Trích nội dung chương
3. The sumtotal of the life which is innate in atomic substance itself-the substance out of which all forms are made. This is the life of the spirit of the earth. 3. Toàn bộ sự sống vốn có trong chính chất liệu nguyên tử—chất liệu tạo nên mọi hình tướng. Đây là sự sống của tinh linh địa cầu.
3. The sumtotal of the life which is innate in atomic substance itself-the substance out of which all forms are made. This is the life of the spirit of the earth.
3. Toàn bộ sự sống vốn có trong chính chất liệu nguyên tử—chất liệu tạo nên mọi hình tướng. Đây là sự sống của tinh linh địa cầu.
We are not here referring to the soul in an atom or the soul of any form, great or small; we are referring exclusively to the life or first aspect. This expresses itself as the will-to-be; it is only active, though ever present, during form life or the phase of created manifestation. It is here that the Will factor makes its appearance and the relation between will, form and incarnation is to be found.
Ở đây, chúng ta không nói đến linh hồn trong một nguyên tử hay linh hồn của bất kỳ hình tướng nào, lớn hay nhỏ; chúng ta chỉ nói đến sự sống hay phương diện thứ nhất. Phương diện này biểu hiện thành ý chí hiện tồn; dù luôn hiện diện, nó chỉ hoạt động trong đời sống hình tướng hay giai đoạn biểu hiện thụ tạo. Chính ở đây yếu tố Ý Chí xuất hiện, và có thể tìm thấy mối quan hệ giữa ý chí, hình tướng và sự lâm phàm.
One of the factors governing incarnation is the presence of what is called the will-to-live; when that is to be found, and when it is powerful in man, he is strongly anchored upon the physical plane: when that is not strongly present or is withdrawn, the man dies. Life in the physical body is preserved, technically and occultly, under the impulse of the powerful will-to-be of the incarnated spiritual man upon the magnetic power of the planetary life, inherent in every atom of the form nature; by means of these atoms-isolated and held by the Law of Attraction in form-he has come into being upon the physical plane. This magnetic power is the expression of the will (if such a word can be applied to the sense of coherency which distinguishes the spirit of the earth) of the planetary entity. It is a projection of his peculiar state of consciousness into an isolated form, created, occupied and indwelt by a soul, by a living man.
Một trong những yếu tố chi phối sự lâm phàm là sự hiện diện của cái gọi là ý chí sống; khi ý chí ấy hiện diện và mạnh mẽ nơi con người, y được neo giữ vững chắc trên cõi hồng trần; khi nó không hiện diện mạnh mẽ hoặc rút đi, con người chết. Về mặt kỹ thuật và huyền môn, sự sống trong thể xác được duy trì nhờ xung lực từ ý chí hiện tồn mạnh mẽ của con người tinh thần đang lâm phàm tác động lên quyền năng từ tính của sự sống hành tinh, vốn có trong mọi nguyên tử của bản chất hình tướng; nhờ những nguyên tử này—được tách biệt và Định luật Hấp Dẫn giữ lại trong hình tướng—y đã hiện hữu trên cõi hồng trần. Quyền năng từ tính này là sự biểu hiện ý chí của thực thể hành tinh (nếu có thể dùng từ ấy cho cảm thức cố kết đặc trưng của tinh linh địa cầu). Đó là sự phóng chiếu trạng thái tâm thức đặc thù của nó vào một hình tướng tách biệt, do một linh hồn, một con người đang sống, tạo ra, chiếm ngụ và cư trú bên trong.
[639]
[639]
I have several times used the expression “isolated form,” for it is this peculiar aspect of isolation which conditions the physical body of a man (or of any living form, for that matter), rendering it detached, coherent and temporarily living its own life in response to the imposition of the livingness of the incarnating soul. Temporarily, the united power of the segregated and isolated atoms—particularly the planetary structure of the spirit of the earth—is in abeyance as regards individual reaction to the planetary life. Only the coherent, magnetic qualities persist in any form of activity and in conjunction with the will-to-live of the spiritual man or of any ensouling entity. This creates a coherent form, held together by two aspects of livingness: that of the spirit of the earth and that of the spiritual man. Therefore-to use words in an effort to arrive at understanding—two aspects of life and two forms of will or purpose are brought together. The higher is evolutionary; the lower is involutionary in nature. It is this which creates the conflict. One type of energy is evolutionary and the other is involutionary. It is these conflicting forces which present the problem of dualism—a dualism of the higher and the lower at many differing and varying stages. The final phase of the conflict is fought out, or rather wrought out, when the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence face each other. It is in that consummating event that the pull or conflict between the involutionary life and the evolutionary life, between the inchoate, magnetic will of the elemental forces (inherent in the atoms of which all three bodies of the personality are made) and the will of the spiritual man, on the verge of liberation from the magnetic control of substance, is brought to the issue. The spirit of the earth has its correspondence in the created expression of the spiritual man; it is to be found in the existence of the personality elemental; this personality [640] elemental can be and frequently is an inchoate force, swayed entirely by desire, and no true personality integration is present; it can, however, be a highly organised and potent factor, producing what is called a high grade personality and an effective instrument for the spiritual man in the three worlds of his evolution. This is followed later by the conflicts upon the Path of Discipleship and the Path of Initiation. Then the livingness of the spiritual man, and his will to manifest divinely, dominate to such an extent that the death of the personality is brought about; this culminates at the time of the third initiation. At that experience the monadic will comes in with such dynamic potency that the will of the elemental lives of the threefold personality is completely negated.
Tôi đã vài lần dùng cách diễn đạt “hình tướng tách biệt”, vì chính phương diện tách biệt đặc thù này tác động lên thể xác con người (hay bất kỳ hình tướng sống nào), khiến nó tách rời, cố kết và tạm thời sống đời sống riêng để đáp ứng với sức sống mà linh hồn đang lâm phàm áp đặt lên nó. Tạm thời, quyền năng hợp nhất của những nguyên tử đã phân ly và tách biệt—đặc biệt là cấu trúc hành tinh của tinh linh địa cầu—được đình chỉ xét về phản ứng riêng lẻ đối với sự sống hành tinh. Chỉ những phẩm tính cố kết, từ tính mới tiếp tục tồn tại trong bất kỳ dạng hoạt động nào và kết hợp với ý chí sống của con người tinh thần hay của bất kỳ thực thể phú linh nào. Điều này tạo ra một hình tướng cố kết, do hai phương diện sức sống giữ lại với nhau: sức sống của tinh linh địa cầu và sức sống của con người tinh thần. Vì vậy—dùng ngôn từ để cố đạt đến sự thấu hiểu—hai phương diện sự sống và hai dạng ý chí hay mục đích được kết hợp với nhau. Phương diện cao hơn mang bản chất thăng thượng tiến hoá; phương diện thấp hơn mang bản chất giáng hạ tiến hoá. Chính điều này tạo ra xung đột. Một loại năng lượng là thăng thượng tiến hoá, còn loại kia là giáng hạ tiến hoá. Chính những mãnh lực xung đột này đặt ra vấn đề nhị nguyên—sự nhị nguyên giữa cao và thấp ở nhiều giai đoạn khác nhau và biến đổi. Giai đoạn cuối của cuộc xung đột diễn ra, hay đúng hơn là đi đến kết quả, khi Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện đối diện nhau. Chính trong sự kiện hoàn tất ấy, sức kéo hay cuộc xung đột giữa sự sống giáng hạ tiến hoá và sự sống thăng thượng tiến hoá, giữa ý chí từ tính chưa thành hình của các mãnh lực hành khí (vốn có trong các nguyên tử cấu tạo nên cả ba thể của phàm ngã) và ý chí của con người tinh thần đang ở ngưỡng giải thoát khỏi sự kiểm soát từ tính của chất liệu, đi đến chỗ quyết định. Tinh linh địa cầu có đối phần tương ứng trong biểu hiện thụ tạo của con người tinh thần; đối phần ấy nằm trong sự tồn tại của hành khí phàm ngã; hành khí phàm ngã [640] này có thể là, và thường là, một mãnh lực chưa thành hình, hoàn toàn chịu sự chi phối của dục vọng, và không có sự tích hợp phàm ngã thực sự nào hiện diện; tuy nhiên, nó cũng có thể là một yếu tố có tổ chức cao và mạnh mẽ, tạo ra cái gọi là một phàm ngã cấp cao và một công cụ hữu hiệu cho con người tinh thần trong ba cõi giới tiến hoá của y. Về sau, tiếp nối điều này là những cuộc xung đột trên Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo. Khi ấy, sức sống của con người tinh thần và ý chí muốn biểu hiện một cách thiêng liêng của y chi phối mạnh đến mức dẫn đến cái chết của phàm ngã; điều này đạt đến đỉnh điểm vào lần điểm đạo thứ ba. Trong kinh nghiệm ấy, ý chí chân thần đi vào với uy lực năng động mạnh đến mức ý chí của các sự sống hành khí thuộc phàm ngã tam phân hoàn toàn bị vô hiệu hóa.
But (to return to our theme) the atomic substance, impregnated with the life of the spirit of the earth and with the driving force of its inchoate will, demonstrates as magnetic power and is constantly in conflict, within the body of manifestation of the informing soul, with the life of the soul. This conflict or friction is the main cause of what you call disease.
Nhưng (để trở lại chủ đề của chúng ta) chất liệu nguyên tử, thấm đẫm sự sống của tinh linh địa cầu và mãnh lực thúc đẩy của ý chí chưa thành hình của nó, biểu lộ thành quyền năng từ tính và không ngừng xung đột với sự sống linh hồn trong thân thể biểu hiện của linh hồn đang thấm nhuần. Cuộc xung đột hay sự ma sát này là nguyên nhân chính của điều các bạn gọi là bệnh tật.
Disease is inharmony; it is the fault of fire by friction; diseased areas are areas of friction wherein the atomic substance is temporarily asserting its own type of livingness and responding (sometimes to the point of death) to the magnetic pull of the will of the spirit of the earth. If that pull proves adequately strong, the friction within the atomic structure, localised in the area of some etheric centre, will be of such a nature that the quality of the disease increases, the life of the spiritual man is slowly or rapidly withdrawn; the desire for existence, the spiritual will-to-he is not then as strong as the will to be reabsorbed—the will of the atoms constituting the physical body; the man, therefore, dies, in the usual sense of the term.
Bệnh tật là sự bất hòa; đó là khiếm khuyết của lửa ma sát; những vùng mắc bệnh là những vùng ma sát, nơi chất liệu nguyên tử tạm thời khẳng định loại sức sống riêng của mình và đáp ứng (đôi khi đến mức gây ra cái chết) với sức hút từ tính của ý chí tinh linh địa cầu. Nếu sức hút ấy tỏ ra đủ mạnh, sự ma sát trong cấu trúc nguyên tử, khu trú tại vùng của một trung tâm dĩ thái nào đó, sẽ mang tính chất khiến phẩm tính của bệnh gia tăng, sự sống của con người tinh thần rút đi chậm hoặc nhanh; bấy giờ, dục vọng tồn tại, ý chí hiện tồn tinh thần, không mạnh bằng ý chí muốn được tái hấp thu—ý chí của những nguyên tử cấu tạo nên thể xác; vì vậy, con người chết, theo nghĩa thông thường của từ này.
[641]
[641]
The planetary life says, “The hour of reabsorption has arrived. Return to me.” The urge to return is at present the dominant note in the substance of the bodies of humanity; it is responsible for the universal ill health which distinguishes the mass of human beings; this tendency has been dominant for centuries; the attitude is, however, slowly changing, and the time will eventually come when the atoms of the bodies, or the elemental forces, will be sent back along the path of reabsorption only at the will of the spiritual man and in response to his express command, and not in response to the magnetic power of the spirit of the earth.
Sự sống hành tinh nói: “Giờ tái hấp thu đã đến. Hãy trở về với ta.” Hiện nay, thôi thúc trở về là âm điệu chủ đạo trong chất liệu của các thân thể nhân loại; nó là nguyên nhân của tình trạng sức khỏe kém phổ biến, đặc trưng cho đông đảo con người; khuynh hướng này đã chi phối suốt nhiều thế kỷ; tuy nhiên, thái độ ấy đang từ từ thay đổi, và cuối cùng sẽ đến lúc các nguyên tử của các thân thể, hay các mãnh lực hành khí, chỉ được đưa trở lại con đường tái hấp thu theo ý chí của con người tinh thần và để đáp ứng mệnh lệnh rõ ràng của y, chứ không phải để đáp ứng quyền năng từ tính của tinh linh địa cầu.
We have seen—as we considered the Laws and Rules to date—that fundamentally, disease and death are due to the withdrawal of solar life (the energy of the soul, sometimes called solar fire) either from some particular area of the physical body or from the entire body. This fact should remind students of the need to distinguish between the force or life of the “lunar lords,” inherent in every atom of which all organs and forms are made, and the energy of the soul which permeates the entire body as an integrating factor. Speaking symbolically, therefore, there are times in which the life of these lunar lords are so dominant that the life of the soul is overpowered in some particular area, and the consequent withdrawal of the solar life produces disease; or-putting it another way-the friction which ensues when the lunar lords are not compliant produces disease. Yet death is not indicative of a full victory of the lunar lords, but rather that under the plan of the soul, and because the life cycle is complete, the energy of the soul is entirely withdrawn, leaving the lunar lords alone. At times (because it is also in the planning of the soul) the lunar lords temporarily are the victors, though death does not follow; convalescence is significant of the gradual re-entry of soul energy and its subsequent control [642] of the lunar lords. This aspect of soul energy is not that of those energies which represent and lead to the expression of soul quality. It is life energy, coming from the Monad which passes through the soul as a channel and medium of contact; its direct channel is, needless to say, the sutratma. It is not the antahkarana, or the creative thread or the thread of consciousness. These are frequently rendered inactive when acute disease is present, and the life aspect is weakening or rapidly or slowly withdrawing itself.
Qua việc xem xét các Định luật và Quy luật cho đến nay, chúng ta đã thấy rằng về cơ bản, bệnh tật và cái chết là do sự rút đi của sự sống thái dương (năng lượng của linh hồn, đôi khi được gọi là lửa thái dương) khỏi một vùng cụ thể nào đó của thể xác hoặc khỏi toàn bộ thể xác. Sự thật này phải nhắc các đạo sinh về sự cần thiết phải phân biệt giữa mãnh lực hay sự sống của các “nguyệt tinh quân”, vốn có trong mọi nguyên tử cấu tạo nên tất cả các cơ quan và hình tướng, với năng lượng linh hồn thấm nhuần toàn bộ cơ thể như một yếu tố tích hợp. Vì vậy, nói theo nghĩa biểu tượng, có những lúc sự sống của các nguyệt tinh quân này chi phối mạnh đến mức lấn át sự sống linh hồn tại một vùng cụ thể, và sự rút đi tiếp theo của sự sống thái dương tạo ra bệnh tật; hoặc—nói cách khác—sự ma sát nảy sinh khi các nguyệt tinh quân không thuận theo tạo ra bệnh tật. Tuy nhiên, cái chết không biểu thị sự chiến thắng hoàn toàn của các nguyệt tinh quân, mà đúng hơn là theo kế hoạch của linh hồn, và vì chu kỳ sống đã hoàn tất, năng lượng linh hồn rút đi hoàn toàn, để các nguyệt tinh quân ở lại một mình. Đôi khi (vì điều này cũng nằm trong sự hoạch định của linh hồn), các nguyệt tinh quân tạm thời chiến thắng, nhưng cái chết không xảy ra; sự hồi phục biểu thị việc năng lượng linh hồn dần trở lại và sau đó kiểm soát [642] các nguyệt tinh quân. Phương diện này của năng lượng linh hồn không thuộc những năng lượng đại diện cho phẩm tính linh hồn và dẫn đến sự biểu hiện phẩm tính ấy. Đó là năng lượng sự sống, đến từ chân thần, đi qua linh hồn như một kênh dẫn và phương tiện tiếp xúc; dĩ nhiên, kênh trực tiếp của nó là sinh mệnh tuyến. Đó không phải là antahkarana, sợi dây sáng tạo hay sợi dây tâm thức. Những sợi dây này thường trở nên bất hoạt khi có bệnh cấp tính, và phương diện sự sống đang suy yếu hoặc rút đi nhanh hay chậm.
You can see, therefore, why it is that those who have succeeded in building the antahkarana, the rainbow bridge between the Monad and the personality, have established a contact (nonexistent in the average man) between the Monad, the Source of Life, and the personality—the expression of that Life in objectivity. The Monad then, and not the soul, controls the cycles of outward expression, and the initiate then dies at will and according to plan or the necessities of the work. This, of course, refers only to initiates of high degree. I felt these points to be interesting and also useful for you to know. Another point, growing out of all the above, indicates the all-inclusiveness of the divine Life, for the lunar lords are aspects of that Life as much as is the energy of the soul.
Vì vậy, các bạn có thể thấy tại sao những người đã thành công trong việc xây dựng antahkarana, cây cầu vồng giữa chân thần và phàm ngã, lại thiết lập được một sự tiếp xúc (không hiện hữu ở người bình thường) giữa chân thần, Nguồn Sự Sống, và phàm ngã—sự biểu hiện khách quan của Sự Sống ấy. Khi đó, chân thần, chứ không phải linh hồn, kiểm soát các chu kỳ biểu hiện ra bên ngoài, và điểm đạo đồ khi ấy chết theo ý muốn, theo kế hoạch hoặc theo những điều cần thiết cho công việc. Dĩ nhiên, điều này chỉ nói đến các điểm đạo đồ cấp cao. Tôi thấy những điểm này thú vị và cũng hữu ích để các bạn biết. Một điểm khác, nảy sinh từ tất cả những điều trên, cho thấy tính bao gồm tất cả của Sự Sống thiêng liêng, vì các nguyệt tinh quân cũng là những phương diện của Sự Sống ấy, như năng lượng linh hồn.
It is therefore of prime importance that cremation should be encouraged, and not the present method of burial. Cremation returns the life of the lunar lords more rapidly to the central reservoir of life than any other method, for “our God is a consuming Fire” and all fires have affinity with the central Fire.
Vì vậy, điều hết sức quan trọng là cần khuyến khích hỏa táng thay cho phương pháp chôn cất hiện nay. Hỏa táng đưa sự sống của các nguyệt tinh quân trở về kho dự trữ sự sống trung tâm nhanh hơn bất kỳ phương pháp nào khác, vì “Thượng đế của chúng ta là Ngọn Lửa thiêu hủy”, và mọi ngọn lửa đều có sự tương hợp với Ngọn Lửa trung tâm.
Let us now study the rule which goes with Law VIII.
Giờ đây, chúng ta hãy nghiên cứu quy luật đi kèm Định luật VIII.
RULE FIVE – QUY LUẬT NĂM
The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient. This is magnetic work. It cures [643] disease or increases the evil state, according to the knowledge of the healer.
Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, trái tim, bộ não và đôi tay của mình. Nhờ đó, y có thể tuôn đổ mãnh lực chữa lành mang sinh lực lên bệnh nhân. Đây là công việc từ tính. Nó chữa lành [643] bệnh tật hoặc làm tình trạng xấu thêm trầm trọng, tùy theo kiến thức của nhà trị liệu.
The healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation. Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not. The soul displays its power. The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, flooded with soul energy.
Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, bộ não, trái tim và sự phát xạ hào quang của mình. Nhờ đó, sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc bức xạ. Không cần đến đôi tay. Linh hồn biểu lộ quyền năng của nó. Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng thông qua sự đáp ứng của hào quang bệnh nhân đối với bức xạ từ hào quang nhà trị liệu, vốn tràn ngập năng lượng linh hồn.
From just casually reading this Rule it will be obvious that its significance is vital to all successful healing work. It sums up the two modes of healing, based on two capacities of the healer, founded on two groups of related aspects in the healer’s personality, and indicating two different points in evolution on the part of the healer. An analysis of this Rule will convey a still greater idea of its importance, for it indicates not only the lines along which the healer must train himself, but also certain interior relationships must be present, and these are dependent upon the point in evolution of the healer. Again, in one case the patient’s physical body is the objective of the healing art, whilst in the other it is the patient’s soul which feels the effect of the healing energy. In the first case the healer works with the prana or vital planetary fluid, and in the other with soul energy.
Chỉ cần đọc lướt Quy luật này cũng thấy rõ rằng thâm nghĩa của nó có tầm quan trọng thiết yếu đối với mọi công việc chữa lành thành công. Nó tóm lược hai phương thức chữa lành, dựa trên hai năng lực của nhà trị liệu, đặt nền tảng trên hai nhóm phương diện có liên hệ với nhau trong phàm ngã của nhà trị liệu, và chỉ ra hai điểm tiến hoá khác nhau của nhà trị liệu. Việc phân tích Quy luật này sẽ giúp nhận thức rõ hơn nữa tầm quan trọng của nó, vì nó không chỉ chỉ ra những hướng mà nhà trị liệu phải tự rèn luyện, mà còn cho thấy phải có một số mối quan hệ nội tại nhất định, và những mối quan hệ ấy tùy thuộc vào điểm tiến hoá của nhà trị liệu. Một lần nữa, trong một trường hợp, thể xác của bệnh nhân là đối tượng của nghệ thuật chữa lành, còn trong trường hợp kia, chính linh hồn bệnh nhân cảm nhận tác động của năng lượng chữa lành. Trong trường hợp thứ nhất, nhà trị liệu làm việc với prana hay lưu chất sinh lực hành tinh, còn trong trường hợp kia, với năng lượng linh hồn.
We can therefore, on the basis of this Rule, divide healers into two groups: one group wielding the vital etheric fluid which we call prana, and the second group working on a much higher level and employing an ability to draw down soul energy into the body (or rather, the personality) of the healer and—from the required centre—to send it forth again into the appropriate centre in the patient’s body, but this time through the stimulation of the patient’s aura controlled by the patient’s soul. The two types of energy are of a widely different quality, for one is purely of the personality and is sometimes called animal magnetism, [644] and the other is of the soul, involving a type of work called radiation.
Vì vậy, dựa trên Quy luật này, chúng ta có thể chia các nhà trị liệu thành hai nhóm: một nhóm vận dụng lưu chất dĩ thái mang sinh lực mà chúng ta gọi là prana, và nhóm thứ hai hoạt động ở một cấp độ cao hơn nhiều, sử dụng khả năng kéo năng lượng linh hồn xuống cơ thể (hay đúng hơn là phàm ngã) của nhà trị liệu, rồi—từ trung tâm cần thiết—lại phát năng lượng ấy vào trung tâm thích hợp trong cơ thể bệnh nhân, nhưng lần này thông qua việc kích thích hào quang của bệnh nhân do linh hồn bệnh nhân kiểm soát. Hai loại năng lượng này có phẩm tính rất khác nhau, vì một loại hoàn toàn thuộc phàm ngã và đôi khi được gọi là từ điện động vật, [644] còn loại kia thuộc linh hồn, bao hàm một loại công việc gọi là bức xạ.
It should be noted here that in reality we have three types of healers:
Ở đây cần lưu ý rằng trên thực tế, chúng ta có ba loại nhà trị liệu:
1. The healer who works purely through magnetism and brings to bear the healing vital life of the planetary etheric body as it uses his individual etheric body as a channel whereby prana can pour into the vital body of the patient.
1. Nhà trị liệu hoạt động hoàn toàn qua từ điện và vận dụng sự sống mang sinh lực chữa lành của thể dĩ thái hành tinh, khi sự sống ấy dùng thể dĩ thái cá nhân của y làm kênh để prana có thể tuôn vào thể sinh lực của bệnh nhân.
2. The healer who works on a higher level, and necessarily therefore with a higher type of patient; he uses the energy of his own overshadowing soul in conjunction with the energy of his individualised soul, and thereby radiates it forth into the soul of the patient, via both of the auras.
2. Nhà trị liệu hoạt động ở một cấp độ cao hơn, và do đó tất yếu làm việc với một loại bệnh nhân cao hơn; y sử dụng năng lượng của chính linh hồn đang phủ bóng mình kết hợp với năng lượng của linh hồn đã biệt ngã hóa của mình, qua đó bức xạ năng lượng ấy vào linh hồn bệnh nhân thông qua cả hai hào quang.
3. The healer who can employ both techniques and whose range of contacts and possibilities of usefulness are far greater than the other two. He can employ with equal facility the energy of the soul or the vital pranic force, and has therefore mastered the two techniques which govern the two sets of related faculties. This class of healer is much rarer than the other two.
3. Nhà trị liệu có thể sử dụng cả hai kỹ thuật, với phạm vi tiếp xúc và khả năng hữu ích lớn hơn nhiều so với hai loại kia. Y có thể sử dụng năng lượng linh hồn hay mãnh lực sinh lực prana với sự dễ dàng như nhau, và do đó đã làm chủ hai kỹ thuật chi phối hai tập hợp năng lực có liên hệ với nhau. Loại nhà trị liệu này hiếm hơn nhiều so với hai loại kia.
At present, in the modern world, there is no true system of spiritual healing taught to would-be healers. There is instead an effort to base the whole procedure, plus the techniques employed, on purely mental levels, on systems of affirmation, modes of prayer, stimulation of the patient’s will-to-live, and occasionally the use of magnetic or hypnotic passes in relation to the etheric body: various forms of applied subjective thinking are taught, but no true formula for an intelligent and expected cure, only the vague faith of the healer and of the patient and a blind autosuggestion [645] as to what the recognition and affirmation of divinity ought to produce.
Hiện nay, trong thế giới hiện đại, chưa có hệ thống chữa lành tinh thần đích thực nào được giảng dạy cho những người muốn trở thành nhà trị liệu. Thay vào đó là nỗ lực đặt toàn bộ quy trình, cùng các kỹ thuật được sử dụng, trên những cấp độ thuần túy trí tuệ, trên các hệ thống khẳng định, các phương thức cầu nguyện, việc kích thích ý chí sống của bệnh nhân, và đôi khi sử dụng những động tác lướt tay từ tính hoặc thôi miên liên quan đến thể dĩ thái: người ta giảng dạy nhiều dạng tư duy chủ quan được ứng dụng, nhưng không có công thức đích thực nào cho một sự chữa lành có cơ sở hiểu biết và có thể trông đợi, mà chỉ có đức tin mơ hồ của nhà trị liệu và bệnh nhân, cùng sự tự ám thị mù quáng [645] về điều mà việc nhận biết và khẳng định thiên tính lẽ ra phải tạo ra.
True healing, however, is based on certain broad principles which require definite mental acceptance; the methods, nevertheless, which are employed are as definitely physical, using the etheric currents and the centres in the etheric body, as the laying on of hands and the establishing of relations which affect the physical body, and which are not at all of a mental nature and do not require to be appropriated and held by the mind of the patient. The etheric body is physical in nature, and this must not be forgotten and needs frequent reiteration. As we have earlier seen, there are three basic principles, affirmed and believed by the healer who is greatly aided if the patient accepts them also:
Tuy nhiên, sự chữa lành đích thực dựa trên một số nguyên tắc bao quát, đòi hỏi sự chấp nhận rõ ràng về mặt trí tuệ; dù vậy, các phương pháp được sử dụng cũng mang tính hồng trần rõ rệt, vận dụng các dòng dĩ thái và các trung tâm trong thể dĩ thái, như việc đặt tay và thiết lập những mối quan hệ tác động đến thể xác; chúng hoàn toàn không mang bản chất trí tuệ và không đòi hỏi thể trí bệnh nhân phải tiếp nhận và nắm giữ. Thể dĩ thái có bản chất hồng trần; không được quên điều này và cần thường xuyên nhắc lại. Như chúng ta đã thấy trước đây, có ba nguyên tắc cơ bản mà nhà trị liệu khẳng định và tin tưởng; nếu bệnh nhân cũng chấp nhận chúng thì nhà trị liệu sẽ được hỗ trợ rất nhiều:
1. There is no reality in separation. The planetary etheric body is a whole, unbroken and continuous; of this etheric body, those of the healer and the patient are integral, intrinsic parts.
1. Không có thực tại trong sự chia rẽ. Thể dĩ thái hành tinh là một toàn thể, không đứt đoạn và liên tục; thể dĩ thái của nhà trị liệu và của bệnh nhân là những phần nội tại, không thể tách rời của thể dĩ thái này.
2. There is an unbreakable (though probably unrealised) relationship between the healer’s etheric body and that of the patient, which can be used when once contact has been induced, for a definite circulation of energies.
2. Có một mối quan hệ không thể phá vỡ (dù có lẽ chưa được nhận biết) giữa thể dĩ thái của nhà trị liệu và thể dĩ thái của bệnh nhân; một khi đã thiết lập sự tiếp xúc, có thể sử dụng mối quan hệ này để tạo nên một sự lưu chuyển năng lượng xác định.
3. The channels of relationship can be conductors of many different types of energy, transmitted by the healer to the patient. In this fact lies both hope and danger.
3. Các kênh liên hệ có thể dẫn truyền nhiều loại năng lượng khác nhau từ nhà trị liệu đến bệnh nhân. Chính trong sự kiện này có cả hy vọng lẫn nguy hiểm.
There are other principles, but in connection with this Rule these three are essential and explanatory. Much consequently depends upon the knowledge, the understanding and the perceptiveness of the healer. The danger in both radiatory healing and magnetic healing consists in the fact that [646] where there is no trained healer, the amount of prana brought in or of soul energy distributed may produce death, as well as life. A healer may charge his etheric body with so much prana and project it so violently into the etheric body of the patient that he may do far more harm than good. Only long practice can teach the healer the right amount of energy to emit, and to learn this he would do well to use as little energy as possible, gradually increasing the quantity as he attains skill in action. Speaking in a broad and general way, and with the reminder that there are many exceptions to all rules, the magnetic healer will work with less developed people than will the spiritual healer using soul radiation, and he will deal primarily with those diseases which are found below the diaphragm. Spiritual healers work primarily with the upper part of the body, through the centres above the diaphragm and with the head centre, thereby controlling all centres in the entire body. Their work is most delicate and subtle and involves far greater risks. The true healer who is an initiate employs both methods with equal facility.
Còn có những nguyên khí khác, nhưng trong mối liên hệ với quy luật này, ba nguyên khí trên là thiết yếu và có tác dụng giải thích. Do đó, rất nhiều điều tùy thuộc vào tri thức, sự thấu hiểu và khả năng nhận biết tinh tế của nhà trị liệu. Mối nguy hiểm trong cả chữa lành bằng bức xạ lẫn chữa lành bằng từ tính nằm ở chỗ [646] khi không có một nhà trị liệu được đào tạo, lượng prana đưa vào hoặc năng lượng linh hồn phân phối ra có thể gây ra cái chết cũng như đem lại sự sống. Một nhà trị liệu có thể nạp vào thể dĩ thái của mình quá nhiều prana và phóng chiếu nó quá mãnh liệt vào thể dĩ thái của bệnh nhân, đến mức gây hại nhiều hơn mang lại lợi ích. Chỉ sự thực hành lâu dài mới có thể dạy nhà trị liệu lượng năng lượng thích hợp cần phát ra; để học được điều này, y nên sử dụng càng ít năng lượng càng tốt, rồi tăng dần lượng ấy khi đạt được kỹ năng trong hành động. Nói một cách khái quát, đồng thời nhắc rằng mọi quy luật đều có nhiều ngoại lệ, nhà trị liệu bằng từ tính sẽ làm việc với những người kém phát triển hơn so với những người mà nhà trị liệu tinh thần sử dụng bức xạ linh hồn chữa trị, và y sẽ chủ yếu xử lý những bệnh nằm dưới cơ hoành. Các nhà trị liệu tinh thần chủ yếu làm việc với phần trên của cơ thể, thông qua các trung tâm phía trên cơ hoành và trung tâm đầu, qua đó kiểm soát mọi trung tâm trong toàn bộ cơ thể. Công việc của họ hết sức tinh tế và vi tế, đồng thời chứa đựng những rủi ro lớn hơn nhiều. Nhà trị liệu chân chính là một điểm đạo đồ sử dụng cả hai phương pháp thành thạo như nhau.
It is interesting, though not particularly useful to you, to point out that there are two other classes of healers who are sometimes found. They work quite differently to either of the methods mentioned above. They are:
Một điều thú vị, dù không đặc biệt hữu ích đối với các bạn, là đôi khi còn gặp hai nhóm nhà trị liệu khác. Họ làm việc hoàn toàn khác với cả hai phương pháp vừa nêu. Đó là:
1. Certain healers—few and far between—who have set up a relation with the spirit of the earth, the Ruler of all the lunar lords. Under certain formulas and given a certain amount of practice, these healers can invoke his aid and—in fact—command it. I do not advise any interested student to ponder overmuch along this line or to endeavour to set up a contact or to invoke his aid. Only initiates of high degree can deal safely with this powerful involutionary Elemental; they do so [647] only in connection with epidemics and international catastrophes such as the world war, in which thousands and thousands of bodies were involved. An individual not highly developed who endeavoured to establish rapport would probably only succeed in stimulating the lunar lords of his own little system to such an extent that his lower nature would be unduly energised—sometimes even to the point of death.
1. Một số nhà trị liệu—rất hiếm hoi—đã thiết lập mối quan hệ với tinh linh địa cầu, Đấng Cai Quản mọi nguyệt tinh quân. Với một số công thức nhất định và sau một mức độ thực hành nhất định, những nhà trị liệu này có thể khẩn cầu sự trợ giúp của vị ấy và—thực ra—ra lệnh cho vị ấy trợ giúp. Tôi không khuyên bất kỳ đạo sinh nào quan tâm đến điều này suy ngẫm quá nhiều theo hướng ấy, hoặc cố gắng thiết lập sự tiếp xúc hay khẩn cầu sự trợ giúp của vị ấy. Chỉ các điểm đạo đồ cấp cao mới có thể giao tiếp an toàn với hành khí giáng hạ tiến hoá đầy quyền năng này; Các Ngài chỉ làm vậy [647] trong mối liên hệ với dịch bệnh và những thảm họa quốc tế như cuộc thế chiến, trong đó hàng ngàn hàng vạn thân thể bị cuốn vào. Một cá nhân chưa phát triển cao cố gắng thiết lập sự tương thông có lẽ chỉ thành công trong việc kích thích các nguyệt tinh quân thuộc hệ thống nhỏ bé của chính mình đến mức bản chất thấp của y được tiếp năng lượng quá độ—đôi khi thậm chí dẫn đến cái chết.
2. Other healers, not as few as in the above group but relatively few, work in cooperation with a healing deva. Such devas exist and have the power of bestowing life. They are to the involutionary lunar lords what the great Lives at Shamballa are to us. They are not a menace to humanity but are not readily reached, except at a certain stage upon the Path where, symbolically speaking, a door or point of contact exists between the two evolutions, for the devas are not upon the involutionary arc. Relations are established through affinity, but this can be brought about only by the deva and not by the healer. If the healer is very advanced, his Master may instruct one of the serving devas to aid him. Only healers of great purity and of completely selfless motive can attract these angels, and when they do, the potency of their healing is much greater; they make fewer mistakes. They do not, for instance, attempt to heal patients for whom there is no healing possibility. The Angel of Death (and this time I am not speaking symbolically but am referring to an existing deva) will not permit a healing deva to collaborate: they are only permitted to approach where healing is indicated.
2. Những nhà trị liệu khác, không hiếm như nhóm trên nhưng vẫn tương đối ít, làm việc trong sự hợp tác với một thiên thần chữa lành. Những thiên thần như vậy có tồn tại và có quyền năng ban sự sống. Đối với các nguyệt tinh quân giáng hạ tiến hoá, các vị ấy có vai trò tương tự như các Sự Sống vĩ đại tại Shamballa đối với chúng ta. Các vị ấy không phải là mối đe dọa đối với nhân loại, nhưng không dễ tiếp cận, ngoại trừ ở một giai đoạn nhất định trên Đường Đạo, nơi mà, nói theo nghĩa biểu tượng, có một cánh cửa hay điểm tiếp xúc giữa hai dòng tiến hoá, vì các thiên thần không ở trên vòng cung giáng hạ tiến hoá. Các mối quan hệ được thiết lập qua sự tương hợp, nhưng chỉ thiên thần mới có thể tạo nên điều này, chứ không phải nhà trị liệu. Nếu nhà trị liệu đã tiến hóa rất cao, Chân sư của y có thể chỉ thị cho một trong những thiên thần phụng sự trợ giúp y. Chỉ những nhà trị liệu hết sức thanh khiết và có động cơ hoàn toàn vô ngã mới có thể thu hút những thiên thần này; khi làm được như vậy, năng lực chữa lành của họ lớn hơn nhiều và họ ít mắc sai lầm hơn. Chẳng hạn, họ không cố chữa lành những bệnh nhân không còn khả năng chữa lành. Thiên Thần Chết (và lần này Tôi không nói theo nghĩa biểu tượng mà đang đề cập đến một thiên thần thực sự tồn tại) sẽ không cho phép một thiên thần chữa lành cộng tác: các vị ấy chỉ được phép đến gần khi có dấu hiệu cho thấy việc chữa lành là thích hợp.
We might now take the sentences in this Rule and study their meaning, as there are more significances in them than appear upon the surface. The first sentence in each [648] paragraph of this Rule starts with an important injunction to the healer:
Giờ đây, chúng ta có thể xem xét các câu trong quy luật này và nghiên cứu ý nghĩa của chúng, vì chúng chứa đựng nhiều thâm nghĩa hơn những gì thể hiện trên bề mặt. Câu đầu tiên trong mỗi [648] đoạn của quy luật này đều bắt đầu bằng một huấn lệnh quan trọng dành cho nhà trị liệu:
The healer must seek to link his soul, his heart, his brain and his hands. Thus can he pour the vital healing force upon the patient.
Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, trái tim, bộ não và đôi tay của mình. Nhờ đó, y có thể tuôn đổ mãnh lực chữa lành mang sinh lực lên bệnh nhân.
This is the technique of the lowest type of true spiritual healer, and for this reason two of the aspects of the dense physical body are included: the brain and the hands. The healer works, therefore, through a triangle and two lines of energy. The situation can be depicted in the following diagram:
Đây là kỹ thuật của nhà trị liệu tinh thần chân chính thuộc cấp thấp nhất, và vì lý do này, hai phương diện của thể xác đậm đặc được đưa vào: bộ não và đôi tay. Do đó, nhà trị liệu làm việc thông qua một tam giác và hai đường năng lượng. Tình huống này có thể được mô tả trong sơ đồ sau:
The triangle is completed when the healing work is done and the energy is withdrawn from the hands to the brain again and from thence returned by an act of the will to the soul. When the healer (through practiced alignment) has linked up with his soul, he then draws the soul energy down into his heart centre, from whence he transfers it to the brain, where it is definitely focussed using the ajna centre as a distributing centre, he then uses his hands as the agency through which the directed energy can reach that area in the patient’s body where the seat of the trouble is to be found. He passes the energy into the patient’s approximate centre which governs the distressed area, from which it [649] permeates the surrounding part of the body, penetrating both to the centre of the trouble and to the limits of the distressed area.
Tam giác hoàn tất khi công việc chữa lành kết thúc và năng lượng rút từ đôi tay trở lại bộ não, rồi từ đó trở về linh hồn qua một hành động của ý chí. Khi nhà trị liệu đã nối kết với linh hồn mình (qua sự chỉnh hợp được thực hành thuần thục), y kéo năng lượng linh hồn xuống trung tâm tim, từ đó chuyển dịch nó đến bộ não, nơi năng lượng tập trung rõ rệt nhờ sử dụng trung tâm ajna làm trung tâm phân phối; sau đó, y dùng đôi tay làm phương tiện để năng lượng được định hướng có thể đến vùng cơ thể bệnh nhân nơi có ổ bệnh. Y đưa năng lượng vào trung tâm gần ổ bệnh của bệnh nhân, vốn chi phối vùng bị bệnh; từ đó, năng lượng [649] thấm khắp phần cơ thể xung quanh, thâm nhập cả vào ổ bệnh lẫn đến ranh giới của vùng bị bệnh.
There are two ways in which he uses his hands, and two methods which he employs:
Có hai cách y sử dụng đôi tay, và hai phương pháp y áp dụng:
1. The laying on of hands. This method is employed when the diseased area is strictly localised. The hands are laid on the centre in spine or head which may govern that area—the right hand being laid upon the spinal centre and the left hand on the part of the body immediately in front of the special area and over the part of the abdomen, chest or head in which the patient complains of distress. They are held in this position as long as the healer can hold the triangle of soul, heart and brain clearly in consciousness.
1. Đặt tay. Phương pháp này được sử dụng khi vùng bị bệnh khu trú rõ rệt. Hai tay được đặt lên trung tâm ở cột sống hoặc đầu có thể chi phối vùng ấy—tay phải đặt lên trung tâm cột sống và tay trái đặt lên phần cơ thể ngay phía trước vùng đặc biệt ấy, phủ trên phần bụng, ngực hoặc đầu nơi bệnh nhân than phiền là khó chịu. Hai tay được giữ ở vị trí này chừng nào nhà trị liệu còn có thể giữ rõ ràng trong tâm thức tam giác linh hồn, tim và bộ não.
2. The use of the hands in action. Here the healer, having ascertained the difficulty and then located the needed centre up the spine or in the head, creates a circulation of energy (through the action of his hands) through the centre in the patient’s body controlling the distressed area, and thence outwards through that area towards himself. He uses the right hand first, holding it momentarily over the diseased organ or area and slowly withdraws it towards himself; he follows this rapidly with the left hand which works in the same manner. Both hands, you will note, are now being used positively. No part or aspect of the healer’s body or bodies is ever permitted to be negative, and the fiction that the right hand is positive and the left hand is negative will have to be discarded. If one hand was negative, the healer would be liable to absorb into himself those diseased atoms which, when successful, he draws out of the area of distress. These do not respond to the action of his [650] hands through the medium of the centre in the patient’s body nearest to the seat of trouble, but are drawn out through the area which has responded to the disease.
2. Sử dụng đôi tay trong chuyển động. Ở đây, sau khi xác định vấn đề và định vị trung tâm cần thiết dọc cột sống hoặc trong đầu, nhà trị liệu tạo ra một sự lưu chuyển năng lượng (qua chuyển động của đôi tay) đi qua trung tâm trong cơ thể bệnh nhân kiểm soát vùng bị bệnh, rồi từ đó đi ra ngoài qua vùng ấy về phía mình. Y dùng tay phải trước, giữ tay trong chốc lát phía trên cơ quan hoặc vùng bị bệnh rồi từ từ rút tay về phía mình; ngay sau đó, y nhanh chóng tiếp nối bằng tay trái với động tác tương tự. Các bạn sẽ lưu ý rằng lúc này cả hai tay đều được sử dụng theo cực dương. Không bao giờ được để bất kỳ phần hay phương diện nào của thân thể hoặc các thể phàm ngã của nhà trị liệu mang tính âm, và phải loại bỏ quan niệm sai lầm cho rằng tay phải mang tính dương còn tay trái mang tính âm. Nếu một tay mang tính âm, nhà trị liệu có nguy cơ hấp thu vào mình những nguyên tử bị bệnh mà, khi thành công, y rút ra khỏi vùng bị bệnh. Những nguyên tử này không đáp ứng với tác động của [650] đôi tay y thông qua trung tâm trong cơ thể bệnh nhân gần ổ bệnh nhất, mà được rút ra qua vùng đã đáp ứng với bệnh tật.
In the first case, through the laying on of hands, of silent hands, of quiet hands, the energy flow is between the two hands, back and forth within the diseased area; the spinal centre is used all the time, and the activity set up, when successful, burns up and absorbs the forces causing the trouble without penetrating the body of the healer. In the second case, the forces are withdrawn by the action of the energy passing through the hands, applied one after the other in a regular time rhythm. They pass through the hands, but are unable to focus themselves there, owing to the concentration of the healing energies within the hands.
Trong trường hợp thứ nhất, qua việc đặt tay, với đôi tay im lặng, tĩnh tại, dòng năng lượng lưu chuyển qua lại giữa hai tay bên trong vùng bị bệnh; trung tâm cột sống được sử dụng suốt thời gian ấy, và hoạt động được thiết lập, khi thành công, thiêu hủy và hấp thu các mãnh lực gây bệnh mà không thâm nhập vào cơ thể nhà trị liệu. Trong trường hợp thứ hai, các mãnh lực được rút ra nhờ tác động của năng lượng đi qua hai tay, lần lượt sử dụng từng tay theo một nhịp thời gian đều đặn. Chúng đi qua hai tay nhưng không thể tập trung tại đó, do các năng lượng chữa lành tập trung bên trong hai tay.
Healers on the second, third and fifth rays use more generally the mode of laying on of hands or magnetic healing. This term applies to the direct act of laying on of hands upon the patient’s physical body, and not to the action of the hands in the second method, when the hands are immersed in the etheric body of the patient and are definitely working in etheric matter. Healers on the first, fourth and seventh rays use the mode of “hand immersion,” as it is sometimes called. The sixth ray healer is rare and is successful only when highly developed; he will then use both methods interchangeably. All spiritually advanced healers use both hands. Healers are, however, advised first of all to ascertain their ray, and then to perfect themselves in the type or mode of healing best suited to that ray; then, when adequately efficient and able to use facility and skill, they can add the mode of healing which is not so adaptable to their ray type. People on the sixth ray are advised to abstain from the healing art until they have arrived (consciously) at the [651] initiate stage. When both modes of magnetic healing have been mastered, the healer may employ both alternately in the act of healing, or he may use the mode of magnetic passes first so as to set up a changed activity in the diseased area, and then finally use a definite laying on of hands.
Các nhà trị liệu thuộc cung hai, cung ba và cung năm thường sử dụng cách đặt tay, hay chữa lành bằng từ tính, nhiều hơn. Thuật ngữ này chỉ hành động trực tiếp đặt tay lên thể xác bệnh nhân, chứ không chỉ hoạt động của đôi tay trong phương pháp thứ hai, khi hai tay chìm trong thể dĩ thái của bệnh nhân và thực sự làm việc trong vật chất dĩ thái. Các nhà trị liệu thuộc cung một, cung bốn và cung bảy sử dụng cách đôi khi được gọi là “nhúng tay”. Nhà trị liệu cung sáu rất hiếm và chỉ thành công khi đã phát triển cao; khi ấy, y sẽ luân phiên sử dụng cả hai phương pháp. Mọi nhà trị liệu tiến bộ về tinh thần đều sử dụng cả hai tay. Tuy nhiên, trước hết, các nhà trị liệu nên xác định cung của mình, rồi hoàn thiện bản thân trong loại hay cách chữa lành phù hợp nhất với cung ấy; sau đó, khi đã đủ năng lực và có thể vận dụng thành thạo, khéo léo, họ có thể bổ sung cách chữa lành ít thích hợp hơn với loại cung của mình. Những người thuộc cung sáu nên tránh thực hành nghệ thuật chữa lành cho đến khi họ đạt đến giai đoạn [651] điểm đạo đồ một cách có ý thức. Khi đã làm chủ cả hai cách chữa lành bằng từ tính, nhà trị liệu có thể luân phiên sử dụng cả hai trong khi chữa lành, hoặc trước tiên sử dụng cách đưa tay truyền từ tính để tạo ra một hoạt động đã biến đổi trong vùng bị bệnh, rồi cuối cùng thực hiện việc đặt tay rõ rệt.
At the close of the healing period the “sealing of the triangle” takes place. The energy, hitherto passing into the hands through the ajna centre from the brain, is withdrawn into the ajna centre, and from thence directed—by an act of the will—to the soul. The healing force is literally “turned off” and redirected; it is no longer available.
Khi kết thúc thời gian chữa lành, việc “niêm kín tam giác” diễn ra. Năng lượng trước đó đi từ bộ não qua trung tâm ajna vào hai tay được rút về trung tâm ajna, rồi từ đó hướng về linh hồn qua một hành động của ý chí. Mãnh lực chữa lành được “ngắt” theo nghĩa đen và chuyển hướng; nó không còn sẵn để sử dụng nữa.
During the entire period of healing the healer says nothing. He is making no affirmation and uses no healing mantram. The process outlined here is that of the effect of energy or soul potency playing upon force. This is a point to be emphasised. The task of the healer is to preserve an attitude of intense concentration upon the triangle “existing in living lines of energy” (as it has been called) within his own fourfold aura-health aura, etheric body, astral body and mental body. This he must preserve intact and stable for the entire period of healing. Soul-heart-brain must be linked in such a “lighted” manner that a true clairvoyant would see a brilliant triangle in the healer’s aura; the highest point of the triangle (that of the soul) he might fail to see unless he were himself highly developed, but he could not fail to see the signs of it in the inflaming energy to the heart and from the heart to the brain. The work done is silent work. There is therefore no loss of power at any time, as there always is through the spoken word or affirmation. It is not possible to hold the triangle geometrically correct and magnetically polarised if there is any sound made by the healer. This presupposes an advanced stage of alignment and of concentration and will [652] indicate to you some of the lines along which the healer’s training should go.
Trong suốt thời gian chữa lành, nhà trị liệu không nói gì. Y không đưa ra lời khẳng định nào và không sử dụng mantram chữa lành nào. Tiến trình được phác thảo ở đây là tác động của năng lượng hay năng lực linh hồn lên mãnh lực. Đây là một điểm cần nhấn mạnh. Nhiệm vụ của nhà trị liệu là duy trì thái độ tập trung mãnh liệt vào tam giác “tồn tại trong những đường năng lượng sống động” (như người ta đã gọi) bên trong hào quang tứ phân của chính y—hào quang sức khỏe, thể dĩ thái, thể cảm dục và thể trí. Y phải giữ tam giác này nguyên vẹn và ổn định trong suốt thời gian chữa lành. Linh hồn–tim–bộ não phải được nối kết theo cách “sáng rực” đến mức một nhà thông nhãn chân chính sẽ thấy một tam giác chói sáng trong hào quang nhà trị liệu; nhà thông nhãn có thể không thấy điểm cao nhất của tam giác (điểm của linh hồn), trừ khi chính người ấy đã phát triển cao, nhưng không thể không thấy những dấu hiệu của điểm ấy trong năng lượng bừng sáng đi đến tim và từ tim đến bộ não. Công việc được thực hiện là công việc im lặng. Do đó, không có sự mất mát quyền năng vào bất cứ lúc nào, như vẫn luôn xảy ra qua lời nói hay lời khẳng định. Không thể giữ tam giác đúng về mặt hình học và phân cực từ tính nếu nhà trị liệu phát ra bất kỳ âm thanh nào. Điều này đòi hỏi một giai đoạn chỉnh hợp và tập trung cao, đồng thời sẽ [652] chỉ cho các bạn một số hướng cần theo đuổi trong việc đào tạo nhà trị liệu.
This mode of healing “cures disease or increases the evil state, according to the knowledge of the healer.” In some respects (though this is a stage of healing which is not the highest) it is nevertheless the one most responsible because, in the case of radiatory healing, the soul of the patient is working in cooperation with the healer and it is the soul then which has the major responsibility. In magnetic healing, the healer needs to cooperate closely with the patient’s physician or surgeon dealing with the case; he will supply the technical knowledge, and thus prevent the healer from making mistakes.
Cách chữa lành này “chữa khỏi bệnh hoặc làm tình trạng xấu gia tăng, tùy theo tri thức của nhà trị liệu”. Theo một vài phương diện (dù đây chưa phải là giai đoạn chữa lành cao nhất), cách này vẫn đòi hỏi trách nhiệm lớn nhất, bởi trong trường hợp chữa lành bằng bức xạ, linh hồn bệnh nhân đang hợp tác với nhà trị liệu, và khi ấy chính linh hồn chịu trách nhiệm chủ yếu. Trong chữa lành bằng từ tính, nhà trị liệu cần hợp tác chặt chẽ với bác sĩ hoặc bác sĩ phẫu thuật đang điều trị cho bệnh nhân; vị bác sĩ ấy sẽ cung cấp kiến thức chuyên môn, nhờ đó ngăn nhà trị liệu mắc sai lầm.
Where death is definitely indicated and the “signs of death” are noted by both the doctor and the healer, the healer has not need to stop his work. By continuing it, he may increase the evil condition, but will nevertheless be aiding the patient by hastening normally the act of dying. The old proverb is basically not true in all cases, that “where there is life there is hope.” Life can and often is prolonged alter the will of the soul is towards the withdrawal of the soul life; the life of the atoms of the lunar lords can be fostered for a long time, and this greatly distresses the spiritual man who is aware of the process and the intent of his soul. What is kept alive is the physical body, but the interest of the true man is no longer focussed there.
Khi cái chết đã được xác định rõ và cả bác sĩ lẫn nhà trị liệu đều ghi nhận những “dấu hiệu của cái chết”, nhà trị liệu không cần ngừng công việc. Bằng cách tiếp tục, y có thể làm tình trạng xấu gia tăng, nhưng vẫn trợ giúp bệnh nhân bằng cách thúc đẩy tiến trình chết diễn ra bình thường. Về căn bản, câu tục ngữ xưa “còn sống là còn hy vọng” không đúng trong mọi trường hợp. Sự sống có thể, và thường được, kéo dài sau khi ý chí của linh hồn đã hướng đến việc rút sự sống linh hồn đi; sự sống của các nguyên tử thuộc các nguyệt tinh quân có thể được nuôi dưỡng trong một thời gian dài, và điều này gây đau khổ lớn cho con người tinh thần, vốn nhận biết tiến trình cùng ý định của linh hồn mình. Điều được giữ cho sống là thể xác, nhưng sự quan tâm của con người chân thực không còn tập trung ở đó nữa.
There inevitably comes a point, for instance in the case of malignant disease, where the physician knows that it simply is a question of time, and the spiritual healer can learn to recognise the same signs. Then, instead of the present silence on the part of both healer and doctor, where the patient is concerned, this remaining time will be employed (if the patient’s faculties permit) with due preparation or the “beneficent and happy withdrawal” of the soul; the patient’s [653] family and friends will share in the preparation. In the early stages of the new world religion, this attitude towards death will be inculcated. An entirely new concept of death, with the emphasis upon conscious withdrawal, will be taught, and funeral services, or rather the crematory services, will be joyous events because their emphasis will be upon release and return.
Chắc chắn sẽ đến một thời điểm, chẳng hạn trong trường hợp bệnh ác tính, khi bác sĩ biết rằng đó chỉ còn là vấn đề thời gian, và nhà trị liệu tinh thần có thể học cách nhận biết những dấu hiệu tương tự. Khi ấy, thay cho sự im lặng hiện nay của cả nhà trị liệu lẫn bác sĩ đối với bệnh nhân, thời gian còn lại này sẽ được sử dụng (nếu các năng lực của bệnh nhân cho phép) để chuẩn bị chu đáo cho “sự rút lui tốt lành và hạnh phúc” của linh hồn; gia đình và bạn bè của bệnh nhân [653] sẽ cùng tham gia chuẩn bị. Trong những giai đoạn đầu của tôn giáo thế giới mới, thái độ này đối với cái chết sẽ được khắc sâu. Một quan niệm hoàn toàn mới về cái chết, nhấn mạnh sự rút lui có ý thức, sẽ được giảng dạy; các lễ tang, hay đúng hơn là lễ hỏa táng, sẽ là những sự kiện hoan hỉ vì chúng nhấn mạnh sự giải thoát và trở về.
The magnetic work, however, will cure if the patient’s destiny indicates it, if the soul intends to prolong the life cycle unexpectedly in order to fulfill some duty, or if the patient is very far advanced spiritually and the Hierarchy requires his services for a longer term.
Tuy nhiên, công việc từ tính sẽ chữa khỏi bệnh nếu vận mệnh của bệnh nhân cho phép, nếu linh hồn có ý định kéo dài chu kỳ sống một cách bất ngờ để hoàn thành một bổn phận nào đó, hoặc nếu bệnh nhân đã tiến bộ rất xa về tinh thần và Thánh đoàn cần sự phụng sự của y trong thời gian dài hơn.
Let us now consider radiatory healing.
Giờ đây, chúng ta hãy xem xét việc chữa lành bằng bức xạ.
We shall now be dealing with a very different situation than that of the one we have just been considering. In radiatory healing, the patient (either consciously or unconsciously) is working with the healer and is cooperating with him. The basic premise in radiatory healing is that the patient is a person who has, at least to some degree, established rapport with his soul. This having been brought about, the healer knows that a channel of contact can be counted upon and that the soul interest can be evoked in its representative, the man upon the physical plane. He knows also that success in radiatory healing is dependent, to a great extent, upon the ability of his own soul to establish a firm relation with the soul of the patient. When the patient is conscious and able to cooperate, the work is greatly helped; according to the healer’s capacity to avail himself of alignment and recognised contact will be the quality of the aid he will be able to give to the one who needs his assistance. When the patient is unconscious, even that provides no real hindrance, provided the healer can bring his soul and the patient’s soul into relationship; in [654] fact in some cases the unconsciousness of the patient can be a help, for too earnest, emphatic and impatient help can offset the work—quiet, silent and controlled-by the healer.
Giờ đây, chúng ta sẽ bàn đến một tình huống rất khác với tình huống vừa xem xét. Trong chữa lành bằng bức xạ, bệnh nhân (có ý thức hoặc vô thức) đang làm việc cùng nhà trị liệu và hợp tác với y. Tiền đề cơ bản của chữa lành bằng bức xạ là bệnh nhân ít nhất đã thiết lập được sự tương thông với linh hồn mình ở một mức độ nào đó. Khi điều này đã thành hiện thực, nhà trị liệu biết rằng có thể tin cậy vào một kênh tiếp xúc, và có thể khơi dậy sự quan tâm của linh hồn đối với đại diện của nó, là con người trên cõi hồng trần. Y cũng biết rằng thành công trong chữa lành bằng bức xạ phần lớn tùy thuộc vào khả năng linh hồn mình thiết lập một mối quan hệ vững chắc với linh hồn bệnh nhân. Khi bệnh nhân tỉnh táo và có thể hợp tác, công việc nhận được sự trợ giúp lớn; phẩm chất của sự trợ giúp mà nhà trị liệu có thể đem lại cho người cần đến mình tùy thuộc vào khả năng y tận dụng sự chỉnh hợp và sự tiếp xúc đã nhận biết. Khi bệnh nhân bất tỉnh, ngay cả điều đó cũng không thực sự gây trở ngại, miễn là nhà trị liệu có thể đưa linh hồn mình và linh hồn bệnh nhân vào mối quan hệ; [654] thực ra, trong một số trường hợp, sự bất tỉnh của bệnh nhân có thể hữu ích, vì sự trợ giúp quá nhiệt thành, quyết liệt và thiếu kiên nhẫn có thể hóa giải công việc yên lặng, im lặng và có kiểm soát của nhà trị liệu.
Once, however, the rapport is established, the work of the healer simply consists in holding the relationship steady; no interference must be permitted in the work being done by the patient’s soul, set in motion by the aid of the healer. The Master Jesus on the Cross could not respond to any saving process (even had He desired to do so) because the soul body—as is always the case at the fourth initiation-was destroyed; there was nothing to respond to the evocative power of an outside person, interested or loving. As an adept and as one in whom monadic consciousness was firmly established, the powers then available to Jesus could not be used in the saving of His physical body. At the same time, it must be remembered that He would have no desire to save it, because He now possessed the power (demonstrated later in the Gospel story) to create a body at will in order to meet His needs. The subtle and subjective sin of the apostles was that they were not interested in evoking the living activity of the Master on His Own behalf (even though He would never do so; this they did not know), but were entirely preoccupied with their own grief. The evocation, had they attempted it, would have been useless, but the good that might have come to them and the revelation they might have received as to the deathlessness of the soul would have greatly illuminated them and might have produced a Christianity built around a living Christ and not around a dead Christ.
Tuy nhiên, một khi đã thiết lập sự tương thông, công việc của nhà trị liệu chỉ đơn giản là giữ mối quan hệ ấy ổn định; không được để bất kỳ điều gì can thiệp vào công việc mà linh hồn bệnh nhân đang thực hiện, được khởi động nhờ sự trợ giúp của nhà trị liệu. Chân sư Jesus trên Thập Giá không thể đáp ứng với bất kỳ tiến trình cứu mạng nào (ngay cả nếu Ngài muốn làm vậy), vì thể linh hồn—như luôn xảy ra ở lần điểm đạo thứ tư—đã bị hủy diệt; không còn gì để đáp ứng với quyền năng gợi lên của một người bên ngoài, dù quan tâm hay yêu thương Ngài. Là một Chân sư và một Đấng đã thiết lập vững chắc tâm thức chân thần, những quyền năng mà Đức Jesus có thể sử dụng lúc ấy không thể dùng để cứu thể xác Ngài. Đồng thời, cần nhớ rằng Ngài không hề muốn cứu thể xác ấy, vì giờ đây Ngài đã có quyền năng (về sau được thể hiện trong câu chuyện Phúc Âm) tạo ra một thân thể theo ý muốn để đáp ứng nhu cầu của Ngài. Tội lỗi vi tế và chủ quan của các tông đồ là họ không quan tâm đến việc gợi lên hoạt động sống động của Chân sư vì lợi ích của chính Ngài (dù Ngài sẽ không bao giờ làm vậy; điều này họ không biết), mà hoàn toàn chìm đắm trong nỗi đau buồn của riêng mình. Việc gợi lên ấy, nếu họ cố thực hiện, hẳn sẽ vô ích; nhưng điều tốt lành có thể đến với họ và sự mặc khải họ có thể nhận được về tính bất tử của linh hồn hẳn sẽ soi sáng họ rất nhiều, và có thể đã tạo nên một Kitô giáo xây dựng quanh một Đức Christ đang sống thay vì quanh một Đức Christ đã chết.
In radiatory healing, we are told that “the healer must seek to link his soul, his brain, his heart and auric emanation.” You will note two points connected with this particular instruction which differ from that given in the case of magnetic healing: [655]
Trong chữa lành bằng bức xạ, chúng ta được dạy rằng “Nhà trị liệu phải tìm cách nối kết linh hồn, bộ não, trái tim và sự phát xạ hào quang của mình.” Các bạn sẽ lưu ý hai điểm liên quan đến huấn thị đặc biệt này, khác với huấn thị dành cho trường hợp chữa lành bằng từ tính: [655]
1. The order of the triangle of energies created is different.
1. Trật tự của tam giác năng lượng được tạo ra là khác.
2. The means of contact are subtle and not tangible.
2. Các phương tiện tiếp xúc là vi tế, không hữu hình.
The energy released follows a direct line of contact with the brain, and the healer starts with a closed triangle and not with an open one, as in the case of magnetic healing. The triangle created is a simple one, and there is no physical contact and outlet as in magnetic healing:
Năng lượng được giải phóng đi theo một đường tiếp xúc trực tiếp với bộ não, và nhà trị liệu bắt đầu bằng một tam giác khép kín thay vì một tam giác mở như trong trường hợp chữa lành bằng từ tính. Tam giác được tạo ra là một tam giác đơn giản, và không có sự tiếp xúc cùng lối thoát trên phương diện hồng trần như trong chữa lành bằng từ tính:
The brain of the healer is involved, but there is no physical contact of any kind with the patient. The result is a constant circulation of force from the soul back again to the soul. This causes necessarily an augmenting and an energising of the threefold personality of the healer, and therefore of his auric emanation. His aura would be seen by a clairvoyant as greatly extended, in rapid motion, and energised by light from his own soul, but with all its radiation turned in the direction of the patient. By this means the healing force of the healer stimulates all the three personality vehicles of the patient; the patient’s soul is aided in the work it has to do. The healer will consequently find it necessary to stand at that side of the patient in which the trouble is located, so that the radiation of his aura can more easily penetrate. This is the easiest way, but not the most effective. Where the patient’s vitality is strong, he [656] should lie on the side, and the healer should stand behind the patient so that the energy pouring through, which the healer may be using and which is potently energising his aura with soul energy, may affect the patient’s aura and thus facilitate the entry of the healing radiation, which the healer is contributing, to the centre or centres needed. Where the patient is very highly developed, the healer should stand at the patient’s head. His personal effect is not then so great, but that does not matter because it is not needed; the soul of the patient will be adequate to the task. All that is needed is that the aura of the healer, blending with that of the patient, creates a tone of quiet rhythmic activity around the head centre. No physical contact by the hands is now required, and the healer must on no account touch the patient.
Bộ não của nhà trị liệu tham gia, nhưng không có bất kỳ sự tiếp xúc thể xác nào với bệnh nhân. Kết quả là một sự lưu chuyển mãnh lực liên tục từ linh hồn rồi trở lại linh hồn. Điều này tất yếu làm phàm ngã tam phân của nhà trị liệu được tăng cường và tiếp năng lượng, và do đó sự phát xạ hào quang của y cũng vậy. Một nhà thông nhãn sẽ thấy hào quang của y mở rộng rất nhiều, chuyển động nhanh và được ánh sáng từ chính linh hồn y tiếp năng lượng, nhưng toàn bộ bức xạ đều hướng về phía bệnh nhân. Bằng phương tiện này, mãnh lực chữa lành của nhà trị liệu kích thích cả ba hiện thể phàm ngã của bệnh nhân; linh hồn bệnh nhân được trợ giúp trong công việc phải làm. Do đó, nhà trị liệu sẽ thấy cần đứng ở phía cơ thể bệnh nhân có ổ bệnh, để bức xạ hào quang của mình có thể thâm nhập dễ dàng hơn. Đây là cách dễ nhất, nhưng không hiệu quả nhất. Khi sinh lực bệnh nhân mạnh, y [656] nên nằm nghiêng, và nhà trị liệu nên đứng phía sau bệnh nhân để năng lượng đang tuôn chảy qua, mà nhà trị liệu có thể đang sử dụng và đang mạnh mẽ tiếp năng lượng linh hồn cho hào quang mình, có thể tác động lên hào quang bệnh nhân, nhờ đó tạo thuận lợi cho bức xạ chữa lành mà nhà trị liệu đóng góp đi vào trung tâm hoặc các trung tâm cần thiết. Khi bệnh nhân đã phát triển rất cao, nhà trị liệu nên đứng ở đầu bệnh nhân. Khi ấy, tác động cá nhân của y không lớn bằng, nhưng điều đó không quan trọng vì không cần đến; linh hồn bệnh nhân sẽ đủ sức đảm đương nhiệm vụ. Điều duy nhất cần thiết là hào quang nhà trị liệu, hòa với hào quang bệnh nhân, tạo nên một âm hưởng hoạt động yên tĩnh, nhịp nhàng quanh trung tâm đầu. Lúc này không cần sự tiếp xúc thể xác bằng tay, và trong bất kỳ trường hợp nào nhà trị liệu cũng không được chạm vào bệnh nhân.
The situation is summed up for us in the words: “Thus can his presence feed the soul life of the patient. This is the work of radiation. The hands are needed not.”
Tình huống này được tóm lược cho chúng ta qua những lời: “Nhờ đó, sự hiện diện của y có thể nuôi dưỡng sự sống linh hồn của bệnh nhân. Đây là công việc bức xạ. Không cần đến đôi tay.”
Speaking symbolically, it is almost as if a great vortex of power were set up by the contact between the two auras and by their high vibration: by its means the soul of the patient can work more easily. An initiate, if present, would see a golden stream of energy pouring straight down through the energised bodies of the patient’s personality into the centre nearest to the area of trouble. Approach is made via the head centre directly to the point of difficulty, and towards this point the aura of the healer is also directed. The mental attitude of the patient is strengthened and clarified by the mental emanation of the healer’s aura; his emotional reaction, often very powerful, is equally aided to attain dispassion and quiet, and the etheric and health auras have a definite effect upon the corresponding aspects of the patient’s aura.
Nói theo nghĩa biểu tượng, gần như có một xoáy quyền năng lớn hình thành nhờ sự tiếp xúc giữa hai hào quang và rung động cao của chúng: qua đó, linh hồn bệnh nhân có thể làm việc dễ dàng hơn. Nếu có mặt, một điểm đạo đồ sẽ thấy một dòng năng lượng vàng kim tuôn thẳng xuống qua các thể phàm ngã đã được tiếp năng lượng của bệnh nhân, đi vào trung tâm gần vùng bị bệnh nhất. Sự tiếp cận diễn ra qua trung tâm đầu, đi thẳng đến điểm có vấn đề, và hào quang nhà trị liệu cũng hướng về điểm này. Thái độ trí tuệ của bệnh nhân được sự phát xạ trí tuệ từ hào quang nhà trị liệu củng cố và làm sáng tỏ; phản ứng cảm xúc của bệnh nhân, thường rất mạnh, cũng được trợ giúp để đạt đến sự không xúc động và yên tĩnh, còn hào quang dĩ thái và hào quang sức khỏe có tác động rõ rệt lên những phương diện tương ứng trong hào quang bệnh nhân.
[657]
[657]
Radiatory healing is brought about by the mingling of the two auras, both of them responsive to soul contact; the soul aspect of both persons (under control of the soul) is then directed towards some area of the patient’s physical body. This produces a tremendous effect upon the diseased area, and the centre in that same locality becomes exceedingly energised. The work of the healer during this process is one of intense quiescence. Having made his contact, he simply waits and has nothing more to do but to hold his soul alignment steady and permit nothing to disturb his personality vehicles. His task was accomplished when he made his own soul contact and then reached out and contacted the patient’s soul. This he could do because he knows all souls are one: eventually the art of healing will be one of the demonstrating factors in proving the unity of all souls.
Việc chữa lành bằng bức xạ diễn ra nhờ sự hòa trộn của hai hào quang, cả hai đều đáp ứng với sự tiếp xúc linh hồn; khi ấy, phương diện linh hồn của cả hai người (dưới sự kiểm soát của linh hồn) hướng đến một vùng nào đó trên thể xác bệnh nhân. Điều này tạo ra tác động to lớn lên vùng bị bệnh, và trung tâm ở cùng vị trí ấy được tiếp năng lượng hết sức mạnh mẽ. Công việc của nhà trị liệu trong tiến trình này là duy trì sự tĩnh tại sâu sắc. Sau khi thiết lập sự tiếp xúc, y chỉ đơn giản chờ đợi và không còn gì phải làm ngoài việc giữ sự chỉnh hợp với linh hồn ổn định, không để bất cứ điều gì gây xáo trộn các hiện thể phàm ngã của mình. Nhiệm vụ của y đã hoàn thành khi y thiết lập sự tiếp xúc với chính linh hồn mình, rồi vươn ra tiếp xúc với linh hồn bệnh nhân. Y có thể làm điều này vì biết rằng mọi linh hồn là một: cuối cùng, nghệ thuật chữa lành sẽ là một trong những yếu tố chứng minh sự hợp nhất của mọi linh hồn.
This rule, therefore, concludes with the words: “The patient’s soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer’s aura, Flooded with soul energy.” It is consequently a question of the soul energy of both parties meeting on all three levels of human awareness. The expression “the soul” is here in the singular because unity (if only for a moment) has been reached. The soul of the patient recognises this unity by the “occult quickening” of his own aura and by its responsiveness to the entering radiations from the healer’s aura. This flooding with soul energy through the medium of related auras is, all of it, directed as one unified effort towards the area of disease in the patient’s body. You can see, therefore, that-consciously or unconsciously-the work can go forward and produce either healing or that “quickening of atoms which leads by soul direction unto release,” as the Old commentary calls the act of dying.
Do đó, quy luật này kết thúc bằng những lời: “Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng thông qua sự đáp ứng của hào quang bệnh nhân đối với bức xạ từ hào quang nhà trị liệu, vốn tràn ngập năng lượng linh hồn.” Vì vậy, đây là vấn đề năng lượng linh hồn của cả hai bên gặp nhau trên cả ba cấp độ nhận biết của con người. Cụm từ “linh hồn” ở đây dùng ở số ít vì đã đạt đến sự hợp nhất (dù chỉ trong chốc lát). Linh hồn bệnh nhân nhận biết sự hợp nhất này qua “sự tiếp sinh lực huyền bí” cho chính hào quang mình và qua khả năng hào quang ấy đáp ứng với những bức xạ đi vào từ hào quang nhà trị liệu. Toàn bộ sự tuôn tràn năng lượng linh hồn này, thông qua những hào quang có liên hệ với nhau, đều hướng đến vùng bị bệnh trong cơ thể bệnh nhân như một nỗ lực hợp nhất duy nhất. Do đó, các bạn có thể thấy rằng—có ý thức hoặc vô thức—công việc có thể tiến hành và tạo ra sự chữa lành hoặc “sự tiếp sinh lực cho các nguyên tử, dưới sự chỉ dẫn của linh hồn, dẫn đến giải thoát”, như Cổ Luận gọi hành động chết.
When it becomes evident that it is the patient’s destiny to die, the technique of the healer alters somewhat. He [658] then takes his place at the patient’s head, and from that point deflects all his own radiations to the seat of the disease, causing necessarily a great acceleration of vibratory activity. The patient, in the meantime, consciously through brain recognition or unconsciously under soul direction, begins the process of withdrawing all consciousness from the body. This is why so many people are in a coma prior to death. When this act of the withdrawal of consciousness has been started, the work of the healer ends. He “shuts off” his soul contact and reassumes control of his aura as a medium of his own spiritual expression; it becomes no longer an instrument for healing by radiatory activity, and leaves the patient alone automatically to complete the withdrawal of the consciousness thread and the life thread, from the head and heart centres.
Khi rõ ràng vận mệnh của bệnh nhân là phải chết, kỹ thuật của nhà trị liệu thay đổi đôi chút. Khi ấy, y [658] đứng ở đầu bệnh nhân, và từ điểm đó chuyển hướng toàn bộ bức xạ của mình đến ổ bệnh, tất yếu làm hoạt động rung động tăng tốc mạnh mẽ. Trong lúc đó, bệnh nhân, một cách có ý thức qua sự nhận biết của bộ não hoặc vô thức dưới sự chỉ dẫn của linh hồn, bắt đầu tiến trình rút toàn bộ tâm thức ra khỏi thân thể. Đây là lý do rất nhiều người hôn mê trước khi chết. Khi hành động rút tâm thức này đã bắt đầu, công việc của nhà trị liệu kết thúc. Y “ngắt” sự tiếp xúc linh hồn và lấy lại quyền kiểm soát hào quang như một phương tiện biểu lộ tinh thần của chính mình; hào quang ấy không còn là một công cụ chữa lành bằng hoạt động bức xạ nữa, và tự động để bệnh nhân một mình hoàn tất việc rút sợi dây tâm thức và sợi dây sự sống khỏi các trung tâm đầu và tim.
This is a broad and general outline of the processes followed in magnetic and radiatory healing. I have here given you the skeleton structure of the idea, but not the details; more can be inferred and given when we study the seven methods of healing with their ray implications.
Đây là một phác thảo khái quát về những tiến trình được tuân theo trong chữa lành bằng từ tính và bằng bức xạ. Ở đây, Tôi đã cung cấp cho các bạn bộ khung của ý tưởng, nhưng chưa đưa ra chi tiết; có thể suy ra và trình bày thêm khi chúng ta nghiên cứu bảy phương pháp chữa lành cùng những hàm ý về cung của chúng.
This teaching has been given in such a manner that the student will have to hunt through its pages and gather together the facts needed, and thus formulate the first stage of the procedure of spiritual healing; unless he is himself a spiritual healer and ready to read between the lines and to distinguish between symbolism and fact, he will be misled and his work rendered useless. This is intended; for the healing art—when perfectly applied under correct formulas—can be dangerous. It must be remembered that although energy is thought, it is also, from a higher point of view, fire. The entire technique, procedure, and formulas will have to be discovered, subjected to experiment and the results noted before the true spiritual healing can take place; [659] by the time this investigation has been completed, it will be a safer matter than it is today. In the meantime, much good can be accomplished and a great deal learnt if those interested read, study, meditate, carefully experiment, and thus gradually build up this much needed science as a co-partner in the medical science of modern times.
Giáo huấn này được trình bày theo cách buộc đạo sinh phải tìm kiếm qua các trang và tập hợp những sự kiện cần thiết, từ đó hình thành giai đoạn đầu tiên của quy trình chữa lành tinh thần; trừ khi chính y là một nhà trị liệu tinh thần, sẵn sàng đọc ra những ý nằm giữa các dòng và phân biệt giữa biểu tượng với sự kiện, y sẽ hiểu lầm và công việc của y trở nên vô ích. Điều này là có chủ ý; vì nghệ thuật chữa lành—khi được áp dụng hoàn hảo theo những công thức đúng—có thể nguy hiểm. Cần nhớ rằng dù năng lượng là tư tưởng, từ một quan điểm cao hơn, nó cũng là lửa. Toàn bộ kỹ thuật, quy trình và các công thức sẽ phải được khám phá, đưa vào thử nghiệm và ghi nhận kết quả trước khi việc chữa lành tinh thần chân chính có thể diễn ra; [659] đến khi cuộc khảo sát này hoàn tất, việc ấy sẽ an toàn hơn hiện nay. Trong lúc đó, có thể thực hiện nhiều điều tốt lành và học hỏi rất nhiều nếu những người quan tâm đọc, nghiên cứu, tham thiền, thử nghiệm cẩn thận, nhờ đó dần dần xây dựng khoa học hết sức cần thiết này như một đối tác của khoa học y học hiện đại.
Let us now consider Law IX.
Giờ đây, chúng ta hãy xem xét Định luật IX.
In Law IX and Rule Six we shall be dealing with such basic fundamentals that our problem will be to formulate the teaching in such a concise manner that vast themes may be briefly handled, and at the same time appear clear and simple. This law is in reality a definition of the Law of Evolution, but given from the spiritual angle. The Law of Evolution—as commonly understood—concerns the evolution of the form aspect as it is gradually fitted to be an exponent or an expression of soul energy, and later of monadic energy.
Trong Định luật IX và Quy luật Sáu, chúng ta sẽ bàn đến những nền tảng cơ bản đến mức vấn đề của chúng ta là trình bày giáo huấn thật súc tích, để có thể xử lý ngắn gọn những chủ đề rộng lớn mà vẫn rõ ràng và đơn giản. Trên thực tế, định luật này là một định nghĩa về Định luật Tiến Hoá, nhưng được trình bày từ góc độ tinh thần. Định luật Tiến Hoá—theo cách hiểu thông thường—liên quan đến sự tiến hoá của phương diện hình tướng, khi phương diện này dần dần được làm cho thích hợp để trở thành một phương tiện thể hiện hay biểu lộ năng lượng linh hồn, và về sau là năng lượng chân thần.
This law, which might be termed the Law of Perfection, deals with the interior energies which are responsible for the working of the Law of Evolution. It is the higher aspect or the determining cause of the lower; the laws subsidiary to the Law of Perfection are loosely called (by the neophyte the spiritual laws, but of these he knows little and unifies them all in his mind under the general idea that they are an expression of the love aspect of Deity. That is essentially true, from the quality angle, if it is recognised at the same time that the love aspect is essentially pure reason and not an emotional sentiment expressing itself through kind actions.
Định luật này, có thể gọi là Định luật Toàn Hảo, đề cập đến những năng lượng bên trong chịu trách nhiệm về sự vận hành của Định luật Tiến Hoá. Nó là phương diện cao hơn hay nguyên nhân quyết định của phương diện thấp hơn; người sơ cơ thường gọi một cách không chặt chẽ các định luật phụ thuộc Định luật Toàn Hảo là những định luật tinh thần, nhưng y biết rất ít về chúng và gộp tất cả trong thể trí mình dưới ý tưởng chung rằng chúng là sự biểu lộ phương diện bác ái của Thượng đế. Xét từ góc độ phẩm tính, điều đó về căn bản là đúng, nếu đồng thời nhận biết rằng phương diện bác ái về bản chất là lý trí thuần khiết, chứ không phải một tình cảm biểu lộ qua những hành động tử tế.
The rule which accompanies this law deals with the relation of love and will, and is consequently of high importance to the initiate. I would remind you here that the [660] only true healer is the initiate, and therefore the last two laws (Law IX and Law X) can only be truly understood by the initiated disciple. They are, however, profoundly interesting intellectually to the beginner, the enquirer and the aspirant, because (theoretically at least) he can grasp some of their meaning, though he is as yet quite incapable of “keeping the law”—spiritually understood.
Quy luật đi kèm định luật này đề cập đến mối quan hệ giữa bác ái và ý chí, vì vậy có tầm quan trọng lớn đối với điểm đạo đồ. Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng [660] nhà trị liệu chân chính duy nhất là điểm đạo đồ, và do đó chỉ người đệ tử đã được điểm đạo mới có thể thực sự thấu hiểu hai định luật cuối cùng (Định luật IX và Định luật X). Tuy nhiên, về mặt trí tuệ, chúng rất đáng quan tâm đối với người mới bắt đầu, người tìm hiểu và người chí nguyện, vì (ít nhất về lý thuyết) y có thể nắm bắt phần nào ý nghĩa của chúng, dù hiện tại y hoàn toàn chưa đủ khả năng “tuân giữ định luật”—hiểu theo nghĩa tinh thần.
LAW IX – ĐỊNH LUẬT IX
Perfection calls imperfection to the surface. Good drives evil from the form of man in time and space. The method used by the Perfect One and that employed by Good, is “perfect harmlessness”. This is not negativity, but Perfect Poise, a completed point of view, and divine understanding.
Sự toàn hảo gọi sự bất toàn trồi lên bề mặt. Điều Thiện đẩy điều ác ra khỏi hình tướng con người trong thời gian và không gian. Phương pháp mà Đấng Toàn Hảo và Điều Thiện sử dụng là “tính vô tổn hại hoàn hảo”. Đây không phải là tính thụ động, mà là sự quân bình hoàn hảo, một quan điểm toàn vẹn và sự thấu hiểu thiêng liêng.
This law is profoundly simple and means exactly what it says. It can be interpreted in two ways:
Định luật này giản dị một cách sâu sắc và có ý nghĩa đúng như lời nó nói. Có thể diễn giải theo hai cách:
1. It concerns the spiritual development of man through the medium of form, and the mode or law whereby the latent hold of matter—impregnated by selfishness and by all that is recognised as evil—is removed, and man stands free.
1. Nó liên quan đến sự phát triển tinh thần của con người thông qua hình tướng, và cách thức hay định luật theo đó sự kìm giữ tiềm ẩn của vật chất—thấm đẫm tính ích kỷ và mọi điều được nhìn nhận là ác—được loại bỏ, và con người đứng trong tự do.
2. It can also be interpreted in terms of healer and patient. Oft the effect of the activity and knowledge of the true healer is to bring to the surface (in an acute form) the evil (disease) within the form. The result of this can either be the elimination of the disease and the securing of health, or the form will succumb to the increase of the difficulty and the probability is that the patient will die. It is therefore fortunate that the average healer is so futile that such a dire possibility is not present!
2. Cũng có thể diễn giải nó theo mối quan hệ giữa nhà trị liệu và bệnh nhân. Hoạt động và tri thức của nhà trị liệu chân chính thường có tác dụng đưa điều ác (bệnh tật) bên trong hình tướng trồi lên bề mặt (dưới dạng cấp tính). Kết quả có thể là bệnh tật được loại bỏ và sức khỏe được bảo đảm, hoặc hình tướng sẽ suy sụp trước mức độ gia tăng của bệnh trạng, và có lẽ bệnh nhân sẽ chết. Vì vậy, thật may mắn khi nhà trị liệu trung bình kém hiệu lực đến mức không có khả năng khủng khiếp như thế xảy ra!
The method employed under the Law of Perfection is called “perfect harmlessness,” and that was ever the method used [661] by the Christ, the Perfect One. It is not the harmlessness enjoined so often by me as I speak to aspirants, but a harmlessness imposed by the spiritual man and by his natural destiny. It is an ignoring of the effect or the result upon the form nature. Frequently I have told you that the Hierarchy works only with the spiritual nature or with the soul of humanity, and that—to the Master—the form is regarded as relatively of no importance. Release from the threefold form is ever regarded by the spiritual man as the greatest possible good, provided it comes to him under law, as the result of his spiritual destiny and of karmic decision: it must not come as an arbitrary act, or as an escape from life and its consequences upon the physical plane, or as self-imposed. Of this strange working of the Law of Perfection (strange to man’s limited point of view), the war (1914-1945) was a striking instance. Millions died; more millions suffered cruelly in their form nature, and many more millions underwent (and are still undergoing) the mental agony of insecurity, suspense and poverty. Nevertheless, two major results of a spiritual nature, working under the Law of Perfection, resulted:
Phương pháp được sử dụng theo Định luật Toàn Hảo gọi là “tính vô tổn hại hoàn hảo”, và đó luôn là phương pháp mà [661] Đức Christ, Đấng Toàn Hảo, sử dụng. Đây không phải là tính vô tổn hại mà Tôi thường khuyên giữ khi nói với những người chí nguyện, mà là tính vô tổn hại do con người tinh thần và vận mệnh tự nhiên của y đòi hỏi. Đó là sự không xét đến tác động hay kết quả đối với bản chất hình tướng. Tôi thường nói với các bạn rằng Thánh đoàn chỉ làm việc với bản chất tinh thần hay linh hồn nhân loại, và rằng—đối với Chân sư—hình tướng được xem là tương đối không quan trọng. Con người tinh thần luôn coi sự giải thoát khỏi hình tướng tam phân là điều tốt lành lớn nhất có thể có, miễn là nó đến với y theo định luật, như kết quả của vận mệnh tinh thần và quyết định nghiệp quả: nó không được đến như một hành động tùy tiện, một sự trốn chạy khỏi cuộc sống và những hệ quả của cuộc sống trên cõi hồng trần, hoặc do tự mình áp đặt. Cuộc chiến tranh (1914-1945) là một minh chứng nổi bật cho sự vận hành lạ lùng này của Định luật Toàn Hảo (lạ lùng đối với quan điểm hạn hẹp của con người). Hàng triệu người đã chết; thêm hàng triệu người chịu đau khổ tàn khốc trong bản chất hình tướng, và nhiều triệu người nữa trải qua (và vẫn đang trải qua) nỗi thống khổ trí tuệ do bất an, thấp thỏm và nghèo đói. Tuy nhiên, dưới sự vận hành của Định luật Toàn Hảo, hai kết quả lớn mang bản chất tinh thần đã xuất hiện:
1. Souls were released from a backward and decaying civilisation—for such is your vaunted civilisation from the angle of the Hierarchy—and will return in better bodies to a civilisation and a culture more in conformity with the needs of the spiritual man. The main reason why there has been such a complete destruction of the old forms (physical, emotional and mental) is that they constituted a complete imprisonment of the soul and negated all true growth for the masses of men.
1. Các linh hồn được giải thoát khỏi một nền văn minh lạc hậu và suy tàn—vì từ góc độ của Thánh đoàn, nền văn minh mà các bạn tán dương chính là như thế—và sẽ trở lại trong những thân thể tốt hơn, đến với một nền văn minh và văn hóa phù hợp hơn với nhu cầu của con người tinh thần. Lý do chính khiến những hình tướng cũ (hồng trần, cảm xúc và trí tuệ) bị hủy diệt triệt để đến vậy là chúng đã giam cầm linh hồn hoàn toàn và phủ nhận mọi sự tăng trưởng chân chính của đông đảo nhân loại.
2. From the rich to the poor, from the intelligent to the ignorant, one thing is now clearly grasped and will increasingly colour human thinking: happiness and [662] success are not dependent upon the possession of things or upon material good. That idea is the mistake of organised labour as it fights and strikes for more money in order to live more richly; it is also the mistake of the general public as it reacts to the action of labour, for it rebels against the curtailment of the steady inflow of material goods. Humanity has made this mistake for untold ages, and has erred grievously in its emphasis upon that which benefits the form. This is the good in the Russian position as it wars on capitalism and lays an emphasis upon education. However, its ruthlessness and cruelty and (above all else) its suppression of the rights of the individual citizen to certain of the essential freedoms may eventually negate the beauty and the hope of the initial idealism. Russia is right in her idealism, but terribly and basically wrong in her techniques. The United States and Great Britain are at a midway point. They have a vision but know not how to materialise it and make it true, for they favour not (and rightly) a totalitarian regime. The capitalistic spirit and the latent fascism of the United States are at this time a definite menace to world peace, and the capitalists are blocking the efforts of the men of goodwill. Great Britain is at present impotent, financially ruined, her old imperialistic policies entirely in the discard, and her people discouraged: she is therefore so preoccupied with the struggle to live (and she will live) that there is little time, interest or energy left to make the vision true.
2. Từ người giàu đến người nghèo, từ người thông minh đến người thiếu hiểu biết, giờ đây mọi người đều nắm rõ một điều, và điều ấy sẽ ngày càng ảnh hưởng đến tư tưởng con người: hạnh phúc và [662] thành công không tùy thuộc vào việc sở hữu đồ vật hay của cải vật chất. Ý tưởng ấy là sai lầm của phong trào lao động có tổ chức khi đấu tranh và đình công để có thêm tiền nhằm sống sung túc hơn; đó cũng là sai lầm của công chúng nói chung khi phản ứng trước hành động của giới lao động, vì họ phản kháng việc dòng hàng hóa vật chất đều đặn đổ vào bị cắt giảm. Nhân loại đã mắc sai lầm này suốt vô số thời đại, và đã lầm lạc nghiêm trọng khi nhấn mạnh những gì có lợi cho hình tướng. Đây là điểm tốt trong lập trường của nước Nga khi chống chủ nghĩa tư bản và nhấn mạnh giáo dục. Tuy nhiên, sự tàn nhẫn, độc ác và (trên hết) việc tước bỏ quyền của từng công dân đối với một số quyền tự do thiết yếu rốt cuộc có thể phủ nhận vẻ đẹp và niềm hy vọng của lý tưởng ban đầu. Nước Nga đúng trong lý tưởng của mình, nhưng sai lầm khủng khiếp và căn bản trong các kỹ thuật thực hiện. Hoa Kỳ và Anh Quốc đang ở điểm giữa. Họ có một tầm nhìn nhưng không biết cách hiện thực hóa và làm cho nó thành sự thật, vì họ không ủng hộ (và điều đó là đúng) một chế độ toàn trị. Tinh thần tư bản và chủ nghĩa phát xít tiềm ẩn của Hoa Kỳ lúc này là một mối đe dọa rõ rệt đối với hòa bình thế giới, và các nhà tư bản đang ngăn cản nỗ lực của những người thiện chí. Hiện nay, Anh Quốc bất lực, tài chính kiệt quệ, những chính sách đế quốc cũ hoàn toàn bị gạt bỏ, và người dân nản lòng: vì vậy, đất nước này quá bận tâm với cuộc đấu tranh để sống còn (và sẽ sống còn) đến mức hầu như không còn thời gian, sự quan tâm hay năng lượng để biến tầm nhìn thành hiện thực.
There is, as you know, always a correspondence between the individual man and the world of men as a whole. Just as today practically every human being has something wrong with him physically—eyes, ears, teeth or bodily ills of some [663] nature—so humanity is sick and awaiting healing. The healing will be brought about through the medium of the New Group of World Servers and by the men of goodwill, aided by the Hierarchy, from which planetary centre the healing energies will be drawn. Imperfection has been drawn to the surface; the evils to be eliminated are known to everybody, and this has all taken place under the influence of the Law of Perfection. I am dealing here with the general situation rather than with the individual relation between the healer and a patient. I do so for the simple reason that only an initiate of experience and of understanding can keep this law or obey this rule, and of such there are only a very few on earth today. The sickness of humanity as a race, and as a result of aeons of wrong living, of selfish purpose and of greed, has produced a mass of physical ills; today millions of children are born either openly diseased or with the seed of disease in them. When the evil which has made its presence felt, and when the imperfections which have been drawn to the surface have been cured or driven back to their own place, then—and only then—will physical disease come to an end or yield easily to treatment.
Như các bạn biết, luôn có sự tương ứng giữa cá nhân con người và toàn thể thế giới loài người. Cũng như ngày nay hầu như mỗi người đều có điều gì đó không ổn về thể chất—mắt, tai, răng hay những bệnh tật cơ thể thuộc một [663] loại nào đó—nhân loại cũng đang đau bệnh và chờ được chữa lành. Việc chữa lành sẽ diễn ra thông qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người thiện chí, với sự trợ giúp của Thánh đoàn, trung tâm hành tinh mà từ đó các năng lượng chữa lành sẽ được rút ra. Sự bất toàn đã được đưa lên bề mặt; mọi người đều biết những điều ác cần loại bỏ, và tất cả những điều này đã diễn ra dưới ảnh hưởng của Định luật Toàn Hảo. Ở đây, Tôi đang bàn về tình hình chung hơn là mối quan hệ cá nhân giữa nhà trị liệu và một bệnh nhân. Tôi làm vậy vì lý do đơn giản là chỉ một điểm đạo đồ có kinh nghiệm và sự thấu hiểu mới có thể tuân giữ định luật này hay tuân theo quy luật này, mà ngày nay trên Trái Đất chỉ có rất ít vị như thế. Bệnh trạng của nhân loại nói chung, và là kết quả của vô số thời đại sống sai lầm, theo đuổi mục đích ích kỷ và tham lam, đã tạo ra vô vàn bệnh tật thể xác; ngày nay, hàng triệu trẻ em sinh ra hoặc đã biểu hiện bệnh rõ rệt, hoặc mang sẵn mầm bệnh trong mình. Khi điều ác đã bộc lộ sự hiện diện và những sự bất toàn đã trồi lên bề mặt được chữa lành hoặc bị đẩy trở về đúng chỗ của chúng, khi ấy—và chỉ khi ấy—bệnh tật thể xác mới chấm dứt hoặc dễ dàng đáp ứng với điều trị.
In considering the general subject of imperfection and of evil, we are dealing here with causes (and this the initiate must ever do); when these causes are themselves removed, then the effects will also disappear. Christian Science and Unity are therefore right in their general theory and premises, but totally wrong in their emphases and methods. In the long run, all the work they do today is relatively futile, except in so far that they preserve and enunciate the Law of Perfection, even though they do so in a muddled manner and their teaching is tainted with the universal selfishness.
Khi xem xét chủ đề chung về sự bất toàn và điều ác, ở đây chúng ta đang bàn đến các nguyên nhân (và đây là điều điểm đạo đồ phải luôn làm); khi chính các nguyên nhân này được loại bỏ, những hệ quả cũng sẽ biến mất. Vì vậy, Khoa Học Kitô và phong trào Hợp Nhất đúng trong lý thuyết và tiền đề chung, nhưng hoàn toàn sai trong những điểm nhấn và phương pháp của họ. Về lâu dài, mọi công việc họ đang làm ngày nay đều tương đối vô ích, ngoại trừ ở chỗ họ gìn giữ và tuyên xướng Định luật Toàn Hảo, dù làm điều đó một cách rối rắm và giáo huấn của họ nhuốm tính ích kỷ phổ biến.
[664]
[664]
You have oft been told that there are two modes of achievement; the long hard way of evolution, in which aeons are taken to arrive at relatively small results, or the short, still harder but much more rapid way of initiation. For ages it remained a question (a moot point, do you not call it?) whether the world of men would choose (and had better choose) the slow but safe method. It is a method in which imperfection is only very gradually eliminated, without much strain and with small effort on the part of man. It is a mode whereby good is only slowly realised and evil only slowly, very slowly, driven out. The will-to-good of Shamballa is, under the usual evolutionary system, only faintly present, and many, many aeons would still lie. ahead of humanity before even the present point of human development could have been attained.
Các bạn thường được dạy rằng có hai cách thành tựu: con đường tiến hoá dài và gian khổ, cần đến vô số thời đại để đạt những kết quả tương đối nhỏ, hoặc con đường điểm đạo ngắn, còn gian khổ hơn nhưng nhanh hơn nhiều. Suốt nhiều thời đại, vẫn còn một câu hỏi chưa ngã ngũ (các bạn gọi đó là một vấn đề còn tranh luận, phải không?): liệu thế giới loài người có chọn (và nên chọn) phương pháp chậm nhưng an toàn hay không. Đây là phương pháp trong đó sự bất toàn chỉ được loại bỏ rất từ từ, không có nhiều căng thẳng và con người chỉ cần ít nỗ lực. Đó là cách mà điều thiện chỉ được nhận biết chậm chạp và điều ác chỉ bị đẩy lùi chậm chạp, rất chậm chạp. Theo hệ thống tiến hoá thông thường, Ý Chí-hướng Thiện của Shamballa chỉ hiện diện mờ nhạt, và nhân loại hẳn vẫn còn phải trải qua rất nhiều, rất nhiều thời đại nữa mới có thể đạt đến ngay cả trình độ phát triển hiện nay.
But something happened which had not been foreseen even by the Hierarchy. During the past two hundred years the entire picture has been altered. Individual men, in adequate numbers, achieved initiation and entered the Ashrams of the Masters, and through the decision of these successful aspirants, and subject to their continued activity, it was decided by them but for humanity that the rapid hard way was to be tried. Since that time three factors have been present:
Nhưng một điều đã xảy ra mà ngay cả Thánh đoàn cũng không lường trước. Trong hai trăm năm qua, toàn bộ bức tranh đã thay đổi. Đã có đủ số cá nhân đạt điểm đạo và gia nhập các ashram của các Chân sư; qua quyết định của những người chí nguyện thành công này, và tùy thuộc vào hoạt động tiếp tục của họ, chính họ đã quyết định thay cho nhân loại thử đi con đường nhanh chóng và gian khổ. Kể từ đó, ba yếu tố đã hiện diện:
1. The factor of tremendous progress in raising the consciousness of mankind, en masse, to much higher intellectual levels. To this the growth of education, the discoveries of science and the control of the material plane and of the air bear testimony.
1. Yếu tố tiến bộ to lớn trong việc nâng tâm thức nhân loại nói chung lên những cấp độ trí thức cao hơn nhiều. Sự phát triển của giáo dục, những khám phá khoa học và việc làm chủ cõi vật chất cùng không trung là bằng chứng cho điều này.
2. The factor of worldwide distress, of economic disaster, of world wars, of natural cataclysms and of the myriad occurrences and difficulties which make individual life, national life and planetary life so hard these days. No one is exempt and there is no distinction shown. [665]
2. Yếu tố khổ đau trên toàn thế giới, thảm họa kinh tế, chiến tranh thế giới, thiên tai dữ dội cùng vô số biến cố và khó khăn khiến đời sống cá nhân, đời sống quốc gia và đời sống hành tinh trở nên hết sức gian khổ trong những ngày này. Không ai được miễn trừ và không có sự phân biệt nào. [665]
3. The factor of the growth of knowledge anent the Hierarchy and, above all else, of the spiritual Plan. This has necessitated the presentation of a goal to man by the working aspirants and disciples, plus the outlining of the techniques of the Path whereby that goal can be reached. This has not been accomplished by the religious church groups throughout the world, but by members of the Ashrams. All that the churches have done is to preserve in the public mind the fact of God Transcendent, whilst ignoring the fact of God Immanent, to testify to the existence of the Christ whilst travestying His teaching, and to teach the fact of immortality, whilst ignoring the Law of Rebirth.
3. Yếu tố gia tăng tri thức về Thánh đoàn và, trên hết, về Thiên Cơ tinh thần. Điều này đòi hỏi những người chí nguyện và đệ tử đang hoạt động phải trình bày một mục tiêu cho con người, đồng thời phác thảo các kỹ thuật của Đường Đạo để đạt đến mục tiêu ấy. Công việc này do các thành viên của các ashram thực hiện, chứ không phải các nhóm giáo hội tôn giáo trên khắp thế giới. Tất cả những gì các giáo hội đã làm là gìn giữ trong tâm trí công chúng sự thật về Thượng đế Siêu Việt trong khi bỏ qua sự thật về Thượng đế Nội Tại, làm chứng cho sự hiện hữu của Đức Christ trong khi xuyên tạc giáo huấn của Ngài, và giảng dạy sự thật về tính bất tử trong khi bỏ qua Định luật Tái Sinh.
Humanity is, therefore, progressing rapidly upon the Upward Way, and two things can be looked for as a consequence: first, that the imperfections and evil (one latent and the other active though retreating) will become increasingly apparent to intelligent man, and secondly, that the mode of their elimination will also become known.
Do đó, nhân loại đang tiến nhanh trên Con Đường Đi Lên, và có thể trông đợi hai kết quả: thứ nhất, những sự bất toàn và điều ác (một bên tiềm ẩn, bên kia đang hoạt động dù đang thoái lui) sẽ ngày càng hiện rõ đối với con người có trí tuệ; thứ hai, cách loại bỏ chúng cũng sẽ được biết đến.
I deal not here with the nature of imperfection or the purpose of evil. Do I need to point out to any of my readers how inescapably both are present? I might point out that imperfection is inherent in the nature of matter itself and constitutes an inheritance from a previous solar system. I might indicate that evil emanates from that hierarchy of evil Forces which are the material correspondence to the spiritual Hierarchy; this is related to the fact that all our planes are composed of substance of the cosmic physical plane. It might also be stated that when the imperfection of matter is realised and corrected, and when the interest and emphasis of humanity is turned away from material conditions, then the Forces of Evil will have nothing in the three worlds (the three lower levels of the cosmic physical plane) [666] upon which to work; there will be nothing they can influence, and no mode of influencing man will then exist as far as evil is concerned. I cannot expect you at this time to comprehend the meaning of my words. They are, however, related to the words in the Great Invocation which say, “and seal the door where evil dwells.” There is a door into an evil realm and into blackness, just as there is a door into a world of goodness and light; the devil is to man who is dedicated and consecrated to evil what the Dweller on the Threshold is to the spiritual aspirant.
Ở đây, Tôi không bàn về bản chất của sự bất toàn hay mục đích của điều ác. Tôi có cần chỉ ra cho bất kỳ độc giả nào rằng cả hai đều hiện diện một cách không thể tránh khỏi hay không? Tôi có thể chỉ ra rằng sự bất toàn vốn có trong bản chất của chính vật chất và là di sản từ một hệ mặt trời trước. Tôi có thể cho biết rằng điều ác phát xuất từ huyền giai các Mãnh Lực ác, vốn là sự tương ứng về mặt vật chất với Thánh đoàn tinh thần; điều này liên quan đến sự kiện mọi cõi của chúng ta đều cấu thành từ chất liệu của cõi hồng trần vũ trụ. Cũng có thể nói rằng khi sự bất toàn của vật chất được nhận biết và sửa chữa, và khi sự quan tâm cùng điểm nhấn của nhân loại rời khỏi các điều kiện vật chất, thì các Mãnh Lực của Điều Ác sẽ không còn gì trong ba cõi giới (ba cấp độ thấp của cõi hồng trần vũ trụ) [666] để tác động lên; sẽ không còn gì mà chúng có thể ảnh hưởng, và xét về điều ác, khi ấy sẽ không còn phương cách nào để ảnh hưởng đến con người. Lúc này, Tôi không thể mong các bạn lĩnh hội ý nghĩa những lời Tôi nói. Tuy nhiên, chúng liên quan đến những lời trong Đại Khấn Nguyện: “Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác”. Có một cánh cửa dẫn vào cõi ác và bóng tối, cũng như có một cánh cửa dẫn vào thế giới của điều thiện và ánh sáng; đối với người tận hiến và thánh hiến cho điều ác, ma quỷ có vai trò tương tự như Kẻ Chận Ngõ đối với người chí nguyện tinh thần.
The main task of the spiritual Hierarchy has ever been to stand between the Forces of Evil and humanity, to bring imperfection into the light so that evil can “find no place” for action, and to keep the door open into the spiritual realm. This the Hierarchy has done, with small help from humanity; this situation is now changed and the world war was the symbol and the guarantee of that change; in it the Forces of Light, the massed United Nations, fought the Forces of Evil upon the physical plane and routed them. There has been a far greater spiritual significance to the war than has yet been realised. It marked a world turning point; it reoriented humanity towards the good; it drove back the Forces of Evil and made definitely clear (and this was new and needed) the true distinction between good and evil, and this not in a theological sense-as stated by the church commentators—but practically and obviously. It is evidenced by the disastrous economic situation and by the greed of prominent men in every country. The world of men (through the obviousness of the distinction between good and evil) has awakened to the fact of materialistic exploitation, to the lack of real freedom and to the rights, as yet unclaimed, of the individual. Man’s ability to resist slavery has become apparent everywhere. That the strugglers towards freedom are employing wrong methods and are endeavouring [667] oft to fight evil with evil is entirely true, but this indicates only transitional techniques and a temporary phase; it is temporary from the point of view of the Hierarchy (though possibly long from the angle of men in the three worlds), but it need not necessarily be long today.
Nhiệm vụ chính của Thánh đoàn từ trước đến nay luôn là đứng giữa các Mãnh Lực của Cái Ác và nhân loại, đưa sự bất toàn ra ánh sáng để cái ác “không tìm được chỗ” hoạt động, và giữ cho cánh cửa vào cõi tinh thần luôn rộng mở. Thánh đoàn đã làm điều này với rất ít sự trợ giúp từ nhân loại; nay tình thế đã thay đổi, và cuộc thế chiến là biểu tượng cùng sự bảo đảm cho thay đổi ấy; trong cuộc chiến đó, các Mãnh Lực Ánh Sáng, tức các quốc gia Đồng Minh tập hợp lại, đã chiến đấu với các Mãnh Lực của Cái Ác trên cõi hồng trần và đánh tan chúng. Cuộc chiến mang một thâm nghĩa tinh thần lớn lao hơn nhiều so với những gì người ta đã nhận ra. Nó đánh dấu một bước ngoặt của thế giới; nó định hướng lại nhân loại về điều thiện; nó đẩy lùi các Mãnh Lực của Cái Ác và làm sáng tỏ dứt khoát sự phân biệt đích thực giữa thiện và ác — điều mới mẻ và cần thiết — không phải theo nghĩa thần học như các nhà bình luận của giáo hội trình bày, mà một cách thực tế và hiển nhiên. Điều này thể hiện qua tình trạng kinh tế thảm hại và lòng tham của những người có thế lực ở mọi quốc gia. Nhờ sự phân biệt hiển nhiên giữa thiện và ác, thế giới loài người đã thức tỉnh trước thực trạng bóc lột vì vật chất, sự thiếu vắng tự do đích thực và những quyền của cá nhân mà đến nay vẫn chưa được đòi hỏi. Khả năng chống lại sự nô dịch của con người đã trở nên rõ rệt ở khắp nơi. Những người đấu tranh hướng tới tự do đang sử dụng các phương pháp sai lầm và thường cố gắng [667] lấy ác chống ác là điều hoàn toàn đúng, nhưng điều này chỉ cho thấy những kỹ thuật chuyển tiếp và một giai đoạn tạm thời; theo quan điểm của Thánh đoàn, giai đoạn ấy chỉ là tạm thời, dù có thể kéo dài theo cách nhìn của con người trong ba cõi giới, nhưng ngày nay nó không nhất thiết phải kéo dài.
So great has been the progress of man during the past two hundred years that the Council Chamber at Shamballa was forced to take notice. As a result of this attention by the Great Lives around Sanat Kumara and Their interest in the affairs of men, two things happened:
Trong hai trăm năm qua, con người đã tiến bộ lớn lao đến mức Phòng Hội Đồng tại Shamballa buộc phải chú ý. Do sự chú ý này của các Sự Sống Vĩ Đại quanh Sanat Kumara và mối quan tâm của Các Ngài đến những công việc của con người, hai điều đã xảy ra:
1. The will aspect of divinity made its first definite and direct contact with the human mind. The impact was direct and not deflected-as had hitherto been the case-to the Hierarchy and from thence to humanity. According to the type of man or group who responded or reacted to this contact, so were the results; they were very good or exceedingly bad. Great and good men appeared and enunciated the truths needed for the New Age, and of these Lincoln, Roosevelt, Browning, Briand and a host of lesser men could be cited. Evil and pernicious men also emerged, such as Hitler and the group he gathered around him, bringing much evil upon the Earth.
1. Phương diện ý chí của thiên tính lần đầu tiên tiếp xúc rõ rệt và trực tiếp với thể trí con người. Tác động này diễn ra trực tiếp, không chuyển hướng đến Thánh đoàn rồi từ đó đến nhân loại như trước kia. Kết quả tùy thuộc vào loại người hay nhóm người đáp ứng hoặc phản ứng với sự tiếp xúc này; những kết quả ấy rất tốt đẹp hoặc vô cùng tồi tệ. Những con người vĩ đại và tốt lành xuất hiện, công bố các chân lý cần thiết cho Kỷ Nguyên Mới; trong số đó có thể kể đến Lincoln, Roosevelt, Browning, Briand cùng đông đảo những người ít nổi bật hơn. Những kẻ độc ác và nguy hại cũng xuất hiện, như Hitler và nhóm người mà y tập hợp quanh mình, mang nhiều tai họa đến Trái Đất.
2. At the same time, the will-to-good from Shamballa evoked the latent goodwill in man, so that today and increasingly over the past one hundred years, goodness of heart, kindness in action, consideration for others and mass action to promote human welfare have spread over the Earth.
2. Đồng thời, Ý Chí-hướng Thiện từ Shamballa khơi dậy thiện chí tiềm tàng trong con người, để ngày nay, và ngày càng rõ rệt trong một trăm năm qua, lòng tốt, sự tử tế trong hành động, sự quan tâm đến người khác và hành động của quần chúng nhằm thúc đẩy phúc lợi nhân loại đã lan rộng khắp Trái Đất.
The emergence of imperfection and the planned effort of evil have been paralleled by the appearance of the New Group of World Servers and by the preparation which the Hierarchy is making towards its externalisation upon the [668] physical plane. The Hierarchy is at this time exceedingly powerful; its Ashrams are full of initiates and disciples, and its periphery or magnetic field is drawing countless thousands of aspirants towards it. The war struck a mortal blow to material evil, and its hold on humanity is greatly weakened.
Song hành với sự bộc lộ của bất toàn và nỗ lực có kế hoạch của cái ác là sự xuất hiện của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và sự chuẩn bị của Thánh đoàn cho việc ngoại hiện trên [668] cõi hồng trần. Hiện nay, Thánh đoàn vô cùng hùng mạnh; các ashram của Thánh đoàn đầy những điểm đạo đồ và đệ tử, còn vùng ngoại vi hay trường từ tính của Thánh đoàn đang thu hút vô số người chí nguyện về phía mình. Cuộc chiến đã giáng một đòn chí mạng vào cái ác vật chất, và sự khống chế của nó đối với nhân loại đã suy yếu rất nhiều.
Confound not evil with the activities of the gangster or the criminal. Criminals and gangsters are the result of the emerging massed imperfections: they are the victims of ignorance, mishandling when children and misunderstanding down the ages of right human relations; the Law of Rebirth will eventually lead them on the way to good. Those men are truly evil who seek to enforce a return to the bad old ways, who endeavour to keep their fellowmen in slavery of some kind or another, who block the expression of one or all of the Four Freedoms, who gain material riches at the expense of the exploited, or who seek to hold for themselves and for gain the produce of the earth, and thus make the cost of life’s necessities prohibitive to those not richly endowed. Those who thus work, think and plan are to be found in every nation, and are usually of prominence because of their riches and influence; however, they sin against light and not through ignorance; their goals are material and not spiritual. They are relatively few compared to the countless millions of men, but are exceedingly powerful; they are highly intelligent but unscrupulous, and it is through them that the Forces of Evil work, holding back progress, promoting poverty, breeding hatred and class distinctions, fostering racial differences for their own ends, and keeping ignorance in power. Their sin is great and it is hard for them to change, because power and the will-to-power (as it militates against the will-to-good) is a dominant all-controlling factor in their lives; these men are today working against the unity of the United Nations, [669] through their greed, their determination to own the resources of the earth (such as oil, mineral wealth and food) and thus keep the people weak and with inadequate food. These men, who are found in every nation, thoroughly understand each other and are working together in great combines to exploit the riches of the earth at the expense of humanity.
Đừng nhầm lẫn cái ác với những hoạt động của kẻ cướp hay tội phạm. Tội phạm và kẻ cướp là kết quả của những bất toàn tích tụ đang bộc lộ: họ là nạn nhân của sự vô minh, của cách đối xử sai lầm khi còn nhỏ và của sự hiểu sai qua bao thời đại về các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người; Định luật Tái Sinh cuối cùng sẽ dẫn họ trên con đường hướng thiện. Những kẻ thực sự độc ác là những người tìm cách ép buộc quay lại các đường lối xấu xa cũ, cố gắng giữ đồng loại trong một hình thức nô lệ nào đó, ngăn cản sự biểu hiện của một hoặc tất cả Bốn Quyền Tự Do, làm giàu về vật chất bằng sự thiệt thòi của những người bị bóc lột, hoặc tìm cách chiếm giữ sản vật của Trái Đất cho riêng mình và để kiếm lời, qua đó khiến giá những nhu yếu phẩm của cuộc sống vượt quá khả năng chi trả của những người không giàu có. Những kẻ làm việc, suy nghĩ và hoạch định như vậy có mặt ở mọi quốc gia, và thường có địa vị nổi bật nhờ sự giàu có cùng ảnh hưởng của họ; tuy nhiên, họ phạm tội dù đã biết ánh sáng, chứ không phải do vô minh; mục tiêu của họ thuộc về vật chất chứ không thuộc về tinh thần. So với vô số triệu người, họ tương đối ít, nhưng lại vô cùng hùng mạnh; họ rất thông minh nhưng vô lương tâm, và chính qua họ mà các Mãnh Lực của Cái Ác hoạt động, kìm hãm tiến bộ, làm gia tăng nghèo đói, gây ra hận thù và phân biệt giai cấp, nuôi dưỡng những khác biệt chủng tộc vì mục đích riêng, và duy trì quyền lực của sự vô minh. Tội lỗi của họ rất lớn và họ khó thay đổi, vì quyền lực cùng ý chí quyền lực — khi nó chống lại Ý Chí-hướng Thiện — là nhân tố thống trị, chi phối toàn bộ cuộc sống của họ; ngày nay, những kẻ này đang chống lại sự đoàn kết của Liên Hợp Quốc, [669] qua lòng tham và quyết tâm chiếm hữu những tài nguyên của Trái Đất như dầu mỏ, khoáng sản và lương thực, qua đó giữ cho dân chúng suy yếu và thiếu ăn. Những kẻ này, có mặt ở mọi quốc gia, thấu hiểu nhau hoàn toàn và đang cùng hoạt động trong những tập đoàn lớn để khai thác tài nguyên của Trái Đất bằng sự thiệt thòi của nhân loại.
Russia is today singularly free of such men, so I refer not here to that vast country, as many of her enemies might surmise. Russia is making great mistakes, but they are the mistakes of a fanatical ideologist or of a gangster who sins because of ignorance, through immaturity or in fury at the evil things with which he is surrounded. This is something totally different to the evil with which I have been dealing, and it will not last, because Russia will learn; these others do not learn.
Ngày nay, nước Nga đặc biệt không có những kẻ như vậy, nên ở đây Tôi không nói đến đất nước rộng lớn ấy, như nhiều kẻ thù của nước này có thể phỏng đoán. Nước Nga đang phạm những sai lầm lớn, nhưng đó là những sai lầm của một người cuồng tín về ý thức hệ hoặc của một kẻ cướp phạm tội vì vô minh, vì chưa trưởng thành hoặc vì phẫn nộ trước những điều xấu xa vây quanh mình. Điều này hoàn toàn khác với cái ác mà Tôi đang bàn đến, và nó sẽ không kéo dài, bởi nước Nga sẽ học hỏi; những kẻ kia thì không học hỏi.
I have used the above illustration so as to make my theme somewhat clearer. The whole problem of evil is, however, too vast to contemplate here, nor is it advisable or wise to discuss the source of evil (not of imperfection), the Black Lodge. Energy follows thought, and the spoken word can be potently evocative: therefore, until one is a member of the Great White Lodge, it is the part of wisdom to avoid consideration of forces potent enough intelligently to use the latent imperfection in humanity and to impose the vast evil of war, with all its results and far-reaching effects, upon humanity. The Black Lodge is the problem of the White Lodge, and not the problem of humanity. For aeons the Hierarchy has handled this problem, and is now in process of solving it. It is essentially, however, the main consideration and problem of Shamballa, for it is connected with the will aspect, and only the will-to-good will suffice to blot out and annihilate the will-to-evil. Goodwill will not suffice, though the united and invocative appeal of the [670] men of goodwill throughout the world-increasingly voiced through the Great Invocation-will serve “to seal the door where evil dwells.”
Tôi đã dùng minh họa trên để làm cho chủ đề của mình rõ hơn đôi chút. Tuy nhiên, toàn bộ vấn đề cái ác quá rộng lớn để xem xét ở đây; bàn luận về nguồn gốc của cái ác — không phải của sự bất toàn — tức Hắc đoàn, cũng không phải là điều nên làm hay khôn ngoan. Năng lượng đi theo tư tưởng, và lời nói có thể có sức gợi lên mạnh mẽ: vì vậy, cho đến khi trở thành thành viên của Thánh đoàn, điều khôn ngoan là tránh suy xét về những mãnh lực đủ mạnh để sử dụng một cách thông minh sự bất toàn tiềm tàng trong nhân loại và áp đặt lên nhân loại tai họa chiến tranh khủng khiếp, cùng mọi hậu quả và ảnh hưởng sâu rộng của nó. Hắc đoàn là vấn đề của Thánh đoàn, không phải vấn đề của nhân loại. Qua bao đại kỳ, Thánh đoàn đã xử lý vấn đề này, và nay đang trong tiến trình giải quyết nó. Tuy nhiên, về bản chất, đây là mối quan tâm và vấn đề chính của Shamballa, vì nó liên quan đến phương diện ý chí, và chỉ Ý Chí-hướng Thiện mới đủ sức xóa bỏ và hủy diệt ý chí hướng ác. Thiện chí sẽ không đủ, dù lời khẩn cầu hợp nhất của những [670] người thiện chí khắp thế giới — ngày càng cất lên qua Đại Khấn Nguyện — sẽ góp phần “đóng kín cửa vào nẻo ác”.
It is behind that door and in dealing with the forces there concealed (and mobilised) that the Hierarchy is effective; the methods and modes whereby They protect humanity from mobilised evil, and are gradually driving the evil back, would not be understood by you who have not yet passed through the door which leads to the Way of the Higher Evolution.
Chính phía sau cánh cửa ấy, khi đối phó với những mãnh lực ẩn giấu và tập hợp ở đó, Thánh đoàn mới phát huy hiệu quả; các phương pháp và cách thức Các Ngài dùng để bảo vệ nhân loại trước cái ác đã tập hợp lực lượng, đồng thời từng bước đẩy lùi nó, sẽ vượt ngoài sự thấu hiểu của các bạn, những người chưa đi qua cánh cửa dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.
What shall I say concerning harmlessness? It is not easy for me to show or prove to you the effectiveness of the higher aspect, spiral or phase of harmlessness as employed by the Hierarchy, under the direction of the Perfect One, the Christ. The harmlessness with which I have earlier dealt has relation to the imperfections with which humanity is wrestling, and is difficult for you to apply in and under all circumstances, as well you know. The harmlessness to which I refer in connection with you is not negative, or sweet or kindly activity, as so many believe; it is a state of mind and one which in no way negates firm or even drastic action; it concerns motive and involves the determination that the motive behind all activity is goodwill. That motive might lead to positive and sometimes disagreeable action or speech, but as harmlessness and goodwill condition the mental approach, nothing can eventuate but good.
Tôi sẽ nói gì về tính vô tổn hại? Tôi không dễ gì chỉ cho các bạn thấy hoặc chứng minh hiệu quả của phương diện, vòng xoắn hay giai đoạn cao hơn của tính vô tổn hại mà Thánh đoàn sử dụng dưới sự chỉ đạo của Đấng Toàn Thiện, Đức Christ. Tính vô tổn hại mà Tôi đã bàn trước đây liên quan đến những bất toàn mà nhân loại đang vật lộn, và như các bạn biết rõ, rất khó áp dụng trong mọi hoàn cảnh. Tính vô tổn hại mà Tôi nói đến trong mối liên hệ với các bạn không phải là sự tiêu cực, hay hoạt động dịu dàng hoặc tử tế như nhiều người tin; đó là một trạng thái của thể trí, hoàn toàn không loại trừ hành động cương quyết, thậm chí quyết liệt; nó liên quan đến động cơ và bao hàm quyết tâm bảo đảm rằng động cơ đằng sau mọi hoạt động đều là thiện chí. Động cơ ấy có thể dẫn đến hành động hoặc lời nói tích cực, đôi khi gây khó chịu, nhưng vì tính vô tổn hại và thiện chí định hình cách tiếp cận trí tuệ, kết quả chỉ có thể là điều tốt lành.
On a higher turn of the spiral, the Hierarchy also employs harmlessness, but it is related to the will-to-good and involves the use of dynamic, electric energy under intuitive direction; this type of energy is never brought into activity by man; it is energy which he cannot yet handle. This type of harmlessness is based on complete self-sacrifice, wherein the will-to-sacrifice, the will-to-good and the will-to-power (three phases of the will aspect, as expressed through the [671] Spiritual Triad) are all fused into one dynamic energy of a deeply spiritual nature. This energy is the epitome of complete or perfect harmlessness, where humanity and the subsidiary kingdoms in nature are concerned, but it is expulsive in its effect and dynamic in its annihilating impact, where the Forces of Evil are concerned.
Ở một vòng cao hơn của đường xoắn ốc, Thánh đoàn cũng sử dụng tính vô tổn hại, nhưng tính vô tổn hại này liên quan đến Ý Chí-hướng Thiện và bao hàm việc sử dụng năng lượng điện năng đầy uy lực dưới sự chỉ dẫn của trực giác; con người chưa bao giờ đưa loại năng lượng này vào hoạt động; đó là năng lượng mà y chưa thể vận dụng. Loại vô tổn hại này dựa trên sự hi sinh bản thân hoàn toàn, trong đó ý chí hi sinh, Ý Chí-hướng Thiện và ý chí quyền lực — ba giai đoạn của phương diện ý chí, biểu hiện qua [671] Tam Nguyên Tinh Thần — đều dung hợp thành một năng lượng đầy uy lực có bản chất tinh thần sâu sắc. Năng lượng này là sự kết tinh của tính vô tổn hại trọn vẹn hay hoàn hảo đối với nhân loại và các giới phụ thuộc trong thiên nhiên, nhưng đối với các Mãnh Lực của Cái Ác, nó có tác dụng trục xuất và một tác động hủy diệt đầy uy lực.
A close but esoteric study of the three temptations of the Christ will reveal three major occasions when the Perfect One, expressing this higher harmlessness, forced the exponent of evil to retreat. This triple episode is symbolically related, but is factual in nature. Little thought has ever been given to what would have been the worldwide effect down the centuries if the Christ had not reacted as He did; speculation is of little use, but it might be stated that the entire course of history and of the evolutionary progress of humanity would have been altered, and in a dire and awful manner. But the dynamic harmlessness, the expression of the will-to-good and the demonstration of the will-to-power (forcing evil to leave Him) marked a most important crisis in the life of the Christ. The Gospel story (with its resume of the five initiations) concerns the progress and triumph of the Master Jesus; the story of the three temptations indicated the taking of a still higher initiation, the sixth, by the Christ; this conferred on Him complete mastery over evil, and not mastery over imperfection; it was because He was the “Perfect One” that He could take this initiation.
Một sự nghiên cứu kỹ lưỡng theo huyền bí học về ba lần cám dỗ của Đức Christ sẽ cho thấy ba dịp trọng đại khi Đấng Toàn Thiện, biểu hiện tính vô tổn hại cao hơn này, buộc kẻ đại diện cho cái ác phải rút lui. Biến cố tam phân này được thuật lại bằng biểu tượng, nhưng về bản chất là có thật. Ít ai từng suy nghĩ về ảnh hưởng trên toàn thế giới qua nhiều thế kỷ nếu Đức Christ đã không phản ứng như Ngài từng làm; suy đoán chẳng mấy hữu ích, nhưng có thể nói rằng toàn bộ dòng lịch sử và sự tiến bộ trong tiến hoá của nhân loại hẳn đã thay đổi theo một cách bi thảm và khủng khiếp. Nhưng tính vô tổn hại đầy uy lực, sự biểu hiện của Ý Chí-hướng Thiện và sự thể hiện của ý chí quyền lực — buộc cái ác phải rời khỏi Ngài — đã đánh dấu một thời điểm quyết định hết sức quan trọng trong cuộc đời Đức Christ. Câu chuyện Phúc Âm, với phần tóm lược năm cuộc điểm đạo, nói về sự tiến bộ và chiến thắng của Chân sư Jesus; câu chuyện ba lần cám dỗ cho thấy Đức Christ trải qua một cuộc điểm đạo còn cao hơn, lần thứ sáu; cuộc điểm đạo này ban cho Ngài quyền làm chủ hoàn toàn đối với cái ác, không phải quyền làm chủ đối với sự bất toàn; chính vì Ngài là “Đấng Toàn Thiện” mà Ngài có thể trải qua cuộc điểm đạo này.
I have given you much for mature consideration and thrown some light upon an initiation of which little, naturally, can be known. I would call your attention also to the three fundamental requirements for a successful approach to this initiation: perfect poise, a completed point of view and divine understanding. You would find it of interest to see how these three qualities work out in relation to the [672] three temptations; in so doing much light would be thrown on the life, nature and character of the Christ.
Tôi đã trao cho các bạn nhiều điều để suy xét chín chắn và soi sáng phần nào về một cuộc điểm đạo mà đương nhiên người ta chỉ có thể biết rất ít. Tôi cũng muốn lưu ý các bạn về ba yêu cầu căn bản để tiếp cận thành công cuộc điểm đạo này: sự quân bình hoàn hảo, một quan điểm hoàn chỉnh và sự thấu hiểu thiêng liêng. Các bạn sẽ thấy thú vị khi tìm hiểu cách ba phẩm tính này thể hiện trong mối liên hệ với [672] ba lần cám dỗ; qua đó, nhiều ánh sáng sẽ soi rọi cuộc đời, bản chất và tính cách của Đức Christ.
Under the Law of Perfection we are given the key to the civilisation and cycle of evolution which He inaugurated—the ideal of which is not lost, though the application of the teaching He gave has been neglected by the churches and by mankind. You will note also that one temptation takes place on the summit of a high mountain; from that elevation both time and space are totally negated, for the vision of Christ ranged from the past, through the present and on into the future. This state of awareness (I cannot call it consciousness, and awareness is almost as inaccurate a word) is only possible after the fifth initiation, reaching a high point of expression at the sixth initiation.
Theo Định luật Hoàn Thiện, chúng ta có được chìa khóa để hiểu nền văn minh và chu kỳ tiến hoá mà Ngài khai mở — lý tưởng của nó chưa mất đi, dù các giáo hội và nhân loại đã sao nhãng việc áp dụng giáo huấn Ngài ban truyền. Các bạn cũng sẽ nhận thấy rằng một lần cám dỗ diễn ra trên đỉnh một ngọn núi cao; từ độ cao ấy, cả thời gian lẫn không gian đều hoàn toàn bị phủ định, vì tầm nhìn của Đức Christ trải từ quá khứ, qua hiện tại và tiếp đến tương lai. Trạng thái nhận biết này — Tôi không thể gọi nó là tâm thức, và từ nhận biết cũng gần như không chính xác — chỉ có thể có sau lần điểm đạo thứ năm, đạt đến một đỉnh cao biểu hiện ở lần điểm đạo thứ sáu.
I would like to consider with you the nature of the three requirements presented as essential for a certain initiation, because they provide the link between Law IX and Rule Six. The rule is so clear and concise that it needs but little explanation, emphasising, as it does, energy which must be used and that which must not. It says:
Tôi muốn cùng các bạn xem xét bản chất của ba yêu cầu được trình bày là thiết yếu đối với một cuộc điểm đạo nhất định, bởi chúng tạo ra mối liên kết giữa Định luật IX và Quy luật Sáu. Quy luật này rõ ràng và súc tích đến mức chỉ cần giải thích đôi chút, vì nó nhấn mạnh năng lượng nào phải sử dụng và năng lượng nào không được sử dụng. Quy luật nói: