of the evil which her children have given unto her.”
Trong thể trí của những người thiếu hiểu biết có một ý tưởng đẹp đẽ rằng các cộng đồng nguyên thủy không chịu loại ô nhiễm ấy, và nhiều bệnh tình dục cùng hậu quả của chúng chủ yếu là bệnh của nền văn minh. Theo góc nhìn huyền bí, điều này không đúng [228]. Tri thức chân chính bác bỏ ý tưởng ấy. Trong buổi sơ khai của nhân loại đã diễn ra tình trạng giao phối sai lệch nghiêm trọng, quan hệ tình dục bừa bãi và hàng loạt hành vi lệch lạc; và theo ngôn ngữ của một số sách cổ xưa nhất trong Văn Khố của các Chân sư, chúng ta đọc thấy: “đất đã đòi phần của mình, và đất trở về với đất, ô nhiễm và bất tịnh, lại trở về đất; như thế, sự sống xấu xa đã xâm nhập vào sự thanh sạch nguyên sơ của người mẹ cổ xưa. Sâu trong lòng đất, cái ác ẩn mình, thỉnh thoảng lại xuất hiện trong hình tướng, và chỉ lửa cùng đau khổ mới có thể thanh tẩy người mẹ khỏi cái ác mà những đứa con đã trao cho bà.”
The Lemurian race practically destroyed itself, owing to its misuse of the sacral centre, which was at that time the most active and the dominant centre. In Atlantean days it was the solar plexus centre which was the prime objective of the “entering fire.” The work of the Hierarchy in Lemurian days was, as I have told you elsewhere, to teach infant humanity the nature, meaning and significance of the physical vehicle, just as in the next race, the emotional was fostered and the major object of attention, and in our race, it is the mind which is subjected to stimulation. The initiate in Lemurian times was one who had completely mastered the control of the body, and hatha-yoga was then the outstanding spiritual practice. This, in time, was superseded by laya-yoga, which brought all the centres in the etheric body (except the throat and head centres) into functioning activity. This is not the type of activity which is now possible, because it must be remembered that the Master in those days had not the development or the understanding of the Masters of today, the only exceptions being Those Who had come from other schemes and spheres to aid animal-man and primitive humanity.
Nhân loại Lemuria hầu như đã tự hủy diệt vì lạm dụng trung tâm xương cùng, vốn là trung tâm hoạt động mạnh nhất và chi phối vào thời ấy. Trong thời Atlantis, trung tâm tùng thái dương là mục tiêu chính của “ngọn lửa đi vào”. Như Tôi đã nói với các bạn ở nơi khác, công việc của Thánh đoàn trong thời Lemuria là dạy cho nhân loại sơ khai biết bản chất, ý nghĩa và thâm nghĩa của hiện thể hồng trần, cũng như trong nhân loại kế tiếp, phương diện cảm xúc được nuôi dưỡng và trở thành đối tượng chú tâm chủ yếu, còn trong nhân loại chúng ta, chính thể trí là đối tượng được kích thích. Điểm đạo đồ thời Lemuria là người đã hoàn toàn làm chủ việc kiểm soát thân thể, và hatha-yoga khi ấy là phương pháp thực hành tinh thần nổi bật. Theo thời gian, phương pháp này nhường chỗ cho laya-yoga, vốn đưa tất cả các trung tâm trong thể dĩ thái (ngoại trừ các trung tâm cổ họng và đầu) vào trạng thái hoạt động. Đây không phải loại hoạt động hiện có thể đạt được, vì cần nhớ rằng Chân sư thời ấy chưa có sự phát triển hay sự thấu hiểu như các Chân sư ngày nay; những ngoại lệ duy nhất là Các Ngài đã đến từ những hệ hành tinh và khối cầu khác để trợ giúp người thú cùng nhân loại nguyên thủy.
A. Venereal and Syphilitic Diseases.
A. Các Bệnh Hoa Liễu và Giang Mai.
Paralleling all the activity of the Great White Lodge [229] (as was always the case and is the case today) was the activity of the dark forces. Their effects had to be brought about through the medium of the sacral centre, and thus a most vicious situation came about which weakened the stamina of the human body, which greatly increased the demands of the sex nature through the stimulation of the sacral centre, artificially brought about by the Black Lodge, and which produced many unholy alliances and widespread evil relations.
Song hành với mọi hoạt động của Thánh đoàn [229] (như vẫn luôn diễn ra và ngày nay cũng vậy) là hoạt động của các mãnh lực bóng tối. Các mãnh lực ấy phải tạo ra tác động thông qua trung tâm xương cùng, và vì thế đã nảy sinh một tình trạng hết sức độc hại, làm suy yếu sức bền của thân thể con người, làm gia tăng mạnh mẽ những đòi hỏi của bản chất tính dục qua sự kích thích trung tâm xương cùng do Hắc đoàn tạo ra một cách nhân tạo, đồng thời gây nên nhiều sự kết hợp bất chính và những quan hệ xấu xa lan rộng.
A great new law of nature was then imposed by the planetary Logos which has been expressed (very inadequately) by the words, “The soul that sinneth, it shall die.” This law could be better expressed by saying, “He that misuses that which he hath built will see it fall from forces within itself.”
Khi ấy, Hành Tinh Thượng đế đã áp đặt một định luật tự nhiên mới và vĩ đại, được diễn đạt (rất không đầy đủ) bằng những lời: “Linh hồn nào phạm tội, linh hồn ấy sẽ chết.” Định luật này có thể được diễn đạt đúng hơn như sau: “Kẻ nào lạm dụng những gì mình đã xây dựng sẽ thấy chúng sụp đổ do các mãnh lực bên trong chúng.”
As the centuries slipped away and the Lemurian race submitted to the evil impulses of the animal nature, gradually the earliest type of venereal disease made its appearance; eventually the entire race was riddled with it and died out, nature taking its toll and exacting its inexorable price. You might here ask how these early inhabitants of our planet could be held responsible for there is no sin where there is no sense of responsibility and no consciousness of wrong doing. The Hierarchy in those days had its own methods of teaching these infant peoples, just as the smallest child can be taught today to refrain from certain physical habits. Humanity then knew well what was evil, because the evidences of that evil were physically apparent and quite easily perceived. The penalty was obvious and the results immediate; the Teachers of the race saw to it that cause and effect were quickly to be noted.
Qua nhiều thế kỷ, khi nhân loại Lemuria khuất phục trước những thôi thúc xấu xa của bản chất động vật, loại bệnh hoa liễu đầu tiên dần xuất hiện; cuối cùng, toàn thể nhân loại ấy bị bệnh tàn phá và diệt vong, thiên nhiên đòi phần của mình và buộc họ trả cái giá không thể tránh khỏi. Đến đây, các bạn có thể hỏi làm sao có thể buộc những cư dân đầu tiên này của hành tinh chúng ta chịu trách nhiệm, vì không có tội lỗi ở nơi không có ý thức trách nhiệm và không nhận biết việc làm sai trái. Thánh đoàn thời ấy có những phương pháp riêng để dạy các dân tộc sơ khai này, cũng như ngày nay có thể dạy một đứa trẻ nhỏ nhất tránh những thói quen thân thể nhất định. Khi ấy, nhân loại biết rõ điều gì là xấu, vì những bằng chứng của cái xấu ấy biểu hiện rõ trên thể xác và khá dễ nhận thấy. Hình phạt hiển nhiên và hậu quả đến ngay lập tức; các huấn sư của nhân loại bảo đảm rằng người ta nhanh chóng nhận thấy nhân và quả.
At this time there also arose the first tendencies to marriage, as differentiated from promiscuity; the formation of family units became the subject of attention and [230] a goal for the most highly evolved. This was one of the first tasks undertaken by the Hierarchy and the first effort toward any form of group activity, conveying the first lesson in responsibility. The family unit was not stable as it can be now, but even its relatively brief tenure was a tremendous step forward; the segregation of the family unit and the growth of the sense of responsibility has gone steadily forward until it has culminated in our present system of marriage and our stress in the Occident upon monogamy; it has led to the western pride in family strains and pedigrees, our interest in genealogies and relationships, and the complete horror of the occidental thinker over the syphilitic diseases as they affect families and their offspring.
Vào thời ấy cũng xuất hiện những khuynh hướng đầu tiên hướng đến hôn nhân, khác biệt với quan hệ tình dục bừa bãi; việc hình thành các đơn vị gia đình trở thành đối tượng chú tâm và [230] một mục tiêu cho những người tiến hóa cao nhất. Đây là một trong những nhiệm vụ đầu tiên Thánh đoàn đảm nhận và là nỗ lực đầu tiên hướng đến một hình thức hoạt động nhóm, truyền đạt bài học đầu tiên về trách nhiệm. Đơn vị gia đình chưa ổn định như có thể đạt được ngày nay, nhưng ngay cả thời gian tồn tại tương đối ngắn ngủi của nó cũng là một bước tiến lớn lao; sự tách riêng của đơn vị gia đình và sự phát triển ý thức trách nhiệm đã tiến triển đều đặn, cho đến khi đạt đỉnh cao trong chế độ hôn nhân hiện nay và sự coi trọng chế độ một vợ một chồng của chúng ta ở phương Tây; điều ấy đã dẫn đến niềm tự hào của phương Tây về dòng dõi và huyết thống gia đình, sự quan tâm của chúng ta đến gia phả và các mối quan hệ họ hàng, cùng nỗi kinh hoàng tột độ của nhà tư tưởng phương Tây trước các bệnh giang mai khi chúng ảnh hưởng đến gia đình và con cháu.
Two most interesting things are, however, happening today. The family unit, on a worldwide scale, is being broken up, owing to the fortunes of war and—on a smaller scale—owing to the more modern views concerning marriage and divorce. Secondly, definite and rapid cures for the sexual diseases are being discovered, and these may tend to make people more reckless. When, however, they are perfected, they will in the long run safeguard the race and will return bodies to the soil after death freed from the plague which has contaminated the earth for endless ages. There will thus be brought about a gradual purifying of the soil. The growth of the practice of cremation will also aid this process of purification. Destruction by fire and the intensity of the heat engendered by applied military methods are also helping, and during the next one million years we shall see syphilis (inherited from Lemuria) stamped out, both in the human family and in the soil of the planet.
Tuy nhiên, ngày nay đang diễn ra hai điều hết sức đáng chú ý. Đơn vị gia đình trên quy mô toàn thế giới đang tan rã do những biến động của chiến tranh và—ở quy mô nhỏ hơn—do những quan điểm hiện đại hơn về hôn nhân và ly hôn. Thứ hai, những phương pháp chữa trị dứt điểm và nhanh chóng các bệnh tình dục đang được khám phá, và điều này có thể khiến con người trở nên liều lĩnh hơn. Tuy nhiên, khi hoàn thiện, về lâu dài những phương pháp ấy sẽ bảo vệ nhân loại và đưa những thân thể sau khi chết trở về với đất mà không còn tai họa đã làm ô nhiễm Trái Đất suốt vô vàn thời đại. Nhờ đó, đất sẽ dần được thanh lọc. Việc hỏa táng ngày càng phổ biến cũng sẽ hỗ trợ tiến trình thanh lọc này. Sự hủy diệt bằng lửa và nhiệt độ dữ dội do các phương thức quân sự được áp dụng tạo ra cũng đang góp phần, và trong một triệu năm tới, chúng ta sẽ thấy bệnh giang mai (kế thừa từ Lemuria) bị xóa bỏ cả trong gia đình nhân loại lẫn trong đất của hành tinh.
As the ages passed away, humanity entered into the Atlantean stage of development. The conscious control of the physical body dropped below the threshold of consciousness; the etheric body became consequently more potent (a [231] fact not oft considered), and the physical body reacted increasingly like an automaton to the impression and the direction of a steadily developing desire nature. Desire became something more than simply response to animal physical urges and to the primitive instincts, but was directed to objects and objectives extraneous to the body, towards material possessions and towards that which (when seen and coveted) could be appropriated. Just as the major sins of Lemurian times (if they could be called sins in any true sense, because of the low intelligence of the race) were through the misuse of sex, so the major sin of the Atlantean people was theft—widespread and general. The seeds of aggression and of personal acquisitiveness began to show themselves, culminating in the great war (as related in The Secret Doctrine) between the Lords of the Shining Countenance and the Lords of the Dark Face. To procure what they coveted and felt they needed, the most highly evolved of that race began to practice magic. It is not possible for me to outline to you the nature and practices of Atlantean magic with its control of elementals and of forms of life which have now been driven back into retreat and are inaccessible to humanity; neither can I indicate to you the particular methods used to acquire what was desired, the Words of Power employed and the carefully planned rituals which were followed by those who sought to enrich themselves and to take what they wanted, no matter what the cost to others. This magical work was the misdirected travesty of the White Magic so openly used in those days, prior to the great war between the Forces of Light and the Forces of Evil. Magic of the right kind was very familiar to the Atlantean people, and was used by those Members of the Hierarchy Who were entrusted with the guidance of the race and Who were combating rampant evil in high places. That same evil is again upon the warpath and is being [232] fought by the men of goodwill, under the direction of the Great White Lodge. Heights of luxury were reached in Atlantis of which we, with all our boasted civilisation, know nothing and have never achieved. Some faint traces of it have come to us from legends and from ancient Egypt, from archeological discovery and old fairy tales. There was a recurrence of pure Atlantean mischief and wickedness in the decadent days of the Roman Empire. Life became tainted by the miasma of unadulterated selfishness and the very springs of life itself became polluted. Men only lived and breathed in order to be in possession of the utmost luxury and of a very plethora of things and of material goods. They were smothered by desire and plagued by the dream of never dying but of living on and on, acquiring more and more of all that they desired.
Qua các thời đại, nhân loại bước vào giai đoạn phát triển Atlantis. Việc kiểm soát có ý thức đối với thể xác chìm xuống dưới ngưỡng tâm thức; do đó, thể dĩ thái trở nên mạnh mẽ hơn (một [231] sự thật ít khi được xem xét), và thể xác ngày càng phản ứng như một bộ máy tự động trước ấn tượng và sự chỉ đạo của bản chất dục vọng đang phát triển không ngừng. Dục vọng không còn chỉ đơn thuần là sự đáp ứng với những thôi thúc thể xác mang tính động vật và các bản năng nguyên thủy, mà đã hướng đến những đồ vật và mục tiêu bên ngoài thân thể, đến của cải vật chất và những gì có thể chiếm hữu (khi nhìn thấy và thèm muốn). Cũng như những tội lỗi chủ yếu thời Lemuria (nếu thực sự có thể gọi chúng là tội lỗi theo bất kỳ ý nghĩa đích thực nào, do trí thông minh của nhân loại ấy còn thấp) phát sinh từ việc lạm dụng tình dục, tội lỗi chủ yếu của người Atlantis là trộm cắp—lan rộng và phổ biến. Những mầm mống của sự xâm lược và lòng tham chiếm hữu cá nhân bắt đầu lộ diện, đạt đỉnh điểm trong cuộc chiến lớn (như được thuật lại trong Giáo Lý Bí Nhiệm) giữa các Chúa Tể có Dung Nhan Rạng Ngời và các Chúa Tể có Dung Nhan Đen Tối. Để có được những gì họ thèm muốn và cảm thấy mình cần, những người tiến hóa cao nhất của nhân loại ấy bắt đầu thực hành huyền thuật. Tôi không thể phác họa cho các bạn bản chất và những phương pháp thực hành huyền thuật Atlantis, với khả năng kiểm soát các hành khí và những hình thức sự sống nay đã bị đẩy lùi vào nơi ẩn náu mà nhân loại không thể tiếp cận; Tôi cũng không thể chỉ ra cho các bạn những phương pháp đặc thù được dùng để thu đoạt điều mong muốn, những Quyền năng từ được sử dụng và những nghi lễ được hoạch định cẩn thận mà những kẻ tìm cách làm giàu và lấy mọi thứ mình muốn đã tuân theo, bất kể người khác phải trả giá ra sao. Công việc huyền thuật này là một sự xuyên tạc sai hướng của Chánh Thuật vốn được sử dụng công khai vào thời ấy, trước cuộc chiến lớn giữa các Mãnh Lực Ánh Sáng và các Mãnh Lực của Cái Ác. Người Atlantis rất quen thuộc với huyền thuật đúng đắn, và những Thành Viên của Thánh đoàn được giao phó việc hướng dẫn nhân loại, đồng thời chống lại cái ác hoành hành ở những vị trí quyền lực cao, đã sử dụng huyền thuật ấy. Cũng chính cái ác đó lại đang tiến hành chiến tranh, và những người thiện chí đang [232] chiến đấu chống lại nó dưới sự chỉ đạo của Thánh đoàn. Atlantis đã đạt đến những đỉnh cao xa hoa mà chúng ta, với tất cả nền văn minh hằng tự hào, không hề biết đến và chưa bao giờ đạt được. Một vài dấu vết mờ nhạt của sự xa hoa ấy đã đến với chúng ta qua các truyền thuyết và Ai Cập cổ đại, qua những khám phá khảo cổ học và các truyện cổ tích xưa. Sự tai quái và độc ác thuần túy Atlantis đã tái diễn trong những ngày suy đồi của Đế quốc La Mã. Sự sống bị vấy bẩn bởi chướng khí của lòng ích kỷ hoàn toàn, và chính những nguồn mạch của sự sống cũng trở nên ô nhiễm. Con người chỉ sống và hít thở để sở hữu sự xa hoa tột bậc cùng vô số đồ vật và của cải vật chất đến mức dư thừa. Họ ngạt thở trong dục vọng và bị giày vò bởi giấc mơ không bao giờ chết, mà cứ sống mãi để thu đoạt ngày càng nhiều mọi thứ họ ham muốn.
B. Tuberculosis.
B. Bệnh Lao.
It is in this situation that we find the origin of tuberculosis. It originated in the organs whereby men breathe and live, and was imposed—as a penalty—by the Great White Lodge; the Masters promulgated a new law for the Atlantean people when Lemurian vice and Atlantean cupidity were at their most ruthless height. This law can be translated into the following terms: “He who lives only for material goods, who sacrifices all virtue in order to gain that which cannot last, will die in life, will find breath failing him, and yet will refuse to think of death until the summons comes.”
Chính trong tình trạng này, chúng ta tìm thấy nguồn gốc của bệnh lao. Nó khởi phát trong những cơ quan nhờ đó con người hít thở và sống, và Thánh đoàn đã áp đặt nó như một hình phạt; các Chân sư ban hành một định luật mới cho người Atlantis khi thói đồi bại Lemuria và lòng tham Atlantis đạt đến đỉnh điểm tàn nhẫn nhất. Có thể diễn đạt định luật này bằng những lời sau: “Kẻ nào chỉ sống vì của cải vật chất, hy sinh mọi đức hạnh để giành lấy những gì không thể bền lâu, sẽ chết ngay trong khi sống, sẽ thấy hơi thở suy kiệt, nhưng vẫn không chịu nghĩ đến cái chết cho đến khi tiếng gọi vang lên.”
It is difficult for us in these days to appreciate or to comprehend the Atlantean state of consciousness. There was no mental process whatsoever except among the leaders of the race; there was only rampant, ruthless, insatiable desire. This action of the Great White Lodge forced two issues and confronted the race with two hitherto unrealised [233] problems. The first was that psychological attitudes and states of consciousness can and do bring about physiological conditions, these being both good and bad. Secondly, for the first time the people faced with recognition the phenomenon of death—death which they themselves brought about in a new way and not just by physical means. This had to be dramatised for them in some definitely objective manner, for as yet the masses did not respond to verbal teaching but only to visual events. When, therefore, they saw a particularly predatory and rapacious person begin to suffer from a dire disease which seemed to arise from within himself and—whilst suffering—hold on to his love of life (as tubercular people do today), they were faced with another aspect or form of the original law (imposed in Lemurian times) which said: “The soul that sinneth, it shall die.” Death had hitherto been accepted without questioning as the fate of all living things, but now, for the first time, mental relationship between individual action and death was recognised—as yet in a dim and feeble way—and a great step forward was made in the human consciousness. Instinct failed to handle this situation.
Ngày nay, chúng ta khó có thể nhận thức đầy đủ hoặc lĩnh hội trạng thái tâm thức Atlantis. Ngoại trừ những người lãnh đạo nhân loại, hoàn toàn không có tiến trình trí tuệ nào; chỉ có dục vọng hoành hành, tàn nhẫn và không bao giờ thỏa mãn. Hành động này của Thánh đoàn đã buộc hai vấn đề phải được giải quyết và đặt nhân loại trước hai vấn đề mà trước đó họ chưa hề nhận ra [233]. Thứ nhất là những thái độ tâm lý và trạng thái tâm thức có thể và thực sự tạo ra các tình trạng sinh lý, cả tốt lẫn xấu. Thứ hai, lần đầu tiên con người đối diện với sự nhận biết về hiện tượng chết—cái chết do chính họ gây ra theo một cách mới, chứ không chỉ bằng những phương tiện hồng trần. Điều này phải được thể hiện sống động cho họ theo một cách khách quan rõ rệt nào đó, vì khi ấy quần chúng chưa đáp ứng với lời dạy bằng ngôn từ mà chỉ đáp ứng với những sự kiện nhìn thấy được. Vì vậy, khi thấy một kẻ đặc biệt chuyên cướp đoạt và tham tàn bắt đầu chịu đựng một căn bệnh khủng khiếp dường như phát sinh từ bên trong y, và trong lúc đau đớn vẫn bám chặt lấy lòng ham sống (như những người mắc bệnh lao ngày nay), họ phải đối diện với một phương diện hay hình thức khác của định luật nguyên thủy (được áp đặt vào thời Lemuria): “Linh hồn nào phạm tội, linh hồn ấy sẽ chết.” Cho đến khi ấy, người ta vẫn chấp nhận cái chết không chút thắc mắc như số phận của mọi sinh vật, nhưng giờ đây, lần đầu tiên, mối liên hệ trong trí tuệ giữa hành động cá nhân và cái chết được nhận biết—dù còn mờ nhạt và yếu ớt—và tâm thức nhân loại đã tiến một bước lớn. Bản năng không thể xử lý tình huống này.
Death, brother of mine, is a great and universal heritage; all forms die, for such is the law of life, to speak in paradoxes. The time had arrived when the race could be taught the lesson that death can either be the ending of a cycle and an automatic response to the great Law of Cycles which continually institutes the new and ends the old, or it can be brought about by the misuse of the physical body, by misapplied energy and by the deliberate action of the man himself. The man who deliberately sins, and who is psychologically wrong in his attitudes and consequent actions, commits suicide just as truly as the man who deliberately blows out his brains. This is seldom realised, but the truth will become increasingly apparent.
Hỡi huynh đệ của Tôi, cái chết là một di sản lớn lao và phổ quát; mọi hình tướng đều chết, vì định luật của sự sống là như thế, nếu nói theo lối nghịch lý. Đã đến lúc có thể dạy nhân loại bài học rằng cái chết hoặc là sự kết thúc của một chu kỳ và sự đáp ứng tự động với Định luật Chu Kỳ vĩ đại vốn không ngừng khởi lập cái mới và kết thúc cái cũ, hoặc có thể phát sinh do việc lạm dụng thể xác, sử dụng sai năng lượng và hành động có chủ ý của chính con người. Người cố ý phạm tội, có thái độ sai lệch về tâm lý và từ đó hành động sai trái, cũng thực sự tự sát như người cố tình bắn vỡ óc mình. Người ta hiếm khi nhận ra điều này, nhưng sự thật ấy sẽ ngày càng rõ ràng.
[234]
[234]
The Biblical injunction to remember that the sins of the fathers will be visited upon the children is a literal statement anent the human heritage of disease from Lemuria and Atlantis. Syphilis and tuberculosis have been extensively prevalent in the first half of the Aryan race, in which we now find ourselves, and today they not only affect the organs of generation or the lungs (as they did in the early stages of their appearance), but now have involved the blood stream and consequently the entire organism of the human body.
Lời răn trong Kinh Thánh rằng hãy nhớ tội lỗi của cha ông sẽ giáng xuống con cháu là một phát biểu theo nghĩa đen về di sản bệnh tật mà nhân loại thừa hưởng từ Lemuria và Atlantis. Bệnh giang mai và bệnh lao đã lan tràn rộng rãi trong nửa đầu của Giống dân gốc Arya mà hiện nay chúng ta thuộc về, và ngày nay chúng không chỉ ảnh hưởng đến các cơ quan sinh sản hay phổi (như trong những giai đoạn đầu khi mới xuất hiện), mà còn xâm nhập vào dòng máu và do đó vào toàn bộ cơ thể con người.
Much has been done in the last fifty years to bring the great Atlantean disease of tuberculosis under control by simplicity of living, pure and ample food and good air. Much is being done to control, finally, the syphilitic diseases, and both will eventually be stamped out, not only by sound treatment and the discoveries of medical science, but because the race—as it becomes more mentally polarised—will itself deal with the problem from the angle of commonsense, will decide that the physical sins exact too heavy a penalty and that the possession of that which you have not earned or needed, and which consequently is not rightfully yours, is not worth while.
Trong năm mươi năm qua, người ta đã làm được nhiều điều để kiểm soát căn bệnh lao lớn lao của Atlantis bằng lối sống giản dị, thức ăn tinh sạch và đầy đủ, cùng không khí trong lành. Nhiều nỗ lực đang được thực hiện để cuối cùng kiểm soát các bệnh giang mai, và rồi cả hai sẽ bị xóa bỏ, không chỉ nhờ phương pháp điều trị đúng đắn và những khám phá của khoa học y học, mà còn vì nhân loại—khi ngày càng phân cực trí tuệ—sẽ tự xử lý vấn đề từ góc độ lẽ thường, sẽ quyết định rằng những tội lỗi hồng trần đòi hỏi một cái giá quá đắt, và việc sở hữu những gì mình chưa kiếm được hoặc không cần đến, do đó không thuộc về mình một cách chính đáng, là điều không đáng làm.
It is around these basic ideas that the world war (1914-1945) was fought. We call the unlawful possession of other people’s land, territories, goods and chattels, aggression; but this is the same thing in principle as stealing, theft and rape. Today these evils are not only individual sins and faults, but can be national characteristics; the world war has brought the whole problem to the surface of the human consciousness and the ancient Atlantean struggle is being bitterly waged, with the probability that this time the Great White Lodge will triumph. That was not the case in the earlier conflict. Then the war was ended by the intervention of the planetary Logos Himself, and that [235] ancient civilisation went down into the deeps and was engulfed in water—the symbol of purity, sanitation and universality, and therefore appropriate as an ending for what one of the Masters has called “a tubercularly oriented race.” Death by drowning and death by obscure physical means which I am not at liberty to describe have both been tried in the effort to salvage humanity. Today, death by fire is the applied technique, and it promises to be successful. In contradistinction to the great Lemurian and Atlantean crises, humanity is now far more mentally alert, the causes of the trouble are recognised, motives are seen more clearly, and the will-to-good and to change past evil conditions is stronger than ever before. What is beginning to manifest now in the public consciousness is something utterly good and new.
Cuộc chiến tranh thế giới (1914-1945) đã diễn ra xoay quanh những ý tưởng cơ bản này. Chúng ta gọi việc chiếm hữu trái phép đất đai, lãnh thổ, hàng hóa và tài sản của người khác là xâm lược; nhưng về nguyên tắc, điều này cũng giống như trộm cắp, cướp đoạt và cưỡng hiếp. Ngày nay, những điều xấu xa ấy không chỉ là tội lỗi và khuyết điểm cá nhân mà còn có thể trở thành đặc điểm quốc gia; cuộc chiến tranh thế giới đã đưa toàn bộ vấn đề lên bề mặt tâm thức nhân loại, và cuộc đấu tranh Atlantis cổ xưa đang diễn ra quyết liệt, với khả năng lần này Thánh đoàn sẽ chiến thắng. Trong cuộc xung đột trước kia, sự việc đã không như vậy. Khi ấy, chiến tranh kết thúc nhờ sự can thiệp của chính Hành Tinh Thượng đế, và nền văn minh [235] cổ xưa ấy chìm xuống vực sâu, bị nước nhấn chìm—nước là biểu tượng của sự tinh khiết, vệ sinh và tính phổ quát, vì vậy thích hợp để kết thúc điều mà một trong các Chân sư đã gọi là “một nhân loại có khuynh hướng mắc bệnh lao”. Cái chết do đuối nước và cái chết bằng những phương thức hồng trần bí ẩn mà Tôi không được phép mô tả đều đã được thử nghiệm trong nỗ lực cứu vãn nhân loại. Ngày nay, cái chết bằng lửa là kỹ thuật đang được áp dụng, và nó hứa hẹn thành công. Khác với những cuộc khủng hoảng lớn thời Lemuria và Atlantis, nhân loại ngày nay tỉnh táo hơn nhiều về trí tuệ, các nguyên nhân của vấn nạn đã được nhận biết, động cơ được nhìn thấy rõ hơn, và Ý Chí-hướng Thiện cùng ý chí thay đổi những tình trạng xấu xa trong quá khứ mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Điều đang bắt đầu biểu hiện trong tâm thức công chúng là một điều hoàn toàn tốt đẹp và mới mẻ.
The subjective reasons given to account for the appearance of these two most ancient racial diseases may well appear to the non-esotericist as possible but not probable and as fanciful and too general in nature. This cannot be helped. These two groups of diseases are of such exceedingly ancient origin that I have called them inherent in the planetary life itself and the heritage of all humanity, for in all, the breaking of certain laws will bring about these diseases. If I cared to do so, I could take you still further back into the realm of cosmic evil as it prevails in our solar system and affects the planetary Logos, Who is still numbered among “the imperfect Gods.” The outer form of the planet through which He expresses Himself is impregnated to a certain depth with the seeds and germs of these two diseases; as immunity is built up, however, as methods of cure are developed, as preventive medicine comes into its own, and as man himself arrives at increasing mental and soul control of the animal and desire natures, these forms of human suffering will disappear, and (no matter what statistics [236] may say) they are disappearing among the more controlled areas of the human family. As the life of God (expressing itself as individual divinity and universal divinity) pulsates more powerfully through the kingdoms of nature, these two penalties of evil-doing will inevitably no longer be required and will disappear for three reasons:
Những nguyên nhân chủ quan được đưa ra để giải thích sự xuất hiện của hai căn bệnh cổ xưa nhất này của nhân loại rất có thể khiến người không nghiên cứu huyền bí học cảm thấy rằng chúng có thể xảy ra nhưng khó có khả năng đúng, đồng thời mang tính viển vông và quá chung chung. Không thể tránh được điều này. Hai nhóm bệnh ấy có nguồn gốc vô cùng cổ xưa, đến mức Tôi đã gọi chúng là những gì cố hữu trong chính sự sống hành tinh và là di sản của toàn thể nhân loại, vì ở mọi người, việc vi phạm một số định luật nhất định đều sẽ gây ra những bệnh này. Nếu muốn, Tôi có thể đưa các bạn lùi xa hơn nữa vào lĩnh vực cái ác vũ trụ đang hiện hành trong hệ mặt trời của chúng ta và ảnh hưởng đến Hành Tinh Thượng đế, Đấng vẫn được kể vào số “các Thượng đế chưa hoàn thiện”. Hình tướng bên ngoài của hành tinh, qua đó Ngài biểu lộ, đã thấm các hạt giống và mầm mống của hai bệnh này đến một độ sâu nhất định; tuy nhiên, khi khả năng miễn dịch được xây dựng, các phương pháp chữa trị được phát triển, y học dự phòng phát huy đúng vai trò, và chính con người ngày càng đạt được sự kiểm soát của trí tuệ và linh hồn đối với bản chất động vật cùng bản chất dục vọng, những hình thức đau khổ này của con người sẽ biến mất; và (bất kể các số liệu thống kê [236] có nói gì) chúng đang biến mất trong những bộ phận có khả năng tự kiểm soát tốt hơn của gia đình nhân loại. Khi sự sống của Thượng đế (biểu lộ thành thiên tính cá nhân và thiên tính phổ quát) rung nhịp mạnh mẽ hơn qua các giới trong thiên nhiên, hai hình phạt dành cho việc làm xấu ác này tất yếu sẽ không còn cần thiết và sẽ biến mất vì ba lý do:
1. The orientation of humanity towards the light is steadily changing and “light dispels all evil.” The light of knowledge and the recognition of causes will bring about those carefully planned conditions which will make the syphilitic diseases and tuberculosis things of the past.
1. Sự định hướng của nhân loại về phía ánh sáng đang thay đổi đều đặn, và “ánh sáng xua tan mọi điều xấu ác”. Ánh sáng của tri thức cùng sự nhận biết các nguyên nhân sẽ tạo ra những điều kiện được hoạch định cẩn thận, khiến các bệnh giang mai và bệnh lao trở thành chuyện của quá khứ.
2. The centres below the diaphragm will be subjected to a cleansing, lifting process; the life of the sacral centre will be controlled and the energy usually focussed there will be expended in creative living, through the medium of the throat centre; the solar plexus centre will have its energy lifted to the heart, and the trend of human selfishness will then die out.
2. Các trung tâm dưới cơ hoành sẽ trải qua một tiến trình thanh lọc và nâng cao; sự sống của trung tâm xương cùng sẽ được kiểm soát, và năng lượng thường tập trung ở đó sẽ được sử dụng trong đời sống sáng tạo thông qua trung tâm cổ họng; năng lượng của trung tâm tùng thái dương sẽ được nâng lên trung tâm tim, và khi ấy khuynh hướng ích kỷ của con người sẽ tàn lụi.
3. Complete cures, implemented by science, will bring about a gradual fading out of contagion.
3. Những phương pháp chữa trị dứt điểm do khoa học thực hiện sẽ khiến sự lây nhiễm dần biến mất.
Another reason which will bring about the cessation of those practises and modes of living and desiring which account for these diseases is one little recognised as yet; it was referred to by the Christ when He spoke of the time when nothing secret would remain hidden and when all secrets would be shouted aloud from the housetops. The growth of telepathic registration and of the psychic powers such as clairvoyance and clairaudience will eventually tend to strip humanity of the privacy in which to sin. The powers whereby the Masters and the higher initiates can ascertain the psychic state and physical condition of humanity, its quality and consciousness, are already beginning to show [237] themselves in advanced humanity. People will sin, commit evil deeds and satisfy inordinate desire, but they will be known to their fellowmen and nothing that they do will be carried out in secret. Some one or some group will be aware of the tendencies in the life of a man, and even of the incidents in which he satisfies some demand of his lower nature, and the fact of this possibility will act as a great deterrent—a far greater deterrent than you can imagine. Man is indeed his brother’s keeper, and the keeping will take the form of knowledge and of “boycott and sanctions”—as it is called today in reference to the penalising of nations. I would have you ponder on these two modes of treating wrong doing. They will be practically automatically applied as a matter of good taste, right feeling and helpful intention by individuals and groups to other individuals and groups, and in this way crime and the tendency to evil doing will gradually be stamped out. It will be realised that all crime is founded upon some form of disease, or upon a glandular lack or overstimulation, based in turn upon the development or the underdevelopment of some one or other of the centres. An enlightened public opinion—informed as to man’s constitution and aware of the great Law of Cause and Effect—will deal with the criminal through medical means, right environmental conditions, and the penalties of boycott and sanctions. I have no time to enlarge upon these matters, but these suggestions will give you food for thought.
Một nguyên nhân khác sẽ chấm dứt những thực hành, lối sống và cách ham muốn gây nên các bệnh này vẫn còn ít được nhận biết; Đức Christ đã đề cập đến nó khi Ngài nói về thời điểm không điều bí mật nào còn bị che giấu và mọi bí mật sẽ được hô lớn từ trên mái nhà. Sự phát triển khả năng ghi nhận viễn cảm và các quyền năng thông linh như thông nhãn và thông nhĩ cuối cùng sẽ có khuynh hướng tước khỏi nhân loại sự riêng tư để phạm tội. Những quyền năng nhờ đó các Chân sư và các điểm đạo đồ cao cấp có thể xác định trạng thái thông linh và tình trạng hồng trần của nhân loại, phẩm tính và tâm thức của họ, đã bắt đầu biểu hiện [237] trong bộ phận nhân loại tiến bộ. Con người vẫn sẽ phạm tội, làm điều xấu ác và thỏa mãn những dục vọng quá độ, nhưng đồng loại sẽ biết họ, và không điều gì họ làm còn diễn ra trong bí mật. Một người hay một nhóm nào đó sẽ nhận biết những khuynh hướng trong đời sống của một người, và thậm chí cả những sự việc qua đó y thỏa mãn một đòi hỏi nào đó của bản chất thấp; chính khả năng này sẽ có tác dụng răn đe mạnh mẽ—mạnh mẽ hơn nhiều so với các bạn có thể hình dung. Quả thực, con người là người gìn giữ huynh đệ mình, và sự gìn giữ ấy sẽ mang hình thức hiểu biết cùng “tẩy chay và chế tài”—như ngày nay người ta gọi khi nói đến việc trừng phạt các quốc gia. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về hai phương thức xử lý hành vi sai trái này. Các cá nhân và nhóm sẽ gần như tự động áp dụng chúng đối với những cá nhân và nhóm khác, xuất phát từ sự nhã nhặn, tình cảm đúng đắn và ý định giúp đỡ; bằng cách này, tội ác và khuynh hướng làm điều xấu ác sẽ dần bị xóa bỏ. Người ta sẽ nhận ra rằng mọi tội ác đều bắt nguồn từ một dạng bệnh nào đó, hoặc từ sự thiếu hụt hay kích thích quá mức của các tuyến, mà đến lượt chúng lại dựa trên sự phát triển hay kém phát triển của một trung tâm nào đó. Một dư luận công chúng sáng suốt—có hiểu biết về cấu tạo con người và nhận biết Định luật Nhân Quả vĩ đại—sẽ xử lý người phạm tội bằng các phương tiện y học, những điều kiện môi trường đúng đắn, cùng các hình phạt tẩy chay và chế tài. Tôi không có thời gian trình bày sâu hơn về những vấn đề này, nhưng những gợi ý ấy sẽ cho các bạn nhiều điều đáng suy ngẫm.
C. Cancer.
C. Bệnh Ung Thư.
We come now to a consideration of the rapidly increasing and typical Atlantean disease which we call cancer. We have spoken of one basic widespread disease related to the physical body; we have dealt superficially with another which is a product of the desire nature. Cancer, in our [238] present cycle, the Aryan, is definitely a result of the activity of the lower concrete mind and of the stimulation of the etheric body which the mind can bring about. It is a major disease incident to stimulation, as far as the Aryan masses are concerned, just as heart disease is also a disease of stimulation, affecting very largely the advanced types of humanity who—through interest in business and leadership—often sacrifice their lives and pay the penalty of misused and over-concentrated energy by developing various forms of acute heart trouble.
Giờ đây, chúng ta chuyển sang xem xét căn bệnh điển hình của Atlantis đang gia tăng nhanh chóng mà chúng ta gọi là ung thư. Chúng ta đã nói đến một căn bệnh cơ bản, phổ biến, liên quan đến thể xác; chúng ta đã bàn sơ qua một căn bệnh khác vốn là sản phẩm của bản chất dục vọng. Trong chu kỳ [238] hiện tại của chúng ta, chu kỳ Arya, ung thư rõ ràng là kết quả của hoạt động hạ trí cụ thể và sự kích thích thể dĩ thái mà thể trí có thể gây ra. Đối với quần chúng Arya, đây là một căn bệnh chủ yếu phát sinh do kích thích, cũng như bệnh tim là một căn bệnh do kích thích, ảnh hưởng rất lớn đến những mẫu người tiến bộ của nhân loại, những người—do quan tâm đến kinh doanh và lãnh đạo—thường hy sinh mạng sống và trả giá cho việc sử dụng sai năng lượng và tập trung năng lượng quá mức bằng sự phát sinh nhiều dạng bệnh tim cấp tính.
Disciples and initiates are prone also to suffer from this disease, owing to the awakening into violent activity of the heart centre. In the one case, the life energy flowing through the heart is employed past all human tolerance in handling human affairs; in the other, the heart centre opens up and the strain put upon the organ of the heart is too great, and heart disease supervenes. A third cause of heart disease is due to the premature or deliberately planned lifting of the energy of the solar plexus to the heart, thus putting an unexpected strain upon it.
Các đệ tử và điểm đạo đồ cũng dễ mắc bệnh này do trung tâm tim thức tỉnh và đi vào hoạt động mãnh liệt. Trong trường hợp thứ nhất, năng lượng sự sống chảy qua tim được sử dụng vượt quá mọi giới hạn chịu đựng của con người để xử lý các công việc nhân sự; trong trường hợp thứ hai, trung tâm tim mở ra và sức ép đặt lên quả tim quá lớn, rồi bệnh tim xuất hiện. Nguyên nhân thứ ba của bệnh tim là việc nâng năng lượng từ tùng thái dương lên tim quá sớm hoặc có chủ ý theo kế hoạch, do đó đặt lên tim một sức ép bất ngờ.
I am dealing naturally in broad generalisations; later evidence will go to show the types of activity which will evoke corresponding difficulty within the heart. Heart disease will increase greatly as we enter into the new rootrace, particularly during the interim wherein the fact of the centres, their nature and qualities, is admitted and they consequently become the objective of trained attention. Energy follows thought, and this mental focussing upon the centres will inevitably produce overstimulation of all the centres, and this in spite of care and a carefully developed Science of the Centres. It is something which cannot be avoided, owing to the nervous and uneven unfoldment of man. Later, this stimulation will be regulated and controlled, [239] and the heart will be subjected only to a general strain, along with all the other centres.
Dĩ nhiên, Tôi đang bàn theo những khái quát rộng; các bằng chứng về sau sẽ cho thấy những loại hoạt động nào gây ra khó khăn tương ứng trong tim. Bệnh tim sẽ gia tăng mạnh khi chúng ta bước vào giống dân gốc mới, đặc biệt trong thời kỳ chuyển tiếp khi sự hiện hữu của các trung tâm, bản chất và phẩm tính của chúng được thừa nhận, và do đó chúng trở thành đối tượng chú tâm có rèn luyện. Năng lượng đi theo tư tưởng, và sự tập trung trí tuệ này vào các trung tâm tất yếu sẽ gây kích thích quá mức tất cả các trung tâm, bất chấp sự thận trọng và một Khoa Học về các Trung Tâm được phát triển cẩn thận. Đây là điều không thể tránh khỏi, do sự khai mở căng thẳng và không đồng đều của con người. Về sau, sự kích thích này sẽ được điều tiết và kiểm soát, [239] và tim sẽ chỉ chịu một sức ép chung, cùng với tất cả các trung tâm khác.
Cancer is a disease most definitely related to the centres, and it will be found that the centre in the area wherein the cancer exists is overactive, with a consequent increase of energy pouring through the related bodily substance. This energy and the overstimulation of a centre can be due not only to the activity of the centre and its consequent radiation, but also the suppression imposed by the mind upon any activity of a particular centre. This brings about a damming up of energy, and again we have the creation of too much concentrated energy in any particular area. One of the main sources of cancer as related to the sacral centre, and therefore to the sex organs, has been the well-intentioned suppression of the sex life, and of all thought connected with the sex life, by misguided aspirants; they are those who find the teaching—monastic and celibate—of the Middle Ages the line of least resistance. In that period of time, good people taught that sex was evil and wicked, something not to be mentioned, and a potent source of trouble. Normal reactions, instead of being controlled and transmuted into creative activity, were violently suppressed and all thoughts anent the sex life were refused expression. Nevertheless, energy follows the direction of thought, with the result that that particularly magnetic type of energy attracted an increasing number of cells and atoms to itself; therein is found the source of the tumours, growths and cancers so prevalent today. The same thing can be said about the violent inhibition imposed by an aspirant upon all emotional reactions and feelings. In their effort to control the astral body, these people resort to a process of direct inhibition and suppression. That suppression makes of the solar plexus centre a great reservoir of drastically retained energy. Transmutation of the emotions into aspiration and love and directed [240] control is not present, and the existence of this vibrant reservoir of power brings about cancer of the stomach, of the liver, and sometimes of the entire area of the abdomen. I simply mention these causes (overactivity of a centre and the retention of energy, unexpressed and inhibited) as fruitful sources of cancer.
Ung thư là một căn bệnh có liên hệ hết sức rõ rệt với các trung tâm, và người ta sẽ thấy rằng trung tâm ở vùng có ung thư đang hoạt động quá mức, kéo theo sự gia tăng năng lượng tuôn qua chất liệu thân thể liên quan. Năng lượng này và sự kích thích quá mức của một trung tâm có thể bắt nguồn không chỉ từ hoạt động của trung tâm ấy cùng sự bức xạ do đó phát sinh, mà còn từ việc thể trí áp đặt sự đè nén lên bất kỳ hoạt động nào của một trung tâm cụ thể. Điều này gây ra sự dồn ứ năng lượng, và một lần nữa chúng ta có tình trạng quá nhiều năng lượng tập trung trong một vùng nhất định. Một trong những nguồn gốc chính của ung thư liên quan đến trung tâm xương cùng, và do đó đến các cơ quan sinh dục, là sự đè nén đời sống tình dục cùng mọi tư tưởng liên quan đến đời sống ấy, xuất phát từ thiện ý của những người chí nguyện hiểu sai đường lối; họ là những người thấy giáo huấn tu viện và độc thân của thời Trung Cổ là con đường ít trở ngại nhất. Trong thời kỳ đó, những người tốt dạy rằng tình dục là xấu xa và tội lỗi, là điều không được nhắc đến và là một nguồn gây rắc rối mạnh mẽ. Thay vì được kiểm soát và chuyển hoá thành hoạt động sáng tạo, những phản ứng bình thường bị đè nén dữ dội, và mọi tư tưởng về đời sống tình dục đều bị ngăn không cho biểu lộ. Tuy nhiên, năng lượng đi theo hướng của tư tưởng, kết quả là loại năng lượng đặc biệt có từ tính ấy ngày càng thu hút nhiều tế bào và nguyên tử về mình; chính trong đó có nguồn gốc của các khối u, những khối tăng sinh và ung thư rất phổ biến ngày nay. Cũng có thể nói như vậy về sự ức chế dữ dội mà một người chí nguyện áp đặt lên mọi phản ứng cảm xúc và tình cảm. Trong nỗ lực kiểm soát thể cảm dục, những người này sử dụng một tiến trình ức chế và đè nén trực tiếp. Sự đè nén ấy biến trung tâm tùng thái dương thành một kho chứa lớn năng lượng bị cưỡng giữ nghiêm ngặt. Không có sự chuyển hoá cảm xúc thành khát vọng, tình thương và sự kiểm soát có định hướng [240]; sự hiện hữu của kho quyền năng rung động này gây ra ung thư dạ dày, gan và đôi khi toàn bộ vùng bụng. Tôi chỉ nêu những nguyên nhân này (sự hoạt động quá mức của một trung tâm và sự giữ lại năng lượng, không cho biểu lộ và bị ức chế) như những nguồn dễ phát sinh ung thư.
We come back in every case, as you can see, to the fact of the existence of the centres and their physiological effects. So much emphasis has been laid upon the qualities and characteristics which man will develop when the centres are all properly organised and directed, that the effects of the energy which they receive and distribute into the physical organism have been largely overlooked. Two factors in connection with the centres and the blood stream therefore warrant repetition and attention:
Như các bạn có thể thấy, trong mọi trường hợp, chúng ta đều trở lại với sự hiện hữu của các trung tâm và những tác động sinh lý của chúng. Người ta đã nhấn mạnh quá nhiều đến những phẩm tính và đặc điểm mà con người sẽ phát triển khi mọi trung tâm đều được tổ chức và điều khiển đúng đắn, đến mức phần lớn đã bỏ qua các tác động của năng lượng mà chúng tiếp nhận và phân phối vào cơ thể hồng trần. Vì vậy, có hai yếu tố liên quan đến các trung tâm và dòng máu cần được nhắc lại và chú ý:
1. The blood stream is the agent of the glandular system as it, in its turn, is an effect of the centres; the blood stream carries to every part of the body those essential elements of which we know so little and which are responsible for making man psychologically what he is, and thus physically control his equipment.
1. Dòng máu là tác nhân của hệ tuyến, mà đến lượt hệ tuyến lại là một kết quả của các trung tâm; dòng máu mang đến mọi bộ phận của thân thể những nguyên tố thiết yếu mà chúng ta biết rất ít, những nguyên tố quyết định con người là như thế nào về mặt tâm lý và do đó kiểm soát bộ máy của y về mặt hồng trần.
2. The blood stream is also the life, and carries throughout the organism an aspect of the energy stored up by the centres which is not directly related to the endocrine system; it penetrates, by its radiation, into the blood stream and into all the veins, arteries and capillaries within the area controlled by the centre under consideration. This permeating energy of life itself, localised and qualified, can be either life-giving or death bestowing.
2. Dòng máu cũng là sự sống, và mang đi khắp cơ thể một phương diện năng lượng tích trữ trong các trung tâm không liên quan trực tiếp đến hệ nội tiết; qua sự bức xạ, năng lượng ấy thâm nhập vào dòng máu và tất cả các tĩnh mạch, động mạch và mao mạch trong vùng do trung tâm đang được xem xét kiểm soát. Năng lượng thấm nhuần này của chính sự sống, được khu trú và mang phẩm tính nhất định, có thể ban sự sống hoặc đem lại cái chết.
All diseases—except those due to accidents, wounds resulting in infections, and epidemics—can in the last analysis be [241] traced to some condition of the centres, and therefore to energy running wild, to energy overactive and misdirected or insufficient and lacking altogether, or retained instead of used and transmuted into a higher corresponding centre of energy. The mystery of the blood still remains to be solved, and will receive increasing attention as time goes on. The anemias, so prevalent today, are also due to excess of energy.
Mọi bệnh tật—ngoại trừ những bệnh do tai nạn, vết thương dẫn đến nhiễm trùng và dịch bệnh—xét đến cùng đều có thể [241] truy về một tình trạng nào đó của các trung tâm, và do đó về năng lượng vận hành mất kiểm soát, năng lượng hoạt động quá mức và sai hướng hoặc không đủ và hoàn toàn thiếu vắng, hay bị giữ lại thay vì được sử dụng và chuyển hoá vào một trung tâm năng lượng tương ứng cao hơn. Bí nhiệm của máu vẫn còn cần được giải đáp, và theo thời gian sẽ ngày càng được chú ý. Những chứng thiếu máu rất phổ biến ngày nay cũng do năng lượng dư thừa.
I can only lay down general indications, state causes, and then leave to the intelligent investigators the task of studying effects, after accepting as a possible hypothesis the suggestions I have made. A proper study of the ductless glands (and later of the entire glandular structure of the body) and of the blood stream will establish them as the paramount source of physical difficulty; inevitably, though slowly and patiently, the investigators will be forced back upon the centres and will come to include in their calculations a subjective nervous system (the entire subjective system of nadis which underlie the nerves throughout the body), and will demonstrate that these factors are responsible for the major diseases and the many subsidiary diseases and obscure complaints which plague humanity. The open-minded investigator, however, who starts with an acceptance of the fact of the centres, regarding them as possibly present and eventually capable of demonstration, will make far more rapid progress; diseases will then be brought under control by a system of laya-yoga (the science of the centres) which will be the sublimated form of the laya-yoga of Atlantean days. Then the advanced student will control the centres by the power of thought. In the yoga of the future, through meditation and alignment and right practices, the centres will be brought under the direct control of the soul—a very different thing to the control of the centres by the mind and one for which the masses of men are not yet ready. To this the [242] Science of the Breath will be added—not breathing exercises as now taught, with often such dangerous results, but a breathing rhythm imposed by the mind through which the soul can work, and which will not require anything more than the simple rhythmic physical breath but which will reorganise the subtler bodies and bring the centres into ordered activity, according to ray and point in evolution.
Tôi chỉ có thể đưa ra những chỉ dẫn tổng quát, nêu các nguyên nhân, rồi giao cho những nhà nghiên cứu sáng suốt nhiệm vụ nghiên cứu các kết quả, sau khi họ chấp nhận những gợi ý Tôi đã đưa ra như một giả thuyết khả dĩ. Một nghiên cứu đúng đắn về các tuyến không ống dẫn (và sau này là toàn bộ cấu trúc tuyến của thân thể) cùng dòng máu sẽ xác lập chúng là nguồn chủ yếu của những khó khăn hồng trần; tất yếu, dù chậm chạp và cần kiên nhẫn, các nhà nghiên cứu sẽ buộc phải trở lại với các trung tâm và đưa vào tính toán một hệ thần kinh chủ quan (toàn bộ hệ thống kinh mạch chủ quan nằm bên dưới các dây thần kinh khắp thân thể), đồng thời chứng minh rằng những yếu tố này gây ra các bệnh chủ yếu cùng nhiều bệnh thứ yếu và những chứng bệnh khó xác định đang giày vò nhân loại. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu có tư duy cởi mở, khởi đầu bằng việc chấp nhận sự hiện hữu của các trung tâm, xem chúng là những gì có thể hiện diện và cuối cùng có thể chứng minh được, sẽ tiến bộ nhanh hơn nhiều; khi ấy, các bệnh sẽ được kiểm soát bằng một hệ thống laya-yoga (khoa học về các trung tâm), vốn sẽ là hình thức thăng hoa của laya-yoga thời Atlantis. Bấy giờ, đạo sinh tiến bộ sẽ kiểm soát các trung tâm bằng quyền năng tư tưởng. Trong yoga tương lai, thông qua tham thiền, chỉnh hợp và những thực hành đúng đắn, các trung tâm sẽ chịu sự kiểm soát trực tiếp của linh hồn—một điều rất khác với việc thể trí kiểm soát các trung tâm và là điều mà quần chúng nhân loại chưa sẵn sàng đón nhận. Khoa Học về Hơi Thở [242] sẽ được bổ sung vào đó—không phải những bài tập thở đang được dạy ngày nay, thường gây ra những hậu quả nguy hiểm, mà là một nhịp thở do thể trí thiết lập, qua đó linh hồn có thể hoạt động; nhịp thở ấy không đòi hỏi điều gì hơn hơi thở hồng trần đơn giản, có nhịp điệu, nhưng sẽ tổ chức lại các thể vi tế hơn và đưa các trung tâm vào hoạt động có trật tự, tùy theo cung và điểm tiến hoá.
I deal not with the pathology of these diseases. That has been well considered and dealt with by ordinary medicine. I seek only in this part of our discussions to emphasise the subjective causes and the objective effects. The two must be related. The activity—excessive or inadequate—of the centres is the subjective cause, but remains yet unrecognised except by esotericists. The causes (the apparent causes which are themselves the result of a true subjective cause) are initiated by the physical man himself, either in this life or an earlier one—a point which we will discuss later.
Tôi không bàn đến bệnh lý của những bệnh này. Y học thông thường đã xem xét và xử lý kỹ lưỡng điều đó. Trong phần thảo luận này, Tôi chỉ tìm cách nhấn mạnh các nguyên nhân chủ quan và những kết quả khách quan. Hai mặt ấy phải được liên kết với nhau. Hoạt động quá mức hoặc không đầy đủ của các trung tâm là nguyên nhân chủ quan, nhưng ngoài các nhà bí truyền học, người ta vẫn chưa nhận biết điều này. Chính con người hồng trần khởi phát các nguyên nhân ấy (những nguyên nhân biểu kiến vốn bản thân là kết quả của một nguyên nhân chủ quan thực sự), hoặc trong kiếp này hoặc một kiếp trước—một điểm mà chúng ta sẽ bàn sau.
I have given you in the above much to consider, and as you ponder and think, as you study cases and types, as you watch the characteristics and qualities of those you know and which work out in some form of eventual disease, light will come.
Qua những điều trên, Tôi đã cho các bạn nhiều điều để xem xét; và khi các bạn suy ngẫm, tư duy, nghiên cứu những trường hợp và mẫu người, quan sát các đặc điểm và phẩm tính của những người mình biết, vốn cuối cùng biểu hiện thành một dạng bệnh nào đó, ánh sáng sẽ đến.
It is only the necessity of indicating the major sources of diseases and not overlooking them, even if the subject is too esoteric for the average intelligence to grasp, that has led me to include our second point:
Chỉ vì cần chỉ ra những nguồn gốc chính của bệnh tật và không bỏ qua chúng, ngay cả khi đề tài quá huyền bí để trí tuệ trung bình có thể nắm bắt, mà Tôi đã đưa vào điểm thứ hai của chúng ta:
2. DISEASES ARISING FROM OBSCURE PLANETARY CONDITIONS – 2. NHỮNG BỆNH PHÁT SINH TỪ CÁC TÌNH TRẠNG HÀNH TINH BÍ ẨN
It is obviously impossible for me to enlarge upon this subject, for it is not possible to give even a slight indication which could lead, at present, to any process of verification. What I say will have to be taken on trust and is dependent upon what I believe is recognised as my proved veracity and [243] integrity. I shall, and can, say but little—only enough to indicate one fruitful cause of disease and one of such great age that it is inherent in the life of the planet itself. These diseases have no subjective or subtle origin; they are not the result of emotional conditions or of undesirable mental processes. They are not psychological in nature and therefore cannot be traced to any activity of the centres. They originate from within the planetary life itself and from its life aspect, having a direct emanatory effect upon the individual atoms of which the dense physical body is composed. This is a point of importance to remember. The source of any disease of this nature induced by the planet itself, is due primarily, therefore, to an external impact of certain vibratory emanations coming from the surface of the planet, engendered deep within the planet, and impinging upon the dense physical body. These radiations play upon the units of energy which, in their totality, constitute the atomic substance of the body; they are unconnected in any way with the blood stream or with the nervous system. They are consequently impossible to trace or isolate, because man is today so highly organised and integrated that these external impacts immediately evoke a response from the nervous system; the modern physician is at present unable to distinguish between the diseases arising from within the patient’s own interior mechanism—tangible or intangible—and those which are in the nature of extraneous irritants, producing immediate effects upon the sensitive organism of man’s body. I am not here referring to infectious or contagious difficulties.
Hiển nhiên, Tôi không thể trình bày sâu hơn về đề tài này, vì hiện nay không thể đưa ra dù chỉ một chỉ dẫn nhỏ có thể dẫn đến bất kỳ tiến trình kiểm chứng nào. Những điều Tôi nói sẽ phải được đón nhận bằng lòng tin, dựa vào điều mà Tôi tin là sự trung thực và [243] chính trực đã được chứng minh của Tôi, vốn được thừa nhận. Tôi sẽ và chỉ có thể nói rất ít—vừa đủ để chỉ ra một nguyên nhân dễ phát sinh bệnh tật, một nguyên nhân cổ xưa đến mức nó vốn có trong chính sự sống của hành tinh. Những bệnh này không có nguồn gốc chủ quan hay vi tế; chúng không phải là kết quả của những tình trạng cảm xúc hoặc các tiến trình trí tuệ không mong muốn. Chúng không có bản chất tâm lý, vì vậy không thể truy về bất kỳ hoạt động nào của các trung tâm. Chúng bắt nguồn từ bên trong chính sự sống hành tinh và từ phương diện sự sống của nó, tạo ra một tác động phát xạ trực tiếp lên từng nguyên tử cấu thành thể xác đậm đặc. Đây là một điểm quan trọng cần ghi nhớ. Vì vậy, nguồn gốc của bất kỳ bệnh nào thuộc loại này do chính hành tinh gây ra chủ yếu nằm ở tác động bên ngoài của những phát xạ rung động nhất định từ bề mặt hành tinh, được sinh ra sâu trong lòng hành tinh và tác động lên thể xác đậm đặc. Những bức xạ này tác động lên các đơn vị năng lượng mà toàn thể chúng cấu thành chất liệu nguyên tử của thân thể; chúng hoàn toàn không liên hệ với dòng máu hay hệ thần kinh. Do đó, không thể truy tìm hay cô lập chúng, vì ngày nay con người được tổ chức và tích hợp cao đến mức những tác động bên ngoài ấy lập tức khơi dậy một sự đáp ứng từ hệ thần kinh; hiện nay, thầy thuốc hiện đại chưa thể phân biệt giữa những bệnh phát sinh từ bên trong chính bộ máy nội tại của bệnh nhân—hữu hình hoặc vô hình—với những bệnh mang bản chất là các tác nhân kích thích từ bên ngoài, tạo ra tác động tức thời lên cơ thể nhạy cảm của con người. Ở đây, Tôi không nói đến những chứng bệnh nhiễm trùng hay lây nhiễm.
Perhaps one point which I might helpfully emphasise is that it is this obscure planetary effect (obscure to us, at this time) upon the physical body which is the major cause of death where the purely animal form nature is concerned, or the forms of life present in the animal and vegetable [244] kingdoms, and to a lesser and slower degree in the mineral kingdom likewise. Death, as far as the human being is concerned, is increasingly due to the planned intent and planned withdrawal of the soul, under the pressure of its own formulated intent. This is true to some degree of all who die, except those who are of so low a grade of intelligence that the soul is practically little more than an overshadowing agency. Of all who die, highly developed or not, the later stages of dissolution, effective after the conscious withdrawal of the soul (conscious on the part of the soul and becoming increasingly conscious on the part of the dying person), are taken over by this death-bestowing power of the planetary life itself.
Có lẽ một điểm Tôi có thể nhấn mạnh một cách hữu ích là chính tác động hành tinh bí ẩn này (bí ẩn đối với chúng ta vào lúc này) lên thể xác là nguyên nhân chủ yếu của cái chết đối với bản chất hình tướng thuần động vật, hay các hình thức sự sống hiện diện trong giới động vật và thực vật [244], và cũng như vậy trong giới kim thạch, nhưng ở mức độ thấp hơn và chậm hơn. Đối với con người, cái chết ngày càng bắt nguồn từ ý định có kế hoạch và sự rút lui có kế hoạch của linh hồn, dưới sức thúc đẩy của chính ý định mà linh hồn đã hình thành. Ở một mức độ nào đó, điều này đúng với mọi người chết, ngoại trừ những người có trí thông minh thấp đến mức linh hồn hầu như chỉ là một tác nhân phủ bóng. Đối với tất cả những người chết, dù phát triển cao hay không, các giai đoạn tan rã về sau, diễn ra sau khi linh hồn rút lui có ý thức (có ý thức về phía linh hồn và ngày càng có ý thức về phía người đang hấp hối), đều do quyền năng đem lại cái chết này của chính sự sống hành tinh đảm nhận.
In the case of the subhuman kingdoms in nature, death is the direct result of this obscure activity of the planet. The only idea as to its functioning which I can give you is that the soul of all non-human forms of life is an inherent aspect of the substance of which the planet is itself constructed; this soul can be withdrawn according to cycles, undetermined yet by science but fixed and certain in their working—apart from great planetary accidents or the direct action of the fourth kingdom in nature. This innate planetary power leads to the death of an animal and—in the larger sweep of evolution—to the extinction of a species; it leads also in time to the death of the forms of the vegetable kingdom and is also one of the causes which leads to the autumnal cycle in the year, producing the “sere, the yellow leaf,” the loss of verdure in the grass, and those cyclic manifestations which indicate not alone death, upon a temporary and passing scale, but the complete cessation of vitality within a form. “Times of perishing” are cyclic manifestations of the “destroyer aspect” within the planet itself. These are necessarily difficult matters for you to grasp.
Đối với các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên, cái chết là kết quả trực tiếp của hoạt động bí ẩn này của hành tinh. Ý tưởng duy nhất về cách hoạt động của nó mà Tôi có thể đưa ra cho các bạn là linh hồn của mọi hình thức sự sống phi nhân loại vốn là một phương diện cố hữu của chất liệu cấu thành chính hành tinh; linh hồn này có thể rút lui theo những chu kỳ mà khoa học chưa xác định, nhưng có sự vận hành cố định và chắc chắn—ngoại trừ những tai biến hành tinh lớn hoặc hành động trực tiếp của giới thứ tư trong thiên nhiên. Quyền năng bẩm sinh này của hành tinh dẫn đến cái chết của một con vật và—trong phạm vi rộng lớn hơn của tiến hoá—đến sự tuyệt chủng của một loài; theo thời gian, nó cũng dẫn đến cái chết của các hình tướng thuộc giới thực vật, và là một trong những nguyên nhân dẫn đến chu kỳ mùa thu trong năm, tạo ra “chiếc lá úa, chiếc lá vàng”, sự mất đi màu xanh nơi cỏ, và những biểu hiện có chu kỳ không chỉ cho thấy cái chết ở quy mô tạm thời và thoáng qua, mà còn cho thấy sự chấm dứt hoàn toàn sinh lực bên trong một hình tướng. “Những thời kỳ diệt vong” là các biểu hiện có chu kỳ của “phương diện hủy diệt” bên trong chính hành tinh. Đây tất nhiên là những vấn đề khó để các bạn nắm bắt.
[245]
[245]
This radiatory activity of the planetary life, cyclic in nature and eternally present, is closely related to the influence of the first ray. It is that aspect of the Ray of Will or Power which produces the dissolution of the form, and the corruption and dissipation of the bodily vehicle until it has been again completely reabsorbed into the substance of the planet. A focussed use of the imagination will aid you in discovering how vitally constructive this agency of divinity can be. Death has been present upon our planet from the very night of time itself; forms have come and gone; death has overtaken plants and trees, animals and the forms of human beings for untold aeons, and yet our planet is not a charnel house as it well might be in the face of this fact, but is still a thing of beauty, unspoilt even by man. The processes of dying and of dissolution and the dissipation of forms goes on every moment without producing contagious contamination or the disfiguring of the surface of the earth. The results of dissolution are beneficent in effect. Ponder on this beneficent activity and on the beauty of the divine plan of death and disappearance.
Hoạt động bức xạ này của sự sống hành tinh, có bản chất chu kỳ và hiện diện vĩnh cửu, liên hệ mật thiết với ảnh hưởng của cung một. Đó là phương diện của Cung Ý Chí hay Quyền Năng tạo ra sự tan rã của hình tướng, sự phân hủy và tiêu tan của hiện thể thân xác cho đến khi nó lại được hấp thu hoàn toàn vào chất liệu của hành tinh. Việc sử dụng sự tưởng tượng một cách tập trung sẽ giúp các bạn khám phá tác nhân này của thiên tính có thể mang tính kiến tạo thiết yếu đến mức nào. Cái chết đã hiện diện trên hành tinh chúng ta từ thuở đêm tối xa xưa nhất của thời gian; các hình tướng đã đến rồi đi; cái chết đã giáng xuống cỏ cây, động vật và các hình tướng con người qua vô vàn đại kiếp, vậy mà hành tinh chúng ta vẫn không phải là một nhà mồ như lẽ ra rất có thể đã trở thành trước sự thật ấy, mà vẫn là một cảnh đẹp, ngay cả con người cũng chưa làm nó hư hoại. Các tiến trình chết, tan rã và tiêu tan của hình tướng diễn ra từng khoảnh khắc mà không gây ô nhiễm lây lan hay làm biến dạng bề mặt Trái Đất. Kết quả của sự tan rã mang lại lợi ích. Hãy suy ngẫm về hoạt động mang lại lợi ích này và về vẻ đẹp của Thiên Cơ dành cho cái chết cùng sự biến mất.
With man, death takes on two aspects of activity; the human soul differs from the soul in the non-human forms in that it is itself a full and—on its own plane—an effective expression of the three divine aspects; it determines within certain limits—based on time conditions and spatial necessity—its entrance into human form and its exit therefrom. Once this exit has been made and the soul has withdrawn the thread of consciousness from the brain and its life thread from the heart, certain life processes still persist; they are now under the influence of the planetary life, however, and to these the physical elemental (the sumtotal of the living atoms of the body nature) is responsive. I would have you note the occult paradox that death is the result of living processes. Death, or the death-producing energy emanating [246] from the planet, brings about the complete disruption of the bodily organism and its reduction to its essential elements—chemical and mineral, plus certain inorganic substances which are susceptible of absorption into the soil of the planet itself. Death, as the result of soul activity produces, therefore, the withdrawing from the body of the “light body and of the subtle bodies,” leaving the dense form and its component parts to the benign processes of planetary control. This dual activity produces death—as we know it from the human angle.
Ở con người, cái chết mang hai phương diện hoạt động; linh hồn con người khác với linh hồn trong các hình tướng phi nhân loại ở chỗ chính nó là một biểu lộ trọn vẹn và—trên cõi riêng của nó—hữu hiệu của ba phương diện thiêng liêng; trong những giới hạn nhất định—dựa trên các điều kiện thời gian và sự cần thiết về không gian—nó quyết định việc đi vào hình tướng con người và rời khỏi hình tướng ấy. Một khi sự rời đi này đã diễn ra và linh hồn đã rút sợi dây tâm thức khỏi bộ não cùng sinh mệnh tuyến khỏi tim, một số tiến trình sự sống vẫn tiếp tục; tuy nhiên, lúc này chúng chịu ảnh hưởng của sự sống hành tinh, và tinh linh thể xác (tổng thể các nguyên tử sống của bản chất thân thể) đáp ứng với những tiến trình ấy. Tôi muốn các bạn lưu ý nghịch lý huyền bí rằng cái chết là kết quả của những tiến trình sống. Cái chết, hay năng lượng gây chết phát xạ [246] từ hành tinh, làm cơ thể tan rã hoàn toàn và phân giải thành các nguyên tố thiết yếu của nó—hóa học và khoáng chất, cùng một số chất vô cơ có thể được hấp thu vào đất của chính hành tinh. Vì vậy, cái chết do hoạt động của linh hồn tạo ra khiến “thể ánh sáng và các thể vi tế” rút khỏi thân thể, để lại hình tướng đậm đặc cùng các thành phần cấu tạo của nó cho những tiến trình lành tính dưới sự kiểm soát của hành tinh. Hoạt động kép này tạo ra cái chết—như chúng ta biết từ góc độ con người.
It is necessary here to point out that this ability of the planetary Logos to extract the life essence innate in each atom, produces what might be called deterioration in the structure of the form at any point from whence this life essence is emitted. This brings about conditions which eventually become apparent visually; thus disease and the “tendency to die” become recognisable. Therefore, the withering of a flower, death from old age in an animal or a tree, and the many diseases of the human being are all brought about by the pull of the powerful life of the planet, speaking esoterically; this is an aspect of what is called, erroneously, the Law of Gravitation. This law is—again speaking esoterically—an aspect of the Law of Return, which governs the relation of a unit of life in form to its emanating source. “Dust thou art; unto dust thou shalt return” is a statement of occult law. In the curious evolution of words—as any good dictionary will show—the word “dust” comes from two roots, one meaning “wind” and the other “falling to pieces.” The significance of both these meanings will be apparent and the sequence of ideas is arresting. With the withdrawing of the wind or breath, a falling to pieces eventuates, and this is a true and significant statement. As the greater life absorbs the lesser life, the disappearance of that which the life has informed takes place; this is true of all forms in the [247] subhuman kingdoms as they respond to the drag or pull of the planetary life; it is true also of the human form as it reacts to the call of the soul to return its life principle to the soul, via the sutratma, and to return as consciousness to its registering source.
Ở đây cần chỉ ra rằng khả năng này của Hành Tinh Thượng đế trong việc rút lấy tinh chất sự sống vốn có trong mỗi nguyên tử tạo ra điều có thể gọi là sự suy thoái trong cấu trúc hình tướng tại bất kỳ điểm nào mà tinh chất sự sống này thoát ra. Điều này tạo nên những tình trạng cuối cùng trở nên rõ ràng trước mắt; nhờ đó, bệnh tật và “khuynh hướng chết” trở nên có thể nhận biết. Vì vậy, nói một cách huyền bí, sự héo tàn của một bông hoa, cái chết vì tuổi già của một con vật hay một cái cây, cùng nhiều bệnh tật của con người đều do sức hút của sự sống mạnh mẽ của hành tinh gây ra; đây là một phương diện của điều được gọi một cách sai lầm là Định luật Hấp Dẫn. Một lần nữa, nói một cách huyền bí, định luật này là một phương diện của Định luật Trở Về, chi phối mối quan hệ giữa một đơn vị sự sống trong hình tướng với nguồn phát xuất của nó. “Ngươi là bụi đất; ngươi sẽ trở về với bụi đất” là một phát biểu về định luật huyền bí. Trong sự tiến hoá kỳ lạ của từ ngữ—như bất kỳ cuốn từ điển tốt nào cũng cho thấy—từ “bụi đất” bắt nguồn từ hai gốc từ, một có nghĩa là “gió” và một có nghĩa là “tan rã thành từng mảnh”. Thâm nghĩa của cả hai nghĩa này sẽ trở nên rõ ràng, và chuỗi ý tưởng ấy thật đáng chú ý. Khi gió hay hơi thở rút đi, sự tan rã thành từng mảnh xảy ra; đây là một phát biểu đúng đắn và đầy thâm nghĩa. Khi sự sống lớn hơn hấp thu sự sống nhỏ hơn, cái mà sự sống đã thấm nhuần sẽ biến mất; điều này đúng với mọi hình tướng trong các [247] giới dưới nhân loại khi chúng đáp ứng với sức kéo hay sức hút của sự sống hành tinh; điều này cũng đúng với hình tướng con người khi nó đáp lại lời kêu gọi của linh hồn, hoàn trả nguyên khí sự sống cho linh hồn qua sinh mệnh tuyến, và trở về, với tư cách tâm thức, với nguồn ghi nhận của mình.
In this process and interaction, the form shows the results of being either the receiver of the tide of life from the planet or as the releaser of that life, under cyclic law, to its general reservoir of living energy. Upon these two reactions depends the health or the disease of the form in various stages and states of response and under the action of other contributing and conditioning factors. There are three major stages in the life cycle of all subhuman forms, and in the human form likewise when the soul is simply an overshadowing force and not an integrated energy:
Trong tiến trình và sự tương tác này, hình tướng biểu lộ những kết quả của việc hoặc tiếp nhận dòng triều sự sống từ hành tinh, hoặc giải phóng sự sống ấy, theo định luật chu kỳ, trở về kho năng lượng sống chung của hành tinh. Sức khoẻ hay bệnh tật của hình tướng phụ thuộc vào hai phản ứng này, trong những giai đoạn và trạng thái đáp ứng khác nhau, cũng như dưới tác động của các yếu tố góp phần và định hình khác. Có ba giai đoạn chính trong chu kỳ sống của mọi hình tướng dưới nhân loại, và cả trong hình tướng con người khi linh hồn chỉ là một mãnh lực phủ bóng chứ chưa phải một năng lượng đã tích hợp:
1. The stage of inflowing, of vitalisation and of growth.
1. Giai đoạn tuôn vào, tiếp sinh lực và tăng trưởng.
2. The stage of resistance, wherein the form preserves its own integrity for a temporary cycle, determined by its species and environment, thus resisting successfully any “pull” of the all-enveloping life and any reabsorption of its vitality.
2. Giai đoạn đề kháng, trong đó hình tướng duy trì tính toàn vẹn của mình trong một chu kỳ tạm thời, do loài và môi trường của nó quyết định, nhờ đó đề kháng thành công mọi “sức hút” của sự sống bao trùm tất cả và mọi sự tái hấp thu sinh lực của nó.
3. The stage of emission, wherein the pull of the greater life of the planet draws out and absorbs the weakening lesser life. This weakening process is a part of a cyclic law, as the old adage “the days of a man are three score years and ten” hints. When the average of a general cyclic period is normally run, a point of weakening in the bodily tissue will surely and gradually arise. Disease or deterioration of some part of the form usually eventuates and death supervenes. The length of the cycles and their determining cause are a deep mystery and are specifically related to the various kingdoms in nature, and to the species and types and forms within those [248] aggregates of living processes. These cycles are known as yet only to the Masters and to those initiates to whom is given the task of promoting the evolutionary process within the subhuman kingdoms, and to the devas whose task it is to control the process.
3. Giai đoạn phát xuất, trong đó sức hút của sự sống lớn hơn của hành tinh rút ra và hấp thu sự sống nhỏ hơn đang suy yếu. Tiến trình suy yếu này là một phần của định luật chu kỳ, như câu ngạn ngữ xưa “đời người là bảy mươi năm” gợi ý. Khi thời hạn trung bình của một chu kỳ chung đã trôi qua bình thường, một điểm suy yếu trong mô cơ thể chắc chắn sẽ dần xuất hiện. Bệnh tật hoặc sự suy thoái của một bộ phận nào đó trong hình tướng thường xảy ra, rồi cái chết tiếp đến. Độ dài của các chu kỳ và nguyên nhân quyết định chúng là một huyền nhiệm sâu xa, có liên hệ đặc thù với các giới khác nhau trong thiên nhiên, cũng như với các loài, các loại và các hình tướng trong những [248] tập hợp tiến trình sống ấy. Cho đến nay, chỉ các Chân sư, những điểm đạo đồ được giao nhiệm vụ thúc đẩy tiến trình tiến hoá trong các giới dưới nhân loại, và các thiên thần có nhiệm vụ kiểm soát tiến trình ấy mới biết các chu kỳ này.
As you well know, the great distinction between the human kingdom in the three worlds and the other kingdoms in nature is the factor of freewill. In the matter of death, this freewill has, in the last analysis, a definite relation to the soul; the will of the soul is either consciously or unconsciously followed, where the decision of death is concerned, and this idea carries with it many implications which students would do well to ponder.
Như các bạn biết rõ, sự khác biệt lớn giữa giới nhân loại trong ba cõi giới và các giới khác trong thiên nhiên là yếu tố ý chí tự do. Trong vấn đề cái chết, xét đến cùng, ý chí tự do này có một mối quan hệ xác định với linh hồn; khi liên quan đến quyết định về cái chết, ý chí của linh hồn được tuân theo một cách có ý thức hoặc vô thức, và ý tưởng này mang theo nhiều hàm ý mà các đạo sinh nên suy ngẫm.