← Esoteric Healing – Song ngữ song ngữ (codex)

CHAPTER IX - The Seven Modes of Healing – CHƯƠNG IX - Bảy Phương Thức Trị Liệu

Trích nội dung chương

The healer or the healing group must keep the will in leash. It is not will which must be used, but love. These three basic requirements concern attainment on various planes of the universe; though I dealt with them in connection with the approach to the sixth initiation, they have— on a lower turn of the spiral—their correspondences, and are therefore of practical application by the initiated disciple, particularly one who has taken the third initiation. Let us take them, one by one, into our thinking:


RULE SIX – QUY LUẬT SÁU

The healer or the healing group must keep the will in leash. It is not will which must be used, but love.

Nhà trị liệu hoặc nhóm trị liệu phải kiềm chế ý chí. Phải sử dụng tình thương chứ không phải ý chí.

These three basic requirements concern attainment on various planes of the universe; though I dealt with them in connection with the approach to the sixth initiation, they have— on a lower turn of the spiral—their correspondences, and are therefore of practical application by the initiated disciple, particularly one who has taken the third initiation. Let us take them, one by one, into our thinking:

Ba yêu cầu căn bản này liên quan đến sự thành tựu trên các cõi khác nhau của vũ trụ; dù Tôi đã bàn về chúng trong mối liên hệ với việc tiếp cận lần điểm đạo thứ sáu, ở một vòng thấp hơn của đường xoắn ốc, chúng vẫn có những tương ứng, và vì vậy người đệ tử đã được điểm đạo, đặc biệt là người đã trải qua lần điểm đạo thứ ba, có thể áp dụng chúng trong thực tiễn. Chúng ta hãy lần lượt suy xét từng yêu cầu:

Perfect Poise indicates complete control of the astral body, so that emotional upheavals are overcome, or at [673] least are greatly minimised in the life of the disciple. It indicates also, on the higher turn of the spiral, an ability to function freely on buddhic levels, owing to complete liberation (and consequent poise) from all the influences and impulses which are motived from the three worlds. This type or quality of poise connotes-if you will think deeply-an abstract state of mind; nothing which is regarded as nonperfection can create disturbance. You can realise surely that, if you were entirely free from all emotional reactions, your clarity of mind and your ability to think clearly would be enormously increased, with all that that involves

Sự Quân Bình Hoàn Hảo biểu thị sự kiểm soát hoàn toàn thể cảm dục, nhờ đó những xáo trộn cảm xúc được khắc phục, hoặc ít [673] nhất giảm thiểu rất nhiều trong cuộc sống của người đệ tử. Ở vòng cao hơn của đường xoắn ốc, nó cũng biểu thị khả năng hoạt động tự do trên các cấp độ Bồ đề, nhờ hoàn toàn giải thoát khỏi mọi ảnh hưởng và xung lực có động cơ bắt nguồn từ ba cõi giới, và nhờ sự quân bình phát sinh từ sự giải thoát ấy. Nếu suy nghĩ sâu sắc, các bạn sẽ thấy loại hay phẩm tính quân bình này hàm ý một trạng thái trừu tượng của thể trí; không điều gì được xem là bất toàn có thể gây xáo trộn. Chắc chắn các bạn có thể nhận ra rằng, nếu hoàn toàn thoát khỏi mọi phản ứng cảm xúc, sự sáng suốt của thể trí và khả năng suy nghĩ rõ ràng của các bạn sẽ gia tăng vô cùng, cùng mọi hệ quả mà điều đó mang lại

Naturally, the perfect poise of an initiated disciple and that of the initiated Master are different, for one concerns the effect of the three worlds or their non-effect, and the other concerns adaptability to the rhythm of the Spiritual Triad; nevertheless, the earlier type of poise must precede the later achievement, hence my consideration of the subject. This perfect poise (which is a possible achievement for you who read) is arrived at by ruling out the pulls, the urges, impulses and attractions of the astral or emotional nature, and also by the practice of what I have earlier mentioned: Divine Indifference.

Đương nhiên, sự quân bình hoàn hảo của một đệ tử đã được điểm đạo và của một Chân sư đã được điểm đạo là khác nhau, vì một bên liên quan đến ảnh hưởng hoặc sự không ảnh hưởng của ba cõi giới, còn bên kia liên quan đến khả năng thích ứng với nhịp điệu của Tam Nguyên Tinh Thần; tuy nhiên, loại quân bình ban đầu phải có trước thành tựu về sau, vì thế Tôi mới xem xét chủ đề này. Sự quân bình hoàn hảo này — một thành tựu mà các bạn đang đọc những dòng này có thể đạt được — có được nhờ loại bỏ những sức lôi kéo, thôi thúc, xung lực và hấp dẫn của bản chất cảm dục hay cảm xúc, đồng thời nhờ thực hành điều Tôi đã đề cập trước đây: Điềm nhiên thiêng liêng.

A Completed Point of View. This necessarily and primarily refers to the universal outlook of the Monad, and therefore to an initiate of the higher degrees. It can, however, be interpreted on a lower rung of the ladder of evolution and refers to the function of the soul as an Observer in the three worlds and the completed all-round picture such an observer gradually attains. This is brought about by the development of the two qualities of detachment and discrimination. These two qualities, [674] when expressed on the Way to the Higher Evolution, become Abstraction and the Will-to-good.

Một Quan Điểm Hoàn Chỉnh. Trước hết và tất yếu, điều này nói đến tầm nhìn phổ quát của chân thần, và do đó nói đến một điểm đạo đồ thuộc các cấp cao. Tuy nhiên, có thể diễn giải nó ở một nấc thấp hơn trên thang tiến hoá, khi ấy nó nói đến chức năng của linh hồn như một Người Quan Sát trong ba cõi giới và bức tranh toàn cảnh hoàn chỉnh mà người quan sát ấy dần đạt được. Điều này có được nhờ phát triển hai phẩm tính là sự tách rời và sự phân biện. Khi biểu hiện trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, hai phẩm tính này, [674] trở thành sự Trừu Xuất và Ý Chí-hướng Thiện.

A completed point of view-as experienced on soul levels—indicates the removal of all barriers and the freedom of the disciple from the great heresy of separateness; he has therefore created an unclogged channel for the inflow of pure love. Perfect poise, viewed from the same level, has removed all impediments and those emotional factors which have hitherto blocked the channel, thus preparing the way for the Observer to see truly; the disciple then functions as a clear channel for love.

Một quan điểm hoàn chỉnh, như được trải nghiệm trên các cấp độ linh hồn, biểu thị việc dỡ bỏ mọi rào cản và sự giải thoát của người đệ tử khỏi Đại Tà thuyết về sự chia rẽ; do đó, y đã tạo ra một kênh thông suốt cho tình thương thuần khiết tuôn vào. Nhìn từ cùng cấp độ ấy, sự quân bình hoàn hảo đã loại bỏ mọi chướng ngại và những yếu tố cảm xúc trước đây từng làm tắc nghẽn kênh này, qua đó chuẩn bị cho Người Quan Sát thấy đúng sự thật; bấy giờ người đệ tử hoạt động như một kênh trong sáng cho tình thương.

Divine Understanding must also be studied from two points of view. As a soul quality, it indicates a mind which can be held steady in the light, and can therefore reflect the pure reason (pure love) which qualifies the reflections of the Son of Mind, the soul on its own plane. On the higher Way of the Master, it relates to that identification which supersedes the individualistic consciousness; all barriers have gone, and the initiate sees things as they are; he knows the causes of which all phenomena are the ephemeral effects. This, consequently, enables Him to understand the Purpose, as it emanates from Shamballa, just as the lesser initiate understands the Plan as it is formulated by the Hierarchy.

Sự Thấu Hiểu Thiêng Liêng cũng phải được nghiên cứu từ hai quan điểm. Là một phẩm tính của linh hồn, nó biểu thị một thể trí có thể được giữ vững trong ánh sáng, nhờ đó phản chiếu lý trí thuần khiết — tình thương thuần khiết — vốn quy định phẩm tính những phản chiếu của Con của Trí Tuệ, tức linh hồn trên cõi riêng của nó. Trên Đường Đạo cao hơn của Chân sư, nó liên quan đến sự đồng hoá vượt lên trên tâm thức cá nhân; mọi rào cản đã biến mất, và điểm đạo đồ thấy sự vật đúng như chúng vốn là; Ngài biết những nguyên nhân mà mọi hiện tượng chỉ là các kết quả phù du. Do đó, điều này giúp Ngài thấu hiểu Thiên Ý phát ra từ Shamballa, cũng như điểm đạo đồ cấp thấp hơn thấu hiểu Thiên Cơ do Thánh đoàn hoạch định.

All three of these divine attributes are, in some measure, essential in the development of the initiate-healer; he must work at their unfoldment as part of his necessary equipment; he must know that all reactions of an emotional nature create a wall or barrier between the free flow of healing force and the patient, and that the barrier is created by him and not by the patient. The emotions of the [675] patient should have no effect upon the healer and should fail to deviate him from the intense concentration needed for his work; these emotions of the patient cannot in themselves create a barrier strong enough to deflect the healing force.

Cả ba thuộc tính thiêng liêng này, ở một mức độ nào đó, đều thiết yếu cho sự phát triển của nhà trị liệu đã được điểm đạo; y phải nỗ lực khai mở chúng như một phần năng lực cần thiết của mình; y phải biết rằng mọi phản ứng mang bản chất cảm xúc đều tạo ra một bức tường hay rào cản giữa dòng mãnh lực chữa lành tự do tuôn chảy và bệnh nhân, và chính y tạo ra rào cản ấy chứ không phải bệnh nhân. Những cảm xúc của [675] bệnh nhân không được ảnh hưởng đến nhà trị liệu và không được khiến y rời khỏi sự tập trung cao độ cần thiết cho công việc; bản thân những cảm xúc này của bệnh nhân không thể tạo ra một rào cản đủ mạnh để làm lệch hướng mãnh lực chữa lành.

A completed point of view involves at least the attempt by the disciple to penetrate into the world of causes, and thus learn (if possible) what it is that is responsible for the disease of the patient. This need not involve penetration into previous incarnations, nor is that essential, in spite of what some modern and generally fraudulent healers may claim. There is usually enough psychological evidence, or indications of inherited tendencies, to give the healer his clue and to enable him to get a somewhat complete picture of the situation. It is obvious that this “penetration” into the causes of the trouble will only be possible if the healer loves enough; because he loves, he has achieved a poise which brings negation to the world of illusion and of glamour. Divine understanding is simply the application of the principle of pure love (pure reason) to all men and to all circumstances, plus right interpretation of the existing difficulties of the patient, or of those which may exist between patient and healer.

Một quan điểm hoàn chỉnh ít nhất cũng đòi hỏi người đệ tử cố gắng thâm nhập thế giới nguyên nhân, qua đó tìm hiểu, nếu có thể, điều gì gây ra căn bệnh của bệnh nhân. Điều này không nhất thiết đòi hỏi phải thâm nhập các kiếp trước, và việc ấy cũng không thiết yếu, bất chấp những tuyên bố của một số nhà trị liệu hiện đại mà nhìn chung là giả mạo. Thường có đủ bằng chứng tâm lý hoặc dấu hiệu về các khuynh hướng di truyền để cung cấp manh mối cho nhà trị liệu và giúp y có được một bức tranh tương đối đầy đủ về tình trạng ấy. Hiển nhiên, việc “thâm nhập” những nguyên nhân gây bệnh này chỉ có thể thực hiện nếu nhà trị liệu có đủ tình thương; vì có tình thương, y đã đạt được sự quân bình khiến thế giới ảo tưởng và ảo cảm mất tác dụng. Sự thấu hiểu thiêng liêng đơn giản là áp dụng nguyên khí tình thương thuần khiết — lý trí thuần khiết — đối với mọi người và mọi hoàn cảnh, cùng với việc diễn giải đúng những khó khăn hiện có của bệnh nhân, hoặc những khó khăn có thể tồn tại giữa bệnh nhân và nhà trị liệu.

To these requirements I would like to add another factor: that of the doctor, physician or surgeon who is physically responsible for the patient. In the coming new era, the healer will work always with the scientific aid of the trained medical man; this is a factor which causes bewilderment, at present, to the average modern healer belonging to some cult or expressing some unorthodox phase of healing.

Ngoài các yêu cầu này, Tôi muốn bổ sung một nhân tố khác: đó là bác sĩ, thầy thuốc hoặc bác sĩ phẫu thuật chịu trách nhiệm về phương diện thể xác của bệnh nhân. Trong kỷ nguyên mới sắp đến, nhà trị liệu sẽ luôn làm việc với sự hỗ trợ khoa học của một người được đào tạo về y khoa; hiện nay, đây là nhân tố khiến nhà trị liệu hiện đại thông thường, thuộc một giáo phái nào đó hoặc thực hành một hình thức chữa lành không chính thống, cảm thấy bối rối.

It will therefore be apparent how these three divine requirements (when stepped down for the use of the disciple in the modern world) indicate a line of training or of self-discipline [676] to which all should apply themselves. When they have mastered even some of the earliest phases of this triple achievement, they will find that they can apply Rule Six with ease.

Vì vậy, có thể thấy rõ ba yêu cầu thiêng liêng này, khi được hạ xuống cho người đệ tử trong thế giới hiện đại sử dụng, chỉ ra một đường hướng rèn luyện hay tự kỷ luật [676] mà tất cả mọi người đều nên chuyên tâm thực hành. Khi làm chủ được dù chỉ một số giai đoạn sớm nhất của thành tựu tam phân này, họ sẽ thấy mình có thể áp dụng Quy luật Sáu một cách dễ dàng.

What is meant by the words “to keep the will in leash”? The will aspect here considered is not that of the will-to-good and its lower expression goodwill. The will-to-good signifies the stable, immovable orientation of the initiated disciple, whilst goodwill can be regarded as its expression in daily service. The will-to-good, as expressed by a higher initiate, is a dynamic energy having predominantly a group effect; for this reason, the higher initiates seldom concern themselves with the healing of an individual. Their work is too potent and too important to permit them to do so, and the will energy, embodying as it does divine Purpose, might prove destructive in its effects upon an individual. The patient would not be able to receive or absorb it. It is, however, assumed that goodwill colours the entire attitude and thinking of the healing disciple.

Những lời “kiềm chế ý chí” hàm ý gì? Phương diện ý chí được xem xét ở đây không phải là Ý Chí-hướng Thiện cùng biểu hiện thấp hơn của nó là thiện chí. Ý Chí-hướng Thiện biểu thị sự định hướng ổn định, bất lay chuyển của người đệ tử đã được điểm đạo, còn thiện chí có thể được xem là biểu hiện của ý chí ấy trong việc phụng sự hằng ngày. Ý Chí-hướng Thiện, khi biểu hiện qua một điểm đạo đồ cao cấp, là một năng lượng đầy uy lực, chủ yếu tạo tác động lên nhóm; vì lý do này, các điểm đạo đồ cao cấp hiếm khi quan tâm đến việc chữa lành một cá nhân. Công việc của Các Ngài quá mạnh mẽ và quá quan trọng để cho phép Các Ngài làm như vậy, và năng lượng ý chí, vì hiện thân cho Thiên Ý, có thể gây tác động hủy hoại đối với một cá nhân. Bệnh nhân sẽ không thể tiếp nhận hay hấp thụ nó. Tuy nhiên, người ta mặc nhiên cho rằng thiện chí thấm đượm toàn bộ thái độ và tư tưởng của người đệ tử trị liệu.

The will which must be kept in leash is the will of the personality which, in the case of the initiated disciple, is of a very high order. It also relates to the will of the soul, emanating from the petals of sacrifice in the egoic lotus. All true healers have to create a healing thoughtform, and through this they consciously or unconsciously work. It is this thoughtform which must be kept free from a too powerful use of the will, for it can (unless held in leash, stepped down, modified or, if needed, eliminated altogether) destroy not only the thoughtform created by the healer, but it can also build a barrier between healer and patient; the initial rapport is thus broken. Only a Christ can heal by the use of the will, and He seldom in reality healed at all; in the cases where He is reported to have done so, His reason was to prove the possibility of healing; but-as you will [677] note if you are familiar with the Gospel story—He gave no instructions to His disciples upon the art of healing. This is significant.

Ý chí phải được kiềm chế là ý chí của phàm ngã, vốn thuộc một cấp độ rất cao trong trường hợp người đệ tử đã được điểm đạo. Nó cũng liên quan đến ý chí của linh hồn, phát ra từ các cánh hoa hi sinh trong Hoa Sen Chân Ngã. Mọi nhà trị liệu chân chính đều phải tạo ra một hình tư tưởng chữa lành, và qua đó họ hoạt động một cách hữu thức hoặc vô thức. Chính hình tư tưởng này phải được giữ cho không chịu sự vận dụng ý chí quá mạnh, vì ý chí ấy — nếu không được kiềm chế, hạ thấp cường độ, điều chỉnh hoặc loại bỏ hoàn toàn khi cần — không chỉ có thể phá hủy hình tư tưởng do nhà trị liệu tạo ra, mà còn có thể dựng nên một rào cản giữa nhà trị liệu và bệnh nhân; nhờ đó, mối giao cảm ban đầu bị phá vỡ. Chỉ một Đấng Christ mới có thể chữa lành bằng việc sử dụng ý chí, và trên thực tế Ngài hiếm khi chữa lành; trong những trường hợp mà người ta thuật lại rằng Ngài đã làm như vậy, mục đích của Ngài là chứng minh khả năng chữa lành; nhưng như các bạn sẽ [677] nhận thấy nếu quen thuộc với câu chuyện Phúc Âm, Ngài không ban cho các đệ tử huấn thị nào về nghệ thuật chữa lành. Điều này có ý nghĩa sâu xa.

The self-will (no matter of how high a quality) of the healer, and his determined effort to heal the patient, create a tension in the healer which can seriously deflect the healing current of energy. When this type of will is present, as it frequently is in the inexperienced healer or the non-initiated healer, the healer is apt to absorb the patient’s difficulty and will experience symptoms of the trouble and the pain. His willful determination to be of help acts like a boomerang and he suffers, whilst the patient is not really helped.

Ý chí riêng của nhà trị liệu, dù phẩm tính cao đến đâu, cùng nỗ lực kiên quyết chữa lành bệnh nhân, tạo ra một sự căng thẳng trong nhà trị liệu có thể làm lệch hướng nghiêm trọng dòng năng lượng chữa lành. Khi loại ý chí này hiện diện, như thường xảy ra ở nhà trị liệu thiếu kinh nghiệm hoặc chưa được điểm đạo, nhà trị liệu dễ hấp thụ vấn đề của bệnh nhân và sẽ trải nghiệm các triệu chứng của căn bệnh cùng sự đau đớn. Quyết tâm giúp đỡ bằng ý chí riêng của y tác động như một vũ khí ném quay ngược trở lại, khiến y đau khổ trong khi bệnh nhân không thực sự được giúp đỡ.

So the instruction is to use love, and here a major difficulty emerges. How can the healer use love, freed from its emotional or lower quality, and bring it through in its pure state for the healing of the patient? Only as the healer has cultivated the three requirements, and has therefore developed himself as a pure channel. He is apt to be so preoccupied with himself, with the definition of love, and with the determination to heal the patient that the three requirements are neglected. Then both he and the patient are wasting each other’s time. He need not brood or worry about the nature of pure love, or endeavour too ardently to understand how pure reason and pure love are synonymous terms, or whether he can show sufficient love to effect a healing. Let him ponder on the three requirements, particularly the first, and let him fulfill within himself these three requirements as far as in him lies and his point in evolution permits. He will then become a pure channel and the hindrances to the inflow of pure love will be automatically removed for “as a man thinketh in his heart so is he”; then, without obstruction or difficulty pure love will pour through him and the patient will be healed—if such is the law for him.

Vì vậy, huấn thị là sử dụng tình thương, và ở đây một khó khăn lớn xuất hiện. Làm thế nào nhà trị liệu có thể sử dụng tình thương đã thoát khỏi phẩm tính cảm xúc hay thấp kém của nó, và dẫn truyền tình thương trong trạng thái thuần khiết để chữa lành bệnh nhân? Chỉ khi nhà trị liệu đã vun bồi ba yêu cầu ấy, và nhờ đó phát triển bản thân thành một kênh thuần khiết. Y dễ quá bận tâm đến bản thân, đến định nghĩa về tình thương và quyết tâm chữa lành bệnh nhân đến mức sao nhãng ba yêu cầu này. Khi ấy, cả y lẫn bệnh nhân đều đang làm lãng phí thời gian của nhau. Y không cần suy nghĩ day dứt hay lo lắng về bản chất của tình thương thuần khiết, cũng không cần quá ráo riết cố gắng thấu hiểu vì sao lý trí thuần khiết và tình thương thuần khiết là những thuật ngữ đồng nghĩa, hay liệu mình có thể biểu lộ đủ tình thương để chữa lành hay không. Hãy để y suy ngẫm về ba yêu cầu, đặc biệt là yêu cầu thứ nhất, và thực hiện ba yêu cầu ấy trong chính mình đến mức khả năng và điểm tiến hoá của y cho phép. Khi ấy, y sẽ trở thành một kênh thuần khiết và những chướng ngại đối với dòng tình thương thuần khiết tuôn vào sẽ tự động biến mất, vì “con người suy nghĩ trong lòng thế nào thì y là thế ấy”; bấy giờ, không gặp trở ngại hay khó khăn, tình thương thuần khiết sẽ tuôn chảy qua y và bệnh nhân sẽ được chữa lành — nếu định luật cho phép người ấy như vậy.

[678]

[678]

We come now to the final and the most mysterious law of all that I have given you. I called your attention to it earlier, and there pointed out that this “last law is an enunciation of a new law which is substituted for the Law of Death, and which has reference only to those found upon the later stages of the Path of Discipleship and the stages upon the Path of Initiation.” By these later stages I refer to the period after the second initiation and prior to taking the third. This law does not apply in any way as long as the emotional nature can disturb the clear rhythm of the personality as it responds to the impact of soul energy, and later to monadic. There is not, therefore, a great deal that I can make clear to you as regards the full working of this law, but I can indicate certain most interesting ideas and correspondences; these will foster in you constructive speculative thinking, yet at the same time they embody proven facts for those of us who are initiated disciples of the Christ or of Sanat Kumara.

Giờ đây, chúng ta đến với định luật cuối cùng và huyền nhiệm nhất trong tất cả những định luật Tôi đã trao cho các bạn. Trước đây, Tôi đã lưu ý các bạn về định luật này và chỉ ra rằng “định luật cuối cùng này là sự công bố một định luật mới thay thế Định luật Tử Vong, và chỉ liên quan đến những người ở các giai đoạn sau của Con Đường Đệ Tử cùng những giai đoạn trên Con Đường Điểm Đạo”. Khi nói đến những giai đoạn sau này, Tôi muốn nói đến thời kỳ sau lần điểm đạo thứ hai và trước khi trải qua lần điểm đạo thứ ba. Định luật này hoàn toàn không áp dụng chừng nào bản chất cảm xúc còn có thể làm xáo trộn nhịp điệu trong sáng của phàm ngã khi nó đáp ứng với tác động của năng lượng linh hồn, và về sau là năng lượng chân thần. Vì vậy, Tôi không thể làm sáng tỏ cho các bạn quá nhiều về sự vận hành trọn vẹn của định luật này, nhưng Tôi có thể chỉ ra một số ý tưởng và những tương ứng hết sức thú vị; chúng sẽ khuyến khích các bạn suy luận mang tính xây dựng, đồng thời thể hiện những sự thật đã được chứng minh đối với những người trong chúng tôi là đệ tử đã được điểm đạo của Đức Christ hoặc của Sanat Kumara.

LAW X – ĐỊNH LUẬT X

Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey. The Word goes forth that form has served its purpose. The principle of mind then organises itself and then repeats the Word: The waiting form responds and drops away. The soul stands free.

Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi từ Người Con đến Người Mẹ, rồi tuân theo. Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự Mục Đích của nó. Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức rồi lặp lại Linh từ: Hình tướng đang chờ đợi đáp ứng và rơi rụng. Linh hồn đứng tự do.

Respond, O Rising One, to the call which comes within the sphere of obligation; recognise the call, emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself. The Sound goes forth. Both soul and form together must renounce the principle of life, and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection. Life is now liberated, owning the quality of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.

Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, tiếng gọi đến trong phạm vi nghĩa vụ; hãy nhận ra tiếng gọi phát ra từ Ashram hoặc từ Phòng Hội Đồng, nơi chính Chúa Tể của Sự Sống đang chờ đợi. Âm Thanh phát ra. Cả linh hồn lẫn hình tướng phải cùng từ bỏ nguyên khí sự sống, nhờ đó để Chân Thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Hình tướng khi ấy phá vỡ sự nối kết. Sự sống nay được giải phóng, mang phẩm tính của tri thức hữu thức và thành quả của mọi kinh nghiệm. Đây là những tặng phẩm do linh hồn và hình tướng cùng đem lại.

[679]

[679]

This Law X is the forerunner of many new laws concerning the relation of soul to form or of spirit to matter; this one is given first for two reasons:

Định luật X này báo trước nhiều định luật mới về mối quan hệ giữa linh hồn với hình tướng hoặc giữa tinh thần với vật chất; định luật này được trao trước tiên vì hai lý do:

1. It can be applied by disciples and thus proven to be true to the mass of men, and above all, to the scientific world.

1. Các đệ tử có thể áp dụng nó, qua đó chứng minh tính chân thực của nó cho đông đảo mọi người, và trên hết là cho giới khoa học.

2. In the mass of testimony and in the type of death (called at this stage “transference”) the fact of the Hierarchy and of Shamballa can be established.

2. Qua khối lượng chứng cứ và qua loại cái chết — ở giai đoạn này được gọi là “chuyển dịch” — có thể xác lập sự thật về sự hiện hữu của Thánh đoàn và Shamballa.

There are three sources of the abstraction which we call “death” if we exclude accident (which may be incident to other people’s karma), war (which involves planetary karma) and natural catastrophes (which are connected entirely with the body of manifestation of the One in Whom we live and move and have our being).

Có ba nguồn gốc của sự trừu xuất mà chúng ta gọi là “cái chết”, nếu loại trừ tai nạn — có thể liên quan đến nghiệp quả của người khác — chiến tranh — liên quan đến nghiệp quả hành tinh — và thiên tai — hoàn toàn gắn với thân thể biểu hiện của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn.

I might pause here at this thought and make somewhat clearer to you the distinction between this “unknown God,” who expresses himself through the planet as a whole, and Sanat Kumara in His high place at Shamballa. Sanat Kumara is in Himself the essential Identity, responsible for the manifested worlds, but so great is His command of energies and forces—owing to His cosmic unfoldment that He requires the entire planet through which to express all that He is. Having the full consciousness of the cosmic astral plane and of the cosmic mental plane, He can apply energies and forces-under cosmic law—which create, sustain and utilise, for the ends of His divine Purpose, the entire planet. He animates the planet with His life; He sustains the planet and all that is in or on it through His soul quality, which He imparts in varying measure to every form; He creates continuously the new forms needed to express the “life more abundantly” and the “increasing purpose of His will” which the progress of the ages makes [680] cyclically possible. We live at this time in a cycle wherein His intense activity is utilising the technique of divine destruction for the release of the spiritual life, and He is simultaneously creating the new structure of civilisation which will express more fully the evolutionary attainment of the planet and the kingdoms in nature, leading eventually to the perfect expression of His divine life and purpose.

Ở đây, Tôi có thể dừng lại ở tư tưởng này và làm rõ hơn đôi chút cho các bạn sự phân biệt giữa “Thượng đế chưa được biết đến” này, Đấng biểu hiện qua toàn thể hành tinh, và Sanat Kumara ở ngôi vị cao cả của Ngài tại Shamballa. Chính Sanat Kumara là Bản Sắc cốt yếu, chịu trách nhiệm về các thế giới biểu hiện, nhưng nhờ sự khai mở vũ trụ của Ngài, quyền điều khiển các năng lượng và mãnh lực của Ngài lớn lao đến mức Ngài cần toàn bộ hành tinh để biểu hiện tất cả những gì Ngài là. Có đầy đủ tâm thức của cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ, Ngài có thể vận dụng những năng lượng và mãnh lực theo định luật vũ trụ để sáng tạo, duy trì và sử dụng toàn bộ hành tinh vì những mục tiêu của Thiên Ý Ngài. Ngài làm hành tinh sống động bằng sự sống của Ngài; Ngài duy trì hành tinh và mọi sự ở trong hay trên đó bằng phẩm tính linh hồn của Ngài, được Ngài truyền cho mỗi hình tướng với những mức độ khác nhau; Ngài liên tục tạo ra những hình tướng mới cần thiết để biểu hiện “sự sống dồi dào hơn” và “mục đích ngày càng mở rộng của ý chí Ngài”, điều mà sự tiến triển qua các thời đại khiến [680] trở nên khả thi theo chu kỳ. Hiện nay, chúng ta sống trong một chu kỳ mà hoạt động mãnh liệt của Ngài đang sử dụng kỹ thuật hủy diệt thiêng liêng để giải phóng sự sống tinh thần, đồng thời Ngài đang tạo dựng cấu trúc mới của nền văn minh, sẽ biểu hiện đầy đủ hơn thành tựu tiến hoá của hành tinh và các giới trong thiên nhiên, cuối cùng dẫn đến sự biểu hiện hoàn hảo sự sống và mục đích thiêng liêng của Ngài.

It would perhaps be wise if we took this tenth Law somewhat in detail, where possible, so as to arrive at the synthesis which it is intended to convey: we will thus gain some realisation that death itself is a part of the creative process of synthesising. It is essential that new ideas and a new approach to the entire problem of dying are inaugurated.

Có lẽ sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta xem xét Định luật thứ mười này một cách tương đối chi tiết ở những chỗ có thể, để đi đến sự tổng hợp mà nó muốn truyền đạt: nhờ đó, chúng ta sẽ phần nào nhận ra rằng chính cái chết là một phần của tiến trình tổng hợp sáng tạo. Điều thiết yếu là phải khởi xướng những ý tưởng mới và một cách tiếp cận mới đối với toàn bộ vấn đề chết.

Hearken, O Disciple, to the call which comes from the Son to the Mother, and then obey.

Hãy lắng nghe, hỡi Đệ tử, tiếng gọi từ Người Con đến Người Mẹ, rồi tuân theo.

Even whilst we realise from the context that this refers to the discarding of the physical body, it is useful to remember that this form of wording can signify much more than that. It can be interpreted to mean the entire relation of soul and personality, and to involve the prompt obedience of the Mother (the personality) to the Son (the soul). Without his prompt obedience, involving as it does the recognition of the informing Voice, the personality will remain deaf to the call of the soul to relinquish the body. No habitual response has been developed. I would ask you to ponder on the implications.

Ngay khi nhận ra từ ngữ cảnh rằng điều này nói đến việc rũ bỏ thể xác, chúng ta vẫn nên nhớ rằng cách diễn đạt ấy có thể mang ý nghĩa rộng hơn nhiều. Có thể diễn giải nó là toàn bộ mối quan hệ giữa linh hồn và phàm ngã, bao hàm sự tuân theo mau lẹ của Người Mẹ — phàm ngã — đối với Người Con — linh hồn. Nếu không có sự tuân theo mau lẹ này, vốn bao hàm việc nhận ra Tiếng Nói thấm nhuần, phàm ngã sẽ vẫn điếc trước tiếng gọi của linh hồn yêu cầu buông bỏ thể xác. Sự đáp ứng chưa được phát triển thành thói quen. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về những hàm ý ấy.

I am, I know, recapitulating when I point out that the Mother aspect is the material aspect and the soul—on its own plane—is the Son. This injunction, therefore, concerns the relation of matter and soul, and thus lays the foundation for all the relationships which the disciple has to learn to recognise. Obedience is not here enforced; [681] it is contingent upon hearing; then obedience follows as the next development. This is an easier process, little as you may think it. This distinction, relative to the process of obedience, is interesting because the process of learning by hearing is always slow and is one of the qualities or aspects of the stage of orientation. Learning by sight is definitely connected with the Path of Discipleship, and any who wish to become wise and true workers must learn to distinguish between the hearers and those who see. A realisation of the difference would lead to basic changes in technique. In the one case, you are working with those who are definitely under the influence and control of the Mother, and who need to be trained to see. In the other, you are dealing with those who have heard and who are developing the spiritual correspondence of sight. They are therefore susceptible to the vision.

Tôi biết mình đang nhắc lại khi chỉ ra rằng phương diện Người Mẹ là phương diện vật chất, còn linh hồn trên cõi riêng của nó là Người Con. Vì vậy, huấn lệnh này liên quan đến mối quan hệ giữa vật chất và linh hồn, qua đó đặt nền tảng cho mọi mối quan hệ mà người đệ tử phải học cách nhận ra. Ở đây, sự tuân theo không do ép buộc; [681] nó tùy thuộc vào việc nghe; rồi sự tuân theo tiếp nối như bước phát triển kế tiếp. Đây là một tiến trình dễ dàng hơn, dù các bạn có thể khó nghĩ như vậy. Sự phân biệt này liên quan đến tiến trình tuân theo rất đáng quan tâm, vì tiến trình học bằng cách nghe luôn chậm chạp và là một trong những phẩm tính hay phương diện của giai đoạn định hướng. Học bằng cách thấy rõ ràng gắn với Con Đường Đệ Tử, và bất cứ ai muốn trở thành những người hoạt động minh triết và chân chính đều phải học cách phân biệt giữa những người nghe và những người thấy. Nhận ra sự khác biệt ấy sẽ dẫn đến những thay đổi căn bản về kỹ thuật. Trong trường hợp thứ nhất, các bạn làm việc với những người rõ ràng còn chịu ảnh hưởng và sự kiểm soát của Người Mẹ, và cần được huấn luyện để thấy. Trong trường hợp thứ hai, các bạn làm việc với những người đã nghe và đang phát triển khả năng tương ứng về tinh thần của thị giác. Vì vậy, họ có thể tiếp nhận tầm nhìn.

The Word goes forth that form has served its purpose.

Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phụng sự Mục Đích của nó.

This word, or this “spiritual proclamation” of the soul, may have a twofold purpose: it may produce death, or it may simply result in a withdrawal of the soul from its instrument, the threefold personality. This might consequently result in leaving the form uninformed and without any dweller in the body. When this happens the personality (and by this I mean the physical, astral and mental man) will continue to function. If it is of a high grade quality, very few people will realise that the soul is absent. This frequently happens in old age or serious illness, and it may persist for years. It sometimes happens where infants are concerned, and you then have either death or imbecility, as there has been no time to train the lower personality vehicles. A little thinking along the lines of this “forthgoing Word” will throw much light on circumstances which are [682] regarded as baffling, and on states of consciousness which have hitherto constituted almost insoluble problems.

Linh từ này, hay “lời tuyên cáo tinh thần” này của linh hồn, có thể có mục đích nhị phân: nó có thể gây ra cái chết, hoặc đơn giản khiến linh hồn rút khỏi công cụ của mình, tức phàm ngã tam phân. Do đó, điều này có thể khiến hình tướng không còn được thấm nhuần và thân thể không còn ai cư ngụ. Khi điều này xảy ra, phàm ngã — và ở đây Tôi muốn nói đến con người hồng trần, cảm dục và trí tuệ — vẫn tiếp tục hoạt động. Nếu phàm ngã ấy có phẩm tính cao, rất ít người sẽ nhận ra linh hồn đã vắng mặt. Điều này thường xảy ra khi tuổi già hoặc bệnh nặng, và có thể kéo dài nhiều năm. Đôi khi nó xảy ra ở trẻ sơ sinh; khi ấy kết quả là cái chết hoặc thiểu năng trí tuệ, vì chưa có thời gian để rèn luyện các hiện thể thấp của phàm ngã. Suy nghĩ đôi chút theo hướng “Linh từ phát ra” này sẽ soi sáng nhiều hoàn cảnh [682] được xem là khó hiểu và những trạng thái tâm thức cho đến nay vẫn là các vấn đề gần như không thể giải đáp.

The principle of mind then organises itself and then repeats the Word. The waiting form responds and drops away.

Nguyên khí trí tuệ khi ấy tự tổ chức rồi lặp lại Linh từ. Hình tướng đang chờ đợi đáp ứng và rơi rụng.

In the aspect of death here dealt with it is the mind which acts as the agent of authority, transmitting to the brain (where the thread of consciousness is located) the instructions to vacate. This is then passed on by the man in the body to the heart (where the life thread is anchored), and then—as you well know—the process of withdrawal begins. What transpires in those timeless moments prior to death no one as yet knows, for no one has returned to tell us. If they had done so, the question is: Would they have been believed? The probability is that they would not.

Trong phương diện cái chết được bàn đến ở đây, chính thể trí đóng vai trò tác nhân có thẩm quyền, truyền đến bộ não — nơi thức tuyến tọa lạc — những chỉ thị rời đi. Con người trong thân thể sau đó chuyển chỉ thị này đến tim — nơi sinh mệnh tuyến neo giữ — và rồi, như các bạn biết rõ, tiến trình rút lui bắt đầu. Chưa ai biết điều gì diễn ra trong những khoảnh khắc phi thời gian trước cái chết, vì chưa có ai trở về kể lại cho chúng ta. Nếu họ đã làm như vậy, câu hỏi là: Liệu người ta có tin họ không? Rất có thể là không.

The first paragraph of this Law X deals with the passing out from the body (meaning the form aspect of the threefold lower man) of the average intelligent aspirant, looking at this law from one of its lowest correspondences; however, under the same Law of Correspondences, the death of all men, from the lowest type of man up to and inclusive of the aspirant, is basically distinguished by the same identical process; the difference exists in the degree of consciousness evidenced—consciousness of process and intention. The result is the same in all cases:

Đoạn đầu tiên của Định luật X này nói đến việc người chí nguyện thông minh thông thường rời khỏi thân thể — tức phương diện hình tướng của phàm nhân tam phân — khi xem xét định luật từ một trong những tương ứng thấp nhất của nó; tuy nhiên, theo cùng Định luật Tương Ứng ấy, cái chết của mọi người, từ loại người thấp nhất cho đến và kể cả người chí nguyện, về căn bản đều có cùng một tiến trình; sự khác biệt nằm ở mức độ tâm thức được biểu lộ — tâm thức về tiến trình và ý định. Kết quả trong mọi trường hợp đều giống nhau:

The soul stands free.

Linh hồn đứng tự do.

This moment of true freedom can be brief and fleeting as in the case of the undeveloped man, or it can be of long duration, according to the usefulness of the aspirant upon the inner planes; with this I have earlier dealt and have no need to repeat myself here. Progressively, as the urges and influences of the three lower levels of consciousness [683] weaken their hold, the period of dissociation becomes longer and longer, and is characterised by a developing clarity of thought and by a recognition of essential being, and this in progressive stages. This clarity and progress may not be brought through into full realisation or expression when rebirth again takes place, for the limitations imposed by the dense physical body are excessive; nevertheless, each life sees a steady growth in sensitivity, and also the storing up of esoteric information, using the word “esoteric” to signify all that does not concern normal form life or the average consciousness of man in the three worlds.

Khoảnh khắc tự do đích thực này có thể ngắn ngủi và thoáng qua như ở người chưa phát triển, hoặc có thể kéo dài, tùy theo sự hữu ích của người chí nguyện trên các cõi bên trong; Tôi đã bàn về điều này trước đây và không cần nhắc lại ở đây. Dần dần, khi những thôi thúc và ảnh hưởng của ba cấp độ tâm thức thấp [683] suy giảm sức khống chế, thời kỳ tách rời ngày càng kéo dài, đặc trưng bởi sự sáng suốt ngày càng phát triển của tư tưởng và sự nhận biết bản thể cốt yếu, diễn ra qua những giai đoạn tiến triển. Khi tái sinh, sự sáng suốt và tiến bộ này có thể không được đưa vào sự nhận biết hay biểu hiện đầy đủ, vì những giới hạn do thể xác đậm đặc áp đặt là quá lớn; tuy nhiên, mỗi kiếp sống đều chứng kiến sự tăng trưởng đều đặn về tính nhạy cảm, cùng sự tích lũy tri thức nội môn; ở đây, từ “nội môn” chỉ tất cả những gì không liên quan đến đời sống hình tướng thông thường hoặc tâm thức trung bình của con người trong ba cõi giới.

Esoteric living (as it develops) falls into three stages, broadly speaking; these are carried forward within the consciousness of the man and parallel the recognition and ordinary aspects of form life on the three levels of experience:

Nói một cách khái quát, đời sống nội môn, khi phát triển, chia thành ba giai đoạn; những giai đoạn này diễn tiến trong tâm thức con người và song hành với sự nhận biết cùng những phương diện thông thường của đời sống hình tướng trên ba cấp độ kinh nghiệm:

1. The stage of reception of concepts, of ideas and of principles, thus gradually asserting the existence of the abstract mind.

1. Giai đoạn tiếp nhận các khái niệm, ý tưởng và nguyên khí, qua đó dần khẳng định sự tồn tại của trí trừu tượng.

2. The stage of “light reception,” or that period when spiritual insight is developed, when the vision is seen and accepted as true, and when the intuition or “buddhic perception” is unfolded. This carries with it the assertion as to the existence of the Hierarchy.

2. Giai đoạn “tiếp nhận ánh sáng”, hay thời kỳ khi sự thấu thị tinh thần phát triển, khi tầm nhìn được thấy và chấp nhận là chân thực, và khi trực giác hay “tri giác Bồ đề” khai mở. Điều này đi kèm với sự khẳng định về sự hiện hữu của Thánh đoàn.

3. The stage of abstraction, or the period wherein complete orientation is brought about, the way into the Ashram is made clear, and the disciple begins to build the antahkarana between the personality and the Spiritual Triad. It is in this stage that the nature of the will is dimly seen, carrying with its recognition the implication that there is a “centre where the will of God is known.”

3. Giai đoạn trừu xuất, hay thời kỳ khi sự định hướng hoàn toàn thành tựu, con đường vào ashram trở nên rõ ràng, và người đệ tử bắt đầu xây dựng antahkarana giữa phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần. Chính trong giai đoạn này, bản chất của ý chí được thấy lờ mờ, và sự nhận biết ấy hàm ý rằng có một “Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế”.

[684]

[684]

Students are apt to think that death ends things, whereas from the angle of termination we are dealing with values which are persistent, with which there is no interference, nor can there be any, and which hold within themselves the seeds of immortality. I would have you ponder on this and know that everything that is of true spiritual value is persistent, ageless, immortal and eternal. Only that dies which is valueless, and—from the standpoint of humanity—that means those factors which emphasise and assume importance where the form is concerned. But those values which are based on principle and not upon the detail of appearance have in them that undying principle which leads a man from the “gates of nativity, through the gates of perception, to the gates of purpose”—as the Old Commentary expresses it.

Các đạo sinh dễ nghĩ rằng cái chết chấm dứt mọi sự, trong khi xét từ góc độ sự kết thúc, chúng ta đang bàn đến những giá trị bền vững, không chịu và cũng không thể chịu bất kỳ sự can thiệp nào, đồng thời chứa trong mình những hạt giống bất tử. Tôi muốn các bạn suy ngẫm điều này và biết rằng mọi điều có giá trị tinh thần đích thực đều bền vững, không chịu tác động của thời gian, bất tử và vĩnh cửu. Chỉ những gì không có giá trị mới chết đi, và theo quan điểm của nhân loại, đó là những yếu tố nổi bật và trở nên quan trọng trong những gì liên quan đến hình tướng. Nhưng những giá trị dựa trên nguyên khí thay vì chi tiết của vẻ ngoài đều chứa trong mình nguyên khí bất diệt dẫn con người từ “các cánh cổng sinh thành, qua các cánh cổng tri giác, đến các cánh cổng mục đích” — như Cổ Luận diễn đạt.

I have endeavoured to show you how the first part of this Law X has a simple application to mankind, as well as an abstract and abstruse meaning for esotericists.

Tôi đã cố gắng chỉ cho các bạn thấy phần đầu của Định luật X này vừa có sự áp dụng đơn giản đối với nhân loại, vừa có một ý nghĩa trừu tượng và thâm áo đối với các nhà bí truyền học.

The last paragraph in this Law X cannot be interpreted in this same manner nor applied in this way. it concerns only the “passing over” or the “discarding of hindrances” by very advanced disciples and initiates. This is made clear by the use of the words, “O Rising One”—a term applied only to those who have taken the fourth initiation and who are therefore held by no aspect whatsoever of the form nature, even so high or transcendental a form as the soul in its own vehicle, the causal body or the egoic lotus. Yet again, facility in response to this law must be and is developed in the earlier stages of discipleship, where listening, responsiveness and occult obedience are developed and have their extensions in the higher levels of spiritual experience.

Đoạn cuối của Định luật X này không thể được diễn giải hoặc áp dụng theo cùng cách ấy. Nó chỉ liên quan đến việc “vượt sang” hay “rũ bỏ những chướng ngại” của các đệ tử và điểm đạo đồ rất tiến hóa. Điều này được làm rõ qua cách dùng những lời “hỡi Đấng Đang Vươn Lên” — một danh xưng chỉ dành cho những vị đã trải qua lần điểm đạo thứ tư và vì vậy không còn chịu sự trói buộc của bất kỳ phương diện nào thuộc bản chất hình tướng, dù đó là một hình tướng cao cả hay siêu việt như linh hồn trong hiện thể riêng của nó, tức thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã. Tuy nhiên, một lần nữa, khả năng đáp ứng dễ dàng với định luật này phải và thực sự được phát triển trong những giai đoạn đầu của địa vị đệ tử, khi sự lắng nghe, khả năng đáp ứng và sự tuân theo huyền bí được phát triển, rồi mở rộng lên các cấp độ cao hơn của kinh nghiệm tinh thần.

Here we must again consider words and phrases if we are to understand their true meaning. [685]

Ở đây, một lần nữa chúng ta phải xem xét các từ và cụm từ nếu muốn thấu hiểu ý nghĩa đích thực của chúng. [685]

Respond, O Rising One, to the call which comes forth from the sphere of obligation.

Hãy đáp ứng, hỡi Đấng Đang Vươn Lên, tiếng gọi phát ra từ phạm vi nghĩa vụ.

What is this sphere of obligation to which the initiate of high standing must pay attention? The whole of life experience, from the sphere of nativity up to the highest limits of spiritual possibility, are covered by four words, applicable at various stages of evolution. They are: Instinct, Duty, Dharma, Obligation; an understanding of the differences serves to bring illumination, and consequently, right action.

Phạm vi nghĩa vụ mà điểm đạo đồ cao cấp phải chú ý này là gì? Toàn bộ kinh nghiệm sống, từ phạm vi sinh thành đến những giới hạn cao nhất của khả năng tinh thần, được bao quát trong bốn từ, áp dụng ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau. Đó là: Bản năng, Bổn phận, Thiên trách, Nghĩa vụ; thấu hiểu những khác biệt ấy giúp mang lại sự soi sáng, và do đó, hành động đúng đắn.

1. The sphere of instinct. This refers to the fulfillment, under the influence of simple animal instinct, of the obligations which any assumed responsibility brings, even when assumed with no true understanding. An illustration of this is the instinctual care of a mother for her offspring or the relation of male and female. With this we need not deal in any detail, as it is well recognised and understood, at least by those who have passed out of the sphere of elementary instinctual obligations. To them no particular calls come, but this instinctual world of give and take is superseded by a higher sphere of responsibility eventually.

1. Phạm vi bản năng. Điều này nói đến việc hoàn thành, dưới ảnh hưởng của bản năng động vật đơn thuần, những nghĩa vụ phát sinh từ bất kỳ trách nhiệm nào đã đảm nhận, ngay cả khi đảm nhận mà không có sự thấu hiểu đích thực. Một minh họa là sự chăm sóc theo bản năng của người mẹ đối với con mình hoặc mối quan hệ giữa nam và nữ. Chúng ta không cần bàn chi tiết về điều này, vì nó đã được nhận biết và thấu hiểu rõ, ít nhất là đối với những người đã vượt ra khỏi phạm vi các nghĩa vụ bản năng sơ đẳng. Không có tiếng gọi đặc biệt nào đến với họ, nhưng cuối cùng thế giới cho và nhận theo bản năng này sẽ nhường chỗ cho một phạm vi trách nhiệm cao hơn.

2. The sphere of duty. The call that comes from this sphere comes from a realm of consciousness which is more strictly human and not so predominantly animal as is the instinctual realm. It sweeps into its field of activity all classes of human beings and demands from them—life after life—the strict fulfillment of duty. The “doing of one’s duty,” for which one gets small praise and little appreciation, is the first step towards the unfoldment of that divine principle which we call the sense of responsibility, and which—when unfolded—indicates a steadily growing soul control. The fulfillment [686] of duty, the sense of responsibility, and the desire to serve are three aspects of one and the same thing: discipleship in its embryonic stage. This is a hard saying for those who are caught in the seemingly hopeless toils of duty fulfillment; it is hard for them to realise that this duty which seems to keep them chained to the humdrum, apparently meaningless and thankless duties of daily life, is a scientific process leading them to higher phases of experience, and eventually into the Master’s Ashram.

2. Phạm vi bổn phận. Tiếng gọi đến từ phạm vi này bắt nguồn từ một lĩnh vực tâm thức mang tính người rõ rệt hơn, không bị tính động vật chi phối mạnh như lĩnh vực bản năng. Nó cuốn mọi tầng lớp con người vào trường hoạt động của mình và đòi hỏi họ, hết kiếp này sang kiếp khác, phải hoàn thành nghiêm túc bổn phận. Việc “làm tròn bổn phận”, vốn chẳng nhận được mấy lời khen hay sự trân trọng, là bước đầu tiên hướng đến sự khai mở nguyên khí thiêng liêng mà chúng ta gọi là ý thức trách nhiệm; khi khai mở, nguyên khí này cho thấy sự kiểm soát ngày càng tăng của linh hồn. Việc hoàn thành [686] bổn phận, ý thức trách nhiệm và mong muốn phụng sự là ba phương diện của cùng một điều: địa vị đệ tử trong giai đoạn phôi thai. Đây là lời khó chấp nhận đối với những người đang mắc trong sự ràng buộc dường như vô vọng của việc chu toàn bổn phận; họ khó nhận ra rằng bổn phận dường như xiềng xích họ vào những công việc hằng ngày tẻ nhạt, có vẻ vô nghĩa và chẳng được biết ơn ấy, lại là một tiến trình khoa học dẫn họ đến những giai đoạn kinh nghiệm cao hơn, và cuối cùng vào ashram của Chân sư.

3. The Sphere of Dharma. This is the outcome of the two previous stages; it is that in which the disciple recognises, for the first time with clarity, his part in the whole process of world events and his inescapable share in world development. Dharma is that aspect of karma which dignifies any particular world cycle and the lives of those implicated in its working out. The disciple begins to see that if he shoulders his phase or part in this cyclic dharma and works understandingly at its right fulfillment, he is beginning to comprehend group work (as the Masters comprehend it) and to do his just share in lifting the world karma, working out in cyclic dharma. Instinctual service, the fulfillment of all duty, and a sharing in group dharma are all blended in his consciousness and become one great act of living faithful service; he is then at the point of moving forward upon the Path of Discipleship, in which the Path of Probation is completely lost to sight.

3. Phạm Vi Thiên Trách. Đây là kết quả của hai giai đoạn trước; trong phạm vi này, lần đầu tiên người đệ tử nhận ra rõ ràng vai trò của mình trong toàn bộ tiến trình các biến cố thế giới và phần trách nhiệm không thể tránh khỏi của mình trong sự phát triển của thế giới. Thiên trách là phương diện của nghiệp quả mang lại phẩm giá cho bất kỳ chu kỳ thế giới cụ thể nào và cho cuộc sống của những người tham gia thực hiện chu kỳ ấy. Người đệ tử bắt đầu thấy rằng, nếu y gánh vác giai đoạn hay phần việc của mình trong thiên trách theo chu kỳ này và nỗ lực hoàn thành đúng đắn với sự thấu hiểu, thì y đang bắt đầu lĩnh hội công việc nhóm như các Chân sư lĩnh hội, đồng thời đóng góp phần xứng đáng của mình để giải trừ nghiệp quả thế giới đang thể hiện qua thiên trách theo chu kỳ. Sự phụng sự theo bản năng, việc hoàn thành mọi bổn phận và sự chia sẻ thiên trách của nhóm đều hòa quyện trong tâm thức y, trở thành một hành động phụng sự trung thành lớn lao trong cuộc sống; bấy giờ y đã đến lúc tiến bước trên Con Đường Đệ Tử, nơi Con Đường Dự Bị hoàn toàn khuất khỏi tầm nhìn.

These three aspects of living activity are the embryonic expression in the life of the disciple of the three divine aspects:

Ba phương diện hoạt động sống này là sự biểu hiện phôi thai trong cuộc đời người đệ tử của ba phương diện thiêng liêng:

a. Instinctual living.... intelligent application.

a. Sống theo bản năng.... vận dụng trí tuệ.

b. Duty..............responsible love. [687]

b. Bổn phận..............tình thương có trách nhiệm. [687]

c. Dharma........... will, expressed through the Plan.

c. Pháp........... ý chí, biểu lộ qua Thiên Cơ.

4. The sphere of obligation. The initiate, having learnt the nature of the three other spheres of right action, and-through the activity of those spheres—having unfolded the divine aspects, passes now into the sphere of obligation. This sphere, which can be entered only after a large measure of liberation has been achieved, directs the reactions of the initiate in two phases of his life:

4. Phạm vi nghĩa vụ. Điểm đạo đồ, sau khi đã học được bản chất của ba phạm vi hành động đúng đắn kia, và qua hoạt động của các phạm vi ấy đã khai mở các phương diện thiêng liêng, nay bước vào phạm vi nghĩa vụ. Phạm vi này, mà chỉ có thể bước vào sau khi đã đạt được sự giải thoát ở mức độ đáng kể, hướng dẫn những phản ứng của điểm đạo đồ trong hai giai đoạn của đời sống y:

a. In the Ashram, where he is governed by the Plan; this Plan is recognised by him as expressing his major obligation to life. I use the word “life” in its deepest esoteric sense.

a. Trong Ashram, nơi Thiên Cơ chi phối y; y nhận biết Thiên Cơ này là sự biểu lộ nghĩa vụ chủ yếu của mình đối với sự sống. Tôi dùng từ “sự sống” theo ý nghĩa huyền bí sâu xa nhất của nó.

b. In Shamballa, where the emerging Purpose of Sanat Kumara (of which the Plan is an interpretation in time and space) begins to have meaning and significance according to his point in evolution and his approach to the Way of the Higher Evolution.

b. Trong Shamballa, nơi Thiên Ý đang hiển lộ của Sanat Kumara (mà Thiên Cơ là một sự diễn giải trong thời gian và không gian) bắt đầu có ý nghĩa và thâm nghĩa tùy theo điểm tiến hoá của y và mức độ y tiến gần đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

In the Ashram, the life of the Spiritual Triad gradually supersedes the life of the soul-controlled personality. In the Council Chamber at Shamballa, the life of the Monad supersedes all other expressions of the essential Reality. More I may not say.

Trong Ashram, sự sống của Tam Nguyên Tinh Thần dần thay thế sự sống của phàm ngã do linh hồn kiểm soát. Trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa, sự sống của chân thần thay thế mọi biểu hiện khác của Thực Tại cốt yếu. Tôi không được nói thêm.

Recognise the call, emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself.

hãy nhận ra tiếng gọi phát ra từ Ashram hoặc từ Phòng Hội Đồng, nơi chính Chúa Tể của Sự Sống đang chờ đợi.

Here again we come up against the whole underlying, evolutionary theme of Invocation and Evocation. Here, it is the two higher centres of the divine Existence which are invoking ceaselessly the lower centre; one of the factors governing the whole creative process is dependent upon the [688] skill of the Great Lives in evoking response from the human and subhuman kingdoms or grouped lives within the three worlds of form life. Men are so pre-occupied with their own problems that they are apt to think that-in the long run—what happens is entirely due to their behaviour, conduct, and invocative powers. There is, however, another side to the picture; this involves the skill in action, the understanding hearts and the clear unimpeded will of both the Hierarchy and Shamballa.

Ở đây, một lần nữa chúng ta gặp toàn bộ chủ đề tiến hoá nền tảng về Khẩn Cầu và Gợi Lên. Ở đây, chính hai trung tâm cao hơn của Hiện Hữu thiêng liêng không ngừng khẩn cầu trung tâm thấp hơn; một trong những yếu tố chi phối toàn bộ tiến trình sáng tạo phụ thuộc vào [688] sự khéo léo của các Sự Sống Vĩ Đại trong việc gợi lên sự đáp ứng từ giới nhân loại và các giới dưới nhân loại, hay từ các sự sống hợp thành nhóm trong ba cõi giới của sự sống hình tướng. Con người quá bận tâm với những vấn đề riêng của mình nên thường nghĩ rằng, xét cho cùng, những gì xảy ra hoàn toàn là do hành vi, cách ứng xử và năng lực khẩn cầu của họ. Tuy nhiên, bức tranh còn có một mặt khác; mặt này liên quan đến sự khéo léo trong hành động, những trái tim thấu hiểu và ý chí sáng suốt, không bị cản trở của cả Thánh đoàn lẫn Shamballa.

It will be apparent to you, therefore, how essential it is that all disciples and initiates should know exactly where they stand on the Path, the final aspect of the ladder of evolution; otherwise, they will misinterpret the call and fail to recognise the source of the outgoing sound. How easily this can happen becomes apparent to every advanced teacher of occultism and esotericism when he perceives bow easily unimportant people and beginners interpret calls and messages they hear or receive as coming to them from some high and elevated source, Whereas they are in all probability hearing that which emanates from their own subconscious, from their own souls, or from some teacher (not a Master) who is attempting to help them.

Do đó, các bạn sẽ thấy rõ việc mọi đệ tử và điểm đạo đồ biết chính xác mình đang ở đâu trên Đường Đạo, phương diện cuối cùng của chiếc thang tiến hoá, là thiết yếu đến mức nào; nếu không, họ sẽ hiểu sai tiếng gọi và không nhận ra nguồn phát ra âm thanh. Mọi huấn sư cao cấp về huyền bí học và huyền bí học nội môn đều thấy rõ điều này có thể xảy ra dễ dàng đến đâu, khi nhận thấy những người chưa có tầm vóc và những người mới bắt đầu dễ dàng diễn giải những tiếng gọi và thông điệp họ nghe hoặc nhận được là đến từ một nguồn cao cả, tôn quý nào đó, trong khi rất có thể họ chỉ đang nghe những gì phát ra từ tiềm thức của chính mình, từ linh hồn của chính mình, hoặc từ một huấn sư nào đó (không phải một Chân sư) đang cố gắng giúp đỡ họ.

The call referred to here, however, comes from the highest possible sources and must not be confused with the little voices of little men.

Tuy nhiên, tiếng gọi được đề cập ở đây đến từ những nguồn cao nhất có thể có và không được nhầm lẫn với những tiếng nói nhỏ bé của những con người nhỏ bé.

The SOUND goes forth.

Âm Thanh phát ra.

It is not my intention here to deal with the creative sound, beyond calling to your attention the fact that it is creative. The Sound which was the first indication of the activity of the planetary Logos is not a word, but a full reverberating sound, holding within itself all other sounds, all chords and certain musical tones (which have been given the name of the “music of the spheres”) and dissonances, [689] unknown as yet to the modern ear. It is this Sound which the “Rising One” must learn to recognise, and to which he must respond not only by means of the sense of hearing and its higher correspondences, but through a response from every part and aspect of the form nature in the three worlds. I would remind you also that from the angle of the fourth initiation even the egoic vehicle, the soul body, is regarded and treated as a part of the form nature.

Ở đây, Tôi không có ý định bàn đến âm thanh sáng tạo, ngoài việc lưu ý các bạn rằng nó có tính sáng tạo. Âm Thanh vốn là dấu hiệu đầu tiên về hoạt động của Hành Tinh Thượng đế không phải là một từ, mà là một âm thanh đầy đặn, vang dội, bao hàm mọi âm thanh khác, mọi hợp âm và một số âm điệu nhất định (đã được gọi là “âm nhạc của các khối cầu”), cùng những nghịch âm [689] mà tai người hiện đại vẫn chưa biết đến. Chính Âm Thanh này là điều mà “Đấng Đang Vươn Lên” phải học cách nhận ra, và y phải đáp ứng với nó không chỉ bằng thính giác cùng các tương ứng cao hơn của thính giác, mà còn bằng sự đáp ứng từ mọi phần và mọi phương diện của bản chất hình tướng trong ba cõi giới. Tôi cũng xin nhắc các bạn rằng, từ góc độ của lần điểm đạo thứ tư, ngay cả hiện thể chân ngã, thể linh hồn, cũng được xem và đối xử như một phần của bản chất hình tướng.

Though the “shattering of the Temple of Solomon” takes place at the time of the fourth initiation, those qualities of which it was composed have been absorbed into the vehicles which the initiate is using for all His contacts in the three worlds. He is now essentially the essence of all His bodies, and—from His point of view and technical understanding—it must be borne in mind that the entire mental plane is one of the three planes which constitute the cosmic dense physical plane; this is a point oft forgotten by students, who almost invariably place the soul body and the mental permanent atom outside the form limits and what they call the three worlds. Technically and from higher angles, this is not so, and this fact definitely changes and conditions the thinking and work of the initiate of the fourth and higher degrees. It accounts also for the need for the egoic body to disappear.

Mặc dù việc “phá tan Đền Thờ Solomon” diễn ra vào lần điểm đạo thứ tư, những phẩm tính cấu thành ngôi đền ấy đã được hấp thu vào các hiện thể mà điểm đạo đồ sử dụng cho mọi tiếp xúc của y trong ba cõi giới. Giờ đây, về bản chất, y là tinh tuý của tất cả các thể của mình, và từ quan điểm cùng sự thấu hiểu chuyên môn của y, cần ghi nhớ rằng toàn bộ cõi trí là một trong ba cõi cấu thành cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ; đây là điều các đạo sinh thường quên, vì họ gần như luôn đặt thể linh hồn và nguyên tử trường tồn trí tuệ ra ngoài các giới hạn của hình tướng và cái mà họ gọi là ba cõi giới. Xét về mặt chuyên môn và từ những góc độ cao hơn, sự việc không phải như vậy, và sự thật này làm thay đổi, đồng thời định hình rõ rệt tư duy cùng công việc của điểm đạo đồ bậc thứ tư trở lên. Nó cũng giải thích vì sao thể chân ngã cần phải biến mất.

The Sound reverberates throughout the four higher subplanes of the cosmic physical plane; these are the higher correspondence of the four etheric levels of the physical plane in the three worlds—the three dense physical and the four etheric planes. It must be remembered, therefore, that our planes, with which we are so familiar, are the cosmic physical, and that the one we know the best is the densest of the seven—hence so much of our struggle and difficulty.

Âm Thanh vang dội khắp bốn cõi phụ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ; các cõi phụ này là tương ứng cao hơn của bốn cấp độ dĩ thái thuộc cõi hồng trần trong ba cõi giới—ba cõi hồng trần đậm đặc và bốn cõi dĩ thái. Do đó, cần nhớ rằng các cõi của chúng ta, vốn rất quen thuộc với chúng ta, đều thuộc cõi hồng trần vũ trụ, và cõi mà chúng ta biết rõ nhất là cõi đậm đặc nhất trong bảy cõi—vì thế chúng ta mới phải đấu tranh và gặp khó khăn nhiều đến vậy.

[690]

[690]

From “the silence which is sound, the reverberating note of Shamballa,” the sound focusses itself either in the Spiritual Triad or in the Ashram, according to the status of the initiate and whether he is high in the ashramic circles, or still higher, in the circles through which radiates the light from the Council Chamber. In the first case, it will be the heart centre which responds to the sound, and from thence the whole body; in the second case, consciousness has been superseded by a still higher type of spiritual recognition, to which we have given the inadequate name of identification. Where the sound has been registered in the heart of the initiate, he has unfolded all possible types of knowledge which the form nature—soul and body—can make possible; when the registration is in the head, identification has produced such complete unity with all spiritual expressions of life, the word “more” (meaning increased) must perforce give way to the word “deep,” in the sense of penetration. Having said this, brother of mine, how much have you comprehended?

Từ “sự im lặng vốn là âm thanh, âm điệu vang dội của Shamballa”, âm thanh tập trung vào Tam Nguyên Tinh Thần hoặc vào Ashram, tùy theo địa vị của điểm đạo đồ và tùy theo việc y ở vị trí cao trong các vòng của ashram, hay còn cao hơn nữa, trong những vòng mà ánh sáng từ Phòng Hội Đồng tỏa chiếu qua. Trong trường hợp thứ nhất, trung tâm tim sẽ đáp ứng với âm thanh, rồi từ đó toàn bộ thân thể đáp ứng; trong trường hợp thứ hai, tâm thức đã nhường chỗ cho một loại nhận biết tinh thần còn cao hơn nữa, mà chúng ta đã gọi bằng cái tên chưa thoả đáng là sự đồng hoá. Khi âm thanh đã được ghi nhận trong tim của điểm đạo đồ, y đã khai mở mọi loại tri thức mà bản chất hình tướng—linh hồn và thân thể—có thể đem lại; khi âm thanh được ghi nhận trong đầu, sự đồng hoá đã tạo nên một sự hợp nhất hoàn toàn với mọi biểu hiện tinh thần của sự sống đến mức từ “thêm” (hàm nghĩa gia tăng) nhất thiết phải nhường chỗ cho từ “sâu”, theo nghĩa thâm nhập. Hỡi huynh đệ của tôi, sau những điều Tôi vừa nói, huynh đệ đã lĩnh hội được bao nhiêu?

It is at this point that the initiate is confronted for the first time with the Seven Paths, because each Path constitutes a mode of penetrating into realms of realisation beyond our planet altogether.

Chính tại điểm này, lần đầu tiên điểm đạo đồ đối diện với Bảy Con Đường, bởi mỗi Con Đường tạo thành một phương thức thâm nhập vào những lĩnh vực chứng nghiệm hoàn toàn vượt ra ngoài hành tinh chúng ta.

In order to do this, the initiate has to demonstrate his mastery of the Law of Differentiation and arrive at a knowledge of the Seven Paths through differentiating the seven sounds which make up the one Sound, but which are not related to the seven sounds which compose the threefold AUM.

Để làm được điều này, điểm đạo đồ phải chứng tỏ mình làm chủ Định luật Biến Phân và đạt đến sự hiểu biết về Bảy Con Đường bằng cách phân biệt bảy âm thanh hợp thành Âm Thanh duy nhất, nhưng không liên quan đến bảy âm thanh cấu thành AUM tam phân.

Both soul and form together must renounce the principle of life, and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection.

Cả linh hồn lẫn hình tướng phải cùng từ bỏ nguyên khí sự sống, nhờ đó để Chân Thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Hình tướng khi ấy phá vỡ sự nối kết.

[691]

[691]

You can see here why I emphasised the fact that the initiate is the recipient of the essential quality or qualities which form has revealed and developed, and which the soul has absorbed. At this particular crisis, the initiate within the Ashram or “on His way of glory to the Place where dwells the Lord” (Shamballa) summarises or contains within himself all the essential good which was stored in the soul prior to its destruction at the fourth initiation. He epitomises in himself the knowledge and the wisdom of aeons of struggle and of patient endurance. Nothing further is to be gained by adhering either to the soul or to the form. He has taken all they had to give which throws light on the spiritual Law of Sacrifice. It is interesting to note how the soul becomes at this point simply the intermediary between the personality and the initiate of high degree. But now there is nothing more to relate, to report or to transmit, and—as the Sound reverberates—the soul disappears, as testimony of response. It is now but an empty shell, but its substance is of so high an order that it becomes an integral part of the buddhic level, and its function there is etheric. The principle of life is renounced and returns to the reservoir of universal life.

Ở đây, các bạn có thể thấy vì sao Tôi nhấn mạnh rằng điểm đạo đồ là người tiếp nhận phẩm tính hay các phẩm tính cốt yếu mà hình tướng đã bộc lộ và phát triển, và linh hồn đã hấp thu. Tại thời điểm khủng hoảng đặc biệt này, điểm đạo đồ trong Ashram hoặc “trên con đường vinh quang của mình đến Nơi Chúa Tể ngự” (Shamballa) tổng hợp hay chứa đựng trong mình mọi điều thiện cốt yếu đã tích trữ trong linh hồn trước khi linh hồn bị huỷ diệt ở lần điểm đạo thứ tư. Y kết tinh trong mình tri thức và minh triết của những thời đại dài đấu tranh và kiên nhẫn chịu đựng. Việc bám giữ linh hồn hay hình tướng không còn đem lại thêm điều gì. Y đã tiếp nhận tất cả những gì linh hồn và hình tướng có thể trao ban, điều này soi sáng Định luật Hi Sinh tinh thần. Điều đáng chú ý là vào lúc này, linh hồn chỉ còn là trung gian giữa phàm ngã và điểm đạo đồ cấp cao. Nhưng giờ đây không còn gì để liên hệ, tường trình hay truyền đạt nữa, và khi Âm Thanh vang dội, linh hồn biến mất, như một bằng chứng của sự đáp ứng. Lúc này, linh hồn chỉ còn là một lớp vỏ rỗng, nhưng chất liệu của nó thuộc một cấp cao đến mức trở thành một phần không thể tách rời của cấp độ Bồ đề, và chức năng của nó ở đó mang tính dĩ thái. Nguyên khí sự sống được từ bỏ và trở về kho dự trữ sự sống vũ trụ.

I would have you take notice of the importance of form activity. It is the Form which shatters the connection (the usually despised, belittled, frustrated form is that which performs the final act), bringing complete liberation. The “Lunar Lord” of the personality has achieved his goal, and those elements which have composed his three vehicles (physical, astral, mental), together with the life principle, will constitute the atomic substance of the first body of manifestation of some soul seeking incarnation for the first time. This is closely related to the abstruse subject of the permanent atoms. It marks a moment of high initiation for this Lunar Lord when he shatters the connection [692] and severs all relation with the hitherto informing soul. He is no longer just a shadow, but has now those qualities which make him “substantial” (in the esoteric sense) and a new factor in time and space.

Tôi muốn các bạn lưu ý tầm quan trọng của hoạt động hình tướng. Chính Hình Tướng phá vỡ sự nối kết (hình tướng thường bị khinh miệt, xem nhẹ, cản trở ấy lại chính là thứ thực hiện hành động cuối cùng), đem lại sự giải thoát hoàn toàn. “Nguyệt Tinh Quân” của phàm ngã đã đạt được mục tiêu, và những yếu tố cấu thành ba hiện thể của nó (hồng trần, cảm dục, trí tuệ), cùng với nguyên khí sự sống, sẽ tạo thành chất liệu nguyên tử của thân thể biểu hiện đầu tiên của một linh hồn nào đó đang tìm cách lâm phàm lần đầu. Điều này liên quan mật thiết đến đề tài thâm sâu về các nguyên tử trường tồn. Nó đánh dấu một thời khắc điểm đạo cao siêu cho Nguyệt Tinh Quân này khi nó phá vỡ sự nối kết [692] và cắt đứt mọi quan hệ với linh hồn vốn đã thấm nhuần nó cho đến lúc ấy. Nó không còn chỉ là một cái bóng, mà nay đã có những phẩm tính khiến nó trở nên “có thực chất” (theo nghĩa huyền bí) và trở thành một yếu tố mới trong thời gian và không gian.

The remaining words of this law need no explanation and mark a fitting finish for this section of our studies:

Những lời còn lại của định luật này không cần giải thích và đánh dấu một kết thúc thích hợp cho phần nghiên cứu này của chúng ta:

Life is now liberated, owning the qualities of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined.

Sự sống nay được giải thoát, sở hữu những phẩm tính của tri thức hữu thức và thành quả của mọi kinh nghiệm. Đây là những tặng phẩm do linh hồn và hình tướng cùng đem lại.

CHAPTER IX - The Seven Modes of Healing – CHƯƠNG IX - Bảy Phương Thức Trị Liệu

[694]

[694]

IT WILL BE OBVIOUS to you that even if the techniques or the seven modes of healing-relating as they do to the energies of the seven rays-were exactly imparted to you, it would be rare indeed to find a healer who was competent to use them in this interim period in world affairs. We are passing out of one age into another, and this necessarily creates difficulties which have hitherto not been recognised. This is the first time in human history wherein humanity is intelligent enough to register understanding of the implications of this happening, and far-sighted enough to be able to vision, imagine and plan for the new future. For another thing, the soul ray of the average aspirant is seldom in control to such an extent that it can bring adequate illumination and ray potency; until it is in control, these ray methods and techniques, determining the use and direction of the ray energies, are useless. This should not bring to you disappointment, but simply an attitude of expectancy, particularly where the younger students and readers are concerned. All things considered, this hiatus between expectancy and possibility is exceedingly good.

CÁC BẠN SẼ THẤY RÕ rằng ngay cả khi các kỹ thuật hay bảy phương thức trị liệu—vốn liên quan đến năng lượng của bảy cung—được truyền đạt chính xác cho các bạn, thì quả thật cũng hiếm có nhà trị liệu nào đủ năng lực sử dụng chúng trong giai đoạn chuyển tiếp này của tình hình thế giới. Chúng ta đang rời khỏi một thời đại để bước sang một thời đại khác, và điều này tất yếu tạo ra những khó khăn mà trước đây chưa từng được nhận biết. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, loài người có đủ trí tuệ để ghi nhận và thấu hiểu những hàm ý của biến cố này, đồng thời có đủ tầm nhìn xa để có thể hình dung, tưởng tượng và hoạch định cho tương lai mới. Mặt khác, cung linh hồn của người chí nguyện trung bình hiếm khi nắm quyền kiểm soát đủ mạnh để đem lại sự soi sáng và uy lực cung thích đáng; chừng nào cung linh hồn chưa nắm quyền kiểm soát, các phương pháp và kỹ thuật cung này, vốn quyết định việc sử dụng và định hướng các năng lượng cung, đều chưa có tác dụng. Điều này không nên khiến các bạn thất vọng, mà chỉ nên đem lại một thái độ mong đợi, đặc biệt đối với các đạo sinh và độc giả trẻ tuổi. Xét mọi mặt, khoảng cách giữa sự mong đợi và khả năng thực hiện này là vô cùng có lợi.

There has been so much given out during the past century along the lines of magical work, that more at this time would not be wise; so many mantrams and Words of Power have been communicated, and so wide a use of the [694] OM has prevailed, that a great deal of damage might be looked for as a result. Such damage has not, however, occurred. The relatively low point in evolution of the average student and experimenter has served as a protection, and little has been set in motion—either good or bad—by what they have attempted to do. Healings have frequently taken place (at least temporary healings), owing largely to the susceptibility of the patient to suggestion and his confidence in the healer. None of these healings can be traced esoterically to the scientific methods of occultism. In spite of this protection, or rather because of it, I am communicating no Ray Words at this time, such as the trained initiate employs when engaged in the healing work. These Words have to he accompanied by a trained use of the spiritual will, and (where the ordinary man and healer is concerned) even the lowest aspect of the will remains as yet undeveloped, and only self-will (which is determined, selfish desire) is expressed. It would therefore be a waste of my time to give instruction along these lines. I have felt it necessary to explain this, so that there will be no undue expectancy that I shall impart the mysterious and the hitherto unknown. I seek only to lay the foundation for a future structure of knowledge, when it will be safe, wise and right to convey those “focussing Points,” those “organising Words,” and those “expressed Intentions” of the correctly trained occult healer. I seek to generate in you also a wise and searching expectancy which will use the little that I am able to impart, and the symbolic words I may dictate, and so prepare for a greater understanding later.

Trong thế kỷ qua, người ta đã công bố quá nhiều điều về công việc huyền thuật, đến mức vào lúc này, công bố thêm sẽ là thiếu khôn ngoan; quá nhiều mantram và Quyền năng từ đã được truyền đạt, và [694] OM đã được sử dụng rộng rãi đến mức người ta có thể dự liệu nhiều tổn hại sẽ xảy ra. Tuy nhiên, những tổn hại ấy đã không xảy ra. Điểm tiến hoá tương đối thấp của đạo sinh và người thực nghiệm trung bình đã có tác dụng bảo vệ, và những gì họ cố gắng làm hầu như chưa khơi động được điều gì—dù tốt hay xấu. Việc chữa lành đã thường xuyên xảy ra (ít nhất là chữa lành tạm thời), phần lớn nhờ bệnh nhân dễ tiếp nhận sự ám thị và tin tưởng vào nhà trị liệu. Xét một cách huyền bí, không trường hợp chữa lành nào trong số này có thể quy về các phương pháp khoa học của huyền bí học. Dù có sự bảo vệ này, hay đúng hơn là vì có sự bảo vệ ấy, vào lúc này Tôi không truyền đạt bất kỳ Linh Từ Cung nào như những linh từ mà điểm đạo đồ đã được huấn luyện sử dụng khi thực hiện công việc trị liệu. Những Linh Từ này phải đi kèm với việc sử dụng ý chí tinh thần một cách thuần thục, và đối với người bình thường cùng nhà trị liệu thông thường, ngay cả phương diện thấp nhất của ý chí vẫn chưa phát triển, chỉ có ý chí riêng (vốn là dục vọng ích kỷ, kiên quyết) biểu lộ. Do đó, đưa ra huấn thị theo hướng này sẽ là lãng phí thời gian của Tôi. Tôi cảm thấy cần phải giải thích điều này, để không có sự mong đợi quá mức rằng Tôi sẽ truyền đạt những điều huyền nhiệm và cho đến nay chưa ai biết. Tôi chỉ tìm cách đặt nền móng cho một cấu trúc tri thức tương lai, khi việc truyền đạt những “Điểm tập trung”, những “Linh Từ tổ chức” và những “Ý Định được biểu lộ” của nhà trị liệu huyền bí được huấn luyện đúng đắn sẽ là an toàn, khôn ngoan và đúng lúc. Tôi cũng tìm cách khơi dậy trong các bạn một sự mong đợi sáng suốt và có tinh thần tìm tòi, biết vận dụng chút ít điều Tôi có thể truyền đạt cùng những lời biểu tượng Tôi có thể đọc cho ghi lại, nhờ đó chuẩn bị cho sự thấu hiểu sâu rộng hơn về sau.

In the meantime there are certain things I can teach you which will be profitable. They may perchance enhance the visioned and realised difficulties, but may nevertheless prove useful in indicating the ground which must still be [695] covered before the healer arrives at correct and sustained healing.

Trong lúc này, có những điều Tôi có thể dạy các bạn và sẽ đem lại lợi ích. Có thể chúng làm tăng thêm những khó khăn mà các bạn đã hình dung và nhận biết, nhưng chúng vẫn có thể hữu ích trong việc chỉ ra chặng đường còn phải [695] đi qua trước khi nhà trị liệu đạt đến việc chữa lành đúng đắn và bền vững.

This section will be very short indeed, compared with the rest of this volume; it will consist simply of a series of summarised and condensed statements which will provide a textbook for the healer, a reference book for guidance to which he can refer. These statements will be under three classifications:

Phần này quả thật sẽ rất ngắn so với phần còn lại của tập sách; nó chỉ gồm một loạt những phát biểu tóm tắt, cô đọng, tạo thành một sách giáo khoa cho nhà trị liệu, một sách tham khảo để y có thể tra cứu nhằm được hướng dẫn. Những phát biểu này sẽ được chia thành ba nhóm:

I. The Seven Ray Energies.

I. Bảy Năng Lượng Cung.

II. The Rays of the Healer and the Patient.

II. Các Cung của Nhà Trị Liệu và Bệnh Nhân.

III. The Seven Healing Techniques.

III. Bảy Kỹ Thuật Trị Liệu.

These statements will complete Volume IV of A Treatise on the Seven Rays and will carry much information to the initiated disciple, and even in part to the intelligent aspirant; they should make their healing work more effectual, even though only the preliminary work and elementary rules are given. Needless to add, the healer has to perfect himself in this initial activity and—as he works—he may himself (alone and unaided) penetrate into the deeper meanings of this phase of the Ageless Wisdom.

Những phát biểu này sẽ hoàn tất Tập IV của Luận về Bảy Cung và truyền đạt nhiều thông tin cho người đệ tử đã được điểm đạo, thậm chí phần nào cho người chí nguyện có trí tuệ; chúng sẽ giúp công việc trị liệu của họ hữu hiệu hơn, dù chỉ trình bày công việc sơ khởi và những quy luật căn bản. Không cần nói thêm, nhà trị liệu phải hoàn thiện mình trong hoạt động ban đầu này, và khi làm việc, y có thể tự mình (đơn độc và không có trợ giúp) thâm nhập những ý nghĩa sâu xa hơn của phương diện này trong Minh Triết Ngàn Đời.

THE SEVEN RAY ENERGIES – BẢY NĂNG LƯỢNG CUNG

Fifteen Statements.

Mười Lăm Phát Biểu.

1. The seven rays embody and express the totality of energies which circulate throughout our planetary form.

1. Bảy cung hiện thân và biểu lộ toàn bộ các năng lượng lưu chuyển khắp hình tướng hành tinh của chúng ta.

2. These seven ray energies are the seven forces which unitedly compose the primary Ray of Love-Wisdom. This is the second ray of our solar system and the dominating ray in every planetary expression within the solar system. The seven rays are, all of them, subsidiary rays of this great cosmic ray. [696]

2. Bảy năng lượng cung này là bảy mãnh lực cùng hợp thành Cung Bác Ái – Minh Triết chủ yếu. Đây là cung hai của hệ mặt trời chúng ta và là cung chi phối mọi biểu hiện hành tinh trong hệ mặt trời. Tất cả bảy cung đều là những cung phụ thuộc của cung vũ trụ vĩ đại này. [696]

3. No matter upon which ray the healer may be found, he must always work through the second subray of that ray—the ray of love-wisdom in each ray. By means of this, he becomes connected with or related to the governing soul and personality rays. The second ray has the capacity of all-inclusiveness.

3. Dù nhà trị liệu thuộc cung nào, y cũng phải luôn làm việc qua cung phụ thứ hai của cung ấy—cung bác ái–minh triết trong mỗi cung. Nhờ đó, y kết nối hay liên hệ với các cung linh hồn và cung phàm ngã đang chi phối. Cung hai có khả năng bao gồm tất cả.

4. The second ray and the second subray on all rays are themselves dual in expression. The healer must learn to work through the love aspect and not through the wisdom aspect. This takes much training in the practice of spiritual differentiation.

4. Chính cung hai và cung phụ thứ hai trên tất cả các cung đều biểu lộ theo tính nhị nguyên. Nhà trị liệu phải học cách làm việc qua phương diện bác ái chứ không qua phương diện minh triết. Điều này đòi hỏi nhiều rèn luyện trong việc thực hành biến phân tinh thần.

5. Those vehicles in the form nature which are on the line of 2-4-6 must be used by the healer when practicing the healing art. If he has no vehicles or bodies on this line of basic energy, he will not be able to heal. This is seldom realised. It is rare, however, to find an equipment lacking all second ray energy outlets.

5. Khi thực hành nghệ thuật trị liệu, nhà trị liệu phải sử dụng những hiện thể trong bản chất hình tướng thuộc tuyến 2-4-6. Nếu không có hiện thể hay thể nào thuộc tuyến năng lượng căn bản này, y sẽ không thể chữa lành. Người ta hiếm khi nhận ra điều này. Tuy nhiên, hiếm có một bộ máy nào lại thiếu mọi kênh thoát cho năng lượng cung hai.

6. Those healers who are on the second ray, or who are equipped with a powerful second ray vehicle, are usually great healers. The Christ, being the truest exponent of the second ray ever known on earth, was greatest of all the healing sons of God.

6. Những nhà trị liệu thuộc cung hai, hoặc có một hiện thể cung hai mạnh mẽ, thường là những nhà trị liệu tài giỏi. Đức Christ, là Đấng biểu lộ cung hai chân thực nhất từng được biết đến trên Trái Đất, là Đấng vĩ đại nhất trong mọi người con của Thượng đế thực hiện việc chữa lành.

7. The ray of the soul conditions and determines the technique to be employed. The ray in the personality vehicles most closely related to the second ray (for which all the subrays act as channels) is the one through which the healing energy must flow.

7. Cung linh hồn định hình và quyết định kỹ thuật cần sử dụng. Trong các hiện thể phàm ngã, cung nào có liên hệ mật thiết nhất với cung hai (mà tất cả các cung phụ đều đóng vai trò kênh dẫn cho cung này) sẽ là cung mà năng lượng trị liệu phải tuôn chảy qua.

8. The second subray of the soul ray determines the approach to the healing problem immediately confronting the healer; this energy is transmuted into healing force when passing through the appropriate personality vehicle. To be appropriate it must be on the line of 2-4-6. [697]

8. Cung phụ thứ hai của cung linh hồn quyết định cách tiếp cận vấn đề trị liệu mà nhà trị liệu đang trực tiếp đối diện; năng lượng này chuyển hoá thành mãnh lực trị liệu khi đi qua hiện thể phàm ngã thích hợp. Để thích hợp, hiện thể ấy phải thuộc tuyến 2-4-6. [697]

9. The appropriate vehicle can be either the mental body or the emotional body. With the mass of men being centred in the astral nature, the healing will usually be most successful if the healer’s channel of transmission is that body also.

9. Hiện thể thích hợp có thể là thể trí hoặc thể cảm xúc. Vì đại đa số con người tập trung trong bản chất cảm dục, việc chữa lành thường thành công nhất nếu kênh truyền dẫn của nhà trị liệu cũng là thể cảm xúc ấy.

10. A triangle of energies is therefore formed; it is composed of:

10. Do đó, một tam giác năng lượng hình thành, gồm có:

a. The energy of the soul.

a. Năng lượng của linh hồn.

b. The appropriate vehicle.

b. Hiện thể thích hợp.

c. The etheric body, through either the heart or the solar plexus centre.

c. Thể dĩ thái, qua trung tâm tim hoặc trung tâm tùng thái dương.

11. Within the etheric body, a secondary triangle is formed for the circulation of energy between:

11. Trong thể dĩ thái, một tam giác thứ cấp hình thành để năng lượng lưu chuyển giữa:

a. The head centre, the centre of reception.

a. Trung tâm đầu, trung tâm tiếp nhận.

b. The ajna centre, the centre for directed distribution.

b. Trung tâm ajna, trung tâm phân phối có định hướng.

c. The centre which registers—as the line of least resistance—the energy of the soul ray, whichever of the seven rays that may be.

c. Trung tâm ghi nhận năng lượng của cung linh hồn theo con đường ít trở ngại nhất, bất kể đó là cung nào trong bảy cung.

12. This secondary triangle is related to the primary triangle by an “act of deliberation.” This is a part of the technique which I am withholding.

12. Tam giác thứ cấp này liên hệ với tam giác sơ cấp bằng một “hành động có chủ đích”. Đây là một phần của kỹ thuật mà Tôi chưa tiết lộ.

13. The healer who is sincere and experienced can (in default of the esoteric formula producing connection between the two triangles) do much to bring about some definite relation by a deliberate act of faith and by the firm statement of his fixed intention.

13. Nhà trị liệu chân thành và có kinh nghiệm có thể (khi chưa có công thức huyền bí tạo ra sự nối kết giữa hai tam giác) làm được nhiều điều để thiết lập một mối liên hệ rõ rệt nào đó bằng một hành động đức tin có chủ đích và bằng lời khẳng định vững chắc về ý định kiên định của mình.

14. The greater triangle is that which affects the healer and makes him a transmitting agent; the lesser triangle is the one which produces the effect upon the patient and through which the healer—on the physical plane—works.

14. Tam giác lớn hơn là tam giác tác động đến nhà trị liệu và khiến y trở thành một tác nhân truyền dẫn; tam giác nhỏ hơn là tam giác tạo ra tác động lên bệnh nhân và qua đó nhà trị liệu làm việc trên cõi hồng trần.

15. The procedure of the healer will therefore fall into three parts, prior to the conscious act of healing: [698]

15. Do đó, trước hành động trị liệu hữu thức, quy trình của nhà trị liệu sẽ gồm ba phần: [698]

Process One.

Tiến Trình Một.

a. The healer will definitely and consciously link up with his own soul.

a. Nhà trị liệu sẽ kết nối rõ ràng và có ý thức với chính linh hồn mình.

b. He will then determine which of his personality vehicles is to be used; this will be based upon its reaction to energies, channeling along the line 2-4-6.

b. Sau đó, y sẽ xác định cần sử dụng hiện thể phàm ngã nào; việc này sẽ dựa trên phản ứng của hiện thể ấy đối với các năng lượng được dẫn theo tuyến 2-4-6.

c. By an act of the will he will then relate the soul energy, via the desired vehicle, with the appropriate centre in the etheric body; the heart or the solar plexus, always preferably the former.

c. Tiếp đó, bằng một hành động của ý chí, y sẽ liên hệ năng lượng linh hồn, qua hiện thể đã chọn, với trung tâm thích hợp trong thể dĩ thái; trung tâm tim hoặc tùng thái dương, luôn ưu tiên trung tâm tim.

Process two.

Tiến Trình Hai.

a. He will next create the secondary triangle by focussing his attention in the centre of reception, the head centre.

a. Kế tiếp, y sẽ tạo ra tam giác thứ cấp bằng cách tập trung sự chú ý vào trung tâm tiếp nhận, tức trung tâm đầu.

b. He will then connect this head centre, through the power of the creative imagination, with the centre between the eyebrows, and will hold the energy there because it is the directing agency.

b. Sau đó, qua quyền năng của sự tưởng tượng sáng tạo, y sẽ nối kết trung tâm đầu này với trung tâm giữa hai chân mày, và giữ năng lượng ở đó vì đây là cơ quan chỉ đạo.

c. He will endeavour to gather into this ajna centre the energy of that centre within his etheric body which is related to his soul ray.

c. Y sẽ cố gắng tập hợp vào trung tâm ajna này năng lượng của trung tâm trong thể dĩ thái có liên hệ với cung linh hồn của mình.

Process Three.

Tiến Trình Ba.

He then, with deliberation, performs the act of linking the two triangles; once this is done, he is ready for the healing action.

Sau đó, y chủ tâm thực hiện hành động nối kết hai tam giác; khi hoàn tất việc này, y sẵn sàng tiến hành trị liệu.

THE RAYS OF HEALER AND OF PATIENT. – CÁC CUNG CỦA NHÀ TRỊ LIỆU VÀ BỆNH NHÂN.

It will be apparent to the most superficial reader that the variation or the identity between the rays of the healer [699] and his patient constitutes a factor of importance: many conditioning factors will be presented; there will also be present a contrast between the soul rays and the personality rays of both parties concerned. You may have, therefore, conditions in which:

Ngay cả người đọc sơ lược nhất cũng sẽ thấy rõ rằng sự khác biệt hay đồng nhất giữa các cung của nhà trị liệu [699] và bệnh nhân là một yếu tố quan trọng: nhiều yếu tố tạo ảnh hưởng sẽ xuất hiện; cũng sẽ có sự tương phản giữa các cung linh hồn và các cung phàm ngã của cả hai bên liên quan. Do đó, các bạn có thể gặp những tình huống sau:

1. The soul rays are identical and the personality rays are different.

1. Các cung linh hồn đồng nhất, còn các cung phàm ngã khác nhau.

2. The personality rays are the same but the soul rays are not.

2. Các cung phàm ngã giống nhau, nhưng các cung linh hồn thì không.

3. The rays are similar in both cases.

3. Các cung giống nhau trong cả hai trường hợp.

4. The rays of neither soul nor personality are the same.

4. Cả cung linh hồn lẫn cung phàm ngã đều không giống nhau.

5. The soul ray is not known but the personality ray is apparent. The ray of the personality is easily ascertained, but there is often no indication as to the soul ray. This can apply to both healer and patient.

5. Chưa biết cung linh hồn, nhưng cung phàm ngã đã rõ. Cung phàm ngã dễ xác định, nhưng thường không có dấu hiệu nào cho biết cung linh hồn. Điều này có thể áp dụng cho cả nhà trị liệu lẫn bệnh nhân.

6. Nothing is known anent the rays of either party.

6. Không biết gì về các cung của cả hai bên.

I am not bringing into this discussion any reference to the rays of the mental, astral or physical vehicles, though they have a definite and sometimes a decisive effect and the knowledge is most useful when known. The trained healer, when in possession of this knowledge, can use a secondary technique as an aid to the basic method, and use the appropriate lower vehicle (either his own or that of the patient) through which to pour a secondary stream of healing energy, thus enhancing the work of the primary stream. The addition of this secondary stream implies quite advanced knowledge on the part of the healer, or accurate information given by the patient. This is, as you may surmise, somewhat rare to find. People can, by careful study and the assembling of known analogous instances, ascertain with a fair degree of success the nature of the two major [700] rays; it takes, however, an initiate of some standing to recognise and work through the rays of one of the lower bodies, and therefore be in a position to distribute the healing force through two centres simultaneously. We will not consequently consider more than the relation of the rays controlling the healer and the patient from the angle of soul and personality.

Tôi không đưa vào cuộc thảo luận này bất kỳ sự đề cập nào đến các cung của hiện thể trí tuệ, cảm dục hay hồng trần, dù chúng có tác động rõ rệt, đôi khi mang tính quyết định, và việc biết được chúng là hết sức hữu ích. Khi có tri thức này, nhà trị liệu đã được huấn luyện có thể sử dụng một kỹ thuật thứ cấp để hỗ trợ phương pháp căn bản, và sử dụng hiện thể thấp thích hợp (của chính mình hoặc của bệnh nhân) để tuôn đổ qua đó một dòng năng lượng trị liệu thứ cấp, nhờ vậy tăng cường tác dụng của dòng sơ cấp. Việc bổ sung dòng thứ cấp này đòi hỏi nhà trị liệu phải có kiến thức khá cao, hoặc có thông tin chính xác do bệnh nhân cung cấp. Như các bạn có thể đoán, điều này khá hiếm. Bằng việc nghiên cứu cẩn thận và tập hợp những trường hợp tương đồng đã biết, người ta có thể xác định bản chất của hai cung chính [700] với mức độ thành công khá cao; tuy nhiên, phải là một điểm đạo đồ có trình độ nhất định mới có thể nhận biết và làm việc qua các cung của một trong các thể thấp, nhờ đó có khả năng phân phối mãnh lực trị liệu qua hai trung tâm cùng lúc. Vì thế, chúng ta sẽ chỉ xem xét mối liên hệ giữa các cung kiểm soát nhà trị liệu và bệnh nhân từ góc độ linh hồn và phàm ngã.

It is not possible for me to take each of the rays of both healer and patient and trace for you the appropriate technique; this will become clearer if you consider the great number of difficulties which are presented when both the rays of the two parties concerned are brought into relationship. In Discipleship in the New Age the rays are given of a large number of disciples. You might, as an experimental exercise, take these various rays, as assigned, and place each of these disciples in the part of either healer or patient, and see what centres would be employed in the case of some disease (each based in a different location in the human body), and then attempt to decide what method, mode or procedure the healer would be wise to follow. At the same time you should remember two things: first, that all these people are members of a second ray Ashram; also that they are disciples, and consequently their rays are apparent and obvious to the healer, which greatly helps. You could determine also what ray energy should be employed in the healing process, through what centre in yourself, as the healer, and the disciple as a patient, you should work and whether you are in a position to use a secondary technique. Then, having through the use of the imagination worked at an imaginary healing, look around among your friends and acquaintances for those whom you believe possess similar ray conditions and—if they are ailing or ill—seek to help them in the same way as you attempted to aid an imaginary patient: note then what happens. Avoid the use [701] of a secondary technique, for you are more liable to be entirely wrong where the three lower vehicles are involved than with the two major expressions of life. The rest of this subject can perhaps be clarified by certain statements which will become clearer as esoteric psychology emerges as a definite educational subject in the decades which lie ahead.

Tôi không thể lần lượt xét từng cung của cả nhà trị liệu lẫn bệnh nhân và trình bày cho các bạn kỹ thuật thích hợp; điều này sẽ rõ hơn nếu các bạn xem xét vô số khó khăn nảy sinh khi đưa cả hai cung của hai bên liên quan vào mối quan hệ với nhau. Trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, các cung của một số lượng lớn đệ tử đã được nêu ra. Như một bài tập thực nghiệm, các bạn có thể lấy những cung khác nhau đã được xác định ấy, đặt mỗi đệ tử vào vai nhà trị liệu hoặc bệnh nhân, rồi xem những trung tâm nào sẽ được sử dụng trong trường hợp một bệnh nào đó (mỗi bệnh nằm ở một vị trí khác nhau trong cơ thể con người), sau đó cố gắng quyết định phương pháp, phương thức hay quy trình nào nhà trị liệu nên sáng suốt tuân theo. Đồng thời, các bạn nên nhớ hai điều: thứ nhất, tất cả những người này đều là thành viên của một Ashram cung hai; thứ hai, họ đều là đệ tử, và vì thế các cung của họ hiện rõ, dễ nhận biết đối với nhà trị liệu, điều này giúp ích rất nhiều. Các bạn cũng có thể xác định nên sử dụng năng lượng cung nào trong tiến trình trị liệu, nên làm việc qua trung tâm nào trong chính mình với tư cách nhà trị liệu và trong người đệ tử với tư cách bệnh nhân, và liệu các bạn có khả năng sử dụng một kỹ thuật thứ cấp hay không. Sau đó, khi đã dùng sự tưởng tượng để thực hiện một cuộc trị liệu giả định, hãy tìm trong số bạn bè và người quen những người mà các bạn tin là có tình trạng cung tương tự, và nếu họ đang đau yếu hay mắc bệnh, hãy tìm cách giúp họ theo cùng cách các bạn đã cố gắng giúp bệnh nhân giả định: rồi ghi nhận điều gì xảy ra. Hãy tránh sử dụng [701] kỹ thuật thứ cấp, vì khi liên quan đến ba hiện thể thấp, các bạn dễ sai lầm hoàn toàn hơn so với khi làm việc với hai biểu hiện chính của sự sống. Phần còn lại của đề tài này có lẽ có thể được làm sáng tỏ bằng một số phát biểu, và những phát biểu ấy sẽ trở nên rõ ràng hơn khi Tâm Lý Học Nội Môn xuất hiện như một môn học chính thức trong những thập niên sắp tới.

1. The healer should ascertain his rays, and then proceed with his work on the basis of that information. When that knowledge is not available, he should refrain from the attempt to heal.

1. Nhà trị liệu nên xác định các cung của mình, rồi tiến hành công việc dựa trên thông tin ấy. Khi chưa có hiểu biết đó, y nên tránh cố gắng chữa lành.

2. When unable—from lack of this knowledge—to carry forward the healing work, let him confine himself to the task of acting as a channel for the energy of love to the patient.

2. Khi không thể tiếp tục công việc trị liệu vì thiếu hiểu biết này, y hãy giới hạn mình vào nhiệm vụ làm kênh dẫn năng lượng tình thương đến bệnh nhân.

3. The healer will find it easier in most cases to ascertain his rays, or one of them at least, than to know the rays of the patient.

3. Trong đa số trường hợp, nhà trị liệu sẽ thấy việc xác định các cung của mình, hoặc ít nhất một trong các cung ấy, dễ hơn việc biết các cung của bệnh nhân.

There are two reasons for this:

Có hai lý do cho điều này:

a. The fact that he seeks to heal and help indicates a fair measure of advancement upon the spiritual way. Such advancement is required for correct finding of the ray quality. A little study of himself and of the possible rays present should in time show him the nature of the energies controlling him.

a. Việc y tìm cách chữa lành và giúp đỡ cho thấy y đã tiến khá xa trên con đường tinh thần. Sự tiến bộ ấy là điều cần thiết để xác định đúng phẩm tính cung. Việc nghiên cứu đôi chút về bản thân và các cung có thể hiện diện, theo thời gian, sẽ cho y thấy bản chất của những năng lượng đang kiểm soát mình.

b. The patient, if advanced, is liable not to seek his help, but will handle his own problem, through the soul and through the Ashram, if affiliated with one. If he is not advanced, the personality ray will be more easily ascertained than the soul ray, and will therefore provide the point of contact.

b. Nếu đã tiến hoá cao, bệnh nhân có thể không tìm kiếm sự giúp đỡ của y, mà sẽ tự xử lý vấn đề của mình, qua linh hồn và qua Ashram nếu có liên kết với một Ashram. Nếu chưa tiến hoá cao, cung phàm ngã của bệnh nhân sẽ dễ xác định hơn cung linh hồn, và do đó sẽ tạo ra điểm tiếp xúc.

[702]

[702]

4. The healer, having to his satisfaction determined upon the rays or ray conditioning him, should then prepare himself for the healing task by a minimum of five hours of most careful preparation, related to his mind, the thinking apparatus. I mean not five hours of consecutive mental control and reflection, but a period of quiet thought, carried on—when possible-wherein the healer studies the patient and familiarises himself with:

4. Sau khi đã xác định được các cung hay cung đang ảnh hưởng đến mình ở mức bản thân thấy thoả đáng, nhà trị liệu nên chuẩn bị cho nhiệm vụ trị liệu bằng ít nhất năm giờ chuẩn bị hết sức cẩn thận, liên quan đến thể trí, bộ máy tư duy của y. Tôi không hàm ý năm giờ kiểm soát trí tuệ và suy ngẫm liên tục, mà là một khoảng thời gian suy tư yên tĩnh, được thực hiện khi có thể, trong đó nhà trị liệu nghiên cứu bệnh nhân và tìm hiểu kỹ:

a. The problem of the disease and its particular nature.

a. Vấn đề bệnh tật và bản chất riêng của bệnh.

b. Its location in the physical body.

b. Vị trí của bệnh trong thể xác.

c. The centre involved and (when he is an enlightened disciple) with its condition.

c. Trung tâm liên quan và (khi y là một đệ tử đã giác ngộ) tình trạng của trung tâm ấy.

d. The acuteness of the difficulty and the chance of a cure.

d. Mức độ nghiêm trọng của vấn đề và khả năng chữa khỏi.

e. The danger of death or not.

e. Có nguy cơ tử vong hay không.

f. The psychological condition of the patient.

f. Tình trạng tâm lý của bệnh nhân.

g. The rays of the patient, if feasible; these, if known, will condition his approach.

g. Các cung của bệnh nhân, nếu có thể xác định; nếu biết được, chúng sẽ định hình cách tiếp cận của y.