← Esoteric Healing – Song ngữ song ngữ (codex)

PART THREE - The Fundamental Laws of Healing – PHẦN BA - Các Định Luật Nền Tảng của Trị Liệu

Trích nội dung chương

We have now completed two sections of our consideration of the art of healing. We have dealt somewhat cursorily with the causes of disease and have noted that they emanate as a whole from three main sources: the psychological state of the patient, his karmic liabilities, and those which are incurred through his group relationship, environal, national or planetary. I then dealt with certain basic requirements of conditions and attitudes which must be established between the healer and the patient, and finally I took up the subject of death. I considered it as it affected the three transitory vehicles, emphasising its divine nature and its…


PART THREE - The Fundamental Laws of Healing – PHẦN BA - Các Định Luật Nền Tảng của Trị Liệu

[521]

[521]

We have now completed two sections of our consideration of the art of healing. We have dealt somewhat cursorily with the causes of disease and have noted that they emanate as a whole from three main sources: the psychological state of the patient, his karmic liabilities, and those which are incurred through his group relationship, environal, national or planetary. I then dealt with certain basic requirements of conditions and attitudes which must be established between the healer and the patient, and finally I took up the subject of death. I considered it as it affected the three transitory vehicles, emphasising its divine nature and its constructive purpose. We now reach the section in which the Laws of Healing and the Rules which should condition the healing process must be briefly considered.

Giờ đây, chúng ta đã hoàn tất hai phần trong việc xem xét nghệ thuật trị liệu. Chúng ta đã bàn tương đối sơ lược về những nguyên nhân của bệnh tật và lưu ý rằng nhìn chung chúng phát sinh từ ba nguồn chính: trạng thái tâm lý của bệnh nhân, những món nợ nghiệp quả của y, và những món nợ phát sinh qua quan hệ nhóm của y, thuộc môi trường, quốc gia hay hành tinh. Sau đó, Tôi đã bàn đến một số yêu cầu cơ bản về những điều kiện và thái độ cần thiết lập giữa người chữa lành và bệnh nhân, và cuối cùng Tôi đã xem xét chủ đề cái chết. Tôi đã xét cái chết theo tác động của nó đối với ba hiện thể tạm thời, nhấn mạnh bản chất thiêng liêng và mục đích kiến tạo của nó. Giờ đây, chúng ta đi đến phần cần xem xét ngắn gọn các Định Luật Trị Liệu và những Quy Luật phải tác động định hình tiến trình trị liệu.

We have found that there are ten laws and six rules. The tenth law will be found too abstruse for much elucidation; it concerns the life principle, of which we as yet know nothing, and is involved with monadic purpose. All occult teaching, which emanates directly from the Hierarchy, contains within it the living seed of that which will follow later. In The Secret Doctrine, for instance, H.P.B. (under my instruction) made occasional reference, very briefly and obscurely, to the antahkarana; she thus left the seed which, [522] when full grown, will indicate the requirements for those who—having achieved the higher initiations—can enter upon the Way of the Higher Evolution. In this tenth law, therefore, I embody also the seed for a much later approach to the problems of Life and Death.

Chúng ta đã thấy có mười định luật và sáu quy luật. Định luật thứ mười sẽ quá thâm sâu để có thể giải thích nhiều; nó liên quan đến nguyên khí sự sống mà chúng ta hiện chưa biết gì, và gắn liền với mục đích chân thần. Mọi giáo huấn huyền bí trực tiếp phát xuất từ Thánh đoàn đều chứa đựng hạt giống sống động của điều sẽ xuất hiện về sau. Chẳng hạn, trong Giáo Lý Bí Nhiệm, H.P.B. (dưới sự chỉ dẫn của Tôi) thỉnh thoảng đã nhắc đến antahkarana một cách rất ngắn gọn và kín đáo; qua đó Bà để lại hạt giống mà [522] khi phát triển đầy đủ, sẽ chỉ ra những yêu cầu dành cho những ai—sau khi đã đạt các cuộc điểm đạo cao hơn—có thể bước vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Vì vậy, trong định luật thứ mười này, Tôi cũng đưa vào hạt giống cho một cách tiếp cận muộn hơn rất nhiều đối với những vấn đề Sống và Chết.

I would here remind you that a law is in reality the effect of the life of a greater entity as it encloses a lesser within its living processes. It embodies that formulated purpose or organised will of an enfolding life, against which the expressed purpose or determined will of that which is enfolded is entirely helpless. You might argue, brother of mine, that this statement negates the freewill of the individual unit thus enclosed or enfolded. It assuredly does militate against the form aspect of manifestation—that aspect, for instance, of which a human being is pre-eminently conscious. Therefore, this relationship of the higher or greater and the lower or lesser, will equally and assuredly dominate and eventually render futile the lesser laws of the form nature, those which today are called the laws of nature.

Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng một định luật thực ra là hiệu quả của sự sống thuộc một thực thể lớn hơn khi nó bao chứa một thực thể nhỏ hơn trong các tiến trình sống của mình. Nó thể hiện mục đích đã thành hình hay ý chí có tổ chức của một sự sống bao trùm, mà mục đích được biểu lộ hay ý chí kiên định của sự sống được bao trùm hoàn toàn bất lực trước nó. Huynh đệ của Tôi, huynh có thể lập luận rằng lời khẳng định này phủ nhận ý chí tự do của đơn vị cá nhân được bao chứa hay bao trùm như vậy. Quả thực, nó đi ngược lại phương diện hình tướng của sự biểu hiện—chẳng hạn, phương diện mà con người nhận biết rõ nhất. Vì vậy, mối quan hệ giữa cái cao hơn hay lớn hơn với cái thấp hơn hay nhỏ hơn này cũng chắc chắn sẽ chi phối và cuối cùng làm mất hiệu lực những định luật thấp hơn của bản chất hình tướng, tức những định luật ngày nay được gọi là các định luật tự nhiên.

Equally essentially, however, the soul within all forms. is at war with those forms, and in its own integral life is conditioned by the higher laws which are the laws of its own being; these it freely obeys and follows, having no slightest wish to do otherwise. There is, therefore, no essential infringement of the freewill of the subject; there is only resistance from that which we call the “not-self” or the material aspect. This might be called the basic cause of all disease.

Tuy nhiên, một điều cũng cốt yếu không kém là linh hồn trong mọi hình tướng đang giao chiến với các hình tướng ấy, và trong sự sống toàn vẹn của riêng mình, linh hồn chịu ảnh hưởng định hình của những định luật cao hơn, vốn là các định luật của chính sự hiện tồn của nó; linh hồn tự do tuân theo và noi theo những định luật này, không hề có chút mong muốn làm khác đi. Vì vậy, về bản chất không có sự xâm phạm ý chí tự do của chủ thể; chỉ có sự chống đối từ điều chúng ta gọi là “phi ngã”, hay phương diện vật chất. Có thể gọi đây là nguyên nhân cơ bản của mọi bệnh tật.

What we call the Laws of Nature were the highest phase of the divine life possible in the first solar system. They are primarily the laws inherent in the life aspect of the form and have in them, therefore, the seeds of death. The Laws of the Soul as they subordinate and render negative the Laws of Nature, are the highest laws to which humanity [523] (the highest kingdom in nature at present) can respond, and these—when fulfilled—will conclude the purpose of the second solar system. The Laws of Life itself will finally supersede the Laws of the Soul and will completely offset and negate the Laws of Nature; these laws will be distinctive of the third solar system—the last personality expression of the solar Logos through the medium of the Seven Planetary Logoi with their varying forms and soul expressions.

Những điều chúng ta gọi là các Định Luật Tự Nhiên là giai đoạn cao nhất của sự sống thiêng liêng có thể đạt được trong hệ mặt trời thứ nhất. Chúng chủ yếu là các định luật vốn có trong phương diện sự sống của hình tướng, và vì vậy chứa đựng những hạt giống của cái chết. Các Định Luật của Linh Hồn, khi đặt các Định Luật Tự Nhiên dưới quyền và làm chúng mất hiệu lực, là những định luật cao nhất mà nhân loại [523] (giới cao nhất trong thiên nhiên hiện nay) có thể đáp ứng, và khi được thực hiện trọn vẹn, chúng sẽ hoàn tất mục đích của hệ mặt trời thứ hai. Cuối cùng, các Định Luật của chính Sự Sống sẽ thay thế các Định Luật của Linh Hồn và hoàn toàn hóa giải, vô hiệu hóa các Định Luật Tự Nhiên; những định luật này sẽ là đặc trưng của hệ mặt trời thứ ba—sự biểu hiện phàm ngã cuối cùng của Thái dương Thượng đế qua trung gian Bảy Hành Tinh Thượng đế với những hình tướng và biểu hiện linh hồn khác nhau của Các Ngài.

Three Groups of Laws

Ba Nhóm Định Luật

We have, therefore, three groups of laws which govern the expression of the living purpose in this second solar system—one developed and another developing, with the third latent and relatively quiescent.

Vì vậy, chúng ta có ba nhóm định luật chi phối sự biểu hiện của mục đích sống động trong hệ mặt trời thứ hai này—một nhóm đã phát triển, một nhóm đang phát triển, còn nhóm thứ ba vẫn tiềm ẩn và tương đối yên tĩnh.

1. The Laws of Nature—the separative laws of the form nature.

1. Các Định Luật Tự Nhiên—những định luật chia rẽ của bản chất hình tướng.

2. The Laws of the Soul—the blending laws of group integrity.

2. Các Định Luật của Linh Hồn—những định luật hòa trộn của tính toàn vẹn nhóm.

3. The Laws of Life—the dynamic laws of Being itself.

3. Các Định Luật của Sự Sống—những định luật năng động của chính Bản Thể.

It is with certain aspects of the Laws of the Soul that we shall now deal, for they concern the integrity and activity of the soul in form. This must be most carefully borne in mind. Disease is something which attacks the integrity or the harmony of the form nature which the inner spiritual man must order to make his contacts in the three worlds which constitute his environment when in incarnation. The ten laws which we shall consider might, therefore, be regarded as ten subsidiary laws of the fundamental Law of Essential Integrity. They constitute nine elaborations or aspects of that one law, and this you must have most carefully in mind. It is with these laws that the true healer must ever work.

Giờ đây, chúng ta sẽ bàn đến một số phương diện của các Định Luật của Linh Hồn, vì chúng liên quan đến tính toàn vẹn và hoạt động của linh hồn trong hình tướng. Cần hết sức ghi nhớ điều này. Bệnh tật là điều tấn công tính toàn vẹn hay sự hài hòa của bản chất hình tướng mà con người tinh thần bên trong phải sắp đặt để thực hiện các tiếp xúc trong ba cõi giới, vốn tạo thành môi trường của y khi đang lâm phàm. Vì vậy, có thể xem mười định luật mà chúng ta sẽ xét là mười định luật phụ thuộc của Định Luật Toàn Vẹn Cốt Yếu nền tảng. Chúng tạo thành chín sự triển khai hay phương diện của định luật duy nhất ấy, và các bạn phải hết sức ghi nhớ điều này. Người chữa lành đích thực phải luôn hoạt động theo những định luật ấy.

[524]

[524]

The six rules deal only with the application of this realised integrity to the conditions and situation with which the healer is confronted. Integrity involves focus, tension and expression (simultaneously realised, consciously generated and dynamically used).

Sáu quy luật chỉ bàn đến việc áp dụng tính toàn vẹn đã được nhận biết này vào những điều kiện và tình huống mà người chữa lành đối diện. Tính toàn vẹn bao hàm sự tập trung, sức căng và sự biểu hiện (đồng thời được nhận biết, được tạo ra một cách hữu thức và được sử dụng một cách năng động).

Qualities Required of the Healer

Những Phẩm Tính Cần Có ở Người Chữa Lành

In the laws and rules which I have given, certain necessary characteristics of the healer are mentioned and certain needed requirements are indicated. These we should register first of all as they not only present qualities and attitudes which are essential to the successful practice of the healing art, but they indicate also why—up till the present time—there has been practically no successful or systematised healing of any patient under any of the current healing schools. There has been what I might call “accidental healing,” due to the fact that the patient would have been healed anyway, for his hour to pass over had not yet arrived. Deliberate conscious healing, with full understanding, has only occurred when the healer was an initiate of high degree, patterning himself upon the life and the nature of the Christ.

Trong những định luật và quy luật Tôi đã đưa ra, một số đặc điểm cần thiết của người chữa lành được đề cập và một số yêu cầu cần thiết được chỉ rõ. Trước hết, chúng ta nên ghi nhận những điều này, vì chúng không chỉ trình bày các phẩm tính và thái độ thiết yếu để thực hành thành công nghệ thuật trị liệu, mà còn cho thấy vì sao—cho đến hiện nay—hầu như chưa có sự chữa lành thành công hay có hệ thống cho bất kỳ bệnh nhân nào theo bất kỳ trường phái trị liệu hiện hành nào. Đã có điều Tôi có thể gọi là “sự chữa lành tình cờ”, do bệnh nhân dù sao cũng sẽ được chữa lành, vì giờ ra đi của y chưa đến. Sự chữa lành có chủ đích, hữu thức và với sự thấu hiểu đầy đủ chỉ xảy ra khi người chữa lành là một điểm đạo đồ cấp cao, noi theo sự sống và bản chất của Đức Christ.

Let us now look at the indicated qualities and attitudes. I will briefly enumerate and comment.

Giờ đây, chúng ta hãy xem những phẩm tính và thái độ đã được chỉ ra. Tôi sẽ liệt kê và bình luận ngắn gọn.

1. The power to contact and work as a soul. “The art of the healer consists in releasing the soul.” Think for a moment what this power involves. The healer is not only in immediate and conscious touch with his own soul, but through that soul contact he can easily contact the soul of his patient.

1. Quyền năng tiếp xúc và hoạt động như một linh hồn. “Nghệ thuật của người chữa lành nằm ở việc giải phóng linh hồn.” Hãy suy nghĩ một lát về những điều mà quyền năng này bao hàm. Người chữa lành không chỉ tiếp xúc trực tiếp và hữu thức với linh hồn của chính mình, mà thông qua sự tiếp xúc linh hồn ấy, y còn có thể dễ dàng tiếp xúc với linh hồn của bệnh nhân.

2. The power to command the spiritual will. The particular law involved in the healing act must be “brought into activity by the spiritual will.” This necessitates the capacity to make contact with the Spiritual Triad. [525] Therefore, the antahkarana must be somewhat in process of construction.

2. Quyền năng điều khiển ý chí tinh thần. Định luật cụ thể liên quan đến hành động chữa lành phải được “đưa vào hoạt động bằng ý chí tinh thần”. Điều này đòi hỏi khả năng tiếp xúc với Tam Nguyên Tinh Thần. [525] Vì vậy, antahkarana phải đang được xây dựng ở một mức độ nào đó.

3. The power to establish telepathic rapport. The healer must “know the inner stage of thought and of desire” of his patient.

3. Khả năng thiết lập sự giao cảm viễn cảm. Nhà trị liệu phải “biết trạng thái nội tâm về tư tưởng và dục vọng” của bệnh nhân.

4. He must have exact knowledge. We read that he must “know the point exact through which relief must come.” This is a most important point and one entirely overlooked by the so-called healers in such movements as Christian Science, Unity and others. Healing does not come through an intense affirmation of divinity, or by simply pouring out love and the expression of a vague mysticism. It comes through mastering an exact science of contact, of impression, of invocation, plus an understanding of the subtle apparatus of the etheric vehicle.

4. Y phải có tri thức chính xác. Chúng ta đọc thấy rằng y phải “biết chính xác điểm mà qua đó sự giảm nhẹ phải đến”. Đây là một điểm hết sức quan trọng mà những người được gọi là nhà trị liệu trong các phong trào như Khoa học Cơ Đốc, Nhất Thể và những phong trào khác hoàn toàn bỏ qua. Sự chữa lành không đến qua việc khẳng định mãnh liệt về thiên tính, hay chỉ đơn thuần tuôn đổ tình thương và biểu lộ một thứ Thần bí học mơ hồ. Nó đến qua việc làm chủ một khoa học chính xác về tiếp xúc, ấn tượng, khẩn cầu, cùng với sự thấu hiểu về bộ máy tinh tế của hiện thể dĩ thái.

5. The power to reverse, reorient and “exalt” the consciousness of the patient. The healer has to “lift the downward focussed eyes unto the soul.” This refers to the eyes of the patient. This statement implies limitation, because if the patient is not at the stage in evolution where this is possible, and at the point in evolution where he can contact his own soul, the work of the healer is rendered inevitably futile. The sphere of action, therefore, of the spiritual healer is strictly limited to those who have faith. Faith, however, is the “evidence of things not seen”; that evidence is largely lacking in the majority. Faith is not wishful thinking or an engineered hope. It is evidence of a well-grounded conviction.

5. Khả năng đảo chiều, tái định hướng và “nâng cao” tâm thức của bệnh nhân. Nhà trị liệu phải “nâng đôi mắt đang tập trung hướng xuống lên linh hồn”. Điều này nói đến đôi mắt của bệnh nhân. Phát biểu này hàm ý một giới hạn, vì nếu bệnh nhân chưa ở giai đoạn tiến hoá cho phép điều này xảy ra, và chưa đạt đến điểm tiến hoá mà y có thể tiếp xúc với linh hồn của chính mình, thì công việc của nhà trị liệu tất yếu trở nên vô ích. Vì vậy, phạm vi hoạt động của nhà trị liệu tinh thần chỉ giới hạn nghiêm ngặt ở những người có đức tin. Tuy nhiên, đức tin là “bằng chứng của những điều không thấy”; phần đông con người thiếu bằng chứng ấy rất nhiều. Đức tin không phải là lối suy nghĩ theo ước muốn hay một niềm hy vọng được cố ý tạo dựng. Nó là bằng chứng của một niềm xác tín có cơ sở vững chắc.

6. Power to direct soul energy to the necessary area. “The spiritual or the third eye then directs the healing force.” This presupposes a scientific technique on the healer’s part and the right functioning of the mechanism of received and directed force within the head.

6. Khả năng hướng năng lượng linh hồn đến vùng cần thiết. “Khi ấy, con mắt tinh thần, hay con mắt thứ ba, điều khiển mãnh lực chữa lành.” Điều này giả định rằng nhà trị liệu có một kỹ thuật khoa học, và bộ máy tiếp nhận cùng định hướng mãnh lực bên trong đầu hoạt động đúng đắn.

[526]

[526]

7. Power to express magnetic purity and the needed radiance. “The healer must achieve magnetic purity...and attain dispelling radiance.” This involves great personal discipline in the daily life, and the habit of pure living. Purity inevitably and automatically results in radiance.

7. Khả năng biểu lộ sự thanh khiết từ tính và sự chói rạng cần thiết. “Nhà trị liệu phải đạt được sự thanh khiết từ tính...và đạt được sự chói rạng có sức xua tan.” Điều này đòi hỏi kỷ luật cá nhân cao độ trong đời sống hằng ngày, cùng thói quen sống thanh khiết. Sự thanh khiết tất yếu và tự động tạo ra sự chói rạng.

8. Power to control the activity of the mechanism of the head. The healer must have “linked the centres in the head.” The true healer has established a magnetic area within his head which presents itself or expresses itself through a definitely recognisable radiation.

8. Khả năng kiểm soát hoạt động của bộ máy trong đầu. Nhà trị liệu phải “nối kết các luân xa trong đầu”. Nhà trị liệu chân chính đã thiết lập một vùng từ tính bên trong đầu mình, vùng này hiện ra hay biểu lộ qua một bức xạ có thể nhận biết rõ ràng.

9. Power over his own centres. The healer has to “concentrate the needed energy within the needed centre.” The centre in the patient’s form which is nearest to the seat of the physical trouble has to be made receptive to the energy discharged into it by the corresponding centre in the healer’s body. It will be obvious to you, therefore, how much knowledge and energy-control is required by the true healer.

9. Khả năng làm chủ các luân xa của chính mình. Nhà trị liệu phải “tập trung năng lượng cần thiết vào luân xa thích hợp”. Luân xa trong hình tướng của bệnh nhân ở gần vị trí của chứng bệnh thể chất nhất phải trở nên có khả năng tiếp nhận năng lượng mà luân xa tương ứng trong thân thể nhà trị liệu phóng vào nó. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ nhà trị liệu chân chính cần có tri thức và khả năng kiểm soát năng lượng đến mức nào.

10. Power to utilise both the exoteric and esoteric methods of healing. The healer will employ “methods of occult healing though the ordinary medical and surgical methods will not be withheld.” I have constantly emphasised the God-given nature of experimental medicine—which is a phrase qualifying medicine today, and qualifying still more metaphysical healing. There is no need to call in a spiritual healer for broken bones or for those difficulties which orthodox medicine has already mastered. However, the patient’s general morale and condition can be justifiably helped whilst wise surgery and ameliorating medical knowledge are applied. This the usual so-called metaphysical healer is apt to ignore. Healers will be divided eventually into two groups: [527]

10. Khả năng sử dụng cả các phương pháp chữa lành ngoại môn lẫn nội môn. Nhà trị liệu sẽ sử dụng “những phương pháp trị liệu huyền môn, tuy nhiên vẫn tiếp tục sử dụng những phương pháp y khoa và phẫu thuật thông thường”. Tôi luôn nhấn mạnh bản chất do Thượng đế ban cho của nền y học thực nghiệm—một cụm từ mô tả nền y học ngày nay, và còn mô tả đúng hơn nữa việc chữa lành siêu hình. Không cần mời một nhà trị liệu tinh thần đến chữa xương gãy hay những vấn đề mà y học chính thống đã làm chủ. Tuy nhiên, việc hỗ trợ tinh thần và tình trạng chung của bệnh nhân là chính đáng trong khi áp dụng phẫu thuật sáng suốt và tri thức y khoa giúp giảm nhẹ bệnh trạng. Nhà trị liệu thường được gọi là siêu hình có khuynh hướng bỏ qua điều này. Cuối cùng, các nhà trị liệu sẽ chia thành hai nhóm: [527]

a. Those comprising definitely trained spiritual healers.

a. Nhóm gồm những nhà trị liệu tinh thần đã được đào tạo chuyên biệt.

b. Healers with less developed power but with enough radiation and magnetism to aid in the ordinary healing process. These will usually work under the guidance of the spiritual healer.

b. Những nhà trị liệu có quyền năng kém phát triển hơn nhưng có đủ bức xạ và từ điện để hỗ trợ tiến trình chữa lành thông thường. Những người này thường sẽ làm việc dưới sự hướng dẫn của nhà trị liệu tinh thần.

11. Power to work magnetically. “Thus he can pour the vital healing force upon the patient.” This the healer does through a scientific coordination of his equipment, using the hands as a directing agent. In this way the disease can be healed, ameliorated or worsened, even to the point of death. The responsibility of the healer is therefore great.

11. Khả năng làm việc bằng từ tính. “Nhờ đó, y có thể tuôn đổ mãnh lực chữa lành mang sinh lực lên bệnh nhân.” Nhà trị liệu thực hiện điều này qua sự phối hợp khoa học các phương tiện của mình, sử dụng đôi tay làm tác nhân định hướng. Bằng cách này, bệnh có thể được chữa khỏi, giảm nhẹ hoặc trở nên trầm trọng hơn, thậm chí dẫn đến cái chết. Vì vậy, trách nhiệm của nhà trị liệu rất lớn.

12. Power to work with radiation. “Thus can his presence feed the soul life of the patient.” This again is brought about through a system of coordination, but the agent of radiation is then the aura and not the hands.

12. Khả năng làm việc bằng bức xạ. “Nhờ đó, sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân.” Điều này cũng diễn ra qua một hệ thống phối hợp, nhưng khi ấy tác nhân bức xạ là hào quang chứ không phải đôi tay.

13. Power to practice at all times complete harmlessness. “The method used by the Perfect One...is harmlessness.” This, we are told, involves a positive expression of poise, an inclusive point of view, and divine understanding. How many healers combine these three qualities and also work through love?

13. Khả năng luôn thực hành sự vô tổn hại hoàn toàn. “Phương pháp mà Đấng Toàn Hảo...sử dụng là tính vô tổn hại.” Chúng ta được cho biết rằng điều này bao hàm sự biểu lộ tích cực của sự quân bình, một quan điểm bao gồm và sự thấu hiểu thiêng liêng. Có bao nhiêu nhà trị liệu kết hợp được ba phẩm tính này và đồng thời làm việc qua tình thương?

14. Power to control the will and work through love. “The healer...must keep the will in leash.” This is one of the most difficult qualities to be developed, for the will of the healer is frequently so potent in its determination to bring about a healing that it renders the effort to apply that healing process entirely futile. From the reverse angle, frequently the sentimental and mystical desire to love the patient negates all efforts to hold the will in leash. Remember, brother of mine, the spiritual will must be present as a quiet [528] deep pool of power behind all expression of the energy of love.

14. Khả năng kiểm soát ý chí và làm việc qua tình thương. “Nhà trị liệu...phải kiềm chế ý chí.” Đây là một trong những phẩm tính khó phát triển nhất, vì ý chí của nhà trị liệu thường quá mạnh mẽ trong quyết tâm mang lại sự chữa lành đến nỗi khiến nỗ lực áp dụng tiến trình chữa lành ấy hoàn toàn vô ích. Xét từ chiều ngược lại, dục vọng đầy tình cảm và mang tính thần bí muốn yêu thương bệnh nhân thường phủ nhận mọi nỗ lực kiềm chế ý chí. Hỡi huynh đệ của Tôi, hãy nhớ rằng ý chí tinh thần phải hiện diện như một hồ quyền năng tĩnh lặng [528] sâu thẳm đằng sau mọi biểu lộ của năng lượng tình thương.

15. Power eventually to wield the Law of Life. Of this little can be said, for it can only be wielded by those who have developed or who are rapidly developing the consciousness of the Spiritual Triad—a very rare thing as yet.

15. Khả năng cuối cùng vận dụng Định luật Sự Sống. Chỉ có thể nói rất ít về điều này, vì chỉ những ai đã phát triển hoặc đang nhanh chóng phát triển tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần mới có thể vận dụng định luật ấy—một điều cho đến nay vẫn rất hiếm.

In the study of these requirements there is no need for discouragement. Such a study will serve to set a needed goal for all healers in the New Age. It will also explain why the various healing systems which are practiced today throughout the world (particularly in the Anglo-American countries) have hitherto notably failed, in spite of their claims. None of them—if they kept properly certified records which would be scientifically accurate (and practically none of them do)—would register more than the tiniest percentage of cures based upon pure spiritual healing. The percentage cured is less than one in a million “cures.” These cures would have recovered in any case in due time, if left to nature or to ordinary medical and surgical science.

Khi nghiên cứu những yêu cầu này, không cần nản lòng. Việc nghiên cứu như vậy sẽ giúp đặt ra một mục tiêu cần thiết cho mọi nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới. Nó cũng sẽ giải thích vì sao các hệ thống chữa lành khác nhau đang được thực hành khắp thế giới ngày nay (đặc biệt tại các nước Anh–Mỹ), bất chấp những lời tuyên bố của họ, cho đến nay đã thất bại rõ rệt. Nếu lưu giữ hồ sơ được xác nhận đúng cách, bảo đảm tính chính xác khoa học (và hầu như chẳng hệ thống nào làm như vậy), thì không hệ thống nào trong số đó ghi nhận được hơn một tỷ lệ vô cùng nhỏ các trường hợp chữa khỏi dựa trên sự chữa lành thuần túy tinh thần. Tỷ lệ chữa khỏi ấy chưa đến một trên một triệu trường hợp “chữa khỏi”. Những trường hợp này dù sao cũng sẽ hồi phục khi đến lúc, nếu để tự nhiên diễn tiến hoặc nhờ khoa học y khoa và phẫu thuật thông thường.

But today, so great is the spiritual stimulation in the world, and so vast are the numbers responding to it, that the moving forward of a large group out of the ranks of average humanity on to the Path of Discipleship is inevitable. This moving forward will provide—during the next five hundred years—many healers who will fulfill to some degree the requirements which I have listed above.

Nhưng ngày nay, sự kích thích tinh thần trên thế giới mạnh mẽ đến vậy, và số người đáp ứng với nó đông đảo đến vậy, khiến việc một nhóm lớn bước ra khỏi hàng ngũ nhân loại trung bình để tiến lên Con Đường Đệ Tử là điều tất yếu. Trong năm trăm năm tới, bước tiến này sẽ cung cấp nhiều nhà trị liệu đáp ứng được phần nào những yêu cầu Tôi đã liệt kê ở trên.

The philosophies endorsed by the various systems such as Unity and Christian Science are basically sound and state the fundamental platitudes (the essential truths, nevertheless) which underlie all that I have said above. People, however, are not healed by the enunciation of platitudes, by [529] the affirmation of divinity or by the statement of abstract theories. They will be healed when the right time comes because of the ability of the healer in the New Age to express in himself and in his daily life the quality of divinity, to be spiritually capable of invoking the soul of his patient, and also to be magnetically pure, and through the power of a particular type of radiated energy to stimulate the patient to heal himself—through the medium of his own inner mechanism. The healer in the New Age will possess the ability to make the following contacts with both ease and understanding:

Những triết lý mà các hệ thống như Nhất Thể và Khoa học Cơ Đốc tán thành về căn bản là đúng đắn, và nêu lên những điều hiển nhiên cơ bản (dẫu vậy, vẫn là những chân lý thiết yếu) làm nền tảng cho tất cả những gì Tôi đã nói ở trên. Tuy nhiên, con người không được chữa lành bằng việc phát biểu những điều hiển nhiên, bằng [529] sự khẳng định thiên tính hay bằng việc trình bày những lý thuyết trừu tượng. Khi đúng thời điểm, họ sẽ được chữa lành nhờ khả năng của nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới biểu lộ nơi chính mình và trong đời sống hằng ngày phẩm tính của thiên tính, có năng lực tinh thần để khẩn cầu linh hồn bệnh nhân, đồng thời có sự thanh khiết từ tính, và qua quyền năng của một loại năng lượng bức xạ đặc thù, kích thích bệnh nhân tự chữa lành—qua bộ máy nội tại của chính y. Nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới sẽ có khả năng thực hiện những tiếp xúc sau đây một cách dễ dàng và thấu hiểu:

1. With his own soul.

1. Với linh hồn của chính mình.

2. With the soul of the patient.

2. Với linh hồn của bệnh nhân.

3. With the particular type of energy which is to be found either in the soul or the personality ray of the patient.

3. Với loại năng lượng đặc thù có trong cung linh hồn hoặc cung phàm ngã của bệnh nhân.

4. With any one of his own centres which is needed by him in order to act as a transmitting agency for energy to be sent into an area governed by some centre in the body of the patient.

4. Với bất kỳ luân xa nào của chính mình mà y cần sử dụng làm tác nhân truyền dẫn năng lượng vào một vùng do một luân xa nào đó trong thân thể bệnh nhân chi phối.

5. With the centre in the patient’s etheric body which controls the area where the disease is located.

5. Với luân xa trong thể dĩ thái của bệnh nhân kiểm soát vùng có bệnh.

This, as you can appreciate, connotes much technical knowledge. Added to this, the healer must also possess that spiritual perception which will enable him to intuit the “karma of the moment,” as it is esoterically called, and therefore to know if a cure is permissible, practicable, or impossible. This is a form of knowledge which no healer in the world at this time possesses, no matter what his claim may be. Again I say, this is no cause for discouragement.

Như các bạn có thể nhận thấy, điều này hàm chứa rất nhiều tri thức kỹ thuật. Ngoài ra, nhà trị liệu còn phải có tri giác tinh thần giúp y trực nhận “nghiệp quả của thời điểm”, theo cách gọi trong huyền bí học, và nhờ đó biết liệu việc chữa khỏi có được phép, có khả thi hay không thể thực hiện. Đây là một dạng tri thức mà hiện nay không nhà trị liệu nào trên thế giới có được, bất kể y tuyên bố điều gì. Một lần nữa, Tôi nói rằng điều này không phải là lý do để nản lòng.

What is truly needed, and what will be brought about as the decades elapse, will be that disciples and men and women of spiritual orientation will enter the medical profession [530] and perfect themselves in the techniques of orthodox medicine and in an exoteric knowledge of physical anatomy and of pathological symptoms, plus the orthodox remedies and modes of handling disease. To this technical knowledge and understanding they will add a measure of esoteric learning, and they will then begin to combine, whilst practising their profession, both the exoteric and the esoteric wisdom which is theirs. This will at first be purely experimental, but out of the experience gained in utilising both fields of knowledge a new medical science will emerge, based upon two paramount recognised factors:

Điều thực sự cần thiết, và sẽ diễn ra qua những thập niên tới, là các đệ tử cùng những người nam và nữ có định hướng tinh thần sẽ bước vào ngành y [530] và hoàn thiện năng lực của mình trong các kỹ thuật y học chính thống, trong tri thức ngoại môn về giải phẫu thể chất và các triệu chứng bệnh lý, cùng những phương thuốc và cách xử lý bệnh tật chính thống. Họ sẽ bổ sung vào tri thức kỹ thuật và sự thấu hiểu này một mức độ học hỏi nội môn, rồi khi hành nghề, họ sẽ bắt đầu kết hợp cả minh triết ngoại môn lẫn nội môn mà mình có được. Lúc đầu, điều này hoàn toàn mang tính thực nghiệm, nhưng từ kinh nghiệm thu được khi sử dụng cả hai lĩnh vực tri thức, một nền y học mới sẽ xuất hiện, dựa trên hai yếu tố tối quan trọng đã được công nhận:

1. A cumulative mass of knowledge and information anent the dense physical vehicle. This has been accumulated by men of science down the ages and is largely proven and true.

1. Một khối tri thức và thông tin tích lũy về hiện thể hồng trần đậm đặc. Các nhà khoa học đã tích lũy khối tri thức này qua nhiều thời đại, và phần lớn đã được chứng minh là đúng đắn.

2. A constantly growing understanding of the nature of the etheric body, of the centres, and of the transmission and circulation of certain controlled energies.

2. Sự thấu hiểu không ngừng gia tăng về bản chất của thể dĩ thái, các luân xa, cùng sự truyền dẫn và lưu chuyển của một số năng lượng được kiểm soát.

This combination of two aspects of truth will be greatly facilitated by the increasing sensitivity and almost clairvoyant perception of developing humanity. One of the outstanding results of the recent world war will be found to be a tremendously increased capacity for nervous reaction. This nervous receptivity is at present abnormal and the results are sad. The reason for this is that the nervous apparatus of the average human being (and by that I mean his nervous system, plus the nadis which underlie it) is not yet adequate to the demands upon it. Time, however, will adjust all this.

Sự kết hợp hai phương diện chân lý này sẽ thuận lợi hơn rất nhiều nhờ tính nhạy cảm ngày càng gia tăng và tri giác gần như thông nhãn của nhân loại đang phát triển. Người ta sẽ nhận thấy một trong những kết quả nổi bật của cuộc thế chiến vừa qua là khả năng phản ứng thần kinh gia tăng hết sức mạnh mẽ. Hiện nay, khả năng tiếp nhận của thần kinh này là bất thường và gây ra những kết quả đáng buồn. Lý do là bộ máy thần kinh của một người trung bình (qua đó Tôi muốn nói đến hệ thần kinh của y, cùng các đường dẫn năng lượng nằm bên dưới nó) chưa đủ sức đáp ứng những đòi hỏi đặt lên nó. Tuy nhiên, thời gian sẽ điều chỉnh tất cả những điều này.

Both metaphysical healers and orthodox medical men at this time are apt to repudiate each other with much violence. Taking it as a whole, the orthodox physician is less rabid and exclusive than the modern metaphysician. They [531] know too well the limitations of their present medical attainments. But the so-called spiritual healer recognises at present no limitations, and this definitely constitutes a weakness. Both groups, in time, must become collaborators with each other and not opponents. Both have much to learn from each other, and both must recognise that the particular fields of knowledge for which they stand are equally a divine expression and indicate the ability of the human mind to search, to record, to discover and to formulate truth, so that others may benefit thereby.

Hiện nay, cả các nhà trị liệu siêu hình lẫn các bác sĩ chính thống đều có khuynh hướng bác bỏ nhau rất gay gắt. Xét tổng thể, bác sĩ chính thống ít cực đoan và bài bác hơn nhà siêu hình học hiện đại. Họ [531] biết quá rõ những giới hạn trong các thành tựu y học hiện có của mình. Nhưng hiện nay, người được gọi là nhà trị liệu tinh thần lại không thừa nhận bất kỳ giới hạn nào, và điều này rõ ràng tạo thành một điểm yếu. Theo thời gian, cả hai nhóm phải trở thành những người cộng tác với nhau thay vì đối thủ. Cả hai đều có nhiều điều để học hỏi lẫn nhau, và cả hai phải thừa nhận rằng các lĩnh vực tri thức riêng biệt mà họ đại diện đều là những biểu lộ thiêng liêng như nhau, và cho thấy khả năng của trí tuệ con người trong việc tìm kiếm, ghi nhận, khám phá và phát biểu chân lý, để những người khác có thể hưởng lợi từ đó.

I would recall to your attention the fact that both groups have much to do—the one in penetrating into the realm of the subtle and the intangible (and this is rapidly being done), and the other in descending from its vague abstractions and impractical generalisations in order to learn to recognise the facts anent the objective and the tangible; this is not as yet being done; metaphysical healing, so-called, is lost amidst a mist of words and high-sounding affirmations.

Tôi muốn nhắc các bạn lưu ý rằng cả hai nhóm đều còn nhiều việc phải làm—một nhóm phải thâm nhập vào lĩnh vực tinh tế và vô hình (và điều này đang diễn ra nhanh chóng), còn nhóm kia phải bước xuống khỏi những điều trừu tượng mơ hồ và những khái quát thiếu thực tiễn của mình để học cách nhận biết các sự kiện liên quan đến những gì khách quan và hữu hình; điều này cho đến nay vẫn chưa diễn ra; cái gọi là chữa lành siêu hình đang lạc lối giữa màn sương ngôn từ và những lời khẳng định khoa trương.

The sincerity of the majority of those who belong to these schools of thought is unquestioned; their motives are almost uniformly sincere and good. In both groups charlatans are to be found and also a small—a very small—minority of self-seeking and ignorant exploiters of men. Among them are numbered both physicians and metaphysicians who are commercially oriented; they are, however, a minority. In the sincere investigator and lover of humanity in both groups will be found the future hope of medical science as it seeks to meet the need of humanity—a humanity which is becoming increasingly sensitive and subjectively oriented.

Sự chân thành của phần đông những người thuộc các trường phái tư tưởng này là điều không thể nghi ngờ; động cơ của họ hầu như đều chân thành và tốt đẹp. Trong cả hai nhóm đều có những kẻ bịp bợm, cùng một thiểu số nhỏ—rất nhỏ—những kẻ vụ lợi và vô minh khai thác người khác. Trong số đó có cả những bác sĩ lẫn những nhà siêu hình học thiên về kinh doanh; tuy nhiên, họ chỉ là thiểu số. Niềm hy vọng tương lai của nền y học, trong nỗ lực đáp ứng nhu cầu của nhân loại—một nhân loại ngày càng nhạy cảm và hướng về đời sống chủ quan—nằm ở những người nghiên cứu chân thành và yêu thương nhân loại trong cả hai nhóm.

CHAPTER VIII - The Laws and Rules Enumerated and Applied – CHƯƠNG VIII - Liệt Kê và Áp Dụng Các Định Luật và Quy Luật

[532]

[532]

Note: Certain of the Rules are related to certain of the Laws and will be considered by me in their rightful relationship. I have asked A.A.B. to give here a list of the ten laws and—where a rule is related to a particular law—to give it with that law. The rules are renumbered and do not follow in the order earlier given.

Lưu ý: Một số Quy luật có liên hệ với một số Định luật, và Tôi sẽ xem xét chúng trong mối liên hệ thích đáng ấy. Tôi đã yêu cầu A.A.B. trình bày ở đây danh sách mười định luật và—khi một quy luật có liên hệ với một định luật cụ thể—đặt quy luật ấy cùng với định luật đó. Các quy luật được đánh số lại và không theo thứ tự đã nêu trước đây.

LAW I

ĐỊNH LUẬT I

All disease is the result of inhibited soul life. This is true of all forms in all Kingdoms. The art of the healer consists in releasing the soul so that its life can flow through the aggregate of organisms which constitute any particular form.

Mọi bệnh tật đều là kết quả của sự sống linh hồn bị ngăn trở. Điều này đúng với mọi hình tướng trong mọi Giới. Nghệ thuật của nhà trị liệu là giải phóng linh hồn để sự sống của linh hồn có thể tuôn chảy qua tập hợp các cơ cấu sống cấu thành bất kỳ hình tướng cụ thể nào.

LAW II

ĐỊNH LUẬT II

Disease is the product of and subject to three influences: first, a man’s past, wherein he pays the price of ancient error; second, his inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin; third, he shares with all the natural forms that which the Lord of Life imposes on His body. These three influences are called the “Ancient Law of Evil Sharing.” This must give place some day to that new “Law of Ancient Dominating Good” which lies behind all that God has made. This law must be brought into activity by the spiritual will of man. [533]

Bệnh tật là sản phẩm của ba ảnh hưởng và chịu sự chi phối của chúng: thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho những lỗi lầm xưa cũ; thứ hai, di sản y thừa hưởng, trong đó y cùng toàn thể nhân loại chia sẻ những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc nhóm; thứ ba, y cùng mọi hình tướng trong thiên nhiên chia sẻ điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thân thể của Ngài. Ba ảnh hưởng này được gọi là “Định luật Cổ Xưa về Sự Chia Sẻ Điều Ác”. Một ngày kia, định luật này phải nhường chỗ cho “Định luật về Điều Thiện Cổ Xưa Chi Phối” mới, vốn nằm sau mọi điều Thượng Đế đã tạo ra. Ý chí tinh thần của con người phải đưa định luật này vào hoạt động. [533]

RULE ONE

QUY LUẬT MỘT

Let the healer train himself to know the inner stage of thought or of desire of the one who seeks his help. He can thereby know the source from whence the trouble comes. Let him relate the cause and the effect and know the point exact through which relief must come.

Hãy để nhà trị liệu tự rèn luyện để biết trạng thái nội tâm về tư tưởng hay dục vọng của người tìm đến nhờ y giúp đỡ. Nhờ đó, y có thể biết nguồn gốc của tình trạng bệnh. Hãy để y liên hệ nguyên nhân với kết quả và biết chính xác điểm mà qua đó sự giảm nhẹ phải đến.

LAW III

ĐỊNH LUẬT III

Disease is an effect of the basic centralisation of a man’s life energy. From the plane whereon those energies are focussed proceed those determining conditions which produce ill health. These therefore work out as disease or as freedom from disease.

Bệnh tật là hệ quả của sự tập trung căn bản năng lượng sự sống của một người. Từ cõi nơi những năng lượng ấy tập trung phát sinh các điều kiện quyết định tạo nên tình trạng sức khỏe kém. Vì vậy, những điều kiện này biểu hiện thành bệnh tật hoặc thành sự thoát khỏi bệnh tật.

LAW IV

ĐỊNH LUẬT IV

Disease, both physical and psychological, has its roots in the good, the beautiful, and the true. It is but a distorted rejection of divine possibilities. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces, within the substance of its sheaths, a point of friction. Upon this Point the eyes of the personality are focussed and this leads to disease. The art of the healer is concerned with the lifting of the downward focussed eyes unto the soul, the true Healer within the form. The spiritual or third eye then directs the healing force and all is well.

Bệnh tật, cả về thể chất lẫn tâm lý, đều bắt nguồn từ điều thiện, điều đẹp và điều chân thật. Nó chỉ là sự khước từ méo mó những khả năng thiêng liêng. Linh hồn bị ngăn trở, khi tìm cách biểu lộ trọn vẹn một đặc tính thiêng liêng hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra một điểm ma sát trong chất liệu của những lớp vỏ bao bọc mình. Đôi mắt của phàm ngã tập trung vào Điểm này, và điều ấy dẫn đến bệnh tật. Nghệ thuật của nhà trị liệu liên quan đến việc nâng đôi mắt đang tập trung hướng xuống ấy lên linh hồn, Đấng Chữa Lành chân chính bên trong hình tướng. Khi ấy, con mắt tinh thần, hay con mắt thứ ba, điều khiển mãnh lực chữa lành và mọi sự đều ổn thỏa.

RULE TWO

QUY LUẬT HAI

The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he has linked the centres in the head. When this magnetic field is established, the radiation then goes forth.

Nhà trị liệu phải đạt được sự thanh khiết từ tính thông qua sự thanh khiết của đời sống. Y phải đạt được sự chói rạng có sức xua tan, vốn biểu lộ nơi mỗi người khi y đã nối kết các luân xa trong đầu. Khi trường từ tính này được thiết lập, bức xạ sẽ phát ra.

LAW V

ĐỊNH LUẬT V

There is naught but energy, for God is Life. Two energies meet in man, but other five are present. For each is to be found a central Point of contact. The conflict of these energies with forces and of forces twixt themselves [534] produce the bodily ills of man. The conflict of the first and second persists for ages until the mountain top is reached—the first great mountain top. The fight between the forces produces all disease, all ills and bodily pain which seeks release in death. The two, the five and thus the seven, plus that which they produce, possess the secret. This is the fifth Law of Healing within the world of form.

Không có gì ngoài năng lượng, vì Thượng Đế là Sự Sống. Hai năng lượng gặp nhau trong con người, nhưng năm năng lượng khác cũng hiện diện. Với mỗi năng lượng, có thể tìm thấy một Điểm tiếp xúc ở trung tâm. Sự xung đột của những năng lượng này với các mãnh lực và của các mãnh lực với nhau [534] tạo ra những đau yếu trong thân thể con người. Sự xung đột giữa cái thứ nhất và cái thứ hai kéo dài qua nhiều thời đại cho đến khi đạt tới đỉnh núi—đỉnh núi lớn đầu tiên. Cuộc đấu tranh giữa các mãnh lực tạo ra mọi bệnh tật, mọi đau yếu và đau đớn trong thân thể vốn tìm sự giải thoát trong cái chết. Hai, năm, và như vậy là bảy, cùng với điều chúng tạo ra, nắm giữ bí mật. Đây là Định luật Chữa Lành thứ năm trong thế giới hình tướng.

RULE THREE

QUY LUẬT BA

Let the healer concentrate the needed energy within the needed centre. Let that centre correspond to the centre which has need. Let the two synchronise and together augment force. Thus shall the waiting form be balanced in its work. Thus shall the two and the one, under right direction, heal.

Hãy để nhà trị liệu tập trung năng lượng cần thiết vào luân xa thích hợp. Hãy để luân xa ấy tương ứng với luân xa đang cần năng lượng. Hãy để hai luân xa đồng bộ và cùng nhau tăng cường mãnh lực. Nhờ đó, hình tướng đang chờ đợi sẽ được quân bình trong hoạt động của nó. Nhờ đó, hai và một, dưới sự chỉ đạo đúng đắn, sẽ chữa lành.

LAW VI

ĐỊNH LUẬT VI

When the building energies of the soul are active in the body, then there is health, clean interplay and right activity. When the builders are the lunar lords and those who work under the control of the moon and at the behest of the lower personal self, then you have disease, ill health and death.

Khi những năng lượng kiến tạo của linh hồn hoạt động trong thân thể, sẽ có sức khỏe, sự tương tác trong sạch và hoạt động đúng đắn. Khi các đấng kiến tạo là các nguyệt tinh quân và những vị hoạt động dưới sự kiểm soát của mặt trăng, theo mệnh lệnh của phàm ngã thấp, thì có bệnh tật, sức khỏe kém và cái chết.

LAW VII

ĐỊNH LUẬT VII

When life or energy flows unimpeded and through right direction to its precipitation (the related gland), then the form responds and ill health disappears.

Khi sự sống hay năng lượng tuôn chảy không bị cản trở, dưới sự chỉ đạo đúng đắn, đến nơi nó ngưng tụ (tuyến liên quan), hình tướng sẽ đáp ứng và tình trạng sức khỏe kém sẽ biến mất.

RULE FOUR

QUY LUẬT BỐN

A careful diagnosis of disease, based on the ascertained outer symptoms, will be simplified to this extent—that once the organ involved is known and thus isolated, the centre in the etheric body which is in closest relation to it will be subjected to methods of occult healing, though the ordinary, ameliorative, medical or surgical methods will not be withheld.

Việc chẩn đoán bệnh một cách cẩn trọng, dựa trên những triệu chứng bên ngoài đã được xác định, sẽ được đơn giản hóa như sau: một khi đã nhận diện và xác định riêng cơ quan liên quan, các phương pháp trị liệu huyền môn sẽ được áp dụng cho luân xa trong thể dĩ thái có liên hệ mật thiết nhất với cơ quan ấy; tuy nhiên, vẫn tiếp tục sử dụng những phương pháp thông thường để giảm nhẹ bệnh trạng, những phương pháp y khoa hoặc phẫu thuật.

LAW VIII

ĐỊNH LUẬT VIII

Disease and death are the results of two active forces. One is the will of the soul, which says to its instrument: [535] I draw the essence back. The other is the magnetic power of the planetary life, which says to the life within the atomic structure: The hour of reabsorption has arrived. Return to me. Thus, under cyclic law, do all forms act.

Bệnh tật và cái chết là kết quả của hai mãnh lực đang hoạt động. Một là ý chí của linh hồn, nói với công cụ của mình: [535] Ta thu hồi tinh chất. Mãnh lực kia là quyền năng từ tính của sự sống hành tinh, nói với sự sống bên trong cấu trúc nguyên tử: Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta. Như vậy, mọi hình tướng đều hoạt động theo định luật chu kỳ.

RULE FIVE

QUY LUẬT NĂM

The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient. This is magnetic work. It cures disease or increases the evil state, according to the knowledge of the healer.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, trái tim, bộ não và đôi tay của mình. Nhờ đó, y có thể tuôn đổ mãnh lực chữa lành mang sinh lực lên bệnh nhân. Đây là công việc từ tính. Công việc này chữa khỏi bệnh hoặc làm tình trạng bệnh trầm trọng hơn, tùy theo tri thức của nhà trị liệu.

The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power. The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, flooded with soul energy.

Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, bộ não, trái tim và sự phát xạ hào quang của mình. Nhờ đó, sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc bức xạ. Không cần đến đôi tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó. Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng thông qua sự đáp ứng của hào quang bệnh nhân đối với bức xạ từ hào quang nhà trị liệu, vốn tràn ngập năng lượng linh hồn.

LAW IX

ĐỊNH LUẬT IX

Perfection calls imperfection to the surface. Good drives evil from the form of man in time and space. The method used by the Perfect One and that employed by Good is harmlessness. This is not negativity but perfect poise, a completed point of view and divine understanding.

Sự toàn hảo gọi sự bất toàn trồi lên bề mặt. Điều Thiện đẩy điều ác ra khỏi hình tướng con người trong thời gian và không gian. Phương pháp mà Đấng Toàn Hảo và Điều Thiện sử dụng là tính vô tổn hại. Đây không phải là tính thụ động, mà là sự quân bình hoàn hảo, một quan điểm toàn vẹn và sự thấu hiểu thiêng liêng.

RULE SIX

QUY LUẬT SÁU

The healer or the healing group must keep the will in leash. It is not will that must be used, but love.

Nhà trị liệu hoặc nhóm trị liệu phải kiềm chế ý chí. Phải sử dụng tình thương, không phải ý chí.

LAW X

ĐỊNH LUẬT X

Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey. The Word goes forth that form has served its Purpose. The principle of mind then organisms itself and then repeats that Word. The waiting form responds and drops away. The soul stands free.

Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi từ Người Con đến Người Mẹ, rồi tuân theo. Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự Mục Đích của nó. Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức, rồi lặp lại Linh từ ấy. Hình tướng đang chờ đợi đáp ứng và rơi rụng. Linh hồn đứng tự do.

Respond, O Rising One, to the call which comes within the sphere of obligation; recognise the call emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord [536] of Life Himself. The Sound goes forth. Both soul and form together must renounce the principle of life and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection. Life is now liberated, owning the quality of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.

Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, tiếng gọi đến trong phạm vi nghĩa vụ; hãy nhận biết tiếng gọi phát ra từ Ashram hay từ Phòng Hội Đồng, nơi chính Chúa Tể [536] của Sự Sống đang chờ đợi. Âm Thanh phát ra. Cả linh hồn lẫn hình tướng phải cùng từ bỏ nguyên khí sự sống, nhờ đó để Chân Thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Hình tướng khi ấy phá vỡ sự nối kết. Sự sống nay được giải phóng, mang phẩm tính của tri thức hữu thức và thành quả của mọi kinh nghiệm. Đây là những tặng phẩm do linh hồn và hình tướng cùng đem lại.

Note: This last law is the enunciation of a new law which is substituted for the Law of Death, and which has reference only to those upon the later stages of the Path of Discipleship and the stages upon the Path of Initiation.

Lưu ý: Định luật cuối cùng này phát biểu một định luật mới thay thế Định luật Sự Chết, và chỉ liên quan đến những người ở các giai đoạn cuối của Con Đường Đệ Tử và các giai đoạn trên Con Đường Điểm Đạo.

Application of the Laws and Rules

Áp Dụng Các Định Luật và Quy Luật

In the last few pages I greatly clarified the issue of indicating—even at the risk of somewhat discouraging you—certain of the essential requirements of the healer in the New Age, and also certain of the contacts which he will have to make with facility and promptness when attempting to heal. I likewise defined for you the nature of Law. This was preliminary to a consideration of the Laws to which the healer must conform and the Rules which he will automatically and intuitively obey. We might consider these Laws and Rules in relation to the healer and also in relation to each other, for several of the Rules are closely related to a Law which controls the healer.

Trong vài trang vừa qua, Tôi đã làm sáng tỏ nhiều điều qua việc chỉ ra—dù có nguy cơ khiến các bạn phần nào nản lòng—một số yêu cầu thiết yếu đối với nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới, cùng một số tiếp xúc mà y phải thực hiện dễ dàng và nhanh chóng khi cố gắng chữa lành. Tôi cũng đã định nghĩa cho các bạn bản chất của Định luật. Đây là phần chuẩn bị cho việc xem xét các Định luật mà nhà trị liệu phải tuân theo và các Quy luật mà y sẽ tự động tuân thủ bằng trực giác. Chúng ta có thể xem xét các Định luật và Quy luật này trong mối liên hệ với nhà trị liệu, đồng thời trong mối liên hệ với nhau, vì một số Quy luật có liên hệ mật thiết với một Định luật chi phối nhà trị liệu.

From the definition of law, as given above, it will be apparent to you that in the last analysis disease, death, untruth, falsity and despair are inherent in the planet itself, because our planetary Logos (as I earlier stated when aiding H.P.B. in writing The Secret Doctrine) is an “imperfect God.” After the present great world crisis, incident to our planetary Logos having moved forward upon the cosmic Path, and therefore having taken a cosmic initiation, His imperfections are demonstrably lessened: there will be less distress and disease on earth once the necessary planetary [537] adjustments have been made. This you yourselves will not see take place, for adjustments on such a large scale take centuries to effect. What I have, therefore, to say upon the future healing of disease will not be of practical value for a long time to come, but the theory and the indications of possibility must be considered and discussed. Also, for a long time, medical practice and surgical knowledge will play their useful parts in preventive medicine, alleviative practices and curative processes. To these increasingly will be added many psychological methods of healing, and these will go hand in hand with the two above; to these again the services of the spiritual healers will be added. In this way, a rounded-out approach to the whole man will be steadily developed, and the need for this is today recognised by forward thinking physicians everywhere. Thus, and also through the method of trial and error, much will be learnt.

Từ định nghĩa về định luật đã nêu ở trên, các bạn sẽ thấy rõ rằng, xét đến cùng, bệnh tật, cái chết, sự không chân thật, giả dối và tuyệt vọng vốn có trong chính hành tinh này, vì Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (như Tôi đã nói trước đây khi giúp H.P.B. viết Giáo Lý Bí Nhiệm) là một “Thượng đế bất toàn”. Sau cuộc khủng hoảng thế giới lớn hiện nay, gắn với việc Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã tiến bước trên Đường Đạo vũ trụ và do đó đã trải qua một cuộc điểm đạo vũ trụ, những bất toàn của Ngài giảm đi rõ rệt: trên Trái Đất sẽ có ít khổ đau và bệnh tật hơn một khi những điều chỉnh hành tinh [537] cần thiết đã hoàn tất. Chính các bạn sẽ không chứng kiến điều này xảy ra, vì những điều chỉnh trên quy mô lớn như vậy cần hàng thế kỷ để thực hiện. Vì vậy, những gì Tôi nói về việc chữa lành bệnh tật trong tương lai sẽ chưa có giá trị thực tiễn trong một thời gian dài sắp tới, nhưng lý thuyết và những dấu hiệu về khả năng ấy phải được xem xét và thảo luận. Trong một thời gian dài nữa, việc thực hành y khoa và tri thức phẫu thuật cũng sẽ tiếp tục đóng vai trò hữu ích trong y học dự phòng, các biện pháp giảm nhẹ và các tiến trình chữa bệnh. Ngày càng có nhiều phương pháp chữa lành bằng tâm lý được bổ sung và song hành với hai lĩnh vực trên; rồi sự phụng sự của các nhà trị liệu tinh thần cũng sẽ được bổ sung vào đó. Bằng cách này, một phương pháp tiếp cận toàn diện đối với con người sẽ dần phát triển, và ngày nay những bác sĩ có tư duy tiến bộ ở khắp nơi đều nhận thấy nhu cầu ấy. Như vậy, và cũng qua phương pháp thử và sai, nhiều điều sẽ được học hỏi.

The healing processes I outline and indicate through these laws and Rules are basically new. They are not based on affirmations, as in Christian Science and other mental healing cults; they are not posited on affirmed origins and on claiming results which will only be possible when the race has reached a far higher standard of perfection than is at present seen or that is immediately capable of development. As I have several times said in this treatise, there is nothing fundamentally wrong in the claims made by these groups and organisations anent the man who has arrived at soul expression and at realisation of the Christ consciousness. What is wrong is the claim that the ordinary man (obviously not at this advanced point in evolution) can perform these miracles of healing either in himself or for others. Very few people have as yet reached this point, and the healer in these cults and organisations who has done so is a rarity indeed. The healer in the New Age will recognise limitation and conditioning circumstances, plus destiny. This predisposes the [538] development within him of knowledge-giving powers. He is also spiritually aware that the healing of the physical body is not always the highest spiritual good; the overestimation and serious, anxious care of the form life, of the physical vehicle, is not of major importance.

Các tiến trình chữa lành mà Tôi phác thảo và chỉ ra qua những định luật và Quy luật này về căn bản là mới. Chúng không dựa trên những lời khẳng định như trong Khoa học Cơ Đốc và những giáo phái chữa lành bằng trí tuệ khác; chúng không đặt nền tảng trên những nguồn gốc được khẳng định và những lời tuyên bố về các kết quả chỉ có thể đạt được khi nhân loại đã đạt một mức độ toàn hảo cao hơn nhiều so với mức hiện thấy hoặc mức có thể phát triển trong tương lai gần. Như Tôi đã nói nhiều lần trong khảo luận này, không có gì sai về căn bản trong những tuyên bố của các nhóm và tổ chức ấy về người đã đạt đến sự biểu lộ linh hồn và chứng nghiệm tâm thức Christ. Điều sai là lời tuyên bố rằng một người bình thường (hiển nhiên chưa ở điểm tiến hoá cao này) có thể thực hiện những phép lạ chữa lành ấy cho chính mình hoặc cho người khác. Cho đến nay, rất ít người đạt đến điểm này, và một nhà trị liệu trong những giáo phái và tổ chức ấy đã đạt được như vậy quả thật là hiếm. Nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới sẽ nhận biết những giới hạn và hoàn cảnh chi phối, cùng vận mệnh. Điều này tạo điều kiện cho sự [538] phát triển trong y những quyền năng mang lại tri thức. Về mặt tinh thần, y cũng nhận biết rằng chữa lành thể xác không phải lúc nào cũng là điều thiện tinh thần cao nhất; việc đánh giá quá cao và chăm lo nghiêm trọng, đầy lo âu cho sự sống hình tướng, cho hiện thể hồng trần, không phải là điều có tầm quan trọng hàng đầu.

The healer in the New Age does not and will not work directly with the physical body at all; being an occultist, he will regard that body as not a principle. He works practically entirely with the etheric body and with the vital energies, leaving those energies to make their impact on the automaton of the physical body according to directed intent; they will then produce their effect according to the response of that body, conditioned as it will be by many factors. These energies, directed via the etheric body of the patient, or emanating from that body, may bring about a cure If the destiny of the patient permits, or they may so stimulate the area of the disease that the disease will be brought to a crisis and the patient will die. This often happens under the ministrations of cultist healers who are ignorant of the laws of healing and who base their activities on a realisation of a present (though usually unexpressed) divinity.

Nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới hoàn toàn không và sẽ không làm việc trực tiếp với thể xác; là một nhà huyền bí học, y sẽ xem thể xác ấy không phải là một nguyên khí. Trên thực tế, y làm việc gần như hoàn toàn với thể dĩ thái và các năng lượng sinh lực, để những năng lượng ấy tác động lên bộ máy tự động của thể xác theo chủ đích đã định hướng; khi đó, chúng sẽ tạo ra hiệu quả tùy theo sự đáp ứng của thể xác ấy, vốn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Những năng lượng này, được định hướng qua thể dĩ thái của bệnh nhân hoặc phát xạ từ thể dĩ thái ấy, có thể đem lại sự chữa khỏi nếu vận mệnh bệnh nhân cho phép; hoặc chúng có thể kích thích vùng bệnh mạnh đến mức đẩy bệnh đến một cơn khủng hoảng và bệnh nhân sẽ chết. Điều này thường xảy ra dưới sự chăm sóc của những nhà trị liệu thuộc các giáo phái, vốn không biết các định luật chữa lành và đặt hoạt động của mình trên sự nhận biết một thiên tính đang hiện hữu (dù thường chưa được biểu lộ).

A much higher measure of spiritual perception and of mental understanding is required before the system I propose becomes elective. All that I give in my writings is largely of a pioneer nature, and this should be remembered.

Cần một mức độ tri giác tinh thần và thấu hiểu trí tuệ cao hơn nhiều trước khi hệ thống Tôi đề xuất trở nên khả dụng. Tất cả những gì Tôi trình bày trong các tác phẩm phần lớn đều mang tính tiên phong, và cần ghi nhớ điều này.

Let us now study Law One; it has no Rule attached or related to it, as it is a basic statement, indicating the major underlying theory upon which the healer will work.

Giờ đây, chúng ta hãy nghiên cứu Định luật Một; không có Quy luật nào đi kèm hay liên hệ với nó, vì đây là một phát biểu căn bản, chỉ ra lý thuyết nền tảng chủ yếu mà nhà trị liệu sẽ dựa vào để làm việc.

LAW I – ĐỊNH LUẬT I

All disease is the result of inhibited soul life. This is true of all forms in all kingdoms. The art of the healer consists in releasing the soul so that its life can flow through the aggregate of organisms which constitute any particular form,

Mọi bệnh tật đều là kết quả của sự sống linh hồn bị ngăn trở. Điều này đúng với mọi hình tướng trong mọi Giới. Nghệ thuật của nhà trị liệu là giải phóng linh hồn để sự sống của linh hồn có thể tuôn chảy qua tập hợp các cơ cấu sống cấu thành bất kỳ hình tướng cụ thể nào.

[539]

[539]

This law indicates that, owing to the fact that the threefold lower man is not under control of his soul, disease can destroy him. Because the free flow of the energy pouring from the soul is inhibited and limited, disease can find place in the physical body. The physical organism is correctly supplied with the creative regenerating energy of the true man, the soul on its own plane. Where there is complete unobstructed inflow from the soul to the seven vitalising centres, you have the perfect health which the initiate of the fourth degree demonstrates, unless some disciplinary, experimental or initiating karma is being tried out in his case. However, as a general rule apart from these or planetary conditions, an initiate of high degree needs no healer; there is nothing in him requiring healing.

Định luật này chỉ ra rằng bệnh tật có thể hủy hoại một người vì phàm nhân tam phân không chịu sự kiểm soát của linh hồn mình. Vì dòng năng lượng tuôn đổ từ linh hồn không thể lưu chuyển tự do mà bị ngăn trở và giới hạn, bệnh tật có thể tìm được chỗ trong thể xác. Cơ cấu thể chất được cung cấp đúng cách năng lượng sáng tạo và tái sinh của con người chân chính, tức linh hồn trên cõi riêng của nó. Nơi nào có dòng tuôn vào hoàn toàn không bị cản trở từ linh hồn đến bảy luân xa tiếp sinh lực, nơi đó có sức khỏe hoàn hảo mà điểm đạo đồ bậc bốn thể hiện, trừ khi một nghiệp quả nào đó mang tính rèn luyện, thực nghiệm hay điểm đạo đang được trải nghiệm trong trường hợp của y. Tuy nhiên, theo quy luật chung, ngoài những điều kiện này hoặc các điều kiện hành tinh, một điểm đạo đồ cấp cao không cần nhà trị liệu; nơi y không có gì cần chữa lành.

What must the healer do when, faced with a patient, he realises the inhibited condition which the disease evidences? Does he, under the law, work with the soul of the patient? Does he seek to get that soul (on its own plane) to affect definitely the man, superintending the transfer of energy from the soul to the mind, and from the mind to the astral body, and from thence to the etheric vehicle? By no means. In cases of real and serious illness, the condition of the patient is usually such that it is not possible for him to make the needed response to such attempted ministrations of the healer, either consciously or unconsciously. Any mental exertion is quite beyond his power, and he could not, therefore, cooperate with the effort of his soul to transfer energy; the activity of his astral body is usually concentrated in the formulation of a great desire to live and to get rid of the disease, unless the illness is so acute that the patient has reached the stage where he simply does not care and the will-to-live is rapidly leaving him. To these difficulties must be added the fact that very few people are so completely integrated that they can function as whole personalities, in [540] response to soul stimulation. They are usually polarised in one or another of their three bodies, and this fact again presents a potent limiting condition to the healer. Again, and very frequently, the man is so intensely preoccupied with discomfort and pain present in the dense physical body, that the higher impressions which might come through from mind or soul bodies are quite unable to do so. What then must the trained and instructed healer do?

Nhà trị liệu phải làm gì khi đối diện với một bệnh nhân và nhận ra tình trạng ngăn trở mà bệnh tật biểu lộ? Theo định luật này, liệu y có làm việc với linh hồn của bệnh nhân không? Liệu y có tìm cách khiến linh hồn ấy (trên cõi riêng của nó) tác động rõ rệt lên con người, giám sát việc chuyển dịch năng lượng từ linh hồn đến thể trí, từ thể trí đến thể cảm dục, rồi từ đó đến hiện thể dĩ thái không? Hoàn toàn không. Trong những trường hợp bệnh thực sự nghiêm trọng, tình trạng bệnh nhân thường khiến y không thể đáp ứng cần thiết với những nỗ lực chăm sóc như vậy của nhà trị liệu, dù có ý thức hay vô thức. Bất kỳ nỗ lực trí tuệ nào cũng hoàn toàn vượt quá sức y, và vì vậy y không thể hợp tác với nỗ lực chuyển dịch năng lượng của linh hồn mình; hoạt động của thể cảm dục thường tập trung vào việc hình thành một dục vọng mãnh liệt muốn sống và thoát khỏi bệnh tật, trừ khi bệnh quá trầm trọng khiến bệnh nhân đã đến giai đoạn đơn giản là không còn quan tâm, và ý chí muốn sống đang nhanh chóng rời bỏ y. Ngoài những khó khăn này, còn phải kể đến việc rất ít người tích hợp hoàn toàn đến mức có thể hoạt động như những phàm ngã toàn vẹn, trong [540] sự đáp ứng với kích thích của linh hồn. Họ thường phân cực trong một trong ba thể của mình, và điều này lại tạo ra một điều kiện giới hạn mạnh mẽ đối với nhà trị liệu. Hơn nữa, rất thường xuyên, người bệnh quá bận tâm với sự khó chịu và đau đớn trong thể xác đậm đặc đến mức những ấn tượng cao hơn có thể truyền đến từ thể trí hay thể linh hồn hoàn toàn không thể đi qua. Vậy nhà trị liệu đã được đào tạo và hướng dẫn phải làm gì?

He must realise, first of all, that the etheric body is the factor of major importance and the main vehicle with which he must deal. He therefore concentrates upon that body of energy. This involves the necessity of ascertaining certain facts, and then making certain points of contact effectively useful.

Trước hết, y phải nhận ra rằng thể dĩ thái là yếu tố quan trọng hàng đầu và là hiện thể chính mà y phải xử lý. Vì vậy, y tập trung vào thể năng lượng ấy. Điều này đòi hỏi phải xác định một số sự kiện, rồi vận dụng hữu hiệu một số điểm tiếp xúc.

The first fact to be ascertained is the potency with which the soul has gripped and is still gripping its personality. The healer is aware that because the patient is still alive, the soul is definitely present through the medium of the head and heart centres of the etheric body, thus anchoring both the consciousness and the life principles. If the patient is unconscious, the difficulties of the healer are greatly increased in some cases, though lightened in others. If the principle of consciousness is withdrawn from the head centre in the vital body, then the healer knows that death may supervene and his way is this much clearer, particularly if there is a dimming of the light of life in the heart. If consciousness is still powerfully present, he realises that there is still the possibility of cure, and can then, with greater confidence, proceed with the work to be done. In this statement, I am dealing with the average person. In the case of initiates, it is somewhat different, because they frequently remain fully conscious through the death process.

Sự kiện đầu tiên cần xác định là mức độ mạnh mẽ mà linh hồn đã và vẫn đang nắm giữ phàm ngã của nó. Nhà trị liệu biết rằng, vì bệnh nhân vẫn còn sống, linh hồn chắc chắn hiện diện qua luân xa đầu và luân xa tim của thể dĩ thái, nhờ đó neo giữ cả nguyên khí tâm thức lẫn nguyên khí sự sống. Nếu bệnh nhân bất tỉnh, trong một số trường hợp, những khó khăn của nhà trị liệu tăng lên rất nhiều, nhưng trong những trường hợp khác lại giảm bớt. Nếu nguyên khí tâm thức rút khỏi luân xa đầu trong thể sinh lực, nhà trị liệu biết rằng cái chết có thể xảy đến và hướng đi của y nhờ đó rõ ràng hơn, đặc biệt nếu ánh sáng sự sống trong tim đang mờ dần. Nếu tâm thức vẫn hiện diện mạnh mẽ, y nhận ra vẫn còn khả năng chữa khỏi, và khi ấy có thể tự tin hơn để tiến hành công việc cần làm. Trong phát biểu này, Tôi đang đề cập đến người bình thường. Trường hợp các điểm đạo đồ có phần khác biệt, vì họ thường duy trì tâm thức trọn vẹn suốt tiến trình chết.

You will, therefore, realise the basic necessity for the healer in the New Age to be either clairvoyant or—far better [541] still—to have true spiritual perception with its quality of infallibility. His first task is to investigate or “occultly see” the etheric body of the patient, and thus arrive at the following knowledge:

Vì vậy, các bạn sẽ nhận ra sự cần thiết căn bản đối với nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới là phải có khả năng thông nhãn hoặc—tốt hơn [541] nhiều—có tri giác tinh thần chân chính với phẩm tính không sai lầm của nó. Nhiệm vụ đầu tiên của y là khảo sát hay “nhìn thấy bằng huyền năng” thể dĩ thái của bệnh nhân, nhờ đó đạt được những hiểu biết sau:

1. The potency with which the soul influences its etheric body. This is indicated by the point of light in the head centre and the area which it irradiates.

1. Mức độ mạnh mẽ mà linh hồn ảnh hưởng lên thể dĩ thái của nó. Điểm sáng trong luân xa đầu và vùng mà nó chiếu sáng cho thấy điều này.

2. The condition of the etheric centre which controls or governs the area within which the physical trouble is to be found.

2. Tình trạng của luân xa dĩ thái kiểm soát hay chi phối vùng có chứng bệnh thể chất.

3. The relation of the centres above the diaphragm to those below, because this will give him a general indication of the point in evolution of the man to be healed.

3. Mối liên hệ giữa các luân xa trên cơ hoành với những luân xa bên dưới, vì điều này sẽ cho y một chỉ dấu tổng quát về điểm tiến hoá của người cần được chữa lành.

Having ascertained these points to the best of his ability, he will then, under the law of “inhibited soul life,” seek by the power of his own soul (working on the higher levels of the mental plane and through his head centre) to stimulate the point of soul life in the etheric body of the patient. He will do this with a view of attracting, if possible, a fuller inflow of the soul energy of the patient into the head centre, in order that the life thread may carry a fuller supply of life to the heart. In this manner, the patient’s own “livingness” will bring about the desired cure; he will be healed apparently by nature itself, or by the natural and normal way of adequate vitality, and so enabled to throw off the disease.

Sau khi đã xác định những điểm này trong khả năng tốt nhất của mình, theo định luật về “sự sống linh hồn bị ngăn trở”, y sẽ tìm cách dùng quyền năng của linh hồn mình (hoạt động trên các cấp độ cao của cõi trí và qua luân xa đầu của y) để kích thích điểm sự sống linh hồn trong thể dĩ thái của bệnh nhân. Y sẽ làm điều này nhằm thu hút, nếu có thể, một dòng năng lượng linh hồn của bệnh nhân tuôn vào luân xa đầu đầy đủ hơn, để sinh mệnh tuyến có thể mang đến cho tim một nguồn cung cấp sự sống dồi dào hơn. Bằng cách này, chính “sức sống” của bệnh nhân sẽ mang lại sự chữa khỏi mong muốn; dường như y được chính thiên nhiên chữa lành, hay qua cách tự nhiên và bình thường là có đủ sinh lực, nhờ đó có thể loại bỏ bệnh tật.

When the healer, therefore, recognises and works with this law, the following points of contact are recognised and used:

Vì vậy, khi nhà trị liệu nhận biết và làm việc với định luật này, những điểm tiếp xúc sau đây được nhận biết và sử dụng:

1. The soul of the patient, anchored within his etheric body. [542]

1. Linh hồn của bệnh nhân, được neo giữ trong thể dĩ thái của y. [542]

2. The soul of the healer, occupied with the stimulation of that point of soul contact, via the following triangle of energy:

2. Linh hồn của nhà trị liệu, đang tập trung kích thích điểm tiếp xúc linh hồn ấy qua tam giác năng lượng sau đây:

This relates the vital body of the healer to that of the patient, via both their head centres and the heart of the patient, because there the life principle is focussed and is closely involved and affected by whatever occurs.

Điều này liên kết thể sinh lực của nhà trị liệu với thể sinh lực của bệnh nhân, qua luân xa đầu của cả hai và tim của bệnh nhân, vì nguyên khí sự sống tập trung tại đó, gắn bó mật thiết và chịu ảnh hưởng của bất cứ điều gì xảy ra.

3. When this triangle of energy is functioning smoothly and a measure of response is coming from the head centre of the patient, evoking greater soul contact and producing a resultant inflow of soul energy into the head centre and from thence to the heart centre, then—by an act of the will and the use of an invocative mantram—the healer will seek to implement this increased flow of life, via the heart, to the diseased area, using the centre which controls that area of the physical body, whichever this may be. This has to be done with the greatest possible care, so that the flow is not too sudden, and therefore destructive in its effects; particular care has also to be evidenced in the cases of disease of the heart: embolisms, for instance, which prove fatal are frequently due to a violent expression on the part of the patient of the will-to-live, bringing on a flooding inflow of the life principle. This makes its impact too suddenly upon the heart, causing equally sudden movement in the blood stream, and thus of the embolism, producing death. I am putting this into entirely untechnical terms [543] and laying myself open to expert criticism, but I am doing so in order to convey to the lay reader a general idea of the risks involved, and thus produce caution in the enthusiast.

3. Khi tam giác năng lượng này hoạt động thông suốt và luân xa đầu của bệnh nhân bắt đầu có một mức độ đáp ứng, gợi lên sự tiếp xúc linh hồn lớn hơn và do đó tạo ra một dòng năng lượng linh hồn tuôn vào luân xa đầu, rồi từ đó đến luân xa tim, thì—bằng một hành động ý chí và việc sử dụng một mantram khẩn cầu—nhà trị liệu sẽ tìm cách đưa dòng sự sống gia tăng này qua tim đến vùng bệnh, sử dụng luân xa kiểm soát vùng thể xác ấy, bất kể đó là luân xa nào. Điều này phải được thực hiện hết sức cẩn trọng, để dòng chảy không quá đột ngột và do đó gây tác động hủy hoại; cũng phải đặc biệt cẩn trọng trong các trường hợp bệnh tim: chẳng hạn, những trường hợp thuyên tắc gây tử vong thường do bệnh nhân biểu lộ ý chí muốn sống một cách mãnh liệt, khiến nguyên khí sự sống tuôn vào ồ ạt. Dòng này tác động quá đột ngột lên tim, gây chuyển động cũng đột ngột như vậy trong dòng máu, và do đó làm di chuyển vật gây thuyên tắc, dẫn đến cái chết. Tôi đang trình bày điều này bằng những từ ngữ hoàn toàn không chuyên môn [543] và tự đặt mình trước sự phê bình của giới chuyên gia, nhưng Tôi làm vậy để truyền đạt cho độc giả không chuyên một ý niệm tổng quát về những rủi ro liên quan, qua đó khiến người nhiệt thành biết thận trọng.

This law covers certain fundamental premises, and there is little more than I can profitably say anent its implications. Much will be learnt by accepting the premises and working upon their implications. What I have said is very far from being what I could have said, but I have here given the student a simple and working understanding of certain essential and basic concepts. We will now pass on to a consideration of the second Law and of Rule One.

Định luật này bao hàm một số tiền đề nền tảng, và Tôi khó có thể nói thêm điều gì hữu ích về những hàm ý của nó. Nhiều điều sẽ được học hỏi qua việc chấp nhận các tiền đề và làm việc dựa trên những hàm ý của chúng. Những gì Tôi đã nói còn rất ít so với những gì Tôi có thể nói, nhưng ở đây Tôi đã cung cấp cho đạo sinh một sự thấu hiểu đơn giản và có thể vận dụng về một số khái niệm thiết yếu và căn bản. Giờ đây, chúng ta sẽ chuyển sang xem xét Định luật thứ hai và Quy luật Một.

LAW II – ĐỊNH LUẬT II

Disease is the product of and subject to three influences: first, a man’s past, wherein he pays the price of ancient error; second, his inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin; third, he shares with all natural forms that which the Lord of Life imposes on His body. These three influences are called the “Ancient Law of Evil Sharing.” This must give place some day to the new “Law of Ancient Dominating Good” which lies behind all that God has made. This law must be brought into activity by the spiritual will of man.

Bệnh tật là sản phẩm của ba ảnh hưởng và chịu sự chi phối của chúng: thứ nhất, quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho những lỗi lầm xưa cũ; thứ hai, di sản y thừa hưởng, trong đó y cùng toàn thể nhân loại chia sẻ những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc nhóm; thứ ba, y cùng mọi hình tướng trong thiên nhiên chia sẻ điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thân thể của Ngài. Ba ảnh hưởng này được gọi là “Định luật Cổ Xưa về Sự Chia Sẻ Điều Ác”. Một ngày kia, định luật này phải nhường chỗ cho “Định luật về Điều Thiện Cổ Xưa Chi Phối” mới, vốn nằm sau mọi điều Thượng Đế đã tạo ra. Ý chí tinh thần của con người phải đưa định luật này vào hoạt động.

This Law is most comprehensive in its statements and really constitutes a summation of two laws, one of which is controlling at this time and one which will eventually control. Let us, for the sake of clarity, and because people usually read so carelessly, divide this law up into its various statements, and thus gain a better idea of its implications:

Định luật này có nội dung hết sức bao quát và thực sự tổng hợp hai định luật, một định luật đang chi phối vào lúc này và một định luật cuối cùng sẽ chi phối. Để làm rõ, và vì con người thường đọc quá thiếu cẩn trọng, chúng ta hãy chia định luật này thành các phát biểu riêng, nhờ đó hiểu rõ hơn những hàm ý của nó:

1. Disease is a product of and subject to three influences: [544]

1. Bệnh tật là sản phẩm của ba ảnh hưởng và chịu sự chi phối của chúng: [544]

a. A man’s past, wherein he pays the price of ancient error.

a. Quá khứ của một người, trong đó y trả giá cho những lỗi lầm xưa cũ.

b. His inheritance, wherein he shares with all mankind those tainted streams of energy which are of group origin.

b. Di sản y thừa hưởng, trong đó y cùng toàn thể nhân loại chia sẻ những dòng năng lượng nhiễm độc có nguồn gốc nhóm.

c. His sharing with all natural forms that which the Lord of Life imposes on His body.

c. Việc y cùng mọi hình tướng trong thiên nhiên chia sẻ điều mà Chúa Tể của Sự Sống áp đặt lên thân thể của Ngài.

2. These three types of energy are called the “Ancient Law of Evil Sharing.”

2. Ba loại năng lượng này được gọi là “Định luật Cổ Xưa về Sự Chia Sẻ Điều Ác”.

3. The “Law of Ancient Dominating Good” lies behind all that God has made.

3. “Định luật về Điều Thiện Cổ Xưa Chi Phối” nằm sau mọi điều Thượng Đế đã tạo ra.

4. This law will some day supersede the “Ancient Law of Evil Sharing.”

4. Một ngày kia, định luật này sẽ thay thế “Định luật Cổ Xưa về Sự Chia Sẻ Điều Ác”.

5. It will be brought into activity by the spiritual will of man.

5. Ý chí tinh thần của con người sẽ đưa định luật này vào hoạt động.

This law throws a man in his thinking back to the basic law of karma which, as you know, there is no avoiding, and which the modern healer in the present healing cults and organisations consistently overlooks. With these influences and predisposing causes we have already dealt, and there is no need further to elaborate them here, beyond remarking that one of the most helpful things for a patient to remember and for the healer to bear in mind is that disease has its roots in the past (a group past or an individual past) and may, in the last analysis, be a beneficent way of paying off ancient debts. This induces in the patient a constructive attitude of acquiescence—not an acquiescence which leads to non-action, but one which produces a sense of responsibility for right action. This right action will lead either to full payment of the penalty through the well-known process of death or to the success of the steps taken to induce health. In the case of the healer, it will lead to a recognition of potent forces working through the patient and a willingness.[545] for the destined fate to take place; in both cases the feverish anxiety so often present will not intervene between the healer’s intention and the patient, preventing sound happenings.

Định luật này đưa con người, trong tư duy của mình, trở lại với định luật nghiệp quả căn bản mà, như các bạn biết, không ai có thể tránh khỏi, và các nhà trị liệu hiện đại trong những trào lưu và tổ chức chữa lành hiện nay luôn bỏ qua. Chúng ta đã đề cập đến những ảnh hưởng và nguyên nhân tạo khuynh hướng này, nên không cần bàn rộng thêm ở đây, ngoài việc nhận xét rằng một trong những điều hữu ích nhất mà bệnh nhân cần nhớ và nhà trị liệu cần ghi nhớ là bệnh tật bắt nguồn từ quá khứ (quá khứ của nhóm hoặc của cá nhân) và, xét cho cùng, có thể là một phương cách tốt lành để thanh toán những món nợ từ xa xưa. Điều này khơi dậy nơi bệnh nhân một thái độ chấp thuận mang tính xây dựng—sự chấp thuận không dẫn đến bất động, mà tạo nên ý thức trách nhiệm phải hành động đúng đắn. Hành động đúng đắn này sẽ dẫn đến việc trả đủ món nợ qua tiến trình chết vốn quen thuộc, hoặc dẫn đến sự thành công của những biện pháp nhằm khôi phục sức khỏe. Đối với nhà trị liệu, điều này sẽ dẫn đến việc nhận biết những mãnh lực mạnh mẽ đang hoạt động qua bệnh nhân và một sự sẵn lòng.[545] để số mệnh đã định diễn ra; trong cả hai trường hợp, nỗi lo âu cuống quýt thường thấy sẽ không xen vào giữa ý định của nhà trị liệu và bệnh nhân, cản trở những diễn biến lành mạnh.

The second important thing is for the patient to remember, if his condition permits, that what he is enduring is the fate and the lot of the majority, and that he is not alone. A right handling of ill health is a major factor in breaking down separateness and a sense of aloneness and isolation; that is why the effects of bad health, when rightly handled, lead to a sweetening of the disposition and a broadening of the sympathies. Sharing and a sense of general participation has usually to be learnt the hard way—such again is the law. In this law we have the clue to that which will ultimately sweep disease from the earth. Let me put it quite simply. When the majority of the inhabitants of the earth are being rapidly oriented towards good, towards righteousness, as the Bible expresses it, and when the bulk of human beings are inclined towards goodwill (the second major expression of soul contact and influence in the individual’s life and in the life of mankind—the first being the sense of responsibility), then ill health will persistently, even if only gradually, disappear and die out and finally be nonexistent. Slowly, very slowly, this is already happening—not yet in the disappearance of disease, but in the bringing about of a more correct orientation. What this really means is that the channel of contact between the individual and his soul and the soul of humanity is becoming more direct and unimpeded. Alignment is being brought about. You can see again, therefore, why the emphasis in the life of the healer must be laid upon contact and alignment, and why so few succeed. There is little if any contact to be found among healers today, and little direct consciousness of the necessity, [546] and no real understanding of the techniques to be followed. It is wise to grasp this important point, for it will negate disappointment. Disease is not going to disappear miraculously and suddenly from a world in the immediate period, heralding the New Age. If it did, the implications would be that the Law of Karma no longer controlled, and this is not the case.

Điều quan trọng thứ hai là bệnh nhân cần nhớ, nếu tình trạng cho phép, rằng những gì y đang chịu đựng cũng là số phận và cảnh ngộ của đa số, và y không đơn độc. Cách ứng xử đúng đắn trước sức khỏe kém là một yếu tố quan trọng giúp phá bỏ tính chia rẽ và cảm giác đơn độc, cô lập; đó là lý do vì sao những tác động của sức khỏe kém, khi được xử lý đúng đắn, sẽ khiến tính tình trở nên hòa nhã hơn và lòng cảm thông rộng mở hơn. Người ta thường phải học sự chia sẻ và ý thức cùng tham dự với mọi người qua gian khó—định luật một lần nữa vẫn là như vậy. Trong định luật này, chúng ta có manh mối về điều cuối cùng sẽ quét sạch bệnh tật khỏi Trái Đất. Tôi xin diễn đạt thật đơn giản. Khi đa số cư dân trên Trái Đất đang nhanh chóng hướng về điều thiện, về sự công chính như Kinh Thánh diễn đạt, và khi phần đông nhân loại nghiêng về thiện chí (biểu hiện quan trọng thứ hai của sự tiếp xúc và ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống cá nhân và đời sống nhân loại—biểu hiện thứ nhất là ý thức trách nhiệm), thì tình trạng sức khỏe kém sẽ liên tục biến mất và tàn lụi, dù chỉ dần dần, rồi cuối cùng không còn tồn tại. Chậm rãi, rất chậm rãi, điều này đã và đang diễn ra—chưa thể hiện ở sự biến mất của bệnh tật, mà ở việc hình thành một định hướng đúng đắn hơn. Điều này thực sự có nghĩa là kênh tiếp xúc giữa cá nhân với linh hồn của y và linh hồn nhân loại đang trở nên trực tiếp hơn và ít bị cản trở hơn. Sự chỉnh hợp đang hình thành. Vì vậy, một lần nữa các bạn có thể thấy vì sao đời sống của nhà trị liệu phải đặt trọng tâm vào sự tiếp xúc và chỉnh hợp, và vì sao rất ít người thành công. Ngày nay, giữa các nhà trị liệu, sự tiếp xúc ấy rất ít, nếu có; sự nhận biết trực tiếp về tính cần thiết của nó cũng ít, [546] và không có sự thấu hiểu thực sự về những kỹ thuật cần tuân theo. Nắm vững điểm quan trọng này là điều khôn ngoan, vì nó sẽ ngăn ngừa sự thất vọng. Trong giai đoạn trước mắt, bệnh tật sẽ không biến mất khỏi thế giới một cách kỳ diệu và đột ngột để báo hiệu Kỷ Nguyên Mới. Nếu điều đó xảy ra, thì hàm ý sẽ là Định luật Nghiệp Quả không còn chi phối nữa, và thực tế không phải như vậy.

The final sentence of this second law gives a basic indication of the time period: the Law of Dominating Good will be brought into activity by the spiritual will of man. What does this mean? It means that only when truly large numbers of men are controlled by the Spiritual Triad, have built the antahkarana and can therefore use the spiritual will, can disease be stamped out and only good control. It will of course be a gradual process, and in the early stages almost imperceptible. Again, why is this? Because evil crime and disease are the result of the great heresy of separateness, and because hate and not love controls. Forget not that he who loveth not his brother is a murderer—ever the symbol of hate. As yet, the sense of universality and of identity with all is not to be found, except in advanced disciples and initiates; the mass consciousness and the demonstration of the herd instinct must not be confounded with the sense of Oneness which marks the right oriented person. In the New Age, teaching anent the antahkarana and the constitution of man, principally from the angle of the “three periodical bodies,” and not so much from that of the lower threefold man, will be emphasised, particularly in the higher schools of learning, thereby laying a sound foundation for the esoteric schools which will be slowly emerging. A new perspective upon humanity will be thereby attained. The nature of the spiritual will will be taught in contradistinction to that of the selfish personal will; [547] by its means tremendous new potencies will be released, and safely released, into daily life.

Câu cuối của định luật thứ hai này đưa ra một chỉ dẫn căn bản về thời kỳ: Định luật Thiện Chi Phối sẽ được ý chí tinh thần của con người đưa vào hoạt động. Điều này có nghĩa gì? Nó có nghĩa là chỉ khi thực sự có đông đảo con người chịu sự chi phối của Tam Nguyên Tinh Thần, đã xây dựng antahkarana và do đó có thể sử dụng ý chí tinh thần, thì bệnh tật mới có thể bị dập tắt và chỉ điều thiện mới chi phối. Dĩ nhiên, đây sẽ là một tiến trình dần dần, và trong những giai đoạn đầu gần như không thể nhận thấy. Một lần nữa, vì sao lại như vậy? Vì điều ác, tội ác và bệnh tật là kết quả của Đại Tà thuyết về tính chia rẽ, và vì lòng căm ghét đang chi phối thay cho tình thương. Đừng quên rằng kẻ không yêu thương huynh đệ mình là kẻ sát nhân—luôn là biểu tượng của lòng căm ghét. Cho đến nay, ý thức về tính phổ quát và sự đồng nhất với tất cả chỉ có ở các đệ tử tiến hóa cao và các điểm đạo đồ; không được nhầm lẫn tâm thức quần chúng và sự biểu lộ bản năng bầy đàn với ý thức về tính Nhất Thể vốn là dấu hiệu của người có định hướng đúng đắn. Trong Kỷ Nguyên Mới, giáo huấn về antahkarana và cấu tạo của con người, chủ yếu từ góc độ “ba thể chu kỳ”, hơn là từ góc độ phàm nhân tam phân, sẽ được nhấn mạnh, đặc biệt trong các cơ sở giáo dục bậc cao, qua đó đặt nền tảng vững chắc cho những trường nội môn sẽ dần xuất hiện. Nhờ đó, nhân loại sẽ được nhìn nhận từ một góc độ mới. Bản chất của ý chí tinh thần sẽ được giảng dạy trong sự phân biệt rõ với bản chất của ý chí cá nhân ích kỷ; [547] nhờ ý chí tinh thần, những tiềm lực mới to lớn sẽ được giải phóng một cách an toàn vào đời sống hằng ngày.

Up to the present time, even disciples have little idea of the exceeding power of the triadal will. It might be here affirmed that those healers who have triadal consciousness and can exercise the potency of the monadic life and will, via the Spiritual Triad, will always be successful healers; they will make no mistakes, for they will have accurate spiritual perception; this will give them knowledge as to the possibility of cure, and by the use of the will they can then work safely and with power on the head centre of the patient. They will necessarily confine their healing powers to those who live focussed in the head. They will stimulate the soul, there anchored, into effective activity, thus promoting a true self-healing.

Cho đến nay, ngay cả các đệ tử cũng ít hình dung được quyền năng vượt trội của ý chí thuộc Tam Nguyên Tinh Thần. Ở đây có thể khẳng định rằng những nhà trị liệu có tâm thức Tam Nguyên Tinh Thần và có thể vận dụng uy lực của sự sống và ý chí chân thần, qua Tam Nguyên Tinh Thần, sẽ luôn là những nhà trị liệu thành công; họ sẽ không phạm sai lầm, vì họ có tri giác tinh thần chính xác; điều này sẽ giúp họ biết được khả năng chữa khỏi, và bằng cách sử dụng ý chí, khi ấy họ có thể tác động một cách an toàn và mạnh mẽ lên trung tâm đầu của bệnh nhân. Tất nhiên, họ sẽ giới hạn quyền năng chữa lành của mình ở những người sống với sự tập trung nơi đầu. Họ sẽ kích thích linh hồn, vốn neo giữ tại đó, hoạt động hữu hiệu, qua đó thúc đẩy sự tự chữa lành thực sự.

You will note from all the above how relatively simple these Laws are when carefully considered, and how beautifully they are related to each other. The mastering and grasping of one facilitates the understanding of the next.

Từ tất cả những điều trên, các bạn sẽ nhận thấy các Định luật này tương đối đơn giản biết bao khi được xem xét cẩn thận, và chúng liên hệ với nhau đẹp đẽ đến mức nào. Việc nắm vững và lĩnh hội một định luật giúp cho sự thấu hiểu định luật kế tiếp trở nên dễ dàng hơn.

Forget not that the head centre is the one through which the will works, and with this in your mind, relate the information given you anent Law One in the early part of this instruction to that which I have here given you. If these laws are studied deeply by those who seek to learn to heal spiritually, and if the healer endeavours to make his life conform to the rules, a definite pattern of healing and an emerging technique will take shape in his mind and greatly increase his effective service. You will note also that I am not giving rules and laws which deal with specific diseases. This, I fear, will greatly disappoint many earnest workers. They would like me to indicate what should be done, for instance, to cure cancer of the liver, or pneumonia or gastric ulcer or forms of heart disease. This I do not intend to do. My work is far more basic than that. I am concerned [548] with causes, and primarily with the etheric body as the distributor of energies or as the withholder of these energies when transformed into forces; I deal with the state of consciousness of the healer and with the theories which he should embrace, with his understanding of the relationship of the soul to its vehicles of expression (particularly, in the case of healing, to the vital body), and with the controlling fact of the centres found in every area of the body, either freely distributing energy and preserving the body in good health or—through undevelopment and inhibited activity—bringing about those conditions in which disease becomes possible and probable.

Đừng quên rằng trung tâm đầu là trung tâm mà qua đó ý chí hoạt động; ghi nhớ điều này, hãy liên hệ những thông tin đã cung cấp cho các bạn về Định luật Một ở phần đầu của huấn thị này với những gì Tôi vừa trình bày ở đây. Nếu những người muốn học cách chữa lành bằng tinh thần nghiên cứu sâu sắc các định luật này, và nếu nhà trị liệu nỗ lực làm cho đời sống của mình phù hợp với các quy luật, thì một mô hình chữa lành rõ rệt cùng một kỹ thuật đang hình thành sẽ định hình trong thể trí của y và gia tăng đáng kể hiệu quả phụng sự của y. Các bạn cũng sẽ nhận thấy rằng Tôi không đưa ra những quy luật và định luật đề cập đến các bệnh cụ thể. Tôi e rằng điều này sẽ khiến nhiều người hoạt động tận tâm vô cùng thất vọng. Họ muốn Tôi chỉ rõ cần làm gì, chẳng hạn, để chữa ung thư gan, viêm phổi, loét dạ dày hoặc các dạng bệnh tim. Tôi không có ý định làm như vậy. Công việc của Tôi căn bản hơn thế rất nhiều. Tôi quan tâm [548] đến các nguyên nhân, và chủ yếu đến thể dĩ thái với vai trò phân phối năng lượng hoặc giữ lại những năng lượng này khi chúng chuyển đổi thành các mãnh lực; Tôi đề cập đến trạng thái tâm thức của nhà trị liệu và những lý thuyết mà y cần tiếp nhận, đến sự thấu hiểu của y về mối quan hệ giữa linh hồn với các hiện thể biểu lộ của nó (đặc biệt, trong việc chữa lành, với thể sinh lực), và đến thực tại chi phối là các trung tâm hiện diện trong mọi vùng của thân thể, hoặc tự do phân phối năng lượng và giữ cho thân thể khỏe mạnh, hoặc—do chưa phát triển và hoạt động bị ức chế—tạo ra những tình trạng trong đó bệnh tật có thể và dễ có khả năng phát sinh.

You can see, therefore, how the healing process is simplified when we recognise causes and realise that they are responsible for the functioning of the body on the outer plane. The healer has always to remember the following sequence of facts:

Vì vậy, các bạn có thể thấy tiến trình chữa lành trở nên đơn giản hơn như thế nào khi chúng ta nhận biết các nguyên nhân và nhận ra rằng chúng quyết định sự hoạt động của thân thể trên cõi bên ngoài. Nhà trị liệu phải luôn ghi nhớ chuỗi những thực tại sau đây:

1. The fact of the soul, working through

1. Thực tại về linh hồn, hoạt động qua

2. The mind and the astral body, whose energies condition

2. Thể trí và thể cảm dục, mà năng lượng của chúng tác động lên

3. The etheric vehicle, a vortex of energies focussed through numerous centres, both major and minor.

3. Hiện thể dĩ thái, một xoáy năng lượng tập trung qua nhiều trung tâm, cả chính lẫn phụ.

4. The seven major centres, controlling definite areas of the body via

4. Bảy trung tâm chính, kiểm soát những vùng xác định của thân thể qua

a. The nadis

a. Các kinh mạch

b. The nerves.

b. Các dây thần kinh.

c. The endocrine system

c. Hệ nội tiết

d. The blood stream.

d. Dòng máu.

These four groups of conditioned aspects of the man concern life and consciousness, or the two major aspects of the soul when in manifestation upon the physical plane.

Bốn nhóm phương diện chịu tác động này của con người liên quan đến sự sống và tâm thức, tức hai phương diện chính của linh hồn khi biểu hiện trên cõi hồng trần.

[549]

[549]

Orthodox medicine has been to date necessarily confined to the objective symptoms and their immediate apparent cause, and therefore to effects and not to real causes. The healing with which I am concerned is directed towards the reorganising and the revitalising of the etheric body, with the intent of getting behind the outer formal indications of wrong conditions to that vehicle of energies which—if correctly functioning and in right alignment—will preserve the physical body in good condition and keep it free from disease. The knowledge required by the healer in the New Age is therefore more basic and less detailed. He deals with areas and not with organs; he is concerned with energies and their distributing points, and not with the details of the physical body, with the construction of the organs and their malfunctioning. He will deal with the seven etheric centres, with the nadis through which they affect and stimulate (apart from radiation) the nervous system; he will watch with care the nervous system and the blood stream which the centres affect through radiation on to and through the hormones there to be found. But the keynote of all his work will be directed distribution, and the centre of his attention will be the channels of this distribution—the entire system of etheric centres.

Cho đến nay, y học chính thống tất yếu vẫn giới hạn ở các triệu chứng khách quan và nguyên nhân trực tiếp có vẻ hiển nhiên của chúng, do đó chỉ đề cập đến các hệ quả chứ chưa đến những nguyên nhân thực sự. Việc chữa lành mà Tôi quan tâm hướng đến sự tái tổ chức và tái tiếp sinh lực cho thể dĩ thái, nhằm đi sâu qua những dấu hiệu hình tướng bên ngoài của các tình trạng sai lệch để đến với hiện thể năng lượng ấy, vốn—nếu hoạt động đúng đắn và chỉnh hợp thích đáng—sẽ duy trì thể xác trong tình trạng tốt và giữ cho nó không mắc bệnh. Vì vậy, tri thức mà nhà trị liệu trong Kỷ Nguyên Mới cần có sẽ căn bản hơn và ít đi vào chi tiết hơn. Y xử lý các vùng chứ không phải các cơ quan; y quan tâm đến năng lượng và các điểm phân phối của chúng, chứ không phải các chi tiết của thể xác, cấu tạo của các cơ quan và sự rối loạn chức năng của chúng. Y sẽ xử lý bảy trung tâm dĩ thái cùng các kinh mạch mà qua đó các trung tâm tác động và kích thích hệ thần kinh (ngoài sự bức xạ); y sẽ theo dõi cẩn thận hệ thần kinh và dòng máu, là những gì các trung tâm tác động qua sự bức xạ lên và qua các nội tiết tố hiện diện ở đó. Nhưng chủ âm của toàn bộ công việc của y sẽ là sự phân phối có định hướng, và trọng tâm chú ý của y sẽ là các kênh phân phối này—toàn bộ hệ thống các trung tâm dĩ thái.

I would beg you to reflect upon all this information with studious care. The keynote to good health, esoterically speaking, is sharing or distribution, just as it is the keynote to the general well-being of humanity. The economic ills of mankind closely correspond to disease in the individual. There is lack of a free flow of the necessities of life to the points of distribution; these points of distribution are idle: the direction of the distribution is faulty, and only through a sane and worldwide grasp of the New Age principle of sharing will human ills be cured; only by the right distribution of energy will the ills of the physical body of individual [550] man also be cured. This is a fundamental (I would say the fundamental principle) of all spiritual healing. In the last analysis also this presupposes an eventual and scientific recognition of the etheric body of the planet, and consequently of man.

Tôi tha thiết đề nghị các bạn suy ngẫm tất cả những thông tin này với sự chuyên tâm cẩn trọng. Nói một cách huyền bí, chủ âm của sức khỏe tốt là sự chia sẻ hay sự phân phối, cũng như đó là chủ âm cho phúc lợi chung của nhân loại. Những bất ổn kinh tế của nhân loại tương ứng chặt chẽ với bệnh tật nơi cá nhân. Những nhu yếu phẩm của đời sống thiếu sự lưu thông tự do đến các điểm phân phối; những điểm phân phối này không hoạt động: việc định hướng phân phối bị sai lệch, và chỉ nhờ sự thấu hiểu sáng suốt trên toàn thế giới về nguyên khí chia sẻ của Kỷ Nguyên Mới, những chứng bệnh của nhân loại mới được chữa lành; chỉ bằng sự phân phối năng lượng đúng đắn, những chứng bệnh của thể xác nơi từng [550] con người cũng mới được chữa lành. Đây là một nguyên khí căn bản (Tôi muốn nói là nguyên khí căn bản ấy) của mọi sự chữa lành bằng tinh thần. Xét cho cùng, điều này cũng giả định rằng cuối cùng sẽ có sự công nhận một cách khoa học về thể dĩ thái của hành tinh, và do đó của con người.

We come now to a consideration of Rule One.

Giờ đây, chúng ta chuyển sang xem xét Quy luật Một.